|
ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY NGƯỜl Kl-TÔ HỮU LÀM VlỆC THlỆN |
|
Trong cuộc lữ
hành trần thế, người Ki-tô hữu được giấu ẩn trong Thiên Chúa
cùng với Đức Ki-tô và được giải thoát khỏi làm nô lệ cho của cải
trần thế, đang khi tìm kiếm của cải tồn tại
vĩnh
viễn, với lòng quảng đại, họ sẽ hoan toàn hiến mình để mở rộng
Nước Thiên Chúa và đem tinh thần Tin Mừng thâm nhập
và cải tạo những thực tại trần thế. Giữa nhưữg thử thách ở đời
này, họ tìm thấy sức mạnh trong niềm hy vọng vì họ nghĩ rằng:
"Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh
quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta (Rm 8,18).
Lòng yêu thương
phát xuất từ Thiên Chúa thúc đẩy họ làm việc thiện cho hết mọi
ngừơi, nhất là cho những người có cùng một niềm tin (x Gl 6,10),
"từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương
cùng mọi lời nói xấu gièm pha" (1Pr. 2,1). Và như vậy họ lôi kéo
mọi người đến với Đức Kitô. Hơn nữa, tình yêu mà Thiên Chúa đã
đổ vào lòng chúng ta nhờ
Thánh
Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5,5) làm cho
giáo dân có sức
biểu lộ thực sự trong đời sống mình tinh thần Tám Mối Phúc Thật.
Theo Đức Kitô khó nghèo, họ không tuyệt
vọng
khi thiếu thốn, cũng không kiêu căng khi dư dật. Bắt
chước
Đức Kitô khiêm hạ, họ không háo danh (x. Gl. 5,26) nhưng chuyên
lo làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn làm đẹp lòng người ta. Họ luôn
sẵn sàng bỏ mọi sự vì Đức Kitô (x Lc. 14,26) và chịu bách hại vì
sự công chính (x Mt. 5,10) vì nhớ lời Chúa: "Ai
muốn theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập gía mình
mà theo
" (Mt 16,24). Sống với nhau trong tình thân hữu Kitô
giáo họ
sẵn sàng giúp đỡ nhau khi cần thiết.
(Trích Sắc lệnh
Tông đồ giáo dân của Công Đồng
Vaticanô 2, số 4)
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGỘP THỞ |
|
Phúc Âm Nhật Ký Ngày 01.10.2006
Mc 9:38-43.45.47-48
Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (HÐGMVN) đã gởi đến
toàn thể Dân Chúa ở Việt Nam cũng như Hải ngoại Thư Mục Vụ Năm 2006
(TMV 2006) với chủ đề : “SỐNG ÐẠO HÔM NAY.” Nội dung xoay quanh
việc làm chứng từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Chứng từ khởi
nguồn từ việc hoán cải bản thân đến việc phục vụ và đối xử công
bằng. Tất cả nhằm kêu gọi mọi người “tôn trọng những quyền căn bản
của con người.”
Thật là một tiếng kêu khẩn thiết. Ðã đến lúc
Kitô hữu phải hành động để làm chứng. Lý do vì họ là ngôn sứ của
Chúa giữa thời đại. Dù đồng ý hay không, mọi người đều thấy đây là
cơ hội cần suy nghĩ.
Với hết lòng quý mến và tôn trọng các vị chủ
chăn, tôi hân hoan đón nhận những lời khuyên răn ấy. Nhưng tự hỏi
làm cách nào có thể thực hành những điều cao đẹp đó, nếu trước tiên
tôi không hiểu ngôn sứ là gì. Nếu là ngôn sứ, tôi có vai trò gì và
phải làm gì ? Làm sao một dân quèn như tôi lại có thể là phát ngôn
viên của Chúa cho thời đại hôm nay ? Thôi ! Tôi không dám đâu !
Việc đó phải dành cho các đấng bậc cao cấp trong Giáo hội chứ !
Nghĩ như thế là tôi đã vặn ngược kim đồng hồ
mất rồi ! Ngay từ hồi còn lưu lạc trên sa mạc, Dân Chúa đã từng
nghe Môsê nói : “Toàn dân ... đều là ngôn sứ, vì Ðức Chúa đã ban
Thần Khí của Người trên họ.”
Không có những khẳng quyết đó, nhất định tôi vẫn cứ đinh ninh ngôn
sứ không phải là phận vụ của tôi. Tôi càng yên tâm khi Công Ðồng
Vatican II tuyên bố mọi thành phần Giaó Hội đều chia sẻ chức vụ ngôn
sứ của Ðức Kitô.
Nhưng chức vụ và phận vụ ngôn sứ tiên vàn thuộc về các giám mục.
Như thế, dù là ngôn sứ, tôi cũng không thể nhân
danh sứ mệnh đó mà coi thường phẩm trật Hội Thánh. Không thể sống
trong cảnh “cá đối bằng đầu.” Nhưng cũng không thể nhân danh phẩm
trật để coi thường mọi sứ ngôn. Vì được Thần Khí thúc đẩy, ngôn sứ
nói ra những điều xây dựng cộng đoàn, chứ không vì và cho cá nhân.
Ngôn sứ đích thực không nói những điều nghịch với giáo huấn của
Giáo hội về tín lý và luân lý.
Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta đừng dập tắt
Thần Khí.
Cũng như gió, Thần Khí muốn thổi đâu thì thổi,
chứ không lệ thuộc cơ chế hay biên giới nào. Chính vì thế, cả Chúa
Giêsu và Môsê đều cho thấy rõ sức mạnh vô biên của Thần Khí.
Chính Thần Khí là tác giả của mọi hồng ân và ân
huệ trong cộng đoàn.
Không có Thần Khí cũng chẳng có Giáo Hội và phẩm giá người Kitô
hữu. Thật vậy, “chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần
Khí, để trở nên một thân thể.”
Hơn nữa, phẩm giá cao cả của Kitô hữu còn tìm thấy nơi hình ảnh
Thiên Chúa và tình bạn với Chúa Kitô,
Ðền Thờ Thiên Chúa.
Ngày nay, phẩm giá Kitô hữu còn nổi bật khi Giáo hội được định
nghĩa là Dân Thiên Chúa.
HÐGMVN kêu gọi Kitô hữu “tôn trọng quyền căn
bản của con người.” Nhưng bao năm qua, người giáo dân đã được tôn
trọng tới mức nào ? Họ là ngôn sứ nhưng tiếng nói lại bị bóp nghẹt! Hơn nữa, họ không được chuẩn bị và không có cơ hội để thi hành
vai trò ngôn sứ giữa lòng Giáo hội và thế giới. Làm sao giáo dân
“có điều kiện để sống xứng với phẩm vị của mình”
? Làm sao “xây dựng một cộng đoàn trong đó mọi thành phần đều được
yêu thương và được đối xử công bằng”
khi phẩm vị Kitô hữu bị chà đạp ? Nhưng “sự công bằng cần phải đi
đôi với lòng tôn trọng sự thật, vì tôn trọng sự thật là điều kiện để
xây dựng một cộng đoàn yêu thương”
? Nhưng làm sao tìm được sự thật nếu không đối thoại ?
Bao giờ GHVN trở thành cộng đoàn tình yêu để
làm chứng cho Thiên Chúa giữa một xã hội băng hoại về nhiều mặt hôm
nay ? Bao lâu chưa đối thoại để tìm ra sự thật, bấy lâu không thể
sống công bình. Không công bình, lời chứng trở thành rỗng tuếch !
Ðó là lý do tại sao GHVN không tiến xa hơn được !
Từ ngày ban hành “Nghi Thức Thánh Lễ 2005,”
GHVN trải qua một cơn sóng gió lớn. Bình an không còn, vì công lý
vắng bóng. Công lý vắng bóng vì không có nỗ lực đối thoại để tìm
kiếm sự thật. Mấy tháng qua, thiên hạ chỉ thấy những lời qua tiếng
lại thật ồn ào. Cho tới nay vẫn chưa có dấu hiệu gặp gỡ đối thoại.
