Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 57, Chúa nhật 29.10.2006


Các số báo đã phát hành          MỤC LỤC

Đức Maria gương mẫu tuyệt hảo của đời sống Tông Đồ                                       Vatican 2 

HÔN NHÂN HAY NGÔN SỨ                                                                  Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

TÂM TRẠNG MỘT NGƯỜI MÙ                                                                 Lm. Lê Văn Quảng

KHÚC  NGHÊ  THƯỜNG                                                                                        Vân Thanh

ĐƯA LỜI CHÚA VÀO TRONG GIA ĐÌNH                                 Lm. Giuse Nguyễn Văn Lừng

Ngôi sao Thánh gía Chúa Giêsu trong vũ trụ                                  Lm. Nguyễn Ngọc Long

Mẹ luôn luôn có mặt…                                                                      Gs. Nguyễn Văn Thành

TÌNH YÊU CAO CẢ                                                           Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

CANH TÂN TINH THẦN CẦU NGUYỆN                                                                     Tuỵ Hiền

Tác phẩm Đường Hy Vọng (tiếp theo)                                    + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

Tật đờn bà: GHEN.                                                                       Chuyện phiếm của Gã Siêu


Đức Maria Gương mẫu tuyệt hảo của đời sống Tông Đồ
 

Linh đạo của mỗi giáo dân phải mang sắc thái đặc biệt theo bậc sống: đời sống hôn nhân và đời sống gia đình, đời sống độc thân hay goá bụa, tình trạng đau yếu, sinh hoạt nghề nghiệp và xã hội. Vậy, mỗi người phải phát triển không ngừng những đức tính và tài năng Chúa ban cho mình, thích ứng với hoàn cảnh của mỗi đờị sống và biết tận dụng những ân huệ Chúa Thánh Thần ban riêng.

Ngoài ra, giáo dân khi theo ơn gọi của mình, gia nhập vào một trong những hiệp hội hay tu hội được Giáo Hội nhìn nhận, họ cũng cố gắng trung thành thể hiện những đặc tính của linh đạo đó.

Hơn nữa, họ cũng nên quý trọng nghề nghiệp chuyên môn, ý nghĩa gia đình và công dân cũng như những đức tính liên quan tới đời sống xã hội, như: sự lương thiện, tinh thần công bằng, lòng thành thực lòng nhân hậu, lòng quả cảm; không có những đức tính đó, không thể có đời sống Ki-tô hữu đích thực.

Gương mẫu hoàn hảo của đời sống thiêng liêng và đời sống tông đồ ấy chính là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a Rất Thánh, Nữ Vương các Tông Đồ. Khi sống ở trần gian, Người đã sống cuộc đời như mọi người, vất vả lo lắng cho gia đình, nhưng luôn luôn kết hợp mật thiết với Con mình và đã cộng tác vào công việc của Đấng Cứu Thế cách đặc biệt. Còn bây giờ, sau khi đã được đưa lên trời, "với tình yêu thương của người mẹ, Ngườí săn sóc những đứa em của Con Mẹ, đang trên đường lữ hành, gặp nhiều nguy hiểm và thử thách, Người lo lắng cho đến khi họ về tới quê hương hạnh phúc" (Hiến chế Giáo Hội, số 62). Mọi người hãy hết lòng tôn sùng Mẹ và phó thác đời sống và việc tông đồ của mình cho Mẹ coi sóc.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Vatican 2, số 4)

VỀ MỤC LỤC
HÔN NHÂN HAY NGÔN SỨ

Phú Âm Nhật Ký Ngày 08.10.2006 

(Mc 10:2-16) 

Ngày nay nhiều người Công giáo vẫn ly dị, dù đã làm phép cưới đàng hoàng ở nhà thờ.  Thấy vậy, nhiều người đặt vấn đề về hiệu lực của bí tích hôn phối ? Họ không cần làm phép cưới nữa.  Chỉ cần tình yêu thôi.   Ðám cưới hay không, có khác gì nhau ?  Bí tích chẳng còn ý nghĩa và giá trị gì nữa !  Lễ nghi, giấy tờ v.v. chỉ là hình thức. 

Suy cho cùng, vấn đề không nằm ở chỗ đó. Vấn đề sâu xa hơn nhiều.  Ðức tin còn hay không ?  Còn tới mức nào ?    Có nên đánh giá hôn nhân dựa trên những hiện tượng tiêu cực không ?

Ðánh giá thấp bí tích hôn phối như thế, không phải vì người ta nhìn thấy vô số đổ vỡ nơi những cặp vợ chồng sống ngoài “phép đạo.”  Ðúng hơn, họ chỉ muốn biện minh cho thái độ và lối sống tự do của mình thôi.

Nếu nhìn đúng đắn, ai cũng phải nhận “có một nét thánh thiêng và đạo đức nào đó nơi cuộc kết hiệp tự nhiên giữa người nam và người nữ.”  Thực vậy, cuộc kết hiệp đó phát xuất từ nguồn gốc thánh thiêng,[1] đưa đến việc sinh dưỡng con cái cho Thiên Chúa, và cuối cùng đưa đôi phối ngẫu vào cuộc hiệp thông với Thiên Chúa.[2]

Nếu không có con mắt đức tin, không thể nhìn thấy hôn nhân như một “giao ước.”[3]   Nếu là một giao ước, hôn nhân sẽ mang nét thánh thiêng như giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Người. Tình yêu hôn nhân diễn tả đặc biệt qua giao ước Thiên Chúa thiết lập với tuyển dân qua Abraham (St 17:1-2) và Môsê (Xh 19:5).[4]

  Hơn nữa, bí tích giao ước hôn nhân phát xuất từ giao ước Chúa Giêsu thiết lập trên thánh giá và canh tân trong bí tích Thánh thể.[5]  Hôn nhân Kitô giáo “đặc biệt vững chắc vì là một bí tích”[6] và “giao ước mới của Chúa Giêsu hiện diện năng động trong chính hôn nhân.”[7] Vì thế, “Giao Ước của Chúa không những gợi hứng cho đời sống hôn nhân, mà còn can dự vào đời sống đó, bơm sinh lực vào cuộc đời của các người phối ngẫu.  Giao ước đó còn “nhào luyện” tình yêu họ từ bên trong.  Họ yêu nhau không những như Ðức Kitô đã yêu, nhưng một cách huyền nhiệm, yêu với chính tình yêu của Ðức Kitô, vì Người ban Thần Khí cho họ ...”[8] 

Dĩ nhiên, như thế không có nghĩa, sau khi đưa nhau tới nhà thờ làm lễ cưới, người ta có thể “ăn no ngủ kỹ,” không cần cố gắng phấn đấu nữa.  Giao ước giữa Thiên Chúa và loài người đã phải trải qua một quá trình phấn đấu rất cam go mới hoàn thành được.  Chúa Giêsu cũng đã trả giá bằng chính mạng sống, mới có thể thiết lập và duy trì nổi giao ước giữa Người và Giáo hội.

Ðiểm độc đáo của giao ước hôn nhân Kitô giáo chói sáng nhờ việc Ðức Giêsu kết hiệp Thiên Chúa với dân Người trong một cuộc hiệp thông duy nhất.  Cuộc hiệp thông này sẽ biến thành Nước Trời vĩnh hằng.  Giao ước mới mang tính thể chất, chứ không chỉ chia sẻ đời sống thần linh của Chúa Giêsu và kết hiệp với Người trong những hành vi nhân linh.  Sau cùng, giao ước mới giúp họ chia sẻ với Chúa trong cuộc sống thể xác phục sinh nữa.[9]  Như thế, tình yêu Thiên Chúa đã nhập thể trong thực tại thể lý của đời sống hôn nhân.

Sở dĩ được nâng lên hàng bí tích, vì hôn nhân là dấu chỉ sự kết hiệp mật thiết giữa Chúa Kitô và Giáo hội.[10]  Cuộc kết hiệp này chiếu sáng ý hướng cánh chung trong bí tích hôn phối.  Hôn nhân tham dự vào cuộc hiệp thông vĩnh hằng.  Ngay nơi trần gian, họ đã nếm trước hạnh phúc Nước Trời.  Nếu không, họ không đủ khả năng vượt qua những thử thách trong cuộc sống hôn nhân và gia đình.  Chính Ðức Giêsu đã phải chết để nâng hôn nhân lên hàng bí tích.[11]  Cũng thế, vợ chồng phải hy sinh cho nhau mới thể hiện được tất cả tính chất bí tích của hôn nhân, mầu nhiệm hiệp thông giữa Chúa Giêsu và Hội thánh.

