Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 55, Chúa nhật 01.10.2006


Các số báo đã phát hành             MỤC LỤC

Chúa Kitô, nguồn mạch nguyên thuỷ của mọi việc tông đồ                                 Vatican 2

XUNG ÐỘT                                                                                           Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

VAN XIN CÁT BỤI                                                                                                Vân Thanh

Tin vào phép lạ                                                                                Lm. Nguyễn Ngọc Long

THẾ NÀO LÀ TÌNH YÊU ?                                                                        Lm. Lê Văn Quảng

NHỮNG LỜI DẠY CỦA THÁNH HIỀN                                              Phó tế JB. Nguyễn Định

LÃNH ĐẠO trong lòng QUÊ HƯƠNG                                                 Gs. Nguyễn Văn Thành

Sao lại là “đồ bỏ đi”?!                                                                                          Thy Khanh

LUNG MÊN, MẢNH ĐẤT TẬN CÙNG                                                                             Lm. Vĩnh Sang, DCCT

CANH TÂN TINH THẦN CẦU NGUYỆN: NHỮNG THÁI ĐỘ CẦN THIẾT                   Tuỵ Hiền

Tác phẩm Đường Hy Vong (tiếp)                                           + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

NHỮNG KIỂU LÀM VỢ,                                                              Chuyện phiếm của Gã Siêu


Chúa Kitô, nguồn mạch nguyên thuỷ của mọi việc tông đồ

 

Vì Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến, là nguồn mạch nguyên thuỷ của mọi việc tông đồ trong Giáo Hội, nên hiển nhiên là kêt quả phong phú của việc tông đồ giáo dân tuỳ thuộc ở sự kết hợp sống động của chính họ với Đức Ki-tô, Đấng phán rằng: "Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5). Đời sống kết hợp mật thiết vớí Đức Kitô trong Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng những trợ giúp thiêng liêng chung cho mọi tín hữu, nhất là bằng việc tham dự tích cực vào phụng vụ. Giáo dân phải làm thế nào để nhờ những phương tiện ấy mà chu toàn nhiệm vụ trần thế trong những hoàn cảnh thường xuyên của cuộc sống mà vẫn không tách khỏi đời sống mình sự kết hợp với Đức Ki-tô, nhưng càng kết hợp mật thiết hơn chính khi hoàn thành công việc của mình theo ý Thiên Chúa. Đây chính là con đường mà giáo dân phải theo để hăng say và vui vẻ tiến tới trong thánh thiện, khi khôn ngoan và nhẫn nại vượt thắng những khó khăn. Việc chăm sóc gia đình cũng như những việc khác ngoài xã hội không được tách rời khỏi đời sống thiêng liêng của họ, theo lời Thánh Tông Đồ: "Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhấn danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha" (Cl 3,17).

Đời sống như thế đòi hỏi việc liên tục sống đức tin, đức cậy và đức mến. Nhờ ánh sáng đức tin và nhờ suy niệm Lời Chúa, mỗi người mới có thể nhận ra Chúa trong mọi nơi và mọi lúc, vì "chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu" (Cv 17,28), mới có thể tìm ý Chúa trong mọi biến cố, thấy Đức Ki-tô trong mọi người, dù là kẻ thân hay người lạ, phê phán đúng đắn về nghĩa đích thực và giá trị của sự vật trần thế, nơi chính nó và trong tương quan với cứu cánh của con người. Khi tưởng niệm Thánh Giá và sự Phục Sinh của Chúa, những ai có niềm tin như thế sống trong niềm hy vọng về sự mạc khải của con cái Thiên Chúa.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Vatican 2, số 4)

VỀ MỤC LỤC
XUNG ÐỘT

 

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 17.09.2006

Mc 8:27-35

Mở đầu Kỷ Nguyên Thứ Ba, vào đúng Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay, 12 tháng 03 năm 2000, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xin Thiên Chúa và nhân loại tha thứ những tội lỗi Giáo hội đã làm cho thế giới suốt hai kỷ nguyên qua.  Người nhìn nhận đôi khi Giáo hội đã phản bội Tin Mừng khi dùng bạo lực để phục vụ chân lý, đã phạm tội “chống lại nhân phẩm phụ nữ và chia rẽ nhân loại,” và không luôn luôn liên đới với những người nghèo và người bị áp bức.[1]

Hình ảnh ÐGH sám hối vì tội lỗi Giáo hội đó đã làm cho cả thế giới và Giáo hội sững sờ đến kinh ngạc.  Trong suốt lịch sử và truyền thống Giáo hội, chưa hề thấy một vị Giáo Hoàng nào làm được một cử chỉ như thế.  Dám hỏi hàng Giáo Phẩm Việt nam có ai dám làm điều đó chưa, trong khi suốt hơn bốn trăm năm đồng hành với dân tộc, chắc chắn Giaó Hội Việt nam không thể tránh được những lầm lỗi ?  Biết bao những ngộ nhận và ác cảm với Giáo hội vẫn chưa được khai thông.  Ngay sau cuộc sám hối của ÐGH, người ta đã chờ đợi.  Nhưng tới giờ này, vẫn không có một cử chỉ đẹp nào từ phía Giáo hội Việt nam. 

Trong khi đó, ngày 30 tháng 9 năm 1997, nhớ lại thái độ bất động của Giáo hội Pháp hồi thế chiến thứ hai và trách nhiệm đối với người Do thái, các Giám mục Pháp đã công bố bản “Tuyên Ngôn Sám Hối” với những lời lẽ chân thành và đau đớn như sau : “Chúng tôi thú nhận tội lỗi này.  Chúng tôi xin Thiên Chúa thứ tha, và xin dân tộc Do thái lắng nghe những lời hối hận của chúng tôi.”[2]  Tại sao ÐGH Gioan Phaolô II và Hàng Giám Mục Pháp đã làm được cử chỉ vô cùng ngoạn mục đó ?  Vì các ngài đã theo sát gót Ðấng đã từng quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ.   Hành động thống hối đó chứng tỏ sự hiểu biết và yêu mến Chúa nơi các ngài cao tới mức nào.  Nếu không hiểu biết, không thể theo Chúa.   

Ngày xưa, các tông đồ hăm hở bước theo Chúa.  Nhưng đến một lúc muốn củng cố bước chân các ngài,  Chúa đã không ngần ngại tra vấn các ông về hình ảnh và căn tính đích thực của Chúa.  Phải chăng cách đặt vấn đề chứng tỏ Chúa sống lệ thuộc dư luận ?   Thực tế, cách đặt vấn đề đó cho ta có cảm tưởng Chúa muốn phân biệt dư luận “bên ngoài” của quần chúng và niềm tin từ “bên trong” của các môn đệ.

Sau khi Chúa tra vấn, Phêrô trả lời ngay : “Thày là Ðấng Kitô.”[3]  Nhưng ông nói không đúng lúc.  Phải đợi đến lúc xuất hiện trước Thượng Hội Ðồng, khi nắm chắc cái chết, Chúa mới hiên ngang trả lời cho vị Thượng Tế Người là Ðức Kitô, Con Ðấng Ðáng Chúc Tụng.[4]  Phêrô không sai lầm.  Nhưng Chúa đọc được những gì đang diễn ra trong đáy lòng ông.  Bởi vậy, vừa nói xong, không những ông không được khen thưởng, mà còn bị Chúa “sửa lưng” và “cấm ngặt.”   

