Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 58, Chúa nhật 12.11.2006


  Các số báo đã phát hành       MỤC LỤC

Thiên Chúa muốn cho Loài Người xây dựng Thế Giới tốt đẹp hơn                         Vatican 2

“MỘT MAI TÔI SẼ CHẾT, TRÊN ĐƯỜNG VỀ CÕI HẾT...”                     Lm. Vĩnh Sang, DCCT

ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NHAU DỰA TRÊN VẬT CHẤT                                       Lm. Vũ Xuân Hạnh

PHỤC SINH NỤ CƯỜI                                                       Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

BẤT ÐỒNG HAY BẤT HÒA                                                                     Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

Sữa và mật                                                                                       Lm. Nguyễn Ngọc Long

Khích Lệ (bài 2)                                                                                        Lm. Lê Văn Quảng

CHỐN /CÕI /LỬA ĐỜI ĐỜI                                                             Phó tế GB. Nguyễn Định

Một chuyện ngụ ngôn về sự tha thứ: Alfred và Adèle          Lm. Jean Monbourquette OMI

CANH TÂN TINH THẦN SỐNG LỜI CHÚA                                                                Tuỵ Hiền

Tác phẩm Đường Hy Vọng (tiếp theo)                               + Cố HY. FX. Nguyễn Văn Thuận

RÁN SÀNH RA MỠ                                                                      Chuyện phiếm của Gã Siêu


Thiên Chúa muốn cho Loài Người xây dựng Thế Giới tốt đẹp hơn

 

Ý định của Thiên Chúa về thế giới là loài người đồng tâm xây dựng và làm cho trật tự trần thế luôn tôt đẹp hơn. Tất cả những gì tạo nên trật tự trần thế, như giá trị của cuộc sống và của gia đình, văn hoá, kinh tế, nghệ thuật và nghề nghiệp tổ chức cộng đồng chính trị, bang giao quốc tế, và những thực tại tương tự khác, cũng như sự biến chuyển và tiến bộ của chúng, hoặc xét trong chính bản tính của chúng, hoặc xét như thành phần của toàn thể trật tự trần thế, chẳng những là phương thế giúp con người đạt tới mục đích tối hậu, mà còn có giá trị riêng do Thiên Chúa phú bẩm: "Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tôt đẹp!" (St 1,31). Sự thiện hảo tự nhiên ấy của vạn vật còn mặc nhiên có thêm một giá trị đặc biệt do sự liên hệ của chúng với con người, vì chúng được tạo dựng để phục vụ con người. Sau cùng, Thiên Chúa đã vui lòng quy tụ mọi loài, tự nhiên cũng như siêu nhiên, nên một trong Đức Ki-tô Giê-su "để trong mọi sự Người đứng hàng đầư" (Cl 1,18).

Nhưng sự đặt định này chúng những không làm cho trật tự trần thế mất sự tự lập, mất cứu cánh riêng cũng như các định luật và những phương tiện riêng, hay mất tầm quan trọng đối với ích lợi của con người, mà trái lại còn làm cho sức mạnh và giá trị riêng của trật tự đó thêm hoàn hảo, đồng thời nâng cao cho hợp với thiên chức toàn vẹn của con người trên trái đất.

Qua dòng lịch sử, việc sử dụng những sự vật trần thế mắc phải những sai lạc trầm trọng bởi vì loài người do ảnh hưởng của tội nguyên tổ, thường sa vào nhiều lầm lẫn về Thiên Chúa đích thực, về bản tính con người và về những nguyên tắc của luật luân lý; điều đó khiến cho phong hoá và những tổ chức của loài người bị hư hỏng và chính nhân vị đôi khi cũng bị chà đạp. Ngày nay cũng vậy, nhiều người vì quá tin tưởng vào tiến bộ khoa học và kỹ thuật, nên dường như muốn tôn thờ sự vật trần thế đến nỗi trở thành nô lệ hơn là làm chủ của chúng.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 7).

VỀ MỤC LỤC
“MỘT MAI TÔI SẼ CHẾT, TRÊN ĐƯỜNG VỀ CÕI HẾT...”

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

Tôi vừa đi bệnh viện thăm một người anh em Linh Mục, vốn là một bác sĩ lâu năm trong nghề. Ngài từng chăm sóc cho biết bao nhiêu người tại bệnh viện, nhưng lần này thì chính ngài lại được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Những chẩn đoán ban đầu của y khoa cho biết: ngài bị ung thư đại tràng và đã di căn vào gan. Đến bên giường bệnh, nhìn ngài nằm yên lặng mệt mỏi, nghe đâu mất máu nhiều lắm, đã phải truyền hơn 5 đơn vị máu rồi. Người anh em nói trong hơi thở nhẹ nhàng mong manh: “Phú thác cho Chúa thôi !” Người bác sĩ chữa trị, cũng là người con tinh thần của ngài, nói với chúng tôi qua hai con mắt đỏ hoe: “Trễ quá rồi !”

Mới mấy hôm trước anh em chúng tôi còn gặp nhau, còn cười nói, còn trao đổi, còn suy tư với nhau nhiều điều trăn trở, hôm nay ngài nằm đó, người bác sĩ Linh Mục đã không chẩn đoán kịp bệnh trạng của chính mình. Anh em trong Nhà thở dài: “Dao sắc không gọt được chuôi !”

Tôi trở về và dọn bài cho ngày mồng 2 tháng 11. Ngồi nghiền ngẫm với bài đọc thứ hai của giờ Kinh Sách, Thánh Ambrosio viết về cái chết nhân dịp ông Satiro ( anh của ngài ) qua đời: “Chớ gì mỗi ngày chúng ta tập làm quen và yêu mến sự chết, để nhờ sự tách biệt này, linh hồn chúng ta học cho biết đoạn tuyệt với các dục vọng thể xác, và một khi được đặt ở chốn cao siêu, nơi các ham muốn trần tục không thể tới cũng không khuyến dụ được nó, linh hồn đón nhận được hình ảnh của sự chết, để khỏi phải chịu hình phạt của sự chết.” ( Bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ ).

Lời tuyên xưng đức tin và từ bỏ ma quỷ, từ bỏ những quyến rũ, từ bỏ những sự sang trọng của Thần Dữ ấy, chúng ta sang sảng công bố trong ngày lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, và hằng năm trong đêm Vọng Phục Sinh ta vẫn long trọng lập lại lời tuyên bố ấy, nhưng có lẽ chưa bao giờ chúng ta mạnh mẽ đủ để thực hiện điều ấy, chúng ta luôn bị ràng buộc với những quyến rũ của thế gian, của dục vọng và đam mê. Quyền lực, tiền bạc, tình ái, hận thù, danh vọng, ...cứ mãi đeo bám ta như bóng với hình, đúng hơn như một thứ đỉa đói hút lấy máu Sự Sống của ta mà ta cứ ngỡ mình thong dong tự do ghê lắm !

Tập làm quen với cái chết, yêu mến cái chết là phương kế mà Thánh Ambrosio đề nghị chúng ta thực hành để đạt được lời cam kết. Chúng ta thường ra nghĩa địa với tâm trạng của một người sống đi cầu nguyện cho người chết, của một người con ra thăm để báo hiếu cha mẹ, của một người bạn đến thăm để vẹn nghĩa bằng hữu... chúng ta thiếu mất một cơ may để chiêm nghiệm sự chết, để yêu mến sự chết, và vì thế cũng thiếu luôn một dứt khoát với những quyến rũ của thế gian.

Cha Quang Uy biết được những ngày này tôi vẫn đang đắm mình trong mạch ý niệm suy về Sự Sống và Sự Chết nên đã tìm gửi cho tôi một bộc bạch tâm sự của nhạc sĩ thiên tài Mozart, người có tên gọi là “Amadeus”, nghĩa là “người được Thiên Chúa yêu thương”. Đây là một đoạn trích từ lá thư đề ngày 4.4.1786, Mozart gửi cho một người bạn, khi ông vừa nhận được tin thân phụ mình đang hấp hối:

”...Vì Sự Chết, xét cho thấu, là mục đích cuối cùng của cuộc sống, cho nên từ ít năm nay, tôi đã làm quen với Người Bạn thật tình và trọn hảo nhất ấy của loài người, cho đến nỗi, hình ảnh Sự Chết không những chẳng còn gì đáng khiếp sợ đối với tôi, ngược lại, đó lại là một niềm thanh thản rất an ủi cho tôi. Và tôi cảm ơn Thiên Chúa của tôi, Ngài đã cho tôi cái diễm phúc có được cơ hội để học biết và nhìn nhận Sự Chết như là chìa khóa mở cửa Hạnh Phúc cho chúng ta...

Tôi không bao giờ đi ngủ mà không nghĩ đến có thể ngày mai đây, mặc dù tôi vẫn còn trẻ trung đấy, tôi cũng sẽ không còn sống nữa ! Ấy vậy mà trong tất cả những ai quen biết tôi, chẳng có ai có thể bảo rằng tôi âu sầu hay buồn chán trong lúc trò chuyện...

Mỗi ngày tôi đều cám ơn Đấng Tạo Hóa của tôi về niềm hạnh phúc ấy, và tôi cũng thành thật mong muốn cho anh em đồng loại của tôi có được diễm phúc này...”

Ngày 31.10.2006, báo Phụ Nữ có đăng một bài phỏng vấn ông Đỗ Đức Cường, người sáng chế ra máy rút tiền ATM mà ngày nay chúng ta đang quen dần với nó trên mọi ngã đường của các đô thị. Phóng viên hỏi ông: “Thời gian làm việc tại Sài-gòn, ông có hay về quê ?” – “Tôi rất thích về quê, nơi đó làm cho tôi thanh thản. Cuối mỗi tuần tôi thường về quê của các nhân viên và mỗi hai tháng lại về Quảng Ngãi quê tôi. Tôi thích ngồi cạnh mộ mẹ tôi và thích nhìn ngắm ngôi mộ của tôi đã xây bên cạnh đó...”

