Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 56, Chúa nhật 15.10.2006


Các số báo đã phát hành             MỤC LỤC

ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY NGƯỜl Kl-TÔ HỮU LÀM VlỆC THlỆN                                   Vatican 2

NGỘP  THỞ                                                                                           Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

HÃY SỐNG VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH !                                               Bs. LƯU TUẤN THÀNH

KHÍCH LỆ                                                                                                Lm. Lê Văn Quảng

MẸ TỪ TÂM                                                                                       Gs. Nguyễn Văn Thành

Tầm quan trọng của sự tha thứ trong đời sống chúng ta    Lm. Jean Monbourquette OMI

Từ “THẤY MÀ KHÔNG TIN” để đi đến “KHÔNG THẤY MÀ TIN”             Trầm Tĩnh Nguyện

HỘI THÁNH HÔM NAY                                                             Phó tế GB Nguyễn Văn Định

CANH TÂN TINH THẦN CẦU NGUYỆN (tiếp theo)                                                  Tuỵ Hiền

Quyết mê một cuốn sách: PHÚC ÂM                                      + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

Tật đờn bà : CHÌA KHÓA                                                            Chuyện phiếm của Gã Siêu


ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY NGƯỜl Kl-TÔ HỮU LÀM VlỆC THlỆN

 

Trong cuộc lữ hành trần thế, người Ki-tô hữu được giấu ẩn trong Thiên Chúa cùng với Đức Ki-tô và được giải thoát khỏi làm nô lệ cho của cải trần thế, đang khi tìm kiếm của cải tồn tại vĩnh viễn, với lòng quảng đại, họ sẽ hoan toàn hiến mình để mở rộng Nước Thiên Chúa và đem tinh thần Tin Mừng thâm nhập và cải tạo những thực tại trần thế. Giữa nhưữg thử thách ở đời này, họ tìm thấy sức mạnh trong niềm hy vọng vì họ nghĩ rằng: "Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta (Rm 8,18).

Lòng yêu thương phát xuất từ Thiên Chúa thúc đẩy họ làm việc thiện cho hết mọi ngừơi, nhất là cho những người có cùng một niềm tin (x Gl 6,10), "từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha" (1Pr. 2,1). Và như vậy họ lôi kéo mọi người đến với Đức Kitô. Hơn nữa, tình yêu mà Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5,5) làm cho giáo dân có sức biểu lộ thực sự trong đời sống mình tinh thần Tám Mối Phúc Thật. Theo Đức Kitô khó nghèo, họ không tuyệt vọng khi thiếu thốn, cũng không kiêu căng khi dư dật. Bắt chước Đức Kitô khiêm hạ, họ không háo danh (x. Gl. 5,26) nhưng chuyên lo làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn làm đẹp lòng người ta. Họ luôn sẵn sàng bỏ mọi sự vì Đức Kitô (x Lc. 14,26) và chịu bách hại vì sự công chính (x Mt. 5,10) vì nhớ lời Chúa: "Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập gía mình mà theo " (Mt 16,24). Sống với nhau trong tình thân hữu Kitô giáo họ sẵn sàng giúp đỡ nhau khi cần thiết.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Vaticanô 2, số 4)

VỀ MỤC LỤC
NGỘP  THỞ

 

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 01.10.2006

Mc 9:38-43.45.47-48

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (HÐGMVN) đã gởi đến toàn thể Dân Chúa ở Việt Nam cũng như Hải ngoại Thư Mục Vụ Năm 2006 (TMV 2006) với chủ đề : “SỐNG ÐẠO HÔM NAY.”  Nội dung xoay quanh việc làm chứng từ trong gia đình đến ngoài xã hội.  Chứng từ khởi nguồn từ việc hoán cải  bản thân đến việc phục vụ và đối xử công bằng.  Tất cả nhằm kêu gọi mọi người “tôn trọng những quyền căn bản của con người.”[1]

Thật là một tiếng kêu khẩn thiết.  Ðã đến lúc Kitô hữu phải hành động để làm chứng.  Lý do vì  họ là ngôn sứ của Chúa giữa thời đại. Dù đồng ý hay không, mọi người đều thấy đây là cơ hội cần suy nghĩ. 

Với hết lòng quý mến và tôn trọng các vị chủ chăn, tôi hân hoan đón nhận những lời khuyên răn ấy.  Nhưng tự hỏi làm cách nào có thể thực hành những điều cao đẹp đó, nếu trước tiên tôi không hiểu ngôn sứ là gì.  Nếu là ngôn sứ, tôi có vai trò gì và phải làm gì ?  Làm sao một dân quèn như tôi lại có thể là phát ngôn viên của Chúa cho thời đại hôm nay ?  Thôi !  Tôi không dám đâu !  Việc đó phải dành cho các đấng bậc cao cấp trong Giáo hội chứ !

Nghĩ như thế là tôi đã vặn ngược kim đồng hồ mất rồi !  Ngay từ hồi còn lưu lạc trên sa mạc, Dân Chúa đã từng nghe Môsê nói : “Toàn dân ... đều là ngôn sứ, vì Ðức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ.”[2]  Không có những khẳng quyết đó, nhất định tôi vẫn cứ đinh ninh ngôn sứ không phải là phận vụ của tôi.  Tôi càng yên tâm khi Công Ðồng Vatican II tuyên bố mọi thành phần Giaó Hội đều chia sẻ chức vụ ngôn sứ của Ðức Kitô.[3]  Nhưng chức vụ và phận vụ ngôn sứ tiên vàn thuộc về các giám mục.[4] 

Như thế, dù là ngôn sứ, tôi cũng không thể nhân danh sứ mệnh đó mà coi thường phẩm trật Hội Thánh.  Không thể sống trong cảnh “cá đối bằng đầu.”  Nhưng cũng không thể nhân danh phẩm trật để coi thường mọi sứ ngôn. Vì được Thần Khí thúc đẩy, ngôn sứ nói ra những điều xây dựng cộng đoàn, chứ không vì và cho cá nhân.[5]   Ngôn sứ đích thực  không nói những điều nghịch với giáo huấn của Giáo hội về tín lý và luân lý.

Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta đừng dập tắt Thần Khí.[6]  Cũng như gió, Thần Khí muốn thổi đâu thì thổi,[7] chứ không lệ thuộc cơ chế hay biên giới nào. Chính vì thế, cả Chúa Giêsu và Môsê đều cho thấy rõ sức mạnh vô biên của Thần Khí.[8] 

Chính Thần Khí là tác giả của mọi hồng ân và ân huệ trong cộng đoàn.[9]  Không có Thần Khí cũng chẳng có Giáo Hội và phẩm giá người Kitô hữu.  Thật vậy, “chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí, để trở nên một thân thể.”[10]   Hơn nữa, phẩm giá cao cả của Kitô hữu còn tìm thấy nơi hình ảnh Thiên Chúa và tình bạn với Chúa Kitô,[11] Ðền Thờ Thiên Chúa.[12]  Ngày nay, phẩm giá Kitô hữu còn nổi bật khi Giáo hội được định nghĩa là Dân Thiên Chúa.[13]   

HÐGMVN kêu gọi Kitô hữu “tôn trọng quyền căn bản của con người.”  Nhưng bao năm qua, người giáo dân đã được tôn trọng tới mức nào ?  Họ là ngôn sứ nhưng tiếng nói lại bị bóp nghẹt!  Hơn nữa, họ không được chuẩn bị và không có cơ hội để thi hành vai trò ngôn sứ giữa lòng Giáo hội và thế giới.  Làm sao giáo dân “có điều kiện để sống xứng với phẩm vị của mình”[14] ?   Làm sao “xây dựng một cộng đoàn trong đó mọi thành phần đều được yêu thương và được đối xử công bằng”[15]  khi phẩm vị Kitô hữu bị chà đạp ?    Nhưng “sự công bằng cần phải đi đôi với lòng tôn trọng sự thật, vì tôn trọng sự thật là điều kiện để xây dựng một cộng đoàn yêu thương”[16] ?   Nhưng làm sao tìm được sự thật nếu không đối thoại ? 

