Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 62, Chúa nhật 07.01.2007


 Các số báo đã phát hành       MỤC LỤC

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

TÌM VỀ Tổ ẤM                                                                                          Lm. Đỗ Vân Lực, op.

Lại suy nghĩ về sự thành công                                                                     Phùng Văn Phụng

Một khởi đầu mới                                                                                 Lm. Nguyễn Ngọc Long

KHÍCH LỆ, bài 5                                                                                          Lm. Lê Văn Quảng

HÃY THA THỨ                                                                                      Dịch giả Tôn Thất Bàng

BÀI TIN MỪNG MẦU HỒNG                                                                          Phêrô Vũ Văn Quí

Tâm Tình Tạ Ơn                                                                   Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Một kinh nghiệm tha thứ thực sự                                           Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Nói vâng cách vui vẻ là dấu chỉ một tâm hồn thánh thiện   + Cố HY. FX. Nguyễn văn Thuận

ĐỜN BÀ VÀ ĐỜN ÔNG,                                                                  Chuyện phiếm của Gã Siêu


TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI

 

LTS. Theo yêu cầu của rất nhiều độc giả khắp nơi, CNDK xin lần lượt đăng toàn văn tài liệu quan trọng này kể từ số báo hôm nay.

 

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

 

Bản dịch của Gs. Nguyễn Đăng Trúc

Trung Tâm Anrê Phú Yên, Học Viện An Đức

 

Gởi các Giám Mục

Các Linh mục và Phó tế

Các tu sĩ nam nữ

Tất cả tín hữu giáo dân

NHẬP ĐỀ

1. "ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI TÍN HƯU GIÁO DÂN (Chistifldeles laici) , trong Giáo Hội và thế giới" đã được Thượng Hội Đòng Giám Mục năm 1987 dùng làm đề tài thảo luận. Mọi tín hữu đều thuộc về Dân Chúa và Dân Chúa là những thợ làm vườn nho được đề cập đến trong Phúc âm thánh Mathêu: "Nước Trời giơng như chủ nhân vườn nho lúc tảng sáng ra dí tìm thợ làm vườn nho. Ông đồng ý trả cho họ một đồng mỗi ngày và đưa họ vàolàm vườn nho mình" (Mt. 20:1-2).

Dụ ngôn Phúc âm mô tả trước mắt chúng ta vườn nho mênh mông của Chúa và đoàn lũ người gồm đàn ông đàn bà mà Ngài gọi và sai vào làm việc.

Vườn nho đó là toàn thể thế giới (Mt. 13:38), và thế giới này phải được biến đổi theo ý định của Thiên Chúa trong một viễn ảnh của vương quôc Người vào ngày thế mạt.

CÁC ÔNG CŨNG TH, HÃY VÀO LÀM VươN NHO CHO TA.

2. "Vào lúc 9 giờ chủ nhân lại ra và thấy nhiều người khác còn đứng tại chỗ không có việc làm. Ông bảo họ: "Các ông cũng thế hãy vào làm trong vườn nho cho Ta" (Mt.20.3-4).

Lời mời gọi của Chúa Giêsu, từ xa xưa ấy trong lịch sử, vẫn còn luôn luôn vang dội đến tai chúng ta: Ngài mời gọi hết mọi người đến trong thế gian này.

Trong thời đại chúng ta, Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô Il, như một lễ Hiện Xuống mới với ơn Chúa Thánh Thần đổ xuống tràn trề, đã nhận thức sâu sắc về bản tính truyền giáo của mình, và đã ngoan ngoãn lắng nghe tiếng Chúa sai đí vào trần thế, như "bí tích cứu rỗi mọi người" .(1)

Cả các ngươi nữa. Lời mời gọi không chỉ nói với các Chủ chăn, linh mục, các tu sĩ nam nữ, nhưng nói với hết mọi người: người tín hữu giáo dân, cũng được Chúa mời gọi đích danh. H cũng nhận một sứ mệnh đối với Giáo Hội và đối với thế giới. Thánh Grêgôrió Cả cũng đã nhắc lại điều đó khi chú giải dụ ngôn này trong bài giảng. "Anh em thân mến, anh em hãy kiểm điểm lại cách sông của mình, và xét lại xem anh em có phải là nhg người thợ của Chúa. Mỗi người hãy phán đoán việc mình làm và kiểm điểm xem phải là mình đang làm việc trong vườn nho của Chúa". (2)

Công Đồng đã thừa hưởng một gía sản tín lý, linh hướng và mục vụ vô giá, vì thế Công Đồng đã viết ra những trang tuyệt diệu về bản tính, về phẩm giá, về linh hướng, về sứ mệnh và trách nhiệm của ngườí tín hữu giáo dân. Và các Nghị Phụ Công Đồng, đáp lại lời mời gọi củn Chúa Kitô, đã lên tiếng kêu cầu mọi người giáo dân, nam cũng như nữ vào làm việc trong vườn nho của Ngài: "Thánh Công Đồng,lấy danh nghĩa Chúa, hêt lờng kêu cầu mọi giáo dân hãy tình nguyện và hăng hái đại độ đáp lại lời mời của Chúa Kitô là Đâng chính trong lúc này đang mời gọi họ một cách khẩn khoản, cũng như đáp lại sự thúc dẩy của Chúa Thánh Linh. Riêng với giới trẻ, họ phải cảm nghiệm rõ ràng là tiêng mời gọi ấy đặc biệt dùng cho họ, tiếp nhận nó với niềm hân hoan và lòng quảng đại. Chính Chúa dã dùng Công Đồng để thôi thúc mọi giáo dân mỗi ngày phải kết hợp với Ngài mật thiết hơn và coi lợi ích của Chúa như chính lợi ích của mình (Phil. 2:5), phải hợp tác sứ mệnh Cứu rỗi của Ngài. Một lần nữa, Ngai lại sai họ vào các thị thành, các nơi chỗ mà chính Ngài sẽ đên (Lc. 10.1; Ap-Act) (3)

Các ông cũng thế, hãy vào làm vườn nho cho Ta. Vmặt thiêng liêng, nhng lời này đã vang vọng suốt cả thời gian Thượng Hội Đồng Giám Mục tại Rôma từ ngày 1 đến 30 tháng 10 năm 1987. Các Nghị Phụ theo vết chân của Công Đồng, hơn nữa với kinh nghiệm bản thân cũng như kinh nghiệm từ các Công đồng của toàn thể Giáo Hội; nhấtlà nhờ sự đóng gúp dồi dào của các Thượng Hội Đồng trước, các vị đã nghiên cứu một cách uyên thâm ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân trong Giáo Hội và thế giới.

