|
TẦM QUAN TRONG
CỦA ĐỨC BÁC ÁI |
|
Mọi hoạt động
tông đồ phải bắt nguồn và lấy sức mạnh từ đức bác ái. Nhưng một
số công việc tự bản chất của chúng có thể biểu lộ đức bác ái
cách sống động. Đức Ki-tô đã muốn những việc đó là dấu chỉ của
sứ mệnh cứu độ (x. Mt 11 ,4-5).
Điều răn quan
trọng nhất trong lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết tâm hồn và
yêu tha nhân như chính mình (x. 22,37-40). Thật vậy, Đức Ki-tô
đã lấy điều răn bác ái đối với tha nhân làm một điều răn riêng
của Người và mặc cho nó một ý nghĩa mới phong phú hơn, khi Người
muốn đồng hoá chính mình với anh em như đối tượng của bác ái.
Người nói: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế
cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây? là các ngươi
đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40). Bởi vì khi nhận lấy bản
tính nhân loại chính Người đã nối kêt toàn thể nhân loại với
Ngươi thành một gia đình bằng một tình liên đới siêu nhiên, và
Người dùng đức ái làm dấu hiệu riêng của các môn đệ Người, khi
Người nói: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thày ở
điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13.35).
Thời sơ khai,
Hội Thánh liên kết bữa ăn thân tình "agapê" với bữa tiệc Thánh
Thể để biểu lộ sự hiệp nhất hoàn toàn trong yêu
thương chung quanh
Đức Ki-tô. Như vậy, bất cứ thời đại nào,
người ta cũng
nhận ra Giáo Hội nhờ dấu chỉ tình yêu này, và Giáo Hội đã tự đảm
nhận những công cuộc bác ái như là nhiệm vụ và quyền lợi bất khả
di nhượng của mình, dù Giáo Hội vẫn hân hoan trước những sáng
kiến của người khác. Vì thế, Giáo Hội đặc biệt đề cao lòng
thương xót đối với người nghèo đói, bệnh tật, cũng như những
công cuộc mệnh danh là từ thiện và tương trợ để xoa dịu mọi nỗi
thống khổ của nhân loại.
(Trích Sắc lệnh Tông đồ
giáo dân , của Công Đồng
Va-ti-ca-nô II, số 8). |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TAI
ƯƠNG HAY TƯƠNG LAI |
|
Phúc Âm Nhật Ký 19.11.2006
(Mc 13:24:32)
Hiện nay, Ðức Mẹ Fatima đang
thánh du Houston. Ðây là Thánh Tượng đã từng thánh du Việt nam
cách đây hơn bốn chục năm, lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt
nhất. Nhìn lại Mẹ, tôi không sao cầm được nước mắt và bồi hồi
nhớ về quê hương đau khổ bên kia bờ đại dương. Cơn xúc động
lên tới tột cùng khi thấy ánh mắt Mẹ vẫn đầy trìu mến nhìn đến đoàn
con đang đau khổ dưới trần gian.
Quỳ trước nhan Mẹ, tôi nghe rất
rõ lời Mẹ nhắn nhủ. Những bí mật Fatima một lần nữa lại vang
lên. Nhưng càng mở ra, những bí mật đó càng làm cho tôi băn
khoăn và suy nghĩ. Những lời đe loi khủng khiếp. Mẹ kêu
gọi mọi người ăn năn hối cải để tránh những tai ương sắp giáng xuống
toàn thể nhân loại. Nói tóm, Mẹ muốn người ta suy nghĩ về cảnh tượng
cánh chung để biết đường chuẩn bị. Cái chết trở thành một
phương tiện răn đe khá hữu hiệu đối với nhiều người.
Nhưng tôi tự hỏi những răn đe đó có phù hợp với
Tin Mừng không ? Trong khi Chúa nói “đừng sợ !” chẳng lẽ Mẹ
lại đưa các hình phạt đó ra để hù con ? Phải chăng Chúa dạy
một đàng, Mẹ nói một nẻo ? Phải chăng Mẹ đang cổ võ một nền
văn hóa sợ hãi, ngược với Chúa Giêsu Con Mẹ ? Giữa Mẹ và Con,
chúng ta biết theo ai ? Thực tế, Mẹ không bao giờ dạy
chúng ta đừng theo Chúa. Ngược lại, Mẹ luôn nói : “Người bảo
gì, các anh cứ việc làm theo !”[1]
Nếu chỉ chú tâm đến những gì xảy ra trong vũ trụ mà thôi, chúng ta
có đủ lý do để run sợ. Phải chăng Ðức Mẹ muốn chúng ta cắm mắt
vào những biến cố tận cùng của vũ trụ mà quên đi Biến Cố lớn nhất là
chính Con Thiên Chúa làm người ?
Sống trong sự sợ hãi, con người có thể bình an
và vững bước theo Chúa không ? Ðã có lần Nietzche chua chát
mỉa mai : “Các linh mục ấy làm tôi thương hại ... Người mà họ
gọi là Ðấng Cứu Thế đã cho họ vào cùm : cái cùm của những giá trị
giả tạo và những lời nói hão huyền ... Họ không biết yêu mến
Thiên Chúa cách nào khác hơn là bằng cách đóng đinh con người ...
Có lẽ họ phải hát những bài hát hay hơn để tôi có thể bắt đầu tin
vào Ðấng Cứu Thế của họ : có lẽ các môn đồ của Ðấng Cứu Thế ấy nên
có một vẻ được giải thoát hơn.”[2]
Ðúng thế, Ðức Kitô mang đến sự giải thoát hoàn toàn, chứ không phải
những bức bách hay kềm kẹp.
Hơn nữa, cái chết và phán xét dễ làm con người
trở thành tiêu cực. Cùng lắm chỉ làm chúng ta ăn năn không
trọn. Trong khi đó, Chúa Giêsu muốn chúng ta trọn lành như Cha
trên trời.[3]
Nghĩ đến cái chết, con người có thể sống khôn ngoan hơn. Nhưng
cái chết không bao giờ có thể trở thành động lực thúc đẩy con người
sống như Ðức Kitô Phục sinh. Nghĩ đến cái chết của mình có thể
làm cho con người lo sợ, chán nản và buông xuôi tất cả. Tất cả
trở thành tai ương. Trái lại, muốn thoát khỏi tai ương và tiến
tới một tương lai phục sinh toàn thể nhân loại, chúng ta cần phải
tập trung vào cái chết của một Người Khác đến từ Thiên Chúa, chứ
không phải cái chết của mình. Chỉ có cái chết của Ðức Giêsu
mới làm cho chúng ta sống và hưởng ơn cứu độ dồi dào . Hiện
nay, nhân loại đang sống trong thời đại Ðức Kitô phục sinh.
Ðức Kitô không còn chết nữa. Tại sao lại tìm cái chết giữa thế
giới đã chan hòa ánh sáng phục sinh ?
Bởi vậy, hôm nay Chúa Giêsu vẽ ra trước mắt
chúng ta cảnh tượng cánh chung, không nhằm hù dọa, nhưng để mọi
người thấy rõ ơn cứu độ lớn lao tới mức nào. Quả thế, trong
lúc cả vũ trụ kinh hoàng, Con Người sẽ xuất hiện như một cứu cánh và
niềm hy vọng cuối cùng.[4]
Giữa lúc mọi người kinh hãi và tản mác, vẫn có niềm vui lớn từ cảnh
quy tụ “những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt
đất cho đến cuối chân trời.”[5]
Ðúng là một ngày Hội Lớn của những con người được cứu thoát.
Như thế, sự hủy diệt và sầu thảm chỉ xảy ra cho
những lực lượng thù nghịch với Thiên Chúa và con người. Còn
những người tin tưởng vào Chúa Cứu Thế sẽ vui sướng và bình an.