Bao giờ GHVN trở thành cộng đoàn tình yêu để làm chứng cho Thiên Chúa giữa một xã hội băng hoại về nhiều mặt hôm nay ?    Bao lâu chưa đối thoại để tìm ra sự thật, bấy lâu không thể sống công bình.  Không công bình, lời chứng trở thành rỗng tuếch !  Ðó là lý do tại sao GHVN không tiến xa hơn được !

Từ ngày ban hành “Nghi Thức Thánh Lễ 2005,” GHVN trải qua một cơn sóng gió lớn.  Bình an không còn, vì công lý vắng bóng.  Công lý vắng bóng vì không có nỗ lực đối thoại để tìm kiếm sự thật.  Mấy tháng qua, thiên hạ chỉ thấy những lời qua tiếng lại thật ồn ào.  Cho tới nay vẫn chưa có dấu hiệu gặp gỡ đối thoại.  Giáo hội cơ chế đang đóng băng.  Lịch sử cũng cho thấy khi cơ chế và phẩm trật Giáo hội ổn định, ngôn sứ cũng biến dần khỏi xã hội.[17]

Nội bộ không ổn, làm sao tính đến chuyện làm chứng ?   Xã hội đang hướng về Giáo hội để tìm đường đến với sự thật.  Tất cả mọi cửa đều đóng, làm sao con người có thể  gặp gỡ và đối thoại ?  Nếu Giáo hội khép kín như thế, sự thật vô phương đến với Giáo hội.  Khi không biết lắng nghe nhau, chúng ta cũng không thể lắng nghe lời Chúa.  Chúa đã căn dặn : “Hãy để ý tới cách thức anh em nghe”[18] Thiên Chúa và anh em.  Nếu chỉ nghe với một thái độ cao ngạo, không thể tìm ra sự thật.  Sẽ chỉ nghe thấy những gì muốn nghe. Nhưng nếu khiêm tốn, chúng ta có thể đối thoại và tìm ra sự thật.  Ðó là vai trò của Giáo hội Việt Nam hôm nay.  Nếu không, mọi hy vọng sẽ tiêu tan . . .

Xã hội bên ngoài đang kẹt cứng vì những bất công ngày càng vượt ngoài tầm kiểm soát.  Xã hội đang bất ổn vì tương quan chủ thợ quá chênh lệch. Tiếng thợ kêu không lọt tai ông chủ, nhưng đã “thấu đến tai Chúa các đạo binh.”[19] Những bất công tồn đọng và tăng tốc, vì sự thật ngày càng lu mờ.

Trước một xã hội đầy bất công như thế, nếu chỉ lo xây dựng cơ sở và làm việc bác ái, Giáo hội đã bỏ quên sứ mệnh chính yếu của mình.  Giáo hội là ngôn sứ công bố Lời Chúa cho nhân loại.  Không có sứ mệnh này, Giáo hội chẳng khác gì một công ty hay một tổ chức thương mại ngoài đời. 

Chưa bao giờ vai trò ngôn sứ quan trọng như hôm nay ! Theo Thánh Thomas, ngôn sứ là một đoàn sủng tri thức dùng để thông tri cho nhân loại những chân lý cần thiết cho việc cứu độ.[20]  Chính Lời Chúa mới bơm thần khí và sự sống cho xã hội đang dẫy chết.[21]  Chỉ có Lời Chúa mới đem lại bình an và sự sống cho xã hội.  Như thế, Lời Chúa cần hơn cơm bánh.  “Thời kỳ Giáo hội Sơ Khai, các ngôn sứ chú tâm tới việc hiểu biết Chúa Kitô hơn giao tiếp với thực tại xã hội rộng lớn hơn.  Mục đích ngôn sứ là thiết lập một căn tính Kitô vững chắc để nắm vững truyền thống đạo đức nòng cốt hầu có thể đối đầu với những thách đố của trần gian đầy bất trắc này.”[22] Bởi đó, những năm đầu thời kỳ hậu  tông đồ, “yểm trợ cho các ngôn sứ quan trọng hơn quan tâm chăm sóc cho người nghèo.”[23]

Như thế, từ đầu Giáo hội đã nhận thức rõ tầm quan trọng của sự thật.  Nhưng sự thật không nằm sẵn trong sách vở.  Giáo hội không ngừng phấn đấu tìm kiếm và làm chứng cho sự thật ngang qua đối thoại.  Biết lắng nghe nhau còn quan trọng và cần thiết hơn làm việc bác ái. Ngay cả công cuộc bác ái  cũng cần sự thật.  Không có sự thật, bác ái mất hẳn động lực, ý nghĩa và giá trị.  Ðó là điều Chúa nhắm tới khi nói : “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Kitô ...”[24]  Ðức Kitô mới là động lực và cứu cánh mọi hoạt động.  Bác ái không có sự thật chỉ tạo thêm bất công và bất ổn.  Mải mê hoạt động bác ái đến nỗi quên cả tìm kiếm sự thật là chìm ngập trong phương tiện mà đánh mất mục đích.  Các phương tiện như thân xác, chức quyền, của cải v.v.  có thể che mờ hay làm mất cứu cánh. [25]  Những phương tiện đó dễ làm chúng ta xa nhau và xa Thiên Chúa.  Xa Thiên Chúa, làm sao sống hạnh phúc ?  Xa anh em, còn có thể xây dựng gì cho nhau  ?!

Lạy Chúa, xin cho con biết tôn trọng người anh em như ngôn sứ Chúa  sai đến với con.  Xin cho con khám phá cách thức lắng nghe và đối thoại với nhau hầu có thể làm chứng cho Chúa giữa một xã hội đang vắng bóng sự thật hôm nay.  Amen

lm đỗ vân lực, op.

dzuize@gmail.com


[1] TMV 2006, số 7.  [2] Ds 11:29.  [3] x. LG,123.  [4] x. ibid.

[5] Encyclopedia of Catholic Doctrine, ed. Russell Shaw, Prophecy, Jordan Aumann, O.P.; Our Sunday Visitor Publishing Division,  Indiana, 1997; x. 1Cr 14:22; 2Pr 1:21.

[6] x.1Tx 5:19.  [7] x. Ga 3:8.  [8] x. Mc 9:39-40; Ds 11:29  [9] x. 1Cr 12:4 -11

[10] 1Cr 12:13.  [11] x. Ga 15:15.  [12] 1Cr 3:16-17. 

[13] LG 9; Cf. Acts 10:35; 1 Cor 11:25.  [14] TMV 2006, số 7.  [15] ibid.  [16] ibid.

[17] x. Encyclopedia of Catholicism, ed. Richard P. McBrien, Prophecy, Joseph Blenkinsopp, New York : HarperCollins, 1995.

[18] Lc 8:18.  [19] Gc 5:4.  [20] De Veritate, 12, 2; x. 1Cr 14:6.  [21] x. Ga 6:63.

[22] The New Dictionary of Theology, eds. Joseph A. Komonchak, Mary Collins, Dermot A. Lane, Prophecy, Dianne Bergant, CSA, Delaware : Michael Glazier, 1989,

[23] x. Theological Dictionary of the New Testament, Vol. VI, Eds. Gerhard Kittel, Gerhard Friedrich, trans. by Geoffrey W. Bromiley, Prophet, Friedrich, Michigan : Eemans, 1968 ; Did ., 13:1-7;

[24] Mc 9:41.  [25]x. Mc 9:47; Mt 19:22; Mc 10:22; Lc 18:23.

VỀ MỤC LỤC
HÃY SỐNG VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH !

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

Trong một số Ephata cách đây không lâu, chúng tôi đã có dịp viết về “một địa chỉ sạch – một lương tâm sáng”. Đó là về trường hợp bác sĩ Lưu Tuấn Thành ở Phòng Khám Tứ An. Nay chúng tôi lại mới nhận được một E-Mail dài của bác sĩ Tuấn Thành bộc bạch những thao thức trăn trở, vừa trên cương vị một bác sĩ đối với các bệnh nhân đáng thương, vừa với tư cách một người Công Giáo có lương tâm và trách nhiệm, muốn kêu lên những lời cảnh báo thẳng thắn và mạnh mẽ đối với xã hội nói chung, với các bạn trẻ nói riêng.