Trong Thượng Hội Đồng này, còn có các vị đại diện giáo dân nam nữ. H đã đem lại cho Thượng Hội Đồng những đóng góp quý giá. Trong bài giảng bế mạc, Thượng Hội Đồng đã xác nhận : "Chúng ta cảm ơn Chúa vì suôt khóa hp Thượng Hội Đồng này không những chúng ta đã vui mừng đón nhận sự tham dự của giáo dân (dự thính viên nam nử), hơn nữa trong lúc bàn cãi còn được nghe tiếng của những dại diện giáo dân khắp nơi trên thế giới tới từ các quôc gia khác nhau. Nhờ đó, chúng ta có dp lắng nghe những kinh nghiệm, ý kiên và đề nghị của họ phát xuất từ lòng tha thiết với quyền lợi chung" (4)

Duyệt lại những năm sau Công Đồng, các Nghị Phụ đã có thể xác nhận được việc Chúa Thánh Thán đang làm là tiếp tục canh tân Gìáo Hội, tạo nên sức sống thánh thiện mới với sự tham gia của một số đông tín hữu giáo dân. Víệc tham gia này được thể hiện trơng nhiều hình thức. Thí dụ: hợp tác mới giữa lỉnh mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân; tham dự tích cực vào phụng vụ, vào việc rao truyền Lời Chúa, vào việc dạy giáo lý; chu toàn một cách tốt đẹp những nhiệm vụ hay công tác phục vụ trao phó cho tín hữu giáo dân; phát triển các nhóm, các đoàn thể, các phong trào Công Giáo tiến hành và thiện nguyện, và việc nứ giới tham gia một cách rộng rãi và nổi bật vào đời sống Gỉáo Hộí, và sự phát triển của xã hội.

Nhưng đồng thời, Thượng Hội Đồng cũng không quên nhận thấy con đường hậu Công Đồng của người tín hữu giáo dân không phải là không có nhìêu chông gai nguy hiểm. Trong thực tế, có thể nói đến hai thử thách mà không phải lúc nào họ cúng dễ dàng vượt qua: đó là hăng say phục vụ đến độ quên sót bổn phận riêng của mình trong phạm vi nghề nghiệp, xã hội, kinh tế, văn hóa hay chính trị, hoặc tìm cách hợp-thức-hóa để tách rời Đức Tin ra khỏi đời sống, đó là phân tách Phúc âm ra khỏi hoạt động cụ thể trong những phạm vi xã hội.

Suất thời gian nghìên cứu, Thượng Hội Đòng luôn luôn đề cập đến Công Đồng Vaticanô II, vì các giáo huấn của Công Đồng về vai trò giáo dân, mặc dù đã sau hai chục năm vẫn luôn hơp thời một cách lạ lùng, mang dâu chỉ của lời tiên tri: Một giáo huấn như thế có thể soi sáng và hướng dẫn để giải đáp vấn đề mới của thời đại hôm nay. Thật vậy, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã vạch rõ được những con đường chắc chắn để "lý thuyết" phong phú về vai trò giáo dân, từng được Công Đồng trình bày, được "áp dụng" trong Giáo Hội. Mặt khác, cũng có những vấn đề phải đặt ra vì tính cách "hơp thời", nói một cách khác, là các vấn đề hậu công Đồng. Ít nữa theo nghĩa thời gian, những vấn đề này, các Nghị Phụ đã đặc biệt chú trọng đến suốt trong thời gian bàn cãi và suy nghĩ. Trong những ván đề đó, phải nói đến những liên hệ giữa các thừa-tác-vụ và chức-vụ của người tín hữu giáo dân hiện tại và trong tương lai, sự bành trướng và triển nở các "phong trào" mới bên cạnh các hình thức hiệp hội giáo dân đã có, và vị thế cùng vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội cũng như trong xã hội.

Sau khi đã sốt sắng hoàn thành công việc với đầy khả năng và thiện tâm thiện chí, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã bày tỏ và xin Ta, vào một thời điểm thuận tiện, trình bày cho Giáo Hội hoàn vũ một tài liệu tóm lược, đúc kết về hàng giáo dân Công Giáo.(5)

Bức Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng và Công Đồng này muốn làm bật nổi giá trị công việc của Thượng Hội Đồng, từ "các đường hướng" (Lineamenta) đên "phương tiện làm việc" (Instrumentum laboris), từ bản tường trình nhập đề đến các lời phát biểu của mỗi Gíám Mục và giáo dân, cả đến biên bản đúc kết sau cuộc tranh luận chung, từ những cuộc thảo luận và tường trình của các nhóm nhỏ cho đến "đề nghị", và cả sứ điệp kết thúc. Tài liệu này của Ta không nằm ngoài lề Thượng Hội Đồng Giám Mục, nhưng là những lời diễn tả mạch lạc và trung thực của Thượng Hội Đồng; là hoa trái của việc làm tập thể mà giai đoạn chót là soạn thảo một bản tường trình, nhờ những đóng góp của Hội Đồng Văn Phòng Tổng Thư Ký Thương Hội Đồng và của chính Văn Phòng

Mục đích của Tông Huấn này là khơi dậy và nuôi dưỡng một ý thức rõ ràng hơn về ân huệ và trách nhiệm mà mọi tín hữu giáo dân lãnh nhận trong sự thông hiệp, và sứ mệnh của Giáo Hội.

NHỨNG NHU CẦU KHẨN THlT CỦA THẾ Gll NGÀY NAY: "TAl SAỌ CÁC NGUỜl ĐỨNG ĐÂY SUỐT NGÀY MÀ CHNG LÀM Gì?"

3. Ý nghĩa căn bản của Thượng Hội đồng, và kết quả rất quý giá và rt mong đợi của nó, là dẫn đưa tín hữu giáo dân đến lắng nghe Đức Kitô đang mời gọi họ vào làm việc trong vườn nho của Ngài, và cộng tác một cách hăng say đầy ý thức trách nhiệm trong sứ mệnh của Giáo hội, giữa giai đoạn vừa rực rỡ cũng vừa bi thảm của lịch sử, trước ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên.

Những hoàn cảnh đổi mới trong Giáo Hội cũng như của thế giới, trong thực tại xã hội, kinh tế chính trị và văn hóa hôm nay đòi hỏi một cách đặc biệt hoạt động của người tín hữu giáo dân. Nếu trước đây ai làm ngơ bổn phán này là điều không thể chấp nhận được, thì hiện giờ thái độ lại càng đáng bị khiển trách hơn . Không ai được phép không, không làm gì.

Chúng ta hãy đọc lại dụ ngôn Phúc âm: "Vào lúc năm giờ chủ nhân lại đi ra, ông còn gặp một số người khác đứng đấy và người bảo họ: "Tại sao các ông Còn đứng đây, sut ngày không làm gì cả. " H trả lời. "Vì không ai mướn chúng tôi". Ngài bảo: "Các ông cũng thế, hãy vào làm vườn nho của Ta" (Mt. 20. 6- 7).

Khi mà trong vườn nho của Chúa đầy tràn công việc đang đợi chờ tất cả chúng ta, thì không ai được biếng nhác. "Chủ nhân vườn nho" lại còn khn khoản đi mời lại: "Các ông cũng thê, hãy vào làm vườn nho cho Ta".