Giáo hội cơ chế đang đóng băng. Lịch sử cũng cho thấy khi cơ chế và
phẩm trật Giáo hội ổn định, ngôn sứ cũng biến dần khỏi xã hội.
Nội bộ không ổn, làm sao tính đến chuyện làm
chứng ? Xã hội đang hướng về Giáo hội để tìm đường đến với sự
thật. Tất cả mọi cửa đều đóng, làm sao con người có thể gặp gỡ và
đối thoại ? Nếu Giáo hội khép kín như thế, sự thật vô phương đến
với Giáo hội. Khi không biết lắng nghe nhau, chúng ta cũng không
thể lắng nghe lời Chúa. Chúa đã căn dặn : “Hãy để ý tới cách
thức anh em nghe”
Thiên Chúa và anh em. Nếu chỉ nghe với một thái độ cao ngạo, không
thể tìm ra sự thật. Sẽ chỉ nghe thấy những gì muốn nghe. Nhưng nếu
khiêm tốn, chúng ta có thể đối thoại và tìm ra sự thật. Ðó là vai
trò của Giáo hội Việt Nam hôm nay. Nếu không, mọi hy vọng sẽ tiêu
tan . . .
Xã hội bên ngoài đang kẹt cứng vì những bất
công ngày càng vượt ngoài tầm kiểm soát. Xã hội đang bất ổn vì
tương quan chủ thợ quá chênh lệch. Tiếng thợ kêu không lọt tai ông
chủ, nhưng đã “thấu đến tai Chúa các đạo binh.”
Những bất công tồn đọng và tăng tốc, vì sự thật ngày càng lu mờ.
Trước một xã hội đầy bất công như thế,
nếu chỉ lo xây dựng cơ sở và làm
việc bác ái, Giáo hội đã bỏ quên sứ mệnh chính yếu của mình. Giáo
hội là ngôn sứ công bố Lời Chúa cho nhân loại. Không có sứ mệnh
này, Giáo hội chẳng khác gì một công ty hay một tổ chức thương mại
ngoài đời.
Chưa bao giờ vai trò ngôn sứ quan trọng như hôm
nay ! Theo Thánh Thomas, ngôn sứ là một đoàn sủng tri thức dùng để
thông tri cho nhân loại những chân lý cần thiết cho việc cứu độ.
Chính Lời Chúa mới bơm thần khí và sự sống cho xã hội đang dẫy
chết.
Chỉ có Lời Chúa mới đem lại bình an và sự sống cho xã hội. Như thế,
Lời Chúa cần hơn cơm bánh. “Thời kỳ Giáo hội Sơ Khai, các ngôn sứ
chú tâm tới việc hiểu biết Chúa Kitô hơn giao tiếp với thực tại xã
hội rộng lớn hơn. Mục đích ngôn sứ là thiết lập một căn tính Kitô
vững chắc để nắm vững truyền thống đạo đức nòng cốt hầu có thể đối
đầu với những thách đố của trần gian đầy bất trắc này.”
Bởi đó, những năm đầu thời kỳ hậu tông đồ, “yểm trợ cho các ngôn sứ
quan trọng hơn quan tâm chăm sóc cho người nghèo.”
Như thế, từ đầu Giáo hội đã nhận thức rõ tầm
quan trọng của sự thật. Nhưng sự thật không nằm sẵn trong sách vở.
Giáo hội không ngừng phấn đấu tìm kiếm và làm chứng cho sự thật
ngang qua đối thoại. Biết lắng nghe nhau còn quan trọng và cần
thiết hơn làm việc bác ái. Ngay cả công cuộc bác ái cũng cần sự
thật. Không có sự thật, bác ái mất hẳn động lực, ý nghĩa và giá
trị. Ðó là điều Chúa nhắm tới khi nói : “Ai cho anh em uống một
chén nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Kitô ...”
Ðức Kitô mới là động lực và cứu cánh mọi hoạt động. Bác ái không có
sự thật chỉ tạo thêm bất công và bất ổn. Mải mê hoạt động bác ái
đến nỗi quên cả tìm kiếm sự thật là chìm ngập trong phương tiện mà
đánh mất mục đích. Các phương tiện như thân xác, chức quyền, của
cải v.v. có thể che mờ hay làm mất cứu cánh.
Những phương tiện đó dễ làm chúng ta xa nhau và xa Thiên Chúa. Xa
Thiên Chúa, làm sao sống hạnh phúc ? Xa anh em, còn có thể xây dựng
gì cho nhau ?!
Lạy Chúa, xin cho con biết tôn trọng người
anh em như ngôn sứ Chúa sai đến với con. Xin cho con khám phá cách
thức lắng nghe và đối thoại với nhau hầu có thể làm chứng cho Chúa
giữa một xã hội đang vắng bóng sự thật hôm nay. Amen
lm đỗ vân lực, op.
dzuize@gmail.com
|
VỀ MỤC LỤC
|
|
|
HÃY
SỐNG VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH ! |
|
Quý độc giả Ephata
và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,
Trong một số Ephata cách đây không lâu,
chúng tôi đã có dịp viết về “một địa chỉ sạch – một lương tâm
sáng”. Đó là về trường hợp bác sĩ Lưu Tuấn Thành ở Phòng Khám
Tứ An. Nay chúng tôi lại mới nhận được một E-Mail dài của bác sĩ
Tuấn Thành bộc bạch những thao thức trăn trở, vừa trên cương vị một
bác sĩ đối với các bệnh nhân đáng thương, vừa với tư cách một người
Công Giáo có lương tâm và trách nhiệm, muốn kêu lên những lời cảnh
báo thẳng thắn và mạnh mẽ đối với xã hội nói chung, với các bạn trẻ
nói riêng.
Chúng tôi đã xin phép bác sĩ Tuấn Thành
để đăng lại nguyên văn lá thư rất đáng trân trọng này:
“Quý cha và quý anh chị em Nhóm Bảo
Vệ Sự Sống,
Qua một số người, tôi được biết quý
cha DCCT và anh chị em Nhóm Bảo Vệ Sự Sống đã và đang hết lòng vì
các sinh linh bé nhỏ tội nghiệp. Tôi rất khâm phục những việc cao cả
quý vị đang làm. Tuy nhiên, để công việc chung thêm phần hiệu quả,
Tôi xin đề cập đến hai khía cạnh khác nữa, đó là các tai biến và
tác hại lâu dài của việc phá thai với sức khỏe người phụ nữ
và sự suy đồi đạo đức xã hội hiện thời chính là nguyên nhân
dẫn đến việc nạo phá thai.
Về sức khỏe của người phá thai. Các
tai biến chết người có thể gặp là: Viêm phúc mạc – Nhiễm trùng
huyết – Thủng tử cung. Nhẹ hơn có thể là: Nhiễm trùng phần
phụ – Dính tử cung – Vô sinh... Ngay tại phòng khám của tôi,
chúng tôi cũng đã chữa trị nhiều trường hợp nhiễm trùng phần phụ và
dính tử cung sau khi phá thai. Rất đáng thương cho họ vì họ không ý
thức được việc họ làm.
Vì thế, quý cha và anh chị em nên đưa
thêm phần này vào trong cuộc vận động Bảo Vệ Sự Sống Chống Phá
Thai của mình. Tôi sẵn sàng giúp quý cha mọi mặt về việc tư vấn
hay chữa trị các vấn đề trên. Quý cha nên viết thêm một bức thư nữa
nói về tác hại không thể lường trước của việc phá thai, như thế các
bà mẹ "không mong muốn" mới... sợ mà không dám làm bậy nữa !