Phóng viên lại hỏi: “Ông bị bệnh tim, nhưng lại làm việc mỗi ngày từ 14 – 16 giờ. Phải chăng ông đang cố chạy đua với thời gian ?” – “Tôi luôn cảm thấy, nếu hôm nay mình không xong việc thì ngày mai không biết có còn cơ hội nữa không ! Tôi đã chuẩn bị và biết rằng sẽ có một giấc ngủ mà tôi không thức dậy nữa. Cho nên những ngày sống một mình ở đây, tôi cũng tạo cho mình một thói quen mặc quần áo tử tế khi đi ngủ. ( Bài phỏng vấn tiến sĩ Đỗ Đức Cường, “Với tôi, mẹ như một viên thuốc an thần !”, ký giả Minh Nhật, báo Phụ Nữ số 84 ra ngày 31.10.năm 2006 ).

Vâng, ngồi nhìn ngắm mộ của cha hoặc mẹ, ngồi nhìn ngắm mộ của... chính mình, lòng chúng ta được thanh thản và dễ dàng chuẩn bị cho một cuộc ra đi vĩnh viễn.

Chúng ta đã ra nghĩa trang hàng trăm lần, đã bao giờ chúng ta ngồi nhìn ngắm ngôi mộ của người thân để chiêm nghiệm về cái chết và về một sự ra đi cho thanh thản lòng mình ? Nhạc sĩ Phạm Duy ôm đàn ghi-ta tự hỏi: “Một mai tôi sẽ chết, trên đường về cõi hết, tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây ?...”

Lời Chúa vẫn cứ còn đấy, hãy tỉnh thức và sẵn sàng luôn !

Lm. VĨNH SANG, DCCT, Lễ các Đẳng 2006

VỀ MỤC LỤC
ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NHAU DỰA TRÊN VẬT CHẤT

  

Chúng ta đang sống trong thời buổi kinh tế thị trường. Nền kinh tế này, bây giờ đã đi vào từng nếp sống, nếp nghĩ của mỗi người từ lúc nào không hay, đến nỗi nó làm cho con người ta cuốn theo nó như một cái máy, cố làm sao phải tạo được nhiều của cải, càng nhiều, càng tốt, nhưng phải rẻ, bền, đẹp để bán nhanh nhất, đủ sức cạnh tranh, đủ sức tồn tại, để ông chủ có thể đứng vững, không những không bị phá sản mà còn phải giàu, giàu hơn nữa. Để tạo được những sản phẩm có thể đáp ứng những nhu cầu đó, nghĩa là vật chất làm ra phải tính toán thế nào để có giá trị cao, thì ngược lại, số lượng công nhân làm việc phải hết sức giới hạn. Sức lao động phải đứng hàng thứ yếu. Tiền lương dành cho người công nhân càng thấp, càng tốt. Vì người lao động ít, trong khi sản phẩm đòi phải làm ra nhiều nhầm mang lại thật nhiều lợi nhuận cho chủ, vì thế anh chị em công nhân phải làm thêm, phải tăng ca liên tục. Về phía anh chị em công nhân, vì đồng lương ít ỏi, nên tự bản thân thấy cần phải làm thêm, hay chấp nhận tăng ca là cách duy nhất khả dĩ có thể giúp họ có thêm thu nhập. Các chủ ông, chủ bà lợi dụng sự cần kiếp này của công nhân để rốc hết sức lực của họ. Tăng ca, thay vì là sự tự nguyện của người công nhân, bây giờ đã trở thành giờ quy định và ép buộc phải tăng ca và tăng liên tục. Nếu không chấp nhận như thế, sẽ có những biện pháp phạt, ít là bị đuổi việc. Hóa ra tăng ca không còn là tăng ca nữa, nhưng là kéo dài giờ làm đến khuya khoắt đã trở thành chuyện thường ngày.

Nhưng cuối cùng, tất cả những điều đó nhằm mục đích gì? Nhằm phục vụ sản phẩm, nói cách khác, phục vụ giá trị vật chất, để vật chất đó sẽ đem lại sự giàu có cho ông chủ. Còn những kẻ làm chủ, nhờ bóc lột sức lao động của công nhân, càng có cơ hội củng cố quyền hành, củng cố vị thế của mình. Khi quyền hành tập trung, tiền của tập trung, họ bắt đầu thao túng, thủ đoạn, mua chuộc như bảo đảm cho những thủ đoạn, những cách thức làm giàu phi pháp của họ không bị phát hiện, hoặc nếu có bị phát hiện cũng được bưng bích… Và như thế, sức lực của người công nhân bỏ ra, càng ngày càng giúp phát triển theo chiều hướng tốt cho họ, dẫu là chà đạp trên sự sống, trên nhân phẩm của công nhân.

Chỉ có anh chị em công nhân là người chịu thiệt thòi nhất. Các chủ đầu tư không ngừng dùng thủ đoạn, ít nữa là biện pháp để khống chế công nhân như sẵn sàng đuổi việc, cách chức, giảm tiền lương, kỷ luật, thậm chí đánh đập…

Nói lên tất cả nhửng điều này để thấy rằng, kinh tế thị trường, dĩ nhiên có mặt tốt của nó, nhưng mặt khác, nó đè bẹp giá trị của lao động, của người lao động nói riêng và con người nói chung. Kinh tế thị trường đang tạo ra một mâu thuẫn quá sức lớn giữa con người và vật chất. Nó làm đảo lộn giữa hai nhân tố ấy: Nghĩa là giá trị vật chất mới quan trọng, còn con người chỉ đứng hàng thứ yếu. Con người phải phục vụ tối đa cho sản phẩm, cho vật chất mà chính mình tạo ra.

Nói như thế để bạn cùng tôi nhìn lại thái độ của Chúa Giêsu qua Tin mừng hôm nay. Nếu so với các nhà kinh tế, chắc chắn Chúa Giêsu không phải là nhà kinh tế, càng không thể làm kinh tế. Bởi cái cách đánh giá tiền của Chúa Giêsu bé quá, đánh giá lòng người trọng quá. Chỉ mới nhìn thấy bà góa cùng đinh bỏ hai đồng bạc kẻm vào thùng tiền trong đền thờ, Chúa đã khen lấy, khen để, khen nức, khen nỡ, khen như chưa từng được hai đồng bạc vậy: “Bà này bỏ vào thùng tiền nhiều hơn hết”. Nhiều hơn hết là bao nhiêu? Làhai đồng kẻm, không được một nửa xu (không được ½ xu), chỉ đúng mmột phần tư xu (¼ xu).

Nhưng Chúa có lý do để khen ngợi: Vì “bà đã bỏ vào thùng tất cả những gì mình có để sống”, mặc dù cái có để sống đó quá ít: chưa tới một phần tư xu. Hóa ra Chúa có một tiêu chuẩn đánh giá hoàn toàn khác người. Người không đánh giá khi nhìn bề mặt, càng không hề mang nặng thứ tâm lý kinh tế thị trường, chỉ đánh giá hoàn toàn do lòng chúng ta. Người không đánh giá con người dựa trên vật chất, nhưng đánh giá dựa trên tình yêu, và nhìn vào tâm hồn con người mà đánh giá. Bởi thế, dù cho chỉ có hai đồng tiền kẻm, nhưng bằng một tâm hồn đầy lòng đạo đức, một đức mến hoàn toàn vô vị lợi, hai đồng tiền kẻm ấy cũng trở nên lớn nhất: Nó nhiều hơn tất cả. Lời dạy của Chúa Giêsu còn đó, là bài học cho mọi người, cho bạn và cho tôi.

Ở ngoài xã hội, người ta đã đánh giá nhau dựa trên giá trị vật chất quá nhiều rồi, và chính chúng ta, không ít lần là nạn nhân của cái tâm lý kinh tế thị trường ấy. Lỡ một lần nào đó, đến một nơi nào đó, người ta thấy mình mặc cái áo đã cũ, hình như sự tiếp đón cũng lạnh nhạt theo chiếc áo cũ ấy. Kinh tế thị trường đi vào từng ngỏ ngách của đời sống, vì thế vô hình chung, nó cũng len lỏi vào trong nếp sống của gia đình. Là mái nhà chung của những người cùng ruột thịt, huyến thống, vậy mà chính nền tảng của xã hội là gia đình lại báo động về sự rạn nứt, bởi những người thân giờ đây nhìn nhau qua lăng kính vật chất, đánh giá nhau dựa trên đồng tiền. Chẳng hạn có những đứa con trong gia đình làm ra tiền, sắm cái này, mua cái kia, bỗng dưng tiếng nói của đứa con đó có giá trị. Nếu kinh tế gia đình hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào đứa con ấy, chắc chắn, không sớm thì muộn, nó sẽ có quyền quyết định trên mọi thứ, mọi vấn đề trong chính gia đình ấy. Hoặc người vợ nhận tiền lương của chồng, hay ngược lại, người vợ phải lo gia đình, thì những người lo gia đình ấy, sẽ có lúc tự cho mình có quyền trên mọi người ngay trong chính gia đình của mình.

Hoặc có nhiều gia đình đang sống vất vả, đủ ăn hằng ngày thì lại chứa chan lòng yêu thương nhau, lại rất hạnh phúc. Rồi một ngày tự dưng trúng số, những người trong gia đình đó “đổi đời”, con cái bắt đầu ăn diện, vợ đi đường vợ, chồng đi đường chồng, hạnh phúc của những ngày nghèo khổ mất hết.

