Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 59, Chúa nhật 26.11.2006


Các số báo đã phát hành        MỤC LỤC

TẦM QUAN TRONG CỦA ĐỨC BÁC ÁI                                                                    Vatican 2

TAI ƯƠNG HAY TƯƠNG LAI                                                                 Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

Khi bị cáo là Vua Kyto...                                                       Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Khích lệ (bài 3)                                                                                         Lm. Lê Văn Quảng

Trở về với đời sống!                                                                          Lm. Nguyễn Ngọc Long

NGƯỜI BIẾT YÊU CHÍNH MÌNH LÀ NGƯỜI BIẾT YÊU TẤT CẢ        Lm. Ngô Văn Thích, OP.

Đau khổ & Ý Nghĩa của Cuộc Đời                                                                   Gs. Lê Xuân Hy

KẺ NGOẠI ĐẠO LÀM GIÁM MỤC TÀI BA                                                 Lm. Vũ Xuân Hạnh

TẠI SAO PHẢI SỐNG LỜI CHÚA ?                                                                          Tuỵ Hiền

Vạch trần những quan niệm sai lầm về tha thứ                    Lm. Jean Monbourquette OMI

Đốt sáng trần gian với ngọn lửa đức tin                             + Cố HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận 

THẾ GIỚI KHÔNG ĐỜN BÀ                                                         Chuyện phiếm của Gã Siêu


TẦM QUAN TRONG CỦA ĐỨC BÁC ÁI

 

Mọi hoạt động tông đồ phải bắt nguồn và lấy sức mạnh từ đức bác ái. Nhưng một số công việc tự bản chất của chúng có thể biểu lộ đức bác ái cách sống động. Đức Ki-tô đã muốn những việc đó là dấu chỉ của sứ mệnh cứu độ (x. Mt 11 ,4-5).

Điều răn quan trọng nhất trong lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết tâm hồn và yêu tha nhân như chính mình (x. 22,37-40). Thật vậy, Đức Ki-tô đã lấy điều răn bác ái đối với tha nhân làm một điều răn riêng của Người và mặc cho nó một ý nghĩa mới phong phú hơn, khi Người muốn đồng hoá chính mình với anh em như đối tượng của bác ái. Người nói: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây? là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40). Bởi vì khi nhận lấy bản tính nhân loại chính Người đã nối kêt toàn thể nhân loại với Ngươi thành một gia đình bằng một tình liên đới siêu nhiên, và Người dùng đức ái làm dấu hiệu riêng của các môn đệ Người, khi Người nói: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thày ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13.35).

Thời sơ khai, Hội Thánh liên kết bữa ăn thân tình "agapê" với bữa tiệc Thánh Thể để biểu lộ sự hiệp nhất hoàn toàn trong yêu thương chung quanh Đức Ki-tô. Như vậy, bất cứ thời đại nào, người ta cũng nhận ra Giáo Hội nhờ dấu chỉ tình yêu này, và Giáo Hội đã tự đảm nhận những công cuộc bác ái như là nhiệm vụ và quyền lợi bất khả di nhượng của mình, dù Giáo Hội vẫn hân hoan trước những sáng kiến của người khác. Vì thế, Giáo Hội đặc biệt đề cao lòng thương xót đối với người nghèo đói, bệnh tật, cũng như những công cuộc mệnh danh là từ thiện và tương trợ để xoa dịu mọi nỗi thống khổ của nhân loại.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân , của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 8).

VỀ MỤC LỤC
TAI ƯƠNG HAY TƯƠNG LAI

 

Phúc Âm Nhật Ký 19.11.2006

(Mc 13:24:32)

Hiện nay, Ðức Mẹ Fatima đang thánh du Houston.  Ðây là Thánh Tượng đã từng thánh du Việt nam cách đây hơn bốn chục năm, lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt nhất.  Nhìn lại Mẹ, tôi không sao cầm được nước mắt và bồi hồi nhớ về quê hương đau khổ bên kia bờ đại dương.  Cơn xúc động lên tới tột cùng khi thấy ánh mắt Mẹ vẫn đầy trìu mến nhìn đến đoàn con đang đau khổ dưới trần gian. 

Quỳ trước nhan Mẹ, tôi nghe rất rõ lời Mẹ nhắn nhủ.  Những bí mật Fatima một lần nữa lại vang lên.  Nhưng càng mở ra, những bí mật đó càng làm cho tôi băn khoăn và suy nghĩ.  Những lời đe loi khủng khiếp.  Mẹ kêu gọi mọi người ăn năn hối cải để tránh những tai ương sắp giáng xuống toàn thể nhân loại. Nói tóm, Mẹ muốn người ta suy nghĩ về cảnh tượng cánh chung để biết đường chuẩn bị.  Cái chết trở thành một phương tiện răn đe khá hữu hiệu đối với nhiều người.

Nhưng tôi tự hỏi những răn đe đó có phù hợp với Tin Mừng không ?  Trong khi Chúa nói “đừng sợ !” chẳng lẽ Mẹ lại đưa các hình phạt đó ra để hù con ?  Phải chăng Chúa dạy một đàng, Mẹ nói một nẻo ?  Phải chăng Mẹ đang cổ võ một nền văn hóa sợ hãi, ngược với Chúa Giêsu Con Mẹ ?  Giữa Mẹ và Con, chúng ta biết theo ai ?   Thực tế, Mẹ không bao giờ dạy chúng ta đừng theo Chúa.  Ngược lại, Mẹ luôn nói : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo !”[1]   Nếu chỉ chú tâm đến những gì xảy ra trong vũ trụ mà thôi, chúng ta có đủ lý do để run sợ.  Phải chăng Ðức Mẹ muốn chúng ta cắm mắt vào những biến cố tận cùng của vũ trụ mà quên đi Biến Cố lớn nhất là chính Con Thiên Chúa làm người ?  

Sống trong sự sợ hãi, con người có thể bình an và vững bước theo Chúa không ?  Ðã có lần Nietzche chua chát mỉa mai : “Các linh mục ấy làm tôi thương hại ...  Người mà họ gọi là Ðấng Cứu Thế đã cho họ vào cùm : cái cùm của những giá trị giả tạo và những lời nói hão huyền ...  Họ không biết yêu mến Thiên Chúa cách nào khác hơn là bằng cách đóng đinh con người ...  Có lẽ họ phải hát những bài hát hay hơn để tôi có thể bắt đầu tin vào Ðấng Cứu Thế của họ : có lẽ các môn đồ của Ðấng Cứu Thế ấy nên có một vẻ được giải thoát hơn.”[2]  Ðúng thế, Ðức Kitô mang đến sự giải thoát hoàn toàn, chứ không phải những bức bách hay kềm kẹp.

Hơn nữa, cái chết và phán xét dễ làm con người trở thành tiêu cực.  Cùng lắm chỉ làm chúng ta ăn năn không trọn.  Trong khi đó, Chúa Giêsu muốn chúng ta trọn lành như Cha trên trời.[3]  Nghĩ đến cái chết, con người có thể sống khôn ngoan hơn.  Nhưng cái chết không bao giờ có thể trở thành động lực thúc đẩy con người sống như Ðức Kitô Phục sinh.  Nghĩ đến cái chết của mình có thể làm cho con người lo sợ, chán nản và buông xuôi tất cả.  Tất cả trở thành tai ương.  Trái lại, muốn thoát khỏi tai ương và tiến tới một tương lai phục sinh toàn thể nhân loại, chúng ta cần phải tập trung vào cái chết của một Người Khác đến từ Thiên Chúa, chứ không phải cái chết của mình.  Chỉ có cái chết của Ðức Giêsu mới làm cho chúng ta sống và hưởng ơn cứu độ dồi dào .  Hiện nay, nhân loại đang sống trong thời đại Ðức Kitô phục sinh.  Ðức Kitô không còn chết nữa.  Tại sao lại tìm cái chết giữa thế giới đã chan hòa ánh sáng phục sinh ?

Bởi vậy, hôm nay Chúa Giêsu vẽ ra trước mắt chúng ta cảnh tượng cánh chung, không nhằm hù dọa, nhưng để mọi người thấy rõ ơn cứu độ lớn lao tới mức nào.  Quả thế, trong lúc cả vũ trụ kinh hoàng, Con Người sẽ xuất hiện như một cứu cánh và niềm hy vọng cuối cùng.[4]  Giữa lúc mọi người kinh hãi và tản mác, vẫn có niềm vui lớn từ cảnh quy tụ “những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.”[5]  Ðúng là một ngày Hội Lớn của những con người được cứu thoát.