Thực thế, “Kinh thánh gọi sự canh tân huyền nhiệm này, sự biến cải
nhân loại và thế giới, là ‘trời mới và đất mới.’ (2 Pr 3:13)
Cuộc canh tân đó sẽ dứt khoát thực hiện kế hoạch Thiên Chúa đem “mọi
sự trong [Ðức Kitô] ‘trên trời và dưới đất’ (Ep 1:10) dưới quyền một
thủ lãnh duy nhất.”[6]
Ngay trên trần gian, người tín hữu đã sống trong niềm vui vì là chi
thể của Chúa. Vui vì thấy niềm hy vọng đang lớn lên tới mức độ
viên mãn là Ðức Kitô. Mặc dù sống trong sự căng thẳng giữa ân
sủng và vinh quang, giữa những điều “đã có” và “chưa tới,” các tín
hữu vẫn vững tin vào chiến thắng cuối cùng của “Ðấng đang hiện hữu
để nắm trong tay vận mạng thế gian mau qua ; Ðấng nắm chìa khóa tử
thần và âm phủ (x. Kh 1:18); Ðấng là Nguyên Thủy và Cứu Cánh
lịch sử nhân loại (x. Kh 22:13) ... Và Ðấng là Tình yêu (x. 1 Ga
4:8, 16) – Tình yêu trở thành con người, Tình yêu bị đóng đinh và
phục sinh, Tình yêu không ngừng hiện diện giữa loài người.”[7]
Như vậy, vấn đề là làm sao nhận ra tình yêu tuyệt vời đó đang hoạt
động bằng quyền lực Thiên Chúa để biến đổi ước vọng phù phiếm nhân
loại thuần túy sang chân lý và thực tại Thiên Chúa.[8]
Ý thức về cánh chung không chỉ cần cho những
người sắp lìa đời. Chính người đang sống và tham gia vào công
cuộc làm chứng càng cần ý thức về cánh chung hơn. Từ cái
nhìn cánh chung, mới có thể ý thức về tính cách bất tất của lịch sử.
Từ đó, có thể kiến tạo thế giới hiện tại và tương lai với một ý thức
mới về trách nhiệm liên đới.[9]
Chính ý thức lịch sử đó đã khiến ÐGH Gioan Phaolô II tạo được một
hành động lịch sử xin thế giới tha thứ vào năm Thánh 2000, nhất là
năm 2001 ở Giêrusalem và Athen.
Sở dĩ có thể tạo được hành động
lịch sử đó, vì ÐGH Gioan Phaolô II đã ý thức Chúa Giêsu, chứ không
phải Giáo hội, là trung tâm lịch sử. Chỉ có Mầu Nhiệm Vượt Qua
của Ðức Kitô mới tạo thành trung tâm lịch sử cứu độ mà thôi.
Chính Giáo hội cũng nằm trong hoàn cảnh lịch sử. Không xoay
quanh trung tâm cứu độ đó, Giáo hội tự biến mình thành trung tâm chi
phối tất cả công cuộc cứu độ. Ðó là sai lầm đã nhiều lần diễn
ra trong lịch sử. Bao lâu Giáo hội nhận thức Chúa Kitô là cùng
đích, nền tảng và trung tâm lịch sử, Giáo hội mới thoát khỏi vòng
xoáy hay cơn lốc lịch sử. Chỉ có niềm tin cánh chung mới cho
thấy Ðức Kitô chính là Biến cố Cánh Chung hay Thời Ðại Cuối Cùng.
Chỉ có Người mới trình bày cả thời gian lời hứa và vinh quang thành
tựu, vì Người đã hiệp nhất hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại nơi
chính mình.
Kitô hữu xác tín rằng vạn vật
đang hướng tới và bắt nguồn từ biến cố trung tâm là Ðức Kitô.[10]
Ðức Giêsu chính là cứu cánh lịch sử. Giáo hội là lữ khách cần
cải tổ và canh tân không ngừng. Không bao giờ được đồng hóa
hay lẫn lộn Giáo hội với Nước Thiên Chúa trên trần gian.[11]
Thế mới hay tính cách tương đối của Giáo hội. Trên đường hướng
về Ðấng Tuyệt Ðối, Giáo hội không thể quên tính cách nhân loại mỏng
dòn và mau qua của mình. Chính lúc nhận ra sự yếu đuối đó,
Giáo hội lại được Chúa Thánh Linh soi sáng thấy con đường dẫn dắt
lịch sử nhân loại tới cứu cánh viên mãn. Chính Thánh Linh sẽ
làm biến đổi thực tại trong ta và đem lại một sự sống bất hoại thể
hiện nơi Ðức Giêsu lần đầu tiên khi làm cho Người trỗi dậy (Rm
8:11). Sự sống đó thực sự đã được Giáo hội nếm hưởng ngay trên trần
gian này. Bởi đó, các tác giả Kitô giáo thường nói đến chiều
kích “cánh chung” của các bí tích Giáo Hội và của đời sống đức tin.[12]
Nếu những điều tiên đoán trong
các bí mật Fatima xảy ra thật, thì điểm
nhấn không phải là những nét kinh hoàng của các biến cố đó.
Biến cố chính là Ðức Kitô Phục Sinh đang hiện diện trong tâm hồn và
cuộc đời tín hữu. Trước những biến cố thiên nhiên, họ luôn
nghe Chúa phán : “Ðừng sợ !” Ðây là lời nhắn nhủ vắn tắt và
rất thực tế đối với những ai có lòng tin. Thực vậy, “Trong
Chúa Giêsu và Thánh Linh, Thiên Chúa hiện diện như một huyền nhiệm
sự sống vượt lên trên mọi hiểm nguy hay đổ nát, một chân lý tối
thượng, một tình yêu vô điều kiện và bền vững.”[13]
Ðúng như Kinh Thánh quả quyết : “Chúa là nơi con vào trú ẩn, lũy sắt
thành đồng chống lại địch quân.”[14]
Nhưng hình như tiếng nói của bản năng sợ hãi
vẫn trấn át chúng ta. Sau khi Phục sinh, Chúa đã trấn an
các môn đệ : “Ðừng sợ !”[15]
Chính ÐGH Gioan Phaolô II đã nhắc lại rất nhiều lần. Nhưng
chúng ta vẫn sống như thể Chúa chưa Phục sinh. Bởi thế, vẫn
không thể thắng nổi sự sợ hãi tầm thường. Nếu đã từng sống ơn
hiện sủng đầy tính ‘cánh chung,’ như đã mạc khải trong Tân Ước về
Ðức Kitô, ta sẽ có một xác tín rõ ràng về tương lai cánh chung.
Thực vậy, “Kitô hữu nhận biết về tương lai mình vì họ hiểu về chính
mình và ơn cứu rỗi của mình trong Ðức Kitô qua mạc khải của Thiên
Chúa.”[16]
Thực tế, có lẽ vì quá ít hiểu biết và sống Lời
Chúa, nên chúng ta mới thấy tương lai đầy tai ương. Thần Khí
và sự sống thiếu vắng trong ta, nên mới dễ bị ám ảnh và kinh hoàng
trước những viễn tượng đen tối. Ðức Kitô là mạc khải cuối cùng
và trọn vẹn nhất của Thiên Chúa. Người là biến cố áp đảo mọi
biến cố và đã dứt khoát bẻ lái lịch sử nhân loại sang một hướng khác
hẳn. Không thể coi thường niềm hy vọng Kitô, một niềm hy vọng
có nội dung cụ thể là vị “Cánh Chung” tối cao. Người là “những
sự sau cùng” vào lúc lịch sử nhân loại hay cuộc đời mỗi người kết
thúc.[17]
“Ngày Con Người được mạc khải,”[18]
Chúa dạy chúng ta “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp
được cứu chuộc.”[19]
Ðó không phải là thái độ của những người sợ hãi. Trái lại, chỉ
những người can trường và tự tin mới có thể đứng trong tư thế hiên
ngang như vậy. Ðúng hơn, chỉ những người tràn đầy niềm hy vọng
Kitô, mới có thể nắm vững tương lai tuyệt đối là chính Thiên Chúa.[20]
Thế nên, biến cố lớn nhất không phải là vũ trụ tan biến, nhưng là
Thiên Chúa mạc khải trọn vẹn tình yêu tuyệt đối vượt trên mọi sự
chúng ta có thể tưởng tượng.
Cánh chung Kitô giáo là một sứ điệp cứu độ được
thực hiện trọn vẹn trong Ðức Giêsu. Những tiêu cực không thể
tạo thành sứ điệp nòng cốt của Kitô giáo. Cánh chung Kitô giáo
là một phần công bố ơn cứu độ. Ðó là “tin mừng” theo nghĩa
trong sáng nhất.[21]
Nếu tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, chúng ta cũng phải nhìn nhận
Chúa Giêsu Phục Sinh có quyền trấn át tất cả sự sợ hãi, vì Người là
Chúa Tể muôn loài. Người đã chiến thắng cả tội lỗi và sự chết
để bước vào vinh quang.