Bạn ạ, cuộc sống có quy luật của nó. Nếu người ta đánh giá nhau dựa trên giá trị vật chất, lấy tiền của để ước lượng nhau, hạnh phúc của họ sẽ không còn nữa, vì hạnh phúc không thể mua bằng tiền. Người ta chỉ có thể có hạnh phúc khi có tình yêu. Bởi thế, từng người trong gia đình hãy nỗ lực từng ngày biến gia đình mình thành mái ấm thật sự, thành môi trường ấp ủ yêu thương đúng nghĩa nhất. Xin đừng mang tâm lý kinh tế thị trường vào trong đời sống gia đình để đánh giá nhau. Nghĩa là đừng bao giờ cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em trong nhà nhình nhau và cân đo nhau theo giá trị vật chất. Bạn và tôi hãy học lấy tấm gương của Chúa Giêsu mà nhìn nhận nhau dựa trên tình yêu của nhau chứ đừng dựa trên giá trị vật chất. Học lấy cách đánh giá tuyệt vời của Chúa Giêsu thì mới mong có hạnh phúc trong gia đình, và hạnh phúc ấy sẽ mãi mãi được củng cố bằng tình yêu và sự đón nhận chứ không phải bằng lăng kính vật chất.

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC

PHỤC SINH NỤ CƯỜI

  

 Tôi đã phục sinh lại nụ cười

Tôi cần cứu rỗi lấy riêng tôi

Qua bao đau khổ, bao ngang trái

Một nụ cười tươi hứa với đời!

 

Một nụ cười bỗng nở trên môi

Nghĩ lại làm chi chuyện pha phôi

Tim tôi nay hết sầu băng giá

Thần dược bơm vào trong óc tôi!

 

Tôi thấy thân tôi giữa cuộc đời

Như mảng lục bình bị cuốn trôi

Qua ghềnh, qua thác, qua dòng chảy

Đôi lúc phong ba, bão ngập trời!

 

Dù sao tôi cũng đã phục sinh

Vẫn cứ yêu thương, hứa với mình

Tôi sẽ chu toàn lời ước hẹn

Đem gieo nguồn sáng chốn u minh!

 

Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC

VỀ MỤC LỤC
BẤT ÐỒNG HAY BẤT HÒA

 

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 05.11.2006

(Mc 12: 28b-34)

Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ nhất vừa kết thúc ngày 22 tháng 10 năm 2006 tại Thái lan.  Chủ đề của Ðại Hội là “Kể chuyện về Chúa Giêsu.”   Bắt đầu từ ngày 18 tháng 10, hằng trăm đại biểu đã hào hứng kể những câu truyện rất thú vị và thực tế trên bước đường làm chứng và sống Tin Mừng trên cánh đồng truyền giáo mênh mông khắp Á Châu.  Ðây là một cuộc gặp gỡ để lại nhiều ảnh hưởng sâu rộng.  Một cuộc gặp  gỡ giữa Tin Mừng và văn hóa, tôn giáo, xã hội. Qua những trao đổi giữa các chứng nhân từ những miền văn hóa khác nhau, một sứ điệp đầy tình thương và hy vọng đã vang lên.  Phải chăng đó là một cuộc đối thoại  và gặp gỡ êm thắm, phản ánh cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và kinh sư trong Tin mừng Mátcô hôm nay ?

Cứ nhìn vào cuộc đối thoại rất ôn hòa và bổ ích giữa Chúa Giêsu và vị kinh sư sẽ thấy những yếu tố cần thiết cho cuộc đối thoại đạt kết quả. Có những điểm gặp gỡ rất lý thú.  Nhưng cũng có những điểm mới lạ rút ra từ truyền thống lâu đời, đến nỗi vị kinh sư phải thốt lên : “Thưa Thày, hay lắm, Thày nói rất đúng.”[1]  Kinh sư phải nhìn nhận cái nhìn tuyệt vời của Chúa về giới răn quan trọng nhất.   Nếu không có thiện chí, chắc chắn ông không thể chấp nhận dễ dàng như vậy.  Thiện chí đó bắt nguồn từ sự khôn ngoan khiến ông gần Nước Thiên Chúa.[2]   

Thái độ hai bên cũng rất đáng chú ý.  Hai bên đều thuộc lòng truyền thống và lề luật, nên đồng ý với nhau rất nhanh về giới răn quan trọng nhất.  Hai bên rất tôn trọng nhau.  Chúa Giêsu cũng công nhận và tôn trọng giá trị đích thực của người đối thoại. Hiếm có cuộc đối thoại nào êm thắm như đoạn Tin Mừng Mátcô hôm nay.  Tóm lại, bản văn Tin Mừng nguyên thủy, tức bản Mátcô, nhẹ nhàng hơn hai Tin Mừng Mathêu và Luca nhiều.  Tuy thế, thánh Mátcô cũng không giấu nổi sự thật về bộ mặt đối phương : “Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.”[3] 

Cùng một nội dung câu truyện như thế, nhưng hai Tin Mừng Mathêu và Luca trình bày trong một khung cảnh căng thẳng hơn nhiều.  Cả hai đều cho thấy rõ mối xung khắc giữa Chúa và nhóm Pharisêu.  Người hỏi không có thiện chí.  Họ hỏi “để thử Người.”[4]  Khác với Tin Mừng Mátcô, Tin Mừng Luca cho thấy các người thông luật trở nên cường điệu hơn vì “muốn chứng tỏ mình có lý.”   Họ đặt một câu hỏi hóc búa và thực tế : “Ai là người thân cận của chúng tôi ?”[5]  Dĩ nhiên ở đây Chúa không thể dựa vào một điểm chung là Kinh Thánh để trả lời dễ dàng.  Nhưng Người vận dụng một hình thức nhẹ nhàng để dẫn đối phương đến một kết luận hợp tình hợp lý.  Một hoạt cảnh rất sống động về “Người Samaritanô nhân hậu” đã lôi cuốn đối phương tới việc đồng thuận rất tự nhiên. Kết thúc Chúa không dằn mặt, nhưng đặt câu hỏi để đối phương tự tìm câu trả lời.  Cuối cùng, đối phương phải im lặng để lắng nghe từ bên trong ý nghĩa sâu sắc về tình yêu  đối với người thân cận.   Thật là một cách đối thoại tuyệt vời và vô cùng hiệu quả ! 

Tới đây, chúng ta mới dừng lại ở hình thức đối thoại.  Nhưng yếu tố quyết định cuộc đối thoại là nội dung cuộc trao đổi hôm nay.  Câu hỏi xoay quanh điều răn quan trọng nhất.  Ðiều răn quan trọng nhất trong Lề Luật cũng là điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta : tình yêu.  Tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân là hai điều răn rất khác nhau, vì Thiên Chúa khác hẳn con người.   Nhưng hai điều răn quan trọng như nhau.  Hai điều răn lấy từ hai nơi khác nhau trong Kinh Thánh : sách Ðệ Nhị Luật (6:4-5) và Lêvi (19:18).  Chỉ trong tình yêu, Chúa mới có thể liên kết hai sứ điệp khác nhau thành một Lời duy nhất.  Chúa Giêsu là gương mẫu tuyệt vời cho cả hai giới răn đó.

Nước Thiên Chúa là vương quốc tình yêu.  Không yêu thương nhau, không thể xây dựng Nước Thiên Chúa.  Nhưng muốn yêu nhau, phải hiểu nhau.  Những khác biệt và mâu thuẫn rất cần thiết cho cuộc sống.  Phải vận dụng cả con tim lẫn khối óc mới có thể vượt qua những thách đố đó.  Ðối thoại là một phương tiện hữu hiệu nhất giúp con người vượt qua những khác biệt và mâu thuẫn.  Nhưng làm sao đối thoại nếu chỉ dựa trên tình cảm hay quyền bính, chứ không tình yêu ?

Cuộc đối thoại phải dựa trên cơ sở đức ái.  Có thể bất đồng nhưng không bất hòa.  Lịch sử nhân loại đã tốn bao xương máu và thời gian cũng chưa dẹp được những bất hòa.  Bất đồng còn có thể đối thoại được.  Bất hòa rất khó lòng tìm ra sự thật, vì luôn kèm theo tình cảm chủ quan.  Nghe một phần, nhưng cứ tưởng đã nắm bắt toàn thể sự thật.  Tình cảm có thể giết chết tình yêu.  Chỉ tình yêu mới có thể tạo môi  trường và điều kiện thuận lợi cho cuộc đối thoại. Có lẽ vì nặng tình cảm, dân tộc chúng ta rất khó nhận ra biên giới giữa bất đồng và bất hòa. 

Tình cảm dễ làm cho con người đóng kín.  Trong khi đó, muốn đối thoại, cần phải cởi mở như Chúa Giêsu.  Người sẵn sàng lắng nghe những chất vấn, ẩn ức và khát vọng  của bất cứ ai, bất kể cả những người thấp kém, nghèo khổ và kẻ thù.  Khi đã giải đáp thỏa đáng, Người vẫn muốn tiếp tục đón nhận ý kiến người khác.  Chỉ có một tấm lòng “hiền lành và khiêm nhường” thật sự mới có một độ cởi mở lớn lao như thế.  Ðó là đặc tính nổi bật nhất của tình yêu. Bởi vậy, thánh Phaolô khuyên chúng ta : “Anh em cũng hãy mở rộng tấm lòng”[6] để lắng nghe và đón nhận quan điểm khác biệt của tha nhân. 

Mặc dù tình yêu Thiên Chúa là giới răn, nhưng trước hết đó là một lời mời gọi, một lời hứa, một niềm hy vọng.  Thiên Chúa là một.  Con người phải hoạt động tích cực mới có thể hòa hợp và hiệp nhất với nhau.  Muốn nên một với Thiên Chúa, trước hết con người phải hiệp nhất với nhau.  Bởi thế, trong khi kinh sư chỉ hỏi một điều răn quan trọng nhất, Chúa Giêsu đã trả lời hai.  Nhưng cả hai đều liên đới sâu xa và mật thiết với nhau trong một câu trả lời duy nhất.  Hai mà một.  Một mà hai.  Có thể tìm thấy Thiên Chúa trong anh em.  Ngược lại, có thể tìm thấy anh em trong Thiên Chúa.  Chỉ có đức tin mới cho chúng ta một cái nhìn như thế.  Cái nhìn đức tin đó là điều kiện đầu tiên vô cùng cần thiết cho cuộc đối thoại.  Chính vì yếu đức tin, nên chúng ta ít tôn trọng con người, ý kiến và lập trường của tha nhân.   Kết quả người ta có thể loại bỏ, phỉ báng, tiêu diệt đối phương để mình trở thành độc tôn.

