Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 60, Chúa nhật 10.12.2006


Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

Người Kitô hữu cần nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi tha nhân                            Vatican 2

NGẨNG  ÐẦU LÊN !                                                                                Lm. Đỗ Vân Lực, op.

SỐNG MÙA VỌNG CÙNG ĐỨC MẸ                                                            Lm. Vũ Xuân Hạnh

MỘT LỄ GIÁNG SINH TUYỆT ÐẸP                                    Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

TINH THẦN MÙA GIÁNG SINH                                                                       Ts. Trịnh Nhật

KHÚC NHẠC THIÊN THẦN                                                                       Trầm Tĩnh Nguyện

CANH TÂN VIỆC LẦN HẠT MÂN CÔI                                                                      Tuỵ Hiền

Tha thứ, một cuộc phiêu lưu nhân bản và thiêng liêng       Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Tông đồ là người diễn lại cuộc đời Chúa Giêsu                  + Cố HY. FX. Nguyễn Văn Thuận

NHÂN LOẠI CHẲNG ĐỜN ÔNG,                                                 Chuyện phiếm của Gã Siêu


Người Kitô hữu cần nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi tha nhân

Thời nay, nhờ phương tiện giao thông dễ dàng và nhanh chóng hơn, khoảng cách giữa loài người hầu như không còn nữa, và dân chúng trên toàn thế giới được coi như những người cùng sống trong một gia đình, nên những hoạt động và những công cuộc bác ái càng trở nên khẩn thiết và cần được tổ chức rộng lớn hơn. Ngày nay, hành động bác ái có thể và phải nhằm tới tất cả mọi người và mọi nhu cầu. Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu gìáo dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh hay ốm yếu, chịu cảnh lưu đày hay tù ngục, thì ở đó bác ái Ki-tô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng. Thi hành bổn phạn này trước hết là bổn phận của những người giàu và các dân tộc giàu.

Để việc thực thi bác ái khỏi bị chỉ trích và để tỏ ra là bác ái  thực sự, cần phải nhận ra nơi tha nhân hình ảnh Thtên Chúa, vì họ được dựng nên giống hình ảnh Người, và nhận ra nơi họ chính Đức Ki-tô, bởi vì bất cứ sự gì được tặng cho người nghèo là thực sự đã dâng cho Người; phải hết sức tế nhị tôn trọng tự do và nhân phẩm của người được trợ giúp; đừng làm hoen ố hướng ý ngay lành vì mưu cầu tư lợi hay vì một tham vọng thống trị nào; phải thoả mãn những đòi hỏi công bằng trước đã, kẻo những tặng phẩm đem cho tưởng là vì bác ái, mà thực ra phải đền trả vì đức công bằng; phải loại trừ không những hậu quả mà cả nguyên nhân gây nên sự dữ; phải tổ chức giúp đỡ sao cho những người được trợ giúp dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc người khác và có thể tự túc.

Vậy giáo dân phải quý trọng và tuỳ sức giúp vào các việc từ thiện và những sáng kiến cứu trợ xã hội của tư nhân và của quốc gia cũng như của quôc tê. Nhờ những sáng kiến đó, người ta trợ giúp hữu hiệu cho mỗì người và mỗi dân tộc đang lâm cảnh khốn cùng. Trong việc này, giáo dân cần cộng tác với mọi người thiện chí.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 8).

VỀ MỤC LỤC
NGẨNG  ÐẦU LÊN !

Phúc Âm Nhật Ký 03.12.2006

(Lc 21:25-28.34-36)

Hôm nay mở đầu mùa vọng, nhân loại mong chờ Chúa đến.  Niềm hy vọng Giáng sinh đã tràn về với gió lạnh từ miền Bắc Mỹ tràn xuống.  Trời đất bắt đầu chuyển động, báo hiệu niềm vui lớn lao khi Con Chúa giáng trần. 

Người sẽ đến trần gian lần thứ hai.  Trước đó, những cơn biến động lớn sẽ xảy ra. Những biến động hôm nay chẳng thấm thía gì !  Tất cả sẽ vượt tầm kiểm soát của con người.  Nhưng liệu con người có thể chuẩn bị cho những biến cố lớn trong tương lai không ?  Chuẩn bị bằng cách nào ?

Giả sử vài chục năm nữa, một hành tinh trong vũ trụ xẹt ngang qua trái đất, liệu loài người còn sống sót không ?   Có thể loài người sẽ biến khỏi trái đất.  Nếu thế, những tính toán hôm nay có ý nghĩa và giá trị gì ?  Giữa cơn xáo trộn cùng cực đó, làm sao chúng ta có thể “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”[1]?

Hôm nay, nhiều người đang oằn lưng vì những gánh nặng cuộc đời.  Ðầu cúi gầm vì những mặc cảm tội lỗi hay trong thân phận nô lệ.  Nỗi buồn mênh mông vì những bế tắc.  Nhìn quanh không thấy lối thoát. 

Tình trạng ấy cũng giống hệt như thời kỳ Con Thiên Chúa chưa xuống thế làm người.  Những xáo trộn về mọi mặt thiên nhiên, xã hội, tôn giáo v.v. đã gây bao nhiêu đau thương.  Nhưng trong đau thương, dân Chúa càng hướng về niềm hy vọng Thiên Sai.  Những ai có niềm tin thực sự sẽ đọc được những dấu chỉ cứu độ khi Con Chúa đến trần gian.  Những người không tin sẽ bị chao đảo và không tìm được lối thoát.

Giữa thời kỳ Chúa đến lần thứ nhất và thứ hai, nhân loại cũng trải qua những xáo trộn tương tự.  Niềm hy vọng cũng được hâm nóng lại.  Bởi đó, Tin Mừng hôm nay chiếu lên niềm hy vọng lớn lao giữa những đổ vỡ trong thiên nhiên vào thời cùng tận của vũ trụ.  Niềm hy vọng ấy dành cho những người tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Giêsu Kitô.

Niềm tin đó có một chiều kích cắm sâu vào hiện tại nơi những con người luôn “tỉnh thức và cầu nguyện,”[2]  với trái tim đầy tình yêu, lối sống thánh thiện “đẹp lòng Thiên Chúa.”[3]  Ðó là dấu chỉ và lối sống có thể tìm thấy nơi những người sẽ được cứu độ.  Trước mọi biến cố, nhất là vào thời cánh chung, họ sẽ là những người đứng thẳng và ngẩng đầu để nhìn rõ niềm hy vọng thành sự thật nơi “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến”[4] với họ.  Chắc chắn không còn quyền năng nào lớn hơn.  Chính nhờ quyền năng tuyệt đối đó, họ sẽ lướt thắng mọi cơn lo lắng hoang mang và sợ hãi cùng cực trước những biến động trời đất. 

Nghe theo Lời Chúa, lòng họ không bao giờ “nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời.”[5]  Trái lại, họ luôn tỉnh thức trước giờ Chúa đến.  Vì Lời Chúa đem lại thần khí và sự sống, nên kéo họ ra khỏi những đam mê quyền lực, của cải, danh vọng v.v.  Có thể thấy những mẫu điển hình đó nơi hang đá Bêlem : các mục đồng, các nhà hiền triết Ðông Phương, nhất là Ðức Trinh Nữ Maria và Thánh Cả Giuse.  Họ là những người nghèo  Giavê, nên lúc nào cũng đầy ắp niềm hy vọng Thiên Sai.  

Suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Ðức Giêsu đã gặp biết bao người sẵn sàng đón nhận Nước Trời, như bà góa trước cửa Ðền Thờ, người mù thành Giêrikhô, ông Giakêu v.v.  Còn những người Pharisêu, dù đọc Lời Chúa hàng ngày, cũng không thể nhận ra niềm hy vọng Thiên Sai xuất hiện nơi Ðức Giêsu Kitô.  Trái lại, họ còn đối kháng, từ chối và giết chết Người.  Vì quá say sưa với quyền lực và tiền bạc, họ đã không tỉnh thức và nhận ra giờ Chúa đến viếng thăm dân Người, mặc dù bao ngôn sứ đã loan báo và dân Chúa đã mong đợi hàng bao thế kỷ.  Cuối cùng, họ đã không tìm được lối thoát cho mình và dân tộc.  Họ gặp bế tắc về mọi mặt tôn giáo, chính trị, xã hội, v.v.  Chỉ biết cắm đầu thỏa mãn những tham vọng nhất thời, họ không thể phóng tầm nhìn về tương lai.   

Ðến nay, nhân loại vẫn chưa thoát vòng luẩn quẩn đó.  Bằng chứng, tại Nhật bản, một nước phát triển vào bậc nhất nhì thế giới, giới trẻ đang gặp bế tắc.  Một số tìm lối thoát trong những cuộc tự tử tập thể.  Những tiến bộ vượt bực về kỹ thuật  cũng không thể giúp giới trẻ tìm được câu giải đáp cho những vấn đề mới mẻ hôm nay.  Giới trẻ khao khát lý tưởng tự do, hòa bình, đối thoại v.v. nhưng xã hội vẫn tràn ngập những khối người đóng kín.  Hàng trăm kiểu ăn chơi cũng không làm họ thỏa mãn.  Những thành công về mọi mặt văn hóa và chính trị không bảo đảm cuộc sống hạnh phúc.  Những tính toán trong thương mại, kinh tế, tài chánh v.v. càng làm cho lòng người ra nặng nề.  Xã hội đầy bất công, hận thù, chiến tranh . . .