Muốn tham dự vào vinh quang đó với Người, chúng
ta phải chia sẻ đau khổ và cái chết của Người. Người đã phục
sinh để bảo đảm ngày Người tái lâm chúng ta sẽ chiếm trọn vẹn hồng
ân cứu độ. Nếu không đại thắng , chắc chắn Chúa Giêsu không
thể có toàn quyền giựt lại ơn cứu độ cho chúng ta. Bởi đó,
Phục sinh tương đương với việc kiện toàn trong mọi chiều kích của
chúng ta về phương diện cá nhân, vũ trụ và xã hội.[22]
Rõ ràng cánh chung Kitô giáo mở ra một hướng
sống vô cùng tốt đẹp. Muốn được thế, dứt khoát chúng ta phải
tập trung chú ý vào một biến cố vĩ đại hơn cả biến cố vũ trụ, đó là
Ðức Giêsu Kitô. Nhờ Thánh Thần, Chúa Giêsu đã trở thành niềm
hy vọng duy nhất và sau cùng cho chúng ta khi phải chạm trán với
những sự sau cùng của cuộc đời hay vũ trụ. Tất cả đều phải tan biến
để mở một tầm nhìn mới về Thiên Chúa. Trong sự hiệp thông trọn
vẹn với Ba Ngôi, chúng ta sẽ trọn vẹn trở thành con Thiên Chúa.[23]
Lạy Chúa, năm
cùng tháng tận đã đến, xin mở ra cho chúng con thấy tình yêu mãnh
liệt của Chúa nơi cái chết và sự Phục sinh của Con Chúa. Xin
cho chúng con biết núp bóng Con Chúa để có thể đứng vững trước những
biến cố lớn lao của cuộc đời. Trong khi hướng về ngày cánh
chung, xin cho chúng con không quên Ðức Kitô chính là biến cố sau
cùng mạc khải trọn vẹn hồng ân cứu độ của Chúa. Amen.
đỗ lực
dzuize@gmail.com
[2]
Trích lại từ Rey-Mermet, C.Ss.R, Tin : Nhãn Quan
Mới Về Luân Lý, Phạm Minh Thiện, cssr dịch, California:
Tủ sách Tin, 1992, tr. 278
[3]
x. Mt 5:48.
[4]
Lc 21:28.
[5]
Mc 13:27.
[6]
Giáo Lý Công Giáo, số 1043.
[7]
Gioan Phaolô II, Crossing the Threshold of
Hope,
New
York : Alfred Knopf, 1994
[8]
Shaw, R., Our Sunday Visitor’s Encyclopedia of Catholic
Doctrine, Indiana : Our Sunday visitor, Inc., 1997, tr.
203.
[9]
New Catholic Encyclopedia, 2nd ed.,
Eschatology in Theology, Lane, D. A., Farmington Hills :
The Gale Group, 2003, tr. 347.
[10]
Cullmann, O., Christ and Time, Philadelphia :
Wesminster Press, 1947.
[11]
New Catholic
Encyclopedia, 2nd Ed., Eschatology in Theology,
Lane, D. A., Farmington Hills : The Gale Group, 2003, tr.
347.
[12]
x. Commentary on the Catechism of the Catholic Church, ed.
by Walsh, M.J. Eschotology, Brian E. Daley SJ,
Minnesota : The Liturgical Press : 1994, tr. 205.
[16]K.
Rahner, ‘The hermeneutics of eschatological assertions' in
Theological Investigations, vol. 4 (London, 1966), tr 332,
335.
[17]
Dictionary of Fundamental Theology, ed. by Latourelle, R. &
Fisichella, R. Eschatology, Ladaria, L. F., New York
: Crossroad, 1995, tr. 273.
[20]
Dictionary of Fundamental Theology, ed. by Latourelle, R. &
Fisichella, R. Eschatology, Ladaria, L. F., New York
: Crossroad, 1995, tr. 273.
|
VỀ MỤC LỤC
|
|
|
Khi bị cáo là Vua Kyto... |
|
CN 34. TN.B (Ga 18, 33-37)
Tin mừng mà Giáo hội muốn cho mỗi người chúng ta suy niệm nhân
lễ Chúa Kytô Vua được đặt trong bối cảnh Chúa Giêsu bị người
Dothái điệu từ nhà ông Caipha đến dinh tổng trấn. Như thế có
nghĩa là Chúa Giêsu sau khi bị xử ở tòa án Dothái, thì giờ đây
Người còn phải ra trước toà án Rôma mà đại diện là tổng trấn
Ponxiô Philatô – làm tổng trấn xứ Giuđa từ năm 26-36. Đỉnh cao
của phần thẩm vấn giữa một bên là quan toà Philatô và một bên là
“bị cáo” Giêsu liên quan đến điều mà cáo trạng của kẻ thù nghịch
nêu lên để chống lại Chúa Giêsu với tội danh Người tự xưng là
vua.
Tại sao phải nại tới tòa án Rôma? Chúng ta biết là quyền xử án
và thi hành án của tòa án Thượng hội đồng Do thái rất giới hạn
trong phạm vi tôn giáo. Tòa án Thượng hội đồng chỉ được xử án
những tội với mức xử là đánh đòn hay giam tù mà thôi. Còn kết án
tử hình thì tòa án Thượng hội đồng không được phép thi hành bản
án mà phải chuyển sang tòa án Rôma thực thi bản án này. Vì thế
chúng ta thấy trong phiên tòa xử Chúa Giêsu, tòa án Thượng hội
đồng Dothái kết án tử hình Chúa Giêsu vì tội phạm thượng. Nhưng
với tội phạm thượng này, tòa án Rôma không thể xử và thi hành
được vì đây là tội thuộc phạm vi tôn giáo chứ không thuộc tội
chính trị. Thế nên người Do thái bèn nẩy “sáng kiến” khiến Chúa
Giêsu phải bị tử hình dưới tòa án Rôma. Từ tội danh phạm thượng
chỉ thuần túy mang tính tôn giáo, giờ đây người Do thái chuyển
sang tòa án Rôma và chụp mũ Chúa Giê-su với ba tội danh “chết
người”, đó là 1/ Xách động quần chúng; 2/ Ngăn cản nộp thuế cho
hoàng đế và 3/ Tự xưng là Vua!
Sở dĩ chúng ta biết rõ tội của người Dothái là vì đứng trước lời
thẩm vấn của Philatô : “Ông có phải là vua dân Dothái không?”,
Chúa Giêsu đã truy tìm nguồn gốc của lời kết án này và chính
Philatô đã cho biết đó chính là người Dothái đã tố cáo.
“Nuớc tôi không thuộc về thế gian này”. Điều mà Chúa Giêsu khẳng
định một lần nữa cho thấy nước Chúa không như cách người Dothái
hay như Philatô hình dung và mong đợi. Người Dothái dưới thời đế
quốc Rôma thống trị vẫn thường xen lẫn ý nghĩ là mong chờ Đấng
Cứu Thế (Mêsia) đến để đem lại sự thống nhất đất nước cho dân
tộc Dothái đang bị đế quốc đô hộ.
Vâng, nước của Chúa Giêsu không giống như cách con người quan
niệm là phải của thành phần thống trị nhờ có sức mạnh về quân
sự, mở mang bờ cõi, xâm chiếm các quốc gia khác,… Nước của Chúa
Giêsu không nhằm mục tiêu chính trị, vì thế Người không bao giờ
là Đấng phải đến theo quan niệm trần thế là chỉ để thực thi công
cuộc giải phóng, chấn hưng đất nước. Nước của Chúa đến từ nơi
khác, từ nơi mà Người đã sinh ra từ đời đời và cũng từ đó mà
Người đã đến thế gian.
Chính vì Người đã đến thế gian nên sứ mạng của Người nơi trần
gian là “làm chứng cho sự thật”. Làm chứng cho sự thật không gì
khác hơn là tử đạo (Martyr. Chính cái chết của Người trên Thập
giá là bằng chứng và là dấu ấn cho việc làm chứng đó.
Nước của Chúa Giêsu được thiết lập không phải nhờ sức mạnh quân
sự, vũ khí hạt nhân, tiền và mưu lược, nhưng chính là nhờ lời
mạc khải từ Thiên Chúa và công dân của nước đó là tất cả những
ai đón nhận và thực thi Lời mạc khải.
Là Vua, nhưng Vua Giêsu không giống như vua trần thế là để được
người ta hầu hạ, cung phụng, nhưng Người đến để hầu hạ và nâng
đỡ kẻ yếu hèn;
Quyền lực của Vua Giêsu cũng không phải là quyền lực của thế
trần. Nghĩa là một thứ quyền lực của kẻ quyền thế, một quyền lực
theo kiểu “trên giáng xuống, dưới chịu đựng” mà quyền lực của
Người là quyền lực của tình yêu ;
Sức mạnh của Vua Giêsu không đến từ đội quân hùng hậu, trang bị
vũ khí hiện đại mà chính là sức mạnh của lòng tha thứ;
Thành công của Vua Giêsu không phải là thứ thành công của kẻ
thắng trận, của kẻ mạnh mà chính là thành công do thập giá và
máu, tra tấn và tù đày, khinh chê và nhục mạ vì chân lý, vì Tin
mừng.