Như thế, sự hủy diệt và sầu thảm chỉ xảy ra cho những lực lượng thù nghịch với Thiên Chúa và con người.  Còn những người tin tưởng vào Chúa Cứu Thế sẽ vui sướng và bình an.  Thực thế, “Kinh thánh gọi sự canh tân huyền nhiệm này, sự biến cải nhân loại và thế giới, là ‘trời mới và đất mới.’ (2 Pr 3:13)  Cuộc canh tân đó sẽ dứt khoát thực hiện kế hoạch Thiên Chúa đem “mọi sự trong [Ðức Kitô] ‘trên trời và dưới đất’ (Ep 1:10) dưới quyền một thủ lãnh duy nhất.”[6]  Ngay trên trần gian, người tín hữu đã sống trong niềm vui vì là chi thể của Chúa.  Vui vì thấy niềm hy vọng đang lớn lên tới mức độ viên mãn là Ðức Kitô.  Mặc dù sống trong sự căng thẳng giữa ân sủng và vinh quang, giữa những điều “đã có” và “chưa tới,” các tín hữu vẫn vững tin vào chiến thắng cuối cùng của “Ðấng đang hiện hữu để nắm trong tay vận mạng thế gian mau qua ; Ðấng nắm chìa khóa tử thần và âm phủ (x. Kh 1:18);  Ðấng là Nguyên Thủy và Cứu Cánh lịch sử nhân loại (x. Kh 22:13) ... Và Ðấng là Tình yêu (x. 1 Ga 4:8, 16) – Tình yêu trở thành con người, Tình yêu bị đóng đinh và phục sinh, Tình yêu không ngừng hiện diện giữa loài người.”[7]  Như vậy, vấn đề là làm sao nhận ra tình yêu tuyệt vời đó đang hoạt động bằng quyền lực Thiên Chúa để biến đổi ước vọng phù phiếm nhân loại thuần túy sang chân lý và thực tại Thiên Chúa.[8]

Ý thức về cánh chung không chỉ cần cho những người sắp lìa đời.  Chính người đang sống và tham gia vào công cuộc làm chứng càng cần ý thức về cánh chung hơn.   Từ cái nhìn cánh chung, mới có thể ý thức về tính cách bất tất của lịch sử.  Từ đó, có thể kiến tạo thế giới hiện tại và tương lai với một ý thức mới về trách nhiệm liên đới.[9]  Chính ý thức lịch sử đó đã khiến ÐGH Gioan Phaolô II tạo được một hành động lịch sử xin thế giới tha thứ vào năm Thánh 2000, nhất là năm 2001 ở Giêrusalem và Athen.

Sở dĩ có thể tạo được hành động lịch sử đó, vì ÐGH Gioan Phaolô II đã ý thức Chúa Giêsu, chứ không phải Giáo hội, là trung tâm lịch sử.  Chỉ có Mầu Nhiệm Vượt Qua của Ðức Kitô mới tạo thành trung tâm lịch sử cứu độ mà thôi.  Chính Giáo hội cũng nằm trong hoàn cảnh lịch sử.  Không xoay quanh trung tâm cứu độ đó, Giáo hội tự biến mình thành trung tâm chi phối tất cả công cuộc cứu độ.  Ðó là sai lầm đã nhiều lần diễn ra trong lịch sử.  Bao lâu Giáo hội nhận thức Chúa Kitô là cùng đích, nền tảng và trung tâm lịch sử, Giáo hội mới thoát khỏi vòng xoáy hay cơn lốc lịch sử.  Chỉ có niềm tin cánh chung mới cho thấy Ðức Kitô chính là Biến cố Cánh Chung hay Thời Ðại Cuối Cùng.  Chỉ có Người mới trình bày cả thời gian lời hứa và vinh quang thành tựu, vì Người đã hiệp nhất hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại nơi chính mình. 

Kitô hữu xác tín rằng vạn vật đang hướng tới và bắt nguồn từ biến cố trung tâm là Ðức Kitô.[10]  Ðức Giêsu chính là cứu cánh lịch sử.  Giáo hội là lữ khách cần cải tổ và canh tân không ngừng.  Không bao giờ được đồng hóa hay lẫn lộn Giáo hội với Nước Thiên Chúa trên trần gian.[11] Thế mới hay tính cách tương đối của Giáo hội.  Trên đường hướng về Ðấng Tuyệt Ðối, Giáo hội không thể quên tính cách nhân loại mỏng dòn và mau qua của mình.  Chính lúc nhận ra sự yếu đuối đó, Giáo hội lại được Chúa Thánh Linh soi sáng thấy con đường dẫn dắt lịch sử nhân loại tới cứu cánh viên mãn.  Chính Thánh Linh sẽ làm biến đổi thực tại trong ta và đem lại một sự sống bất hoại thể hiện nơi Ðức Giêsu lần đầu tiên khi làm cho Người trỗi dậy (Rm 8:11).  Sự sống đó thực sự đã được Giáo hội nếm hưởng ngay trên trần gian này.  Bởi đó, các tác giả Kitô giáo thường nói đến chiều kích “cánh chung” của các bí tích Giáo Hội và của đời sống đức tin.[12]

Nếu những điều tiên đoán trong các bí mật Fatima xảy ra thật, thì điểm nhấn không phải là những nét kinh hoàng của các biến cố đó.  Biến cố chính là Ðức Kitô Phục Sinh đang hiện diện trong tâm hồn và cuộc đời tín hữu.  Trước những biến cố thiên nhiên, họ luôn nghe Chúa phán : “Ðừng sợ !”  Ðây là lời nhắn nhủ vắn tắt và rất thực tế đối với những ai có lòng tin.  Thực vậy, “Trong Chúa Giêsu và Thánh Linh, Thiên Chúa hiện diện như một huyền nhiệm sự sống vượt lên trên mọi hiểm nguy hay đổ nát, một chân lý tối thượng, một tình yêu vô điều kiện và bền vững.”[13]  Ðúng như Kinh Thánh quả quyết : “Chúa là nơi con vào trú ẩn, lũy sắt thành đồng chống lại địch quân.”[14]

Nhưng hình như tiếng nói của bản năng sợ hãi vẫn trấn át chúng ta.   Sau khi Phục sinh, Chúa đã trấn an các môn đệ : “Ðừng sợ !”[15]    Chính ÐGH Gioan Phaolô II đã nhắc lại rất nhiều lần.  Nhưng chúng ta vẫn sống như thể Chúa chưa Phục sinh.  Bởi thế, vẫn không thể thắng nổi sự sợ hãi tầm thường.  Nếu đã từng sống ơn hiện sủng đầy tính ‘cánh chung,’ như đã mạc khải trong Tân Ước về Ðức Kitô, ta sẽ có một xác tín rõ ràng về tương lai cánh chung.  Thực vậy, “Kitô hữu nhận biết về tương lai mình vì họ hiểu về chính mình và ơn cứu rỗi của mình trong Ðức Kitô qua mạc khải của Thiên Chúa.”[16] 

Thực tế, có lẽ vì quá ít hiểu biết và sống Lời Chúa, nên chúng ta mới thấy tương lai đầy tai ương.  Thần Khí và sự sống thiếu vắng trong ta, nên mới dễ bị ám ảnh và kinh hoàng trước những viễn tượng đen tối.  Ðức Kitô là mạc khải cuối cùng và trọn vẹn nhất của Thiên Chúa.  Người là biến cố áp đảo mọi biến cố và đã dứt khoát bẻ lái lịch sử nhân loại sang một hướng khác hẳn.  Không thể coi thường niềm hy vọng Kitô, một niềm hy vọng có nội dung cụ thể là vị “Cánh Chung” tối cao.  Người là “những sự sau cùng” vào lúc lịch sử nhân loại hay cuộc đời mỗi người kết thúc.[17]

“Ngày Con Người được mạc khải,”[18] Chúa dạy chúng ta “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”[19]  Ðó không phải là thái độ của những người sợ hãi.  Trái lại, chỉ những người can trường và tự tin mới có thể đứng trong tư thế hiên ngang như vậy.  Ðúng hơn, chỉ những người tràn đầy niềm hy vọng Kitô, mới có thể nắm vững tương lai tuyệt đối là chính Thiên Chúa.[20]  Thế nên, biến cố lớn nhất không phải là vũ trụ tan biến, nhưng là Thiên Chúa mạc khải trọn vẹn tình yêu tuyệt đối vượt trên mọi sự chúng ta có thể tưởng tượng.