Nhiều người trong chúng ta không biết đến ý nghĩa của chữ tha nhân.  Gặp một người khác với mình, họ liền dẹp bỏ.  Không bao giờ họ chấp nhận đối thoại.  Chẳng hạn, sau khi được đăng lên website ít giờ, bài viết “Ðâu Là Sức Mạnh Truyền Thông ?” đã bị vội vàng đưa lên rồi kéo xuống ngay.  Ðó không phải là trường hợp duy nhất.  Cách đây ít tháng, giữa cuộc khủng hoảng về bản dịch “Nghi Thức Thánh Lễ 2005”, đã thấy những diễn biến tương tự nơi một website khác.  Rõ ràng sự thật chỉ có một chiều.  Như vậy, làm sao đối thoại ?   Chúng tôi không buồn vì bài của mình bị dẹp bỏ, nhưng buồn vì thái độ của người mình không chấp nhận đối thoại. Dĩ nhiên, chủ website có toàn quyền chọn lựa.  Nhưng đó có phải là con đường tìm kiếm chân lý ? Chúng tôi không chủ trương mọi điều mình viết đều là chân lý.  Tự bản thân, chúng tôi luôn muốn học hỏi mọi người, kể cả con nít và những người thất học, nhất là những người thù ghét chúng tôi.  Thực sự, khi viết bài đó, chúng tôi không hề nhắm tới một trường hợp nào cụ thể. 

Vì quá nặng tình cảm, chúng ta thường có khuynh hướng quy ngã.  Chẳng hạn, trong bài “Từ Ðại Hội “Liên Hiệp Truyền Thông Công giáo Việt nam” ... tới bài viết của linh mục Ðỗ Lực,” tác giả Linh Giao đã viết : “ ... cả hàng giáo phẩm nữa còn đang sống trong mù lòa.”  Nghe qua ai cũng thấy một tâm trạng quá bức xúc vì những kinh nghiệm đau thương quá khứ.  Giả sử chúng tôi viết : CHỈ có giáo dân mới mù lòa và cần xin Chúa cho sáng mắt, thì một trăm phần trăm chúng tôi có lỗi.  Thực tế, khi viết “rất nhiều giáo dân Việt nam còn đang trong tình trạng mù lòa,” chúng tôi không có ý đứng về phía giáo sỹ để kêu gọi hay chỉ trích  giáo dân.  Chúng tôi chỉ muốn nói lên thực trạng giáo dân ít quan tâm tới việc trau giồi kiến thức để mở con mắt tinh thần trước những giá trị đích thực của ơn gọi và sứ mệnh Kitô hữu của mình mà thôi.  Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi không thể đề cập mọi vấn đề. 

Tiếp theo, tác giả Giao Linh kêu gọi hàng giáo phẩm đi tiên phong và làm gương mẫu cho giáo dân.  Lý do tác giả đưa ra : “Hàng giáo phẩm không đi tiên phong, không làm gương mẫu cho giáo dân, làm sao tầng lớp giáo dân đơn thân độc mã đi được, trong khi hầu hết mọi phương tiện vận động đều nằm trong tay hàng giáo phẩm, từ chức vụ, quyền uy, thế giá, tài chánh, hành chánh. Tóm lại, hàng giáo phẩm hầu như nắm giữ độc quyền mọi chủ chốt, còn giáo dân chỉ là lớp thứ dân mà đa số các linh mục chỉ muốn họ thuộc thành phần "cầu nguyện, đóng tiền và vâng phục (mù quáng)."  Tại sao giáo dân phải lệ thuộc quá nhiều như vậy ?  Lịch sử Giáo hội cho thấy rất nhiều phong trào do giáo dân khởi xướng.  Hầu hết các dòng tu do các linh mục, chứ không do giám mục hay giáo hoàng lập nên.  Thực tế, tất cả đều tùy thuộc Chúa Thánh Linh, chứ không phải con người.  “Chúa Thánh Thần muốn thổi đâu thì thổi.”  Kinh nghiệm cho thấy Chúa Thánh Thần thường thổi từ dưới lên.  Thổi từ trên xuống thường bị vướng nhiều thứ mũ gậy lỉnh kỉnh lắm !

So với hàng giáo phẩm, linh mục là hàng giáo sỹ không có quyền hành và phương tiện nhiều.  Tự bản chất quyền hành để phục vụ.  Nhưng làm sao linh mục có thể làm mọi việc ?   Theo giáo luật, cha sở là có toàn quyền trong giáo xứ.  Toàn quyền nhưng có toàn năng không? Do đó, muốn phục vụ hữu hiệu, quyền hành phải được chia sẻ.  Nhưng không phải cứ chia sẻ là mọi việc đều êm thắm.  Quan trọng là con người có tin tưởng và tôn trọng lãnh vực hoạt động của nhau cũng như có dám đối thoại hay không ?  Không quan tâm tới những yếu tố đó, việc mục vụ rất khó thành công.  Bao giờ người giáo dân mới được tôn trọng và mời gọi đối thoại với linh mục thực sự ?

Trong đoạn  “... Viết về Giáo hội, họ chỉ nhắm triệt hạ hàng giáo phẩm và nâng cao giáo dân tới mức tuyệt đối,” chúng tôi đã “quá tay” khi viết chữ “tuyệt đối” ở đây, khiến tác giả Giao Linh nhận xét : “linh mục Lực tỏ ra gay gắt lên án một số anh em giáo dân “quá khích.”  Chúng tôi xin thành thực xin lỗi anh em.  Thực tình, chúng tôi chỉ muốn dùng chữ “tuyệt đối” theo nghĩa “quá mức” mà thôi.  Nhìn vào thực tế đại đa số giáo dân trình độ quá thấp, nên không ý thức và thi hành nổi sứ mệnh Kitô hữu trước những đòi hỏi khẩn cấp của thời đại.  Họ sẵn sàng hy sinh thời giờ và tiền bạc để phục vụ giáo xứ, nhưng rất ngại ngùng bỏ thời giờ tham dự các lớp giáo lý và Thánh Kinh.

Trong hàng ngũ giáo dân, nhiều người có khả năng rất cao, nhất là những anh em đã từng sống một thời gian dài trong Nhà Chúa.  Ðây là một nguồn tài nguyên lớn lao đã bị bỏ quên và lãng phí.  Lỗi không hoàn toàn nằm ở phía những người đang nắm quyền trong Giáo hội.  Tuy nhiên, quyền hành và chức tước tới đâu cũng không thể coi thường anh em đó.  Anh em giáo dân cũng nên tìm một con đường đối thoại và hợp tác theo tinh thần bác ái của Chúa Kitô.  Cần có một cuộc cách mạng thực sự từ não trạng đến thái độ. 

Chúng tôi rất vui khi tác giả Linh Giao xác định dứt khoát : “Còn cá nhân chúng  tôi, chẳng khi nào chúng tôi đòi hỏi một sự bình đẳng tuyệt đối trong Giáo hội khi Giáo hội đi theo con đường phẩm trật.  Chúng tôi cũng chẳng nhắm triệt hạ hàng giáo phẩm, trừ khi có những vị sống chà đạp lên Giáo hội bằng cuộc sống vô luân, ham hố danh lợi, che đậy gian dối và làm ngơ cho tội ác hoành hành. Chúng tôi cũng chẳng mơ ước nâng cao giáo dân tới mức tuyệt đối, vì chúng tôi hiểu Giáo hội ban phát ơn thánh cho chúng tôi qua tay các linh mục.”  Nếu đúng thế, tác giả không phải là đối tượng những lời nhận xét và phê bình của chúng tôi.  Tác giả cho thấy rõ thiện chí và ý thức rất cao về Giáo hội.  Từ căn bản này, chúng ta có thể gặp gỡ nhau để xây dựng nhiều lắm.  Ðây chính là lúc chúng ta cần tìm những điểm chung và tích cực để cùng nhau cộng tác.

Từ một quan sát thực tế, tác giả  Linh Giao nêu thắc mắc “tại sao các tín hữu Tin Lành lại trổi vượt gấp nhiều lần các tín hữu Công giáo về Kinh Thánh và cầu nguyện?”  Rồi tác giả tự giải quyết vấn đề : “Câu hỏi rối rắm này cần cả hàng giáo sĩ lần giáo dân ngồi xuống cùng cầu nguyện với Chúa Thánh linh và mổ xẻ với nhau để tìm ra con đường sửa chữa và thăng tiến. Chẳng bên nào đơn phương giải quyết được!”  Thực ra, vấn đề không chỉ tùy thuộc mối tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân.  Vấn đề nằm sâu trong lối sống đạo hình thức của người Công giáo và văn hóa Việt nam, một nền văn hóa quá thực dụng và tình cảm.  Chính vì muốn rời xa lối sống đạo hình thức đó, anh em Tin Lành mới tìm cách sống thực Lời Chúa.  Chắc chắn Lời Chúa đã đem lại cho họ “thần khí và sự sống,” một giá trị cao vượt hơn của lễ toàn thiêu.