Và cuối cùng, mũ triều thiên của Vua Giêsu không được nạm bằng
ngọc bích, bằng vàng ròng mà là mũ triều thiên trên đó được gắn
những đớn đau, tội lỗi của thế trần, được chạm trỗ bởi tình yêu
và sự vâng phục.
Lạy Chúa Giêsu là Vua, chớ gì môi miệng chúng con tuyên xưng
Chúa là Vua và tâm trí chúng con luôn hướng về Chúa như là Đấng
Quân Vương của Chân - Thiện – Mỹ; nhờ đó, chúng con luôn dấn
bước theo Chúa, đồng hành với Chúa giữa dòng đời để rao giảng
tình yêu của Chúa cho mọi người.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
KHÍCH LỆ (bài ba) |
|
Cu Chính 10 tuổi là một bé trai nghịch ngợm
lúc ở nhà cũng như khi ở trường. Nó khởi sự nhiều chương trình
nhưng không bao giờ làm xong được cái gì. Điểm học của nó ít khi
đạt được trung bình. Nó là đứa lớn nhất trong 3 đứa trai. Đứa em
kế 8 tuổi và đứa thứ ba 3 tuổi. Cu Chính thích chơi với đứa bé
nhất và hay gây lộn với đứa thứ nhì tức bé Chinh. Bé Chinh đạt
được điểm cao ở trường và hoàn tất những gì nó khởi sự. Sở thích
của nó không nhiều như anh nó. Một ngày kia cu Chính làm gần
xong một con trâu bằng đất. Mẹ nó quan tâm đến việc nó không làm
xong điều mà nó khởi sự nên tìm cách khuyến khích nó: “Thật là
dễ thương, con đang làm một tuyệt tác”. Và thật bất ngờ, cu
Chính ném con trâu xuống sàn nhà và hét lên: “Con không dễ
thương mà thật đáng chán”. Thế rồi, nó lầm lì đi ngay vào phòng
nó.
Mẹ nó cố gắng khích lệ nó bằng cách ca tụng
nó. Nhưng phản ứng của nó cho thấy rằng lời ca tụng của bà
mẹ không khích lệ mà ngược lại càng làm cho nó thêm chán nản.
Tại sao? Lời ca tụng có thể là khích lệ mà cũng có thể là không.
Đây là một điển hình cho thấy : không có
một mẫu trả lời nào hoặc một qui luật nào là tiêu chuẩn cho việc
khích lệ con trẻ. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào sự phản ứng của đứa
trẻ. Bé Chính đã quá tham lam: muốn làm quá nhiều điều nhưng
không thể làm được. Khi người mẹ ca tụng nó, nó sinh giận dỗi vì
nó mang mặc cảm rằng: nó có bao giờ làm được một cái gì xem ra
khá đâu. Nó cảm thấy lời của mẹ nó không là một lời khuyến khích
thật mà là một lời châm chọc mỉa mai. Nó muốn tác phẩm mà nó
hoàn thành phải là một cái gì tuyệt vời. Nhưng những cố gắng của
nó thì khác xa với những gì nó ước muốn vì sự thiếu khả năng của
nó, và vì muốn hoàn thành mọi sự cách tức khắc nên nó không thỏa
mãn với bất cứ cái gì. Người mẹ đã ca tụng tác phẩm nó làm,
nhưng với nó, nó cảm thấy tác phẩm đó vẫn còn là một cái gì khác
xa với cái mà nó mong muốn. Thật ra, không ai hiểu được cái thất
bại mà nó đang gặp phải ngay cả bà mẹ của nó, vì thế nó sinh ra
giận dỗi.
Bé Chính cần sự khích lệ nhưng phải là một
sự khích lệ khác thường. Nó cảm thấy mình hoàn toàn thất bại
trong mọi sự nó làm. Khởi sự hết công việc nầy đến công việc
khác, nó tỏ ra hoạt động và bận rộn với nhiều công việc, nhưng
chẳng bao giờ làm xong được một cái gì, và nó đã dùng phương
cách đó để tránh đối diện với sự bất tài của nó. Trong khi đó,
em nó, cu Chinh luôn thành công trong mọi việc, điều đó càng làm
cho nó thêm xấu hổ. Sự quá tham vọng là kết quả của mặc cảm thua
kém em nó. Ngoại trừ nó phải đứng đầu, nó không là gì cả. Chính
cái tư tưởng lệch lạc đó đã hướng dẫn hành vi sai lầm của nó.
Với nó, có thể nói được rằng đó là một công việc hoàn toàn không
thể. Vì thế, nó cảm thấy mình chỉ là một thất bại, và do đó
không có một lời ca tụng nào có thể mang lại cho nó một sự khích
lệ.
Nếu mẹ nó có nói rằng con người không cần
phải là hoàn toàn, thì điều đó cũng chỉ là vô ích và chỉ càng
làm cho nó nghĩ rằng không có một ai hiểu được nó. Nó cảm thấy
rằng mọi cái nó làm phải là hoàn toàn vì nó đồng hóa cái nó làm
với cái nó là. Nhưng dẫu cho nó có thành công trong một số công
việc, nó vẫn coi đó là một sự thất bại vì cái quan niệm lệch lạc
của nó. Nó cần phải đổi hướng, đổi cách nhìn, phải thay đổi cái
hoàn toàn của một công việc bằng cái thõa mãn của một sự đóng
góp. Tuy nhiên, nó cảm thấy rằng ngoại trừ sự đóng góp của nó là
hoàn toàn, nó chỉ là một thất bại.
Bé Chính cần được giúp đỡ nhiều để nó tái
thẩm định giá trị về chính mình và chỗ đứng của nó trong gia
đình. Cha mẹ cần dấn thân trong việc nầy. Cái chủ nghĩa “phải là
hoàn toàn của nó” phát xuất từ một chỗ nào đó: hoặc từ cha, hoặc
từ mẹ, hoặc cả hai – có lẽ đã có tiêu chuẩn quá cao cho sự hoàn
thành của một công việc. Có thể họ cũng đã nói với nó rằng nó
không cần phải là hoàn mỹ, nhưng trong lối sống, họ lại mâu
thuẫn với lời họ nói. Gia đình như vậy cần cởi mở thảo luận với
con cái họ về: thế nào là tốt đối với một con người trước khi
một người trở nên tốt đủ. Thay vì ca tụng nó, tốt hơn là nói với
nó rằng mẹ vui khi nhìn thấy con thích thú làm việc đến cuối
cùng.
Mỹ Linh 5 tuổi rất thích thu dọn chiếc
giường của nó cho gọn gàng. Nó kéo những tấm ra phủ giường qua
hướng nầy rồi hướng khác. Cuối cùng thì cô bé đặt nó vào vị trí
mà cô bé thích. Mẹ nó vào phòng, thấy giường xếp đặt không được
đẹp mắt mới bảo: “Cưng ơi, mẹ sẽ làm cho con, những tấm chăn phủ
giường thì quá nặng đối với con”.
Người mẹ không những ám chỉ rằng Mỹ Linh
chưa đủ khả năng để làm chuyện đó vì nó còn quá bé, nhưng cũng
còn muốn tỏ ra cái siêu việt của bà bằng cách trải đẹp những tấm
chăn phủ giường trong khi cô bé đứng nhìn mà lòng cảm thấy xấu
hổ. Niềm vui do việc hoàn thành một cách tốt đẹp công việc thu
dọn chiếc giường đã biến mất khi đối mặt với sự hoàn thành tuyệt
hảo của bà mẹ. Mỹ Linh không bao lâu sẽ cảm thấy : người mẹ làm
điều đó so với nó đẹp hơn nhiều nhưng nào có ích chi?
Nếu người mẹ tỏ ra vui khi thấy Mỹ Linh
thích làm điều đó và với một lời khuyến khích như: “Thật là
tuyệt nếu con kéo nó xích lên một chút” hoặc “ Hãy nhìn cưng của
mẹ tự thu dọn giường của con”, Mỹ Linh chắc sẽ vui để thực hiện,
và sẽ còn thích thú tiếp tục. Không thành vấn đề có bao nhiêu
nếp nhăn trên những tấm chăn phủ cô đã trải, người mẹ không nên
tỏ cho Mỹ Linh thấy rằng bà đã làm điều đó tốt hơn đứa bé nhiều.