Chúng tôi đã xin phép bác sĩ Tuấn Thành để đăng lại nguyên văn lá thư rất đáng trân trọng này:

“Quý cha và quý anh chị em Nhóm Bảo Vệ Sự Sống,

Qua một số người, tôi được biết quý cha DCCT và anh chị em Nhóm Bảo Vệ Sự Sống đã và đang hết lòng vì các sinh linh bé nhỏ tội nghiệp. Tôi rất khâm phục những việc cao cả quý vị đang làm. Tuy nhiên, để công việc chung thêm phần hiệu quả, Tôi xin đề cập đến hai khía cạnh khác nữa, đó là các tai biến và tác hại lâu dài của việc phá thai với sức khỏe người phụ nữsự suy đồi đạo đức xã hội hiện thời chính là nguyên nhân dẫn đến việc nạo phá thai.

Về sức khỏe của người phá thai. Các tai biến chết người có thể gặp là: Viêm phúc mạc – Nhiễm trùng huyết – Thủng tử cung. Nhẹ hơn có thể là: Nhiễm trùng phần phụ – Dính tử cung – Vô sinh... Ngay tại phòng khám của tôi, chúng tôi cũng đã chữa trị nhiều trường hợp nhiễm trùng phần phụ và dính tử cung sau khi phá thai. Rất đáng thương cho họ vì họ không ý thức được việc họ làm.

Vì thế, quý cha và anh chị em nên đưa thêm phần này vào trong cuộc vận động Bảo Vệ Sự Sống Chống Phá Thai của mình. Tôi sẵn sàng giúp quý cha mọi mặt về việc tư vấn hay chữa trị các vấn đề trên. Quý cha nên viết thêm một bức thư nữa nói về tác hại không thể lường trước của việc phá thai, như thế các bà mẹ "không mong muốn" mới... sợ mà không dám làm bậy nữa !

Một vấn đề xã hội cần lên án và loại bỏ, đó là phong trào sống thử của thanh niên thiếu nữ đương thời. Cuộc sống sai lầm này là mầm mống ung thư của xã hội, là nguyên nhân của việc nạo phá thai đang gia tăng chóng mặt của giới trẻ. Phải chấm dứt vấn đề này càng sớm càng tốt, thì mới có thể chấm dứt chuyện nạo phá thai... Quan niệm sống tự do buông thả đã thúc đẩy phong trào sống thử. Giới trẻ ngày nay đòi tự do quá sớm trong khi các bạn lại chẳng hiểu rõ gì về trách nhiệm, nghĩa vụ mà xã hội yêu cầu các bạn phải có. Các bạn trẻ sống gấp, sống vội, hưởng thụ như thể ngày mai họ chết. Các bạn trẻ ấy có được gì sau đó ? Phá thai, ma túy, mại dâm, HIV... Như vậy, chắc chắn rằng các bạn càng làm thế thì các bạn càng thấy vô vọng chán chường.

Nếu các bạn trẻ biết tự vấn lương tâm rằng mình đã cống hiến được gì mà đòi hưởng thụ ? Nếu các bạn trẻ có trách nhiệm một chút với gia đình, bạn bè và xã hội, nếu các bạn ý thức một chút về kết quả các việc mình làm, nếu các bạn có bản lãnh một chút để từ chối các cám dỗ tầm thường của cuộc sống, nếu các bạn biết hy sinh một chút để phục vụ lý tưởng, thì xã hội này sẽ tốt đẹp biết bao !

Vì thế, theo tôi nghĩ, có chăng quý cha nên phát động một phong trào viết và sống trách nhiệm, sống bản lãnh, sống hy sinh, sống vượt lên chính mình, hoặc là quý cha nhân rộng và thật rộng các gương tốt về các cuộc sống tốt đẹp này.

Bs. LƯU TUẤN THÀNH, một “con chiên lạc”.

Phòng Khám Tứ An, 611 – 611A Luỹ Bán Bích, phường Phú Thạnh, quận Tân Bình, Sài-gòn

VỀ MỤC LỤC
KHÍCH LỆ

 

Khích lệ thì cần hơn những chuyện khác trong công việc giáo dục con cái của chúng ta. Nó quan trọng đến nỗi nếu thiếu điều đó sẽ làm cho con trẻ hành động sai lầm. Một đứa trẻ có hành động sai lầm là một đứa trẻ không được khích lệ. Đứa trẻ cần có sự khích lệ liên tục như một cây cần nước. Nó không thể lớn lên và phát triển mà không có sự khích lệ. Tuy nhiên, những kỷ thuật giáo dục con trẻ mà chúng ta dùng ngày hôm nay cho thấy hàng loạt những kinh nghiệm thiếu khích lệ.

Đối với một đứa trẻ, những người lớn thì xem ra quá lớn, quá oai vệ, và có quá nhiều khả năng, còn nó thì xem ra quá nhỏ bé, nên sự khích lệ giúp cho đứa trẻ không đầu hàng khi phải đối diện với những ấn tượng nầy; và thật tuyệt vời nếu đưá trẻ có được sự can đảm đó. Nếu chúng ta được đặt vào trường hợp sống giữa những người khổng lồ thì chúng ta cũng sẽ đầu hàng như những đứa trẻ của chúng ta vậy.

Trẻ con đáp ứng những hoàn cảnh khó khăn với ước muốn học được những khéo léo và muốn thắng vượt cảm giác mình bé nhỏ và bất lực. Chúng muốn là một phần tử của gia đình. Tuy nhiên, trong cố gắng tìm cho mình một chỗ đứng, chúng lại gặp phải thiếu sự khích lệ. Những cách giáo dục như thế, thường chỉ gây thêm sự thất đảm cho con trẻ.

Kim Hồng, 4 tuổi, đang đứng bên cạnh mẹ trong bếp, nhìn mẹ đang thu xếp những thực phẩm. Mẹ nó lấy cái hộp đựng trứng trong tủ lạnh ra và đặt trên bàn. Bà lấy hộp trứng ra khỏi túi đồ. Kim Hồng vói tay lấy hộp đựng trứng và muốn lấy trứng xếp vào hộp đựng trứng. Bà mẹ kêu lên: “Kim Hồng! không được, con sẽ làm vỡ trứng. Để đó cho mẹ. Hãy đợi đến khi con lớn đã”.

Bà mẹ đã vô tình làm cho em bé mất đi sự can đảm. Bà đã gây cho nó một ấn tượng là nó quá nhỏ. Điều đó có ảnh hưởng không tốt đối với quan niệm về chính nó. Bà có biết rằng ngay cả đứa bé 2 tuổi cũng có thể xếp được những cái trứng một cách thận trọng không? Chúng ta đã từng thấy một đứa trẻ nhặt từng chiếc trứng đặt vào trong chiếc hộp đựng trứng một cách tốt đẹp chưa? Và nó đã tỏ ra rất vinh dự khi đã làm được điều đó. Cả bà mẹ cũng vui mừng biết bao khi thấy con mình làm được như thế.

Cu bé Thành đang mặc bộ đồ mùa đông để đi ra chợ với mẹ nó. “Lại đây, Thành, mẹ mặc cho con. Con làm chậm quá”.

Bà mẹ đã cho cậu bé một cảm giác là không đủ khả năng để làm mọi việc nhanh chóng. Bị làm thất đảm, cậu bé đầu hàng và đã để mẹ nó mặc quần áo cho nó.

Trong ngàn vạn cách, bằng giọng nói hay bằng hành động, chúng ta chứng tỏ cho đứa trẻ thấy rằng chúng ta coi nó chưa có khả năng, nói chung là còn vụng về, ngơ ngáo. Để đối phó với những quan niệm đó, nó cố gắng làm một cái gì nổi bậc để gây ấn tượng và tìm một chỗ đứng.

Thay vì cho phép con trẻ thử tài của chúng trong trăm ngàn cách khác nhau, chúng ta thường đối xử với chúng với đầy những thành kiến, luôn nghi ngờ khả năng của chúng, hoặc thẩm định giá trị chúng bằng cách thiết lập những tiêu chuẩn cho những trình độ tuổi khác nhau mà qua đó những đứa trẻ được tin tưởng là có thể làm được.