Chìm sâu trong cảnh sống như thế, làm sao con người có thể tỉnh thức trước lời hứa đầy hy vọng của Thiên Chúa ?   Muốn tìm lối thoát cho cuộc sống hôm nay, thiết tưởng phải mở lại lịch sử dân Chúa.  Thời ngôn sứ Giêrêmia, Giêrusalem mới bị dân ngoại xâm lăng.  Qua ngôn sứ Giêrêmia, Thiên Chúa hứa cho dân Israel “một Ðấng Công Chính để nối nghiệp Ðavít ; Người sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực.”[6]   Họ rất vui khi bắt gặp niềm hy vọng lớn lao đó.  Chỉ cần Người hiện diện, mọi sự sẽ biến đổi tận gốc.  Từ tên thành đến đời sống đều rực lên niềm hy vọng.  Giêrusalem sẽ không còn là đất bỏ hoang, nhưng tràn đầy sự sống và của cải.  Dân Chúa đã tìm được lối thoát nơi Hậu Duệ Ðavít là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng sẽ đem lại công lý và bình an cho muôn dân.

Quả thực, Ðức Giêsu là lối thoát duy nhất cho mọi bế tắc hôm nay.  Người sẽ phục hồi tất cả những gì đổ vỡ.  Người sẽ củng cố bàn chân chúng ta giữa những phong ba bão táp, những xáo trộn, thử thách và cám dỗ cuộc đời.  Người xuất hiện để tái lập trật tự và phục hồi bản chất con người chúng ta.  Vì Người là Ðức Chúa,[7] sự khôn ngoan của Thiên Chúa,[8] Con Người,[9] Con Thiên Chúa đến trong quyền lực,[10] Ngôi Lời Thiên Chúa làm người[11] để cứu độ muôn dân.

Hôm nay, Người vẫn hiện diện như niềm hy vọng lớn lao.  Giữa những đổ vỡ hôm tại, vẫn có những dấu chỉ niềm hy vọng.  Xin đừng than trách đức tin khủng hoảng, những giá trị mất mát, giới trẻ bỏ nhà thờ và không giữ luật lệ nữa.  Tin Mừng không bao giờ ngưng bước.  Niềm tin vẫn chưa chết. Hàng triệu bạn trẻ tụ hội đầy ắp công trường Phêrô để cầu nguyện, khóc thương và dự tang lễ ÐGH Gioan Phaolô II là một bằng chứng hùng hồn.  Các tín hữu tuốn đến Lộ Ðức bên Pháp càng củng cố bằng chứng niềm hy vọng đó.  Các bạn trẻ tuốn về Taizé làm gì, nếu không phải tìm lối thoát nơi Ðức Giêsu Kitô ? Biết bao cơ sở văn hóa, giáo dục, xã hội của Giáo hội có mặt khắp thế giới chắc chắn đã gieo niềm hy vọng và khai thông nhiều bế tắc trong cuộc sống con người. 

Nếu có thiện chí, con người sẽ tìm được những giải đáp thỏa đáng trong Lời hứa của Thiên Chúa.  Lời hứa ấy đã thành sự thật nơi Tin Mừng Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô.  Sự phong phú khôn lường của Ðức Kitô không thể đóng khung trong một hình thức cứng ngắc của một nền văn hóa đặc biệt nào. Tuy thế, văn hóa Âu Mỹ đã khá thành công trong việc diễn tả và hội nhập Tin Mừng.  Ví dụ những ý niệm công lý, hòa bình, bác ái đều phát xuất từ Tin Mừng.  Nhưng những giá trị ấy đã trở thành gia sản rất tự nhiên của nền văn hóa Âu Mỹ và ăn sâu vào nếp sống xã hội.  Nhưng chính những hoa trái tốt đẹp ấy lại thui chột trong xã hội Việt nam.  Xã hội Việt nam vẫn bế tắc vì thiếu những giá trị cao quý đó.   Sau gần 500 năm được rao giảng ở Việt nam, Tin Mừng vẫn chưa biến thành sức mạnh khai thông những bế tắc trong văn hóa và xã hội hôm nay.  Tại sao ?

Tới đây, mới thấy Mùa Vọng không phải chỉ là một thời gian phụng vụ.  Mùa Vọng còn là thời gian bắt đầu lại việc dấn thân, lời hứa, niềm hy vọng đầy tin yêu.  Ðường phục hồi quê hương còn dài và đầy chông gai.  Nhưng, cùng với niềm hy vọng mong chờ Chúa đến, chúng ta tiến bước đến một tương lai đầy hứa hẹn cho quê hương.  Những bông hoa Tin Mừng như công lý, tự do, nhân quyền, hòa bình v.v. sẽ nở rộ trên khắp nẻo đường Việt nam, nếu chúng ta bắt đầu sống tinh thần Mùa Vọng từ hôm nay

Lạy Chúa, xin thương  cho dân tộc Việt nam chúng con biết đặt tất cả  niềm hy vọng Ðức Giêsu Kitô, nguồn ơn cứu độ duy nhất của chúng con.  Amen.

đỗ lực,

dzuize@gmail.com


[1] Lc 21:28.  [2] Lc 21:36.  [3] Tx 4:1.  [4] Lc 21:27.  [5] Lc 21:34.  [6] Gr 33:15.

[7] Rm 10:9; x. 1 Cr 12:3; 8:6; Cv 2:36; Pl 2:11.  [8] 1 Cr 1:24; Cl 1:15-16; Dt 1:3.

[9] Mc 2:28; 8:31; 13:26.  [10] Rm 1:3-4.  [11] Kh 19:13; 1 Ga 1:1; Ga 1:1, 14.

VỀ MỤC LỤC

SỐNG MÙA VỌNG CÙNG ĐỨC MẸ

 

 

 

Ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Hội Thánh muốn chúng ta suy niệm câu việc Đức Mẹ được Chúa sai thiên thần truyền tin để đón nhận bào thai Giêsu, Thiên Chúa nhập thể làm ngườI (Lc 1, 26–38). Sở dĩ Hội Thánh suy niệm đoạn Kinh Thánh này là bởi trong lời chào của thiên thần có một xác tín quan trọng: HỠI ĐẤNG ĐẦY ÂN SỦNG, Đức Chúa ở cùng Bà… Bà đẹp lòng Thiên Chúa… Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà”. Chính trong những lời đầy xác tín ấy của vị có thế giá nơi tòa Thiên Chúa, khiến chúng ta nhận ra ngay chỗ đứng có một không hai của Đức Mẹ trong ơn được Chúa tuyển chọn và được Chúa gìn giữ suốt đời thanh sạch. Chính trong ý nghĩa của lời xác tín có một không hai ấy, Hội Thánh tin tưởng mạnh mẽ, Đức Mẹ đã được Chúa giải thoát khỏi mọi vướng mắc của vết tích tội lỗi ngay từ buổi đầu làm người.

 

Nói cách khác, bởi Đức Mẹ “tràn ngập ân sủng”, luôn “có Chúa ở cùng”, luôn “đẹp lòng Chúa”, luôn được ơn Chúa Thánh Thần giải thoát và thánh hóa, được bao phủ suốt đời nhờ quyền năng Chúa… Vì thế, suốt đời Đức Mẹ thoát khỏi lây nhiễm của tội, đặc biệt, được giải thoát khỏi tội tổ truyền.

 

Khi được giải thoát khỏi vết nhơ của tội, cung lòng Đức Mẹ trở thành cung điện cao sang, xứng đáng Con Thiên Chúa ngự vào. Cung lòng ấy trở thành ngai vàng chúa đựng Chúa trời làm người.

 

Tuy nhiên, vinh dự mà Đức Mẹ có, Đức Mẹ không muốn giữ lại riêng mình. Đức Mẹ muốn chúng ta cùng được tham dự vào vinh dự ấy. Vậy ta cần làm gì để tham dự vào vinh dự lớn lao của Đức Mẹ?

 

Chúng ta đang sống trong mùa Vọng. Tuần đầu tiên của mùa Vọng, chúng ta lại diễm phúc mừng lễ trọng, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội. Vì thế, ngay từ ngày đầu tiên của mùa Vọng, tôi thích nhìn ngắm mẫu gương sống của Đức Mẹ để được tham dự vào vinh dự mà Chúa đã ban cho Đức Mẹ. Đức Mẹ có rất nhiều nhân đức để chúng ta học đòi bắt chước để nên thánh thiện. Nhưng gắn liền với ý nghĩa của mùa Vọng, chúng ta thấy mấy nhân đức sau đây nơi Đức Mẹ, cần cho việc sống mùa vọng của chúng ta:

 

1. ĐỨC MẸ HAM THÍCH CẦU NGUYỆN.