Một vấn đề xã hội cần lên án và loại
bỏ, đó là phong trào sống thử của thanh niên thiếu nữ đương
thời. Cuộc sống sai lầm này là mầm mống ung thư của xã hội, là
nguyên nhân của việc nạo phá thai đang gia tăng chóng mặt của giới
trẻ. Phải chấm dứt vấn đề này càng sớm càng tốt, thì mới có thể chấm
dứt chuyện nạo phá thai... Quan niệm sống tự do buông thả đã thúc
đẩy phong trào sống thử. Giới trẻ ngày nay đòi tự do quá sớm trong
khi các bạn lại chẳng hiểu rõ gì về trách nhiệm, nghĩa vụ mà xã hội
yêu cầu các bạn phải có. Các bạn trẻ sống gấp, sống vội, hưởng thụ
như thể ngày mai họ chết. Các bạn trẻ ấy có được gì sau đó ? Phá
thai, ma túy, mại dâm, HIV... Như vậy, chắc chắn rằng các bạn càng
làm thế thì các bạn càng thấy vô vọng chán chường.
Nếu các bạn trẻ biết tự vấn lương tâm
rằng mình đã cống hiến được gì mà đòi hưởng thụ ? Nếu các bạn trẻ có
trách nhiệm một chút với gia đình, bạn bè và xã hội, nếu các bạn ý
thức một chút về kết quả các việc mình làm, nếu các bạn có bản lãnh
một chút để từ chối các cám dỗ tầm thường của cuộc sống, nếu các bạn
biết hy sinh một chút để phục vụ lý tưởng, thì xã hội này sẽ tốt đẹp
biết bao !
Vì thế, theo tôi nghĩ, có chăng quý
cha nên phát động một phong trào viết và sống trách nhiệm, sống
bản lãnh, sống hy sinh, sống vượt lên chính mình, hoặc là quý
cha nhân rộng và thật rộng các gương tốt về các cuộc sống tốt đẹp
này.
Bs. LƯU TUẤN THÀNH,
một “con chiên lạc”.
Phòng Khám Tứ An, 611 – 611A Luỹ
Bán Bích, phường Phú Thạnh, quận Tân Bình, Sài-gòn
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
KHÍCH LỆ |
|
Khích lệ thì cần hơn những chuyện khác trong công việc giáo dục
con cái của chúng ta. Nó quan trọng đến nỗi nếu thiếu điều đó sẽ
làm cho con trẻ hành động sai lầm. Một đứa trẻ có hành động sai
lầm là một đứa trẻ không được khích lệ. Đứa trẻ cần có sự khích
lệ liên tục như một cây cần nước. Nó không thể lớn lên và phát
triển mà không có sự khích lệ. Tuy nhiên, những kỷ thuật giáo
dục con trẻ mà chúng ta dùng ngày hôm nay cho thấy hàng loạt
những kinh nghiệm thiếu khích lệ.
Đối với một đứa trẻ, những người lớn thì xem ra quá lớn, quá oai
vệ, và có quá nhiều khả năng, còn nó thì xem ra quá nhỏ bé, nên
sự khích lệ giúp cho đứa trẻ không đầu hàng khi phải đối diện
với những ấn tượng nầy; và thật tuyệt vời nếu đưá trẻ có được sự
can đảm đó. Nếu chúng ta được đặt vào trường hợp sống giữa những
người khổng lồ thì chúng ta cũng sẽ đầu hàng như những đứa trẻ
của chúng ta vậy.
Trẻ con đáp ứng những hoàn cảnh khó khăn với ước muốn học được
những khéo léo và muốn thắng vượt cảm giác mình bé nhỏ và bất
lực. Chúng muốn là một phần tử của gia đình. Tuy nhiên, trong cố
gắng tìm cho mình một chỗ đứng, chúng lại gặp phải thiếu sự
khích lệ. Những cách giáo dục như thế, thường chỉ gây thêm sự
thất đảm cho con trẻ.
Kim Hồng, 4 tuổi, đang đứng bên cạnh mẹ trong bếp, nhìn mẹ đang
thu xếp những thực phẩm. Mẹ nó lấy cái hộp đựng trứng trong tủ
lạnh ra và đặt trên bàn. Bà lấy hộp trứng ra khỏi túi đồ. Kim
Hồng vói tay lấy hộp đựng trứng và muốn lấy trứng xếp vào hộp
đựng trứng. Bà mẹ kêu lên: “Kim Hồng! không được, con sẽ làm vỡ
trứng. Để đó cho mẹ. Hãy đợi đến khi con lớn đã”.
Bà mẹ đã vô tình làm cho em bé mất đi sự can đảm. Bà đã gây cho
nó một ấn tượng là nó quá nhỏ. Điều đó có ảnh hưởng không tốt
đối với quan niệm về chính nó. Bà có biết rằng ngay cả đứa bé 2
tuổi cũng có thể xếp được những cái trứng một cách thận trọng
không? Chúng ta đã từng thấy một đứa trẻ nhặt từng chiếc trứng
đặt vào trong chiếc hộp đựng trứng một cách tốt đẹp chưa? Và nó
đã tỏ ra rất vinh dự khi đã làm được điều đó. Cả bà mẹ cũng vui
mừng biết bao khi thấy con mình làm được như thế.
Cu bé Thành đang mặc bộ đồ mùa đông để đi ra chợ với mẹ nó. “Lại
đây, Thành, mẹ mặc cho con. Con làm chậm quá”.
Bà mẹ đã cho cậu bé một cảm giác là không đủ khả năng để làm mọi
việc nhanh chóng. Bị làm thất đảm, cậu bé đầu hàng và đã để mẹ
nó mặc quần áo cho nó.
Trong ngàn vạn cách, bằng giọng nói hay bằng hành động, chúng ta
chứng tỏ cho đứa trẻ thấy rằng chúng ta coi nó chưa có khả năng,
nói chung là còn vụng về, ngơ ngáo. Để đối phó với những quan
niệm đó, nó cố gắng làm một cái gì nổi bậc để gây ấn tượng và
tìm một chỗ đứng.
Thay vì cho phép con trẻ thử tài của chúng trong trăm ngàn cách
khác nhau, chúng ta thường đối xử với chúng với đầy những thành
kiến, luôn nghi ngờ khả năng của chúng, hoặc thẩm định giá trị
chúng bằng cách thiết lập những tiêu chuẩn cho những trình độ
tuổi khác nhau mà qua đó những đứa trẻ được tin tưởng là có thể
làm được.
Khi một đứa bé 2 tuổi rưỡi muốn giúp dọn bàn, chúng ta lập tức
chụp lấy ngay cái đĩa khỏi tay nó và nói: “Con ơi, không được,
con sẽ làm bể nó”. Để cứu lấy một cái đĩa, chúng ta sẵn sàng làm
tan vỡ niềm tự tin của đứa bé vào khả năng mới chớm nở của nó.
Chúng ta ngăn cản những cố gắng khám phá khả năng và sức mạnh
của đứa bé. Đứa bé mang giầy, chúng ta bảo là nó mang lộn chân.
Lần đầu tiên nó muốn tự cầm muổng để ăn, nó làm lem luốc mặt
mày, quần áo, bàn ghế. Chúng ta rầy la, lấy muổng khỏi tay nó,
và cho nó ăn. Dần dần chúng ta làm mất đi những cố gắng đi tìm
cho mình một chỗ đứng qua những công việc làm của nó.
Thay vì khích lệ, chúng ta làm con cái chúng ta thất đảm mà
chúng ta không biết. Chúng ta thiếu niềm tin vào khả năng của
đứa trẻ. Chúng ta nghĩ rằng bây giờ nó còn quá bé để làm những
công việc đó, mai ngày nó lớn, nó tự động sẽ làm được những công
việc như thế. Nhưng chúng ta đã lầm, mọi sự đều cần phải học
hỏi.
Khi một đứa bé làm điều gì sai lỗi hay không hoàn thành được một
công việc nào đó, chúng ta phải tránh nói hoặc hành động tỏ cho
nó thấy rằng nó là một sự thất bại. Chúng ta cần tách rời hành
động ra khỏi con người hành động. Chúng ta cần phải phân biệt rõ
ràng rằng mỗi lần thất bại là chỉ vì thiếu sự khéo léo nên không
ảnh hưởng gì đến giá trị con người. Cần can đảm mỗi khi chúng ta
gặp phải thất bại và không nên mang mặc cảm nào cả. Hãy nhớ rằng
con người là bất toàn và lỗi lầm thì không thể nào tránh khỏi.