Chắc chắn lời của Chúa vẫn vang vọng trong thâm tâm của mỗi người Công Giáo. Bỡi vì mỗi người đã được trở nên giống như Đức Kitô nhờ Đức Tin và các bí tích khai tâm Kitô giáo, đã được ghép vào Giáo Hội như một phần thân thể sống động và đã trở nên một công dân linh hoạt của sứ mệnh cứu rỗi. Tiếng gọi của Chúa cũng đã được lưu truyền qua các biến cố lịch sử Giáo Hội và nhân loại, như Công Đồng nhắc nhở chúng ta: "Dân Chúa nhờ Đức Tìn thúc đẩy biết rằng Thánh Linh Chúa chiếu sáng khắp vũ trụ đang hướng dân mình, đã cố gắng nhìn nhận trong các biến cô, những đòi hỏi và ước vợng của thời đại chúng ta, và cũng là những đòi hỏi, uớc vọng của mình, đâu là dấu chỉ chân thật của sự hiện diện và ý định Thiên Chúa. Bởi vì Đức Tin cho chúng ta một ánh sáng mới, để nhìn xem mi sự và giúp chúng ta biết được ý muôn của Chúa về ơn gọi toàn diện của con người, hướng tâm trí đi tìm những giải pháp hoàn toàn nhân bản". (6) (Vui Mừng và Hy Vọng -Gaudium et Spes 11) (7)

Phải can đảm nhìn vào bộ mặt của thế giới này, là thế giớí của chúng ta, với tất cả những giá trị, những vấn đề của nó, với tất cả những lo âu những hy vọng, những thành qủa chinh phục và những thất bại của nó: một thế giới với hiện tình kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa đầy dẫy các vấn đề và khó khăn nguy ngập hơn cả tình trạng được mô tả trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng. Dù sao, đây là vườn nho, là mảnh đất mà người tín hữu giáo dân đươc goi để sống sứ mệnh của mình. Chúa Giêsu muốn cho họ như Ngài đã muốn cho các môn đệ của Ngài, trở nên muối đất và ánh sáng của thê gian (Mt. 5.13-14).

Nhưng "địa cầu", "trần thế" mà người tín hữu phải là "muối mặn", phải là "ánh sáng", bộ mặt nó như thế nào?

Thế giới hôm nay thay đổi mau lẹ, có nhiều tình trạng khác biệt nhau nên có nhiều cách đặt vấn đề. Vì thế phải thận trọng không nên "vơ đũa cả nắm", cũng không nên đơn-giản-hóa quá đáng. Nhưng cũng có thể ghi được một vài khuynh hướng đang phát sinh trong xã hội ngày nay. Cũng như trong cánh đồng Phúc âm cỏ dại và giống tốt cùng đồng thời mọc lên, trong lịch sữ là hí trường của tự do con người cũng thế, điều thiện, điều ác, bất công và công lý, lo âu và hy vọng cùng đi song đôi, có khi lại quyến chặt vào nhau.

Tục hóa và nhu cầu tôn giáo

4. Làm sao chúng ta không nghĩ đến tình trạng lãnh đạm đối với tôn giáo đang phổ biến không ngừng và thuyết vô thần dưới nhiều hình thức khác nhau, nhất là dưới hình thức rất phổ thông là phong trào tục hóa? Con người say mê theo những cuộc chinh phục ngơp trời của khoa học, kỹ thuật tung hoành không giới hạn, và nhất là lâng lâng theo chước cám dỗ, một chước cám dỗ vừa rất cũ nhưng vẫn mới luôn, là muốn đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa (Gn. 3:5) bằng việc sử dụng tự do của mình một cách bừa bãi. Con người như thế đã tự chặt đứt căn rễ sâu xa tôn giáo của mình; họ đã bỏ quên Thíên Chúa, cho rằng Thiên Chúa không có một ý nghĩa gì đỗi với cuộc sống của họ, hoặc chối bỏ Ngài để sấp mình thờ lạy đủ mọi thứ "tà thần" .

Chủ thuyết tục hóa hiện tại, là một hiện tượng rất nghiêm trọng. Không những nó làm tổn thương đến cá nhân, nhưng còn đến cả những cộng đồng, như Công Đồng đã ghi; "Nhiều đoàn lũ ngày càng đông đảo rời xa tôn giáo trong đời sông thực tê".(8) Chính Ta cũng đã nhiều lần nhắc nhở, hiện tượng tục hóa đã đánh ngã nhiều dân tộc có truyền thống Công Giáo rất xa xưa, và hiện tượng này đòi hỏi phải cấp tốc có một tổ chức truyền giáo mớí.

Nhưng, ước vọng và nhu cầu tôn giáo không thể hoàn toàn mai một. Lương tâm mỗi người khi họ có can đảm đương đầu với những ván nạn rất hệ trọng của cuộc sống, nhất là vấn nạn về ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa đau khổ và sự chết, họ không thể ngần ngại kêu lên như thánh Augustinô: "Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế tâm hồn con khơng thể an nghỉ cho đến khi được nghỉ an trong Chúa".(9)  Như vậy, thế giới hôm nay, dưới nhiều hình thức ngày càng phổ bìến, ngày càng linh động, họ đã làm chứng rằng con người đang mở mắt nhận ra cuộc sống có cái gì thiêng liêng và siêu việt, trở về với ý thức thần thánh qua việc cầu nguyện, và đòi hỏi tự do kêu cầu danh Chúa.

Nhân vị con ngườì: Phẩm giá bị chà đạp và được ca tụng.

5. Chúng ta hãy nghĩ đến vô số điều xúc phạm đến phẩm giá con người. Khi phẩm giá con người là hình ảnh sống động của Thiên Chúa không được nhìn nhận và yêu thương (Jn. l:26), thì họ bị trở nên công cụ, nô lệ cho bạo quyền dưới nhiều hình thức thật sai lạc và bỉ ổí. "Kẻ cường bạo" này mang nhìêu bộ mặt khác nhau: nó là ý thức hệ, là quyền lực kinh tế, hệ thống chính trí bất nhân, kỹ thuật chuyên chế khoa học, hoặc bá chủ "phương tiện truyền thông xã hội". Lại một lần nữa chúng ta thấy trước mắt một số lớn anh chị em chúng ta; quyền lợi căn bản họ bị cướp đoạt, có khi là do hậu qủa của thái độ dung túng qúa đáng, có khi là do bất công trắng trợn của nhung bộ nhân luật: chẳng hạn quyền được sống, quyền được bảo vệ thân xác toàn vẹn, quyền có nhà ở, việc làm, quyền lập gia đình và sinh sản con cái với trách nhiệm làm cha mẹ, quyền tham gia vào đời sống xã hội và chính trị, quyền hưởng tự do lương tâm và tự do tôn giáo.

Ai có thể kể cho hết số những trẻ thơ không được chào đời vì đã bì bóp chết trong lòng mẹ, những trẻ em bì bỏ rơi hoặc bị cha mẹ bạc đãi, nhứng người con lớn lên cô đơn, thiếu tình thương và không được giáo dục ? Nhiều nơi, không có việc làm và thiếu cả những phương tiện tôl thiểu để sống một đời sống xứng đáng là con người. Ngay quanh nhứng đô thị lớn, vần còn thấy nổi lên những xóm nghèo tận mạt, trong đó con người phải sống trong cùng cực khốn khổ cả về thể xác lẫn tinh thần luân lý.

Nhưng tính cách thần thánh của nhân vị con người không thể tiêu diệt được, cho dầu nó phải luôn luôn bị khinh thị và xúc phạm: vì nền tảng bất di dịch của nó chính là Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha; bởi thế tính cách thần thánh của nhân vị vẫn luôn cần được tôn trọng.