 

Dù Thánh Kinh không nói gì về thờI thơ ấu, cũng như năm tháng nép mình tại quê nhà của Mẹ Thiên Chúa, nhưng ta dám quả quyết rằng, đã là người, chắc chắn, Đức Mẹ không thiếu những vất vả và mọi lo toan, mọi nỗi niềm mà cuộc sống của một con người phải vươn mang.

 

Nhưng với một người đầy lòng yêu mến Chúa như Đức Mẹ, hơn nữa: một Thụ Tạo được tuyển chọn để làm Mẹ của Chúa Trời làm ngườI, chắc chắn, thân xác, thờI gian, sự sống, linh mồn của NgườI không dừng lạI ở những thực tại trần thế, mà không quy hướng về Chúa, tôn thờ Chúa và cầu nguyện, chuyện trò với Chúa.

 

Những bằng chứng Tin Mừng nói riêng, Kinh Thánh nói chung, như xác nhận cách hết sức rõ ràng cho lòng yêu mến sự cầu nguyện của Đức Mẹ.

 

Chẳng hạn, ngay khi lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần trong ngày truyền tin, Đức Mẹ đã cất lời tán dương Thiên Chúa, hớn hở trong Thiên Chúa, và cất cao lời ca ngợi kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình. Chính trong đời sống luôn ngập chìm bằng cầu nguyện, Đức Mẹ khám phá đến tận cùng, Chúa là Đấng giàu tình yêu thương xót. Khám phá đó, đã làm cho Đức Mẹ reo lên: Chúa đã đoái nhìn đến tôi, phận nữ tỳ của Chúa  bằng một cái nhìn đầy tình thương xót.

 

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần được ban xuống cho Hội Thánh, không chấm dứt việc Đức Mẹ chuyên cần cầu nguyện, nhưng càng làm phong phú và mở rộng chân trờI của việc cầu nguyện nơi Đức Mẹ (Cv 1, 14). Trong thinh lặng hoàn toàn của cõi lòng để thực sự sống đời cầu nguyện, Đức Mẹ đã cảm nhận, và còn hơn sự cảm nhận, Đức Mẹ đã thực sự đón nhận việc Chúa đến với mình, sai mình cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa.

 

Với thái độ của một ngườI ham thích cầu nguyện, càng ngày càng làm cho Đức Mẹ hiểu rằng, cầu nguyện liên lỷ là một thái độ căn bản, một định hướng thường hằng, là biểu lộ của một niềm khao khát Chúa. Và niềm khao khát ấy càng liên lỷ, thì cầu nguyện càng được nhân lên.

 

Nơi Đức Mẹ, nhờ đời sống thinh lặng và chìm lắng trong cầu nguyện, đã làm cho Đức Mẹ sống đức tin một cách sâu sắc. Thần học nơi Đức Mẹ không phải những kiến thức về Chúa, mà là chính sự sống có Chúa, một vị Chúa tràn ngập tình yêu, ham thích chiếm ngự tâm hồn kẻ mình yêu, một vị Chúa trở nên gần gũi, một vị Chúa luôn luôn ở cùng.

 

II. ĐỨC MẸ TỈNH THỨC CHỜ ĐỢI CHÚA CỨU THẾ.

 

Suy niệm những trang Thánh Kinh, nhất là những trang Tin Mừng liên quan đến vị trí của Đức Mẹ, ta nhận thấy một nét đẹp, nét mới mẻ nơi Đức Mẹ, đáng để ta học đòi, đó là sự tỉnh thức và chờ đợi Chúa của mình.

 

Như bao nhiêu người Cựu Ước cùng thời, tin tưởng lời Chúa hứa, qua lời loan báo từ các tổ phụ đến các tiên tri, Đức Mẹ chờ đợi Đấng Cứu Thế của trần gian. Lời cầu nguyện tha thiết của cả một dân tộc Thánh, của cả Sion: “TrờI cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội”, chắc chắn cũng là sự khắc khoải của Đức Mẹ. nếu chờ mong là phải tỉnh thức, thì nơi Đức Mẹ, càng khắc khoải trông đợi ngày cứu thế, Đức Mẹ càng tỉnh thức, càng chuẩn bị lòng mình chu đáo để Giavê thực hiện lời hứa cứu độ, điều mà Người đã hứa, và không ngừng lặp lại trong suốt dòng lịch sử.

 

Khi Chúa đến trần gian thực sự qua ngỏ cung lòng Đức Mẹ, Tin Mừng lại trình bày hình ảnh rất đẹp nơi Đức Mẹ, một người nữ tỉnh thức và trông đợi.

 

Sau biến cố truyền tin, rồi đón nhận Ngôi Lời nhập thể, không chỉ trong niềm tin, nhưng đã trở thành hiện thực nơi chính lòng dạ của mình, Đức Mẹ chờ đợi ngày Chúa giáng sinh.

 

Trong biến cố giáng sinh nghèo khó, đặt Thiên Chúa làm người, con của mình vào máng cỏ, chắc chắn hơn ai hết, Đức Mẹ cảm nghiệm đến vô cùng sự huyền nhiệm lạ lùng của thánh ý Thiên Chúa mà Đức Mẹ là người trước tiên phải suy tư, phải sống. Bởi luôn cưu mang và sống thánh ý Thiên Chúa trong đời mình, Đức Mẹ trở thành người của sự tỉnh thức. Bởi chỉ có tỉnh thức và chờ đợi như thế, Đức Mẹ mới dần dà hiểu và khám phá từng buớc ý Chúa đưa dẫn mình đi vào huyền nhiệm cứu độ của Người.

 

Vẫn chưa hết những biến cố mà Chúa thực hiện trong cuộc đời Đức Mẹ, khiến Đức Mẹ luôn tỉnh thức và chờ đợi. Chẳng hạn, sau ngày Chúa Giáng Sinh, trên đường chạy nạn và ẩn trốn trên đất Aicập, Đức Mẹ chờ đợi ngày về lại quê hương. Năm tháng, cùng con, cũng chính là Thiên Chúa của mình sống ẩn dật, nghèo hèn, cùng với việc đợi chờ sự trưởng thành về mặt con người của Người Con ấy, Đức Mẹ càng suy tư, càng thêm tỉnh thức trong sự chờ đợi quyền năng cứu độ lớn lao mà Người Con ấy thực hiện theo những gì Thiên Chúa mạc khải trên suốt dòng lịch sử ngỏ cho toàn dân.

 

Ơn cứu độ bắt đầu hé mở cùng với sự ra đi loan báo Tin Mừng bình an, Tin Mừng giải thoát những “người nghèo của Thiên Chúa”, chắc chắn đã làm cho Đức Mẹ vui mừng. Trong nỗi vui mừng, Đức Mẹ đã tin rằng, Người Con của mình đã thực sự là Đấng Cứu Độ, là chính Ơn Cứu Độ từ ngàn xưa của Thiên Chúa, nay đang dần thành hiện thực.

 

Người Nữ của sự tỉnh thức và chờ đợi ấy, lại cứ tiếp tục được Chúa đưa đi từ hết huyền nhiệm này đến huyền nhiệm khác. Dõi theo Con trên đường truyền giáo, Đức Mẹ chờ đợi những điều tốt đẹp cho Con. Nhất là cho cả nhân loại, khi nhờ Tin Mừng được loan báo, họ thực sự được giải thoát.

 

Khi Người Con Một dấu yêu của mình bước vào cuộc thương khó, chịu tử nạn, một lần nữa, Đức Mẹ được mời gọi tiến vào huyền nhiệm tình yêu khôn tả của Thiên Chúa đối với nhân loại, mà nơi đó, Đức Mẹ được diễm phúc hiệp công bằng sự tử đạo cùng với Con bên chân thánh giá. Hơn bao giờ, biến cố thánh giá mà Đức Mẹ tham dự vào, càng làm cho Đức Mẹ phải tỉnh thức nhiều hơn. Bởi chỉ có thế, mới có thể giúp Đức Mẹ can đảm chấp nhận ý Chúa trong đau thương, sỉ nhục tột cùng của nỗi đau thập giá.

 

Nhìn Con chết trên đồi Tử Nạn, đức tin của cả một đời tỉnh thức và cầu nguyện, tiếp tục đưa Đức Mẹ tiến sâu hơn vào huyền nhiệm thánh ý Chúa. Đó cũng chính là huyền nhiệm của thế giới lòng yêu mến, cậy trông, phó thác cho thánh ý Chúa. Nó giúp Đức Mẹ vững tin và chờ đợi ngày Con mình bừng lên trong sức sống mới, sức sống phục sinh tuôn trào trên cả nhân loại.