Một nửa của việc khích lệ một đứa bé là tránh làm cho nó thất
đảm bỡi việc bảo vệ thái quá hoặc rầy la nó thái quá. Bất cứ
việc gì ta làm tỏ ra thiếu tin tưởng vào đứa bé thì đó là làm
cho nó thất đảm. Một nửa khác là biết cách khích lệ nó. Bất cứ
khi nào chúng ta hành đông để nâng đỡ một đứa bé biết can đảm và
tự tin thì đó là lúc chúng ta khuyến khích nó. Không có một câu
trả lời nào rõ ràng cho vấn đề đó. Nó liên quan đến quan niệm và
sự học hỏi của cha mẹ về vấn đề giáo dục. Chúng ta phải biết
quan sát kết quả của chương trình giáo dục và tự hỏi: phương
cách mà chúng ta đang dùng có giúp ích gì cho việc giáo dục con
cái chúng ta không?
Hành động của đứa bé muốn nói cho chúng ta biết sự lượng định
giá trị của nó về chính nó. Một đứa bé nghi ngờ về khả năng của
nó hoặc giá trị của nó, chúng ta có thể thấy được qua cách thế:
nó không còn muốn làm, không còn muốn tham dự, hoặc góp phần vào
những công việc như thế nữa. Trong cơn thất đảm, nó quay sang
khuấy động hoặc hành động một cách vô tích sự. Nó nghĩ rằng nó
bất tài và không thể đóng góp gì, nên phải làm một cái gì ít ra
cũng gây được sự chú ý bằng cách nầy hay cách khác. Thà rằng bị
phết vào đít còn hơn là không được ai biết đến. Bị xem là đứa
trẻ hư còn hơn là không được chú ý. Một đứa trẻ như vậy luôn có
ấn tượng rằng không còn chút hy vọng nào để chiếm được một chỗ
đứng qua hành động cộng tác.
Khích lệ là một tiến trình liên tục có mục đích tạo cho đứa trẻ
có một cảm giác biết tự trọng và hoàn thành công việc. Từ thuở
ấu thời nó cần sự giúp đỡ để tìm được một chỗ đứng qua việc hoàn
thành một số những công việc.
(còn tiếp)
lm.lêvănquảng
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
MẸ TỪ TÂM
|
|
MẸ TỪ TÂM
Em đang đến, cùng có mặt với
tôi,
Trên con đường ngang dọc giữa
cuộc đời.
Em nhìn tôi, mắt dịu ngọt, âm
thầm,
Tôi xin gọi tên Em : Mẹ Từ Tâm.
Tôi sợ hãi, lòng ngỗn ngang trăm
mối…
Tôi buồn lo, nặng tâm tình tội
lỗi,
Tôi cô đơn, giữa đoàn lũ vui
cười,
Em hiến tặng một đóa hoa nở
tươi.
Chỉ lắng nghe, em không nói một
lời,
Như bếp lữa, em suởi ấm mỗi
người,
Mang Ánh Sáng, chiếu soi đời ảm
đạm,
Thắp ngọn đuốc, xóa tan lòng u
ám.
Em bóng mát, giữa trưa hè đứng
ngọ,
Đời xa lạ, em nhận làm quán trọ,
Con đường đi, qua khu rừng tăm
tối,
Ánh sao trời, gọi người người về
cội.
Ai hạnh phúc ? Nụ cười em rạng
rỡ,
Ai hân hoan ? Cuộc đời em rộng
mở,
Ai an hòa ? Tầm nhìn em diệu
vợi,
Người và em cưu mang Trời Đất
Mới.
Khi ai đói, em biến thành
lương thực,
Ai kiệt quệ, em sẵn sàng chuyền
sức,
Ai khổ đau, em đồng hành chia
sẻ,
Đời oi bức, em thổi làn gió nhẹ.
Đất nước hồn thiêng cùng em hiện
diện,
Nhắc mọi người nắm tay nhau cùng
tiến,
Lòng biển cả, bao la và trọng
đại,
Quyết chuyển hóa cả nhân tình
thế thái.
Cuộc đời em, một sứ điệp hương
trầm…
Mắt em nhìn, xuyên thấu cõi nội
tâm,
Chân em đi ủi an người chới với,
Tay băng bó vết thương hồn lở
lói.
Em chuẩn bị cho Ngày Mai tươi
sáng,
Ngày Thái Hòa giữa lòng người
tỏa rạng.
Em là ai ? Bồ Tát ? Con Người
Mới ?
Nguồn Yêu Thương vượt ra ngoài
tên gọi.
NGUYỄN văn Thành |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Tầm quan trọng của sự tha thứ trong
đời sống chúng ta |
|
Bạn muốn được hạnh phúc trong chốc lát ? - Hãy trảthù.
Bạn muốn luôn luôn được hạnh phúc ? - Hãy tha thứ.
Henri Lacordaire
Dù sao đi nữa,
những biến cố trong cuộc sống hàng ngày chứng tỏ rõ ràng rằng sự tha
thứ và hòa giải cần thiết biết bao cho sự canh tân cá nhân và xã hội.
Điều này không chỉ đúng trong quan hệ giữa cá nhân với nhau mà còn
trong phạm vi các cộng đồng và các dân tộc.
Gioan Phaolô II
Tha thứ vẫn luôn
có tính cách thời sự, cả trong thế giới tục hóa của chúng ta. Không
cần phải mất nhiều thời gian lắng nghe người khác thổ lộ mới nhận ra
sự cần thiết nóng bỏng của tha thứ. Quả thực, chẳng ai thoát khỏi
những tổn thương do mất mát, chán nãn, phiền muộn, đau buồn vì tình,
phản bội, v.v... Những khó khăn trong cuộc sống chung được tìm thấy
rất nhiều ở khắp mọi nơi : những xung đột giữa vợ chồng, trong gia
đình, giữa những người yêu phải chia tay, giữa vợ chồng ly thân - ly
dị, giữa chủ và thợ, giữa bạn bè, giữa láng giềng, giữa các chủng
tộc hay quốc gia. Một ngày nào đó, tất cả đều cần đến sự tha thứ hầu
tái lập hòa bình và tiếp tục chung sống với nhau. Trong cuộc lễ kỷ
niệm 50 năm thành hôn, có người hỏi bí quyết của đôi vợ chồng. Người
vợ trả lời : "Sau một cuộc cải vả, không bao giờ chúng tôi đi ngủ mà
không xin lỗi lẫn nhau".
Để khám phá ra
tất cả tầm quan trọng của tha thứ trong các mối tương quan nhân loại,
chúng ta hãy thử tưởng tượng một thế giới không có tha thứ sẽ như
thế nào. Đâu là những hậu quả trầm trọng của nó ? Có lẽ người ta sẽ
bị kết buộc trong bốn chọn lựa sau đây, mà chúng ta sẽ khảo sát cặn
kẻ hơn :
- Duy trì mãi
trong mình và trong kẻ khác sai trái đã phải chịu,
- Sống trong sự
oán giận,
- Bám chặt vào
quá khứ,
- Trả thù.
1. Duy trì mãi trong mình và kẻ khác sự dữ đã phải chịu :
Khi ai bị tác
hại đến toàn bộ thể lý, tinh thần hay thiêng liêng, thì có cái gì đó
nghiêm trọng sản sinh nơi người ấy. Một phần hữu thể của họ bị va
chạm, xé nát, bị hoen ố và xúc phạm, dường như sự độc ác của kẻ tấn
công đã động đến cái tôi thâm sâu của mình. Họ trở nên có khuynh
hướng bắt chước kẻ xúc phạm đến mình, dường như bị lây nhiễm phải
một thứ vi trùng truyền nhiễm. Căn cứ vào một thứ bắt chước ít nhiều
có ý thức đó, họ bị đun đẩy, đến phiên mình, tỏ ra độc ác, không
những chỉ đối với kẻ xúc phạm, mà cả đối với chính mình và kẻ khác.
Một người đàn ông sống với một người đàn bà mới ly dị ít lâu chia sẻ
với tôi những khó khăn ông ta cảm thấy trong cuộc sống chung của họ.