Khi một đứa bé 2 tuổi rưỡi muốn giúp dọn bàn, chúng ta lập tức chụp lấy ngay cái đĩa khỏi tay nó và nói: “Con ơi, không được, con sẽ làm bể nó”. Để cứu lấy một cái đĩa, chúng ta sẵn sàng làm tan vỡ niềm tự tin của đứa bé vào khả năng mới chớm nở của nó. Chúng ta ngăn cản những cố gắng khám phá khả năng và sức mạnh của đứa bé. Đứa bé mang giầy, chúng ta bảo là nó mang lộn chân. Lần đầu tiên nó muốn tự cầm muổng để ăn, nó làm lem luốc mặt mày, quần áo, bàn ghế. Chúng ta rầy la, lấy muổng khỏi tay nó, và cho nó ăn. Dần dần chúng ta làm mất đi những cố gắng đi tìm cho mình một chỗ đứng qua những công việc làm của nó.

Thay vì khích lệ, chúng ta làm con cái chúng ta thất đảm mà chúng ta không biết. Chúng ta thiếu niềm tin vào khả năng của đứa trẻ. Chúng ta nghĩ rằng bây giờ nó còn quá bé để làm những công việc đó, mai ngày nó lớn, nó tự động sẽ làm được những công việc như thế. Nhưng chúng ta đã lầm, mọi sự đều cần phải học hỏi.

Khi một đứa bé làm điều gì sai lỗi hay không hoàn thành được một công việc nào đó, chúng ta phải tránh nói hoặc hành động tỏ cho nó thấy rằng nó là một sự thất bại. Chúng ta cần tách rời hành động ra khỏi con người hành động. Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng rằng mỗi lần thất bại là chỉ vì thiếu sự khéo léo nên không ảnh hưởng gì đến giá trị con người. Cần can đảm mỗi khi chúng ta gặp phải thất bại và không nên mang mặc cảm nào cả. Hãy nhớ rằng con người là bất toàn và lỗi lầm thì không thể nào tránh khỏi.

Một nửa của việc khích lệ một đứa bé là tránh làm cho nó thất đảm bỡi việc bảo vệ thái quá hoặc rầy la nó thái quá. Bất cứ việc gì ta làm tỏ ra thiếu tin tưởng vào đứa bé thì đó là làm cho nó thất đảm. Một nửa khác là biết cách khích lệ nó. Bất cứ khi nào chúng ta hành đông để nâng đỡ một đứa bé biết can đảm và tự tin thì đó là lúc chúng ta khuyến khích nó. Không có một câu trả lời nào rõ ràng cho vấn đề đó. Nó liên quan đến quan niệm và sự học hỏi của cha mẹ về vấn đề giáo dục. Chúng ta phải biết quan sát kết quả của chương trình giáo dục và tự hỏi: phương cách mà chúng ta đang dùng có giúp ích gì cho việc giáo dục con cái chúng ta không?

Hành động của đứa bé muốn nói cho chúng ta biết sự lượng định giá trị của nó về chính nó. Một đứa bé nghi ngờ về khả năng của nó hoặc giá trị của nó, chúng ta có thể thấy được qua cách thế: nó không còn muốn làm, không còn muốn tham dự, hoặc góp phần vào những công việc như thế nữa. Trong cơn thất đảm, nó quay sang khuấy động hoặc hành động một cách vô tích sự. Nó nghĩ rằng nó bất tài và không thể đóng góp gì, nên phải làm một cái gì ít ra cũng gây được sự chú ý bằng cách nầy hay cách khác. Thà rằng bị phết vào đít còn hơn là không được ai biết đến. Bị xem là đứa trẻ hư còn hơn là không được chú ý. Một đứa trẻ như vậy luôn có ấn tượng rằng không còn chút hy vọng nào để chiếm được một chỗ đứng qua hành động cộng tác.

Khích lệ là một tiến trình liên tục có mục đích tạo cho đứa trẻ có một cảm giác biết tự trọng và hoàn thành công việc. Từ thuở ấu thời nó cần sự giúp đỡ để tìm được một chỗ đứng qua việc hoàn thành một số những công việc.

(còn tiếp)

lm.lêvănquảng

VỀ MỤC LỤC

MẸ TỪ TÂM

 

MẸ TỪ TÂM

 Em đang đến, cùng có mặt với tôi,

Trên con đường ngang dọc giữa cuộc đời.

Em nhìn tôi, mắt dịu ngọt, âm thầm,

Tôi xin gọi tên Em : Mẹ Từ Tâm.

 

Tôi sợ hãi, lòng ngỗn ngang trăm mối…

Tôi buồn lo, nặng tâm tình tội lỗi,

Tôi cô đơn, giữa đoàn lũ vui cười,

Em hiến tặng một đóa hoa nở tươi.

 

Chỉ lắng nghe, em không nói một lời,

Như bếp lữa, em suởi ấm mỗi người,

Mang Ánh Sáng, chiếu soi đời ảm đạm,

Thắp ngọn đuốc, xóa tan lòng u ám.

 

Em bóng mát, giữa trưa hè đứng ngọ,

Đời xa lạ, em nhận làm quán trọ,

Con đường đi, qua khu rừng tăm tối,

Ánh sao trời, gọi người người về cội.

 

Ai hạnh phúc ? Nụ cười em rạng rỡ,

Ai hân hoan ? Cuộc đời em rộng mở,

Ai an hòa ? Tầm nhìn em diệu vợi,

Người và em cưu mang Trời Đất Mới.

 

Khi ai đói, em biến thành lương thực,

Ai kiệt quệ, em sẵn sàng chuyền sức,

Ai khổ đau, em đồng hành chia sẻ,

Đời oi bức, em thổi làn gió nhẹ.

 

Đất nước hồn thiêng cùng em hiện diện,

Nhắc mọi người nắm tay nhau cùng tiến,

Lòng biển cả, bao la và trọng đại,

Quyết chuyển hóa cả nhân tình thế thái.

 

Cuộc đời em, một sứ điệp hương trầm…

Mắt em nhìn, xuyên thấu cõi nội tâm,

Chân em đi ủi an người chới với,

Tay băng bó vết thương hồn lở lói.

 

Em chuẩn bị cho Ngày Mai tươi sáng,

Ngày Thái Hòa giữa lòng người tỏa rạng.

Em là ai ? Bồ Tát ? Con Người Mới ?

Nguồn Yêu Thương vượt ra ngoài tên gọi.

 

NGUYỄN văn Thành
 

VỀ MỤC LỤC
Tầm quan trọng của sự tha thứ trong đời sống chúng ta

 

 Bạn muốn được hạnh phúc trong chốc lát ? - Hãy trảthù.

 Bạn muốn luôn luôn được hạnh phúc ? - Hãy tha thứ.

Henri Lacordaire

Dù sao đi nữa, những biến cố trong cuộc sống hàng ngày chứng tỏ rõ ràng rằng sự tha thứ và hòa giải cần thiết biết bao cho sự canh tân cá nhân và xã hội. Điều này không chỉ đúng trong quan hệ giữa cá nhân với nhau mà còn trong phạm vi các cộng đồng và các dân tộc.

Gioan Phaolô II

Tha thứ vẫn luôn có tính cách thời sự, cả trong thế giới tục hóa của chúng ta. Không cần phải mất nhiều thời gian lắng nghe người khác thổ lộ mới nhận ra sự cần thiết nóng bỏng của tha thứ. Quả thực, chẳng ai thoát khỏi những tổn thương do mất mát, chán nãn, phiền muộn, đau buồn vì tình, phản bội, v.v... Những khó khăn trong cuộc sống chung được tìm thấy rất nhiều ở khắp mọi nơi : những xung đột giữa vợ chồng, trong gia đình, giữa những người yêu phải chia tay, giữa vợ chồng ly thân - ly dị, giữa chủ và thợ, giữa bạn bè, giữa láng giềng, giữa các chủng tộc hay quốc gia. Một ngày nào đó, tất cả đều cần đến sự tha thứ hầu tái lập hòa bình và tiếp tục chung sống với nhau. Trong cuộc lễ kỷ niệm 50 năm thành hôn, có người hỏi bí quyết của đôi vợ chồng. Người vợ trả lời : "Sau một cuộc cải vả, không bao giờ chúng tôi đi ngủ mà không xin lỗi lẫn nhau".