Cần mau lẹ tìm một đường hướng hoạt động truyền thông hơn là quy tụ tất cả thành một mối.   Quy tụ như thế rất dễ bị hiểu lầm là tập trung quyền lực để giết chết sáng kiến và thiện chí cá nhân.  Tập trung để kiểm soát và tiết kiệm chỉ là con đẻ của một đầu óc một chiều.  Vấn đề không đơn giản như thế !   Thời đại internet, cá nhân nào cũng có thể làm website, làm sao có thể cấm đoán và kiểm soát ?  Càng cố gắng tập trung quyền lực, càng bị xa lánh và thất bại.  Kinh nghiệm cho thấy Giáo hội càng tập trung quyền lực và kiểm soát, càng gặp nhiều khó khăn và cám dỗ.  Chúng ta đang sống trong một Giáo hội tôn trọng tự do và có sứ mệnh giải thoát nhân loại.  Khi tuyên bố về tự do tôn giáo, “Giáo hội cảm nhận rõ mình chỉ  có thể được tin cậy vì trung thực tuyệt đối và khiêm tốn nhìn nhận về quá khứ và hiện tại.  Một Giáo hội thú nhận tội lỗi và những thiếu sót của mình trước Nhan Thiên Chúa và nhân loại thì hấp dẫn hơn một Giáo hội háo thắng.  Một lời nhìn nhận mọi người có tự do tôn giáo, cùng với việc hoàn thành sứ mệnh giải thoát, kêu gọi những người thành tâm tìm kiếm chân lý giải thoát và cứu độ phải có lương tâm ngay thẳng hơn bao giờ.”[7]  Tự do tôn giáo hay tự do tư tưởng đều có một mẫu số chung và cùng một bản chất.

Lạy Chúa, con biết con còn thua Con Chúa trong cuộc đối thoại với tha nhân.  Xin cho con một tâm hồn cởi mở và ngay thẳng để  có thể đối thoại với mọi người.  Xin cho con gặp gỡ anh em con để cùng nhau xây dựng Nước Chúa trong cuộc đời vắn vỏi còn lại này.  Amen.

đỗ lực    dzuize@gmail.com


[1] Mc 12:32.  [2] x. Mc 12:34.  [3] Mc 12:34.  [4] Mt 22:35; Lc 10:25.

[5] Lc 10:29.  [6] 2 Cr 6:13.

[7] Commentary on the Catechism of the Catholic Church, ed. Michael J. Walsh, More than Law and Precept : Commandments 1 to 3), Bernhard Haring CSsR, The Liturgical Press : 1994, tr. 362.

VỀ MỤC LỤC
Sữa và mật

 

Nhà phân tâm Erich Fromm có suy tư: "Phần lớn con người có khả năng cho ngưòi khác "sữa“, nhưng chỉ có một số ít người có thể cho tặng "mật “. Ðể có thể cho tặng "mật“ không phải chỉ  người mẹ có đời sống tốt khoẻ mạnh, nhưng còn phải là một người có cuộc sống vui vẻ hạnh phúc nữa. Ðiều này ít người đạt được.“  

Thiên Chúa, qua Ông Maisen đã hứa ban cho dân của Người: "Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe và lo đem những điều Ta truyền cho ra thực hành; như vậy anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của cha ông anh em, đã phán với anh em.“ (Ðệ nhị Luật 6,3)

Sữa là hình ảnh diễn tả về lương thực cần thiết cho cuộc sống của con người từ khi mở mắt chào đời. Em bé sơ sinh hay thú vật mới sinh chưa có thể nhai hay tự mình nuôi sống mình bằng thức ăn, đều cần đến sữa mẹ, sữa pha sẵn do mẹ hay người khác cho bú cho uống... Có thế em bé, con thú vật nhỏ mới sống còn, mới phát triển lớn lên được.

Trái lại mật là hình ảnh của lương thực thêm vào cho đời sống được trở nên ngọt ngào. Phải, nó làm cho đời sống trở nên dễ chịu hơn, đẹp hơn, khi được thưởng thức đúng mức.

Trong hai lương thực đó, cái gì cần cho đời sống?

Cả hai đều cần cho đời sống: Ðiều cần cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống và điều giúp đời sống vui vẻ tốt đẹp hơn.

Ai cũng cần sữa, cần lương thực thức ăn cơm , canh cá thịt, rau cỏ hoa trái...cho bao tử, cho bắp thịt gân cốt.

Và trong đời sống mỗi người được Thiên Chúa tạo dựng ban cho tính tình sở thích khác nhau, người thì thích đọc sách báo có những chuyện hài hước vui cười, người thì say mê sách về nghiên cứu tìm tòi khoa học, trình độ cao...người thì thich nhạc cổ điển tây phương, người thích ham chuộng nghe nhạc mới, nhạc cải lương, mê thoại kịch phim ảnh, thích thú với những buổi hòa nhạc Jazz tân thời...

Ðời sống mỗi người cần có chút mật. Mật mang lại cho đời sống vui tươi hạnh phúc, điều tích cực. Ðiều này hầu như ai cũng mong muốn cần có.

Với đức tin Công giáo hình ảnh lương thực sữa và mật được diễn tả cụ thể trong Bánh và Rượu là Bí tích lương thực tình yêu Chúa Giêsu cho tâm hồn niềm tin. Người tín hữu Chúa Giêsu gặp gỡ Ngài qua Bí tích Thánh Thể.

Thiên Chúa ban lương thực căn bản nuôi dưỡng đức tin con người tin nhận vào Ngài qua tấm bánh Thánh Thể, và qua Rượu nho giúp đời sống trở nên vui tươi tốt đẹp hơn, lẽ dĩ nhiên khi tiếp nhận điều này trong chừng mực được phép.

Trong gia đình, cha mẹ không phải chỉ là người nuôi dưỡng săn sóc cơm ăn áo mặc cho con cái được đầy đủ, nhưng họ còn là người giúp kiến tạo đời sống tinh thần con cái có vui tươi hạnh phúc, khi chúng còn nhỏ cũng như sau này khi khôn lớn nữa. 

Ðời sống một gia đình, một xã hội, một hội đoàn không phải chỉ cần có mái nhà, có bàn ghế, có giường tủ, có phòng ốc, có luật lệ, có nhà bếp...nhưng còn cần phải có tình yêu thương, tình liên đới tương trợ nhau nữa.

Ở trường học, thầy cô không phải chỉ là người truyền lại kiến thức về chữ nghĩa, về kỹ thuật giúp thoát khỏi tình trạng mù chữ cho con em bạn trẻ, nhưng họ còn là người khuyến khích giúp em bé bạn trẻ vui với việc học, và tự mình có thể sáng tạo phát triển khả năng tâm trí sau này nữa 

Ông Muhammed Yunus, người Bangladesch năm nay 2006, được bầu chọn nhận giải thưởng Nobel về hòa bình, vì có công đóng góp vào tình trạng xóa đói giảm nghèo từ khi Ông thành lập ngân hàng cho người nghèo vay tiền làm ăn sinh sống để tự thóat khỏi cảnh nghèo, đã đặt việc làm của mình trên căn bản:  "Người nghèo không phát huy khả năng tiềm tàng nơi họ được. Vì xã hội từ chối không cho họ sử dụng khả năng của họ. Con người không cần qùa tặng, nhưng họ cần cơ hội để phát huy khả năng của mình“.

Ông đã có công giúp họ "sữa“ cho đời sống họ, và "mật“ giúp họ làm cuộc đời mình thêm hạnh phúc!   

Sữa lương thực giúp cho thân thể sinh sống phát triển. Mật là lương thực giúp cho đời sống tinh thần trở nên vui tươi hạnh phúc.

Một đời sống như thế là một đời sống được thỏa mãn tràn đầy!

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
KHÍCH LỆ  (bài 2)

 

Bé Yến, 7 tháng, hay khóc la mỗi khi nó được đặt vào trong nôi và nằm đó một mình. Mẹ nó lấy làm ngạc nhiên: một đứa bé nhỏ như vậy đã có tính dở chứng như thế. Nó cong lưng, đập chân, và la hét đến độ đỏ cả người. Là đứa nhỏ nhât trong 5, bé Yến đã được ôm bế nhiều từ lúc mới sinh. Bé Yến nằm trên đùi mẹ khi mẹ ngồi ở bàn và mắt mẹ thường hay theo dõi lúc nó được đặt trong nôi. Khi mẹ nó phải đi ra khỏi phòng, một trong những đứa lớn hơn được gọi để trông coi nó. Vào giờ ngủ, nó thường không được đặt vào giường cho đến khi nào nó hoàn toàn ngủ say. Nó khóc một chút trước khi thiếp ngủ. Mẹ nó luôn canh chừng và luôn ở cạnh nó mỗi khi nó cựa quậy. Bé Yến vui với mẹ. Mẹ nó nghĩ đến nó như một đứa bé hạnh phúc.

Mới chỉ 7 tháng tuổi, Bé Yến đã tỏ ra thất đảm. Nó cảm thấy mình có một chỗ đứng nếu những người khác để ý làm nó vui và cảm thấy mình bị lãng quên nếu không ai chú ý đến nó. Nó không chịu góp phần vào những sinh hoạt của gia đình và chỉ muốn mình trở thành trung tâm của mọi chú ý.

Sẽ có người hỏi rằng: làm sao một trẻ sơ sinh có thể góp phần vào những sinh hoạt đó? Thưa rằng: đòi hỏi đầu tiên nơi mỗi con người là “phải biết tự mình đủ cho mình”. Một đứa trẻ cần học cách lo cho chính mình và tiến trình học nầy bắt đầu từ lúc mới sinh. Bé Yến cần học cách tự làm mình vui. Mẹ nó yêu nó nhiều và muốn nó là một đứa bé hạnh phúc. Nó trở thành một đứa bé quá được cưng chìu. Bé Yến thấy rằng việc nó khóc mang lại kết quả. Mẹ nó làm mọi cách để nó khỏi khóc, để nó được hài lòng. Trong cách thế khích lệ nó trở thành một đứa bé hạnh phúc, mẹ nó đẵ vô tình không khích lệ nó biết tự mãn với chính mình. Mẹ nó có thể làm ngưng cái dở chứng của nó bằng cách cứ để cho nó khóc nếu nó muốn, cung cấp đồ chơi cho nó và đặt nó ở đó với những đồ chơi của nó. Làm như thế thì tốt hơn cho nó và đó là một sự khích lệ. Mỗi ngày nên có một thời gian nhất định để nó một mình tự lo cho nó. Khoảng thời gian tốt nhất cho sự tập luyện nầy là vào buổi sáng khi các anh chị nó đi học và người mẹ phải lo công việc trong nhà.