Cũng nhờ thế mà hiện nay ý thức về phẩm giá của con người ngày càng được minh định và phổ biên sâu rộng. Một luồng khí lành mạnh tốt đẹp đang thổi đên và bao trùm các dân tộc trên thế giới giúp ý thức hơn về phẩm giá con người: con người không phải là "một sự vật" hay "một đồ vật" mà người ta có thể sử dụng, nhưng nó luôn luôn và độc nhất là một "chủ thể" có lương tri và tự do, được mời gọi sống với tinh thần trách nhiệm trong xã hội và lịch sử, được đặt định để hướng về giá trị thiêng liêng và tôn giáo.

Có thể xác quyết được rằng thời đạl chúng ta là thời đại của nhứng "chủ nghĩa nhân bản". Ngược lại, những chủ nghĩa phát xuất từ vô thần và tục hóa lại chủ trương trái ngược, hạ bệ và tiêu diệt con người, những chủ thuyết suy tôn con người quá đáng đến nỗi rơi vào những hình thức tôn thờ thần tượng. Tuy nhiên cũng có những chủ thuyết đi đúng theo sự thật, nhìn nhận tính cách vừa cao cả vừa khốn khổ của con người, nâng đỡ và hổ trợ phẩm giá toàn diện của con người.

Chúng ta có thể nhận ra dấu hiệu và kết qủa của những phong trào nhân bản ấy là con người càng cảm thấy cần nhu cầu hợp tác. Rõ ràng đó là một trong những nét đặc biệt của nhân loại hôm nay, một "dấu thời gian" chân chính đang chín mùi trong nhiều địa hạt, nhiều lãnh vực khác nhau: nhất là trong giới phụ nữ, trong giới thanh niên, trong phạm vi gia đình, học đường, cũng như trong lãnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị. Nhận lãnh một vai trò, tự tạo cho mình thành vị sáng lập một nền văn hóa nhân bản, đó là một đòi hỏi đối với cá nhân và chung cho toàn thể các dân tộc.(10)

Tranh chấp và hòa bình

6. Chúng ta cũng không thể bỏ qua một hiện tượng được coi như dấu chứng của ngày nay: có lẽ hơn bất cứ giai đoạn nào của lịch sử, nhân loại hôm nay đang bị lung lay vì tranh chấp. Đây là một hiện tượng mang nhiều hình thức, nó không chỉ là sự đa diện chính đáng tùy tâm trạng hay sáng kiến, nhưng là sự chống đối gây thương tổn giữa người với người, nhóm này với nhóm khác, giữa tầng lớp này với tầng lớp khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, và giữa khối này với khối khác. Sự chống đối này lộ diện với nhiều hình thức của vũ lực, của khủng bố, của chìến tranh. Một lần nữa, nhưng lần này là một con số đông đảo, nhiều nhóm người vì muốn phô trương "tôí cao quyền lực" của mình, đã lập lại kinh nghiệm điên cuồng xây "Tháp Babel" (Gn. 11:1-9); là một hành động chỉ tạo ra hỗn loạn, đấu tranh, chia rẽ và áp bức. Gia đình nhân loại vì thế mà phải đảo lộn và xâu xé một cách thê thảm.

Mặt khác, chúng ta thấy xuất hiện một cách mạnh mẽ không thể đè bẹp được, ước vọng của mỗi người, của các dân tộc được lợi ích vô giá của hòa bình trong công chính.

Một trong Tám Mối Phúc Thật của Tin Mừng: "Phúc cho ai xây dựng hòa bình" (Mt. 5.9) tìm thấy trong nhân loại thời đại chúng ta một âm vang mới mẻ và đặc biệt: Toàn thề nhân loại ngày nay sống, chịu đau khổ, và lao động để mang lại hòa bình và công chính. Việc tham dự của nhiều người và nhiều hội đoàn vào đời sống xã hội ngày nay đang tiếp nối nhau cách không ngừng như những phương thế để đem niềm khao khát hòa bình trở thành một sự thật. Trên cùng một con đường, chúng ta bắt gặp nhiều tín hữu giáo dân đang quảng đại dấn thân trong nhiều lãnh vực hoạt động chính trị và xã hội dưới nhiều hình thức chính trị khác nhau, hoặc một số khác đóng góp ít nhất một cách vô vị lợi vào những hoạt động này.

ĐỨC GlÊSU KlTÔ, HY VỌNG CỦA NHÂN LOẠl.

7. Hiện tại và tương lai một cánh đồng rộng lớn cần nhiều canh tác đang xuất hiện trước những công nhân được gởi tới bởi "chủ nhân" để làm việc trong vườn nho Ngài.

Trong cánh đồng mà Giáo Hội đang hiện diện và hoạt động này gồm mọi người chúng ta chủ chăn, linh mục, phó tế, nam nứ tu sỹ và tín hữu giáo dân. Có những tình trạng trái ngược được lưu tâm cách sâu xa ảnh hưởng đến Giáo Hội: Chúng tác dụng một phần nào sinh hoạt nhưng không làm tê liệt hoặc hạn chế thành quả của Giáo Hội. Bởi vì Thánh Linh, Đấng ban cho Giáo Hội sự sống, sẽ nâng đỡ hoạt động của Giáo Hội.

Mặc dù có nhiều khó khăn, đình trệ và mâu thuẫn đủ loại do giới hạn của con người, do tội lỗi và Thần Dữ, Giáo Hội hiểu rằng mọi nỗ lực của nhân loại để tạo sự hiệp thông và tham gia hợp tác, rồi ra cũng được đền đáp qua việc can thiệp của Đức Giêsu Kitô, vị Cứu Tinh của nhân loại và thế giới.

Giáo Hội biết rõ mình được Đức Kitô sai đến như "dấu hiệu và phương thế của sự kêt hợp mật thiêt với Thiên Chúa và sự hợp nhất của toàn nhân loại" (11)

Vì thế bất chấp mọi biến cố, nhân loại có thể cậy trông, và phải hy vọng: chính Chúa Kitô là Phúc âm sống động, là Tin Mừng đem lại vui mừng mà Giáo Hội, loan báo cho chúng ta mỗi ngày, và chính Giáo Hội đã trở thành chứng nhân cho mọi người.

Trong việc loan truyền và trình bày nhân chứng này, người tín hữu giáo dân chiếm một chỗ độc đáo và không thay thế được: nhờ họ, Giáo Hội Chúa Kitô được hiện diện trong nhiều địa hạt khác nhau giữa thế giới như dấu hiệu và nguồn mạch hy vọng và tình yêu.

+ Giáo Hoàng Gioan Phaolo II

CHÚ THÍCH

1- Vaticanô II - Lumen Gentium, số 48.     2- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng I, XIX, 2.

3- Vaticanô II - Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân Apostolicam Actuositatem, SỐ 33.

4- Gioan-Phaolô II - Bài gíảng lễ bế mạc kỳ Thượng Hội Đồng Giám Mục VII - (30.10.1987). ASS 80 (/988), 598.