Bà có thể sửa lại sau đó sau khi đứa bé không còn ở đó nữa. Một
khi đã hoàn chỉnh xong, người mẹ có thể khích lệ cô bé bằng
những đề nghị như : “Tại sao con không cuộn nó lại và rồi lại
trải ra khi con thức giấc?” Hay mỗi khi thay chăn, bà mẹ nên có
những đề nghị như : “Mẹ con mình thay chăn để giặt!” và bắt đầu
vừa làm vừa chỉ cho cô bé. Tuyệt đối tránh những phê bình, chỉ
trích mà chỉ có những lời khích lệ như : “Bây giờ chúng ta vén
góc nầy lên và dấu nó vào trong” hoặc “Chúng ta cùng kéo
nó lên để hai đầu ra vừa khít với cái đệm” . Trong cách thế như
vậy, dẫu là đang học làm một việc gì chẳng qua cũng giống như là
đang chơi một trò chơi thích thú, và cả hai mẹ con đều có chung
niềm vui là cùng làm một công việc với nhau.
(còn tiếp)
lm.levanquang.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Trở về với
đời sống! |
|
Chúng ta thường nói: thứ nhất
đau mắt, thứ nhì nhức răng!
Mắt để nhìn xem, răng để nhai
thức ăn. Hai bộ phận này quan trọng trong đời sống hằng ngày. Nếu
chẳng may một hay hai cơ quan chức năng này bị hư hại thật là một
tai nạn cho đời sống người đó. Ai đã có lần bị đau mắt, nhức răng
mới cảm nghiệm được nỗi đau khổ này.
Ai không xem thấy rõ những gì ở
gần, như khi đọc sách báo, hay khâu vá, sửa chữa xe cộ... mới cảm
thấy khoan khoái dễ chịu khi có kính đeo vào giúp đôi mắt nhìn sáng
rõ ra. Lúc đó họ mới nhận rõ chữ cùng những vật thể ở gần. Sức sống
bừng lên chạy qua luồng thần kinh cùng làn da thớ thịt luân chuyển
khắp cùng thân thể.
Cảm giác cùng sức sống đó cũng
xảy ra tương tự với người không nhìn rõ vật ở xa, mà phải cần đeo
kính cận mới nhận ra.
Có những người bị bệnh tật hư
hai con mắt. Họ không còn nhìn thấy gì nữa. Cặp kính nào cũng không
giúp gì cho họ được. Lúc đó chỉ cảm giác qua sờ đụng chạm, qua nghe,
ngửi hay trực giác từ trong tâm trí giúp họ nhận ra thôi. Họ mù lòa
không nhìn thấy ánh sáng thiên nhiên, không nhìn thấy hình hài cùng
mầu sắc. Họ phải sống trong đêm tối mù mịt.
Một tai nạn, phải, một đại họa
xảy đến cho đời họ. Họ là người tội nghiệp đáng thương!
Trong đời sống, dù đôi con mắt
khoẻ mạnh nhìn sáng rõ, không phải đeo kính, nhưng ta vẫn nhiều khi
vấp vào tình trạng gần như bị mù lòa. Mù lòa vì nóng giận, mù lòa vì
lòng ham muốn tham lam, vì thiếu lòng bác ái, vì lườn biếng, mù lòa
vì dục vọng đam mê trong yêu đương, vì buồn sầu đau khổ, mùa lòa vì
lòng ghen tỵ, vì lo âu sợ sệt, mù lòa trước công trình tạo dựng của
Thiên Chúa trong thiên nhiên...
Vướng vào tình trạng đó, ta như
người bị lạc lối, sống xa lìa thế giới cuộc sống, tương tự như người
không còn nhìn nhận ra đường đi trong đời sống nữa.
Người mùa lòa Bartimäus ngồi
bên vệ đường trong phúc âm được Chúa Giêsu chữa cho sáng mắt nhìn
thấy trở lại được. Vì anh tin: Lòng tin
của con cứu chữa con!
Chúa Giêsu chữa cho anh
không chỉ đem lại tình trạng sức khoẻ, niềm vui hạnh phúc cho sáng
mắt nhìn được thiên nhiên, nhìn được con người, nhìn được mầu sắc.
Nhưng còn hơn thế nữa: cho anh nhận ra ý nghĩa đời sống, cùng cơ hội
trở về với đời sống xã hội làm người.
Mắt bị kém nhìn không rõ, ta
cần có kính đeo vào để nhìn cho rõ ra. Bị đau
mắt, đi chữa trị bằng thuốc men để mắt lành mạnh trở lại.
Còn khi bị mù lòa về tâm trí
không còn nhận ra ý nghĩa cùng con đường sống, lúc đó cần nhớ đến
gương sáng tốt lành, cùng những lời an ủi chỉ bảo ngay chính, để mở
tâm trí ra, nhất lòng tin vào Thiên Chúa là nguồn ánh sáng cho con
người: Xin Chúa cho con được nhìn thấy. Vì tâm trí con đang bị mù
lòa!
Lm. Nguyễn
ngọc Long
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGƯỜI BIẾT YÊU CHÍNH MÌNH LÀ NGƯỜI BIẾT YÊU TẤT CẢ |
|
Câu nói đầy mâu thuẫn. Phải
chăng đây là chủ trương của nhóm người theo chủ nghĩa cá nhân,
những người chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của chính mình, mà không
đếm xỉa đến quyền lợi của ai khác.
Không đâu bạn ạ. Câu nói đó là
một chân lý, một sự thật 100% đấy. Bạn không tin ư.
Chúa Giêsu dạy: chỉ có một
giới răn duy nhất là hãy kính mến Thiên Chúa và yêu thương anh
em như chính mình (xem Mt 22:37-39). Làm sao bạn có thể yêu
người anh em nếu bạn không biết yêu chính mình. Cái mức để đo
lường Yêu là chính bạn.
Yêu là một tập quán tốt. Tập
quán là những gì được làm đi làm lại nhiều lần, để rồi trở thành
tự động. Bạn có yêu chính mình, thì bạn mới có tập quán để lúc
nào cũng biết yêu. Làm sao có thể yêu người anh em, nếu bạn
không có tập quán yêu. Yêu là cho, là tha thứ, là chia sẻ ...
Hơn nữa, khi giận ghét người
khác, bạn hủy hoại chính bạn. Khi giận ghét ai, cứ nghĩ đến
người ấy hoặc những gì liên hệ đến họ, bạn sẽ tức tối, bực bội,
không còn bình an, không còn vui vẻ, tim đập nhanh, các bộ phận
trong cơ thể bị xáo trộn, dễ sinh bệnh. Vì thế, bạn ơi, yêu
người khác cũng chính là yêu bạn đấy.
Bạn ơi, yêu, yêu thật nhiều,
yêu chính mình, và yêu mọi người.
Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Đau khổ & Ý Nghĩa của Cuộc Đời |
|
Những đau khổ của cuộc đời
Một đêm kia, tôi làm trong phòng cấp cứu của nhà thương. Quãng 2
gìơ sáng, xe cứu thương đưa một em gái 19 tuổi vào. Khi cha mẹ
em tới thì em đã tắt thở. Cha mẹ em lớn tiếng kêu gào em thức
dậy, rồi hứa sẽ mang em về Việt Nam, không ở lại trên đất Mỹ
nữa. Gia đình qua đây chỉ vì em, và bố mẹ chỉ có em, chỉ sống vì
em. Nay em chết như vậy, cuộc sống của bố mẹ không còn ý nghĩa
gì nữa.
Đối với hai ông bà, “Mặt trời đã ra tối tăm, mặt trăng không còn
chiếu sáng,” như đã viết trong Phúc Âm hôm nay.
Mỗi người chúng ta đều sẽ có những lúc khó khăn như vậy,
như Chúa đã nói, “thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều
ấy xảy ra. ”Có khi vì tai nạn như em gái kia. Có khi vì hoàn
cảnh xã hội hay chiến tranh như trong bài đọc thứ nhất. Sách
tiên tri Daniel, chương 11, kể chuyện các vua chúa mạnh mẽ nhưng
lại đồi bại, đánh nhau để tranh dành danh lợi, gây ra bao cảnh
chết chóc lầm than cho người dân. Hoàn cảnh ngày nay có khi còn
tệ hại hơn. Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, mỗi NGÀY có quãng
30,000 em bé từ 5 tuổi trở xuống bị chết vì những bệnh dễ chữa
như chết vì thiếu dinh dưỡng và thuốc men. Hiện giờ có quãng 800
triệu người trên thế giới bị đói triền miên mặc dù thế giới dư
thừa thực phẩm. Từ năm 1960 tới giờ, người giầu càng giầu hơn,
còn người nghèo càng nghèo hơn.