 

Tiếp tục hành trình tỉnh thức và chờ đợi, Đức Mẹ lại đi vào huyền nhiệm mới, đầy hân hoan: huyền nhiệm của ngày Con Một phục sinh. Chúa mời gọi Đức Mẹ sống biến cố phục sinh, để như Chúa đi trọn con đường trần thế, tiến vào vinh quang vĩnh phúc, Đức Mẹ cũng sẽ tiên phong trên hết, và trước hết mọi thụ tạo, được mời gọi chờ đợi ngày giải thoát khỏi mọi vướng bận trần thế, thừa hưởng gia nghiệp, chia sẻ vinh quang thiên quốc với Con mình.

 

Rồi khi Chúa về trời, Đức Mẹ lại tiếp tục thành mẫu gương sống của chúng ta, trong tỉnh thức và chờ đợi điều Người Con Một của Đức Mẹ đã hứa: ơn Chúa Thánh Thần. Được nhìn thấy tường tận ơn Chúa Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống tiên khởi, Đức Mẹ lại cùng cả Hội Thánh chờ đợi sự lan rộng của Nước Chúa nơi trần thế, tiến vào trong mỗi tâm hồn con người, làm cho triều đại của Người Con Một hằng trị đến khắp trần gian.

 

Ngày nay, trên thiên quốc, Đức Mẹ vẫn không quên chuyển lời cầu bàu, và luôn phù hộ đoàn con dưới thế. Đoàn con đó chính là Hội Thánh đã thực sự lan rộng như điều Đức Mẹ hằng chờ đợi. Đức Mẹ vẫn dõi mắt theo đoàn con và mong ngày sum họp, để Hội Thánh mà Đức Mẹ vẫn luôn yểm trợ, sẽ cùng Đức Mẹ sống vĩnh phúc nơi quê hương bình an.

 

Qua tất cả những biến cố thăng trầm trong cuộc đời, trong niềm tin, lòng yêu mến Chúa, suốt đời Đức Mẹ là một bài học lớn lao cho ta về sự tỉnh thức và chờ đợi. Hãy cùng Đức Mẹ, ta tiếp tục sống mùa vọng 2006 này. Hơn thế, trong khi chờ đợi ngày cứu độ toàn thể mà Chúa dành cho ta, thì cuộc sống trần thế của ta cũng chính là một mùa Vọng. Vậy ta cũng hãy sống mùa Vọng cuộc đời mình rập theo khuôn mẫu mà Đức Mẹ đã sống, để như Đức Mẹ, khi  hoàn thành mùa vọng cuộc đời, ta sẽ hạnh phúc thừa hưởng vinh quang mà Thiên Chúa dành cho những tôi tớ trung thành của Người.

 

********** ---------- **********

 

Như Đức Mẹ, chúng ta bước vào đời sống cầu nguyện liên lỉ và tỉnh thức không bao giờ ngơi, để trong sự chờ đợi khi còn ở trần gian, ta hoàn thành phận của người lữ hành cách hết sức, hết khả năng, hết nghị lực có thể.

 

Nếu Đức Mẹ đã xuất sắc hoàn thành đời mình trong tinh thần ham thích cầu nguyện, trong tinh thần tỉnh thức và chờ đợi luôn luôn nơi tình yêu quan phòng của Chúa, thì đó cũng chính là bài học Chúa dạy chúng ta bằng chính cuộc đời của Đức Mẹ. 

 

Mùa Vọng mời gọi ta sống mãnh liệt thân phận của mình, một thân phận bất toàn, dang dở. Sống mãnh liệt thân phận của mình, giúp ta sử dụng hết mức, vươn tới hết mức, tha thiết hết mức, và sống hết mức tất cả những gì Chúa ban, tất cả những gì là lợi thế của ta trên đường tiến về thiêng liêng.

 

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, cũng là lúc ta sống mùa Vọng. Hãy nhìn lên Đức Mẹ mà tin vào tình yêu của Chúa. Chúa đã “nhìn đến phận hèn Tớ Nữ Chúa”, Chúa cũng dành cho ta tình yêu lớn lao vô cùng như thế. Chúa giải thoát Đức Mẹ khỏi lây nhiễm của vết nhơ tội lỗi. Chúa sẽ làm cho ta tinh tuyền như Đức Mẹ. Phần ta, đừng quên để Chúa chiếm ngự mình bằng việc hoàn thành mùa vọng cuộc đời trong sự cầu nguyện liên lỉ và luôn tỉnh thức đợi chờ ơn Chúa cứu độ như Đức Mẹ đã từng sống và đã thành công.

 

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 
VỀ MỤC LỤC
MỘT LỄ GIÁNG SINH TUYỆT ÐẸP

 

TRUYỆN NGẮN

Lúc đó là mùa Ðông năm 1864, một mùa Ðông thật lạnh tại Hiệp chủng quốc.

Cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc Hoa Kỳ đang ở vào thời kỳ ác liệt nhất. Những trận giao tranh giết hại hàng chục ngàn người và những tiểu bang nằm trong vùng trận địa đều chịu cảnh tàn phá đổ nát : nhà cửa bị cháy rụi, nông trại bỏ hoang, đàn bà con nít chạy trốn khỏi nơi lửa đạn, súc vật lang thang đói khát không người săn sóc...Thật là một mùa Ðông lạnh ở ngoài trời mà giá buốt cả trong lòng người.

Trong một trang trại nhỏ ở miền Nam chỉ cách Shiloh - nơi mới xảy ra một cuộc giao tranh ác liệt làm đôi bên tử thương cả chục ngàn quân sĩ - chừng 100 dặm, Sandra Johnson đứng nhìn qua cửa kính ra ngoài trời đầy tuyết bay lả tả. Nàng là một cô gái xinh xắn, dễ thương, tính tình hiền hậu và hay thương người. Sandra mới 16 tuổi nhưng đã sớm biết thế nào là cảnh chiến tranh giết chóc, cảnh gia đình tan nát chia ly, phần vì nàng được nghe người ta kể lại, phần vì nàng đã được chứng kiến ngay trong cuộc sống hàng ngày tại cái tỉnh nhỏ bé của nàng.

Cha Sandra ra đi chiến đấu bên phía Nam quân đã được gần hai năm. Trong khoảng thời gian ấy, chỉ có một lần ông ghé thăm nhà rồi biệt vô âm tín.

Có những buổi chiều khi hoàng hôn xuống, Sandra đã nhớ thật nhiều người cha thân yêu mà ngày còn ở nhà ông thường dắt nàng đi chơi cũng trong những buổi chiều đẹp như vậy.

Những lúc đó, Sandra đã không ngăn được những giọt lệ lăn tròn trên má. Thỉnh thoảng Sandra cũng bắt gặp những giọt lệ như thế trên khoé mắt mẹ nàng mặc dầu Sandra biết mẹ cố giấu những xúc động, không muốn cho Sandra thấy.

Hôm nay đứng nhìn tuyết bay, Sandra lại cảm thấy nhớ cha hơn. Ước gì ông về ngay bây giờ để Sandra sà vào lòng ông mà vòi vĩnh, nũng nịu và để được ông nhìn với ánh mắt đầy yêu thương trìu mến, được ông vuốt ve vỗ về và nhất là được ông kể chuyện chiến trường cho nghe.

Sandra càng nhớ cha khi nàng chợt nghĩ sắp đến lễ Giáng Sinh rồi. Nàng gọi mẹ:

“Má ơi! Chỉ ba ngày nữa là lễ Giáng Sinh rồi đấy má!”

Bà Johnson đang lúi húi trong phòng. Bà lục tìm trong đống đồ lộn xộn bộ tượng Giáng Sinh mà gia đình bà đã có từ lâu, mỗi mùa Giáng Sinh lại lấy ra trưng bày ở giữa nhà. Giọng bà âu yếm:

“Ừ, Sandra, má đang tìm bộ tượng Sinh Nhật đây!”

Sandra nhảy chân sáo vào phòng để đồ:

“Thế ư má? Thích quá. Ðể con tìm phụ với má.”

Hồi chưa có chiến tranh, đồ đạc của mỗi gia đình được xếp dọn đâu đó. Từ dạo xẩy ra nội chiến giữa hai miền Nam Bắc, tình trạng hỗn loạn xẩy ra thường xuyên, không biết lúc nào. Ðồ đạc được chia ra làm hai loại: thứ quí báu và thiết dụng thì lúc nào cũng sẵn sàng để mang theo lúc chạy. Thứ không cần thiết và nặng nề thì dọn cả vào căn phòng chứa đồ. Bộ tượng Sinh Nhật tuy quí nhưng không thể mang theo mỗi khi hữu sự. Ðành phải bỏ vào trong một chiếc hộp và để trong phòng đồ vậy. Phòng đồ chất đủ thứ lộn xộn, hai mẹ con tìm hoài không ra bộ tượng Sinh nhật. Sandra vừa lục lọi vừa hỏi mẹ:

“Má à, bao giờ ba về? Giáng Sinh này ba có về không?”

Bà Johnson sững sờ trong giây phút. Cổ họng bà nghẹn lại. Bà không trả lời ngay được con gái.