Cuộc xung đột tư tưởng giữa Chúa và Phêrô bắt đầu.  Phêrô quá trần tục đến nỗi không hiểu nổi ý định của Thiên Chúa.  Bằng chứng, ông đã ngăn cản khi Thày tự xưng là Con Người với một viễn ảnh vô cùng đen tối.  Ngược với hình ảnh “Ðấng Kitô” trong đầu Phêrô và truyền thống Do thái, “Con Người” mới là hình ảnh trung thực nhất diễn tả căn tính và sứ mạng của Chúa.   Nếu là “Con Người,” chắc chắn Người sẽ có một số phận vô cùng bi đát, chứ không oai hùng như giấc mơ Thiên Sai (Nhà Vua, Ngôn Sứ hay Tư Tế, Người Ðược Xức Dầu) có ảnh hưởng lớn tới tương lai Tuyển dân.[5]   Ông Phêrô cố ngăn cản Thày thực hiện sứ mệnh Con Người.   Ðến đây, Người có hành động quyết liệt và giáng cho ông một đòn chí tử.  Tại sao tôn xưng Chúa là Ðấng Kitô và ngăn cản Thày khỏi rơi vào bể khổ lại là một tội lỗi giống Satan ?  Không hiểu tại sao Thày lại có lời lẽ quá cứng rắn như thế.

Từ tư tưởng đến hành động, hai Thày trò đều không gặp nhau.   Thày luôn theo sát nút ý muốn Thiên Chúa.  Không ai hiểu Thiên Chúa bằng Thày.  Thiên Chúa muốn “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”[6]  Bởi đấy, sau Người bị lên án, cây Thập giá nặng nề đã đè bẹp Người xuống tận bùn đen.  Ðó là cách phục vụ lớn lao nhất và khó khăn nhất.  Con Thiên Chúa hủy mình ra không.  Ðến lúc gần bị hành hình, Người vẫn còn lớn tiếng kêu gọi tôi : “Hãy theo Thày !”[7] 

Có ai dám bước theo Thày tới mức đó không ?  Thày đã hoàn toàn từ bỏ và thắng vượt chính mình.  Ðó là bài học đắt giá nhất !  Ðó cũng là tặng phẩm cao quý nhất, tặng phẩm vượt trên mọi ân sủng và ân huệ Chúa Kitô ban cho người Chúa yêu là tôi.[8]  Ân huệ lớn lao đó bắt đầu từ một niềm tin sâu xa mà tôi phải đáp trả cho Chúa Giêsu tận đáy lòng.   Ðối với tôi, thực sự Chúa Giêsu là ai?  Ðức tin cá nhân tôi đồng thời cũng là lời tuyên xưng đức tin của Giáo hội.  Khi tra vấn tôi, Chúa Giêsu muốn tôi xác minh xem điều tôi tin có phù hợp với điều Giáo hội dạy khi trung thành loan báo Tin mừng không.

Tôi có thể bị cám dỗ sống đức tin như trong sách vở.  Chính ông Phêrô đã trải qua cơn cám dỗ này.  Ông đã trả lời đúng bài bản, nhưng lại không hiểu gì về sứ điệp của Chúa.  Bởi thế, ông mới bị la rầy là Satan.  Kinh Thánh cho biết Satan tưởng mình thông minh bằng Thiên Chúa.  Nó tìm mọi cách thuyết phục con người sống độc lập với Ðấng Tạo Hóa và tự quyết về bản chất thiện ác.  Giữa xã hội tục hóa hôm nay, tôi cũng đang bị lôi cuốn sống độc lập với Thiên Chúa.

Dù thế, hôm nay Chúa Giêsu vẫn kêu gọi tôi từ bỏ chính mình.  Có bỏ mình mới có thể bước theo Thày.[9]   Mặc dù không bị cá nhân chủ nghĩa ảnh hưởng sâu xa, nhưng lại chìm ngập trong nền văn hóa và lối sống đầy tính ích kỷ, không biết tôi đã bước theo Thày cách nào và tới đâu rồi ?  Chỉ một mình Thiên Chúa mới biết đâu là con đường dẫn mỗi người tôi đến thành công, dù không phải bao giờ cũng thành công như tôi muốn.

Bao lâu chưa hiểu biết rõ về Chúa Giêsu, tôi chưa thể làm chứng cho Người và lôi cuốn mọi người theo Chúa.  Một cuộc sống chỉ lo hưởng thụ là bằng chứng tố cáo tôi chưa hiểu gì về Chúa Giêsu.  Khi đã chiếm được quyền bính và của cải, tôi cố sức giữ chặt và khai thác, mặc bao người đang đau khổ chung quanh.  Tôi tự mãn về công trạng và hưởng thụ những gì đã chiếm hữu và nhất định không chia sẻ cho ai.   Bao năm tháng đã trôi qua.  Thật là uổng phí !!!  Miệng tôi vẫn ca tụng và rao giảng Ðức Kitô, nhưng lòng tôi vẫn nghĩ như Phêrô !  Nếp sống hưởng thụ và tự mãn của tôi tố cáo tôi chưa hiểu Ðức Kitô là Con Người Ðau Khổ.   Những than trách suốt bao năm tháng là một lời chứng tôi chưa đặt tất cả vào sự Phục sinh như chiến thắng cuối cùng Ðức Giêsu dành cho tôi.

Tiếc thay, không phải chỉ có tôi.  “Phải thú nhận rằng lỗi lầm của Phêrô vẫn được lập lại trong lịch sử.  Cũng thế, vào một lúc nào đó một số người trong Giáo hội, kể cả những Ðấng Kế Vị Thánh Phêrô, đã hành xử như thể Nước Thiên Chúa thuộc về thế gian này và phải được quyết tâm chiến thắng (nếu cần cũng dùng vũ khí) trên kẻ thù, thay vì chịu đau khổ và tử đạo.”[10]   Nhìn vào Giáo Hội Việt nam hôm nay, chúng ta thấy gì ?  Có lẽ GHVN đang sống như một Nước Thiên Chúa đã đạt tới mức hoàn hảo.  Không bao giờ  sai lầm.  Chẳng cần ai góp ý hay sửa sai.  Như thế, vô tình đã mắc vào cạm bẫy thế gian.  Dựa trên quyền bính để khẳng quyết giá trị và chỗ đứng Giáo hội.  Nếu thế làm sao có thể lôi kéo mọi người ra khỏi cơn lốc thời đại ?  Thế gian đang dùng mọi phương tiện truyền thông, phim ảnh, tiểu thuyết, phong tục và những thông tin kỳ lạ để trình bày một Ðức Giêsu theo quan niệm Phêrô.  Phim truyện “Giải Mã Da Vinci Code” chỉ là ấn bản mới nhất trong một chuỗi dài những nỗ lực của Satan đánh phá Giáo hội và Nước Chúa hôm nay.[11]

Hơn lúc nào, trước khi dấn thân phục vụ để làm chứng và rao giảng Chúa Kitô trong lòng dân tộc,[12] GHVN hãy trả lời câu hỏi Chúa đã đặt cho Phêrô: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”[13]  Vấn đề luôn mang tính thời sự. Chúa muốn thấy xác tín từ “bên trong” tâm hồn, chứ không từ “bên ngoài” mũ gậy, lễ nghi, cơ cấu, chức quyền v.v.  Từ chỗ xác tín đúng đắn mới  có thể phục vụ đắc lực và rao giảng hiệu quả.  Nếu không, ngay cả sự hiện hữu của chúng ta cũng vô giá trị và vô nghĩa, nói chi đến việc phục vụ và làm chứng !  Ðúng như thánh Hillary Poitiers nói khi mới nhập Ðạo : “Trước khi biết Chúa, con không hiện hữu.” 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết Chúa là ai.  Giữa những thử thách hôm nay, xin cho con luôn đứng vững và tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng của Chúa Phục sinh.  Nhờ đó, con mới có thể được thánh hóa, dấn thân làm chứng, xây dựng một xã hội tự do, công bình và hòa bình.  Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!   Amen.

lm giuse đỗ vân lực, op

dzuize@gmail.com


[1] x. www.findarticles.com ngày 15/09/2006.  [2] www.sacredheart.edu  [3] Mc 8:29.