5- Xem Propositio 1.   6- Vaticanô II - Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 11

7- Sau khi quả quyết lại "tầm quan trọng và thời sự của Hiến chế Gaudium et Spes". Các Giám mục tham dự Thượng Hội đồng nói tiếp: "Tuy thế, chứng tôi nhận thấy những dấu chỉ ngày nay có phần khác với các dấu chỉ thời Công đồng, và còn mang nhiều vấn đề và nhiều nỗi khắc khoải lớn hơn. Thật thế, đâu đâu cũng thấy gia tăng tình trạng đói khát, bỉ áp bức, bất công, chiến tranh đau khổ và nhiều loại bạo hành khác". (Relatio finalis II D1).

8- Vaticanô II - Gaudium et Spes, số 7.      9-Thánh Augustinô - Confessiones, 1,1.

10 Xem Instrumentum laboris " ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và giữa trần thế, 20 năm sau Vaticanô II ' 5-10.

11- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 1 .

VỀ MỤC LỤC
TÌM VỀ Tổ ẤM

 

Phúc Âm Nhật Ký, Chúa nhật 31.12.2006

(Lc 2:41-52)     

Ngày nay có nhiều cha mẹ rất lo lắng về con cái.  Lo vì không biết con cái có an toàn khi ra khỏi nhà hay không ?  Không biết con có học hành đàng hoàng hay chạy theo bè bạn sống buông thả ?  Không biết tương lai con ra sao ?  Không biết con có làm bác sỹ, kỹ sư hay phải làm phu khuân vác ?  Lo lắng quá, nhiều cha mẹ mất ăn mất ngủ.  Thêm vào đó, những lo toan về cuộc sống vật chất, những tương quan gia đình và xã hội v.v. càng chất những gánh rất nặng nề trên vai họ.

Muốn tìm một lối thoát và sống hạnh phúc, cần nhìn vào Thánh Gia Thất hôm nay.  Nơi đây có một bài học rất giá trị và lớn lao về đời sống gia đình.  Bài học trước tiên là sự thinh lặng.  Ðây là một điều kiện tuyệt vời và cần thiết cho tinh thần.  Còn ai thinh lặng bằng Thánh Giuse, trưởng gia đình ?  Còn Mẹ Maria, trước mọi biến cố, Mẹ “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.”[1]  Phải có một sự thinh lặng nội tâm mới có thể giúp Mẹ suy gẫm và khắc sâu những sự kiện trong cuộc đời Chúa Cứu Thế.  Sống trong vùng thôn quê, Mẹ càng dễ có điều kiện thinh lặng mà đi sâu vào mầu nhiệm Thánh Ý Thiên Chúa. Cần phải biết quý trọng sự thinh lặng, mới có thể thấy những giá trị lớn lao đang chìm sâu hay bị che khuất trong khung cảnh gia đình.  Từ đó, cần có một nỗ lực tập thể mới có thể khai phá những giá trị cao quý đó. 

Nỗ lực đó bắt đầu bằng một sự chiêm niệm mầu nhiệm sự sống trong Thánh Gia Thất.  Thánh Gia dạy chúng ta biết sự sống gia đình là gì.  Ðó là một cuộc hiệp thông tình yêu, một vẻ đẹp chân phương và đơn sơ, một tính chất thánh thiêng và bất khả xâm phạm.  Sống giữa những tương giao thân thiết và ấm cúng, toàn thể thành phần trong căn nhà nhỏ Nadarét đã bước vào cuộc hiệp thông tình yêu sâu đậm và nồng nàn, vì Ðức Kitô  hiện diện ở đó như “Emmanuen, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”[2]  Người là hiện thân tình yêu, một tình yêu khả giác giữa thế giới hữu hình.  Qua Người, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse đi vào cuộc hiệp thông sâu xa với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.  Ðức Kitô trở thành chìa khóa mở vào kho tàng tình yêu Thiên Chúa và nền tảng cho mọi niềm hy vọng.  Nhờ đó, Thánh Gia đứng vững trước những cơn phong ba bão táp.

 Trong Thánh Gia Thất, một chiều kích vô cùng thánh thiêng được tìm thấy trong tương quan giữa các phần tử, vì Ðức Kitô là tột đỉnh mạc khải tình yêu Thiên Chúa làm người.  Người hiện diện như tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa giữa nhân loại.  Vì thế, tuy là con, Người vẫn được tôn trọng.  Nhưng không phải vì thế Người đánh mất lòng hiếu kính đối với cha mẹ.  Suốt thời gian sống dưới mái Thánh Gia Thất, Người “hằng vâng phục các ngài,”[3] vì Người biết Ðức Mẹ và Thánh Giuse là những vị đại diện Chúa Cha.  Chính nhờ tinh thần hiếu thảo đó, Ðức Giêsu đã trưởng thành về mọi mặt.[4]  Nếu không, Người không thể nào đứng vững trước bao cơn thử thách và chấp nhận cái chết để cứu độ toàn thể nhân loại.

Nhiều gia đình hôm nay đổ vỡ vì đánh mất chiều kích thánh thiêng.  Chỉ còn những nhu cầu vật chất.  Những tương giao hoàn toàn nhân loại.  Các thành phần gia đình không còn biết tôn trọng lẫn nhau và lo cho nhau. Tuy sống trong một môi trường nhỏ bé và dễ thẩm thấu, nhưng các thành phần gia đình vẫn là những thực tại bất khả xâm phạm, vì mỗi người mang một chiều kích thánh thiêng độc đáo.

Nhưng chiều kích thánh thiêng không làm cho tương giao giữa các phần tử gia đình nên phức tạp.  Quả thế, càng thánh thiêng, Thánh Gia Thất bộc lộ rõ nét vẻ đẹp chân phương và đơn sơ, một đức tính ngày càng hiếm hoi trong các gia đình ngày nay.  Càng nhiều nhu cầu, cuộc sống càng phức tạp và con người càng dễ đụng chạm và đòi hỏi.  Gia đình càng dễ bất ổn và mất bình an.  Muốn tìm lại được sự bình an, gia đình phải tìm lại hình ảnh đích thực của mình.  Gia đình là phản ánh gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.  Thánh Gia Thất là hình ảnh tuyệt vời về Ba Ngôi.  Quả thực, trong Thánh Gia Thất, Chúa Cha được tôn kính như suối nguồn sự sống và tình yêu tuyệt vời.  Chúa Con là hiện thân thực sự của tình yêu này.  Nhờ kinh nghiệm sống, các ngài cảm thấy Chúa Thánh Thần như một Tặng Phẩm tình yêu.[5]  Sống trong tương quan Ba Ngôi, Thánh Gia cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn.  Tất cả trần gian chỉ còn là phương tiện để phục vụ cho một mục đích cao cả là tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.  Không còn gì đơn giản và phong phú hơn ! 

Ngôi Lời đã làm người và ở giữa Ðức Mẹ và Thánh Cả Giuse.  Sống dưới mái ấm Nadarét, Ðức Giêsu luôn làm việc không những để nên giống Chúa Cha,[6] mà còn noi gương Ðức Mẹ và Thánh Giuse nữa.  Nhờ lao động, Thánh Gia Thất mới tồn tại và phát triển.  Cũng nhờ lao động, con người Ðức Giêsu mới quen nếp sống tự lập và trưởng thành.  Ðây là bài học rất lớn của Con Bác Thợ Mộc Nadarét để lại cho chúng ta.   Muốn thấu hiểu luật lao động cao cả và mang lại ơn cứu độ cho con người, cần phải nhìn kỹ vào Thánh Gia Thất.  Lao động có một chiều kích siêu việt, chứ không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất.  Nếu nhắm đúng ý hướng Thiên Chúa, lao động có thể trở thành một phương tiện đem lại phúc trường sinh[7]  và công bố ơn cứu độ cho muôn dân.  Chính khi đổ mồ hôi, sôi nước mắt kiếm kế sinh nhai, Ðức Giêsu đã học một bài học hy sinh rất lớn.