Ông nói : "Đôi khi tôi có cảm tưởng như nàng bắt tôi phải trả giá
cho những điều bậy bạ mà người chồng cũ của nàng đã bắt nàng phải
chịu đựng".
Sự bắt chước kẻ
tấn công mình là một cơ chế tự vệ rất phổ biến trong khoa tâm lý.
Bởi một phản xạ sinh tồn, nạn nhân đồng nhất hóa với tên lý hình.
Trong cuốn phim Đan Mạch tuyệt vời Pélé, le conquérant, người ta
không trình bày rõ làm sao một đứa trẻ dịu dàng như Pélé lại thích
thú lấy roi quất túi bụi đứa bạn chậm trí của nó. Mọi sự trở nên rõ
ràng khi nhớ lại rằng Pélé chỉ tái diễn trên một đứa trẻ vô tội cái
lối ứng xử của thằng giữ trang trại đã hạ nhục Pélé với những lằn
roi trong quá khứ. Chúng ta cũng tìm thấy cùng hiện tượng đó trong
phim sinh học của Lawrence d'Arabie. Chúng ta chứng kiến sự thay đổi
tận căn tính tình của vị anh hùng. Sau khi bị tra tấn, ông ta trở
nên một người hoàn toàn khác. Từ một tính tình ôn hòa và nhân ái,
ông trở nên hung hăng và tàn bạo. Biết bao kẻ tấn công tình dục và
lạm dụng thô bạo chỉ là lặp lại những hành động hung bạo mà chính họ
đã phải gánh chịu trong thời thơ ấu chăng ? Trong việc điều trị có
tính cách gia đình, chúng ta thường nhận thấy rằng trong những hoàn
cảnh bị ứng suất, trẻ con chấp nhận theo những lối ứng xử tương tự
với những lối ứng xử của cha mẹ chúng. Cũng thế, chúng ta có trước
mắt gương của những nước sử dụng cho các dân tộc khác chính những
sách lược phi nhân mà chính họ đã phải chịu đựng trong thời gian bị
bách hại.
Tôi không có ý
nói ở đây về sự trả thù chính hiệu, nhưng muốn nêu rõ những phản xạ
tiềm ẩn trong vô thức cá nhân hoặc tập thể. Chính vì thế, trong việc
tha thứ, chúng ta không chỉ dừng lại ở chỗ không trả thù, nhưng còn
phải dám đi cho tới tận gốc rễ của những khuynh hướng bạo lực lệch
lạc để đánh bật chúng ra khỏi mình, và để chận đứng các hậu quả tàn
phá của chúng trước khi quá muộn. Bởi vì những thiên hướng thù
nghịch và thống trị kẻ khác như thế có nguy cơ được truyền chuyển từ
thế hệ nầy qua thế hệ khác, trong các gia đình cũng như trong các
nền văn hóa. Chỉ có sự tha thứ mới có thể bẻ gãy những phản ứng dây
chuyền nầy, chận đứng những hành vi lặp đi lặp lại của việc trả thù,
hầu biến đổi chúng thành những hành vi sáng tạo sự sống.
2. Sống trong một mối oán giận thường kỳ :
Biết bao nhiêu
người đau khổ phải sống trong một mối oán giận thường kỳ. Hãy lấy
trường hợp của những người ly dị. Những cuộc nghiên cứu mới đây về
các hậu quả về lâu về dài của việc ly dị đã minh chứng rằng một số
lớn những vợ chồng đã ly dị, đặc biệt các bà vợ, vẫn còn tiếp tục
nuôi dưỡng trong lòng nhiều nỗi oán giận đối với người phối ngẫu cũ,
ngay cả sau mười lăm năm chia tay. Trong kinh nghiệm lâm sàng của
tôi, tôi năng có cơ hội để nhận thấy rằng một số phản ứng tình cảm
quá trớn chỉ là sự phục hoạt của một tổn thương quá khứ không được
chữa lành cho đúng.
Quả thế, sống
buồn giận, dù là cách vô thức, làm tiêu hao nhiều nghị lực và nuôi
dưỡng cơn ứng suất thường kỳ. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn cái gì xảy ra
nếu nhớ luôn trong trí sự khác biệt giữa sự oán giận sản sinh ra ứng
suất và sự tức giận không làm điều đó. Sự tức giận là một xúc cảm tự
nó vô thưởng vô phạt và sẽ biến tan một khi đã được bộc lộ ra, trong
khi đó sự oán giận và thù nghịch tồn tại như một thái độ tự vệ luôn
luôn cảnh giác chống lại mọi sự tấn công có thực hoặc tưởng tượng.
Như thế kẻ bị chế ngự và hạ nhục trong buổi thơ ấu sẽ trở nên nhất
quyết không bao giờ để bị ngược đãi nữa. Nó thường xuyên đề cao cảnh
giác. Hơn nữa, nó có khuynh hướng phát minh ra những chuyện âm mưu
hay tấn công khả dĩ chống lại nó. Chỉ có sự chữa lành được thực hiện
sâu xa bởi việc tha thứ mới có thể mang lại phương dược cho tình
trạng căng thẳng nội tâm nầy.
Sự oán giận mưng
mủ từ một thương tổn không được chữa lành đúng cách cũng có những
hậu quả gây hại khác. Nó là nguyên do của nhiều chứng bệnh tâm thể
lý. Sự ứng suất tạo nên bởi oán giận tấn công ngay vào hệ thống miễn
dịch. Hệ thống miễn dịch luôn luôn ở tình trạng báo động sẽ không
còn biết khám phá ra kẻ thù nữa. Nó không còn nhận ra các tác nhân
gây bệnh nữa. Nó còn tấn công ngay cả các bộ phận lành mạnh mà nó
được coi như phải bảo vệ. Người ta giải thích như thế về sự phát
sinh nhiều chứng bệnh như chứng viêm khớp, chứng xơ cứng động mạch,
chứng xơ cứng từng mảng, những bệnh về tim mạch, tiểu đường, v.v…
Giữa những chiến lược tự vệ chống lại những hậu quả có hại của sự
oán giận, bác sĩ Redford khuyên thực tập thường xuyên tha thứ trong
cuộc sống mỗi ngày.
Sau khi mô tả các
cuộc nghiên cứu khoa học khác nhau về mối liện hệ nhân quả giữa các
trạng thái tình cảm tiêu cực và sự xuất hiện bệnh ung thư, bác sĩ
Carl Simonton dành cả một chương sách Guérir envers et contre tous
chứng minh rằng sự tha thứ vẫn là phương tiện tốt nhất để vượt thắng
nỗi oán giận gây hại của mình. Nhờ một kỹ thuật tranh ảnh tâm thần,
ông mời những người bị ung thư cầu chúc điều tốt lành cho ông hay bà
nào đã làm họ bị tổn thương. Những ai sử dụng một kỹ thuật như vậy
đã cảm nhận một sự giảm bớt rõ rệt cơn ứng suất của họ. Họ cảm thấy
mạnh mẻ hơn để chống lại bệnh hoạn của mình. Thật là ngạc nhiên một
tiếp cận đơn giản như thế với sự tha thứ lại có thể làm phát sinh
những hậu quả sinh phúc dường ấy.
3. Bám chặt vào quá khứ :
Người không muốn
tha thứ hay không thể tha thứ sẽ sống thời khắc hiện tại một cách
khó khăn. Y khư khư bám chặt vào quá khứ, và bởi chính sự kiện đó,
tự buộc tội mình làm hỏng hiện tại, hơn nữa làm ách tắc tương lai
của mình. Trong vở diễn Le voyage dans la nuit của Eugene O'Neill,
Mary Tyrone bị kiệt lực vì cứ nghiền ngẫm không ngừng một quá khứ
nặng nề và khép chặt với tha thứ. Nàng trở thành một gánh nặng và
một nguồn phiền muộn cho các phần tử trong gia đình. Chồng nàng khổ
sở van xin : "Maria ơi, vì tình yêu thiên đàng, xin em hãy quên quá
khứ đi!". Nàng đốp lại : "Tại sao ? Làm sao em có thể quên đi được ?