Đó là những bất công của cả xã hội. Ta cũng có thể đau khổ vì
bị người khác làm hại. Có khi ta hại cả mình lẫn người vì những
ham muốn không tốt của chính mình. Có khi vì thiên nhiên, như
bão lụt. Và ai cũng phải đi qua sinh lão bệnh tử.
Cả đời cố gắng vất vả, mà tới cuối cùng đau khổ như ông bà đã
mất cô con gái trên đây, thì cuộc đời quả là quá đau khổ, tăm
tối. Nhiều triết gia hiện sinh đã hỏi là có nên sống hay tự tử
cho rồi. Tuần này là Chúa Nhật áp cuối của năm phụng vụ, Giáo
Hội giúp ta nghĩ tới ý nghĩa tối hậu của cuộc đời, mà mỗi người
chúng ta đều phải luôn sẵn sang để đối phó, vì “ngày hay giờ đó
thì không ai biết được.”
Không tránh né, Chúa nói rõ, “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng
không còn chiếu sáng.” Đây là bài giảng cuối cùng của Chúa trước
khi chính Ngài chịu thương khó và chịu chết.
Chúa cứu chúng ta
Phúc Âm là tin mừng, mà sao lại mang tin dữ vậy? Bước đầu trong
hành trình đón nhận tin mừng là nhận ra trong vũ trụ và trong
chính chúng ta. Ai không thấy sự dữ này và sự bất lực của chính
mình trước những sự dữ kinh hoàng đó, thì khó mà cần Chúa, mà
cầu xin Chúa cứu. Thí dụ như người nghiện rượu có thể nhận ra sự
dữ mà họ không kiềm chế nổi. Phải nhận ra điều đó, người đó mới
khẩn cầu Chúa giúp.
Ai thấy khổ, nhận ra mình không tự cứu được chính mình, và đến
với Chúa, thì Ngài sẽ cứu, như Chúa đã nói, “…khi thấy những
điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay
ngoài cửa rồi.”
Có phải tới lúc đó Chúa mới cứu chúng ta chăng? Không phải vậy,
Chúa đã bắt đầu tuyển chọn và cứu chúng ta từ bây giờ. Tới ngày
phán xét, Chúa chỉ thu thập những kẻ Chúa đã chọn, như trong câu
27, “Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp
những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về.”
Chúa chọn ai? Chúa đã nói rõ trong Phúc Âm là Chúa chọn mọi
người, Do Thái cũng như dân ngoại, và Chúa đặc biệt để ý tới và
nâng niu người nghèo và kẻ tội lỗi mà ăn năn trở về. Tình thương
Chúa mở rộng, nhưng Chúa cũng tôn trọng tự do con người, nên câu
hỏi thật ra là làm sao chúng ta chọn Chúa, theo Chúa? Suốt cả
Phúc Âm nói rất rõ ràng: đó là tình thương. Không phải chỉ
thương mình Chúa, mà thương cả tha nhân, nhất là những người
ngay quanh ta, như cộng đoàn sở tại.
Tình thương không giúp ta tránh thoát đau khổ, nhưng mầu nhiệm
thập giá của Chúa Kitô giúp chúng ta chiến thắng đau khổ. Ngay
cả sự chết cũng không lay chuyển được chúng ta, như các thánh tử
đạo Việt Nam đã minh chứng. Dù thế gian có làm hại ta tới độ nào
đi nữa, chúng ta vẫn được sản nghiệp to lớn hơn bất cứ cái gì
khác, vì “Chúa là gia nghiệp đời con,” như trong thánh vịnh 16
mà chúng ta hát trong Chúa Nhật này.
Chiến thắng và hạnh phúc này sẽ toàn hảo trong ngày sau hết,
nhưng ngay trong những giây phút của mỗi ngày hôm nay, khi chúng
ta yêu thương, dù là trong nghịch cảnh, thì chúng ta đã bắt đầu
kết hợp với Chúa rồi. Thật ra, tình yêu trong nghịch cảnh, trong
hy sinh, mới rõ là tình yêu chân thật, không phải vì thoả mãn cá
nhân mà vì người khác, vì Chúa. Chính Chúa là gương mẫu của tình
yêu thập tự này.
Diễn Tả Tình Việt Trên Đất Mỹ
Cách diễn tả tình thương cũng quan trọng. Thiên Chúa ban cho gia
đình Việt Nam một tình thương đậm đà vô cùng, đến độ chúng ta
không nói đến chữ “thương,” chữ “yêu,” mà thương yêu bằng hành
động, ngay cả những hành động có vẻ khắt khe, “thương cho roi
cho vọt.” Mình làm việc tốt cho người khác, không phải để lấy
lòng. Tình thương tự nói lên giá trị của nó. Nếu có tình thương
thật thì khỏi cần nói, còn nếu không thương mà nói “thương” để
lấy lòng thì là cách dối trá tệ hại nhất. Tóm lại, không nói tốt
hơn.
Tuy nhiên người gốc Việt sống trên đất Mỹ phải đối phó với một
lối ứng xử khác, nhất là với con cháu lớn lên trên đất Mỹ. Đối
với cách ứng xử bên này, không nói “thương” là một thiếu xót
lớn. Nói dễ hơn làm, mà còn không nói nữa, thì chắc là không
muốn thương, không để ý tới thương. Cái khắt khe tình thương của
người Việt lại có thể bị coi là thiếu tôn trọng cá nhân.
Vậy ta nên ứng xử như thế nào? Bỏ phong tục rất quý báu của
chúng ta, hay gây hiểu lầm với con cái? Theo chúng tôi, điều
quan trọng nhất là chúng ta tự xét mình coi chúng ta yêu thương
con cháu và láng giềng thật không và tới độ nào. Theo kinh
nghiệm riêng của tôi, đa số các lần tôi la mắng con cái là vì
long tôi không yên, la cho hả dạ tôi chứ không phải chỉ vì
thương con. Đa số các lần tôi chỉ trích người khác cũng vì tôi
xấu bụng, không kiểm soát mình được, nói xong rồi hối hận, chứ
chả phải thương yêu gì.
Sau đó, chúng ta xét tới làm cách nào để diễn tả tình thương đó
cho người khác khỏi hiểu lầm, vì hiểu lầm chỉ gây thêm đau khổ
cho cả hai bên. Nếu giải thích được cho các em hiểu được cái hay
thâm sâu của người Việt thì tốt nhất, còn nếu không giải thích
được, thì có lẽ người lớn tuổi phải thay đổi và dùng ngôn ngữ
của xã hội này chăng.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta một tâm hồn bình an và yêu
thương anh chị em chung quanh, cũng như với những người đói khổ
trên thế giới, cho dù có nhiều lúc khó thương và phải hy sinh.
Xin Chúa cũng giúp chúng con biết diễn tả tình thương này trong
gia đình và trong cộng đoàn. Qua tình thương bằng ý chí và hành
động này, chúng con được làm dân Chúa, sống trong hạnh phúc bất
toàn của tình thương bây giờ, và tin tưởng sẽ được chính Chúa
làm gia nghiệp trong ngày sau hết.
Gs. Lê Xuân Hy
Máccô 13:24-32
24 "Nhưng trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy,
thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng,
25 Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực
trên trời bị lay chuyển.
26 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng
và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.
27 Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ
tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu
mặt đất cho đến cuối chân trời.
28 "Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. Khi cành
nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần.
29 Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em
hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi.
30 Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi,
trước khi mọi điều ấy xảy ra.
31 Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ
chẳng qua đâu.
32 "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được,
ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có
Chúa Cha biết mà thôi. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
KẺ NGOẠI ĐẠO LÀM
GIÁM MỤC TÀI BA |
Ngày 07.12.2006, thứ năm sau Chúa nhật I
mùa Vọng
Lễ nhớ thánh Amrôsiô, Giám
mục, Tiến sĩ Hội Thánh
Tin
Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu (Mt 7, 21. 24-27)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ
rằng: “KHông phải tất cả những ai nói với Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa
là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta
trên trời, kẻ ấy mới được vào Nứơc Trời. vậy, ai nghe những lời
Ta nói đây, và đem ra thực hành, thì giống như người khôn ngoan,
đã xây nhà mình trên đá; mưa có đổ xuống, nước có tràn vào, gió
bão có thổi đến, và lùa vào nhà đó, nhà vẫn không sập, vì nhà ấy
được xây trên nền đá. Và hễ ai nghe lời Ta nói đây mà không đem
ra thực hành, thì giống như người ngu đần, xây nhà mình trên
cát, khi mưa sa nước, gió thổi và lùa vào nhà đó, nhà sẽ sâp và
trở nên đống hoang tàn”.