Cánh chung Kitô giáo là một sứ điệp cứu độ được thực hiện trọn vẹn trong Ðức Giêsu.  Những tiêu cực không thể tạo thành sứ điệp nòng cốt của Kitô giáo.  Cánh chung Kitô giáo là một phần công bố ơn cứu độ.  Ðó là “tin mừng” theo nghĩa trong sáng nhất.[21] Nếu tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, chúng ta cũng phải nhìn nhận Chúa Giêsu Phục Sinh có quyền trấn át tất cả sự sợ hãi, vì Người là Chúa Tể muôn loài.  Người đã chiến thắng cả tội lỗi và sự chết để bước vào vinh quang.

Muốn tham dự vào vinh quang đó với Người, chúng ta phải chia sẻ đau khổ và cái chết của Người.  Người đã phục sinh để bảo đảm ngày Người tái lâm chúng ta sẽ chiếm trọn vẹn hồng ân cứu độ.  Nếu không đại thắng , chắc chắn Chúa Giêsu không thể có toàn quyền giựt lại ơn cứu độ cho chúng ta.  Bởi đó, Phục sinh tương đương với việc kiện toàn trong mọi chiều kích của chúng ta  về phương diện cá nhân, vũ trụ và xã hội.[22] 

Rõ ràng cánh chung Kitô giáo mở ra một hướng sống vô cùng tốt đẹp.  Muốn được thế, dứt khoát chúng ta phải tập trung chú ý vào một biến cố vĩ đại hơn cả biến cố vũ trụ, đó là Ðức Giêsu Kitô.  Nhờ Thánh Thần, Chúa Giêsu đã trở thành niềm hy vọng duy nhất và sau cùng cho chúng ta khi phải chạm trán với những sự sau cùng của cuộc đời hay vũ trụ. Tất cả đều phải tan biến để mở một tầm nhìn mới về Thiên Chúa.  Trong sự hiệp thông trọn vẹn với Ba Ngôi, chúng ta sẽ trọn vẹn trở thành con Thiên Chúa.[23] 

Lạy Chúa, năm cùng tháng tận đã đến, xin mở ra cho chúng con thấy tình yêu mãnh liệt của Chúa nơi cái chết và sự Phục sinh của Con Chúa.  Xin cho chúng con biết núp bóng Con Chúa để có thể đứng vững trước những biến cố lớn lao của cuộc đời.  Trong khi hướng về ngày cánh chung, xin cho chúng con không quên Ðức Kitô chính là biến cố sau cùng mạc khải trọn vẹn hồng ân cứu độ của Chúa.  Amen.

đỗ lực

dzuize@gmail.com


[1] Ga 2:5.

[2] Trích lại từ  Rey-Mermet, C.Ss.R, Tin : Nhãn Quan Mới Về Luân Lý, Phạm Minh Thiện, cssr dịch, California: Tủ sách Tin, 1992, tr. 278

[3] x. Mt 5:48.  [4] Lc 21:28.  [5] Mc 13:27.  [6] Giáo Lý Công Giáo, số 1043.

[7] Gioan Phaolô II, Crossing the Threshold of Hope, New York : Alfred Knopf, 1994

[8] Shaw, R., Our Sunday Visitor’s Encyclopedia of Catholic Doctrine, Indiana : Our Sunday visitor, Inc., 1997, tr. 203.

[9] New Catholic Encyclopedia, 2nd ed., Eschatology in Theology, Lane, D. A., Farmington Hills : The Gale Group, 2003, tr. 347.

[10] Cullmann, O., Christ and Time, Philadelphia : Wesminster Press, 1947.

[11]  New Catholic Encyclopedia, 2nd Ed., Eschatology in Theology, Lane, D. A., Farmington Hills : The Gale Group, 2003, tr. 347.

[12] x. Commentary on the Catechism of the Catholic Church, ed. by Walsh, M.J. Eschotology, Brian E. Daley SJ, Minnesota : The Liturgical Press : 1994, tr. 205.

[13] ibid.  [14] Tv 61:4.  [15] Mt 14:27; Mc 6:50; Ga 6:20.

[16]K. Rahner, ‘The hermeneutics of eschatological assertions' in Theological Investigations, vol. 4 (London, 1966), tr 332, 335.

[17] Dictionary of Fundamental Theology, ed. by Latourelle, R. & Fisichella, R. Eschatology, Ladaria, L. F., New York : Crossroad, 1995, tr. 273.

[18] Lc 17:30.  [19] Lc 21:28.

[20] Dictionary of Fundamental Theology, ed. by Latourelle, R. & Fisichella, R. Eschatology, Ladaria, L. F., New York : Crossroad, 1995, tr. 273.

[21] ibid.  [22] ibid.  [23] ibid.

VỀ MỤC LỤC
Khi bị cáo là Vua Kyto...

 

CN 34. TN.B (Ga 18, 33-37)

Tin mừng mà Giáo hội muốn cho mỗi người chúng ta suy niệm nhân lễ Chúa Kytô Vua được đặt trong bối cảnh Chúa Giêsu bị người Dothái điệu từ nhà ông Caipha đến dinh tổng trấn. Như thế có nghĩa là Chúa Giêsu sau khi bị xử ở tòa án Dothái, thì giờ đây Người còn phải ra trước toà án Rôma mà đại diện là tổng trấn Ponxiô Philatô – làm tổng trấn xứ Giuđa từ năm 26-36. Đỉnh cao của phần thẩm vấn giữa một bên là quan toà Philatô và một bên là “bị cáo” Giêsu liên quan đến điều mà cáo trạng của kẻ thù nghịch nêu lên để chống lại Chúa Giêsu với tội danh Người tự xưng là vua.

Tại sao phải nại tới tòa án Rôma? Chúng ta biết là quyền xử án và thi hành án của tòa án Thượng hội đồng Do thái rất giới hạn trong phạm vi tôn giáo. Tòa án Thượng hội đồng chỉ được xử án những tội với mức xử là đánh đòn hay giam tù mà thôi. Còn kết án tử hình thì tòa án Thượng hội đồng không được phép thi hành bản án mà phải chuyển sang tòa án Rôma thực thi bản án này. Vì thế chúng ta thấy trong phiên tòa xử Chúa Giêsu, tòa án Thượng hội đồng Dothái kết án tử hình Chúa Giêsu vì tội phạm thượng. Nhưng với tội phạm thượng này, tòa án Rôma không thể xử và thi hành được vì đây là tội thuộc phạm vi tôn giáo chứ không thuộc tội chính trị. Thế nên người Do thái bèn nẩy “sáng kiến” khiến Chúa Giêsu phải bị tử hình dưới tòa án Rôma. Từ tội danh phạm thượng chỉ thuần túy mang tính tôn giáo, giờ đây người Do thái chuyển sang tòa án Rôma và chụp mũ Chúa Giê-su với ba tội danh “chết người”, đó là 1/ Xách động quần chúng; 2/ Ngăn cản nộp thuế cho hoàng đế và 3/ Tự xưng là Vua!

Sở dĩ chúng ta biết rõ tội của người Dothái là vì đứng trước lời thẩm vấn của Philatô : “Ông có phải là vua dân Dothái không?”, Chúa Giêsu đã truy tìm nguồn gốc của lời kết án này và chính Philatô đã cho biết đó chính là người Dothái đã tố cáo.

“Nuớc tôi không thuộc về thế gian này”. Điều mà Chúa Giêsu khẳng định một lần nữa cho thấy nước Chúa không như cách người Dothái hay như Philatô hình dung và mong đợi. Người Dothái dưới thời đế quốc Rôma thống trị vẫn thường xen lẫn ý nghĩ là mong chờ Đấng Cứu Thế (Mêsia) đến để đem lại sự thống nhất đất nước cho dân tộc Dothái đang bị đế quốc đô hộ.

Vâng, nước của Chúa Giêsu không giống như cách con người quan niệm là phải của thành phần thống trị nhờ có sức mạnh về quân sự, mở mang bờ cõi, xâm chiếm các quốc gia khác,… Nước của Chúa Giêsu không nhằm mục tiêu chính trị, vì thế Người không bao giờ là Đấng phải đến theo quan niệm trần thế là chỉ để thực thi công cuộc giải phóng, chấn hưng đất nước. Nước của Chúa đến từ nơi khác, từ nơi mà Người đã sinh ra từ đời đời và cũng từ đó mà Người đã đến thế gian.