Tuy nhiên, rất khó lòng không quan tâm đến một đứa bé đang khóc. Người mẹ phải tự biết rằng yêu con có nghĩa là muốn cái lợi cho con. Một người mẹ tốt không cần phải cung ứng tất cả mọi đòi hỏi của đứa bé. Một đứa bé cảm thấy hạnh phúc khi nó là trung tâm của mọi chú ý thì không hẳn là một đứa bé hạnh phúc thật. Hạnh phúc thật không lệ thuộc vào sự chú ý của người khác nhưng phát xuất từ trong chính mình như kết quả của sự mãn nguyện với chính mình. Đứa bé cần biết điều đó hơn những người khác, và cũng cần biết rằng  có nhiều người đi trước nó đã có thể làm được như vậy.

Bé Mỹ Linh, 3 tuổi, muốn giúp mẹ sắp xếp bàn ghế cho bữa cơm tối. Nó đi một vòng quanh bàn, và rồi nâng lấy bình sữa muốn đổ vào các ly. Mẹ nó chụp lấy bình và nói một cách nhẹ nhàng rằng: “Cưng ơi, con chưa đủ lớn. Mẹ sẽ làm việc đó. Con lấy giấy xếp lên bàn giúp mẹ”. Bé Mỹ Linh xem ra không được hài lòng, quay đi, và rời khỏi phòng ăn.

Trẻ con có can đảm bẩm sinh và hăng hái làm những gì nó thấy người khác đang làm. Giả như cô bé có làm đổ sữa ra đi nữa thì việc mất sữa cũng ít quan trọng hơn là mất tự tin. Bé Mỹ Linh có can đảm nhận lấy một thử thách mới. Người mẹ có thể khuyến khích bằng cách tin tưởng bé. Nếu sữa bị đổ ra ngoài, nó sẽ phải đối diện với sự thất bại đó nên cần một sự can đảm và khích lệ hơn. Người mẹ nên biết sự dũng cảm cũng như sự cố gắng của đứa bé, nên sẵn sàng giúp nó lau chùi và hãy khuyến khích nó: “Con cần cố gắng hơn nữa và rồi con có thể làm được”.

Hồng Loan 8 tuổi, và Hồng Liên 10 tuổi, sau buổi học về nhà với tờ báo cáo của nhà trường. Hồng Loan yên lặng đi thẳng vô phòng trong khi Hồng Liên chạy đến khoe mẹ:” Mẹ xem, con lấy toàn là 90 với 95 điểm”. Bà mẹ nhìn tờ báo cáo và lộ vẻ vui mừng. “Còn Hồng Loan đâu, mẹ muốn xem tờ báo cáo của nó”. Hồng Liên nhún vai: “Nó không lấy được điểm cao như con. Nó đần lắm”. H. Loan trên đường đi ra ngoài chơi, bà mẹ thấy nó và gọi lại:

    - H. Loan tờ báo cáo của con đâu?

    - Trong phòng con.

    - Con lấy được bao nhiêu điểm?

     Cô bé không trả lời. Nó đứng nhìn trần nhà.

    - Mẹ nghĩ con lại lấy điểm thấp nữa rồi, có phải không? Hãy đi lấy tờ báo cáo đưa cho mẹ xem.

 Nhìn thấy H. Loan có 2 cái 40; 2 cái 50; và 1 cái 60, bà mẹ phát cáu:

   - H. Loan, mẹ xấu hổ về con. Không có lý do nào cả. Hãy xem chị H. Liên luôn luôn lấy điểm cao. Tại sao con không như chị con? Con chỉ vì lười và không chú ý. Đây là một cái nhục cho gia đình, con có biết không? Con không được ra ngoài chơi và hãy đi vô phòng.

H. Loan có điểm thấp là kết quả của việc thiếu khích lệ. Nó là đứa con thứ hai trong gia đình. Nó cảm thấy mình không có cơ hội để thõa mãn những tiêu chuẩn mà mẹ nó đòi hỏi: phải giống như chị nó. Cung cách của người mẹ lại càng làm cho nó thất đảm. Trước nhất, cho dầu chưa thấy tờ báo cáo, bà mẹ cũng đã quả quyết: điểm thấp nữa rồi. Vì bà mẹ không tin tưởng vào nó nên nó chỉ có đầu hàng và xem mình như một thất bại. Khi bà mẹ nói bà thấy nhục về nó, cô bé sẽ cảm thấy mình không còn giá trị nữa. Thứ đến, bà mẹ ca tụng điểm cao của H. Liên, bà muốn ám chỉ cho bé Loan một sự so sánh không mấy tốt đẹp về chính nó. Bà mẹ bảo nó nên giống như H. Liên, nhưng đối với bé Loan đó là một điều không thể có được, vì trong đầu óc nó: chị nó lớn hơn nó 2 tuổi, luôn luôn đi trước nó 2 năm, và như thế nó không thể nào bắt kịp được chị nó cả. Bà mẹ phê bình nó: cho nó là lười, là sự nhục nhã của gia đình, điều đó chẳng có ích lợi gì mà chỉ càng làm cho nó thêm thất đảm trên con đường học vấn mà thôi. Cô bé cũng ý thức được rằng: chị nó cho nó là đần độn chỉ vì chị nó muốn độc quyền giữ chỗ đứng như là một đứa thông minh, và cố làm cho em nó càng thêm nhụt chí bằng cách đẩy em nó lụn xuống sâu hơn. Nhưng trên tất cả, việc bà mẹ đã phạt bé Loan không cho nó ra ngoài chơi càng làm cho cô bé cảm thấy chán nản và thất vọng.

Trái với quan niệm thông thường, kích thích sự tranh đua giữa 2 đứa con gái là một việc không nên làm, vì điều đó càng làm cho đứa trẻ thua kém thêm thất vọng và làm cho đứa kia thêm lo sợ, và như thế sẽ tạo cho đứa khá có quá nhiều tham vọng và sẽ đặt cho nó những mục tiêu khó có thể đạt được. Ngoại trừ nó luôn ở hàng đầu, nó có thể cũng xem mình là một thất bại như đứa kia.

Để khích lệ bé H. Loan, bà mẹ phải ngưng đưa H. Liên ra như một khuôn mẫu. Tất cả mọi so sánh sẽ không có lợi. Bé Loan có hành động và phương cách riêng của nó, không cần phải rập khuôn theo như chị nó. Bà mẹ sẽ không giúp gì được cho cô bé nếu bà không tin tưởng vào nó và bày tỏ cho nó thấy điều đó. Trong những tình huống như vậy, cô bé sẽ làm những gì mà người ta nghĩ về bé. Khả năng của nó chỉ tăng lên khi niềm tin được khôi phục. Tránh phê bình chỉ trích, và tốt nhất là bà mẹ nên nhận ra và nêu ra những gì cô bé đã hoàn thành cho dẫu đó chỉ là những công việc nho nhỏ khởi đầu.

Bây giờ, chúng ta hãy thử lập lại cùng một sự việc, và cũng thử  trình bày một phương cách khác mà chúng ta có thể áp dụng để mang lại một sự khích lệ cho một đứa trẻ đang gặp nhiều khó khăn, chán nản như trường hợp của bé H. Loan.

H. Loan và H. Liên về đến nhà với tờ báo cáo của nhà trường. Loan yên lặng đi vào phòng trong khi Liên chạy ngay đến mẹ nói: “Mẹ ơi, con lấy toàn điểm cao”. Người mẹ nhìn và nói: “Mẹ sung sướng thấy con ham học”. Điều quan trọng ở đây là mẹ nó chú trọng đến việc học chớ không phải là điểm. Người mẹ ca tụng công việc đã được làm tốt đẹp. Và nhận ra là Loan muốn tránh né vấn đề, nên người mẹ cần phải tế nhị, chờ đến khi chỉ còn một mình nó với bà, bấy giờ bà mới hỏi: “Loan, con  có muốn mẹ ký vào tờ báo cáo của con không?” Loan cưỡng bách mang tờ báo cáo cho mẹ. Bà mẹ xem xét, ký vào, và nói: “ Mẹ sung sướng nhìn thấy con thích môn đọc sách (môn nầy nó lấy được điểm cao). Môn nầy vui thích phải không? Thế rồi, bà mẹ nên tỏ dấu cưng con, ôm nó, và nói sang chuyện khác: “ Con có muốn giúp mẹ xếp đặt bàn cho bữa ăn tối không?” Trong lúc hai mẹ con thu xếp bàn ăn, cô bé xem ra không vui. Nhưng cuối cùng, cô bé cũng bày tỏ nỗi niềm tâm sự: “Chi Liên lấy toàn điểm cao, còn con thì không”. Bấy giờ, bà mẹ có thể khuyến khích: “Không quan trọng là con phải lấy cùng điểm như chị con. Nhưng con cũng có thể đạt được điểm mà con thích thú, và bấy giờ con sẽ khám phá ra rằng: con có nhiều khả năng hơn con nghĩ mình có bây giờ”.