[4] x. Mc 11:61 tt.  [5] x. Harper’s Bible Dictionary, ed Paul J. Achtemeier & Associates, Harper & Row, Publishers, San Francisco, 1985.

[6] Mt 20:28; Mc 10:45. [7] Ga 21:19; Lc. 5:27; Mc 2:14;  Mt 9:9. [8] Theo Thánh Phanxicô Assisi.

[9] x. Mc 8:34 [10] Linh mục Cantalamessa : Zenit 15.09.2006.

[11] x. Linh mục Cantalamessa : Zenit 15.09.2006

[12] Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam : Thư Mục Vụ Năm 2006 : Sống Ðạo Hôm Nay.

[13] Mc 8:29.


VỀ MỤC LỤC

VAN XIN CÁT BỤI

 

VAN XIN CÁT BỤI

(Mc 8:27-35)

 

Ta van cát bụi bên đường

đừng gây rổi loạn, đừng vương tội tình.

đừng che nét mặt tươi xinh,

đừng làm ta mất bóng hình thân thương.

trải qua bao kiếp đoạn trường,

bao nhiêu lớp bụi xây tường thiên thu.

nhốt ta trong kiếp ngục tù ,

ru ta trong cõi mịt mù trời mây.

 

Giật mình như bắt gặp Thày,

đang còn tra hỏi truyện dài năm xưa.

tay tiên giáng thế hay chưa,

vẽ bao đường nét có thừa thiếu không ?

 

Khắp trong thiên hạ tiếng đồn,

-    Thày là một vị sứ ngôn,

-     Gioan Tẩy giả hiện hồn về đây !

-    Êlia chính là Thày !

 

Ðấy là dư luận bên ngoài mà thôi !

Còn con, con nói là ai,

vị Thày vẫn ở hàng ngày với con ?

Phêrô như mở tấm lòng,

-      Chính Thày là vị “anh hùng” Kitô !

Lời tuyên xưng quá bất ngờ,

Tưởng như cơ hội phất cờ Thiên Sai.

Ai dè Thày cấm công khai,

dặn “không được nói với ai về Người.”

 

Dù cho thiên hạ bỏ rơi,

dù cho đau khổ dập vùi tấm thân,

đã mang nặng kiếp phong trần,

Thày luôn hãnh diện với danh Con Người,

tương lai rực sáng muôn đời,

bình minh chiếu tỏa bầu trời Phục sinh.

 

Phêrô cảm thấy bất bình,

cản ngăn Thày kẻo tình hình suy vong.

Nếu cơn ác mộng dập dồn,

Nước Trời còn thấy gì hơn nấm mồ ?!

 

 

Bấy giờ chính Ðức Giêsu,

nhẹ nhàng như trách Phêrô điên cuồng,

Satan đã hút mất hồn.

Ðường Thiên Chúa khác đường mòn thế nhân !

Nếu ai muốn thoát hồng trần,

theo Thày Chí Thánh dấn thân cứu đời,

“vác cây thập giá theo tôi !

vì tôi liều mạng, một đời xả thân.”

Tin Mừng lan tỏa thế gian.

cho muôn nhịp sống dư tràn thiên ân.

một thân đổi lấy muôn dân,

từ trong cát bụi sức thần vươn lên.

 

Từ ngày Giáo hội rao truyền,

Tin Mừng triển nở khắp miền Á châu,

bao nhiêu mảnh đất mỡ mầu ?

bao nhiêu sao nở dưới bầu trời Nam ?

 

Nhìn sang Giáo Hội Ðại Hàn,

giáo dân, giáo sỹ hiên ngang bỏ mình,

đấu tranh cho lẽ công bình,

cho Thần Khí Chúa tác sinh muôn người.

 

Bao giờ đến lượt quê tôi ?!

vân thanh

20.09.2006

VỀ MỤC LỤC
Tin vào phép lạ

 

Ðó đây cùng xưa nay, con người, khi gặp vấn đề phức tạp khó khăn trong đời sống, mà không sao giải quyết bằng lý luận khoa học kỹ thuật, bằng sức lực con người, thường chạy đến khấn khứa cầu xin với Thần Thánh hy vọng được nhậm lời cứu chữa.

Cung cách sống niềm tin tưởng này xem ra không khoa học. Nhưng lại là điều tự nhiên hợp với tâm tình lòng con người. Một thể hiện cuộc sống làm người. 

Lối sống tâm tình niềm tin này không thể chứng minh là đúng hay sai. Nhưng lại mang đến cho con nguời niềm an ủi cùng sự phấn khởi trong đời sống. Một điều cần thiết giúp xây dựng đời sống riêng cũng như chung.

Phương thế sống dựa trên tâm linh niềm tin không phải là chuyện hoang đường cổ tích. Nhưng là điều hiện thực gắn liền trong đời sống con người. Một sự thật nói lên: con người được Ðấng Tạo Hóa dựng nên có hai phần thân xác và tâm linh.

Tại sao có thể nói được như thế trong bầu khí một xã hội tân tiến nghiêng về lý trí cùng kỹ thuật, vâng có vẻ như muốn chỉ đề cao vai trò lý trí khoa học hơn vai trò tâm linh đức tin? Ai là những người sống dựa vào tâm linh niềm tin?

Sau cuộc thăm viếng của Ðức giáo hoàng Benedictô 16. ở Munich từ 09.-14.tháng chín 2006, viện nghiên cứu Allensbach bên Ðức chuyên về thăm dò ý kiến người dân đã đưa ra kết qủa cuộc thăm dò những người Ðức được hỏi về: Phép lạ. Phải chăng có những sự kiện không thể cắt nghĩa bằng lý luận, chứng minh bằng khoa học, hay đó chỉ là những ảo thuật đánh lừa, những điều tình cờ xảy ra hay do tưởng tượng? Ai tin vào phép lạ trong đời sống?

 

- 56% những người được hỏi trả lời tin vào phép lạ. Trong số đó:

66% là người Tin Lành

64% là người Công giáo

43% là người không có tôn giáo.

 

- Những người được hỏi trả lời tin Phép lạ:

46% là đàn ông;

66% là phụ nữ;

58% người có trình độ học hành bình thường;

55% người có trình độ học hành cao.

55% từ 16 đến 29 tuổi

58% từ 20 đến 44 tuổi

54% từ 45 đến 59 tuổi

58% từ 60 tuổi trở lên

 

- Phép lạ gì?

67% tin có phép lạ được chữa khỏi bệnh hiểm nghèo

65% tin có phép lạ, khi được lành mạnh thoát khỏi tai nạn nguy hiểm.

51% tin có Thiên Thần bản mệnh gìn giữ.

(Frankfurter Allgemeine Zeitung, Mittwoch, 20. September 2006, Nr.219/ Seite 5)

Ngay từ khi còn thơ bé, ông bà cha mẹ dậy con cái mình sống nếp sống đạo đức làm người. Trong lối sống đó phần linh thiêng niềm tin tôn thờ Thiên Chúa, kính yêu Thượng Ðế Thần Thánh, cám ơn Người và cầu xin Người ban ân đức phù hộ đời sống, ăn rễ trong tâm khảm sâu đậm nhất. 

Người theo niềm tin đạo Công giáo, đạo Do Thái, đạo Phật giáo, đạo Hồi giáo, đạo Ấn Ðộ giáo, đạo Tin Lành…đều có những Kinh sách, lời ca tụng khấn khứa, cùng những nghi lễ Phụng tự, kính thờ Thượng Ðế Thiên Chúa, Trời Phật, Thần Thánh...