Chính vì Người đã đến thế gian nên sứ mạng của Người nơi trần gian là “làm chứng cho sự thật”. Làm chứng cho sự thật không gì khác hơn là tử đạo (Martyr. Chính cái chết của Người trên Thập giá là bằng chứng và là dấu ấn cho việc làm chứng đó.

Nước của Chúa Giêsu được thiết lập không phải nhờ sức mạnh quân sự, vũ khí hạt nhân, tiền và mưu lược, nhưng chính là nhờ lời mạc khải từ Thiên Chúa và công dân của nước đó là tất cả những ai đón nhận và thực thi Lời mạc khải.

Là Vua, nhưng Vua Giêsu không giống như vua trần thế là để được người ta hầu hạ, cung phụng, nhưng Người đến để hầu hạ và nâng đỡ kẻ yếu hèn;

Quyền lực của Vua Giêsu cũng không phải là quyền lực của thế trần. Nghĩa là một thứ quyền lực của kẻ quyền thế, một quyền lực theo kiểu “trên giáng xuống, dưới chịu đựng” mà quyền lực của Người là quyền lực của tình yêu ;

Sức mạnh của Vua Giêsu không đến từ đội quân hùng hậu, trang bị vũ khí hiện đại mà chính là sức mạnh của lòng tha thứ;

Thành công của Vua Giêsu không phải là thứ thành công của kẻ thắng trận, của kẻ mạnh mà chính là thành công do thập giá và máu, tra tấn và tù đày, khinh chê và nhục mạ vì chân lý, vì Tin mừng.

Và cuối cùng, mũ triều thiên của Vua Giêsu không được nạm bằng ngọc bích, bằng vàng ròng mà là mũ triều thiên trên đó được gắn những đớn đau, tội lỗi của thế trần, được chạm trỗ bởi tình yêu và sự vâng phục.

Lạy Chúa Giêsu là Vua, chớ gì môi miệng chúng con tuyên xưng Chúa là Vua và tâm trí chúng con luôn hướng về Chúa như là Đấng Quân Vương của Chân - Thiện – Mỹ; nhờ đó, chúng con luôn dấn bước theo Chúa, đồng hành với Chúa giữa dòng đời để rao giảng tình yêu của Chúa cho mọi người.

 Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

VỀ MỤC LỤC
KHÍCH LỆ  (bài ba)

 

Cu Chính 10 tuổi là một bé trai nghịch ngợm lúc ở nhà cũng như khi ở trường. Nó khởi sự nhiều chương trình nhưng không bao giờ làm xong được cái gì. Điểm học của nó ít khi đạt được trung bình. Nó là đứa lớn nhất trong 3 đứa trai. Đứa em kế 8 tuổi và đứa thứ ba 3 tuổi. Cu Chính thích chơi với đứa bé nhất và hay gây lộn với đứa thứ nhì tức bé Chinh. Bé Chinh đạt được điểm cao ở trường và hoàn tất những gì nó khởi sự. Sở thích của nó không nhiều như anh nó. Một ngày kia cu Chính làm gần xong một con trâu bằng đất. Mẹ nó quan tâm đến việc nó không làm xong điều mà nó khởi sự nên tìm cách khuyến khích nó: “Thật là dễ thương, con đang làm một tuyệt tác”. Và thật bất ngờ, cu Chính ném con trâu xuống sàn nhà và hét lên: “Con không dễ thương mà thật đáng chán”. Thế rồi, nó lầm lì đi ngay vào phòng nó.

Mẹ nó cố gắng khích lệ nó bằng cách ca tụng nó. Nhưng phản ứng của nó cho  thấy rằng lời ca tụng của bà mẹ không khích lệ mà ngược lại càng làm cho nó thêm chán nản. Tại sao? Lời ca tụng có thể là khích lệ mà cũng có thể là không.

Đây là một điển hình cho thấy : không có một mẫu trả lời nào hoặc một qui luật nào là tiêu chuẩn cho việc khích lệ con trẻ. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào sự phản ứng của đứa trẻ. Bé Chính đã quá tham lam: muốn làm quá nhiều điều nhưng không thể làm được. Khi người mẹ ca tụng nó, nó sinh giận dỗi vì nó mang mặc cảm rằng: nó có bao giờ làm được một cái gì xem ra khá đâu. Nó cảm thấy lời của mẹ nó không là một lời khuyến khích thật mà là một lời châm chọc mỉa mai. Nó muốn tác phẩm mà nó hoàn thành phải là một cái gì tuyệt vời. Nhưng những cố gắng của nó thì khác xa với những gì nó ước muốn vì sự thiếu khả năng của nó, và vì muốn hoàn thành mọi sự cách tức khắc nên nó không thỏa mãn với bất cứ cái gì. Người mẹ đã ca tụng tác phẩm nó làm, nhưng với nó, nó cảm thấy tác phẩm đó vẫn còn là một cái gì khác xa với cái mà nó mong muốn. Thật ra, không ai hiểu được cái thất bại mà nó đang gặp phải ngay cả bà mẹ của nó, vì thế nó sinh ra giận dỗi.

Bé Chính cần sự khích lệ nhưng phải là một sự khích lệ khác thường. Nó cảm thấy mình hoàn toàn thất bại trong mọi sự nó làm. Khởi sự hết công việc nầy đến công việc khác, nó tỏ ra hoạt động và bận rộn với nhiều công việc, nhưng chẳng bao giờ làm xong được một cái gì, và nó đã dùng phương cách đó để tránh đối diện với sự bất tài của nó. Trong khi đó, em nó, cu Chinh luôn thành công trong mọi việc, điều đó càng làm cho nó thêm xấu hổ. Sự quá tham vọng là kết quả của mặc cảm thua kém em nó. Ngoại trừ nó phải đứng đầu, nó không là gì cả. Chính cái tư tưởng lệch lạc đó đã hướng dẫn hành vi sai lầm của nó. Với nó, có thể nói được rằng đó là một công việc hoàn toàn không thể. Vì thế, nó cảm thấy mình chỉ là một thất bại, và do đó không có một lời ca tụng nào có thể mang lại cho nó một sự khích lệ.

Nếu mẹ nó có nói rằng con người không cần phải là hoàn toàn, thì điều đó cũng chỉ là vô ích và chỉ càng làm cho nó nghĩ rằng không có một ai hiểu được nó. Nó cảm thấy rằng mọi cái nó làm phải là hoàn toàn vì nó đồng hóa cái nó làm với cái nó là. Nhưng dẫu cho nó có thành công trong một số công việc, nó vẫn coi đó là một sự thất bại vì cái quan niệm lệch lạc của nó. Nó cần phải đổi hướng, đổi cách nhìn, phải thay đổi cái hoàn toàn của một công việc bằng cái thõa mãn của một sự đóng góp. Tuy nhiên, nó cảm thấy rằng ngoại trừ sự đóng góp của nó là hoàn toàn, nó chỉ là một thất bại.

Bé Chính cần được giúp đỡ nhiều để nó tái thẩm định giá trị về chính mình và chỗ đứng của nó trong gia đình. Cha mẹ cần dấn thân trong việc nầy. Cái chủ nghĩa “phải là hoàn toàn của nó” phát xuất từ một chỗ nào đó: hoặc từ cha, hoặc từ mẹ, hoặc cả hai – có lẽ đã có tiêu chuẩn quá cao cho sự hoàn thành của một công việc. Có thể họ cũng đã nói với nó rằng nó không cần phải là hoàn mỹ, nhưng trong lối sống, họ lại mâu thuẫn với lời họ nói. Gia đình như vậy cần cởi mở thảo luận với con cái họ về: thế nào là tốt đối với một con người trước khi một người trở nên tốt đủ. Thay vì ca tụng nó, tốt hơn là nói với nó rằng mẹ vui khi nhìn thấy con thích thú làm việc đến cuối cùng.

Mỹ Linh 5 tuổi rất thích thu dọn chiếc giường của nó cho gọn gàng. Nó kéo những tấm ra phủ giường qua hướng nầy rồi hướng khác. Cuối cùng thì cô bé đặt nó vào vị trí mà cô bé thích. Mẹ nó vào phòng, thấy giường xếp đặt không được đẹp mắt mới bảo: “Cưng ơi, mẹ sẽ làm cho con, những tấm chăn phủ giường thì quá nặng đối với con”.