Càng hiệp nhất sâu xa và bền vững, hôn nhân càng  “biểu hiện trước mặt mọi người sự hiện diện sống động của Ðấng Cứu Ðộ trong thế giới và bản  chất đích thực của Giáo hội qua tình yêu.”[12]  Do đó, hôn nhân là một chứng từ sống động nhất nói cho mọi người biết Thiên Chúa “yêu mến thế gian đến nỗi đã sai Con Một ...”[13]  Trong chiều hướng này, ÐGH Gioan Phaolô II đã hô hào : “Hỡi gia đình, hãy tin mình được gọi làm dấu chỉ chiếu sáng tình yêu Thiên Chúa.”[14]

Mục tiêu cao cả đó đã biến mất trong nhiều cuộc hôn nhân hôm nay. Con người quá ích kỷ.  Theo tác giả Elizabeth Marquardt, khắp thế giới, luật pháp và các kỹ thuật sinh sản có khuynh hướng định nghĩa lại tư cách làm cha mẹ qua những lối đặt quyền lợi người lớn trên nhu cầu trẻ em.  Hậu quả là ly dị  cha mẹ đơn chiếc gia tăng; càng ngày càng nhiều người hiến tặng trứng và tinh trùng ; phong trào ủng hộ hôn nhân đồng tính; và các dự án cho phép thụ thai bằng trứng và tinh trùng của những người hiến tặng để con cái có ba cha mẹ theo pháp lý.[15] 

Mọi bế tắc chỉ được khai thông khi con người biết mở rộng tâm hồn.  Không mở rộng tâm hồn, làm sao có thể chấp nhận và cộng tác với nhau ?  Trong một môi trường xã hội bon chen mãnh liệt hôm nay, nếu không tìm được sự nâng đỡ, tình bạn, tình yêu, mái ấm gia đình, con người không thể yên tâm xây dựng và phục vụ, nhất là những người nghèo khổ.  Nhưng làm sao có thể thực hiện tất cả những điều cao đẹp đó nếu không được Thiên Chúa trợ giúp đặc biệt qua bí tích hôn nhân ?  Sống đời hôn nhân, Kitô hữu đón nhận được ân sủng  để kiên cường sống trọn vẹn cam kết đời vợ chồng và hoàn thành cứu cánh đích thực của hôn nhân.[16]

Gia đình đổ vỡ kéo xã hội vào một khủng hoảng lớn.  Muốn canh tân xã hội, cần phải có hôn nhân như một phương tiện và nguồn phát sinh ân sủng. Thật vậy, “hôn nhân và gia đình là nền tảng cho một xã hội lành mạnh.”[17] 

Muốn xây dựng lại nền tảng đó, cần phải nêu cao vai trò ngôn sứ của hôn nhân trong gia đình.  Vợ chồng “không bị ràng buộc, nhưng được tô điểm, không bị cản trở nhưng được hỗ trợ bởi hôn ước bí tích”[18] để làm ngôn sứ từ trong gia đình đến ngoài xã hội.  Không những qua lối sống công bình, bác ái, phục vụ, tha thứ, nhưng còn nhờ những lời sự thật, họ là những nhà giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất góp phần đào luyện con cái  thành các ngôn sứ tương lai.  Vai trò ngôn sứ tóm tắt tất cả sứ mệnh lớn lao của cuộc sống hôn nhân.  Chỉ khi ý thức được bản chất, vai trò và sứ mạng của mình, hôn nhân mới có thể hoàn thành trách nhiệm ngôn sứ mà thôi. 

Với vai trò ngôn sứ, hôn nhân đang thi hành công cuộc phúc âm hóa từ trong gia đình.  “Công bố Tin Mừng cần bắt đầu từ gia đình.”[19]  Con cái cần phải trở thành “những người lắng nghe Lời Chúa,” trước khi thành “những người chia sẻ Lời Chúa.”[20]  Muốn thế, như những thừa sai, cha mẹ phải nỗ lực gieo hạt giống Tin Mừng cho con cái.  Mùa màng tươi tốt sẽ trổ sinh trên toàn thế giới và Giáo hội . . .

Lạy Chúa, nhờ bí tích hôn phối, Chúa đã ban cho vợ chồng chúng con tràn đầy Thần Khí.  Hôm nay, xin Chúa tăng cường ân sủng để chúng con thi hành sứ mệnh ngôn sứ trong gia đình và ngoài xã hội.  Amen.

lm đỗ vân lực, op.

dzuize@gmail.com


[1] x. Mc 10:7-8; St 2:24.

[2] ÐGH Pio XI , Casti connubii, AAS 22 (1930) 570, pe, 208.80. 

[3] Gaudium et Spes, số 48.

[4] x. Cormac Burke, ‘Marriage Covenant’ trong Russell Shaw (ed.), Encyclopedia of Catholic Doctrine, tr. 409, Our Sunday Visitor Publishing Division : 1997.

[5] x. ÐGH Gioan Phaolô II, Familiaris consortio, 57, AAS 74 (1982) 149-50, OR, 21-28 Dec. 1981, 11.    [6] Canon 1056.

[7] Germain Grisez, Living A Christian Life, vol. 2, Franciscan Press : 1993, tr. 607.

[8] ÐGH Gioan Phaolô II, Address to the “Equipes Notre-Dame” (23.09.1982), 2, Inseg. 5.3 (1982) 543-44, OR, 15.11.1982, 6.

[9] Germain Grisez, Living A Christian Life, vol. 2, Franciscan Press : 1993.

[10] x. Ep 5:32; DS 327/702. [11] Canon 1055.1. [12] Gaudium et Spes, số 48.

[13] Ga 3:16. [14] ÐGH Gioan Phaolô II, Cuộc Gặp Gỡ Các Gia đình,  ngày 20.10.2001.

[15] Zenit 30.09.2006.

[16] x. Cormac Burke, ‘Marriage Covenant’ trong Russell Shaw (ed.), Encyclopedia of Catholic Doctrine, tr. 409, Our Sunday Visitor Publishing Division : 1997.

[17] Doyle, Dennis M., The Church Emerging from Vatican II, Twenty-Third Publications: 1992, tr. 290.

[18] ÐGH Pio XI , Casti connubii, AAS 22 (1930) 570, pe, 208.80. 

[19] Doyle, Dennis M., The Church Emerging from Vatican II, Twenty-Third Publications: 1992, tr. 304.    [20] ibid.


VỀ MỤC LỤC
TÂM TRẠNG MỘT NGƯỜI MÙ 

 

Nếu có dịp đi thăm các nước Âu Mỹ ta sẽ thấy rõ nền văn minh của họ. Nền văn minh ấy không phải chỉ ở nơi những tòa nhà cao ốc nguy nga lộng lẫy, nơi những con đường rộng thênh thang sạch sẽ, mà còn ở nơi cách sống của họ. Điều mà tôi cảm thấy đáng khâm phục hơn hết đó là không bao giờ nhìn thấy một người tật nguyền nào ngồi ăn xin trên các vỉa hè, vì họ có chương trình trợ cấp cho những người nghèo để mọi người đều có thể sống và sống xứng đáng là một con người. Nhưng nếu trở về với vùng Á Châu và Phi Châu, chúng ta sẽ thấy khắp nơi đều có những con người bất hạnh, đáng thương sống vất vưởng trên các vỉa hè, góc phố, không nhà, không cửa, không người thân , không bạn bè. Họ sống trong tình trạng thật bi đát, có thể nói không còn chút nhân phẩm, áo quần rách nát, thân xác đầy ghẻ chóc, ngồi ngửa tay xin một chút lòng từ thiện của những người khách bộ hành. Họ ngửa tay xin những đồng bạc bố thí để sống qua ngày đoạn tháng, nhưng đồng thời họ cũng muốn van xin một cái gì khác nữa, một cái gì cao đẹp hơn nữa như một sự quan tâm, một sự chia xẻ, một mối tình thương, một chút tình người nơi những con người may mắn hơn họ.

Để có thể cảm thông được với những thương đau của những người anh chị em bất hạnh của chúng ta, hôm nay tôi muốn mời các bạn hãy cùng tôi đi thăm một trong những con người tật nguyền bất hạnh mà phúc âm thường hay nhắc tới, đó là người mù từ lúc mới sinh.