 Để khám phá ra tất cả tầm quan trọng của tha thứ trong các mối tương quan nhân loại, chúng ta hãy thử tưởng tượng một thế giới không có tha thứ sẽ như thế nào. Đâu là những hậu quả trầm trọng của nó ? Có lẽ người ta sẽ bị kết buộc trong bốn chọn lựa sau đây, mà chúng ta sẽ khảo sát cặn kẻ hơn :

- Duy trì mãi trong mình và trong kẻ khác sai trái đã phải chịu,

- Sống trong sự oán giận,

- Bám chặt vào quá khứ,

- Trả thù. 

1. Duy trì mãi trong mình và kẻ khác sự dữ đã phải chịu :

 Khi ai bị tác hại đến toàn bộ thể lý, tinh thần hay thiêng liêng, thì có cái gì đó nghiêm trọng sản sinh nơi người ấy. Một phần hữu thể của họ bị va chạm, xé nát, bị hoen ố và xúc phạm, dường như sự độc ác của kẻ tấn công đã động đến cái tôi thâm sâu của mình. Họ trở nên có khuynh hướng bắt chước kẻ xúc phạm đến mình, dường như bị lây nhiễm phải một thứ vi trùng truyền nhiễm. Căn cứ vào một thứ bắt chước ít nhiều có ý thức đó, họ bị đun đẩy, đến phiên mình, tỏ ra độc ác, không những chỉ đối với kẻ xúc phạm, mà cả đối với chính mình và kẻ khác. Một người đàn ông sống với một người đàn bà mới ly dị ít lâu chia sẻ với tôi những khó khăn ông ta cảm thấy trong cuộc sống chung của họ. Ông nói : "Đôi khi tôi có cảm tưởng như nàng bắt tôi phải trả giá cho những điều bậy bạ mà người chồng cũ của nàng đã bắt nàng phải chịu đựng".

Sự bắt chước kẻ tấn công mình là một cơ chế tự vệ rất phổ biến trong khoa tâm lý. Bởi một phản xạ sinh tồn, nạn nhân đồng nhất hóa với tên lý hình. Trong cuốn phim Đan Mạch tuyệt vời Pélé, le conquérant, người ta không trình bày rõ làm sao một đứa trẻ dịu dàng như Pélé lại thích thú lấy roi quất túi bụi đứa bạn chậm trí của nó. Mọi sự trở nên rõ ràng khi nhớ lại rằng Pélé chỉ tái diễn trên một đứa trẻ vô tội cái lối ứng xử của thằng giữ trang trại đã hạ nhục Pélé với những lằn roi trong quá khứ. Chúng ta cũng tìm thấy cùng hiện tượng đó trong phim sinh học của Lawrence d'Arabie. Chúng ta chứng kiến sự thay đổi tận căn tính tình của vị anh hùng. Sau khi bị tra tấn, ông ta trở nên một người hoàn toàn khác. Từ một tính tình ôn hòa và nhân ái, ông trở nên hung hăng và tàn bạo. Biết bao kẻ tấn công tình dục và lạm dụng thô bạo chỉ là lặp lại những hành động hung bạo mà chính họ đã phải gánh chịu trong thời thơ ấu chăng ? Trong việc điều trị có tính cách gia đình, chúng ta thường nhận thấy rằng trong những hoàn cảnh bị ứng suất, trẻ con  chấp nhận theo những lối ứng xử tương tự với những lối ứng xử của cha mẹ chúng. Cũng thế, chúng ta có trước mắt gương của những nước sử dụng cho các dân tộc khác chính những sách lược phi nhân mà chính họ đã phải chịu đựng trong thời gian bị bách hại.

Tôi không có ý nói ở đây về sự trả thù chính hiệu, nhưng muốn nêu rõ những phản xạ tiềm ẩn trong vô thức cá nhân hoặc tập thể. Chính vì thế, trong việc tha thứ, chúng ta không chỉ dừng lại ở chỗ không trả thù, nhưng còn phải dám đi cho tới tận gốc rễ của những khuynh hướng bạo lực lệch lạc để đánh bật chúng ra khỏi mình, và để chận đứng các hậu quả tàn phá của chúng trước khi quá muộn. Bởi vì những thiên hướng thù nghịch và thống trị kẻ khác như thế có nguy cơ được truyền chuyển từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, trong các gia đình cũng như trong các nền văn hóa. Chỉ có sự tha thứ mới có thể bẻ gãy những phản ứng dây chuyền nầy, chận đứng những hành vi lặp đi lặp lại của việc trả thù, hầu biến đổi chúng thành những hành vi sáng tạo sự sống.      

2. Sống trong một mối oán giận thường kỳ :

Biết bao nhiêu người đau khổ phải sống trong một mối oán giận thường kỳ. Hãy lấy trường hợp của những người ly dị. Những cuộc nghiên cứu mới đây về các hậu quả về lâu về dài của việc ly dị đã minh chứng rằng một số lớn những vợ chồng đã ly dị, đặc biệt các bà vợ, vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng trong lòng nhiều nỗi oán giận đối với người phối ngẫu cũ, ngay cả sau mười lăm năm chia tay. Trong kinh nghiệm lâm sàng của tôi, tôi năng có cơ hội để nhận thấy rằng một số phản ứng tình cảm quá trớn chỉ là sự phục hoạt của một tổn thương quá khứ không được chữa lành cho đúng.

Quả thế, sống buồn giận, dù là cách vô thức, làm tiêu hao nhiều nghị lực và nuôi dưỡng cơn ứng suất thường kỳ. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn cái gì xảy ra nếu nhớ luôn trong trí sự khác biệt giữa sự oán giận sản sinh ra ứng suất và sự tức giận không làm điều đó. Sự tức giận là một xúc cảm tự nó vô thưởng vô phạt và sẽ biến tan một khi đã được bộc lộ ra, trong khi đó sự oán giận và thù nghịch tồn tại như một thái độ tự vệ luôn luôn cảnh giác chống lại mọi sự tấn công có thực hoặc tưởng tượng. Như thế kẻ bị chế ngự và hạ nhục trong buổi thơ ấu sẽ trở nên nhất quyết không bao giờ để bị ngược đãi nữa. Nó thường xuyên đề cao cảnh giác. Hơn nữa, nó có khuynh hướng phát minh ra những chuyện âm mưu hay tấn công khả dĩ chống lại nó. Chỉ có sự chữa lành được thực hiện sâu xa bởi việc tha thứ mới có thể mang lại phương dược cho tình trạng căng thẳng nội tâm nầy.

Sự oán giận mưng mủ từ một thương tổn không được chữa lành đúng cách cũng có những hậu quả gây hại khác. Nó là nguyên do của nhiều chứng bệnh tâm thể lý. Sự ứng suất tạo nên bởi oán giận tấn công ngay vào hệ thống miễn dịch. Hệ thống miễn dịch luôn luôn ở tình trạng báo động sẽ không còn biết khám phá ra kẻ thù nữa. Nó không còn nhận ra các tác nhân gây bệnh nữa. Nó còn tấn công ngay cả các bộ phận lành mạnh mà nó được coi như phải bảo vệ. Người ta giải thích như thế về sự phát sinh nhiều chứng bệnh như  chứng viêm khớp, chứng xơ cứng động mạch, chứng xơ cứng từng mảng, những bệnh về tim mạch, tiểu đường, v.v… Giữa những chiến lược tự vệ chống lại những hậu quả có hại của sự oán giận, bác sĩ Redford khuyên thực tập thường xuyên tha thứ trong cuộc sống mỗi ngày.