Người mẹ không những ám chỉ rằng Mỹ Linh chưa đủ khả năng để làm chuyện đó vì nó còn quá bé, nhưng cũng còn muốn tỏ ra cái siêu việt của bà bằng cách trải đẹp những tấm chăn phủ giường trong khi cô bé đứng nhìn mà lòng cảm thấy xấu hổ. Niềm vui do việc hoàn thành một cách tốt đẹp công việc thu dọn chiếc giường đã biến mất khi đối mặt với sự hoàn thành tuyệt hảo của bà mẹ. Mỹ Linh không bao lâu sẽ cảm thấy : người mẹ làm điều đó so với nó đẹp hơn nhiều nhưng nào có ích chi?

Nếu người mẹ tỏ ra vui khi thấy Mỹ Linh thích làm điều đó và với một lời khuyến khích như: “Thật là tuyệt nếu con kéo nó xích lên một chút” hoặc “ Hãy nhìn cưng của mẹ tự thu dọn giường của con”, Mỹ Linh chắc sẽ vui để thực hiện, và sẽ còn thích thú tiếp tục. Không thành vấn đề có bao nhiêu nếp nhăn trên những tấm chăn phủ cô đã trải, người mẹ không nên tỏ cho Mỹ Linh thấy rằng bà đã làm điều đó tốt hơn đứa bé nhiều. Bà có thể sửa lại sau đó sau khi đứa bé không còn ở đó nữa. Một khi đã hoàn chỉnh xong, người mẹ có thể khích lệ cô bé bằng những đề nghị như : “Tại sao con không cuộn nó lại và rồi lại trải ra khi con thức giấc?” Hay mỗi khi thay chăn, bà mẹ nên có những đề nghị như : “Mẹ con mình thay chăn để giặt!” và bắt đầu vừa làm vừa chỉ cho cô bé. Tuyệt đối tránh những phê bình, chỉ trích mà chỉ có những lời khích lệ như : “Bây giờ chúng ta vén góc nầy lên và dấu nó vào trong” hoặc  “Chúng ta cùng kéo nó lên để hai đầu ra vừa khít với cái đệm” . Trong cách thế như vậy, dẫu là đang học làm một việc gì chẳng qua cũng giống như là đang chơi một trò chơi thích thú, và cả hai mẹ con đều có chung niềm vui là cùng làm một công việc với nhau.

(còn tiếp)

lm.levanquang.

VỀ MỤC LỤC
Trở về với đời sống!

 

Chúng ta thường nói: thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng!

Mắt để nhìn xem, răng để nhai thức ăn. Hai bộ phận này quan trọng trong đời sống hằng ngày. Nếu chẳng may một hay hai cơ quan chức năng này bị hư hại thật là một tai nạn cho đời sống người đó. Ai đã có lần bị đau mắt, nhức răng mới cảm nghiệm được nỗi đau khổ này.

Ai không xem thấy rõ những gì ở gần, như khi đọc sách báo, hay khâu vá, sửa chữa xe cộ... mới cảm thấy khoan khoái dễ chịu khi có kính đeo vào giúp đôi mắt nhìn sáng rõ ra. Lúc đó họ mới nhận rõ chữ cùng những vật thể ở gần. Sức sống bừng lên chạy qua luồng thần kinh cùng làn da thớ thịt luân chuyển khắp cùng thân thể.

Cảm giác cùng sức sống đó cũng xảy ra tương tự với người không nhìn rõ vật ở xa, mà phải cần đeo kính cận mới nhận ra.

Có những người bị bệnh tật hư hai con mắt. Họ không còn nhìn thấy gì nữa. Cặp kính nào cũng không giúp gì cho họ được. Lúc đó chỉ cảm giác qua sờ đụng chạm, qua nghe, ngửi hay trực giác từ trong tâm trí giúp họ nhận ra thôi. Họ mù lòa không nhìn thấy ánh sáng thiên nhiên, không nhìn thấy hình hài cùng mầu sắc. Họ phải sống trong đêm tối mù mịt.  

Một tai nạn, phải, một đại họa xảy đến cho đời họ. Họ là người tội nghiệp đáng thương!   

Trong đời sống, dù đôi con mắt khoẻ mạnh nhìn sáng rõ, không phải đeo kính, nhưng ta vẫn nhiều khi vấp vào tình trạng gần như bị mù lòa. Mù lòa vì nóng giận, mù lòa vì lòng ham muốn tham lam, vì thiếu lòng bác ái, vì lườn biếng, mù lòa vì dục vọng đam mê trong yêu đương, vì buồn sầu đau khổ, mùa lòa vì lòng ghen tỵ, vì lo âu sợ sệt, mù lòa trước công trình tạo dựng của Thiên Chúa trong thiên nhiên...

Vướng vào tình trạng đó, ta như người bị lạc lối, sống xa lìa thế giới cuộc sống, tương tự như người không còn nhìn nhận ra đường đi trong đời sống nữa.  

Người mùa lòa Bartimäus ngồi bên vệ đường trong phúc âm được Chúa Giêsu chữa cho sáng mắt nhìn thấy trở lại được. Vì anh tin: Lòng tin của con cứu chữa con!

Chúa Giêsu chữa cho anh không chỉ đem lại tình trạng sức khoẻ, niềm vui hạnh phúc cho sáng mắt nhìn được thiên nhiên, nhìn được con người, nhìn được mầu sắc. Nhưng còn hơn thế nữa: cho anh nhận ra ý nghĩa đời sống, cùng cơ hội trở về với đời sống xã hội làm người.

Mắt bị kém nhìn không rõ, ta cần có kính đeo vào để nhìn cho rõ ra. Bị đau mắt, đi chữa trị bằng thuốc men để mắt lành mạnh trở lại.

Còn khi bị mù lòa về tâm trí không còn nhận ra ý nghĩa cùng con đường sống, lúc đó cần nhớ đến gương sáng tốt lành, cùng những lời an ủi chỉ bảo ngay chính, để mở tâm trí ra, nhất lòng tin vào Thiên Chúa là nguồn ánh sáng cho con người: Xin Chúa cho con được nhìn thấy. Vì tâm trí con đang bị mù lòa!

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC

NGƯỜI BIẾT YÊU CHÍNH MÌNH LÀ NGƯỜI BIẾT YÊU TẤT CẢ

 

Câu nói đầy mâu thuẫn. Phải chăng đây là chủ trương của nhóm người theo chủ nghĩa cá nhân, những người chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của chính mình, mà không đếm xỉa đến quyền lợi của ai khác.

Không đâu bạn ạ. Câu nói đó là một chân lý, một sự thật 100% đấy. Bạn không tin ư. 

Chúa Giêsu dạy: chỉ có một giới răn duy nhất là hãy kính mến Thiên Chúa và yêu thương anh em như chính mình (xem Mt 22:37-39). Làm sao bạn có thể yêu người anh em nếu bạn không biết yêu chính mình. Cái mức để đo lường Yêu là chính bạn.

Yêu là một tập quán tốt. Tập quán là những gì được làm đi làm lại nhiều lần, để rồi trở thành tự động. Bạn có yêu chính mình, thì bạn mới có tập quán để lúc nào cũng biết yêu. Làm sao có thể yêu người anh em, nếu bạn không có tập quán yêu. Yêu là cho, là tha thứ, là chia sẻ ...

Hơn nữa, khi giận ghét người khác, bạn hủy hoại chính bạn. Khi giận ghét ai, cứ nghĩ đến người ấy hoặc những gì liên hệ đến họ, bạn sẽ tức tối, bực bội, không còn bình an, không còn vui vẻ, tim đập nhanh, các bộ phận trong cơ thể bị xáo trộn, dễ sinh bệnh. Vì thế, bạn ơi, yêu người khác cũng chính là yêu bạn đấy.

Bạn ơi, yêu, yêu thật nhiều, yêu chính mình, và yêu mọi người.

Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

VỀ MỤC LỤC
Đau khổ & Ý Nghĩa của Cuộc Đời

 

Những đau khổ của cuộc đời

Một đêm kia, tôi làm trong phòng cấp cứu của nhà thương. Quãng 2 gìơ sáng, xe cứu thương đưa một em gái 19 tuổi vào. Khi cha mẹ em tới thì em đã tắt thở. Cha mẹ em lớn tiếng kêu gào em thức dậy, rồi hứa sẽ mang em về Việt Nam, không ở lại trên đất Mỹ nữa. Gia đình qua đây chỉ vì em, và bố mẹ chỉ có em, chỉ sống vì em. Nay em chết như vậy, cuộc sống của bố mẹ không còn ý nghĩa gì nữa.