Quá khứ, chính là hiện tại, không. Quá khứ, cũng chính là tương lai.
Chúng ta đều cố gắng thoát ra khỏi đó, nhưng cuộc đời lại không cho
phép mình". Trước sự bất lực tha thứ của mình, đời sống nàng bị đông
cứng. Việc nhớ lại quá khứ trở về làm tăng thêm nỗi đau khổ cố hữu
của nàng. Thời khắc hiện tại bị tả tơi trong những sự nghiền ngẫm vô
ích : thời gian trôi đi không hạnh phúc, niềm vui có thể có được từ
những quan hệ con người bị mờ nhạt. Tương lai bị bít lại và đe dọa :
không còn những mối liên hệ tình cảm mới, không còn những dự tính
mới… Cuộc sống đóng neo trong quá khứ.
Kinh nghiệm lâm
sàng của tôi với những người đau buồn vì cái chết hay sự chia ly với
một người thân yêu chứng minh cho tôi thấy rằng sự tha thứ là đá
thử vàng cho phép kiểm chứng xem sự thanh thoát đối với một người
yêu mến đã đạt tới cùng chưa. Sau khi giúp người đó nhận ra vết
thương, lau chùi vũ trụ tình cảm và khám phá ra ý nghĩa vết thương
của y, tôi mời y thực hiện một cuộc tha thứ : tha thứ cho chính mình,
để loại bỏ nơi y mọi dấu vết của mặc cảm tội lỗi, và tha thứ cho
người thân yêu đã khuất, ngõ hầu xua đuổi mọi nỗi oán giận còn lại
gây nên bởi sự chia lìa. Trong động thái của tang chế, sự tha thứ
phô bày một giai đoạn quan trọng và quyết định. Chính nó chuẫn bị
cho tâm hồn bước sang giai đoạn kế tiếp, đó là giai đoạn thừa kế di
sản mà người thọ tang lấy lại được tất cả những gì nó đã yêu quí nơi
người kia. Sau nầy tôi sẽ mô tả cặn kẻ hơn giai đoạn thừa kế nầy
cũng như nghi thức cho phép nhận lãnh di sản ấy.
4. Trả thù :
Những di hại đầu
tiên của cuộc sống không tha thứ chẳng mang lại gì làm thỏa lòng cả,
như chúng ta vừa nhận định. Đâu là di chứng của sự trả thù ? Nó có
đưa ra những viễn ảnh triển nở hơn khong ? Chắc chắn nó là câu trả
lời có tính cách bản năng nhất, tự phát nhất đối với điều lăng nhục.
Tuy nhiên, JM. Pohier viết rằng tìm bù trừ nỗi đau khổ của mình bằng
cách gây đau khổ cho kẻ xúc phạm mình, chính là nhìn nhận cho sự đau
khổ một tầm mức thần diệu mà còn lâu nó mới có. Dĩ nhiên việc nhìn
thấy kẻ xúc phạm mình bị hạ nhục và đau khổ tạo nên cho người trả
thù một vui khoái say mê. Nó thoa một thứ dầu thơm tạm thời lên nỗi
đau riêng tư và lên nỗi nhục nhã của y. Nó làm cho người bị xúc phạm
có cảm giác như không còn cảm thấy cô đơn trong nỗi bất hạnh nữa.
Nhưng sẽ phải trả giá nào ? Đó là một sự thỏa mãn ngắn ngủi không có
triển nở thực sự và không có tính sáng tạo trong các mối quan hệ.
Một cách nào đó,
trả thù là một thứ công lý có tính cách bản năng đến từ các thần
linh sơ khai của vô thức. Nó nhằm tái lập một sự bình đẳng đặt nền
tảng trên nỗi đau khổ gây ra cho cả hai bên. Trong truyền thống
Dothái giáo, luật phạt bằng ngang danh tiếng "mắt đền mắt, răng đền
răng" có mục đích quy định việc trả thù. Nó muốn giảm nhẹ những lời
nói của Lamek, con trai Cain, đã tuyên bố với các bà vợ : "Ta đã
giết một mạng người vì một vết thương, một đứa trẻ vì một sầy sướt.
Phải, Cain sẽ được trả thù gấp bảy lần, nhưng Lamek sẽ được bảy mươi
lần bảy!" (Stk.4, 23-24). Bản năng trả thù làm mù quáng kẻ nhượng bộ
nó. Làm sao có thể lượng định được giá trị chính xác của một đau khổ
để đòi hỏi người có lỗi phải chịu một đau khổ tương đương ? Quả thực,
kẻ xúc phạm và người bị xúc phạm đều không ngừng leo thang, khiến
càng ngày càng khó phán đoán sự ngang nhau của các thương tổn. Hãy
lấy ví dụ cổ điển nợ máu của người đảo Corse trong đó cái chết của
những người vô tội cứ kế tục từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Dĩ
nhiên những sự trả thù trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta ít đẫm
máu hơn. Nhưng không phải là ít thiệt hại hơn đối với các mối quan
hệ giữa người với người.
Khi ở trong bầu
khí trả thù, người ta thường quên đi tác động phá hoại của sự trả
thù trên toàn thể môi trường. Chẳng hạn, ở một học hiệu kia, sự xung
đột cá nhân giữa vị giám đốc và một giáo sư đã biến thành một trận
chiến giữa hai lập trường của đoàn giáo sư. Nhiệt độ ngờ vực và ứng
xử không công minh lan ra cả nơi các học viên. Bầu khí làm việc và
học tập vì thế mà ngày càng trở nên nặng nề và khó nhọc. Cũng cần
phải ghi nhận tầm quan trọng tiên quyết của một thái độ tha thứ nơi
các nhân vật nắm giữ quyền bính. Nếu họ để bị lôi kéo bởi tinh thần
trừng phạt nhân danh xã hội của mình thì sự xung đột sẽ đạt tới
những tầm mức kinh khủng và không thể kiểm soát được nơi những người
thuộc quyền của họ.
Thỏa mãn mà sự
trả thù mang lại kéo dài rất ngắn ngủi. Nó không thể nào bù trừ nổi
các thiệt hại mà nó sẽ gây nên trong hệ thống các mối quan hệ giữa
người với người. Ngoài ra, sự trả thù sẽ phát động những chu kỳ bạo
lực khó mà bẻ gãy. Nỗi ám ảnh phục thù chẳng đóng góp gì để chữa
lành vết thương của người bị xúc phạm, song hoàn toàn ngược lại, nó
đầu độc y. Hơn nữa, không nên nghĩ rằng chỉ nguyên quyết định không
trả thù kiến tạo được sự tha thứ. Tuy nhiên, nó vẫn là bước đầu tiên
quan trọng và có tính cách quyết định để dấn thân trên con đường tha
thứ.
Lm. Jean Monbourquette OMI
Chuyển ngữ: Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy
pss
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Từ “THẤY MÀ KHÔNG TIN” để
đi đến “KHÔNG THẤY MÀ TIN” |
|
HÀNH TRÌNH ĐẾN CÕI TUYỆT
ĐỐI :
Từ “THẤY MÀ KHÔNG TIN”
để đi đến “KHÔNG THẤY MÀ TIN”
“Phúc thay những người không thấy mà
tin !” (Ga 20,29b). Đây là lời chúc phúc của Chúa Giê-su
gởi đến cho những ai tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa mà không
cần đến những chứng cớ hiển nhiên, không cần Ngài phải xuất hiện
tỏ tường hay phán bảo rõ rệt cho mình. Dĩ nhiên, không phải dễ
đạt tới một đức tin kiên vững như thế mà không trải qua những
bước đầu chuẩn bị cho đức tin ấy. “Thấy mà không tin” có thể kể
là một trong những bước chuẩn bị đó.
“Phúc thay những người thấy mà không tin
!” : chúng ta thử đảo ngược câu nói của Chúa Giê-su để tìm
ra khía cạnh bổ sung cho đức tin của người Ki-tô hữu.