Người chồng yêu quí của bà ra đi đã hai mùa Giáng Sinh rồi. Không biết chàng sống chết ra sao. Trước đây ba tháng, một trận chiến khốc liệt xẩy ra làm cả đôi bên Nam quân và Bắc quân đều tổn hại hàng chục ngàn người. Vô số người bị thương. Bà mong John bị thương và về nhà để bà săn sóc, để bà mãi mãi được gần người chồng yêu quí, Sandra được gần cha. Nhưng trông hoài không thấy chồng về, bà đinh ninh có lẽ chồng bà đã chết trong trận ấy vì nhiều người chết trận quá, người ta chưa kịp báo tin cho bà. Bà vẫn giấu thầm những giọt nước mắt không muốn cho Sandra biết và mỗi khi Sandra hỏi, bà trả lời:”Ba con sắp về!”

Ừ, vài bữa nữa đã Giáng Sinh rồi, John có về không? John về thì bà vui lắm, Sandra vui lắm. Và mặc dù tình trạng chiến tranh vẫn còn, bà sẽ cố gắng sửa soạn một bữa tiệc Giáng Sinh thật ngon cho cả gia đình. Bà sẽ giết một con gà tây trong mấy con gà còn sót lại trong nông trại. Sẽ thiếu nhiều thứ lắm: không có bơ, không có phó-mát...và hình như chỉ còn một chút xíu đường và bột đủ cho một chiếc bánh. Nhưng không sao. Vậy cũng đủ rồi. Chỉ cần John về. Chỉ cần sự hiện diện của John thôi. Còn mọi thứ là phụ.

Chiến tranh đã tàn phá hết, thiêu hủy hết, ngay cả những nhu yếu phẩm cho đời sống. Và tình trạng hỗn loạn đã khiến người ta không yên tâm làm việc để sản xuất những thứ đó. Bà Johnson biết có nhiều gia đình đã ở trong tình trạng khốn quẫn: thiếu cả bánh mì để ăn hàng ngày, nói gì đến sữa và bơ, đường...là những thứ hiếm hoi lúc đó.

“Kia, sao má không trả lời con?”

Bà Johnson bừng tỉnh như ra khỏi giấc mộng. Bà chợt nhớ đến câu hỏi của Sandra:

“À, có lẽ ba con sắp về. Giáng Sinh này ba con sẽ về...”

Giọng Sandra nũng nịu:

“Lúc nào má cũng nói ba sắp về, ba sắp về...mà chẳng bao giờ ba về. Con không tin được má nữa...”

Bà Johnson thở dài. Bà biết giải thích với con làm sao? Bà chỉ còn trông cậy vào Chúa, nhất là ngày lễ Giáng Sinh sắp tới. Chúa sẽ thương gia đình bà đưa người chồng yêu quí của bà về với gia đình.

Bỗng Sandra reo lên:

“Má, bộ tượng đây rồi má!”

Hai mẹ con đưa bộ tượng Giáng Sinh ra trưng bày trên một chiếc bàn nhỏ tại phòng khách, chỗ long trọng nhất. Sandra thắp hai ngọn đèn cho bộ tượng rồi đứng ngắm một cách say mê. Căn phòng được bày biện lại và nhờ có bộ tượng Giáng Sinh, trông vui mắt và ấm cúng hẳn lên.

“Má à, còn thiếu cây thông nữa. Má với con ra góc vườn chặt một cành đi.”

Bà Johnson đáp:

“Phải đó, ra chặt lẹ kẻo sắp tối.”

Hai mẹ con đi ra vườn. Bà Johnson xách theo một con dao để chặt cây. Sandra ngắm nghía xong lựa được một cành ưng ý:

“Cành này đẹp đấy má. Má chặt cho con đi!”

Lúc bà Johnson vừa chặt xong cành cây thì có tiếng chuông reo ở cổng. Hai mẹ con ngó qua hàng rào ra ngoài. Hai người đàn ông mặc quân phục Bắc quân cỡi trên hai con ngựa.

Bà Johnson và Sandra bỗng nhiên thấy hai người lạ mặt một cách đột ngột, sợ không còn hồn vía, muốn la lên và chạy, nhưng vì sợ quá lưỡi cứng lại, chân ríu lại, không la cũng không chạy được nữa. Hai mẹ con đành cứ đứng như trời trồng ở đó. Ai còn lạ gì những cuộc tấn công của Bắc quân? Họ đốt phá và hãm hiếp đàn bà con gái. Họ làm tất cả những gì dã man không ai có thể tưởng tượng. Nhưng có lẽ đoán được tâm trạng, hai người đàn ông lên tiếng:

“Bà và cô đừng sợ. Chúng tôi không làm gì bà và cô đâu. Xin cho chúng tôi ngủ nhờ một đêm và cho nước uống, sáng mai chúng tôi sẽ đi.”

Bà Johnson định thần lại. Bà không biết tính sao. Thực sự bà ngại cho hai người lính Bắc quân này vào nhà quá. Ðêm hôm chỉ có hai mẹ con bà, nếu hai người lính “giở trò” thì làm sao? Bà đã lớn tuổi rồi có thể đối phó nhưng Sandra còn nhỏ quá... Bà đưa  mắt ngó Sandra. Sandra nghĩ mẹ hỏi ý kiến mình, nàng nói không suy nghĩ:

“Sắp Giáng Sinh rồi má à. Má cứ cho họ ngủ nhờ một đêm đi!”

Hai người đàn ông nghe thế cũng phấn khởi:

“Cô bé nói phải đó. Sắp Noel rồi. Chúng tôi cũng có gia đình nhưng không về thăm nhà được, nhớ nhà quá! Cho chúng tôi ngủ nhờ trong phòng khách một đêm đi. Chúng tôi hứa không làm gì phiền bà và cô.”

Bà Johnson thấy hai người ăn nói có vẻ tử tế lại còn trẻ tuổi. Noel sắp tới, bà không làm được điều gì tốt để dâng lên Chúa sao? Bỗng nhiên bà thấy niềm thương dào dạt trong lòng. Bà liền hăng hái đi mở cổng cho hai người đàn ông.

Sau khi gài then cổng cẩn thận, bà chỉ chỗ cho hai người cột ngựa ở phía vườn sau rồi hướng dẫn họ vào phòng khách. Bà bỏ thêm củi vào lò sưởi và ân cần săn sóc họ.

Hai người lính Bắc quân gỡ súng đạn đang mang trên người ra, đem để ở một góc phòng. Sau đó họ tự giới thiệu với bà Johnson và Sandra.

Một người là Mark Wilson, 30 tuổi, có vợ và một đứa con trai 2 tuổi, đang ở Illinois. Người kia, Tom Harrison mới 21 tuổi còn độc thân và gia đình ở tại Ohio. Hai người có vẻ đói và mệt. Họ bảo bà Johnson họ đã không có gì ăn từ mấy ngày nay.

Bà Johnson cảm thấy ái ngại quá. Bà muốn đãi họ một chút gì cho ấm lòng vì họ nói sáng mai họ sẽ đi sớm.

Chỉ còn một chút đường và bột. Bà dã định khi nào chồng về bà sẽ làm một cái bánh cho chồng ăn và để gia đình mừng ngày đoàn tụ luôn thể. Nhưng nay có khách. Dù họ là những người đang có mối tử thù với chồng bà nhưng bà nghĩ đã cho họ vào ngủ nhờ thì cũng phải đối đãi tử tế với họ. Hơn nữa họ lại là những ngưòi lịch sự, lễ phép, rất kính trọng bà và vui vẻ, nhã nhặn với con gái bà.

“Thôi để John về sẽ kiếm cách khác” bà Johnson tự nhủ.

Liền đó bà bảo hai người đàn ông nằm nghỉ rồi đi lấy chỗ bột và đường cuối cùng, bà bắt đầu làm bánh. Trong lúc nướng bánh, bà nghe Sandra hỏi hai người đàn ông đủ thứ về chién trận, về đời sống vất vả nơi quân ngũ. Bà nhận thấy Sandra và anh chàng lính trẻ có vẻ hợp nhau và quyến luyến nhau lắm.

Lát sau bánh chín, bà Johnson mời mọi người vào bàn. Sandra và bà luôn tay tiếp bánh cho hai người đàn ông. Họ ăn thật ngon lành và dần dần sắc mặt họ hồng lên, tươi tắn, trái với vẻ xanh xám và mệt mỏi lúc trước. Họ tỏ ra rất vui vẻ, sung sướng.

Trời chạng vạng tối. Tiếng chuông lanh lảnh của ngôi nhà thờ gần đó làm không gian bớt tịch mịch hơn. Bà Johnson lặng lẽ làm dấu Thánh giá. Bà nghĩ đến chồng thật nhiều và cầu nguyện cho chàng sớm về.

Bỗng có tiếng chuông rộn ràng ngoài cổng. Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Hai người lính Bắc quân thì nghĩ chắc một vài người bạn của họ lại xin vào ngủ trọ nữa. Còn bà Johnson thì không đoán ra ai nhưng bà thấy tim mình đập loạn xạ trong lồng ngực. Bà thầm nghĩ:”Lậy Chúa cho John về.” Nhưng liền đó bà bỏ ý nghĩ đó đi ngay. John về đang lúc có hai người lính Bắc quân trong nhà? Chúa ơi, không thể như thế. Không bao giờ có thể như thế. Tính John xưa nay nóng nảy, nghỉ sao là làm vậy liền. Ắt sẽ có những chuyện không hay xẩy ra.