Đối với hai ông bà, “Mặt trời đã ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng,” như đã viết trong Phúc Âm hôm nay.

Mỗi người chúng ta đều sẽ có những lúc khó khăn như vậy, như Chúa đã nói, “thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. ”Có khi vì tai nạn như em gái kia. Có khi vì hoàn cảnh xã hội hay chiến tranh như trong bài đọc thứ nhất. Sách tiên tri Daniel, chương 11, kể chuyện các vua chúa mạnh mẽ nhưng lại đồi bại, đánh nhau để tranh dành danh lợi, gây ra bao cảnh chết chóc lầm than cho người dân. Hoàn cảnh ngày nay có khi còn tệ hại hơn. Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, mỗi NGÀY có quãng 30,000 em bé từ 5 tuổi trở xuống bị chết vì những bệnh dễ chữa như chết vì thiếu dinh dưỡng và thuốc men. Hiện giờ có quãng 800 triệu người trên thế giới bị đói triền miên mặc dù thế giới dư thừa thực phẩm. Từ năm 1960 tới giờ, người giầu càng giầu hơn, còn người nghèo càng nghèo hơn.

 Đó là những bất công của cả xã hội. Ta cũng có thể đau khổ vì bị người khác làm hại. Có khi ta hại cả mình lẫn người vì những ham muốn không tốt của chính mình. Có khi vì thiên nhiên, như bão lụt. Và ai cũng phải đi qua sinh lão bệnh tử.

Cả đời cố gắng vất vả, mà tới cuối cùng đau khổ như ông bà đã mất cô con gái trên đây, thì cuộc đời quả là quá đau khổ, tăm tối. Nhiều triết gia hiện sinh đã hỏi là có nên sống hay tự tử cho rồi. Tuần này là Chúa Nhật áp cuối của năm phụng vụ, Giáo Hội giúp ta nghĩ tới ý nghĩa tối hậu của cuộc đời, mà mỗi người chúng ta đều phải luôn sẵn sang để đối phó, vì “ngày hay giờ đó thì không ai biết được.”

Không tránh né, Chúa nói rõ, “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng.” Đây là bài giảng cuối cùng của Chúa trước khi chính Ngài chịu thương khó và chịu chết.

Chúa cứu chúng ta

Phúc Âm là tin mừng, mà sao lại mang tin dữ vậy? Bước đầu trong hành trình đón nhận tin mừng là nhận ra trong vũ trụ và trong chính chúng ta. Ai không thấy sự dữ này và sự bất lực của chính mình trước những sự dữ kinh hoàng đó, thì khó mà cần Chúa, mà cầu xin Chúa cứu. Thí dụ như người nghiện rượu có thể nhận ra sự dữ mà họ không kiềm chế nổi. Phải nhận ra điều đó, người đó mới khẩn cầu Chúa giúp.

Ai thấy khổ, nhận ra mình không tự cứu được chính mình, và đến với Chúa, thì Ngài sẽ cứu, như Chúa đã nói, “…khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi.”

Có phải tới lúc đó Chúa mới cứu chúng ta chăng? Không phải vậy, Chúa đã bắt đầu tuyển chọn và cứu chúng ta từ bây giờ. Tới ngày phán xét, Chúa chỉ thu thập những kẻ Chúa đã chọn, như trong câu 27, “Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về.”

Chúa chọn ai? Chúa đã nói rõ trong Phúc Âm là Chúa chọn mọi người, Do Thái cũng như dân ngoại, và Chúa đặc biệt để ý tới và nâng niu người nghèo và kẻ tội lỗi mà ăn năn trở về. Tình thương Chúa mở rộng, nhưng Chúa cũng tôn trọng tự do con người, nên câu hỏi thật ra là làm sao chúng ta chọn Chúa, theo Chúa? Suốt cả Phúc Âm nói rất rõ ràng: đó là tình thương. Không phải chỉ thương mình Chúa, mà thương cả tha nhân, nhất là những người ngay quanh ta, như cộng đoàn sở tại.

Tình thương không giúp ta tránh thoát đau khổ, nhưng mầu nhiệm thập giá của Chúa Kitô giúp chúng ta chiến thắng đau khổ. Ngay cả sự chết cũng không lay chuyển được chúng ta, như các thánh tử đạo Việt Nam đã minh chứng. Dù thế gian có làm hại ta tới độ nào đi nữa, chúng ta vẫn được sản nghiệp to lớn hơn bất cứ cái gì khác, vì “Chúa là gia nghiệp đời con,” như trong thánh vịnh 16 mà chúng ta hát trong Chúa Nhật này.

Chiến thắng và hạnh phúc này sẽ toàn hảo trong ngày sau hết, nhưng ngay trong những giây phút của mỗi ngày hôm nay, khi chúng ta yêu thương, dù là trong nghịch cảnh, thì chúng ta đã bắt đầu kết hợp với Chúa rồi. Thật ra, tình yêu trong nghịch cảnh, trong hy sinh, mới rõ là tình yêu chân thật, không phải vì thoả mãn cá nhân mà vì người khác, vì Chúa. Chính Chúa là gương mẫu của tình yêu thập tự này.

Diễn Tả Tình Việt Trên Đất Mỹ

Cách diễn tả tình thương cũng quan trọng. Thiên Chúa ban cho gia đình Việt Nam một tình thương đậm đà vô cùng, đến độ chúng ta không nói đến chữ “thương,” chữ “yêu,” mà thương yêu bằng hành động, ngay cả những hành động có vẻ khắt khe, “thương cho roi cho vọt.” Mình làm việc tốt cho người khác, không phải để lấy lòng. Tình thương tự nói lên giá trị của nó. Nếu có tình thương thật thì khỏi cần nói, còn nếu không thương mà nói “thương” để lấy lòng thì là cách dối trá tệ hại nhất. Tóm lại, không nói tốt hơn.

Tuy nhiên người gốc Việt sống trên đất Mỹ phải đối phó với một lối ứng xử khác, nhất là với con cháu lớn lên trên đất Mỹ. Đối với cách ứng xử bên này, không nói “thương” là một thiếu xót lớn. Nói dễ hơn làm, mà còn không nói nữa, thì chắc là không muốn thương, không để ý tới thương. Cái khắt khe tình thương của người Việt lại có thể bị coi là thiếu tôn trọng cá nhân.

Vậy ta nên ứng xử như thế nào? Bỏ phong tục rất quý báu của chúng ta, hay gây hiểu lầm với con cái? Theo chúng tôi, điều quan trọng nhất là chúng ta tự xét mình coi chúng ta yêu thương con cháu và láng giềng thật không và tới độ nào. Theo kinh nghiệm riêng của tôi, đa số các lần tôi la mắng con cái là vì long tôi không yên, la cho hả dạ tôi chứ không phải chỉ vì thương con. Đa số các lần tôi chỉ trích người khác cũng vì tôi xấu bụng, không kiểm soát mình được, nói xong rồi hối hận, chứ chả phải thương yêu gì.

Sau đó, chúng ta xét tới làm cách nào để diễn tả tình thương đó cho người khác khỏi hiểu lầm, vì hiểu lầm chỉ gây thêm đau khổ cho cả hai bên. Nếu giải thích được cho các em hiểu được cái hay thâm sâu của người Việt thì tốt nhất, còn nếu không giải thích được, thì có lẽ người lớn tuổi phải thay đổi và dùng ngôn ngữ của xã hội này chăng.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta một tâm hồn bình an và yêu thương anh chị em chung quanh, cũng như với những người đói khổ trên thế giới, cho dù có nhiều lúc khó thương và phải hy sinh. Xin Chúa cũng giúp chúng con biết diễn tả tình thương này trong gia đình và trong cộng đoàn. Qua tình thương bằng ý chí và hành động này, chúng con được làm dân Chúa, sống trong hạnh phúc bất toàn của tình thương bây giờ, và tin tưởng sẽ được chính Chúa làm gia nghiệp trong ngày sau hết. 

Gs. Lê Xuân Hy

Máccô 13:24-32

24 "Nhưng trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng,
25 Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển.
26 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.
27 Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.
28 "Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. Khi cành nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần.
29 Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi.
30 Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.
31 Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.
32 "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.