Là một con người không được may mắn, vừa được sinh ra đã mang thân phận là một kiếp mù. Cuộc đời anh vì thế chỉ toàn là một bóng tối quây quanh, không một tia nắng sáng. Anh hoàn toàn bị cô lập ra khỏi những sinh hoạt của những người chung quanh mà dẫu anh có muốn dấn thân vào cũng không ai cho phép. Nhiều lúc, chính những nỗi cô đơn đó đã làm con người anh co quắp lại vì anh cảm thấy sự lạnh lẽo của cuộc đời khi nghĩ tới mình đang ngồi bên lề cuộc sống. Chính mặc cảm ấy đã làm cho anh đau khổ không thể diễn tả hết được. Có lúc cũng đã làm anh tuyệt vọng đến độ không còn muốn sống nữa. Anh cảm thấy không những bị cắt đứt khỏi thế giới con người, nhưng khỏi chính cuộc sống, khỏi tất cả những gì  hiện hữu mà người khác có thể nhìn thấy được, có thể tận hưởng được, còn anh thì không. Anh như một con chim không cánh. Anh không còn cách nào khác để tự tồn ngoại trừ phải ăn xin để sống. Điều đó có nghĩa là anh hoàn toàn tùy thuộc vào lòng từ thiện của những người khác. Ngày qua ngày, anh chỉ biết lê chân đến một chỗ quen thuộc để cầu thực. Quá khứ anh chất đầy những kinh nghiệm thương đau nhưng không có gì đáng để ghi nhớ. Tương lai anh là cả một con đường dài nhưng là một con đường không định hướng. Anh là một con người không có một phương tiện nào trong tay, cũng không có một mối hy vọng nào trong cuộc sống. Và đó mới chính là nỗi khiếp sợ cho anh vì cuộc đời của anh không có chút gì tươi sáng, và mãi mãi anh sẽ phải sống trong nỗi tối tăm và tuyệt vọng. Anh sẽ luôn là con người cô độc, hoàn toàn đứng bên lề xã hội.

Cuộc đời của anh chỉ là một chuỗi dài những tủi hờn nối tiếp nhau. Những người đi qua đường bố thí cho anh một vài đồng xu, nhưng không một ai trong họ muốn dừng chân lại để nói chuyện với anh. Không một ai muốn đi vào thế giới cô đơn của anh ngay cả chỉ một vài giây phút. Sự dửng dưng, nỗi lạnh lùng của những người chung quanh đã làm anh đau khổ nhiều. Bị bạc đãi, bị bỏ rơi đã để lại cho anh cảm giác đớn đau nầy là: mình không quan trọng, không là gì cả. Sự hiện diện của mình chỉ là một sự thừa thãi, một cái gì không cần thiết. Anh đã được đối xử dường như anh không có cảm giác, không hề biết buồn, không hề biết tủi, như một cục gỗ đá không hồn.

Nhưng chưa đủ, điều đáng buồn hơn đối với anh là: qua âm thanh, qua làn gió mà anh cảm thấy được khi những khách bộ hành lướt nhanh qua anh trong cách thức vội vã, đã khiến anh có cảm tưởng rằng có khi họ còn khiếp sợ anh, ghê tởm anh, né tránh anh như một con bệnh nguy hiểm.

Cuộc đời của anh cứ thế kéo dài cho đến một ngày kia anh nghe tiếng ồn ào của một đám đông đang đi qua. Anh tò mò muốn biết chuyện gì đang xảy ra và anh được người ta cho biết rằng Chúa Giêsu sắp đi ngang qua đó. Đúng là một con người mà anh đã được nghe nói nhiều về lòng thương xót đối với những người bệnh tật và đau khổ. Bấy giờ, một nỗi hy vọng lóe sáng trong anh khiến anh bỗng nhiên mở miệng kêu lên: “Lạy Giêsu, Con vua David xin thương xót đến tôi “. Nhưng rồi, anh rất đỗi ngạc nhiên về phản ứng của dân chúng. Họ không muốn anh mở miệng kêu to. Họ bảo anh quấy rầy. Họ la mắng anh, bảo anh yên lặng. Điều đó làm anh nghĩ rằng họ quá ích kỷ, bỡi vì ai trong họ cũng hy vọng sẽ được một cái gì mỗi lần Ngài về quê làng thăm. Tuy nhiên, họ muốn loại trừ khỏi họ một con người đang cần hơn họ một điều gì đó. Vì thế, trong một ý nghĩa nào đó, họ là những con người mù lòa hơn anh bỡi sự ích kỷ của họ.

Dẫu cho họ đã dọa nạt ngăm đe, nhưng anh vẫn nhất quyết không chịu im lặng. Trái lại, anh càng la to hơn:” Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót đến tôi”. Kết quả là Chúa Giêsu đã nghe thấy tiếng anh, nên Ngài muốn anh được đưa đến. Bấy giờ, anh quá mừng rỡ, vội vàng vứt bỏ hết mọi sự và đi về phía Ngài. Ngài nắm lấy tay anh và hỏi: Anh muốn gì ? Chính cử chỉ âu yếm đi đôi với lời dịu ngọt mà anh chưa bao giờ gặp thấy trong cuộc đời anh, đã khiến anh hết sức cảm động và nói lên ngay, không cần suy nghĩ, điều anh mong muốn: “ Tôi muốn nhìn thấy”. Và rồi, Ngài bắt đầu sờ vào mắt anh. Dường như có một cái gì đã rơi khỏi mắt anh và anh đã nhìn thấy. Anh ngước mắt nhìn và thấy được Ngài. Ngài mỉm cười và nói: “ Hãy đi, đức tin anh đã cứu anh !”

Trong khi gặp gỡ Chúa Giêsu, anh đã gặp được tình yêu của Ngài, dường như anh là một đối tượng duy nhất của tình yêu ấy. Anh không còn ở bên lề cuộc sống, bên lề xã hội nữa, nhưng Ngài đã cho anh một chỗ danh dự trong nước Ngài.

Trong những lúc đen tối của cuộc đời, chúng ta thường cảm thấy đơn côi và bị đẩy ra ngoài lề cuộc sống. Chúng ta cảm thấy mình không cần thiết và bị lãng quên. Thật vậy, không tình yêu, cuộc đời sẽ đen tối. Sống không tình yêu, chúng ta sẽ cảm thấy tủi thân và chẳng còn ham sống nữa. Không tình yêu, chúng ta sẽ trở nên mù lòa vì chúng ta mất hướng đi và mất cả niềm hy vọng.

Như người mù, dẫu sống bên lề xã hội cũng như dẫu cho đám đông quần chúng có dọa nạt ngăm đe, anh vẫn nuôi lấy niềm hy vọng. Chính niềm hy vọng đó đã khiến anh có đủ can đảm thốt lên lời kêu cứu và Chúa đã đáp lời anh, ban cho anh điều anh mong muốn.

Hãy bắt chước Chúa, xót thương những con người cùng khổ, những con người bất hạnh. Hãy làm những gì có thể làm được để yên ủi và vỗ về một phần nào những con người thiếu may mắn đang gặp nhiều khổ đau. Nếu những người giàu biết bớt đi một phần nhỏ những gì họ đang thừa hưởng để chia xẻ và nâng đỡ những con người cùng khốn thì trần gian nầy sẽ rộn vang nhiều tiếng cười hơn là tiếng khóc và vườn hoa thiên đường cũng sẽ bắt đầu trổ hoa trên mặt đất nầy.   

Lm. Lê Văn Quảng

VỀ MỤC LỤC

KHÚC  NGHÊ  THƯỜNG

 

(Mc 10: 35-45)  

Núi cao khi chạm tới trời xanh,

choáng váng quay cuồng với cạnh tranh,

giành giựt làm chi từng tấc đất,

trên cao sao vẫn nặng hồng trần ?!

 

Trăm năm tụ hội cả về đây,

trên ngọn trầm hương bát ngát bay,

Tạo Hóa nhíu mày khi thấy cảnh

trâu bò húc loạn suốt đêm ngày.

 

Thi đua điên loạn vượt trời cao,

từng dãy núi cao bỗng thét gào,

thấy Ðấng Tối Cao từ thượng giới

xuống làm cát bụi cõi xôn xao.

 

Bỗng cơn địa chấn phủ trần gian,

muôn ngọn núi cao tan biến nhanh,

hạt bụi vụt lên thành ánh sáng,      

phục sinh đem lại phúc bình an.