Bà Johnson bảo hai người đàn ông:

“Các ông cứ tiếp tục ăn uống. Ðể tôi và Sandra ra xem ai gõ cửa giờ này.”

Khi hai mẹ con ra tới cổng thì thấy hai người đàn ông mặc binh phục Nam quân trên lưng hai con ngựa. Bà Johnson giơ cao cây đèn cầm nơi tay, chăm chú nhìn họ rồi rú lên:

“John đó hả? Anh đã về đó sao?”

Tiếng chồng bà:

“Ừ, anh đã về, em lạ lắm sao? Sao không mở cổng ngay cho anh còn đứng đó?”

Chúa ơi, điều mơ ước mong John về đã thành sư thực nhưng hai người lính đang ở trong nhà thì sao đây? Ðầu óc bà Johnson tê liệt, mụ mẫm đi khiến bà cứ đứng trơ ra đó. Lời cầu xin của bà với Chúa đã được Chúa chấp nhận nhưng Chúa không cho nó ở trong hoàn cảnh tốt một tí nào. Chồng bà đang đứng kia và cả người bạn của ảnh nữa, hai người đều có súng và có vẻ như vừa từ mặt trận về. Bà nghĩ ngay đến hai khẩu súng của hai người đàn ông trong nhà.Rồi bà tưởng tượng những gì sẽ xẩy ra khi chồng bà và người bạn bước vào nhà. Bà sẽ nghe đạn nổ dòn, sẽ thấy những thân người gục ngã và máu chảy lênh láng khắp nhà bà. Hoặc có thể, chồng bà sẽ tấn công trước và giết chết hai người lính Bắc quân trong khoảnh khắc.

“Chúa ơi,” Bà rùng mình lẩm bẩm. Những giọt mồ hôi lạnh buốt thấm lưng áo vì bà quá sợ hãi. Nhưng liền lúc đó, Sandra lay lay vai bà:

“Má à, má mở cửa cho ba và ông khách. Cứ cho ba hay sự thực. Má đừng sợ vì Noel sắp tới rồi.”

Thấy lâu quá cổng không đưọc mở, John la lên từ phía ngoài hàng rào:

“Diane, sao em không mở cửa cho anh? Có gì ở trong nhà mình vậy?”

Nhưng bà Johnson vẫn bất động. Bà không biết tính sao? Vì vậy Sandra đã lanh lẹ ra mở cổng và ôm chầm lấy cha nàng:

“Gặp lại ba con mừng lắm. Ba ở nhà luôn chứ ba?”

Người bạn của John đứng đó nhìn cảnh hai cha con John âu yếm nhau.

“Hình như có chuyện gì lạ trong nhà mình phải không Sandra?” Ông Johnson hỏi con gái.

Sandra đáp:

“Con muốn kể cho ba nghe hết nhưng trước nhất ba phải hứa với con ba không làm điều gì, nhất là giết người ta...”

John vô cùng kinh ngạc, ông nhìn con gái:

“Chuyện gì vậy Sandra? Nói mau đi!”

Sandra lúc đó mới kể cho cha nàng nghe về hai người lính Bắc quân trong nhà. Càng nghe ông ta càng tức giận:

“À, bọn đó là kẻ thù không đội trời chung của ba. Ba phải giết hai thằng đó. Bao nhiêu bạn hữu của ba đã bị bọn nó giết thảm thương. Ba phải báo thù.”

Quay về phía bà vợ, ông nói:

“Bà đã làm một lầm lỗi không thể tha thứ. Bà dám tiếp rước kẻ thù của tôi trong nhà. Tôi phải hạ chúng trước, sau sẽ hỏi tội bà.”

Nói là làm, John và người bạn của ông ta, súng trên tay, xăm xăm đi vào nhà. Nhưng bà Johnson đã lanh chân chạy theo chồng và người bạn và cố sức cản họ. Bà năn nỉ chồng:

“Em lạy anh. Ðừng làm thế. Họ là những người tử tế và dễ thương lắm.”

Người chồng càng tức giận hơn, ông ta trừng trừng nhìn vợ:

“Cô tiếp đãi kẻ thù của tôi ở trong nhà rồi bây giờ lại bênh vực chúng, phải không?Tôi không muốn nhìn mặt cô nữa. Cô không phải là vợ tôi.”

Ông ta đẩy bà vợ chúi nhủi ra một bên rồi lại tiếp tục đi về phía ngôi nhà với ý định phải giết bằng được hai người lính Bắc quân. Phải giết chúng ngay lập tức.

Nhưng bà Johnson và Sandra cố sức níu hai người lại. Sandra nói:

“Ba ơi, gần Noel rồi, ba không thể tha cho họ một lần được sao? Ba biết rõ Chúa đâu có thích giết chóc hả ba?”

Sandra đã đánh trúng nhược điểm của cha nàng và người bạn ông ta. Hai người mềm lòng trước lý lẽ vô cùng hợp lý của Sandra. Sau một hồi lưỡng lự, họ cất súng vào bao. Ông Johnson nói:

“Thôi được, vì Giáng Sinh sắp tới rồi không nên giết người. Ba bằng lòng tha cho họ lần này.”

Bà Johnson vô cùng mừng rỡ khi nghe chồng bà nói như thế. Ðược đà, bà nói tiếp:

“Không phải chỉ một lần này nhưng là mãi mãi. Có phải không bao giờ anh muốn trái giới răn của Chúa không? Giết chóc như thế quá đủ rồi anh à!”

Sau đó cả bốn người cùng vào nhà. Bà mẹ và cô con gái vô cùng sung sướng vì đã thuyết phục được chồng và cha của mình và người bạn bỏ ý định giết chóc. Nhưng khi vào tới nhà, họ chẳng thấy hai người lính Bắc quân đâu.

Ông Johnson hỏi vợ:

“Hai người kia đâu em?”

Bà Johnson đoán chừng hai người lính Bắc quân đã chứng kiến vụ “níu kéo” vừa  xong, sợ quá nên trốn rồi vì hai khẩu súng của họ cũng không còn đó. Bà ra phía sau nhà gọi lớn:

“Xin anh Mark và anh Tom vô trong nhà. Không có điều gì đáng ngại cả. Ông chồng tôi và bạn ông sẽ không làm gì hai anh đâu.”

Hai người lính Bắc quân từ trong bụi cây chui ra. Họ cũng không mang súng. Bốn người lính, hai phía Bắc quân và hai phía Nam quân cùng niềm nở bắt tay và tự giới thiệu. Họ cùng ngồi vào bàn và thưởng thức nốt cái bánh lúc nãy. Bữa ăn vô cùng thanh đạm nhưng là bữa ăn nhớ đời.

Với những giọt lệ long lanh vì cảm động và nụ cười tươi trên khuôn mặt rạng rỡ, bà Johnson nói với mọi người:

“Mặc dầu chúng ta mừng lễ Giáng Sinh hơi sớm nhưng tôi rất vui sướng có sự hiện diện của mọi người hôm nay. Tôi mong chiến tranh sẽ sớm chấm dứt và mọi người đều trở nên huynh đệ bởi vì chúng ta cùng đang sống trên một lục địa. Xin Chúa xuống phúc lành cho các anh và gia đình tôi.”

Vào ngày lễ Giáng Sinh năm sau, năm 1865, vừa lúc chiến tranh Nam - Bắc kết thúc, Tom Harrison - người lính trẻ Bắc quân năm ngoái - lại trở lại nông trại của gia đình Johnson. Lần này anh ta không xin nước uống và ngủ nhờ một đêm, nhưng là để xin cưới Sandra.

Từ đó, đôi vợ chồng trẻ sống hạnh phúc mãi mãi bên nhau.

Memphis, TN Giáng Sinh 1977                       

Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

VỀ MỤC LỤC
TINH THẦN MÙA GIÁNG SINH

 

Lời tác Giả: Bài viết “Tinh thần mùa Giáng Sinh”, hay đúng hơn bài phỏng dịch, của chị Bích Vân, trên bản tin khoahoc.net 22-12-2005 đem lại cho tôi một nỗi buồn man mác.  Chị ‘Mây Xanh’ vô tình đã nhắc tôi nhớ đến lời của triết gia phương Tây nào đó khi ông nói:

“Sống là luyến tiếc dĩ vãng, là bất mãn với hiện tại, là mơ ước tới một tương lai khá hơn, nhưng than ôi, khi cái tương lai ấy đến rồi, thì nó cũng như trăm ngàn hiện tại khác đã qua”.  