Sau khi mô tả các cuộc nghiên cứu khoa học khác nhau về mối liện hệ nhân quả giữa các trạng thái tình cảm tiêu cực và sự xuất hiện bệnh ung thư, bác sĩ Carl Simonton dành cả một chương sách Guérir envers et contre tous chứng minh rằng sự tha thứ vẫn là phương tiện tốt nhất để vượt thắng nỗi oán giận gây hại của mình. Nhờ một kỹ thuật tranh ảnh tâm thần, ông mời những người bị ung thư cầu chúc điều tốt lành cho ông hay bà nào đã làm họ bị tổn thương. Những ai sử dụng một kỹ thuật như vậy đã cảm nhận một sự giảm bớt rõ rệt cơn ứng suất của họ. Họ cảm thấy mạnh mẻ hơn để chống lại bệnh hoạn của mình. Thật là ngạc nhiên một tiếp cận đơn giản như thế với sự tha thứ lại có thể làm phát sinh những hậu quả sinh phúc dường ấy.

3. Bám chặt vào quá khứ :

Người không muốn tha thứ hay không thể tha thứ sẽ sống thời khắc hiện tại một cách khó khăn. Y khư khư bám chặt vào quá khứ, và bởi chính sự kiện đó, tự buộc tội mình làm hỏng hiện tại, hơn nữa làm ách tắc tương lai của mình. Trong vở diễn Le voyage dans la nuit của Eugene O'Neill, Mary Tyrone bị kiệt lực vì cứ nghiền ngẫm không ngừng một quá khứ nặng nề và khép chặt với tha thứ. Nàng trở thành một gánh nặng và một nguồn phiền muộn cho các phần tử trong gia đình. Chồng nàng khổ sở van xin : "Maria ơi, vì tình yêu thiên đàng, xin em hãy quên quá khứ đi!". Nàng đốp lại : "Tại sao ? Làm sao em có thể quên đi được ? Quá khứ, chính là hiện tại, không. Quá khứ, cũng chính là tương lai. Chúng ta đều cố gắng thoát ra khỏi đó, nhưng cuộc đời lại không cho phép mình". Trước sự bất lực tha thứ của mình, đời sống nàng bị đông cứng. Việc nhớ lại quá khứ trở về làm tăng thêm nỗi đau khổ cố hữu của nàng. Thời khắc hiện tại bị tả tơi trong những sự nghiền ngẫm vô ích : thời gian trôi đi không hạnh phúc, niềm vui có thể có được từ những quan hệ con người bị mờ nhạt. Tương lai bị bít lại và đe dọa : không còn những mối liên hệ tình cảm mới, không còn những dự tính mới… Cuộc sống đóng neo trong quá khứ.

Kinh nghiệm lâm sàng của tôi với những người đau buồn vì cái chết hay sự chia ly với một người thân yêu chứng minh cho tôi thấy rằng sự tha thứ  là đá thử vàng cho phép kiểm chứng xem sự thanh thoát đối với một người yêu mến đã đạt tới cùng chưa. Sau khi giúp người đó nhận ra vết thương, lau chùi vũ trụ tình cảm và khám phá ra ý nghĩa vết thương của y, tôi mời y thực hiện một cuộc tha thứ : tha thứ cho chính mình, để loại bỏ nơi y mọi dấu vết của mặc cảm tội lỗi, và tha thứ cho người thân yêu đã khuất, ngõ hầu xua đuổi mọi nỗi oán giận còn lại gây nên bởi sự chia lìa. Trong động thái của tang chế, sự tha thứ phô bày một giai đoạn quan trọng và quyết định. Chính nó chuẫn bị cho tâm hồn bước sang giai đoạn kế tiếp, đó là giai đoạn thừa kế di sản mà người thọ tang lấy lại được tất cả những gì nó đã yêu quí nơi người kia. Sau nầy tôi sẽ mô tả cặn kẻ hơn giai đoạn thừa kế nầy cũng như nghi thức cho phép nhận lãnh di sản ấy.     

4. Trả thù :

Những di hại đầu tiên của cuộc sống không tha thứ chẳng mang lại gì làm thỏa lòng cả, như chúng ta vừa nhận định. Đâu là di chứng của sự trả thù ? Nó có đưa ra những viễn ảnh triển nở hơn khong ? Chắc chắn nó là câu trả lời có tính cách bản năng nhất, tự phát nhất đối với điều lăng nhục. Tuy nhiên, JM. Pohier viết rằng tìm bù trừ nỗi đau khổ của mình bằng cách gây đau khổ cho kẻ xúc phạm mình, chính là nhìn nhận cho sự đau khổ một tầm mức thần diệu mà còn lâu nó mới có. Dĩ nhiên việc nhìn thấy kẻ xúc phạm mình bị hạ nhục và đau khổ tạo nên cho người trả thù một vui khoái say mê. Nó thoa một thứ dầu thơm tạm thời lên nỗi đau riêng tư và lên nỗi nhục nhã của y. Nó làm cho người bị xúc phạm có cảm giác như không còn cảm thấy cô đơn trong nỗi bất hạnh nữa. Nhưng sẽ phải trả giá nào ? Đó là một sự thỏa mãn ngắn ngủi không có triển nở thực sự và không có tính sáng tạo trong các mối quan hệ.

Một cách nào đó, trả thù là một thứ công lý có tính cách bản năng đến từ các thần linh sơ khai của vô thức. Nó nhằm tái lập một sự bình đẳng đặt nền tảng trên nỗi đau khổ gây ra cho cả hai bên. Trong truyền thống Dothái giáo, luật phạt bằng ngang danh tiếng "mắt đền mắt, răng đền răng" có mục đích quy định việc trả thù. Nó muốn giảm nhẹ những lời nói của Lamek, con trai Cain, đã tuyên bố với các bà vợ : "Ta đã giết một mạng người vì một vết thương, một đứa trẻ vì một sầy sướt. Phải, Cain sẽ được trả thù gấp bảy lần, nhưng Lamek sẽ được bảy mươi lần bảy!" (Stk.4, 23-24). Bản năng trả thù làm mù quáng kẻ nhượng bộ nó. Làm sao có thể lượng định được giá trị chính xác của một đau khổ để đòi hỏi người có lỗi phải chịu một đau khổ tương đương ? Quả thực, kẻ xúc phạm và người bị xúc phạm đều không ngừng leo thang, khiến càng ngày càng khó phán đoán sự ngang nhau của các thương tổn. Hãy lấy ví dụ cổ điển nợ máu của người đảo Corse trong đó cái chết của những người vô tội cứ kế tục từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Dĩ nhiên những sự trả thù trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta ít đẫm máu hơn. Nhưng không phải là ít thiệt hại hơn đối với các mối quan hệ giữa người với người.

Khi ở trong bầu khí trả thù, người ta thường quên đi tác động phá hoại của sự trả thù trên toàn thể môi trường. Chẳng hạn, ở một học hiệu kia, sự xung đột cá nhân giữa vị giám đốc và một giáo sư  đã biến thành một trận chiến giữa hai lập trường của đoàn giáo sư. Nhiệt độ ngờ vực và ứng xử không công minh lan ra cả nơi các học viên. Bầu khí làm việc và học tập vì thế mà ngày càng trở nên nặng nề và khó nhọc. Cũng cần phải ghi nhận tầm quan trọng tiên quyết của một thái độ tha thứ nơi các nhân vật nắm giữ quyền bính. Nếu họ để bị lôi kéo bởi tinh thần trừng phạt nhân danh xã hội của mình thì sự xung đột sẽ đạt tới những tầm mức kinh khủng và không thể kiểm soát được nơi những người thuộc quyền của họ.

Thỏa mãn mà sự trả thù mang lại kéo dài rất ngắn ngủi. Nó không thể nào bù trừ nổi các thiệt hại mà nó sẽ gây nên trong hệ thống các mối quan hệ giữa người với người. Ngoài ra, sự trả thù sẽ phát động những chu kỳ bạo lực khó mà bẻ gãy. Nỗi ám ảnh phục thù chẳng đóng góp gì để chữa lành vết thương của người bị xúc phạm, song hoàn toàn ngược lại, nó đầu độc y. Hơn nữa, không nên nghĩ rằng chỉ nguyên quyết định không trả thù kiến tạo được sự tha thứ. Tuy nhiên, nó vẫn là bước đầu tiên quan trọng và có tính cách quyết định để dấn thân trên con đường tha thứ.