 

Khi Con Thiên Chúa xuống đầu thai,

sống kiếp Chiên Con giữa bụi gai,

chứng kiến bao lần hàng đệ tử

tranh giành vương bá cũng như ai.

 

Mặc Thày gánh chịu nỗi cô đơn,

giấc mộng Thiên Sai nhuốm tủi hờn.

dãy núi vô tình cao ngất ngưởng,

đoái nhìn hạt bụi phận thê lương.

 

Thân treo thập tự rất tang thương,

hạt bụi tìm đường cứu bốn phương,

phục vụ đến liều thân bỏ mạng,

tiếng ca vang dội suốt đêm trường.

 

Con xin làm một bản tình ca,

hát khúc nghê thường theo ý Cha,

hiến mạng sống mình làm giá chuộc

muôn người thống khổ khắp gần xa.

 

Niềm vui lan tỏa cõi nhân gian,

cát bụi reo vang khúc khải hoàn

mãnh lực tình yêu nguồn cứu độ,

chứng nhân rộn rã bước quan san.

 vân thanh

23.10.2006 

VỀ MỤC LỤC
ĐƯA LỜI CHÚA VÀO TRONG GIA ĐÌNH

 

Tác giả: Lm. Giuse NGUYỄN VĂN LỪNG

“Đưa Lời Chúa vào trong gia đình” là đề tài mang tính áp dụng cụ thể, nghĩa là làm thế nào để đưa Lời Chúa vào sinh hoạt hằng ngày của từng gia đình.

I. TẠI SAO LẠI ĐẶT VẤN ĐỀ ĐƯA LỜI CHÚA VÀO SINH HOẠT HẰNG NGÀY CỦA GIA ĐÌNH ?

Trước công đồng Vatican II, hầu như Lời Chúa chỉ được công bố khi cử hành các Bí Tích, từ Bí Tích Rửa Tội, Thêm Sức cho đến các Bí Tích Truyền Chức, Hôn Phối, Xức Dầu. Sở dĩ như thế là vì Lời Chúa được xem như là chứng cứ để biện minh rằng chính Chúa Giê-su đã lập các Bí Tích, hoặc để soi sáng Đức Tin của người đã lành nhận Bí Tích.

Nhưng dần dần Giáo Hội đã nhận ra rằng Lời Chúa còn có tác dụng thánh hóa tâm hồn, soi sáng các vấn nạn ngàn đời cũng như những vấn nạn của con người thời đại, đem lại một tia hy vọng cho thế giới đang khắc khoải hiện nay và nhất là đưa con người đi vào hiệp thông với chính Thiên Chúa. Với Hiến Chế Dei Verbum, Công Đồng Vatican II còn cho thấy Lời Chúa là chính Thiên Chúa đang nói với con người ngay lúc này “hic et nunc”.

Từ đó, các phong trào học hỏi Lời Chúa, chia sẻ Lời Chúa nở rộ trong các nhóm như Ban Giáo Lý, Ban trị sự Hội Hiền mẫu, Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ trong những kỳ họp định kỳ. Sau đó, các đoàn thể khác cũng có thử nghiệm việc chia sẻ Lời Chúa, nhưng không thành công.

Ngoài ra, tại nhiều gia đình Lời Chúa cũng được công bố trong những giờ kinh tối sáng của gia đình, nhưng việc dựa vào Lời Chúa để chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên của gia đình thì còn rất họa hiếm.

Từ đó, nhiều người có lý để thắc mắc:

- Nếu Lời Chúa được công bố và được chia sẻ trong các đoàn thể, các ban ngành, thì tại sao lại không đưa Lời Chúa vào trong các gia đình ?

- Nếu gia đình là định chế vững chắc và ổn định, trong đó mọi thành viên có nhiệm vụ giúp nhau thánh hóa bản thân và gia đình, thì tại sao lại không đọc và áp dụng Lời Chúa ngay trong phạm vi của gia đình mình để đạt được mục tiêu ấy ?

- Nếu gia đình là thánh đường thu hẹp để tôn vinh, cảm tạ Thiên Chúa, thì tại sao gia đình lại không phải là nơi ưu việt để Lời Chúa được phổ biến.

- Nếu gia đình được gọi là trường học đầu tiên đào luyện Đức Tin, thì tại sao gia đình lại không là trường học về Lời Chúa ?

II. TRONG NHIỆM CỤC CỨU ĐỘ, LỜI CHÚA ĐÃ ĐƯỢC ĐƯA VÀO CÁC GIA ĐÌNH NHƯ THẾ NÀO ?

Trên đây là những lý lẽ tự nhiên cho thấy việc đưa Lời Chúa vào trong gia đình quả là hợp lý, nhưng xét về nhiệm cục cứu độ, thì Lời Chúa đã được đưa vào các gia đình như thế nào ?

Dọc theo chiều dài của Lịch Sự Cứu Độ, trong nhiều trường hợp Lời Chúa đã được ban ra tại các gia đình, tức là trong bối cảnh thường ngày của cuộc sống.

A. Trước tiên vào thời Cựu Ước, chính tại các tư gia mà nhiều lần Thiên Chúa đã công bố những quyết định của Người và trao phó sứ mệnh cho con người:

        - Chính tại căn lều của cụ Ap-ra-ham, ba vị sứ giả của Thiên Chúa đã thông báo rằng: vào ngày này sang năm, bà Sa-ra sẽ sinh con.

        - Chúa sai ngsu Sa-mu-en đến nhà ông Giê-xê Chính tại nơi đây Chúa chỉ định Đa-vít làm vua, con Sa-mu-en chỉ làm công việc xức dầu phong vương.

        - Ngay cả đối với cuộc cử hành tôn giáo quan trọng nhất là Lễ Vượt Qua chẳng hạn, người Do Thái có thói quen mừng lễ ấy trong khuôn khổ gia đình của họ. Người chủ gia đình là người phải nắm vững cả một nghi thức rườm rà, phức tạp.

        - Lại nữa, gia đình là môi trường đầu tiên để người Dothái truyền đạt và đón nhận Lời Chúa. Công thức truyền đạt Lời Chúa rõ ràng vàquen thuộc nhất của người Do Thái là: “Nghe đây, hỡI Ít-ra-en ! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ. Anh em hãy lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy” ( Đnl 6, 4 – 7 ) Đoạn văn tiêu biểu trên đây trong sách Đệ Nhị Luật cho thấy gia đình là môi trường thông thường để người Do Thái công bố, truyền đạt và lắng nghe Lời Chúa.

B. Bước sang Tân Ước, tư gia là môi trường khá thông thường được Chúa Giê-su dùng để ngỏ Lời mạc khải.

        - Tin Mừng thời thơ ấu của Chúa Giê-su là những trang đẹp nhất cho thấy Lời Chúa được công bố tại các gia đình: Biến cố Truyền Tin diễn ra trong khuôn khổ một gia đình; Bài ca Magnificat của Mẹ Ma-ri-a và ca khúc Benedictus của Da-ca-ri-a không phải là những sáng tác từ trong các Tu Viện essénien mà lại là hai ca khúc bộc phát ngay từ trong gia đình.

        - Chúa Giê-su đã loan báo Tin Mừng ở hoang địa, trên bãi biển, trên triền đồi, trong các nhà hội, tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã đành, nhưng còn trong cả các tư gia: Có lần Người giảng dạy tại một tư gia. Thiên hạ tuôn đến nghe, lớp trong lớp ngoài đông đảo đến nỗi để đưa một người bại liệt đến trước mặt Người, người ta phải dỡ mái nhà để thòng một người bại liệt xuống; Chính tại nhà của ba chị em Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô ở Bê-ta-ni-a và giảng dạy cho bà Ma-ri-a, em của bà Mác-ta. ( Lc 10, 38 – 42 ); Chính tại nhà ông Si-mon biệt phái, trong một bữa ăn, Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn hai người mắc nợ, kẻ 50, người 500... để kết luận “Ai yêu mến nhiều thì được tha nhiều” ( xem Lc 7, 36 – 50 );

        - Tại nhà của Lê-vi, trong một bữa nhậu từ giã các đồng nghiệp, do Lê-vi thết đãi, Chúa Giê-su đã nói rõ lập trường của Người: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần... Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” ( Mt 9, 12.13b ). Và tại nhà ông Gia-kêu, Người cũng dạy một Giáo Lý tương tự như thế: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” ( Lc 19, 10 ).