Chúng ta thấy gì ? – Chúng ta thấy rất
nhiều thứ xảy ra trong đời sống của chính mình và của những
người khác. Đại để chúng ta có thể xếp chúng vào ba thứ mà mãnh
lực của chúng chi phối đời sống của chúng ta một cách rõ rệt :
tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng. Ba thứ này lúc nào cũng lồ lộ ra
trước mắt chúng ta và luôn thu hút nhãn quan thể xác cũng như
linh hồn của mỗi một người chúng ta. Hoặc ít hoặc nhiếu ; hoặc
một, hai, hoặc cả ba ; ai ai trong chúng ta cũng cảm thấy mình
bị cuốn hút bởi hấp lực của chúng, và càng bị chúng hấp dẫn
chúng ta càng “thấy” chúng rõ hơn. Chúng ta thấy, và nếu không
đề cao cảnh giác thì chúng ta sẽ “tin” vào quyền lực của chúng ;
chúng ta sẽ phủ phục trước quyền lực của chúng và suy tôn chúng
làm chủ tể, làm cùng đích của đời chúng ta !
“Thấy mà không tin” thật ra cũng không phải
là một chuyện dễ ; vì tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng có vẻ như đã
đáp ứng, đã thoả mãn được những nhu cầu “bên ngoài” của những ai
chú trọng đến đời sống “tai nghe mắt thấy”. Muốn “thấy mà không
tin”, chúng ta phải tập cho mình có một cái nhìn xuyên thấu các
dáng vẻ bên ngoài để gặp được cái cùng tận ở bên trong. Chúng ta
phải tập thấy “khác” với những gì lồ lộ ra trước mắt, và một khi
đã khám phá ra “bộ mặt thật” của chúng thì chúng ta sẽ không còn
“tin” vào những gì đang phơi bày ra trước chúng ta nữa.
“Phúc thay những người không thấy mà
tin !” : nhờ khám phá ra “bộ mặt thật” của tiền bạc, của
sắc đẹp, của danh vọng mà chúng ta không còn bị loá mắt, không
còn bị hấp lực của chúng cuốn hút một cách mãnh liệt như trước
nữa: chúng ta thấy mọi thứ chỉ là tương đối và chẳng có thứ gì
làm cho chúng ta thoả mãn một cách tuyệt đối được. Lòng chúng ta
sẽ thấy trống vắng và dậy lên lên một nỗi khát khao cái “Tuyệt
Đối”. Chúng ta sẽ bươn chải lên đường tìm kiếm Tuyệt Đối. Hành
trình có thể đầy gian nan thử thách. Chúng ta có thể phải lần mò
như người đi trong đêm tối. Tuy nhiên chúng ta sẽ không nghi
nan, không nản chí, vì chúng ta tin tưởng rẳng cái “Tuyệt Đối”
là một điều có thực dù chúng ta chưa hề thấy bao giờ. Chúng ta
sẽ không đòi thấy cho được những gì tuyệt đối rồi mới tin vào
cái “Tuyệt Đối”, vì chúng ta đã có kinh nghiệm về những thứ mà
chúng ta đã thấy rõ ràng nhưng đã không tin. Và cuối hành trình,
chúng ta sẽ khám phá ra cái “Tuyệt Đối” ấy chính là Thiên Chúa
./.
Trầm Tĩnh Nguyện
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
HỘI THÁNH
HÔM NAY |
|
Hội Thánh Hôm Nay theo ĐTC Bênêđictô XVI thì cần củng cố các Gia
đình, Nhóm Nhỏ, Hội đoàn, Phong trào để cùng nâng đỡ, học hỏi và
khuyến khích nhau thực hành Lời Chúa và sống đạo.
Giáo Hội Hôm Nay tại các Giáo xứ cần trở về cách sống đạo như
Cộng Đoàn Tín Hữu đầu tiên: “Họ chuyên cần nghe các Tông đồ
giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu
nguyện...Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ.
Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui
vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến…” (Cv
2,42-47)
Hiện nay, trong Giáo xứ, Cộng đoàn có những Hội Đoàn, Phong
trao, Nhóm Nhỏ sinh hoạt qua các Đặc Sủng khác nhau, tuy nhiều
nhưng chung một gốc. Họ đang thực hiện cách Sống Đạo của Giáo
hội hôm nay. Cho nên các Giáo xứ và Cộng Đoàn vẫn là chủ yếu của
Hội Thánh, cần được khuyến khích học hỏi, bổ túc, tôn trọng
những Đặc sủng khác của nhau, không nên lấy làm lạ rồi ngăn cản,
chê bai, nghĩ xấu, lên án nhau (x. Mc 9, 39), làm mất sự hiệp
nhất trong Hội Thánh: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng
chỉ có một Thần Khí.- Có nhiều phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có
một Chúa.- Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ chỉ có
một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người Chúa. - Thần Khí tỏ
mình ra nơi mỗi người một cách là vì ích chung.- Người thì được
Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được ban
cho ơn hiểu biết để trình bày.- Kẻ thì được Thần Khí ban cho
lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy những ban
cho những đặc sủng để chữa bệnh.- Người thì được ơn làm phép lạ,
người thì được ơn nói tiên tri; người thì được ơn phân định Thần
Khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại
được ơn giải thích các tiếng lạ.- Nhưng chính Thần Khí duy nhất
ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi
cách, tùy theo ý của Người.”
(Xin mời đọc thật kỹ và nói với Chúa, thư: 1Cor 12,4-11)
Suy niệm đoạn Lời Chúa trên, tôi vui mừng thấy Chúa Thánh
Thần đang đổi mới Giáo hội của Ngài, đã được Chúa Giêsu ủy thác
cách đây hơn hai ngàn năm: “Đấng Bảo Trợ sẽ đến.”
Giáo hội hôm nay không chỉ ở Rôma, mà còn là các Tín Hữu Kitô,
Dân Thiên Chúa, không là cơ chế mà là chính con người. Giáo hội
là tôi, là bạn, là gia đình, là các Nhóm Nhỏ, Hội Đoàn, Phong
trào đi theo đường lối của Đức Kitô đã dạy là tìm đến con người
đang vui sống trong gia đình, làng mạc, giáo xứ và xã hội. Thánh
Thần Thiên Chúa đang đến gặp gỡ, dạy bảo, nhắc nhở Lời Chúa
Giêsu đã dạy, chữa lành thể xác và tâm hồn họ trong mọi lúc họ
kêu cầu.
ĐTC Bênêdictô XVI muốn Giáo hội vẫn củng cố mô hình Giáo xứ hay
Công đoàn; nhưng tránh kiểu cơ chế ngoại vi nặng nề, hình thức
bên ngoài nhiều; nhưng là Giáo xứ, Cộng đoàn của bác ái, chia
sẻ, hiệp nhất, và tình huynh đệ như thời Hội Thánh Tiên Khởi.
ĐTC Gioan Phaolô nói: “Toàn thể đời sống Cộng Đoàn Tiên Khởi
là Giêrusalem mang những dấu ấn của Chúa Thánh Thần là Đấng
Quyền Năng Vô hình hướng dẫn họ.” Ngài muốn cho tôi thấy
Chúa Thánh Linh đang canh tân : “mọi người đều được tràn đầy
Thánh Thần” , nghiã là mọi Tín hữu Kitô đều lãnh nhận các
Đặc Sủng.
Các Tông đồ ngày xưa là những nhân tố nòng cốt của Cộng Đoàn
Tiên Khởi và hôm nay, mọi Tín hữu Kitô đều là những con người
cốt cán của Giáo hội, nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Ngài hiện
diện và hoạt động trong Hội Thánh bằng quyền năng và thần lực.
Thần Khí làm cho Đức Kitô hiện diện trong Giáo hội một cách trọn
vẹn, để các Tín hữu hôm nay hiệp thông với Ngài bằng mọi cách
khác nhau.
Tóm lại, tôi xin mượn lời ĐTC Phaolô VI đã tuyên bố: “Điều
Giáo hội ngày nay cần thiết chính là cần Đức Thánh Linh. Chúa
Thánh Linh trong chúng ta, trong mọi người và trong Giáo hội,
đang cần thiết tới và cần trên hết mọi chuyện.