Có thể càng ngày vì hoàn cảnh đời sống phức tạp khó khăn nhiều ra, nên họ tin Thiên Chúa, Thần Thánh trong tâm hồn nhiều hơn là tỏ lộ ra bên ngoài bằng cung cách sống đến nơi Thánh Ðường, Chùa chiền, Ðền thờ.

Khi còn trẻ tuổi chưa cảm nghiệm thấy gì bao nhiêu hiệu qủa của nếp sống này. Nhưng dần lớn lên đi vào cuộc sống, nhất là lúc tuổi đời nhiều thêm và gánh nặng trách nhiệm trong gia đình cùng ngoài xã hội tăng thêm, lúc đó con người càng cảm nghiệm nhận ra nếp sống tâm linh niềm tin là điểm tựa, là niềm an ủi cùng là niềm hy vọng giúp cuộc sống rất nhiều. 

Chúa Giêsu trên đường rao giảng tình yêu nước Thiên Chúa đã luôn nói đến niềm tin là căn bản:” Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.Con hãy về bằng an và khỏi hẳn bệnh.” ( Mc 5, 34)

Thấy mà xem chẳng thấy!

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
THẾ NÀO LÀ TÌNH YÊU ?

 

MÌNH VỚI TA TUY HAI MÀ MỘT

TA VỚI MÌNH TUY MỘT MÀ HAI

 

THẾ NÀO LÀ TÌNH YÊU ?

Trong những ngày lễ Hôn Phối chúng ta thường nghe đọc:

Thiên Chúa là Tình Yêu.

Chúng ta hãy thương yêu nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.

Nhưng thế nào là tình yêu? Và yêu nhau như thế nào mới gọi là yêu?

Tôi xin mượn hai câu thơ của Trần tế Xương để định nghĩa hai chữ Tình Yêu:

MÌNH VỚI TA TUY HAI MÀ MỘT

TA VỚI MÌNH TUY MỘT MÀ HAI

Tú Xương khi nhìn lên bức tranh được treo trên bức tường, ông đã nhận ngay ra: đó chính là hình ảnh, là chân dung, là con người của mình, nên đã ứng khẩu thốt lên hai vần thơ bất duyệt đó.

Tôi còn nhớ cách đây không lâu, cô dâu có đến tâm sự với tôi với tư cách là một người cháu:

Chú ơi! Cháu gặp anh nầy trong một trường hợp hết sức tình cờ. Nhân một ngày sinh nhật của một cô bạn. Chúng cháu đến chúc mừng. Mọi người đề ca hát nhảy múa với nhau vui vẻ. Bỗng nhiên, anh nầy nhìn cháu sững sốt. Rồi anh suy nghĩ một hồi lâu như muốn lục lọi một cái gì trong ký ức. Sau đó, anh đến với cháu và nói:

Xin lỗi! Cô tên gì?

Em tên Ái Nhi.

Hình như mình đã gặp Ái Nhi ở đâu rồi. Mình còn nhớ nét mặt quen quen, nhưng không biết là đã gặp ở đâu?

Em cũng không rõ nữa!

Chính câu hỏi quá ngỡ ngàng, quá ngạc nhiên đó đã làm cho cô bé thêm lúng túng. Và càng lúng túng, càng làm cho hai gò má của cô bé càng thêm xinh xắn. Cũng từ giờ phút ấy hai người đã bắt đầu gặp gỡ.

Hãy ngẫm nghĩ xem: Có hàng tỷ tỷ người trên trần gian, nhưng người thanh niên nầy đã không nhìn thấy một hình ảnh quen thuộc nào nơi những con người khác mà chỉ nhìn thấy hình ảnh đó nơi cô bé nầy thôi. Phải chăng có một cái gì đó huyền diệu , khó hiểu.

Và rồi, có người cho đó là cách thức của những anh chàng ma lanh, lém miệng, biết nịnh đầm, biết dựng chuyện để tìm cách làm quen, tìm cách gợi chuyện cho những buổi gặp gỡ ban đầu.

Cũng có người tin rằng ở một kiếp nào đó trước đây, họ đã từng gặp nhau, từng quen biết nhau, và bây giờ họ nhớ lại những ngày xa xưa đó họ đã từng thân thiện, từng quen biết.

Thật ra, trong cuộc sống của chúng ta, chắc nhiều người cũng đã từng có kinh nghiệm nầy: bỗng một ngày nào đó, có người từ đâu đến nói với chúng ta rằng nếu tôi không lầm thì hình như tôi đã có dịp gặp anh hay chị ở đâu đó rồi vì tôi thấy anh chị có nét gì quen quen, khiến chúng ta phải tìm lại ký ức, lục lọi, hồi tưởng mãi nhưng vẫn không tìm ra đã có lần nào gặp gỡ họ.

Vâng, rất có thể chúng ta đã được sinh ra ở một kiếp nào trước như quan niệm nhà Phật hay như triết gia Platon đã từng chủ trương: chúng ta đã được sinh ra ở trong tiền kiếp và bây giờ chúng ta nhớ lại một cuộc sông thuở nào.

Nhưng không, với các nhà tâm lý học thì không cần gì phải ở tiền kiếp mà chính ngay trong kiếp sống hiện tại chúng ta đã có lần gặp gỡ. Chúng ta đã không gặp gỡ chính con người ấy, nhưng đã gặp gỡ những người thân yêu của chúng ta chẵng hạn như bố mẹ, anh chị em, cô bác, hay những người bạn thân tình của chúng ta. Họ là những người đã sinh ra, đã nuôi dưỡng, và yêu thương ấp ủ chúng ta. Họ là những người đã dạy dỗ, nâng đỡ, dìu dắt chúng ta để chúng ta có được ngày hôm nay. Và vì thế, chúng ta cũng cảm thấy yêu thương và quí mến họ. Những hình ảnh, những kỷ niệm êm đẹp đó không bao giờ xóa nhòa khỏi tâm trí chúng ta. Nên một khi gặp một người có khuôn mặt, diện mạo, hay giọng nói, cử chỉ giống những người thân yêu chúng ta đó, chúng ta có cảm tưởng họ là những người quen thuộc mà thật ra chúng ta chưa bao giờ gặp gỡ.

Cũng chính vì thế, cho dẫu là mới chỉ gặp lần đầu, chưa nói được nhiều, chưa hiểu được bao nhiêu, nhưng chúng ta cũng cảm thấy có một cái gì thu hút, có một cái gì hấp dẫn, có một cái gì quyến luyến, có một cái gì gắn bó, có một cái gì tin tưởng, có một cái gì đáng để chúng ta trao gởi một tâm tình, một hướng đi, một cuộc đời mà nhiều người đã gọi đó là duyên phận do ông tơ bà nguyệt nối kết, còn chúng ta thì gọi là sự an bài của Thiên Chúa.

Vâng, tình yêu chính là duyên phận, là cảm nhận của con tim, là trực giác của lý trí, vừa gặp gỡ là đã nhận ngay ra: đó chính là con người mình muốn tìm, là hình ảnh mình theo đuổi, là bức chân dung mình muốn vẽ, nên vừa nhìn thấy, cũng như Tú xương chúng ta cảm thấy hứng chí để thốt lên ngay:

MÌNH VỚI TA TUY HAI MÀ MỘT

Tình Yêu là trở nên Một: một con người, một tâm hồn, một ý chí, một con tim, một xương, một thịt.