Tôi nghĩ tác giả bài viết ở trong một tâm trạng mà Nguyễn Du đã viết:  

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”  

Bức tranh tác giả (viết bằng tiếng Tây) phác họa lên cho tinh thần mùa Giáng Sinh cũng theo đó mà mang tính chất chủ quan, u buồn, tiêu cực.  Trong một thế giới đổi thay mọi chuyện phải thay đổi.  Bao giờ cũng có hai khía cạnh của một vấn đề. Tùy theo mình đứng ở góc độ nào để nhìn sự vật mà thôi. Trong tinh thần mùa Giáng Sinh không phải ai cũng mang một tâm trạng u buồn ấy.  Có người nhìn thế này, có người nghĩ thế khác. Trong một thế giới phức tạp, bận rộn hiện giờ với quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp chằng chịt, chồng chéo, việc tặng quà cáp cũng được thể hiện dưới nhiều hình thức, hoàn cảnh, tâm trạng khác nhau.  Tùy theo đối tượng nhận quà mà ta có những lối thể hiện hợp lí, phải lẽ.  Cho người bạn thân, cho người quen sơ, cho người tình, hay cho con cái trong một gia đình nghèo đông con…?  Điều chính yếu vẫn là tinh thần cho và nhận (giving and receiving) có nghĩ đến nhau trong dịp lễ tôn giáo trọng đại, mà nay đã được đón nhận của cả những người ngoại đạo, trong đó có tôi.

Trong mấy năm gần đây tôi không thích buồn, không thích bi quan, không thích cái gì tiêu cực.  Và tôi đã chọn cho mình một thái độ an bình, lạc quan trong cuộc sống.  Trong bất cứ chuyện tiêu cực, nghịch cảnh nào tôi cũng cố tìm ra cho được một cái gì có thể gọi là tích cực, thuận cảnh… để mà sống, để mà vui. Tội gì! 

Đức Đại-la Lạt-ma, Giáo chủ Phật giáo và là Nhân vật cai trị nước Tây tạng cho đến năm 1959 đã có lần nói:

“Tôi tin rằng mục đích chính yếu của cuộc sống chúng ta là tìm hạnh phúc. Điều đó thật rõ ràng.  Cho dù ta có niềm tin tôn giáo hay không, cho dù ta tin vào tôn giáo này hoặc tôn giáo khác, chúng ta đều đang đi tìm một cái gì tốt đẹp hơn trong đời. Cho nên, tôi nghĩ, cái chuyển động chính của cuộc sống chúng ta là hướng đến hạnh phúc… Và hạnh phúc có thể đạt được qua việc tập luyện trí tuệ.”

Vị lãnh đạo dân tộc Tây tạng không nói đến “trí tuệ” chỉ trong ý nghĩa là khả năng nhận thức hay trí tuệ. Mà Ngài đã dùng từ này với nghĩa của từ ‘Sem’ trong tiếng Tây tạng, có nghĩa rộng hơn, bao gồm cả tri thức lẫn cảm quan, cả tâm lẫn trí. Bằng cách tạo dựng một kỉ luật nội tâm nào đó, chúng ta có thể biến đổi được thái độ và lối sống của mình.

Tôi đã bắt đầu nghĩ về chuyện làm sao sống cảnh hoàng hôn của đời mình cho tâm hồn được an bình. Phương châm của tôi đã được làm tựa đề cho một bài viết vào thời gian này năm ngoái bằng tiếng Anh là: “Life is short. Think BPP” (Đời người ngắn ngủi. Hãy nghĩ BPP). Chữ viết tắt của tôi trong tiếng Anh Think BPP có nghĩa là: Think Big (Nghĩ Lớn), Think Pink (Nghĩ Hồng), Think Positive (Nghĩ Tích cực).

Khi nói  “Hãy nghĩ đến chuyện lớn”, tôi có ý nhắc nhở mình là hãy quên đi những chuyện nhỏ trong cuộc sống, mà hướng tầm nhìn đến chuyện lớn hơn. Chuyện lớn là mình vẫn còn sống, vẫn còn tồn tại trên đời, vẫn còn đó một kiếp người, và chỉ một kiếp người để sống mà thôi.   Những chuyện nhỏ trong cuộc sống thường ngày làm chúng ta bực mình là những chuyện vợ chồng gấu ó nhau, con cái hỗn xược không vâng lời, họ hàng không khéo xử, hàng xóm ghen ghét thị phi, hoặc những chuyện xảy ra trong lúc đi lại, mua sắm, đứng xếp hàng, tìm chỗ đậu xe, xe lửa, xe buýt đến trễ, tài xế lái ẩu, bị phạt vi cảnh vì xe đậu ẩu, chạy xe quá tốc độ, uống rượu lái xe v.v…Bận tâm chuyện nhỏ làm chúng ta mờ mắt không nhìn thấy chuyện lớn.  Không tìm được chỗ đậu xe ư?  Phải đứng xếp hàng chờ đợi à?  Chuyện phòng the, chăn gối không được như ý nguyện 100 phần trăm  sao?  Những chuyện ấy đâu phải chuyện trời sập?  Chuyện nhỏ mà!  Nhưng cái khó nó bó cái khôn, từ đó có thể đưa đến cãi cọ, xô xát, bạo động, gây thương tích hoặc đổ máu, tử vong. Mọi chuyện trên đời vì thế đều coi là nhỏ so với cái chết.  Chết là hết, là mất tất cả. Tiền tài, danh vọng, vợ đẹp, con khôn … đâu có thể mang theo được?  Nhà tỉ phủ số 1 của Úc, Kerry Packer, mới đây đã an tâm vĩnh viễn ra đi lúc ông 68 tuổi, để lại một gia sản kếch sù là 7 tỉ Úc kim.  Ông đã từ chối mọi đề nghị của các bác sĩ vào giờ chót xin thay thế thêm cơ phận trong người ông.  Hơn ai hết ông hiểu rõ rằng “enough is enough”, đã đến lúc “Trời kêu ai người ấy ‘dạ’”.  Nhiều năm trước đây, ông đã kinh qua ít ra 2 lần về từ cõi chết: một lần tim đã ngừng đập 7 phút phải dùng máy kích hoạt tim (defribrillator) để sống lại, một lần phải thay một trái thận, do viên phi công trực thăng của ông hiến tặng, để tránh khỏi phải lọc máu (dialysis) hàng tuần.  “Chết” là chuyện lớn đã đành, ấy vậy mà khi “cái chết” nó đến, lạc quan ra, như ông Packer chẳng hạn,  thì cũng có thể bảo lúc đó mình đâu còn biết trời trăng gì nữa mà lo, mà buồn, mà đau khổ? 

Tại sao lại phải “nghĩ đến màu hồng”?  Bởi vì ‘hồng’ tiêu biểu nữ tính, dịu dàng, mềm mại;  ‘hồng’ gợi ý hạnh nói: “Sống ở đời đâu phải là chuyện dễ?” (Life wasn’t meant to be easy), hoặc nghe Phật dạy: “Đời là bể khổ, là bể trầm luân.”  Nhiều người trong chúng ta suốt đời theo đuổi để có được công ăn việc làm, thăng quan tiến chức, mua nhà mua cửa, tích lũy tài sản, bạc tiền hoặc có được người yêu phúc, an bình, khoẻ mạnh. Nếu mình nghĩ đến màu hồng, mình nghĩ đến sự vui vẻ, niềm hạnh phúc và không cảm thấy âu sầu, phiền lụy bởi những chuyện nhỏ nhặt.  Kể cũng không phải là chuyện dễ cho nhiều người trong chúng ta để có thể nghĩ ‘hồng’, khi đã nghe George Bernard Shaw, người tình, nhưng một khi không đạt được những thứ đó thì sinh ra thất vọng, chán chường. Nhưng biết đâu chừng thường những chuyện bất lợi, nghịch cảnh sau cùng lại đem lại cho chúng ta an bình, ổn cố và hạnh phúc vượt ngoài tầm tưởng tượng. Tây họ nói: “Hạnh phúc đến qua những cánh cửa, thậm chí mình không biết là đã để ngỏ”.   (Happiness comes through doors you didn't even know you left open).

Tại sao lại phải “nghĩ tích cực”?  Quí bạn chắc đã được nghe câu nói: “Đi là đi đến, chứ đâu nhất thiết phải đến nơi” (It’s not the destination that is important, but the journey). Quan trọng chính là ở cuộc hành trình chứ không phải là điểm đến.  Nói cách khác, cái phương cách mình chọn sống ra sao ở đời quan trọng hơn những gì mình có thể đạt được trên đời rất nhiều. Tây họ nói: “Người mà thật sự hạnh phúc là người vui hưởng cảnh trí khi buộc phải đi đường vòng” (A truly happy person is one who can enjoy the scenery on a detour). 