Vào một ngày Sa-bát, Người dùng bữa tại nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu. Nơi đây Người đã dạy rằng được phép làm việc lành vào ngày Sa-bát khi Người chữa lành người mắc bệnh phù thũng ( xem Lc 14, 1 – 6 ); Ngay cả Lời Truyền phép để cử hành Thánh lễ đầu tiên là Bí Tích cao trọng nhất, cũng được Người đọc trong một gia đình mà Người quen biết.

Có một điều đáng chú ý nữa là khi Chúa Giê-su sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Người không truyền lệnh cho các ông đến các hội đường, hay đứng giữa các ngã ba đường để lớn tiếng giảng dạy như thói quen của các Ráp-bi vào thời ấy, nhưng Người lại truyền lệnh là đến từng nhà. Thánh Lu-ca viết như sau: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này... Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó...” ( Lc 10, 5 – 8 ). Tại sao lại rao giảng Lời Chúa trong gia đình, mà không phải ở ngoài chợ búa, nơi công cộng ? Phải chăng vì gia đình có bầu khí thích hợp để người ta dễ đón nhận Tin Mừng hơn ?

C. Sang thời Giáo Hội sơ khai, gia đình càng là nơi ưu tiên để Lời Chúa được công bố và triển khai:

Chính trong một căn hộ, tức là Nhà Tiệc Ly, mà Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các môn đệ Chúa Giê-su, chứ không phải tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem hay tại một hội đường. Dĩ nhiên các tín hữu tiên khởi cũng đến cầu nguyện tại Đền Thờ như những người Do Thái khác. Nhưng sinh hoạt chủ yếu là lắng nghe Lời Chúa và tham dự Lễ Bẻ Bánh lại chỉ diễn ra tại các tư gia mà thôi. Những ngôi nhà trong đó các tín hữu tiên khởi gặp gỡ nhau chính là Giáo Hội Tại Gia đúng nghĩa nhất. Thánh Lu-ca trong sách Công Vụ các Tông Đồ đã tóm tắt cuộc gặp gỡ có tính cách gia đình của các tín hữu tiên khởi để nghe Lời Chúa và tham dự Lễ Bẻ Bánh như sau: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự Lễ Bẻ Bánh, và cầu nguyện không ngừng. Khi làm lễ Bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” ( Cv 2, 42. 46b ). Trong các cuộc hành trình truyền giáo của mình, Thánh Phao-lô Tông Đồ cũng thường giảng dạy tại các tư gia...

Tóm lại, gia đình là nơi ưu việt để người tín hữu lắng nghe Lời Chúa.

III. ĐƯA LỜI CHÚA VÀO TRONG GIA ĐÌNH

Trong chương trình cứu độ của Người, Thiên Chúa?ã dùng hết mọi phương cách để ngỏ Lời của Người cho loài người. Và một trong những phươngcách, đó là dùng chính gia đình làm nơi công bố Lời Chúa. Có lẽ đây cũng là một trong nhiều lýdo đã khiến Giáo Hội cổ võ phong trào đưa Lời Chúa vào trong gia đình.

        1.  Trong những năm gần đây, Giáo Hội Việt Nam đã có những sáng kiến đưa Lời Chúa vào trong gia đình, chẳng hạn như: Mỗi gia đình nhận Lộc Lời Chúa đầu năm âm lịch, lễ Tết; Đọc Lời Chúa trong các buổi kinh chung của các giáo khu hoặc giáp, hoặc liên gia; Đọc Lời Chúa trong các buổi kinh chung do các toán của các hội đoàn hay đoàn thể tổ chức trong Tháng Hoa, Tháng Trái Tim, Tháng Mai Khôi vàTháng các Đẳng Linh hồn; Ngoài ra, tại nhiều nơi, khi có lễ giỗ, khi tổ chức viếng xác, khi ăn cưới, Giáo Dân cũng tổ chức suy tôn Lời Chúa.

Thế nhưng đây chỉ là những sinh hoạt theo “thời vụ” tại các gia đình, chứ chưa phải là thường xuyên.

Còn chủ đề của bài thuyết trình hôm nay lại muốn xoáysâu vào việc “thường xuyên đem Lời Chúa vào trong gia đình”. Chính vì thế, có vài vấn nạn được nêu ra: Gia đình phải được hiểu theo nghĩa nào và đâu là thời điểm thuận tiện để đưa Lời Chúa vào trong gia đình.

        - Trước tiên, gia đình được hiểu ở đây không phải là tổng số những cá nhân, những thành viên đơn lẻ của một gia đình, nhưng phải hiểu là một cộng đoàn, một đơn vị, một tập thể sống chung dưới một mái ấm gia đình. Những thành viên ấy được nối kết với nhau vì mối liên hệ máu mủ ruột thịt đã đành, mà còn liên kết với nhau vì truyền thống đặc thù của từng gia đình.

        - Còn về vấn nạn ‘Lúc nào là lúc thuận tiện để đưa LờiChúa vào gia đình’, con xin phép được góp ý như sau: Hẳn quý cha cũng đồng ý là chỉtrong những bữa ăn sáng, trưa, tối và trong những buổi đọc kinh chung gia đình, thì mọi thành viên của gia đình mới họp mặt đông đủ.

Nhưng vì công bố Lời Chúa lại đòi hỏi một bầu khícầu nguyện và lắng nghe Chúa nói, cho nên chỉ có hai giờ Kinh Sáng và Kinh Tối mới thỏa mãn được yêu cầu đó. Và nếu phải chọn một trong hai giờ kinh trên đây để đọc Lời Chúa, có lẽ giờ Kinh Tối là thích hợp hơn, bởi vì vào buổi sáng người người lật đật đi làm, học sinh lo đến trường, đàng khác nhiều gia đình đi tham dự Thánh Lễ sáng; trái lại vào buổi tối, Giáo Dân có nhiều thời giờ cũng như có bầu khí thích hợp hơn. Thật vậy, ngày tàn, màn đêm bắt đầu buông xuống cũng là lúc mọi sinh hoạt ngoài gia đình ngưng nghỉ. Suốt ngày chim muông bay đi kiếm mồi, cuối ngày chúng bay về tổ. Cũng thê, suốt ngày, con người tản mác đi làm, đi học; tối đến, trở vềmái ấm gia đình. Tất cả mọi người thân yêu trong gia đình đều họp mặt: vợ gặp lại chồng, chồng gặp lại vợ; cha mẹ gặp lại con cái, con cái gặp lại cha mẹ. Thật là một quang cảnh thân mật, đầm ấm, thoải mái, hạnh phúc.

        2.  Nhưng để duy trì bầu khí đầm ấm hạnh phúc ấy, các gia đình phải làm gì ? Phải sinh hoạt chung và một trong những sinh hoạt chung của gia đình Công Giáo, đó là cầu nguyện chung.

Đối với người Công Giáo, việc cầu nguyện chung trong gia đình là yếu tố nền tảng để bảo vệ, duy trì và tăng trưởng hạnh phúc gia đình. Nếu bữa ăn gia đình là lúc mọi người ngồi bên nhau chia sẻ lương thực là hoa quả của mồ hôi lao động của người thân trong tâm tình tri ân cảm mến, thì bầu khí thân thương của buổi đọc kinh chung trong gia đình, xét về phương diện tâm lý, cũng là chất keo nối kết mọi thành phần của gia đình.

Ngoài ra, việc cầu nguyện chung trong gia đình còn giúp mọi người trong gia đình giữ vững Đức Tin. Đây là chân lý đã được chứng minh qua lịch sử của Giáo Hội trong mọi thời đại và tại mọi đất nước. Chẳng hạn, Giáo Hội Việt Nam đã đứng vững trong suốt 250 năm bị cấm chế và bách hại. Hoặc Giáo Hội Nhật Bản được khai sinh do lòng nhiệt thành của một số Giáo Dân. Tuy không có hàng mục tử chăm sóc, nhưng nhờ chuyên chăm kinh nguyện trong gia đình mà họ đã giữ vững Đức Tin và ngay cả tuyên xưng Đức Tin trong các cuộc bách hại khủng khiếp. Kinh nguyện trong gia đình là chiều sâu và nền móng vững chãi của Giáo Hội Việt Nam và Giáo Hội Nhật Bản vậy.