Nhưng, dẫu cho chúng ta có muốn trở nên một con người, một xương, một thịt chúng ta cũng vẫn luôn là hai. Tú Xương đã trực giác được điều đó nên đã thốt lên vần thơ thứ hai:

TA VỚI MÌNH TUY MỘT MÀ HAI

Cái con số hai muốn nói lên cho chúng ta rằng: có sự đa dạng, có sự phong phú, có sự khác biệt. Thật vậy, có một hố ngăn cách, một khoảng trống nào đó giữa hai người phối ngẫụ mà dẫu cho họ có muốn lấp đầy, muốn xóa bỏ họ vẫn không thể nào làm được. Chính ở nơi đó, họ phải cần đến tình yêu, đến hồng ân của Thiên Chúa để bù đắp cho những thiếu sót, những bất toàn của con người. Đó chính là lý do tại sao chúng ta cảm thấy mình không bao giờ hoàn toàn thõa mãn với người khác ngay cả với người phối ngẫu của mình. Vì thế, chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận, chấp nhận những khác biệt như một sự bổ túc, một sự phong phú cho những bất toàn của nhau.

Ngày xưa, khi còn sống xa cách, chúng ta chỉ nhìn thấy những cái đẹp của nhau nên chúng ta dễ kính trọng và yêu thương nhau. Nhưng một khi về chung sống, chúng ta dễ nhìn thấy những cái xấu, những bất toàn của nhau nên sẽ dễ lên án nhau.

Hãy nhớ rằng: không ai hoàn toàn xấu, cũng không ai hoàn toàn tốt. Ai cũng có những cái hay, cái đẹp cũng như những cái dở, cái xấu. Cái mầm mống tốt cũng như mầm mống xấu đều có ở trong mỗi người chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta phải biết làm cho những cái hay,cái đẹp nơi người phối ngẫu chúng ta phát triển, phải biết làm cho những bông hoa xinh đẹp nơi người yêu chúng ta thắm nở. Có được như vậy, cuộc đời chúng ta, hôn nhân chúng ta, gia đình chúng ta sẽ trở thành một vườn hoa tình ái, một thiên đàng trần thế mà chúng ta có thể tận hưởng ngay ngày hôm nay, vì thiên đàng không phải là một cái gì xa xôi chúng ta phải đợi chờ sau cuộc sống, mà là một tình trạng tràn đầy hạnh phúc, tràn đầy tình yêu, tràn đầy ân sủng mà Thiên Chúa muốn ban tặng cho chúng ta ngay trong cuộc sống nầy. Bao lâu gia đình chúng ta có tràn đầy tình yêu, cuộc sống chúng ta đầy tràn hạnh phúc, bấy giờ Thiên Chúa cũng ngự trị giữa chúng ta, và đó chính là thiên đàng của chúng ta ngay giữa trần thế. Nhưng bao lâu gia đình chúng ta không có tình yêu, cuộc sống chúng ta không có hạnh phúc, bấy giờ tha nhân chính là hỏa ngục đối với chúng ta. Hỏa ngục không là gì xa xôi mà chính là cái hiện tại bất hạnh của chúng ta. Khi hai người chung sống với nhau mà không còn tình yêu nữa thì bấy giờ tha nhân chính là hỏa ngục cho cuộc sống hiện tại của chúng ta.

Thiên đàng hay hỏa ngục không nằm đâu xa vời, không nằm trên không trung, cũng không nằm dưới lòng đất, nhưng nằm ngay bên cạnh chúng ta, trong tâm hồn chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong cuộc sống chúng ta mà tất cả chúng ta đều có thể tận hưởng ngay từ hôm nay.

Chính vì thế, tôi xin nói với cô dâu chú rể: trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng hãy lấy tình yêu đối xử với nhau, vì nơi nào có nhiều tình yêu thì đau khổ sẽ ít (love more, suffering less). Và thiên đàng không là gì khác hơn là sự hòa hợp của hai tâm hồn trong sự chan chứa tình yêu mà nhà thơ Trần tế Xương đã diễn tả một cách khéo léo và thi vị:   

MÌNH VỚI TA TUY HAI MÀ MỘT

TA VỚI MÌNH TUY MỘT MÀ HAI.

lm.lêvănquảng

VỀ MỤC LỤC
NHỮNG LỜI DẠY CỦA THÁNH HIỀN

 

   Trước tình hình căng thẳng hiện nay như lo lắng, sợ sệt, bạo hành, khủng bố, chiến tranh từ gia đình cho đến xã hội, quốc gia, thế giới. Tôi xin sưu tầm những lời dạy của thánh hiền sau đây:

1-      Chính mình tôi là kẻ thù lớn nhất, chứ không phải ai cả.

2-      Chính tự cao tự đại làm tôi thất bại lớn trong moị việc.

3-      Chính sự lừa dối làm tôi ngu dốt nhất trên đời.

4-      Chính lòng ghen tị làm tôi sầu khổ và đau thương nhất.

5-      Chính lòng yêu thương là món nợ lớn nhất tôi phải trả.

6-      Chính đaị lượng, nhân hậu là lễ vật cao quí nhất cần tôi làm.

7-      Chính sự cho đi, chia sẻ là an ủi to lớn nhất trong đời tôi.

8-      Chính sự thiếu hiểu biết làm mất đi nhiều việc nhất đời tôi.

9-      Tự đánh mất mình là cái sai lỗi nhất trong đời tôi.

10-  Tội bất hiếu là tội lớn nhất của đời tôi.

11-  Đứng dậy sau khi sa ngã là điều đáng khâm phục nhất.

12-  Sức khoẻ là vàng, là tài sản lớn nhất của đời tôi.

13-  Sự tuyệt vọng phá vỡ hết công trình của đời tôi.

14-  Tư ti mặc cảm là điều đáng thương nhất của đời tôi.

Đức Giêsu nói với những người Pharisêu và kinh sư là những kẻ đạo đức giả, chỉ giữ những hình thức bên ngoài như sau: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại cò thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế…như: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảc trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng…”    (Mc 7,15,21-23)

Thánh Gia-cô-bê khuyên dạy: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa…Bởi đâu có chiến tranh, đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau…”   (Gc 3:16-18;4:1-3)

Phó tế: GB Nguyễn Văn Định  *  johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
LÃNH ĐẠO trong lòng QUÊ HƯƠNG

 

Thể theo lối nhìn của tác giả St.R. COVER (1),  lãnh đạo trong những điều kiện và nhu cầu sinh hoạt cuả mỗi người thuộc thời đại “Nghìn năm Thứ Ba”  không còn và không thể mang ý nghĩa “ Từ trên rót xuống” hay là “ Từ ngoài lèo lái, áp đặt, ức chế một cách đơn phương , độc tấu và độc lộ ”.

Trong cụôc sống làm  người và thành người, để đảm nhiệm vai trò lãnh đạo của mình một cách đúng đắn  và  hũu hiệu, mỗi người bắt đầu học tập và tôi luyện ba thái độ, hay là ba động tác cơ bản sau đây:

-   Thứ nhất, tôi khám phá bản sắc hay là con người đích thực và cao cả của tôi .

-   Thứ hai,  tôi diễn tả, bộc lộ ra ngoài những giá trị làm người của tôi, qua lời ăn tiếng nói và nhũng quan hệ hai chiều qua lại,  giữa  tôi và người khác .

-   Thứ ba, tôi tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi, tốt hảo, để mỗi người anh chị em hai bên cạnh cũng  có khả năng khám phá và diễn tả bản sắc sâu xa và chân chính của mình,  ngang hàng tôi, giống như tôi.

Nhằm triển khai lối nhìn “ Làm người và thành người ” vừa được đề xuất, bài chia sẻ này lần lượt giới thiệu hai phần:

Trong phần Một, khi đảm nhiệm vai trò lãnh đạo trong bất cứ môi trường nào, tôi sáng  suốt ý thức và thực hiên bốn chiều kích làm người : THÂN, TRÍ, TÂM và ĐẠO.