Suy Niệm
Thánh Amrôsiô là con trai của tổng trấn
Anrêliô, một viên chức cao cấp La mã. Ngài cũng theo đuổi sự
nghiệp quan trường và được bổ nhiệm làm Tổng Trấn
Aemilia-Liguria miền Bắc xứ Italy. Tỉnh đô được đặt tại
Milan.
Vào năm 374 Đức Giám mục Milan chết, Hội
Thánh chia rẻ trầm trọng giữa Hội Thánh Công giáo và phái chống
đối là bè rối Ariô có một số chủ trương sai lệc đức tin, ly khai
khỏi Hội Thánh. Cả hai bên đều kình chống nhau, vì thế không thể
giàn xếp được người kế vị giám mục Milan.
Khi bạo động sắp bùng nổ thì Amrôsiô, vớI
tư cách là Tổng độc, đại diện triều đình đến nhà thờ chánh tòa
dàn xếp. Đang lúc cuộc nói chuyện diễn ra, bất thình lình có
tiếng hô lớn: “Amrôsiô làm Giám mục!”. Rồi tất cả đám đông đều
đồng thanh hô lớn như vậy. Amrôsiô hoảng hồn, bởi vì ngài là
người ngoại đạo. Ngài vội vã ra khỏi thánh đường. Nhưng đám đông
đã bao quanh và hoan hô. Ngài đành chấp nhận. Phải chăng đây là
thánh ý Chúa. Chỉ trong vòng một tuần lễ, ngài chịu phép rửa,
thêm sức, nhận chức thánh, và lảnh nhận chức Giám mục thành
Milan.
Không được sửa soạn trước cho chức vụ, ngài
muốn làm một Giám mục xứng đáng. Ngài dâng hiến tất cả tài sản
cho Hội Thánh, bắt đầu sống một cuộc đời nhiệm nhặt, ngày đêm
cầu nguyện, học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh và Thần học. Ngài trở
thành đấng bảo trợ người nghèo và luôn luôn mở cửa đón tiếp
người túng thiếu. Ngài thuyết giảng mỗi Chúa nhật, tự mình dạy
giáo lý cho tân tòng và huấn luyện giáo sĩ. Chỉ trong một thời
gian ngắn ngài nổi tiếng là một vị Giám Mục gương
mẫu.
Trong số những người ngưởng mộ ngài có một
thanh niên tên là Augustinô đã được ngài hướng dẩn và rửa tội
vào năm 386. Trong sách Tự thuật (Confessions), thánh Augustinô
đã ngạc nhiên, ngở ngàng và cảm mến khi thấy thánh Amrôsiô yên
lặng đọc và suy gẫm Thánh Kinh vì theo thói quen thời bây giờ là
đọc lớn tiếng hoặc ngâm nga.
Mặc đầu thánh Amrôsiô đã để lại nhiều sách
vở, nhưng ngài được ngưởng mộ vì tài điều khiển khéo léo và
gương đạo đức; lòng yêu mến Chúa, sự nhiệt thành đến quên mình
trong trách vụ làm giám mục… Những đức tính đó đã giúp ngài lèo
lái Hội Thánh qua cơn sóng gió.
Hội Thánh lúc bây giờ bị nhóm lạc đạo Ariô
chia rẻ lý thuyết về thần tính của Chúa Giêsu, mặc dù lý thuyết
của nhóm Ariô bị bác bỏ tại Công đồng Nicea, lý thuyết này vẫn
còn một số đông tín hữu nghe theo và ủng hộ trong suốt thế kỷ
thứ IV.
Nhiệm vụ của thánh Amrôsiô càng khó khăn
hơn, khi bà hoàng, người thao túng triều đình lúc đó, theo phái
Ariô. Bà ủng hộ nhóm Arian nên xúi vua Valentinian, con trai
mình, ra lệnh cho thánh Amrôsiô nhường cho nhóm Ariô nhà thờ
Chánh Tòa để họ xử dụng. Thánh Amrôsiô cương quyết từ chối lệnh
vua. Tranh chấp trở nên quyết liệt, nhà vua gởi quân lính đến
bao vây nhà thờ chánh tòa trong lúc vị Giám mục và giáo dân đang
cử hành thánh lễ. Thánh Amrôsiô tuyên bố: “Nhà vua là ở trong
chứ không thể ở trên Hội Thánh được”. Không hiểu sao, khi
nghe bài giảng của thánh Amrôsiô, nhà vua đã ra lệnh rút binh
lính về. ngày hôm đó cuộc đổ máu đã không xẩy ra.
Đến năm 390 một cuộc đụng độ ngã nghiệt
giữa thánh Amrôsiô và Hoàng đế Theodosiô. Hoàng đế ra lệnh tàn
sát dả man dân thành Thessalonica để trả thù cho viên Tổng trấn
bị quân nổi dậy giết chết. Binh lính được lệnh tàn sát hết dân
bản xứ, chúng đã tàn sát hơn bảy ngàn người nam phụ lão ấu không
chừa một ai. Thánh Amrôsiô bất bình. Ngài can đảm đòi nhà vua
phải ăn năn tội và không cho rước lễ cho đến khi nhận được phép
tha tội. Thánh Amrôsiô lên tiếng: “Những gì ngài đã gây ra ở
Thessalonia thật ghê tởm trong trí óc con người... Ngài cũng là
con người, sự ác đã chiếm đoạt ngài. Ngài phải vượt qua cám dổ
đó. Tôi khuyên ngài, tôi van xin ngài, tôi cầu khẩn ngài hãy ăn
năn tội lỗi. Ngài là người có lòng nhân đã nhiều lần tha phạm
nhân, bây giờ ngài đã giết hàng ngàn người vô tội. Quỷ dữ đã
cướp mất lòng nhân từ, niềm kiêu hảnh của ngài. Hãy xua đuổi
chúng đi trong lúc ngài đang còn có thì giờ mà hành
động…”
Theodosius đã nghe theo lời khuyên của
thánh Ambrose và trở lại làm hòa với HộI Thánh: “Tôi chưa từng
thấy ai xứng đáng được mang danh hiệu Giám mục như Amrôsiô!”.
Thánh Ambrose qua đời vào ngày Thứ Sáu Tuần
Thánh, ngày 4 tháng 4 năm 397, hưởng dương 57 tuổi.
Thánh Amrôsiô để lạI cho chúng ta nhiều bài
học quý giá về đờI sống cầu nguyện, về sự khiêm nhường nhìn nhận
mình thiếu thốn, yếu đuốI, nhất là thiếu thốn về sự hiểu biết
Thiên Chúa và giáo lý của Người. Thánh nhân dạy ta yêu mến Hội
Thánh Chúa Kitô, yêu mến chân lý mà Hội Thánh truyền rao từ đời
này sang đời khác. Thánh nhân cho ta thấy, chỉ trong Hội Thánh,
chúng ta sống trọn vẹn và xứng danh Con của Chúa. Thánh nhân còn
dạy ta bài học quyết tâm bảo vệ đến cùng kho tàng đức tin quý
giá mà Chúa đã ban cho ta. Thánh Amrôsiô còn dạy ta học lấy bài
học về lòng can đảm nói sự thật, bênh vực sự thật, nhất là sự
thật ấy đụng đến quyền lợi của kẻ có quyền, có thế lực…
Lạy Chúa, những bài học quý giá từ cuộc đời
và lối sống của thánh Amrôsiô để lạI cho chúng con, là tất cả
những gì cần thiết cho chính phần rỗI của chúng con. Xin cho
chúng con bắt chước thánh nhân luôn trung thành yêu mến Chúa để
như thánh nhân, chúng con đáng hưởng nguồn vui bất diệt nơi lòng
Chúa muôn đời. Amen.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Canh
tân tinh thần SỐNG LỜI CHÚA (tiếp theo) |
|
TẠI SAO PHẢI SỐNG LỜI CHÚA ?
Bài trước chúng ta đã cùng
nhau xác quyết : nhiệm vụ của người tín hữu là phải Sống Lời Chúa và phải giúp
người khác cùng Sống Lời Chúa.
Câu hỏi thứ nhất chúng ta đưa
ra, đó là tại sao lại phải Sống Lời Chúa.
Như chúng ta đã biết đạo là
đường. Đã là đường thì chúng ta phải bước đi trên đó, nếu muốn tới nơi định tới.