Thánh Gia minh họa cho ta thấy rõ bản chất cụ thể của đời sống gia đình là gì. Ðó là một trường dạy nhân đức cho cả cha mẹ và con cái.  Nơi đó, chúng ta tìm thấy Thiên Chúa, và học cách liên kết với Thiên Chúa và tha nhân.  Gia đình là nơi tình yêu được trao ban hoàn toàn nhưng không.  Ðó là nơi chúng ta học cách yêu thương, cầu nguyện và thực hành bác ái.  Theo ÐGH Gioan Phaolô II, hơn bất cứ thực tại trần thế nào, gia đình là nơi con người được yêu thương chân thành và học cách thực sự hy sinh chính mình.  Nói khác, nơi gia đình, con người học cách trở nên giống Thiên Chúa tình yêu.  Càng sống trong gia đình, họ càng có nhiều cơ hội chịu đựng, tha thứ và bao dung.  Trong khung cảnh nhỏ bé đó, không thiếu những thách đố cho những con người muốn làm chứng cho Chúa.  Sống với nhau, không thể tránh những tiêu cực.  Làm sao có thể thoát khỏi những tiêu cực đó, nếu không biết tha thứ cho nhau ?  

Trong môi trường gia đình, con cái được dạy cách nhìn, cách sống và thực hành niềm tin.  Từ đó, con người có thể dễ dàng chia sẻ cuộc sống trong cộng đoàn.  Những đức tính như bác ái, quảng đại, anh hùng, bao dung đều được hun đúc trong môi trường đó.   Những đức tính đó cũng là nền tảng cần thiết cho công cuộc cứu độ và là sức mạnh trấn át những lực phá hủy sự sống.   Muốn thế, cần phải mở lòng lắng nghe tiếng nói từ Thiên Chúa như Thánh Giuse, Ðấng đã để lại một gương mẫu cho các bậc làm cha mẹ. Ðời sống Người được chúc phúc vì đã biết chăm lo đến Ðức Giêsu và Mẹ Maria.  Mỗi khi Người gặp những nguy hiểm trong cuộc sống, thiên thần đều đến báo cho Người trong giấc mộng.  Ðây là hình ảnh tuyệt vời của một con người lắng nghe và hành động theo tiếng nói nằm sâu tận tầng vô thức và được mạc khải trong giấc mơ.  Người đã đem Chúa Giêsu và Mẹ Maria tới nơi tiếng đó mời gọi.  Bởi vậy, Người đã trở thành bổn mạng cho Giáo hội toàn cầu, không phải chỉ vì đã coi sóc Thánh Gia Thất, nhưg còn vì cách coi sóc của Người.  Muốn chu toàn bổn phận làm cha mẹ, chúng ta cần noi gương Người lắng nghe sứ điệp và các giáo huấn của Chúa qua Giáo hội.  Nhờ đó, chúng ta mới được đầy tràn ân sủng để có thể hy sinh cho gia đình.

Nhìn vào nguồn ân sủng tràn ngập trong Thánh Gia Thất, chúng ta không khỏi băn khoăn về tình trạng gia đình hôm nay.  Nhiều người thất bại trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, chỉ vì thiếu ân sủng cần thiết.  Họ không được hướng dẫn theo ý hướng Thiên Chúa như Thánh Gia Thất.  Quá tự do hay quá lệ thuộc không phải là đường lối Thiên Chúa muốn cho cuộc sống gia đình.  Quá tự do như trong nếp sống Tây Phương cũng dễ đưa con người rơi vào tình trạng cá nhân chủ nghĩa và hưởng thụ vật chất.  Quá lệ thuộc như lối giáo dục Việt nam, con người cũng khó trưởng thành thực sự.  Nhìn vào Thánh Gia Thất, mới thấy đường lối giáo dục rất khôn ngoan.

Khi làm người con sống dưới mái ấm Nadarét, Ðức Giêsu cũng lớn lên theo những định luật tâm, sinh, thể lý.  Chắc chắn nhiều lần Người cũng được Ðức Mẹ và Thánh Giuse tập đi những bước đầu tiên.  Khi tập tễnh bước theo cha mẹ, Người cũng đã có lúc ngã té.  Sau mấy lần thất bại, Người đã có thể đi một mình.  Từ lúc xa rời cánh tay cha mẹ, Người đã có những bước đi riêng.  Bằng chứng suốt ba ngày ở lại trong Ðền thờ, Người đã làm cho các ngài lo lắng.  Lúc gặp lại, Mẹ Người đã phải than lên : “Con ơi, sao con lại làm cho cha mẹ như thế ?  Con thấy không, cha con và mẹ đây đang phải cực lòng tìm con !”[8]  Thắc mắc đó ghi sâu vào cõi lòng Mẹ một nỗi đau vì sự chia cách trong thời gian ngắn, nhưng đồng thời cho thấy một hướng đi mới trong cuộc lữ hành trần thế.  Người Con không còn bước theo cha mẹ nữa.  Hướng đi mới đó có thể làm cho cha mẹ ngạc nhiên vì không thể hiểu thấu mọi góc cạnh, nhưng vẫn không làm cho Người Con xa lìa sự quan phòng của Thiên Chúa Cha.  Tuy không hiểu những toan tính của Con, ông bà cũng vui mừng khi thấy Người Con “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta.”[9] 

Ngày tháng cứ dần trôi.  Ðức Giêsu ngày càng tỏ ra “khó hiểu.”   “Bổn phận ở nhà của Cha”[10] ngày càng thúc bách Người. Người hướng về Giêrusalem, lúc mười hai tuổi cùng với cha mẹ, nhưng lúc trên ba mươi tuổi Người leo lên khổ giá một mình.  Ðó là hướng đi không bao giờ nằm trong tầm nhìn của Mẹ Maria và Thánh Giuse.  Nhưng cả hai Ðấng đều đã chuẩn bị rất kỹ cho Người Con trong Thánh Gia Thất.

Hôm nay, nhìn lại gia đình, chúng ta có bao giờ thấy những bế tắc trong việc giáo dục con cái  không ?  Tại sao chúng ta cứ để cho con cái bám mãi vào tay chúng ta ?  Tập cho con đi là để con có thể đi một mình.  Tại sao chúng ta không dám cho con tự chọn lấy hướng sống ?  Lối giáo dục con theo chế độ bảo hộ có bảo đảm một tương lai tốt đẹp cho con không ?   Có một sự bất ổn trong lối giáo dục gia đình Việt nam hôm nay, vì cha mẹ không hoàn toàn tin tưởng tương lai con cái nằm trong bàn tay Thiên Chúa.

 Lạy Chúa, xin cho con biết noi theo gương Thánh Gia Thất để biết sống tin tưởng và phó thác vào sự quan phòng đầy tình thương và khôn ngoan của Chúa.  Con xin phó thác tất cả gia đình và con cái con trong tay Chúa.  Xin Chúa thương che chở và giữ gìn gia đình chúng con.  Amen.  