Trong phần Hai, bốn con yêu tinh ma quái sẽ xuất đầu lộ diện và ngự trị trong cõi lòng,  khi tôi  dồn nén , lãng quên hay là chà đạp  “Bốn tiếng nói làm người”,  trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi với anh chị em đồng bào, đồng lọai.

                                           ***

Phần một: Thân, Trí, Tâm và Đạo là bốn nhịp thở của một con người  ĐANG LÀM NGƯỜI

Khi ý thức mình là “ Người đang thành và sẽ thành ”, tôi tù từ gọi ra ánh sáng và cố quyết thực hiện bốn chiều kích cơ bản, trong mỗi lối nhìn và quan hệ của tôi.

- Chiều kích thứ nhất là THÂN

Làm người, chúng ta có hai tay để làm, hai chân để đi, hai mắt để thấy, làn da để xúc cảm. Tuy nhiên, như Tổ Tiên, Cha Ông chúng ta đã và đang còn nhắn nhủ, dạy bảo : 

 “Một cây làm chẳng nên non ,

“ Ba cây chụm lại thành hòn núi cao .”

Hẳn rằng, mỗi người chỉ là hạt nước  bé mọn trong lòng Quê hương, Ðất nước. Thế nhưng, nhờ quan hệ thân tình, mỗi hạt nước làm nên đại dương bao la hùng vĩ, bằng cách đóng góp phần mình, để bổ túc và kiện toàn những gì đang còn thiếu sót trong cơ cấu hiện tại của núi sông và cuộc  sống của anh chị em đồng bào.

Thay vì tố cáo, phê phán, chửi bới, đổ lỗi cho người khác, khi một thiếu sót hoặc lỗi lầm xuất hiện đó đây, chúng ta hãy thắp lên một ngọn đèn trong lòng cuộc đời.  Giữa đêm tối bão bùng đang đe dọa từng tấc đất, từng ngọn nước, từng mầm sống, chúng ta hãy kiên cường làm cây hải đăng cho người anh chị em hai bên cạnh mình. Khi có một vấn đề xuất hiện bất kể từ đâu… chúng ta có trách nhiệm sáng tạo câu trả lời. “Thắp lên một bó đuốc,thay vì nguyền rủa bóng đêm”.

-  Chiều kích thứ hai là TRÍ.

Nhờ TRÍ ,chúng ta khám phá, tiên liệu, dự phóng một con đường, một hướng đi, một điểm  hẹn hò. Từ đó chúng ta cùng nhau chia sẽ một lối nhìn. Chúng ta cùng cưu mang và  đeo đuổi một số gía trị. Cùng nhau xác định ưu tiên số một là gì, điều nào là điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch hành động của chúng ta.

Nhờ TRÍ, chúng ta “Trăm người như một, một người như trăm”.  Cho nên, ai đau buồn mà lòng tôi không trăn trở? Ai đang ngủ đêm trên đường phố lạnh lẽo, mà lòng tôi không nhức nhối bồi hồi?

Nhờ TRÍ, khi hai người họp lại với nhau, họ “tương sinh tương thành”.  Họ trở thành bốn con mắt để cùng nhìn. Bốn cánh tay để hợp tác với nhau, một cách hữu hiệu. Con tim của họ là nơi nương tựa an toàn, cho mỗi người anh chị em, nhất là những ai không có những cơ may và điều kiện thuận lợi như chúng ta, trong cuộc sống làm người .

-   Chiều kích thứ ba là TÂM

Đây là nơi xuất phát lòng hăng say, nhiệt tình, khả dĩ giúp chúng ta can trường bước tới, trên mỗi chặng  đường làm người. Can đảm vượt qua mọi trở ngại, thậm chí khi hai tay đã muốn buông xuôi tất cả…khi hai chân đã bắt đầu  rã rời và mệt mỏi (2) .

Nhờ có Tâm đập nhịp trong từng huyết quản, chúng ta có khả năng khẳng định bản sắc làm ngừoi của mình :

“Con là ai ? Hat bụi giữa đất trời vũ tru.

“ Nhưng đời con gây động chuyển hằng ngàn tinh tú.

“Con ra đi, mở rộng nhiều chân trời Tình Bạn.

“Con mang về Hạnh Phúc tròn đầy  và viên mãn”. (3)

Nhờ có TÂM - là đền tháp Cổ Loa, là ngôi nhà Tình thương – đang là trung tâm và trọng tâm của bản thân và cuộc đời, chúng ta có khả năng nuôi sống mọi người lại gần chúng ta . Nhờ sự có mặt của chúng ta,  người tuyệt vọng tìm ra con đường hy vọng . Bằng cách này hay cách khác, chúng ta là Bồ Tát Trì Địa đi nối lại những chiếc cầu hư, đắp lại nhũng con đoạn bị cắt đứt, trên mỗi con đường của cả ba miền đất nước. Chúng ta là Bồ Tát Thường Bất Kinh, ngày ngày đi rỉ tai cho mỗi anh chị em  đồng bào :

“ Bạn có khả năng . Bạn được yêu . Bạn là người có gía trị nội tại. Hãy hiên ngang d?ng thẳng va bước tới. Đem niềm Tin Yêu cho mọi người, không loại trừ một ai, không phân chia bên này và bên kia ”.

- Chiều kích thứ bốn là ĐẠO

 Đây là con đường làm người. Người đích thực và trọn vẹn. Người toàn bích và toàn   diện.

Mỗi ngày tôi cố quyết hiên ngang dấn bước trên con đường này. Đi là điều quan trọng và tôi không cần biết khi nào tôi đến nơi. Đàng sau đỉnh núi này, tôi sẽ khám phá nhiều đỉnh núi khác trùng trùng, điệp, điệp hùng vĩ hơn, cao cả hơn, diệu vợi hơn…

Tôi coi trọng con đường của bản thân tôi. Nhưng đồng thời tôi cũng đánh gía cao con đường làm người của các người bạn đồng hành. Trong lối nhìn của tôi, không có hai loại người : một bên là siêu nhân, ở trên . Bên kia là hạ nhân, làm bệ gác chân cho người khác. Không có một loại người sinh ra, để làm ông chủ. Và những người khác, chỉ làm đồ vật, đồ dùng. Đó không phải chỉ là lời tuyên xưng Đức Tin ở đầu môi chót lưỡi mà thôi. Nhưng đó là hơi thở, là sự sống sôi động và trào dâng, trong từng hạt máu và thớ thịt của tôi.

ĐẠO được tôi khẳng định như vậy  là kim chỉ nam soi đường chỉ lối cho tôi trong suốt cuộc đời. Nhờ đó, tôi biết phải làm những gì là Đạo Làm người và từ chối, xa lánh những gì là vô   Đạo, như ức hiếp, chà đạp, lạm dụng người anh chị em đồng bào và đồng loại .

 *****

Phần hai: Bốn con Yêu Tinh Ma quái trong lòng cuộc đời .

Khi không tôn trọng và phát huy THÂN trong cuộc đời, chúng ta sẽ kéo lê một cuộc sống vô tình.