        3.  Điểm lại tình hình kinh nguyện hiện tại tại các gia đình Công Giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, ngày nay tình hình đọc kinh sáng tối trên đây đã có phần sa sút. Nhìn vào tình hình cụ thể của các Giáo Xứ, ai cũng có thể tìm ra các nguyên nhân đưa đến việc sa sút trong việc đọc kinh tại các gia đình như sau:

        - Trước hết, đó là nhiều người đọc kinh như một cái máy, miệng đọc làu làu, đọc một mạch như tàu suốt, như xe tốc hành vậy, mà lòng để đâu đâu, đọc kinh như thể trả bài cho xong phận sự, lấy có lấy rồi, thiếu cảm nghiệm về sư hiện diện của Thiên Chúa. Do đó, việc đọc kinh xem ra vô bổ, vô vị, nhạt nhẽo, rỗng tuếch đối với một số người, đặc biệt đối với giới trẻ và họ đâm ra chán.

        - Lý do thứ hai khiến việc đọc kinh trở nên một gánh nặng đối với giới trẻ và giới thiếu nhi, đó là đọc hết kinh này hết kinh khác, còn thêm chuỗi 50, rồi Kinh Cầu Đức Bà. Thế là buổi kinh trở nên dài lê thê. Vẫn biết rằng việc đọc kinh như vậy rất hữu ích đối với các cụ ông cụ bà, nhưng đối với tuổi trẻ là tuổi hiếu động thì kinh hạt như thế quả là một gánh nặng !

        - Lý do thứ ba: Đối với thiếu nhi và giới trẻ, các em còn bị áp lực học hành. Môn học thì nhiều, các em phải tranh thủ gạo bài mà quên hoặc chểnh mảng việc đọc kinh. Ngoài ra, có nhiều cha mẹ khi thấy con học nhiều, tội nghiệp chúng quá, bèn tha đọc kinh.

        - Lý do thứ bốn kiến việc đọc kinh trở nên sa sút, đó là sự hấp dẫn của các chương trình ti-vi và phim truyện Video. Ngoài ra, có nhiều thứ giải trí khác như quán nhạc, chơi billard, chơi game hấp dẫn, lôi cuốn hơn là đọc kinh. Rõ ràng là nhiều bậc phụ huynh còn thiếu sự thích nghi giữa cuộc sống và lòng đạo đức, thiếu bố trí, sắp xếp giờ giấc sinh hoạt của gia đình làm sao vừa thưởng thức cái hay, cái đẹp của những tiện nghi hiện đại, vừa duy trì được sự vẹn toàn của lòng đạo đức. Hẳn đây phải là câu hỏi gây nhức nhối cho các bậc phụ huynh và các vị mục tử trong Giáo Hội.

Tình trạng sa sút có thật trên đây có nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự thiếu hiểu biết hoặc thiếu ý thức của các bậc phụ huynh về tâm lý của thiếu niên và giới trẻ. Tâm lý ấy gồm có 3 đặc điểm sau đây:

        - Ưa chuộng những điều mới lạ.

        - Trân trọng những gì họ tự khám phá ra.

        - Gắn bó với những gì có liên quan trực tiếp và thiết thân với họ.

IV. ĐƯA LỜI CHÚA VÀO GIỜ KINH TỐI

Hiểu được tâm lý giới trẻ, quý cha nên động viên các bậc phụ huynh mạnh dạn tổ chức một hình thức cầu nguyện có tính sáng tạo, tức là đổi mới liên tục, tự phát, dấn thân... cho phù hợp với tuổi trẻ và giới thiếu nhi. Nhờ thế, mọi thành viên của gia đình, bất luận tuổi tác, có thể tham gia tích cực, và do đó đem lại nhiều lợI ích hơn.

Ai cũng rõ cầu nguyện là gặp gỡ, là đối thoại giữa Thiên Chúa và loài người. Đây là cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa, Đấng tạo thành và thụ tạo, cho nên thái độ của con người là tôn thờ và cảm tạ. Nhưng đồng thời đây cũng là cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa là Cha và chúng ta là con, cho nên cuộc gặp gỡ này cũng đượm tâm tình phụ tử, tương tự như con thơ với mẹ mình, như hai bằng hữu tâm sự, như đôi tình nhân trao đổi tâm tư.

Mà gặp gỡ và đối thoại thì có NÓI và có NGHE. Cho nên chúng ta chia giờ cầu nguyện thành hai phần:

        Phần I: Ta nói chuyện với Chúa.

        Phần II: Ta nghe Chúa nói với ta.

Phần I: Ta nói chuyện với Chúa

Vì cầu nguyện là nói chuyện với Chúa, cho nên cần lưu ý đặt mình trước sự hiện diện của Chúa. Xin có một đề nghị cụ thể như sau:

        - Sau khi là dấu Thánh Giá, đọc kinh Chúa Thánh Thần, cả gia đình dành vài phút thinh lặng để đặt mình trước mặt Chúa, củng cố niềm tin vào sự hiện diện của Người ( xin lưu ý là sau kinh Chúa Thánh Thần, đừng đọc các kinh khác một lèo như chúng ta vẫn làm trước đây ). Phút thinh lặng này là giây phút thiêng liêng quan trọng nhất của buổi cầu nguyện, mỗi người có thể giục Lòng Tin, Cậy, Mến, phó thác vào Chúa theo sự tự phát.

        - Tiếp đến là đọc kinh cách chậm chậm, không nóng ruột, mong cho chóng xong chóng rồi. Để tránh việc nóng ruột, chúng ta có thể chia các kinh trải dài trong suốt cả tuần, một cách cụ thể:

        + Chúa Nhật, ta đọc các kinh: Kinh Sấp Mình, Kinh Đội Ơn, Kinh Phù Hộ. Sau đó, hát một bài kính Đức Mẹ, Kinh Truyền Giáo.

        + Sang ngày thứ hai: Sau dấu Thánh Giá, Kinh Đức Chúa Thánh Thần. Im lặng. Đọc tiếp các kinh: Tin, Cậy, Mến, Lạy Cha.

        + Tiếp theo là các ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chúng ta cũng theo thứ tự ấy mà đọc hết các kinh hàng ngày.

        + Riêng ngày thứ tư: Đọc thêm kinh ông Thánh Giu-se.

        + Ngày thứ năm: đọc thêm Kinh Cầu cho các Linh Mục hoặc Kinh Dâng Gia Đình

        + Ngày thứ sáu: đọc thêm kinh cầu Trái Tim

        + Ngày thứ bảy: đọc thêm Kinh Cầu Đức Bà.

Xin lưu ý:

Trong phần thứ I này, không nên đọc nhiều kinh, vì đọc nhiều sẽ sinh ra nóng ruột, và sẽ đọc làu làu, trơn tru như tàu lửa... và như thế sẽ không có tâm tình cầu nguyện, thân thưa với Chúa.

Tiếp theo là phần thứ hai: Lắng nghe Lời Chúa

Phần lắng nghe Lời Chúa cũng quan trọng như phần đầu, bởi vì hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện bà Ma-ri-a, em của Mác-ta, ngồi dưới chân Chúa Giê-su để nghe Người dạy dỗ và Chúa đã khen bà đã “chọn phần tốt nhất mà không ai có thể cướp đi”.

Đây là phần mang tính sáng tạo, tức là đổi mới liên tục, tự phát, dấn thân..., rất phù hợp với tâm lý tuổi trẻ và giới thiếu nhi.

        1. Trước mặt Chúa, chúng ta chào hỏi, bày tỏ tâm tình tin tưởng, cậy trông và nói lên lòng cảm mến tri ân đã đành, nhưng còn phải lắng nghe Chúa nói. Tại sao thế ? Thưa, vì cầu nguyện là một cuộc đối thoại, cho nên ngoài việc nói với Chúa, còn cần phải nghe Chúa nói. Đây là điều mà xưa nay các gia đình Công Giáo Việt Nam ít quan tâm, dù rằng đây là một phần cốt yếu giúp cải thiện cuộc sống. Việc đọc Tin Mừng trong gia đình chỉ mới được thực hiện một cách tương đối rộng rãi từ đầu năm nay, năm Sống Lời Chúa, như Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề ra. Và phải thành thật nhận định rằng quyển cẩm nang mang tựa đề “LỜI CHÚA TRONG GIỜ KINH GIA ĐÌNH” đã góp phần đáng kể vào việc đọc Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện. Quyển cẩm nang này đã trở nên bạn đồng hành của các gia đình trong giờ Kinh Tối.