Thật khó cho chúng ta nhìn thấy cái gì sẽ xảy ra cho bé Loan nếu mẹ nó thình lình thay đổi giọng điệu như thế. Thoạt đầu, cô bé có lẽ không tin. Nhưng bà mẹ cần phải ngưng ngay việc nghĩ rằng: chỉ có bé Liên mới có thể lấy được điểm cao như vậy. Với H. Loan, cô bé vẫn tin rằng nó khó có cơ hội để lấy được điểm cao, xin được học bỗng. Từ cái nhìn đó, mọi cố gắng mà nó làm đều trở nên vô ích. Dẫu sao, nó cũng đã cố gắng để lấy được 60 cho môn đọc sách. Điều nầy chứng tỏ nó cũng đã có một sự nổ lực. Khi bà mẹ nhận ra được điều đó, bà nên cho nó một cơ hội tái thẩm định chỗ đứng của nó và nên giảm bớt sự cạnh tranh quá đáng, không cần thiết. Trong cách thế đó, bà có thể cung cấp cho cô bé một nguồn hứng khởi cho những cố gắng vượt xa hơn. Bé Loan bây giờ có cơ hội để thấy rằng 60 điểm cũng có một giá trị nào đó. Nó sẽ ngẫm nghĩ: nếu đây vẫn còn tốt hơn là thất vọng thì mình có thể làm hơn nữa được. Một tia hy vọng chớm nở trong đầu óc nó, trở thành một sự khích lệ gây cảm hứng cho cô bé cố gắng làm một cái gì hơn nữa.

lm.lêvănquảng 

(còn tiếp)

VỀ MỤC LỤC
CHỐN /CÕI /LỬA ĐỜI ĐỜI   (Mt 25: 41-46)

 

Cuộc đời trên trần gian chẳng qua chỉ là một cuộc tổng dượt trước cuộc diễn xuất thật. Bạn và tôi sẽ có thời gian dài hơn nhiều sau khi bước qua phía bên kia của sự chết : CÕI / CHỐN ĐỜI ĐỜI.

1- Đời sống này chỉ là chuẩn bị cho đời sau, nhiều nhất thì bạn sống được khỏang một trăm năm; nhưng trong cõi đời đời thì bạn và tôi sẽ sống mãi mãi. Vi thế ông Abraham Lincincoln nói: Thượng Đế tạo nên con người không chỉ sống có một ngày! Không, không, con người được tạo dựng để cho cõi bất diệt.

2- Một ngày kia tim bạn sẽ ngưng đập, đó là dấu chấm dứt cho thể xác cũng như thời gian trên trần gian; nhưng chưa phải là chấm hết cho bạn. Thân thể chỉ là nơi tạm trú của tâm linh bạn. Kinh Thánh gọi thân thể là: Nhà Tạm/ Cái Lều, còn thân thể tương lai bạn trên Thiên đàng là “Nhà Đời Đời.” Kinh Thánh nói: “Quả thật, chúng ta biết rằng: nếu ngôi nhà của chúng ta ở  dưới đất này bị thiêu huỷ đi, thì chúng ta có một căn nhà vĩnh cửu trên trời do Thiên Chúa dựng nên, chứ không phải do tay người phàm làm ra.” (2 Cor 5, 1)

3- Cuộc đời trần gian cho tôi nhiều lựa chọn; nhưng chốn đời  đời chỉ có hai lựa chọn: Thiên đàng hay Địa ngục. Mối tương giao giữa tôi với Chúa trên trần gian sẽ quyết định mối tương giao giữa tôi với Ngài trong cõi đời đời. Nếu tôi yêu thương tha nhân thì tôi sẽ được mời đến sống trong cõi đời đời bằng không sẽ vào lửa đời đời.

4- Khi sống trong ánh sáng của cõi đời đời , bạn sẽ thay đổi cách sống như: dùng tiền bạc và thời gian một cách khôn ngoan hơn, ít ham mê các thú vui thời trang, xếp đặt lại công việc cho tốt hơn. Thánh Phaolô nói: “Nhưng, những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi.”   (Phil 3,7)

5- Nhưng sự chết không phải là kết thúc của tôi, mà là chuyển tiếp sang chốn đời đời, nó sẽ phải trả lẽ về những việc lành dữ tôi đã làm, nó sẽ đánh vào một sợi dây đàn nào đó rung lên trong cõi đời đời. Ngày hôm nay chỉ là phần nổi của tảng băng trên biển, cõi đời đời là toàn bộ phận còn lại, tôi không thấy được dưới mặt tảng băng.

6- Sống trong cõi đời đời như thế nào, bạn không thể nắm bắt hết sự kỳ diệu và vĩ đại của Thiên đàng. Ngôn ngữ con người cũng không thể nào truyền đạt hết về chốn đời đời. Kinh Thánh viết: Điều mắt chẳng thấy, tai chẳng nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.”(1Cor2,9

7- Tuy nhiên, Thiên Chúa đã cho bạn nhìn thoáng qua về chốn đời đời trong Lời của Ngài  đang chuẩn bị một căn nhà đời đời cho bạn. Một ngày nào đó Chúa Giêsu sẽ phán: “Hỡi các người được Cha Ta ban phúc, hãy đến thừa hưởng Nước Thiên đàng đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lâp địa.”   (Mt 25,34)

8- Thời gian tốt nhất để mọi người suy niệm vể cõi đời đời, đó là trong các đám tang. Bạn không nên coi thường mà không chịu chuẩn bị gì cả, vì sự chết sẽ xảy đến bất ngờ, bạn chớ nên thờ ơ.!

Cũng như chín tháng bạn ở trong bụng mẹ, tự nó không đầy đủ ý nghĩa, mà nó còn chuẩn bị cho đời sống lớn lên ở ngoài. Cũng vậy, cuộc đời này là sự chuẩn bị cho đời sau. Nếu bạn liên kết với Chúa hàng ngày thì không sợ chết, vì nó là cửa dẫn vào cõi đời đời.

9- Giờ phút cuối cùng của bạn sẽ đến; nhưng nó không phải là kết thúc cuối cùng của bạn: nó là NGÀY SINH NHẬT CỦA BẠN để đi vào CÕI ĐỜI ĐỜI. Vì Hội Thánh gọi đời trần gian là THỜI THAI NGHÉN, là đoàn người vô số kẻ trước người sau được sinh ra trong, với và cùng Đức Kitô. Sách Khải Huyền viết: “Bây giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ, đất cũ đã biến đi…không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa.” (Kh 21, 1- 4)

Thánh Phaolô nói: “Trên đời này, chúng ta không có thành trì bền vững; nhưng đang tìm kiếm thành trì tương lai.” (Do thái 13,14) hay nói rõ hơn: Thế giới này không phải là quê hương của chúng ta. Chúng ta chờ đợi một quê hương vĩnh cửu ở trên Trời.

10- Khi so với cõi đời đời, thời gian của tôi trên mặt đất này chỉ là một nháy mắt; nhưng hậu qủa của nó thì tồn tại đời đời. Những việc làm của tôi ở đời này là số phận của đời sau: “Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Đức Kitô, đễ mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt xấu đã làm khi còn ở trong thân xác.  (2 Cor 5,10) ( xét xử trong giờ chết mỗi người.)

Như vậy, bạn và tôi hãy sống tốt mỗi ngày như ngày cuối cùng của đời mình, như thế mới là người khôn ngoan. Hoặc nhiệm vụ của chúng ta phải CHUẨN BỊ  mỗi ngày là NGÀY CUỐI CÙNG.

Phó tế GB Nguyễn văn Định  *  johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
Một chuyện ngụ ngôn về sự tha thứ : Alfred và Adèle

 

Làm cách nào để nhận thức một sự thay đổi nghiêm túc đời sống? Trước hết, ta phải mở lòng ta cho những sứ điệp đánh động tâm linh của phụng vụ. Thời kỳ dẫn đến Mùa Phục Sinh đem lại cho ta một món quà quý giá của Chúa và một cơ hội hiếm có để đưa ta lại gần Ngài, thay đổi nội tâm và lắng nghe tiếng Ngài từ trong ta.

Gioan Phaolô II

Ở bìa một ngôi làng nhỏ êm đềm nổi lên một trang trại mà nhà cửa mới sơn quét. Đó là trang trại của Alfred, một con người tự hào, thanh liêm và hơi ba hoa. Thân người to lớn nhưng gầy, cằm thon, mũi khoằm, ông được dân chúng vừa kính trọng vừa sợ. Hơi ba hoa, nhưng khi ông nói là để tuyên bố những câu châm ngôn về giá trị của công việc hay sự nghiêm túc của cuộc đời.

Bà Adèle, vợ ông, luôn có nụ cười niềm nở và giọng nói duyên dáng. Dân chúng thoải mái khi có mặt bà. Bà âm thầm đau khổ bên cạnh một người chồng dè sẻn lời nói và vuốt ve. Nàng nuối tiếc trong lòng là đã cưới một người quá ham việc, vốn đã từng làm cho người cha quá cố của nàng ngưỡng phục. Chắc chắn Alfred đã làm cho nàng sống thoải mái và hằng trung thành với nàng, nhưng vì quá bù đầu vào công việc, chàng chỉ dành cho nàng quá ít thời gian thân mật và vui thú.

Một hôm, Alfred quyết định rút ngắn ngày sống. Thay vì làm việc đến tối mịt, chàng trở về nhà sớm hơn dự tính. Trước sự sửng sốt, chàng bắt được quả tang Adèle với một người đàn ông láng giềng ngay trên giường ngủ của vợ chồng chàng. Người đàn ông mau lẹ nhảy qua cửa sổ chạy trốn, còn Adèle lúng túng qùy sụp dưới chân Alfred van xin tha thứ. Alfred đứng khựng như một pho tượng: mặt trắng bạch vì phẩn nộ, môi thâm lên vì giận dữ, nhưng nén giữ được làn sóng cảm xúc tấn công mình. Thấy mình bị cắm sừng như vậy, tình cảm của chàng đi từ bị lăng nhục đến tức giận, qua một nỗi đau sâu xa. Không phải là người lớn tiếng, chàng chỉ biết im lặng. Nhưng ông nghĩ ngay rằng thái độ im lặng sẽ làm cho Adèle bị một sự hành hạ lớn hơn mọi lời nói hay cử chỉ bạo lực.