Thay vì yêu thương, đùm bọc, chia sẽ  và đồng hành, để cùng nhau hợp tác, tương sinh tương thành, chúng ta đang biến thân thành “ Gà một nhà bôi mặt đá nhau ”, như hai con yêu tinh  SƠN và THỦY đã cư xử và đãi ngộ với nhau, trên từng tấc  đất của Quê Hương, trên suốt chặng đường “Bốn nghìn năm văn hiến”. Thay vì đòan kết, hợp tác, phát huy quan hệ thân tình, hai anh em ruột thịt, đồng bào đã lôi cuốn nhau đi vào vòng luân hồi xung đột, hận thù, bạo động, tàn diệt lẫn nhau, từ đời này qua đời khác. Ở bên dưới những tình huống tranh chấp ngàn đời ấy, chính tư duy Nhị Nguyên đang lèo lái và khống chế tâm hồn của mỗi người, như :

            -     Tao hơn, Mày thua.

            -     Tao đúng, Mày sai.

            -     Tao tốt, Mày xấu.

            -     Tao có khả năng, Mày bất tài, bất tướng.

Rốt  cuộc, tên giặc đang làm băng hoại Quê Hương và Nước Non, không đến từ phương Bắc, phương Đông hoặc phương Tây. Nó đang đóng sào huyệt giữa cõi lòng của chúng ta. Chính ngày hôm nay, chúng ta phản bội và làm ô nhiễm dòng máu Lạc Hồng, đang luân chuyển trong từng huyết mạch của chính mình.

Con Yêu  Tinh thứ hai đang khống chế và làm tê liệt TRÍ của chúng ta . Đó là con Mộc Tinh, một cây “Chiên Đàn” mất gốc, mất ngọn, mất lá, mất cành, mất hoa, mất trái.

Thay vì đâm rễ sâu vào lòng đất văn hóa của Con Hồng Cháu Lạc, đầy bao dung, thứ tha, đồng hành và đồng cảm… chúng ta đua đòi văn minh  “ Đại Công Nghiệp ” của Nga và Trung Quốc, của Pháp và của Mỹ. Con người với những gía trị bao la của Lạc Long Quân và siêu việt của Bà Âu Cơ, đã thoái hóa làm đồ vật, công cụ, phương tiện. Người anh chị em đồng bào bị chính bàn tay và khối óc chúng ta bóc lột, đàn áp, lạm dụng đến tận xương tuỷ. Chúng ta xây lên những kinh thành nguy nga, tráng lệ để phục vụ ai ? Những toà nhà “Cao ốc”  chọc trời…đang che lấp ánh sáng và hơi ấm, đồng thời dồn ép đại đa số anh chị em đồng bào vào nhũng ngục tù nghèo đói. Không có công ăn vịêc  làm, không còn có một mái nha, để trở về nghỉ ngơi và qua đêm, cùng với vợ chồng con cái.

Những Đại Học Kỹ Thuật và Khoa Học đang từ từ mọc lên trên những thành phố lớn của Ðất Nứơc, những Trường Cao Đẳng Sinh Ngữ có mặt khắp nơi… Có ai đang nhận thức một cách đúng đắn và nghiêm chỉnh : Đó  là cửa ngỏ để chất xám của Đất Nước thoát ra ngoài và trở về nay mai, như một đạo quân Thực dân kiểu mới, biến Quê Hương thành một thuộc địa mới, mang tên là Siêu Quốc Gia.

Nói một cách vắn gọn, chúng ta đang biến thân thành những Mộc Tinh  lang thang, phiêu bạt, “mất gốc, mất trời, mất nước, mất non…” Chúng ta đang đe dọa anh chị em của chúng ta, để họ sụp lạy một cách “mê tín ,dị đoan”, dâng cúng cho chúng ta hương đèn, hoa trái … trên nhũng con đường hoang vắng của Quê Hương.

Rốt cuộc, Đất Nước không còn là nơi hội ngộ: Có mặt với nhau, ngồi lại với nhau, nhìn nhận nhau, lắng nghe nhau, tôn trọng nhau. Cùng nhau chia sẽ một lối nhìn. Cùng nhau chuyển   biến một số giá trị thành hiện thực, để phục vụ anh chị em đồng bào. Trong lòng quê hương, phải chăng chúng ta còn có khả năng vận dụng TRÍ, để trở thành những con người đích thực và toàn diện, vừa có Lý vừa có Tình, vừa có THÂN và  vừa có TÂM .

Con Yêu Tinh thứ ba đang là mối  đe dọa trầm trọng, đánh mất TÂM của chúng ta . Đó là con Ngư Tinh đang nuốt sống những ai đang qua lại, sinh hoạt, trên những con nước và dòng sông của Quê Hương . Ngư có nghĩa là Cá. Nước là hình tượng của đời sống xúc động và tình cảm. Cá là lương thực chính yếu của người bình dân, cùng với cơm gạo và rau cỏ. Thay vì nuôi sống anh chị em đồng hương, đồng bào, với thái độ gieo rắc niềm Tin, tinh thần Tự Lực , Tự Cường, với những quan hệ đặt nền tảng trên yêu thương, nhìn nhận, lắng nghe và hiểu biết… chúng ta có xu thế đầu độc và làm ô nhiễm môi trường sinh hoạt của mọi người. Chúng ta ù lì, bất động, hẹn rày hẹn mai. Chúng ta nói nhiều, đưa ra những chương trình to tát, đồ sộ. Nhưng chúng ta không bao giờ bắt tay vào việc . Chúng ta hô hào công bình và bác ái. Nhưng chúng ta khuôn mình, bít kín trong những biệt  thự giàu sang . Bao quanh chúng ta là đại dương nghèo đói, cơ hàn.

Nói tóm lại, con Ngư Tinh vô TÂM, Vô Cảm, đang làm tê liệt toàn thể cuộc đời . Cho nên có mắt, tôi vẫn không thấy người anh chị em rách nát, đói khổ. Có tai, tôi vẫn không nghe tiếng kêu thét gào của bao nhiêu trẻ em bất hạnh. Con tim của tôi đang đập nhịp, nhưng đó không phải là nơi nương tựa, mở cửa đón nhận anh chị em đồng bào.

 Sau cùng con Yêu Tinh thứ tư là Hồ Tinh. Từ những hang động tăm tối ở giữa rừng sâu, nó tàng hình, len lỏi, đi ra giữa các xóm làng, bắt cóc phụ nữ và trẻ em, đem về hà hiếp, thoả mãn thú tính của mình.

 Khi bị Hồ Tinh khống chế, chúng ta đối xử tàn tệ anh chị em xa gần của chúng ta. Họ không còn có phẩm chất và giá trị làm người trong lối nhìn của chúng ta . Họ đã trở thành “đồ hàng hoá trong muôn ngàn đồ hàng hóa, một loại người mất “Tính Người”. Và khi đãi ngộ người anh chị em như một đồ vật, tôi cũng thoái hoá, trở thành vong thân, vong bản. Hoà bình có nghĩa là gì , khi tôi dùng bom đạn để thiết  lập hoà bình?  Nhân nghĩa là gì, khi quân Minh xua quân tràn  vào đất nước Vạn Xuân để hô hào, rao giảng về Nhân nghĩa đại đồng và vô biên cương?

 *****

Để đối phó với Mộc Tinh mất gốc mất rể, Nguyễn Trãi đã đi lại con đường của Tổ Tiên:

“Mở rộng cửa Nhân mời khách đến,

“Vun trồng cây Đức nuôi con ăn .”

Để hoá giải con Ngư Tinh, Lạc Long Quân đã dạy con cái “xâm mình” hoá thành Cá, để nuôi sống anh chị em đồng bào. Thêm vào đó, Ngài đã dùng một quả tim nặng như chì, đỏ cháy như lữa, mới có thể xua đuổi con Ngư Tinh ra khỏi tâm hồn của chúng ta.

Để đối phó với Hồ Tinh, Lạc Long Quân đã sử dụng chiêng trống, nhạc cụ, gọi Tổ Tiên trở về, như chúng ta thường làm trong ngày kỵ giổ. Hẳn thực nếu mỗi người nhớ lại họ đang mang trong mình hai giòng máu của Trời và của Biển, hiểm hoạ Hồ Tinh sẽ biến tan thành mây khói.