Cụ thể là, sau khi đã chu toàn phần I ( tức là làm dấu Thánh Giá, đọc kinh Chúa Thánh Thần, thinh lặng và đọc một số kinh ), một thành viên trong gia đình đọc một đoạn Kinh Thánh hay một đoạn Tin Mừng.

Về việc đọc hay công bố Lời Chúa, xin được đề nghị như sau:

Cha mẹ có thể chia cho mỗi người con đọc Kinh Thánh một tuần, tất nhiên là chỉ giao cho những người nào có khả năng đọc trôi chảy và phân câu chiết tự mà thôi. Người đọc Kinh Thánh phải có chố đứng thích hợp, thái độ kính cẩn. Bài sách Nê-khê-mi-a sau đây là một mô hình cho các cuộc cử hành Lời Chúa. Sách viết: “Bấy giờ, muôn người như một, tụ họp ở quảng trường trước cửa Nước. họ xin ông Et-rát là kinh sư đem sách luật Mô-sê ra. Đó là luật đức Chúa đã truyền cho Ít-ra-en. hôm ấy là ngày mồng một tháng thứ bảy, ông Et-rát cũng là tư tế đem sách Luật ra trước mặt cộng đồng gồm đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn... Ông đọc từ sáng tới trưa, và toàn dân lắng tai nghe sách Luật.

Kinh sư Et-rát đứng trên bục gỗ. Khi ông mở sáchra thì mọi người đứng dậy. Bấy giờ Et-rát chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa vĩ đại, và toàn dân giơ tay lên đáp rằng: “Amen Amen !” Rồi họ sấp mặt sát đất mà thờ lạy Đức Chúa. Ông Et-rát và các thầy Lê-vi đọc rõ ràng và giải thích luật của Thiên Chúa, nhờ thế mà toàn dân hiểu được những gì các ông đọc” ( Nh 8, 1 – 8 )

Trong cuộc cử hành Phụng Vụ này, các thừa tác viên đứng ở một vị trí riêng để chu toàn phận vụ, Dân Chúa đứng tại chỗ của mình mà tham dư tích cực bằng thái độ kính cẩn và bằng lời tung hô. Khi thi hành như thế, mọi người đều đã phục vụ Lời Chúa theo chức năng của mình, đề cao Lời Chúa, đón lấy Lời Chúa vào tâm hồn và để cho Lời Chúa tác động. Dĩ nhiên đây là mô hình dành cho các buổi cử hành Phụng Vụ Lời Chúa trong các tập thể và cộng đoàn. Nhưng mô hình ấy cũng có thể áp dụng cho một đơn vị nhỏ, như là gia đình chẳng hạn. Đơn vị gia đình này, khi nghe Lời Chúa, cũng cảm nghiệm một cách cụ thể những ơn lành Chúa đã ban cho gia đình mình hay cho một phần tử nào đó của gia đình.

Ngoài ra, đoạn Kinh Thánh này cũng gợI ý rằng: khi Lời Chúa được tuyên đọc, thì không phải Lời Chúa được gợI nhớ qua một thừa tác viên, một trung gian, nhưng là chính Thiên Chúa hiện diện thiết thực trong Lời của Người và vì chính Người nói khi người ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội ( Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, số 7 ). Như vậy, thái độ của người công bố cũng như người lắng nghe lại càng phải kính cẩn biết bao !

        2. Sau khi nghe bài Kinh Thánh:

Mỗi người hãy hồi tâm nhìn lại những gì đã xảy ra trong gia đình, trong lối xóm, trong cách cư xử của mình đối với người khác. Đối chiếu với Lời Chúa vừa nghe, mỗi người hãy xét mình đã phản ứng như thế nào, đã sống ra sao trước những sự việc ấy.

Tiếp đến, trong sự tin tưởng lẫn nhau, cha mẹ con cái, mỗi người đều có thể trình bày một ngày sống của mình, trong đó mình đã phản ứng, đã cư xử với Chúa và tha nhân có thực sự phù hợp với Lời Chúa mà mình vừa nghe chưa ? Đây là điều mà chúng ta gọi là chia sẻ kinh nghiệm sống.

Vào thời gian đầu mới thực tập, ai cũng cảm thấy ngượng ngùng, vì cha mẹ mà nói lên những khuyết điểm, những thiếu sót của mình trước mặt con cái, xem ra ngượng chết, dị lắm. Nhưng những ai đã can đảm vượt qua được cái tâm lý e dè, ngượng ngùng ban đầu ấy, đều nói rằng chính sự cởi mở, khiêm tốn của cha mẹ sẽ giúp gia đình thăng tiến hơn cả trăm lần những bài học luân lý, đạo đức. ai đã qua cầu, mới cảm nhận được lợiích của việc chia sẻ kinh nghiệm sống của mình cho người khác.

Lắng nghe Lời Chúa qua bản văn Kinh Thánh, mỗi người sẽ được thôi thúc để lắng nghe những mơ ước, mong đợi, những nhu cầu của mọi thành viên khác trong gia đình. Cuộc sống chung trong gia đình giữa vợ chồng cha mẹ con cái, giữa anh chị em với nhau, tuy rất gần gũi, nhưng không vì thế mà đã có thể đi vào nội tâm của nhau, hiểu rõ những mơ ước cũng như những uẩn khúc của nhau. Biết bao người con đã phải thốt lên: “Cha mẹ chẳng hiểu con gì hết!” Cho nên Lời Chúa vừa nghe phải gợi lên cho mọi người trong gia đình những gì mình có thể làm cho nhau.

Không ai có thể gặp gỡ Thiên Chúa khi không muốn gặp gỡ anh em. mọi người trong gia đình không thể đến gặp gỡ Chúa qua Lời của Người mà long còn cưu mang cay đắng, buồn phiền. Không ai có thể oang oang đọc kinh hoặc nghe Chúa nói mà long còn chất chứa ưu phiền. nếu đã có những xích mích, hiểu lầm giữa nhau, thì đây là giây phút để xin lỗi nhau và tha thứ cho nhau: “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” ( Ep 4, 2 ).

Lắng nghe Lời Chúa trong gia đình không chỉ là rà xét lại cách hành xử của mình đối với Chúa, không chỉ là lắng nghe tâm sự, mơ ước của mọi người trong gia đình để đáp ứng, cũng không chỉ là hoà giải giữa các thành viên trong gia đình, mà còn là giờ dể rà xét lại mối tương quan của gia đình đối với người ngoài gia đình, đối với làng xóm.

Nhìn lại cuộc sống dưới ánh sáng của Lời Chúa, gia đình không thể không duyệt lại mối tương quan của mình đối với các gia đình trong khu xóm. Do đó, nếu gia đình mình có diều chi sứt mẻ với những người lối xóm chẳng hạn, thì đây là lúc mọi người trong gia đình nên tìm ra một giải pháp cụ thể để làm hoà với mọi người.

Lắng nghe Chúa rồi lắng nghe những nhu cầu của mọi người trong gia đình mà thôi, chưa đủ, mà còn phải lắng nghe những tiếng rên rỉ của những người bên cạnh nhà mình... Nếu trong xóm có gia đình gặp khó khăn, gặp tai nạn hay một điều bất công, thì đây là lúc mọi người trong gia đình nên tìm ra một phương án cụ thể để giúp đỡ, để an ủi, để khích lệ. Họ là hiện thân của Đức Ki-tô đang vác thập giá, và họ đang cần những Si-mon Xy-rê-nê vác đỡ một tay. Lắng nghe Lời Chúa chỉ trở nên trọn vẹn, khi mọi người trong gia đình biết hướng tới tha nhân.

Lắng nghe Lời Chúa, do đó, là một quyết tâm. Nói đến quyết tâm là nói đến cải thiện, canh tân. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong ‘Phần lắng nghe Lời Chúa’ của gia đình. Nếu gia đình không trở nên lành mạnh hơn, thì đọc kinh cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa chỉ là chiếu lệ, máy móc, vô hồn, là trốn tránh thực tế. Trong khi đó, cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa đúng nghĩa phải dẫn đến hành động thực tế, nghĩa là phải giúp con người đương đầu với thực tế để nhằm cải thiện nó.

Trên đây là một trong nhiều mô hình của buổi cầu nguyện ban tối trong gia đình, trong đó thể hiện sự nối kết hài hoà hai phần: nói với Chúa và nghe Chúa nói. Và đây cũng là một cách thức ‘Đưa Lời Chúa vào trong gia đình’.