VỀ MỤC LỤC
KẺ NGOẠI ĐẠO LÀM GIÁM MỤC TÀI BA

Ngày 07.12.2006, thứ năm sau Chúa nhật I mùa Vọng

Lễ nhớ thánh Amrôsiô, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh

  Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu (Mt 7, 21. 24-27)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “KHông phải tất cả những ai nói với Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta trên trời, kẻ ấy mới được vào Nứơc Trời. vậy, ai nghe những lời Ta nói đây, và đem ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan, đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió bão có thổi đến, và lùa vào nhà đó, nhà vẫn không sập, vì nhà ấy được xây trên nền đá. Và hễ ai nghe lời Ta nói đây mà không đem ra thực hành, thì giống như người ngu đần, xây nhà mình trên cát, khi mưa sa nước, gió thổi và lùa vào nhà đó, nhà sẽ sâp và trở nên đống hoang tàn”.

Suy Niệm

Thánh Amrôsiô là con trai của tổng trấn Anrêliô, một viên chức cao cấp La mã. Ngài cũng theo đuổi sự nghiệp quan trường và được bổ nhiệm làm Tổng Trấn Aemilia-Liguria miền Bắc xứ Italy. Tỉnh đô được đặt tại Milan.           
 

Vào năm 374 Đức Giám mục Milan chết, Hội Thánh chia rẻ trầm trọng giữa Hội Thánh Công giáo và phái chống đối là bè rối Ariô có một số chủ trương sai lệc đức tin, ly khai khỏi Hội Thánh. Cả hai bên đều kình chống nhau, vì thế không thể giàn xếp được người kế vị giám mục Milan.

Khi bạo động sắp bùng nổ thì Amrôsiô, vớI tư cách là Tổng độc, đại diện triều đình đến nhà thờ chánh tòa dàn xếp. Đang lúc cuộc nói chuyện diễn ra, bất thình lình có tiếng hô lớn: “Amrôsiô làm Giám mục!”. Rồi tất cả đám đông đều đồng thanh hô lớn như vậy. Amrôsiô hoảng hồn, bởi vì ngài là người ngoại đạo. Ngài vội vã ra khỏi thánh đường. Nhưng đám đông đã bao quanh và hoan hô. Ngài đành chấp nhận. Phải chăng đây là thánh ý Chúa. Chỉ trong vòng một tuần lễ, ngài chịu phép rửa, thêm sức, nhận chức thánh, và lảnh nhận chức Giám mục thành Milan.          

Không được sửa soạn trước cho chức vụ, ngài muốn làm một Giám mục xứng đáng. Ngài dâng hiến tất cả tài sản cho Hội Thánh, bắt đầu sống một cuộc đời nhiệm nhặt, ngày đêm cầu nguyện, học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh và Thần học. Ngài trở thành đấng bảo trợ người nghèo và luôn luôn mở cửa đón tiếp người túng thiếu. Ngài thuyết giảng mỗi Chúa nhật, tự mình dạy giáo lý cho tân tòng và huấn luyện giáo sĩ. Chỉ trong một thời gian ngắn ngài nổi tiếng là một vị Giám Mục gương mẫu.           

Trong số những người ngưởng mộ ngài có một thanh niên tên là Augustinô đã được ngài hướng dẩn và rửa tội vào năm 386. Trong sách Tự thuật (Confessions), thánh Augustinô đã ngạc nhiên, ngở ngàng và cảm mến khi thấy thánh Amrôsiô yên lặng đọc và suy gẫm Thánh Kinh vì theo thói quen thời bây giờ là đọc lớn tiếng hoặc ngâm nga.  

Mặc đầu thánh Amrôsiô đã để lại nhiều sách vở, nhưng ngài được ngưởng mộ vì tài điều khiển khéo léo và gương đạo đức; lòng yêu mến Chúa, sự nhiệt thành đến quên mình trong trách vụ làm giám mục… Những đức tính đó đã giúp ngài lèo lái Hội Thánh qua cơn sóng gió.

Hội Thánh lúc bây giờ bị nhóm lạc đạo Ariô chia rẻ lý thuyết về thần tính của Chúa Giêsu, mặc dù lý thuyết của nhóm Ariô bị bác bỏ tại Công đồng Nicea, lý thuyết này vẫn còn một số đông tín hữu nghe theo và ủng hộ trong suốt thế kỷ thứ IV.

Nhiệm vụ của thánh Amrôsiô càng khó khăn hơn, khi bà hoàng, người thao túng triều đình lúc đó, theo phái Ariô. Bà ủng hộ nhóm Arian nên xúi vua Valentinian, con trai mình, ra lệnh cho thánh Amrôsiô nhường cho nhóm Ariô nhà thờ Chánh Tòa để họ xử dụng. Thánh Amrôsiô cương quyết từ chối lệnh vua. Tranh chấp trở nên quyết liệt, nhà vua gởi quân lính đến bao vây nhà thờ chánh tòa trong lúc vị Giám mục và giáo dân đang cử hành thánh lễ. Thánh Amrôsiô tuyên bố: “Nhà vua là ở trong chứ không thể ở trên Hội Thánh được”. Không hiểu sao, khi nghe bài giảng của thánh Amrôsiô, nhà vua đã ra lệnh rút binh lính về. ngày hôm đó cuộc đổ máu đã không xẩy ra.          

Đến năm 390 một cuộc đụng độ ngã nghiệt giữa thánh Amrôsiô và Hoàng đế Theodosiô. Hoàng đế ra lệnh tàn sát dả man dân thành Thessalonica để trả thù cho viên Tổng trấn bị quân nổi dậy giết chết. Binh lính được lệnh tàn sát hết dân bản xứ, chúng đã tàn sát hơn bảy ngàn người nam phụ lão ấu không chừa một ai. Thánh Amrôsiô bất bình. Ngài can đảm đòi nhà vua phải ăn năn tội và không cho rước lễ cho đến khi nhận được phép tha tội. Thánh Amrôsiô lên tiếng: “Những gì ngài đã gây ra ở Thessalonia thật ghê tởm trong trí óc con người... Ngài cũng là con người, sự ác đã chiếm đoạt ngài. Ngài phải vượt qua cám dổ đó. Tôi khuyên ngài, tôi van xin ngài, tôi cầu khẩn ngài hãy ăn năn tội lỗi. Ngài là người có lòng nhân đã nhiều lần tha phạm nhân, bây giờ ngài đã giết hàng ngàn người vô tội. Quỷ dữ đã cướp mất lòng nhân từ, niềm kiêu hảnh của ngài. Hãy xua đuổi chúng đi trong lúc ngài đang còn có thì giờ mà hành động…”        

Theodosius đã nghe theo lời khuyên của thánh Ambrose và trở lại làm hòa với HộI Thánh: “Tôi chưa từng thấy ai xứng đáng được mang danh hiệu Giám mục như Amrôsiô!”.

Thánh Ambrose qua đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày 4 tháng 4 năm 397, hưởng dương 57 tuổi.

Thánh Amrôsiô để lạI cho chúng ta nhiều bài học quý giá về đờI sống cầu nguyện, về sự khiêm nhường nhìn nhận mình thiếu thốn, yếu đuốI, nhất là thiếu thốn về sự hiểu biết Thiên Chúa và giáo lý của Người. Thánh nhân dạy ta yêu mến Hội Thánh Chúa Kitô, yêu mến chân lý mà Hội Thánh truyền rao từ đời này sang đời khác. Thánh nhân cho ta thấy, chỉ trong Hội Thánh, chúng ta sống trọn vẹn và xứng danh Con của Chúa. Thánh nhân còn dạy ta bài học quyết tâm bảo vệ đến cùng kho tàng đức tin quý giá mà Chúa đã ban cho ta. Thánh Amrôsiô còn dạy ta học lấy bài học về lòng can đảm nói sự thật, bênh vực sự thật, nhất là sự thật ấy đụng đến quyền lợi của kẻ có quyền, có thế lực…

Lạy Chúa, những bài học quý giá từ cuộc đời và lối sống của thánh Amrôsiô để lạI cho chúng con, là tất cả những gì cần thiết cho chính phần rỗI của chúng con. Xin cho chúng con bắt chước thánh  nhân luôn trung thành yêu mến Chúa để như thánh nhân, chúng con đáng hưởng nguồn vui bất diệt nơi lòng Chúa muôn đời. Amen.

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC
Canh tân tinh thần SỐNG LỜI CHÚA (tiếp theo)

 

TẠI SAO PHẢI SỐNG LỜI CHÚA ?

Bài trước chúng ta đã cùng nhau xác quyết : nhiệm vụ của người tín hữu là phải Sống Lời Chúa và phải giúp người khác cùng Sống Lời Chúa.