Lm. Jean Monbourquette OMI

Chuyển ngữ: Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

VỀ MỤC LỤC
Từ “THẤY MÀ KHÔNG TIN” để đi đến “KHÔNG THẤY MÀ TIN”
 

HÀNH TRÌNH ĐẾN CÕI TUYỆT ĐỐI :

Từ “THẤY MÀ KHÔNG TIN” để đi đến “KHÔNG THẤY MÀ TIN”

“Phúc thay những người không thấy mà tin !” (Ga 20,29b). Đây là lời chúc phúc của Chúa Giê-su gởi đến cho những ai tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa mà không cần đến những chứng cớ hiển nhiên, không cần Ngài phải xuất hiện tỏ tường hay phán bảo rõ rệt cho mình. Dĩ nhiên, không phải dễ đạt tới một đức tin kiên vững như thế mà không trải qua những bước đầu chuẩn bị cho đức tin ấy. “Thấy mà không tin” có thể kể là một trong những bước chuẩn bị đó.

“Phúc thay những người thấy mà không tin !” : chúng ta thử đảo ngược câu nói của Chúa Giê-su để tìm ra khía cạnh bổ sung cho đức tin của người Ki-tô hữu.

Chúng ta thấy gì ? – Chúng ta thấy rất nhiều thứ xảy ra trong đời sống của chính mình và của những người khác. Đại để chúng ta có thể xếp chúng vào ba thứ mà mãnh lực của chúng chi phối đời sống của chúng ta một cách rõ rệt : tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng. Ba thứ này lúc nào cũng lồ lộ ra trước mắt chúng ta và luôn thu hút nhãn quan thể xác cũng như linh hồn của mỗi một người chúng ta. Hoặc ít hoặc nhiếu ; hoặc một, hai, hoặc cả ba ; ai ai trong chúng ta cũng cảm thấy mình bị cuốn hút bởi hấp lực của chúng, và càng bị chúng hấp dẫn chúng ta càng “thấy” chúng rõ hơn. Chúng ta thấy, và nếu không đề cao cảnh giác thì chúng ta sẽ “tin” vào quyền lực của chúng ; chúng ta sẽ phủ phục trước quyền lực của chúng và suy tôn chúng làm chủ tể, làm cùng đích của đời chúng ta !

“Thấy mà không tin” thật ra cũng không phải là một chuyện dễ ; vì tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng có vẻ như đã đáp ứng, đã thoả mãn được những nhu cầu “bên ngoài” của những ai chú trọng đến đời sống “tai nghe mắt thấy”. Muốn “thấy mà không tin”, chúng ta phải tập cho mình có một cái nhìn xuyên thấu các dáng vẻ bên ngoài để gặp được cái cùng tận ở bên trong. Chúng ta phải tập thấy “khác” với những gì lồ lộ ra trước mắt, và một khi đã khám phá ra “bộ mặt thật” của chúng thì chúng ta sẽ không còn “tin” vào những gì đang phơi bày ra trước chúng ta nữa.

“Phúc thay những người không thấy mà tin !” : nhờ khám phá ra “bộ mặt thật” của tiền bạc, của sắc đẹp, của danh vọng mà chúng ta không còn bị loá mắt, không còn bị hấp lực của chúng cuốn hút một cách mãnh liệt như trước nữa: chúng ta thấy mọi thứ chỉ là tương đối và chẳng có thứ gì làm cho chúng ta thoả mãn một cách tuyệt đối được. Lòng chúng ta sẽ thấy trống vắng và dậy lên lên một nỗi khát khao cái “Tuyệt Đối”. Chúng ta sẽ bươn chải lên đường tìm kiếm Tuyệt Đối. Hành trình có thể đầy gian nan thử thách. Chúng ta có thể phải lần mò như  người đi trong đêm tối. Tuy nhiên chúng ta sẽ không nghi nan, không nản chí, vì chúng ta tin tưởng rẳng cái “Tuyệt Đối” là một điều có thực dù chúng ta chưa hề thấy bao giờ. Chúng ta sẽ không đòi thấy cho được những gì tuyệt đối rồi mới tin vào cái “Tuyệt Đối”, vì chúng ta đã có kinh nghiệm về những thứ mà chúng ta đã thấy rõ ràng nhưng đã không tin. Và cuối hành trình, chúng ta sẽ khám phá ra cái “Tuyệt Đối” ấy chính là Thiên Chúa ./.

Trầm Tĩnh Nguyện

VỀ MỤC LỤC
HỘI THÁNH HÔM NAY

 

Hội Thánh Hôm Nay theo ĐTC Bênêđictô XVI thì cần củng cố các Gia đình, Nhóm Nhỏ, Hội đoàn, Phong trào để cùng nâng đỡ, học hỏi và khuyến khích nhau thực hành Lời Chúa và sống đạo.

Giáo Hội Hôm Nay tại các Giáo xứ cần trở về cách sống đạo như Cộng Đoàn Tín Hữu đầu tiên: “Họ chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện...Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến…” (Cv 2,42-47)

Hiện nay, trong Giáo xứ, Cộng đoàn có những Hội Đoàn, Phong trao, Nhóm Nhỏ sinh hoạt qua các Đặc Sủng khác nhau, tuy nhiều nhưng chung một gốc. Họ đang thực hiện cách Sống Đạo của Giáo hội hôm nay. Cho nên các Giáo xứ và Cộng Đoàn vẫn là chủ yếu của Hội Thánh, cần được khuyến khích học hỏi, bổ túc, tôn trọng những Đặc sủng khác của nhau, không nên lấy làm lạ rồi ngăn cản, chê bai, nghĩ xấu, lên án nhau (x. Mc 9, 39), làm mất sự hiệp nhất trong Hội Thánh: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ  có một Thần Khí.- Có nhiều phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.- Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người Chúa. - Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách là vì ích chung.- Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được ban cho ơn hiểu biết để trình bày.- Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy những ban cho những đặc sủng để chữa bệnh.- Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; người thì được ơn phân định Thần Khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ.- Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người.”  

(Xin mời đọc thật kỹ và nói với Chúa, thư: 1Cor 12,4-11)

Suy niệm đoạn Lời Chúa trên, tôi vui mừng thấy Chúa Thánh Thần đang đổi mới Giáo hội của Ngài, đã được Chúa Giêsu ủy thác cách đây hơn hai ngàn năm: “Đấng Bảo Trợ sẽ đến.”

Giáo hội hôm nay không chỉ ở Rôma, mà còn là các Tín Hữu Kitô, Dân Thiên Chúa, không là cơ chế mà là chính con người. Giáo hội là tôi, là bạn, là gia đình, là các Nhóm Nhỏ, Hội Đoàn, Phong trào đi theo đường lối của Đức Kitô đã dạy là tìm đến con người đang vui sống trong gia đình, làng mạc, giáo xứ và xã hội. Thánh Thần Thiên Chúa đang đến gặp gỡ, dạy bảo, nhắc nhở Lời Chúa Giêsu đã dạy, chữa lành thể xác và tâm hồn họ trong mọi lúc họ kêu cầu.

ĐTC Bênêdictô XVI muốn Giáo hội vẫn củng cố mô hình Giáo xứ hay Công đoàn; nhưng tránh kiểu cơ chế ngoại vi nặng nề, hình thức bên ngoài nhiều; nhưng là Giáo xứ, Cộng đoàn của bác ái, chia sẻ, hiệp nhất, và tình huynh đệ như thời Hội Thánh Tiên Khởi. ĐTC Gioan Phaolô nói: “Toàn thể đời sống Cộng Đoàn Tiên Khởi là Giêrusalem mang những dấu ấn của Chúa Thánh Thần là Đấng Quyền Năng Vô hình hướng dẫn họ.” Ngài muốn cho tôi thấy Chúa Thánh Linh đang canh tân : “mọi người đều được tràn đầy Thánh Thần” , nghiã là mọi Tín hữu Kitô đều lãnh nhận các Đặc Sủng.

Các Tông đồ ngày xưa là những nhân tố nòng cốt của Cộng Đoàn Tiên Khởi và hôm nay, mọi Tín hữu Kitô đều là những con người cốt cán của Giáo hội, nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Ngài hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh bằng quyền năng và thần lực. Thần Khí làm cho Đức Kitô hiện diện trong Giáo hội một cách trọn vẹn, để các Tín hữu hôm nay hiệp thông với Ngài bằng mọi cách khác nhau.