đỗ lực,

dzuize@gmail.com


[1] Lc 2:51 [2] Mt 1:23. [3] Lc 2:51. [4] x. Lc 2:52. [5] x. Rm 5:5. [6] x. Ga 5:17.

[7] x. Ga 6:27. [8] Lc 2:48. [9] Lc 2:52. [10] Lc 2:49.

 
VỀ MỤC LỤC
Lại suy nghĩ về sự thành công

 

Ðọc bài “ Bản chất của thành công” mà em Hà Minh Ngọc , nữ sinh lớp 10, khối chuyên Trung Học Phổ thông Ðại Học Sư  Phạm Hà Nội đã viết như sau:

“Thành công là khi bố và con trai có dũng khí bước vào bếp nấu những món ăn mẹ thích nhân ngày 8-3.

Thành công là hình ảnh một cậu bé dị tật ở chân… đã nuôi ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá. Sau bao nổ lực khổ luyện cậu thành cầu thủ dự bị trong một đội bóng nhỏ…

Thành công của cậu học trò nghèo thi đậu Ðại học với vị trí thủ khoa nhưng bên cạnh thành công đó, có thành công khác…là sự chiến thắng của một người cha, gần 20 năm trời đạp xích lô nuôi con ăn học…” v.v….

Sự thành công nào cũng đòi hỏi kiên nhẫn, cố gắng, chịu khó . Ngày còn học lớp 9  năm 1959 (gọi là lớp đệ tứ) tôi có làm bài luận văn với tựa đề là:” Sự  thành công không là điều quan trọng, điều quan trọng là sự cố gắng”. Tiếng Pháp ghi là:(Le success n’est pas ce qui importe, ce qui importe c’est L’effort). Câu này hơn 40 năm vẫn còn ăn sâu vào trong trí não tôi để lúc nào cũng nhắc nhở tôi cần phải cố gắng là chính. Tôi đã viết câu này như là câu “ gối đầu giường” để tự nhắc nhở mình.

Tôi có đọc đâu đó trong báo, nói đến sự thành công là:

-         Biết chính xác mình muốn gì, có kế hoạch, tin tưởng vào khả năng của mình để làm.

-         Biết dùng thời gian cho đúng.

-         Luôn bày tỏ sự quan tâm đến người khác. Rất cởi mở và khoan dung với mọi người.

-         Luôn luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, trong cộng đồng và cả trong thế giới mà họ đang sống.

-         Họ có cái nhìn tươi sáng, lạc quan về cuộc sống.

Em Ngọc, học sinh lớp 10 này còn viết: “ Bạn muốn mình giàu có, muốn mình trở thành tỷ phú như Bill Gates? Vậy thì hãy gấp đồng tiền một cách cẩn thận rồi trao nó cho bà cụ ăn xin bên đường..” Em viết tiếp: “ bạn không chỉ giàu có về vật chất mà còn giàu có về tâm hồn.”

Trong bài nói chuyện ngày 6 tháng 8 năm 2000, trước 20 em học sinh tốt nghiệp  trung học với danh dự là Thủ khoa và Á Khoa tại Houston, Hoa Kỳ,  Kỹ sư Lê Duy Loan đã định nghĩa về thành công như sau: “ Trở thành người giỏi nhất trong bất cứ việc gì mình làm và cảm thấy hạnh phúc trong công việc mình làm”

Lê Duy Loan  học nhảy ba lớp 7,8 và 11, tốt nghiệp trung học lúc 16 tuổi đứng đầu lớp của 335 học sinh. Năm 1982 khi mới 19 tuổi đã làm nghề kỹ sư  ở Texas Instrument (IT) có 18 bằng sáng chế và tốt nghiệp Cao Học Quản Trị Thương mại MBA. Bà là Phó Tổng Giám Ðốc Kỹ Thuật của IT( Năm 2000)

Bà  nêu lên bốn yếu tố để đạt đến sự  thành công là:

-         Ước mơ, ước mơ lúc còn bé cũng như khi đã về già.

-         Xác định mục đích của đời mình và sắp sẵn chương trình để thực hiện mục đích đó.

-         Siêng năng làm việc, thành công gồm 10% cảm hứng và 90% mồ hôi.

-         Làm việc cách khôn ngoan.

-         Biết quan tâm đến người khác, giúp đỡ người khác.

Ông Nguyễn Hiến Lê trong lời tựa của cuốn sách “ 40 Gương Thành Công” nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin năm 2000, viết: “ Chỉ cần xác định một mục đích rồi cứ kiên nhẫn, kiên nhẫn, kiên nhẫn nhắm nó mà tiến tới”

Tất cả sự thành công mà Nguyễn Hiến Lê đã có ghi trong cuốn “40 gương thành công” đều là những mẫu gương kiên nhẫn.

Một học sinh lớp 10 đã nhìn thấy một khía cạnh khác của sự thành công là tình yêu thương, lòng nhân ái giữa người đồng loại.

Mẹ Têrêsa đã khám phá rằng ở nước Mỹ người ta rất giàu có về vật chất, không thiếu thốn thứ gì, ăn uống dư thừa, cuộc sống rất nhiều tiện nghi, nhưng họ thường rất nghèo về tình yêu thương nhất là của cha mẹ đối với con cái vì họ bỏ quá nhiều thì giờ để làm việc kiếm tiền, không còn thì giờ dành riêng cho con cái của họ nữa.

Vậy sự thành công tùy cái nhìn của mỗi người.

Chỉ số thông minh IQ ( Intelligence) của mỗi người là quan trọng nhưng còn chỉ số xúc cảm  EQ (Emotion) của con người còn quan trọng hơn nữa. Người còn biết xúc động trước nỗi đau khổ của người khác, biết yêu thương người khác, cảm thông với sự đau khổ của người đồng loại khi họ gặp khó khăn, đói khát, bịnh nan y như bị bịnh cùi, bịnh Aids, bị tật nguyền, thiếu chân, thiếu tay, bịnh cùi, bịnh đui mù, câm điếc hay khi họ gặp thiên tai, lụt lội, bảo tố. Tình yêu thương, lòng bác ái biết chia xẻ những của cải vật chất của mình có, biết an ủi về tinh thần bằng những lời thăm hỏi, cầu nguyện thì quí giá biết bao nhiêu.

Cho nên chỉ sợ rằng trong thế giới ngày nay, con người đã mất hết cảm xúc yêu thương, mất hết lòng nhân ái, không còn có tâm tư, tình cảm biết rung động trước nỗi khổ, trước nỗi đau của người khác như Nguyễn Trãi đã viết:

“Thương người như thể thương thân”

Chỉ sợ rằng trong thời đại ngày nay nhiều người cho rằng:

“ Tiền là Tiên là Phật

là sức bật của tuổi trẻ …”

Người ta đặt nặng sự giàu có về vật chất lên trên giá trị tinh thần, trái tim con người đã trở thành chai đá, lòng họ dững dưng trước những thảm cảnh, đau thương của người đồng loại.