Phó tế GB Nguyễn Văn Định
* johndvn@yahoo.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
CANH TÂN TINH THẦN
CẦU NGUYỆN (tiếp theo) |
|
NHỮNG ĐIỀU NÊN TRÁNH
Tiếp tục tìm hiểu về việc canh
tân tinh thần cầu nguyện, hôm nay, chúng ta sẽ lưu ý đến một vài điều nên tránh
và một vài điều nên làm.
Trước hết, cầu nguyện không
phải chỉ là van xin ơn này, ơn khác cho bản thân, gia đình hay những người thân
yêu.
Thực vậy, nếu như có một người
hàng xóm, hễ bước chân vào nhà chúng ta là xin hết cái này cái khác, từ thìa mắm
tôm đến một chút bột ngọt, từ chút mỡ đến củ hành củ tỏi. Cứ thế, cứ thế, chắc
hẳn chúng ta sẽ cảm thấy bực bội và lẩn tránh mỗi khi họ tới.
Hay như hai anh chị yêu thương
nhau, hễ gặp nhau là chị xin từ cái nọ đến cái kia, nào hôm nay anh cho em chiếc
áo dài ráp lăng, nào ngày mai anh cho em chiếc bóp kiểu mới nhất, nào ngày mốt
anh cho em tiền đi cắt bộ tóc sì ton…Chắc hẳn rồi thì đường ai người ấy đi, vì
anh chàng không thể nào gồng mình chịu đựng nổi những đòi hỏi như thế.
Đối với Chúa cũng vậy, cầu
nguyện không phải chỉ là cầu xin, mà còn là những lời khen ngợi vì những kỳ công
Chúa đã thực hiện, cảm tạ vì những hồng ân Chúa đã ban, ăn năn thống hối vì
những lầm lỗi đã vấp phạm làm cho Chúa phải đau buồn và quyết tâm sống xứng
đáng là người con ngoan của Chúa.
Một khuôn mẫu tiêu biểu cho
những tâm tình cầu nguyện đó là kinh lạy Cha, một lời kinh mà chính Chúa đã
truyền dạy cho chúng ta.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM.
Trước hết, phải cầu nguyện một cách
kín đáo, không phô trương, không cố ý để cho “dân thấy mà khen” như bọn biệt
phái giả hình.
Thực vậy, Chúa Giêsu đã phán :
- Khi cầu nguyện, các ngươi
hãy vào trong phòng, đóng kín cửa lại mà cầu nguyện với Cha các ngươi, Đấng thấu
suốt mọi bí ẩn sẽ trả công cho các ngươi.
Tiếp đến, phải cầu nguyện nhân
danh Chúa Giêsu, thì lời cầu xin của chúng ta mới chắc chắn được chấp nhận như
lời Ngài đã phán :
- Bất cứ điều gì các con nhân
danh Ta mà cầu xin thì Ta sẽ làm cho các con, ngõ hầu Cha được tôn vinh nơi Con.
Chính vì vậy, Giáo Hội thường
kết thúc những lời nguyện chính thức của mình bằng câu :
- Nhờ Đức Kitô Chúa chúng
con.
Đồng thời khi cầu nguyện,
chúng ta cũng nên hợp ý với Mẹ Maria và toàn thể Giáo Hội, theo gương các tín
hữu thuở sơ khai như sách Tông đồ Công vụ đã kể lại :
“Tất cả họ cùng đồng tâm nhất
trí, chuyên cần cầu nguyện với các phụ nữ và mẹ Maria…”
Và sau cùng, điều quan trọng
hơn nữa đó là “ngôn hành phải hợp nhât”, lời nói phải đi đôi với việc làm.
Chúa không muốn chúng ta quá ỷ
lại vào Ngài để rồi sinh ra lười biếng, bất cẩn và không chịu làm việc. Ngài
không phải là một cái máy làm phép lạ, để khi cần đến, người ta cứ việc bấm nút.
Nếu chỉ nại vào lời cầu nguyện
mà bỏ bê những công việc bổn phận, lúc bấy giờ chúng ta giống anh chàng nằm chờ
sung rụng. Mặc dù bụng đói, anh ta nhất định không chịu đứng lên để hái những
trái sung chín mà ăn, nhưng cứ nằm yên, miệng há hốc chờ những trận gió vô tình
làm cho sung rụng và chỉ ăn những trái nào rơi đúng vào miệng mình mà thôi.
Vì thế, anh ta đã chết đói
dưới gốc một cây sung đầy trái chín.
Tục ngữ Tây phương đã bảo :
- Hãy tự cứu lấy mình rồi trời
sẽ cứu.
Thiên Chúa muốn chúng ta cộng
tác với Ngài, vừa cầu nguyện vừa làm việc, để làm chủ vũ trụ và chu toàn thánh ý
Ngài. Do đó, cầu nguyện mà lười biếng không chịu làm việc thì đó không phải là
một lời cầu nguyện đích thực, mà chỉ một lời nói bâng quơ một mình.
Còn làm việc, nhưng quá cậy
vào sức mình mà không chịu cầu nguyện, thì đó là dấu chỉ không phải làm vì Chúa,
dù thành công, thì vẫn chẳng có một giá trị siêu nhiên nào.
Có một ông già chèo đò ngang
qua sông. Chiếc đò có hai mái chèo. Một mái chèo ông đề hai chữ “lao động”, còn
mái chèo kia ông đề hai chữ “cầu nguyện”.
Trưa hôm ấy có một chàng thanh
niên tiên tiến bước xuống đò, nhìn thấy vậy chàng thanh niên tỏ ra khinh bỉ và
nói :
- Ông già cổ hủ và lỗi thời
rồi. Bây giờ, đang sống trong thời buổi khoa học và văn minh, người ta chỉ cần
lao động mà không cần cầu nguyện.
Ông già chẳng nói một câu,
lẳng lặng lấy mái chèo có hai chữ “cầu nguyện” và vứt xuống sông.
Dòng sông vào độ nước lớn chảy
thật xiết, với mái chèo “lao động” còn lại, ông già không thể nào đưa chiếc đò
qua sông, nó cứ quay tròn ở giữa dòng và mấy phen suýt bị lật chìm vì những con
sóng.
Rồi chúng ta còn phải biểu lộ
những tâm tình cầu nguyện ấy qua đời sống bằng những việc bác ái, yêu thương và
tha thứ như Chúa đã dạy :
- Khi lên đền thờ dâng của lễ
mà sực nhớ người anh em có điều gì bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ
đó, trở về làm hòa với người anh em mình trước đã, rồi hãy đến mà dâng của lễ
sau.
- Hãy tha thứ cho nhau, để Cha
trên trời cũng tha thứ cho các ngươi…
- Nếu hai người trong các
ngươi ở dưới đất đồng tâm với nhau mà cầu xin bất cứ sự gì, Cha Thày ở trên trời
sẽ ban cho. Vì đâu có hai hay ba người hội họp lại nhân danh Thày, thì Thày sẽ ở
giữa họ.
Hơn thế nữa, chúng ta còn có
thể dùng chính tâm tình yêu mến và biết ơn, dùng chính những hy sinh và những
công việc bổn phận như những bông hoa nhỏ hay như những lễ vật xuất phát từ lòng
cuộc đời mà dâng lên Chúa. Vì Chúa muốn lòng yêu mến hơn là những lời nói đầu
môi trót lưỡi :
- Dân này thờ kính ta bằng môi
bằng miệng, nhưng lòng họ thì ở xa ta.
Trong thực hành, chúng ta nên
kết hợp với Chúa bằng cách :
. Vừa thức dậy, hãy dâng ngày
cho Chúa.
. Trong ngày, hãy làm mọi việc vì
lòng yêu mến Chúa. Và truớc mỗi công việc, hãy xin Chúa giúp đỡ..
. Buổi tối nên kiểm điểm, xét mình
về những công việc trong ngày. Cảm tạ Chúa vì đã qua một ngày tốt đẹp. Xin lỗi
Chúa, nếu có những điều sai lỗi.
| |