Tóm lại, tôi xin mượn lời ĐTC Phaolô VI đã tuyên bố: “Điều Giáo hội ngày nay cần thiết chính là cần Đức Thánh Linh. Chúa Thánh Linh trong chúng ta, trong mọi người và trong Giáo hội, đang cần thiết tới và cần trên hết mọi chuyện.

 Phó tế GB Nguyễn Văn Định * johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC

CANH TÂN TINH THẦN CẦU NGUYỆN (tiếp theo)

 

NHỮNG ĐIỀU NÊN TRÁNH

Tiếp tục tìm hiểu về việc canh tân tinh thần cầu nguyện, hôm nay, chúng ta sẽ lưu ý đến một vài điều nên tránh và một vài điều nên làm.

Trước hết, cầu nguyện không phải chỉ là van xin ơn này, ơn khác cho bản thân, gia đình hay những người thân yêu.

Thực vậy, nếu như có một người hàng xóm, hễ bước chân vào nhà chúng ta là xin hết cái này cái khác, từ thìa mắm tôm đến một chút bột ngọt, từ chút mỡ đến củ hành củ tỏi. Cứ thế, cứ thế, chắc hẳn chúng ta sẽ cảm thấy bực bội và lẩn tránh mỗi khi họ tới.

Hay như hai anh chị yêu thương nhau, hễ gặp nhau là chị xin từ cái nọ đến cái kia, nào hôm nay anh cho em chiếc áo dài ráp lăng, nào ngày mai anh cho em chiếc bóp kiểu mới nhất, nào ngày mốt anh cho em tiền đi cắt bộ tóc sì ton…Chắc hẳn rồi thì đường ai người ấy đi, vì anh chàng không thể nào gồng mình chịu đựng nổi những đòi hỏi như thế.

Đối với Chúa cũng vậy, cầu nguyện không phải chỉ là cầu xin, mà còn là những lời khen ngợi vì những kỳ công Chúa đã thực hiện, cảm tạ vì những hồng ân Chúa đã ban, ăn năn thống hối vì những lầm lỗi đã vấp phạm làm cho Chúa phải đau buồn và  quyết tâm sống xứng đáng là người con ngoan của Chúa.

Một khuôn mẫu tiêu biểu cho những tâm tình cầu nguyện đó là kinh lạy Cha, một lời kinh mà chính Chúa đã truyền dạy cho chúng ta.   

NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM.

Trước hết, phải cầu nguyện một cách kín đáo, không phô trương, không cố ý để cho  “dân thấy mà khen”  như bọn biệt phái giả hình.

Thực vậy, Chúa Giêsu đã phán :

- Khi cầu nguyện, các ngươi hãy vào trong phòng, đóng kín cửa lại mà cầu nguyện với Cha các ngươi, Đấng thấu suốt  mọi bí ẩn sẽ trả công  cho các ngươi.

Tiếp đến, phải cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu, thì lời cầu xin của chúng ta mới chắc chắn được chấp nhận như lời Ngài đã phán :

- Bất cứ điều gì các con nhân danh Ta mà cầu xin thì Ta sẽ làm cho các con, ngõ hầu Cha được tôn vinh nơi Con.

Chính vì vậy, Giáo Hội thường kết thúc những lời nguyện chính thức của mình bằng câu :

-  Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.   

Đồng thời khi cầu nguyện, chúng ta cũng nên hợp ý với Mẹ Maria và toàn thể Giáo Hội, theo gương các tín hữu thuở sơ khai như sách Tông đồ Công vụ đã kể lại :

“Tất cả họ cùng đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện với các phụ nữ và mẹ Maria…”

Và sau cùng, điều quan trọng hơn nữa đó là “ngôn hành phải hợp nhât”, lời nói phải đi đôi với việc làm.

Chúa không muốn chúng ta quá ỷ lại vào Ngài để rồi sinh ra lười biếng, bất cẩn và không chịu làm việc. Ngài không phải là một cái máy làm phép lạ, để khi cần đến, người ta cứ việc bấm nút.

Nếu chỉ nại vào lời cầu nguyện mà bỏ bê những công việc bổn phận, lúc bấy giờ chúng ta giống anh chàng nằm chờ sung rụng. Mặc dù bụng đói, anh ta nhất định không chịu đứng lên để hái những trái sung chín mà ăn, nhưng cứ nằm yên, miệng há hốc chờ những trận gió vô tình làm cho sung rụng và chỉ ăn những trái nào rơi đúng vào miệng mình mà thôi.

Vì thế, anh ta đã chết đói dưới gốc một cây sung đầy trái chín.

Tục ngữ Tây phương đã bảo :

- Hãy tự cứu lấy mình rồi trời sẽ cứu.

Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài, vừa cầu nguyện vừa làm việc, để làm chủ vũ trụ và chu toàn thánh ý Ngài. Do đó, cầu nguyện mà lười biếng không chịu làm việc thì đó không phải là một lời cầu nguyện đích thực, mà chỉ một lời nói bâng quơ một mình.

Còn làm việc, nhưng quá cậy vào sức mình mà không chịu cầu nguyện, thì đó là dấu chỉ không phải làm vì Chúa, dù thành công, thì vẫn chẳng có một giá trị siêu nhiên nào.

Có một ông già chèo đò ngang qua sông. Chiếc đò có hai mái chèo. Một mái chèo ông đề hai chữ  “lao động”, còn mái chèo kia ông đề hai chữ  “cầu nguyện”.

Trưa hôm ấy có một chàng thanh niên tiên tiến bước xuống đò, nhìn thấy vậy chàng thanh niên tỏ ra khinh bỉ và  nói :

- Ông già cổ hủ và lỗi thời rồi. Bây giờ, đang sống trong thời buổi khoa học và văn minh, người ta chỉ cần lao động mà không cần cầu nguyện.

Ông già chẳng nói một câu, lẳng lặng lấy mái chèo có hai chữ  “cầu nguyện” và vứt  xuống sông.

Dòng sông vào độ nước lớn chảy thật xiết, với mái chèo  “lao động”  còn lại, ông già không thể nào đưa chiếc đò qua sông, nó cứ quay tròn ở giữa dòng và mấy phen suýt bị lật chìm vì những con sóng.

Rồi chúng ta còn phải biểu lộ những tâm tình cầu nguyện ấy qua đời sống bằng những việc bác ái, yêu thương và tha thứ như Chúa đã  dạy :

- Khi lên đền thờ dâng của lễ mà sực nhớ người anh em có điều gì  bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ đó, trở về làm hòa với người anh em mình trước đã, rồi hãy đến mà dâng của lễ sau.

- Hãy tha thứ cho nhau, để Cha trên trời cũng tha thứ cho các ngươi…

- Nếu hai người trong các ngươi ở dưới đất đồng tâm với nhau mà cầu xin bất cứ sự gì, Cha Thày ở trên trời sẽ ban cho. Vì đâu có hai hay ba người hội họp lại nhân danh Thày, thì Thày sẽ ở giữa họ.

Hơn thế nữa, chúng ta còn có thể dùng chính tâm tình yêu mến và biết ơn, dùng chính những hy sinh và  những công việc bổn phận như những bông hoa nhỏ hay như những lễ vật xuất phát từ lòng cuộc đời mà dâng lên Chúa. Vì Chúa muốn lòng yêu mến hơn là những lời nói đầu môi trót lưỡi :

- Dân này thờ kính ta bằng môi bằng miệng, nhưng lòng họ thì ở xa ta.

Trong thực hành, chúng ta nên kết hợp với Chúa bằng cách :

     . Vừa thức dậy, hãy dâng ngày cho Chúa.

     . Trong ngày, hãy làm mọi việc vì lòng yêu mến Chúa. Và truớc mỗi công việc, hãy xin Chúa giúp đỡ..

     . Buổi tối nên kiểm điểm, xét mình về những công việc trong ngày. Cảm tạ Chúa vì đã qua một ngày tốt đẹp. Xin lỗi Chúa, nếu có những điều sai lỗi.