Bạn có thể hỏi làm sao mình có thể nghĩ tích cực được trong cái thế giới đầy rẫy những nạn khủng bố, thiên tai, bất trắc này.  Ôi!  Những câu hỏi như thế đã được lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần, không biết được truyền miệng qua bao nhiêu thời đại!  Bao giờ cũng có những kẻ nó ganh ghét mình ở mức độ đủ để làm cho cuộc sống mình khốn đốn, khổ sở, nhưng nếu chính mình làm cho mình khốn khổ thì thử hỏi đỗ lỗi cho ai đây? Không phải bọn khủng bố, không phải bà mẹ chồng, chẳng phải bọn chính khách, hay tập đoàn lãnh đạo đất nước đâu.  Hạnh phúc và sự an bình của ta nằm ngay trong tâm, trong trí của ta.  Nó thoát ra  từ nội tâm, chứ không phải nhập vào từ ngoại cảnh.   

Chúng ta tất cả đều có cuộc sống khá thú vị, nhưng những chuyện ghen tị nhỏ nhoi có thể đưa chúng ta đến chỗ thích châm chọc, chế giễu người khác và như thế làm cho con người chúng ta trở nên thấp kém, tầm thường.  Có điều khá mỉa mai là chúng ta phải lập mưu tính kế để đối phó với đồng loại, bởi vì không phải ai cũng có lối tư duy tích cực.   Bạn có thể đã gặp người loại này!  Họ là những người chỉ thích “đâm bị thóc thọc bị gạo”.  Họ chỉ muốn hạ bệ, làm giảm uy tín người khác.   Họ đâu có biết được rằng giận dữ, ghét ghen chẳng lợi lộc gì mà chỉ tổ làm nguy hại đến sức khoẻ, đe dọa đến cuộc sống, khiến mình dễ tổn thọ.  Tại sao lại dễ tổn thọ?  Bởi vì khi ta giận dữ, hệ thống miễn nhiễm của ta bị ảnh hưởng, và hậu quả là con người chúng ta mắc đủ mọi loại chứng bệnh.  Dẩu môi múa mỏ kết tội, nguyền rủa người khác chẳng đi đến đâu, bởi vì thường thì đối tượng bị nguyền rủa đâu có mặt ở đó để biết mình thù ghét họ đến độ nào, cho nên chuyện mình làm cũng chẳng khác gì chó sủa trăng mà thôì.

Nói tóm lại “Think BPP”,  phương châm chỉ đạo “gạt hết ưu phiền để sống vui”, của tôi là:

Think BIG  (Nghĩ chuyện lớn): Quên đi những chuyện nhỏ, tào lao trong cuộc sống.

Think PINK (Nghĩ màu hồng): Tránh cho bằng được tâm trạng khổ sở, u sầu.

Think POSITIVE (Nghĩ tích cực): Khắc phục tiêu cực, nghịch cảnh đến cùng. 

TS. Trịnh Nhật   Sydney, Tháng Giêng 2006

VỀ MỤC LỤC
KHÚC NHẠC THIÊN THẦN

 

Hồi còn nhỏ, khi nơi nơi vang lên những bài hát Giáng Sinh, nhất là bài “Tiếng Hát Thiên Thần”, tôi lại thắc mắc không biết các thiên thần đàn hát tuyệt vời đến cỡ nào. Cái đầu óc non nớt của tôi cứ thầm ước mong sao cho mình được nghe các âm thanh huyền diệu đó. Và ước mơ trẻ con này vẫn âm thầm theo tôi qua năm tháng, cho tới một ngày nọ, khi đã bước vào tuổi thanh niên, tôi bất ngờ được nghe tận tai một “khúc nhạc thiên thần” tấu lên ngay bên cạnh mình. Câu chuyện là như thế này :

Hồi đó tôi đang trọ học tại đường Nguyễn Thông, gần nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn. Trong những tháng ngày loạn lạc chiến tranh, tôi tự nhiên “ngoan đạo” hẳn ra : những lúc lo lắng hay buồn chán, tôi thường đến cầu nguyện tại hang đá Đức Mẹ. Đứng dưới chân Mẹ, tôi tìm được nơi nương tựa và nguồn an ủi cho linh hồn “lang bạt kỳ hồ” của mình. Dần dà, hang đá Đức Mẹ trở thành nơi “hẹn hò” của Mẹ và tôi. Tôi đâm “ghiền” đến đó để nhìn lên Mẹ, như một đứa con lãng bạt sau những giờ phút lang thang tạt về nhà để nhìn người mẹ hiền hậu dịu dàng của mình.

Hôm đó, tôi đang khoái chí ngắm nhìn Mẹ tôi, thì bỗng đâu có một người bước tới gần bên tôi. Đó là một người đàn ông trung niên, vai mang túi hành khất, tay cầm đàn măng-đô-lin. Nghĩ rằng người hành khất này đến để xin bố thí, tôi thọc tay vào túi định lấy tiền để giúp ông. Nhưng thật bất ngờ, người hành khất không chìa tay ra phía tôi mà lại ngước nhìn lên Mẹ, tay nâng đàn lên, ông say sưa gảy một khúc nhạc mà tôi nghe rất réo rắt. Ông đăm đăm nhìn lên Mẹ, khuôn mặt ông sáng lên một cách lạ lùng. Trọn cả con người lẫn khúc nhạc của ông như quyện chặt vào nhau bay về phía Mẹ. Dường như đối với ông thời gian và không gian đang chựng lại. Không còn gì có thể làm ông chia trí được nữa. Ông như không còn thấy gì, không còn nghe gì từ bên ngoài nữa. Tôi thấy ông đang thật sự xuất thần : cơn xuất thần của một nghệ sĩ đang dâng lên trời tiếng đàn mà cũng là tiếng lòng của linh hồn mình. Phút giây đó, tôi chắc chắn mình đã nghe được “khúc nhạc thiên thần” mà tôi vẫn thường mơ ước từ khi còn là chú bé tẻo teo : với tôi, khúc nhạc của người hành khất này trong veo và thiêng liêng thánh thiện quá, chắc chắn nó sẽ bay vọt thẳng về trời và hoà nhập với muôn ngàn khúc nhạc mà các thiên thần đang không ngừng tấu lên để ca tụng Thiên Chúa trên thiên quốc. Trời ơi, khúc nhạc gì mà lạ lùng quá đỗi !

Cũng trong giây phút tuyệt vời đó, tôi cảm nghiệm được rất rõ một điều : người hành khất cao cả này đang góp phần“rửa tội” cho nền âm nhạc của nhân loại, một nền âm nhạc vốn tinh tuyền lành thánh, nhưng lắm lúc đã bị những con người phàm trần tội lỗi làm vẩn đục băng hoại đi. Thay vì dùng âm nhạc để dẫn đưa nhân loại vươn lên đến Chân, Thiện, Mỹ ; thì một số nhạc sĩ, ca sĩ, nhạc công... đã dùng âm nhạc để lôi kéo con người xa rời nhân tính và rơi vào hố sa đoạ ! Âm nhạc thay vì xây dựng và nuôi sống thì lại phá đổ và làm cho chết đi. Vì thế, âm nhạc cũng cần được “cứu độ” !

Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người để cứu độ và ban lại cho con người hình ảnh nguyên tuyền trong thuở đầu tạo dựng. Sau khi đã cứu độ con người, Ngài lại ban cho con người khả năng tiếp tay với Ngài trong công cuộc cứu độ thế giới. Nhờ Chúa Giê-su Ki-tô, người Ki-tô hữu được thông dự vào việc “canh tân bộ mặt trái đất” với tất cả các thực tại trần thế của nó. Do đó, người Ki-tô hữu có khả năng và có sứ mạng “thánh hóa” âm nhạc, làm cho âm nhạc trở thành đôi cánh nâng con người bay lên thiên quốc, nơi mà “các thiên thần đàn ca chúc tụng Thiên Chúa ngày đêm không ngớt”.

Ôi, người hành khất tuyệt vời mà tôi may mắn được gặp trong đời. Xin hết lòng tri ân khúc nhạc thiên thần ông đã tấu lên ngày hôm ấy. Nhờ ông, tôi đã được hưởng nếm một chút xíu niềm hân hoan của trời cao. Niềm hân hoan mà nếu tôi trung thành với ơn gọi Ki-tô hữu của mình đến cùng thì chắc chắn ngày sau tôi sẽ được cùng ông chung hưởng đến muôn đời.

Xin kính tặng ông - một người mà chắc tôi sẽ không bao giờ được gặp lại trong cuộc sống này - bài thơ đã được cưu mang trong tiếng đàn kỳ diệu của ông ngày hôm ấy, thay cho lời cám ơn mà tôi đã không nói được thành lời :

 

GIAO DUYÊN

“Chốc ấy Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người

và ở cùng chúng tôi”

(Kinh Truyền Tin)

 

Bao giờ nhạc là thơ ?

Trăng gác núi trông chờ.

Mây bay đời phiêu dạt.

Gió buồn ru hững hờ.

 

Bỗng dưng gió ngẩn ngơ

Xui trăng vàng thảng thốt

Gom mây kết lời thơ

Thành bài ca thánh thót.

 

Bây giờ nhạc là thơ

Trăng thôi hết trông chờ

Cho gió về mở hội

Mây xe kết mộng mơ ./.

Trầm Tĩnh Nguyện

VỀ MỤC LỤC
KHÍCH LỆ