Câu hỏi thứ nhất chúng ta đưa ra, đó là tại sao lại phải Sống Lời Chúa.

Như chúng ta đã biết đạo là đường. Đã là đường thì chúng ta phải bước đi trên đó, nếu muốn tới nơi định tới. Cũng thế, đã theo đạo thì chúng ta phải sống đạo, nghĩa là phải sống lời Chúa nếu chúng ta muốn trở về với Ngài.

Tục ngữ đã bảo :

- Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.

Đã là con cái Chúa, chúng ta phải trở nên giống Ngài. Đã là môn đệ Chúa, chúng ta cũng phải cố gắng trở nên giống Ngài.

Trở nên giống Chúa, có nghĩa là Chúa suy nghĩ, Chúa phán đoán, Chúa nói năng, Chúa xử sự, Chúa hành động thế nào, thì chúng ta cũng phải bắt chước mà làm như vậy. Ngài dạy chúng ta sống thế nào, thì chúng ta phải lắng nghe và quyết tâm thực hiện như vậy.

Người tín hữu phải trở nên một “Alter Christus”, một Kitô khác. Phải làm thế nào để những người chung quanh nhận ra khuôn mặt dịu hiền của Ngài  qua thái độ cư xử của chúng ta.

Muốn được như vậy, thì cách duy nhất là hằng ngày phải lắng nghe Lời Chúa, ghi nhớ và suy niệm trong  lòng, rồi đem ra áp dụng vào cuộc sống.

Nhờ đó, lời Chúa sẽ dần dần thấm nhập vào trong tâm hồn và biến đổi chúng ta nên giống Ngài, đồng thời giúp chúng ta thể hiện được những đường nét của Đức Kitô  qua khuôn mặt, qua lời nói và qua những cử chỉ bên ngoài của mình.

Tôi còn nhớ mang máng một mẩu chuyện về cuộc đời thánh Vianney, đại khái như thế này :

Có một người mang nhiều ác cảm đối với thánh nhân, trước những lời đồn thổi về nhân đức của thánh nhân, người ấy muốn kiểm chứng xem có đúng như vậy hay không ?

Vì thế, người ấy đã vào nhà thờ, rình rập và quan sát thánh nhân. Sau một hồi quan sát và rình rập, khi bước ra, người ta hỏi :

- Anh đã thấy gì ?

Người ấy trả lời :

- Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người .

TẠI SAO PHẢI GIÚP NGƯỜI KHÁC SỐNG LỜI CHÚA ?

Câu hỏi thứ hai, đó là tại sao phải giúp người khác cùng sống lời Chúa ?

Tôi xin thưa vì Chúa đã truyền dạy : 

- Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân…

- Các con hãy nên chứng nhân cho Thày tại Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.

Chúng ta có thể giúp người khác Sống Lời Chúa bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của mình.

Cách đây không lâu, một phụ nữ Anh giáo, tò mò vào quan sát một nhà thờ Công giáo. Trong giây phút đó, cô quyết định trở lại, lí do rất đơn giản chỉ vì cô đã nhìn thấy mấy em thiếu nhi đang cầu nguyện một cách sốt sắng ở cuối nhà thờ.

Ngày kia, một kỹ sư ba mươi tuổi, cũng xin trở lại chỉ vì thái độ vui vẻ  của một anh lính cong giáo. Mặc dầu bị chế nhạo, nhưng tối nào anh cũng quỳ gối cầu nguyện một cách rất chăm chú.

Thứ đến, chúng ta phải giúp người khác cùng Sống Lời Chúa, vì đó là dấu chỉ chứng tỏ chúng ta là những người con hiếu thảo và có lòng yêu mến Chúa thực sự.

Khi yêu mến ai, người ta thường ước muốn điều tốt cho họ và cố gắng làm vừa lòng họ. Cũng thế, nếu thực lòng yêu mến Chúa, chúng ta phải ra sức làm sáng danh Chúa, cố gắng làm cho mọi người chung quanh nhận biết, tôn thờ và chu toàn thánh ý Chúa như lời Ngài đã phán :

- Ta còn nhiều chiên khác chưa thuộc về đàn này. Ta cũng phải dắt chúng về và chúng sẽ nghe tiếng Ta. Rồi sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên mà thôi.

Hơn nữa, như tôi đã trình bày :

- Đối tượng của đức  tin không phải là một đồ vật quí giá chúng ta lo cất dấu cho riêng mình, nhưng là một người. Người ấy đã yêu thương tôi, đã chịu chết vì tôi. Và người ấy chính là Đức Kitô. Vì thế chúng ta có bổn phận làm cho người khác nhận biết và yêu mến Ngài.

Đối tượng của đức tin còn là một “Phúc Âm”, còn là một  Tin mừng. Đã là một tin mừng thì chúng ta có bộn phận phải loan truyền, phải chia sẻ cho người khác.

Tuy nhiên, để dễ dàng chu toàn nhiệm vụ sống lời Chúa và giúp người khác cùng sống lời Chúa, chúng ta cần phải tiến vững chắc qua hai giai đoạn, đó là bản thân phải sống lời Chúa trước khi có thể giúp người khác cùng sống lời Chúa.

Thực vậy, không ai có thể cho cái mình không có. Tôi không thể cho người khác tiền nếu như trong túi tôi không có một đồng xu nào cả.

Cũng vậy, người tín hữu không thể đem Chúa cho người khác một cách hiệu quả, nếu bản thân lại không có Chúa trong tâm hồn và  không thấm nhuần tinh thần của Chúa trong cuộc sống.

Chúng ta có thể so sánh : Lời Chúa giống như một giòng điện, người Kitô hữu là một sợi dây nối liền giữa Đức Kitô là nguồn điện, với anh em là những chiếc bóng đèn. Bóng đèn chỉ có thể cháy sáng, khi có điện do sợi dây dẫn tới. Bao lâu sợi dây không có điện thì bóng đèn cũng không thể nào cháy sáng được.

Cũng thế, ngày nào người tín hữu không sống lời Chúa, ngày ấy họ không xứng đáng là một Kitô hữu, một người có Đức Kitô, và không thể nào chu toàn sứ mạng đem Chúa đến với người khác.

SỐNG LỜI CHÚA TRONG GIA ĐÌNH.

Gia đình chính là một môi trường thuận tiện nhất để huấn luyện cho người Kitô hữu biết thực sự sống Lời Chúa và làm việc tông đồ giáo dân. Trách nhiệm huấn luyện trước tiên là của các bậc cha mẹ.

Đúng thế, cha mẹ phải làm gương sáng về tình yêu thương mà Chúa đòi hỏi ngay trong phạm vi gia đình của mình, đồng thời mỗi ngày phải đào sâu để bản thân hiểu và sống Lời Chúa, nhờ đó giúp con cái mình cùng hiểu và sống Lời Chúa nữa.

Không gì đẹp bằng hình ảnh một gia đình trong đó mọi người biết yêu thương  và nghĩ đến nhau, biết giúp đỡ, nhường nhịn và khích lệ nhau nên thánh.

Đâu có tình yêu thương thì ở đấy có Thiên Chúa. Và đâu có Thiên Chúa, thì ở đấy có hạnh phúc. Vậy gia đình yêu thương nhau chính là thiên đàng nơi trần thế và đời sống gương mẫu ấy có sức hấp dẫn rất lớn.

Người ngoài dễ nhận biết và tin thờ Thiên Chúa, nếu như những Công giáo biết sống lời Chúa và thực thi tình bác ái yêu thương trong chính gia đình của mình.

Tuy nhiên, gia đình chỉ có thể sống lời Chúa, nếu biết hâm mộ lời Chúa. Mỗi ngày phải chăm chỉ lắng nghe, tìm hiểu, suy gẫm và quyết tâm thực hiện lời Chúa bằng những việc làm cụ thể.

Giờ kinh tối sẽ là những giây phút thuận tiện nhất, để học hỏi, suy niệm và áp dụng lời Chúa trong sinh hoạt gia đình.

LỜI CHÚA TRONG GIỜ KINH TỐI

Mỗi gia đình Kitô hữu muốn sống lời Chúa, trước hết phải mua sắm một cuốn Kinh Thánh, toàn bộ Cựu ước và Tân ước, hay ít nữa là Tân ước, gồm bốn Phúc Âm.

Cuốn Kinh Thánh phải được để trên bàn thờ hay một nơi nào khác thuận tiện và trang trọng.

Khi đọc lời Chúa, mọi người phải có thái độ cung kính, lắ