 Không hiểu vì sao vụ việc Adèle được lan truyền trong làng và những kẻ "xấu miệng" tha hồ mà tán hươu tán vượn. Người ta đoán trước rằng Alfred sẽ đòi chia tay. Nhưng, để làm thất bại những chuyện ngồi lê đôi mách đó, thì nầy đây vào lễ trọng ngày Chúa nhật, Alfred đi vào lối giữa, đầu ngước cao, với Adèle bước lon ton theo sau. Là một tín hữu tốt, ông dường như đã hiểu những lời của Kinh Lạy Cha : "Xin tha thứ cho chúng con như chúng con tha thứ cho những kẻ xúc phạm chúng con". Nhưng cái vinh quang tha thứ của Alfred được kín đáo nuôi dưỡng bởi sự xấu hổ của Adèle.

 Ở nhà, Alfred tiếp tục khơi lửa hiềm thù, bằng thái độ câm lặng và những cái liếc nhìn đầy khinh miệt đối với nữ tội nhân. Tuy nhiên, trên trời không để bị giễu cợt bởi những vẻ bên ngoài của nhân đức, nên vội vả sai một thiên thần đến vực dậy tình trạng nầy. Cứ mỗi lần Alfred phóng cái nhìn cứng rắn và tối tăm trên Adèle thì thiên thần để rơi vào trái tim ông một hòn sỏi to bằng cúc áo. Mỗi lần như thế, Alfred cảm nhận một nhói đau khiến mặt ông phải nhăn nhó. Quả tim ông chỉu nặng đến đổi ông phải khom người bước đi và phải khó nhọc ưỡn cổ ra để thấy rõ phía trước.

 Một hôm đang cắt lúa, Alfred nhìn thấy một nhân vật sáng láng đứng tựa vào hàng rào bảo ông : "Alfred, ngươi xem ra quá đọa rồi." Bất thần nghe một người lạ gọi tên mình, Alfred hỏi người là ai và muốn gì. Thiên thần nói với ông : "Phải, ta biết ngươi đã bị vợ lừa dối và sự sĩ nhục hành hạ ngươi. Nhưng ngươi đang thực hiện một sự trả thù tinh vi, mà nó làm cho chính ngươi phải suy sụp tinh thần". Alfred cảm thấy mình bị đoán đúng nên cúi đầu xuống thú nhận : "Tôi không thể lấy ra khỏi đầu óc cái tư tưởng bị nguyền rủa nầy : làm sao nàng đã lừa dối tôi, một người chồng trung thành và quảng đại như thế ? Đó là một con đĩ, nàng đã làm nhơ bẫn cái giường của vợ chồng !" Nói những lời đó, Alfred nhăn mặt đau đớn. Bấy giờ thiên thần đề nghị giúp đỡ ông, nhưng Alfred quả quyết rằng không ai có thể nâng đỡ ông khỏi gánh nặng của mình : "Hỡi người lạ mặt, dù ông có thể toàn năng đi nữa, ông sẽ không bao giờ có thể xóa đi cái gì đã xảy ra được". Thiên thần bảo ông : "Ngươi có lý, Alfred ạ, không ai có thể thay đổi được quá khứ, nhưng từ bây giờ ngươi có khả năng nhìn quá khứ một cách khác. Ngươi hãy nhận diện vết thương của mình, chấp nhận sự tức giận và sĩ nhục của ngươi. Rồi từ từ, ngươi hãy bắt đầu thay đổi cái nhìn của ngươi trên Adèle. Phải chăng chỉ một mình nàng là có lỗi ? Hãy nhớ lại sự dững dưng của ngươi đối với nàng. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của nàng. Ngươi cần những con mắt mới và thần diệu để nhìn nỗi bất hạnh của ngươi dưới một ánh sáng mới".

 Alfred không thực sự hiểu, nhưng ông tin tưởng vào thiên thần. Làm sao ông chọn lựa làm khác được với gánh nặng thiêu đốt trái tim ? Thiếu phương tiện, ông hỏi vị khách làm sao có thể thay đổi cái nhìn của ông. Thiên thần bắt đầu chỉ dẫn cho ông thế nầy : "Trước khi nhìn Adèle, hãy làm giản ra các nếp gấp trên trán, những nét nhăn quanh miệng và những thớ thịt khác nơi khuôn mặt ngươi. Thay vì nhìn thấy nơi Adèle một người đàn bà xấu xa, hãy thấy một người vợ đang cần sự dịu dàng. Hãy nhớ lại ngươi đã đối xử lạnh nhạt và cứng cỏi với nàng như thế nào. Hãy nhớ lại lòng quảng đại và nhiệt huyết của nàng mà ngươi rất yêu quí ngay buổi đầu hai người yêu nhau. Đổi lại mỗi cái nhìn được đổi mới, ta sẽ cất khỏi trái tim ngươi một cục sỏi".

 Alfred chấp nhận cuộc trao đổi trong khi biện hộ cho sự vụng về tự nhiên của mình. Từ từ từng chút, cách chậm chạp, nhưng không phải là không cố gắng cách ý thức, ông chuyên chú nhìn Adèle với những cái nhìn mới. Nỗi đau trong lòng ông mờ nhạt đi dần dần. Adèle xem ra được biến đổi trông thấy : từ người vợ bất trung, nàng trở thành một con người dịu dàng và đáng yêu mà ông đã biết vào mùa xuân tình yêu của họ. Chính Adèle cũng cảm nhận được sự thay đổi. Được nâng đỡ, nàng tìm lại được tính khí tốt lành và nụ cười tươi vui của mình. Đến lượt mình, Alfred  tự cảm nhận đã hoàn toàn thay đổi. Con tim còn sây sướt vì các hòn sỏi đi qua tràn ngập một sự dịu dàng sâu xa. Cảm xúc mới mẻ ngập tràn còn làm chàng lo sợ. Nhưng một chiều nọ, đầm đìa nước mắt chàng ôm Adèle trong vòng tay, không nói một lời. Phép lạ tha thứ vừa được hoàn tất.

Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss chyển ngữ

VỀ MỤC LỤC
 CANH TÂN TINH THẦN SỐNG LỜI CHÚA

 

NHẬN XÉT VỀ LỐI SỐNG ĐẠO

Nhìn vào lề lối sống đạo của đa số giáo dân Việt Nam, ai cũng phải công nhận :

Nhiều người rất đạo đức, siêng năng đọc kinh lần hạt, chăm chỉ đi dự lễ ngày Chúa Nhật cũng như ngày thường, nhiệt thành đóng góp tiền của, sức lực cho công việc chung, như tổ chức rước kiệu, dâng hoa, xây nhà thờ… có lòng yêu mến và tận tình giúp đỡ các linh mục, luôn trung thành giữ vững đức tin cho mình cũng như cho người khác, dù gặp phải những hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đáng khích lệ ấy, còn có một số những khuyết điểm, những  thiếu sót quan trọng, cần được sửa chữa và bổ túc, để việc sống đạo được hoàn hảo hơn.

Khuyết điểm thứ nhất đó là : đạo chưa thực sự đi sâu vào đời sống cụ thể.

Thực vậy, chúng ta có thể thấy vô số gia đình công giáo sốt sắng đọc kinh, đi lễ hằng ngày, nhưng đồng thời vẫn gian tham của cải người khác, cư xử bất công với kẻ yếu đuối, đánh đập chửi rủa con cái bằng những lời lẽ thô tục cộc cằn, ích kỷ không chịu giúp đỡ kẻ cơ cực hoạn nạn chạy đến với mình. Họ chỉ giữ đạo trong nhà thờ mà chẳng chịu sống đạo trong lòng cuộc đời.

Đúng thế, như chúng ta đã nói : trong nhà thờ họ là những con chiên ngoan, họ đọc kinh lớn tiếng, họ ăn năn khóc lóc đến vãi cả nước mắt. Thế nhưng, khi bước xuống cuộc đời, họ lại hóa kiếp thành một loại lang sói. Họ cãi cọ, chửi rủa người lỡ xúc phạm đến họ một cách rất ồn ào, hăng hái. Họ bình thản bóc lột và cư xử tệ bạc tệ với những người chung quanh.

Đức tin của họ được sánh ví như một chiếc áo dài raglan thật mới và thật đẹp, nhưng chỉ được họ mặc vào khi tới nhà thờ, còn khi trở về nhà, họ lãi cất kỹ trong tủ và khóa chặt.

Sở dĩ  như vậy là vì họ có một quan niệm sai lạc. Họ chia đời sống thành từng ngăn. Ngăn lao động sản xuất, ngăn ăn uống ngủ nghỉ, ngăn chơi bời du hí. Và ngăn đạo đức chỉ là một ngăn rất nhỏ bé, biệt lập và không ảnh hưởng gì đến những ngăn khác.

Trong khi đáng lý ra, tinh thần Phúc Âm phải thấm nhiễm vào từng tư tưởng, tường lời nói, tường việc làm của họ và Đức Kitô phải là điểm trung tâm của đời sống họ như lời Thánh Phaolô đã nói :

- Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả vì Đức Kitô.

Mặc dù đời sống có chia ngăn chăng nữa, thì ngăn đạo đức phải là nền tảng, phải chiếu tỏa ánh sáng và phải ảnh hưởng đến tất cả những ngăn khác.

Khuyết điểm thứ hai đó là : họ đã có những cái nhìn sai lạc về đạo.

Thực vậy, đối với nhiều người : Đi đạo có nghĩa là phải chịu một số bí tích như Rửa Tội khi mới sinh ra, Thêm Sức khi vừa mới lớn lên, Hôn Phối khi tới tuổi trưởng thành.

Đi đạo có nghĩa là phải làm một số những việc đạo đức như đọc kinh, rước kiệu, dâng hoa, lần hạt…Và một khi đã chu toàn những việc ấy, họ cảm thấy lương tâm yên ổn và Thiên Chúa có bổn phận phải thi ân giáng phúc và  trao ban nước trời cho họ.

Đang khi đó, căn bản của đạo không phải là những hình thức bên ngoài, nhưng là tinh thần bên trong. Họ đáng bị Chúa quở trách :