Sau cùng, đối với cuộc tranh chấp sống mái một mất một còn giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, thi sĩ Tản Đà đã kêu mời chúng ta:

“Nước non nặng một lòi Thề,

“Nước đi đi mãi, nước về cùng non .”

Chúng ta hãy sáng suốt, thức tĩnh, lắng nghe các bậc Tổ Tiên, qua các thời đại, từ  Hồng Bàng cho đến ngày hôm nay, đang ngày ngày nhắn nhủ chúng ta:

   “Con thân thương, hỡi con cháu Lạc Hồng,

   “Hãy đứng thẳng cho lòng người cường tráng,

   “Giờ truân chiên, nở nụ cười tỏa rạng,

   “Đường con đi, HY VỌNG ở đáy lòng.

   “Quên sau được bàn tay con huyền nhiệm:

   “Tay Bà Trưng, Bà Triệu cứu Non Sông,

   “Tay oanh liệt của cháu chắt Vua Hùng,

   “Mang dòng máu Rồng Tiên trong huyết quản”.

 Hà Nội, Hè 2006           

Nguyễn  văn Thành , Lausanne Thuỵ sĩ              

Bí chú:

(1)     COVEY steph.R – The 8 th Habit- Simon  & Cluster,  London 2004, 410tr.

(2)     NGUYỄN văn Thành – Trẻ em tự kỷ - Hè 2005.

(3)     NGUYỄN văn Thành – Huyền sử Việt Nam - T. Người,2004.

(4)    NGUYỄN văn Thành – Nguy cơ Tự Kỷ - Hè 2006.

VỀ MỤC LỤC
Sao lại là “đồ bỏ đi”?!

Cầm tay đứa cháu nội 5 tuổi đưa đến trường trao cho cô giáo, Bác giáo Đ, một nhà giáo nay đã về hưu,  than thở:

-         “Đồ bỏ đi” đó cô ơi!

Đến một môi trường lạ chưa hề tiếp xúc lần nào,V.H -  một em  bé Hội chứng Down xinh xắn, mủm mỉm .. chẳng nói, chẳng nhìn, luôn dùng hai bàn tay che kín khuôn mặt. Mặc cho cô giáo gọi tên, hỏi chuyện, V.H luôn giữ thái độ “đóng kín” !

Ngày qua ngày, được sự vỗ về âu yếm, được thương yêu, được  sự quan tâm chăm sóc, được san sẻ vui chơi, cùng hát, cùng múa với cô với bạn bè, cùng nhau đi công viên, vườn thú, tham gia nhiều sinh họat … tìm hiểu môi trường xung quanh với các bạn … bản tính rụt rè , nhút nhát của V.H dần dần rút lui. V.H bắt đầu làm quen với cô, với bạn, biết gọi tên cô với từng từ  một: Trang – Trang..

Nhà V.H đối diện ngôi trường, các cô  giáo thường lui tới hỏi chuyện, có điều kiện  giao tiếp với V.H. Sự thân thiện, gần gũi mỗi ngày một tiến xa hơn . 

Với môi trường giáo dục đặc biệt, tại ngôi trường mà V.H thương mến . Được cô giáo dạy cho từng kỹ năng cuộc sống: dạy ăn, tập uống, … giao tiếp, hướng dẫn, bày trò  chơi, dạy hát múa, đi chợ , đi siêu thị, chọn hàng, chọn lựa thức ăn, cùng nấu, cùng làm bếp, cùng dọn bàn ăn, cùng sắp xếp bày bàn…cùng thưởng thức nhũng món ăn do chính V.H cùng các bạn biến chế …V.H rất khéo léo trong vần đề giao  tiếp và kỹ năng cuộc sống ….V.H biết bưng nước mời cô “ uống đi ! nước…” Về nhà V.H cũng bắt chước làm cô giáo  cũng nói, cũng ra lệnh, sao chép y hệt cử chỉ điệu bộ, lời nói của cô. Bắt chước, là đặc điểm của các trẻ em “Hội chứng Down” này.

Cạnh nhà V. H là cửa tiệm uốn tóc, làm móng tay. Nhờ khả năng giao tiếp tốt của V.H. thêm tính tình vui vẻ. cởi mở… Chú Hùng , cô Phương tiệm uốn tóc luôn mở rộng cửa tiếp đón V.H – một cô “Thợ Nhí” tương lai trong tiệm uốn tóc!  Rời nhà trường, tại gia đình, môi trường thứ hai V.H tiếp xúc thường xuyên là tiệm uốn tóc này .

Đến trường lớp, V.H bắt ghế, đề nghị cô giáo ngồi để V.H chải tóc, gội đầu, sơn móng tay, tô son môi, kẻ lông mày cho các cô; “thao tác nghề nghiệp” nhuần nhuyễn, thuần thục không khác gì các cô thợ điêu luyện rành nghề nơi tiệm uốn tóc.

Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của V.H cách nay 14 năm: không một ai chụp được một tấm ảnh nào của V.H . Đang chơi, khi thấy có người cầm máy ảnh, hai bàn tay V.H bắt đầu “đậy mặt”, đầu cúi gầm xuống….! Tập dượt múa hát thành thạo nhưng đã bao lần khi thi văn nghệ trong ngành giáo  dục, khi có dịp tham gia trình diễn văn nghệ Lễ Hội …có đông đảo khán thính giả tham dự, thì bấy nhiêu lần V.H cứ đứng im như bức tượng đá, đầu cúi sâu với hai bàn tay che  mặt, mặc cho cô giáo mời gọi, mặc cho các bạn thúc đẩy …

Sau 14 năm trong ngôi trường Chuyên Biệt Gia Định - môi trường giáo dục đặc biệt, giờ thì V.H đã khác hẳn trước đây một trời một vực. Không những đối với cái nhìn của ông nội và những người thân trong gia đình, mà cái nhìn của những người chung quanh về một trẻ em mang “ Hội chứng Down” đã khác hẳn: V.H thật rành rẽ công việc gia đình: quét nhà, rửa chén bát, tự tắm gội, tự trang phục, xếp gấp quần áo ….cho cả gia đình, thậm chí phân biệt rõ quần áo của từng thành viên trong gia đình: ông bà , cha mẹ , anh chị em, cô chú….để riêng mỗi nơi .

Mỗi chiều V.H là cô thiếu nữ ngoan đạo phát sách hát, sách Nhật Tụng  cho các bạn cùng trang lứa trong buổi Kinh Chiều nơi Thánh Đường đối diện Nhà V.H. Nơi ngôi Thánh Đường trang nghiêm, VH thường  để ngón tay trỏ lên môi ra dầu hiệu” im lặng” khi thấy có bạn  trẻ nào đó ồn ào hay nói chuyện riêng bên cạnh V.H trong ngôi Thánh Đường

V.H đã là những “diễn viên” múa hát thật xuất sắc trước công chúng. Nét vui tươi duyên dáng trong từng cử điệu, động tác đã thay thế sự nhút nhát bất động …không nhìn, không muồn giao tiếp của V.H khi xưa. Kim Ngân, Bảo Ngọc, Cường Giáng Hương ….đều rất hãnh diện vui sướng cùng nhau múa hát với V. H trong đội văn nghệ . Biết bao thành quả gặt hái về  cho đội văn nghệ nhóm của V.H tại nhà trường trong những Hội thi dành cho trẻ em khuyết tật hàng năm như “ Búp Mai vàng” những “Ước mơ xanh” “Hội thi tiếng hát từ mái trường “ cùng tham gia với nhữn