Cũng thế, đã theo đạo thì chúng ta phải sống đạo, nghĩa là phải sống lời Chúa
nếu chúng ta muốn trở về với Ngài.
Tục ngữ đã bảo :
- Con nhà tông không giống
lông cũng giống cánh.
Đã là con cái Chúa, chúng ta
phải trở nên giống Ngài. Đã là môn đệ Chúa, chúng ta cũng phải cố gắng trở nên
giống Ngài.
Trở nên giống Chúa, có nghĩa
là Chúa suy nghĩ, Chúa phán đoán, Chúa nói năng, Chúa xử sự, Chúa hành động thế
nào, thì chúng ta cũng phải bắt chước mà làm như vậy. Ngài dạy chúng ta sống thế
nào, thì chúng ta phải lắng nghe và quyết tâm thực hiện như vậy.
Người tín hữu phải trở nên một
“Alter Christus”, một Kitô khác. Phải làm thế nào để những người chung quanh
nhận ra khuôn mặt dịu hiền của Ngài qua thái độ cư xử của chúng ta.
Muốn được như vậy, thì cách
duy nhất là hằng ngày phải lắng nghe Lời Chúa, ghi nhớ và suy niệm trong lòng,
rồi đem ra áp dụng vào cuộc sống.
Nhờ đó, lời Chúa sẽ dần dần
thấm nhập vào trong tâm hồn và biến đổi chúng ta nên giống Ngài, đồng thời giúp
chúng ta thể hiện được những đường nét của Đức Kitô qua khuôn mặt, qua lời nói
và qua những cử chỉ bên ngoài của mình.
Tôi còn nhớ mang máng một mẩu
chuyện về cuộc đời thánh Vianney, đại khái như thế này :
Có một người mang nhiều ác cảm
đối với thánh nhân, trước những lời đồn thổi về nhân đức của thánh nhân, người
ấy muốn kiểm chứng xem có đúng như vậy hay không ?
Vì thế, người ấy đã vào nhà
thờ, rình rập và quan sát thánh nhân. Sau một hồi quan sát và rình rập, khi bước
ra, người ta hỏi :
- Anh đã thấy gì ?
Người ấy trả lời :
- Tôi đã thấy Thiên Chúa trong
một con người .
TẠI SAO PHẢI GIÚP NGƯỜI KHÁC
SỐNG LỜI CHÚA ?
Câu hỏi thứ hai, đó là tại sao
phải giúp người khác cùng sống lời Chúa ?
Tôi xin thưa vì Chúa đã truyền
dạy :
- Các con hãy đi khắp thế gian,
rao giảng Tin Mừng cho muôn dân…
- Các con hãy nên chứng nhân
cho Thày tại Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Chúng ta có thể giúp người
khác Sống Lời Chúa bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu
thương của mình.
Cách đây không lâu, một phụ nữ
Anh giáo, tò mò vào quan sát một nhà thờ Công giáo. Trong giây phút đó, cô quyết
định trở lại, lí do rất đơn giản chỉ vì cô đã nhìn thấy mấy em thiếu nhi đang
cầu nguyện một cách sốt sắng ở cuối nhà thờ.
Ngày kia, một kỹ sư ba mươi
tuổi, cũng xin trở lại chỉ vì thái độ vui vẻ của một anh lính cong giáo. Mặc
dầu bị chế nhạo, nhưng tối nào anh cũng quỳ gối cầu nguyện một cách rất chăm chú.
Thứ đến, chúng ta phải giúp
người khác cùng Sống Lời Chúa, vì đó là dấu chỉ chứng tỏ chúng ta là những người
con hiếu thảo và có lòng yêu mến Chúa thực sự.
Khi yêu mến ai, người ta
thường ước muốn điều tốt cho họ và cố gắng làm vừa lòng họ. Cũng thế, nếu thực
lòng yêu mến Chúa, chúng ta phải ra sức làm sáng danh Chúa, cố gắng làm cho mọi
người chung quanh nhận biết, tôn thờ và chu toàn thánh ý Chúa như lời Ngài đã
phán :
- Ta còn nhiều chiên khác chưa
thuộc về đàn này. Ta cũng phải dắt chúng về và chúng sẽ nghe tiếng Ta. Rồi sẽ
chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên mà thôi.
Hơn nữa, như tôi đã trình bày
:
- Đối tượng của đức tin không
phải là một đồ vật quí giá chúng ta lo cất dấu cho riêng mình, nhưng là một
người. Người ấy đã yêu thương tôi, đã chịu chết vì tôi. Và người ấy chính là Đức
Kitô. Vì thế chúng ta có bổn phận làm cho người khác nhận biết và yêu mến Ngài.
Đối tượng của đức tin còn là
một “Phúc Âm”, còn là một Tin mừng. Đã là một tin mừng thì chúng ta có bộn phận
phải loan truyền, phải chia sẻ cho người khác.
Tuy nhiên, để dễ dàng chu toàn
nhiệm vụ sống lời Chúa và giúp người khác cùng sống lời Chúa, chúng ta cần phải
tiến vững chắc qua hai giai đoạn, đó là bản thân phải sống lời Chúa trước khi có
thể giúp người khác cùng sống lời Chúa.
Thực vậy, không ai có thể cho
cái mình không có. Tôi không thể cho người khác tiền nếu như trong túi tôi không
có một đồng xu nào cả.
Cũng vậy, người tín hữu không
thể đem Chúa cho người khác một cách hiệu quả, nếu bản thân lại không có Chúa
trong tâm hồn và không thấm nhuần tinh thần của Chúa trong cuộc sống.
Chúng ta có thể so sánh : Lời
Chúa giống như một giòng điện, người Kitô hữu là một sợi dây nối liền giữa Đức
Kitô là nguồn điện, với anh em là những chiếc bóng đèn. Bóng đèn chỉ có thể cháy
sáng, khi có điện do sợi dây dẫn tới. Bao lâu sợi dây không có điện thì bóng đèn
cũng không thể nào cháy sáng được.
Cũng thế, ngày nào người tín
hữu không sống lời Chúa, ngày ấy họ không xứng đáng là một Kitô hữu, một người
có Đức Kitô, và không thể nào chu toàn sứ mạng đem Chúa đến với người khác.
SỐNG LỜI CHÚA TRONG GIA ĐÌNH.
Gia đình chính là một môi
trường thuận tiện nhất để huấn luyện cho người Kitô hữu biết thực sự sống Lời
Chúa và làm việc tông đồ giáo dân. Trách nhiệm huấn luyện trước tiên là của các
bậc cha mẹ.
Đúng thế, cha mẹ phải làm
gương sáng về tình yêu thương mà Chúa đòi hỏi ngay trong phạm vi gia đình của
mình, đồng thời mỗi ngày phải đào sâu để bản thân hiểu và sống Lời Chúa, nhờ đó
giúp con cái mình cùng hiểu và sống Lời Chúa nữa.
Không gì đẹp bằng hình ảnh một
gia đình trong đó mọi người biết yêu thương và nghĩ đến nhau, biết giúp đỡ,
nhường nhịn và khích lệ nhau nên thánh.
Đâu có tình yêu thương thì ở
đấy có Thiên Chúa. Và đâu có Thiên Chúa, thì ở đấy có hạnh phúc. Vậy gia đình
yêu thương nhau chính là thiên đàng nơi trần thế và đời sống gương mẫu ấy có sức
hấp dẫn rất lớn.
Người ngoài dễ nhận biết và
tin thờ Thiên Chúa, nếu như những Công giáo biết sống lời Chúa và thực thi tình
bác ái yêu thương trong chính gia đình của mình.
Tuy nhiên, gia đình chỉ có thể
sống lời Chúa, nếu biết hâm mộ lời Chúa. Mỗi ngày phải chăm chỉ lắng nghe, tìm
hiểu, suy gẫm và quyết tâm thực hiện lời Chúa bằng những việc làm cụ thể.
Giờ kinh tối sẽ là những giây
phút thuận tiện nhất, để học hỏi, suy niệm và áp dụng lời Chúa trong sinh hoạt
gia đình.
LỜI CHÚA TRONG GIỜ KINH TỐI
Mỗi gia đình Kitô hữu muốn
sống lời Chúa, trước hết phải mua sắm một cuốn Kinh Thánh, toàn bộ Cựu ước và
Tân ước, hay ít nữa là Tân ước, gồm bốn Phúc Âm.
Cuốn Kinh Thánh phải được để
trên bàn thờ hay một nơi nào khác thuận tiện và trang trọng.
Khi đọc lời Chúa, mọi người
phải có thái độ cung kính, lắ | |