Mô hình này xem ra đáp ứng niềm thao thức của nhiều bậc phụ huynh tha thiết với cơ đồ của Giáo Hội khi đứng trước tình trạng sa sút kinh hạt trong gia đình ngày nay.

Đây là một mô hình đáp ứng tâm lý của giới trẻ và thiếu nhi thường chỉ ưa chuộng những điều mới lạ, chỉ trân trọng những gì họ tự khám phá ra, chỉ gắn bó với những gì có liên quan trực tiếp và thiết thân với họ.

Đồng thời cũng là một mô hình cân đối trong cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, bởi vì có hai phần: nói với Chúa và nghe Chúa nói.

Thế nhưng phải chăng mô hình này xem ra quá lý tưởng không thể thực hiện được ? Thưa, không, bởi vì đã có một số gia đình thực hiện mô hình này và quả thực gia đình họ đã trở thành những tổ ấm thực sự thánh thiện và hạnh phúc.

Dĩ nhiên mô hình này cũng đòi hỏi các mục tử phải vất vả nhiều hơn trong việc dọn bài giảng hằng ngày trong Thánh Lễ, trong việc tổ chức học hỏi Kinh Thánh hằng tuần cho Giáo Dân. nhờ đó mới có đủ kiến thức tối thiểu hầu có thể hiểu đúng nội dung Lời Chúa mà họ tuyên đọc hắng ngày trong buổi gặp gỡ Chúa trong gia đình và cũng nhờ đó mà họ mới có thể chia sẻ kinh nghiệm sống của mình cho các thành viên khác của gia đình.

CÂU HỎI GỢI Ý HỘI THẢO:

1. Những phương tiện giải trí hiện đại có gây nhiều trở ngại cho buổi gặp gỡ Chúa vào ban tối không ? Phải khắc phục thế nào ?

2. Mô hình ‘Nói với Chúa và nghe Chúa nói’ có những ưu điểm và khuyết điểm nào ?

3. Việc ‘Đưa Lời Chúa vào trong giờ kinh nguyện của gia đình’ có thể cứu vãn được phần nào tình trạng sa sút nơi giới trẻ và thiếu nhi trong việc kinh hạt không ?

4. Bạn hãy chia sẻ những hình thức hoặc mô hình khác nhằm mục đích đưa Lời Chúa vào gia đình.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An, chuyển đăng

VỀ MỤC LỤC
Ngôi sao Thánh gía Chúa Giêsu trong vũ trụ

 

Từ trên không gian cao xa khỏi mặt đất, các Phi hành gia vũ trụ nhìn xuống địa cầu, họ thấy trái đất hình tròn mầu xanh lấp lánh sáng chói

Những ngày đẹp trời không cơn mây mưa, bầu trời chiếu tỏa mầu xanh trong sáng 

Ban đêm các ngôi sao trên nền trời, được Thiên Chúa tạo dựng từ thuở tạo dựng vũ trụ vào ngày thứ tư ( St 1, 16-19), chiếu toả sáng trong xanh lấp lánh không khí thi vị niềm hy vọng.

Mầu xanh trong sáng của bầu trời nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa. Các Tôn giáo đều tin sự hiện diện của Thiên Chúa trong vũ trụ, cho dù họ gọi Ngài bằng tên khác nhau, như Thượng Ðế, Trời, Ðấng Càn Khôn...và cùng có những hình ảnh mường tượng về Ngài khác nhau.

Người tín hữu Chúa Kitô tiếp nhận sứ mạng của Chúa Giêsu: Anh em hãy đi giảng dạy muôn dân. Làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần!

Nói một cách khác: Anh em là những tín hữu của Thầy. Anh em hãy mang Thánh gía, dấu hiệu niềm tin, niềm hy vọng và sự sống của Thầy đến cho mọi người trên trần gian được biết cùng tin nhận vào.

Cây Thánh gía Chúa Giêsu được làm kết bởi hai cây gỗ theo hình chữ thập: một chiều dọc thẳng đứng, và một chiều ngang. Ngôi sao mang chiếu tỏa ánh sáng niềm hy vọng. Ta dùng các ngôi sao kết hình cây Thánh gía bằng chín ngôi sao có năm cánh giống nhau: chiều dọc thẳng đứng với năm ngôi sao ( 1,2,3,4,5), chiều ngang với bốn ngôi sao (từ bên trái sang phải 6,7,8,9). Thánh gía Chúa Giêsu chiếu tỏa ánh sáng soi đường cho con người trong cuộc sống.

Các ngôi sao chiều thẳng đứng

Ngôi sao số một muốn nói lên: Vũ trụ cần ngôi sao dẫn đường chỉ phương hướng. Như người vượt biển, lạc lối trong rừng giữa đêm khuya, nhìn lên ngôi sao Bắc Ðẩu, ngôi Mai tìm nhận ra phương hướng lối đi.

Ngôi sao số hai muốn nói lên: Ngôi sao Chúa Giêsu xuất hiện trong đêm tối. Ngài là Thiên Chúa đã xuống làm người với thân xác máu mủ như mọi người trên trần gian. Ngài là ngôi sao chỉ lối cho mọi người đi đúng đường, đúng phương hướng.

Ngôi sao số ba muốn nói lên: Ngày xưa khi Chúa Giêsu sinh ra trên trần gian, ba nhà Ðạo sĩ từ phương xa đã theo ngôi sao hài nhi Giêsu dẫn dường và đã tìm thấy Chúa Giêsu, vị Vua mới sinh. Ngôi sao dẫn đường chỉ lối không chỉ cho các Ðạo sĩ từ phương xa tìm đường đến với Chúa, nhưng cho hết mọi dân tộc trên trần gian. Tất cả đều được mời gọi đến với Thiên Chúa đã sinh ra làm người.

Ngôi sao số bốn muốn nói lên: Ngôi sao truyền giáo. Các Vị Truyền giáo xưa nay cảm nghiệm bị thôi thúc ra đi rao giảng, làm nhân chứng cho Tin mừng Chúa Giêsu đến tận cùng trái đất. Họ từ bỏ nhà cửa quê hương xứ sở, sang tận những miền xưa xa lạ sống rao giảng làm chứng, như một ngôi sao bé nhỏ, cho Thánh giá Chúa Giêsu Kitô. Mọi người tín hữu Chúa Giêsu Kitô, từ ngày lãnh nhận làn nước Bí tích Rửa tội và ánh sáng cây nến phục sinh Chúa Giêsu, cũng là những người truyền giáo cho Ngài từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội bằng lối sống đức tin.

Ngôi sao số năm muốn nói lên: Ngôi số năm đứng ở vị trí tận cùng chiều thẳng đứng cây Thánh gía. Số năm là con số biểu hiệu cho tình yêu và sự sống. Con số năm là số lẻ nhưng nói lên sức sống đang vươn lên. Thiên Chúa là sự sống và tình yêu 

Các ngôi sao chiều ngang

Ngôi sao số sáu từ bên trái chiều ngang muốn tượng trưng cho Âu châu, Mỹ châu và Ðại dương châu. Niềm tin đạo Công giáo từ thời Gíao hội Công giáo còn sơ khai đã phát triển lớn mạnh từ những vùng đất nước của ba châu lục này. Nhưng ngay nay, bước sang ngàn năm thiên niên kỷ thứ ba, đời sống đức tin càng dần yếu kém đí, số người đi nhà thờ càng ít đi, số người ra khỏi đạo, lơ là với đức tin Công giáo càng nhiều, các giáo phái và những nhóm tách rời khỏi đạo Công giáo như đang trên đà phát triển thắng thế chiềm ngự được lòng người nhiều hơn. Nhiều nước công giáo ở Ậu Châu đang trở thành những nước „ truyền giáo“, dù hằng thế kỷ trước đây họ là những nước gửi người đi truyền giáo ở Phi châu, ở Á châu. Lòng tin tưởng vào Chúa trở nên xa lạ. Họ cần ánh sáng của Chúa soi sáng biết trở về với Chúa.

Ngôi sao số bảy bên trái chiều ngang muốn nói lên bảy ân đức của Thành thần Thiên Chúa. Sự trợ giúp của Thánh thần Thiên Chúa rất cần thiết cho mọi người, nhất là những khi họ sa lầy lâm vào vòng nghi ngờ, ghen ghét hận thù nhau. Ân đức của Thánh Thần Thiên Chúa giúp tâm trí con người nhìn hi