Cầu xin cho tôi và các bạn đều có trái tim biết xúc động và biết yêu thương vì Thiên Chúa là tình yệu (1 Ga 4,8) *

Phùng văn Phụng

11 tháng 12 năm 2006

* Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu. (1Ga 4,8)

VỀ MỤC LỤC
Một khởi đầu mới

  

Cái gì mới thường hấp dẫn.

Ðiều gì mới thường gây chú ý.

Biến chuyển mới một là tạo niềm vui phấn khởi, hoặc là gây suy nghĩ bối rối.

Năm Mới 2007 là một khởi đầu mới đi vào thời gian tương lai với nhiều hy vọng, cũng như nhiều lo âu chờ đợi sẽ diễn ra.

Nhìn ngược trở về qúa khứ năm cũ để mong rút tỉa học kinh nghiệm, hầu tránh có thể những bước ngáng trở vấp ngã trong tương lai. Học hỏi kinh nghiệm qúa khứ là chuyện tốt và cần thiết cho tiến bộ trong cuộc sống. Vâng, có thể thêm khôn ngoan ra. Nhưng chưa chắc có thể bảo đảm tránh được tất cả mọi trường hợp vướng trở. Vì mỗi hoàn cảnh, mỗi thời gian và cả không gian gian nữa, các sự việc xảy ra không giống nhau, có khi rất bất ngờ nữa, không như ta tưởng cùng mong đợi!

Trong đời sống đức tin, hai đời sống khởi đầu mới trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa: Evà và Maria, là những mẫu gương cho ta soi vào rút tỉa bài học cho mình.  

Eva là con người đầu tiên từ khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ ( St 3,20). Eva là người phụ nữ đầu tiên của con người. Bà là mẹ của loài người. Và bà cũng là người vấp ngã phạm tội đầu tiên. Tội bà phạm gây ra hệ lụy cho các thế hệ con cái cháu chắt truyền kiếp, mà chúng ta gọi là tội nguyên tổ hay tội tổ tông.

Bà đã nghe lời con rắn là ma qủi dụ dỗ hái ăn trái Thiên Chúa cấm không cho ăn trong vườn địa đàng hạnh phúc. Sự việc xem ra chỉ có thế. Nhưng hậu qủa tai hại lan rộng to lớn. Cũng như một ánh lửa nhỏ bé từ chiếc diêm quẹt có thể gây ra tai nạn khủng khiếp làm cháy thiêu rụi bao nhiêu cánh rừng cùng nhà cửa.

Nghe lời con rắn là ma quỉ dụ dỗ Bà đã đánh mất lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa. Bà đã đưa tay ra hái trái Thiên Chúa cấm ăn, không phải để đón nhận, nhưng để thử, để cho biết, để kéo về với mình những gì có thể bị đánh mất.

Eva là con người khởi đầu đời sống có những cơ may và giới hạn. Bà cũng là một đời sống đã vấp ngã cùng mang theo mầm mống sự chết không thể thay đổi lại được.

Maria thì khác hẳn. Bà không là người đầu tiên được tạo dựng, nhưng là người có đầy lòng tin tưởng. Maria có lẽ như bao phụ nữ đồng trang lứa trong làng xóm thời bấy giờ, cũng muốn lập gia đình, muốn xây dựng một đời sống an ổn hạnh phúc như bao người khác. Nhưng Thiên Chúa muốn thực hiện nơi chị ta một chương trình lớn lao khác. Và Maria chấp nhận chương trình đó của Thiên Chúa.

Thay vì theo tinh thần ý riêng của mình, Maria tin tưởng để cho Thần Linh Thiên Chúa thực hiện điều lạ lùng vượt qúa khỏi biên giới suy nghĩ cùng hành động của con người: Ðể Chúa Giêsu, con Thiên Chúa xuống thế làm người trong cung lòng mình, và sau này cùng chịu đau khổ với Chúa Giêsu. Chấp nhận làm mẹ Thiên Chúa!

Cuộc đời của đức mẹ Maria là một cuộc đời để cho ý Thiên Chúa hướng dẫn soi lối. Ðời sống đó là một khởi đầu của mầm đời sống mới Thiên Chúa đến trong trần gian. Một đời sống có nhiều đau khổ, lo âu sợ hãi, nhưng luôn đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa. Một đời sống luôn nuôi niềm hy vọng.

Năm mới 2007 đang đến với con người. Không ai trong chúng ta biết sự gì sẽ xảy ra trong thời gian năm tới. Năm mới tựa như một cuốn sách còn mới với nhiều trang giấy chưa lật mở ra, nhưng dần dần những trang đó sẽ được lật mở tới.

Có thể, ta bị cám dỗ, cuốn sách mới đó xếp sang một bên, không cần biết đến những bất ngờ ngạc nhiên sẽ xảy ra. Và tốt hơn tự mình nắm lấy vận mệnh đời sống mình tự vẽ viết theo ý mình muốn. Những gì ta có, ta nắm chắc trong tay chắc ăn hơn những gì còn đang trông chờ mong manh! Ðiều này có thể tạo ra cảm nghĩ chắc ăn và không bị lệ thuộc. Hình ảnh này giống với đời sống của Evà trong vườn địa đàng đưa tay hái trái cấm.

Một khởi đầu mới với lòng tự tin tự lập hơn đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa!

Nhưng gương đời sống của Ðức Mẹ Maria , đặt lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, vào khởi đầu năm mới có ý nghĩa và bảo đảm hơn, nhất là cho đời sống tinh thần niềm tin đạo giáo.

Một khởi đầu mới với niềm hy vọng, lòng tin tưởng vào Thiên Chúa và cùng cộng tác vào!

Ngày đầu năm mới, lời cầu chúc mọi sự tốt lành cần thiết cho tâm hồn đời sống mỗi người. Nhất là khi Lời cầu chúc đó thấm nhuộm cả lời cầu xin cùng Thần Thánh Thiên Chúa phù hộ cho, còn mang nhiều ý nghĩa sâu đậm hơn nữa cho đời sống.    

- “ Xin Thiên Chúa chúc lành gìn giữ anh em “ ( Ds 6,24): Lời cầu chúc này gợi lên niềm hy vọng được Thiên Chúa giơ tay gìn giữ che chở trong đời sống.   

- “ Xin Ngài ghé mắt xuống nhìn anh em” (Ds 6,25): Lời cầu chúc này ẩn chưa tiềm tàng sự bảo đảm từ nơi Thiên Chúa. Ngài như ánh mặt trời hằng chiếu dọi ánh sáng sự sống, sự đầm ấm cho đời sống vạn vật. Nhờ ánh sáng mặt trời vạn vật phát triển, phản chiếu vẻ đẹp sức sống trong thiên nhiên. Ánh quang từ nơi Thiên Chúa chiếu tỏa tới con người mang đến sự can đảm, giúp bước thoát ra khỏi tối tăm thất vọng.

- “ Xin Thiên Chúa ban bình an cho anh em” ( Ds 6, 26): Lời cầu chúc này nói lên, khi Thiên Chúa dủ lòng thương nhìn đến ai, người đó trở nên gía trị được nhìn nhận kính trọng.

Những lời cầu chúc khẩn nguyện này chất chứa gợi niềm hy vọng cho đời sống, giúp can đảm bước đi vào thời gian tương lai năm mới, không phải như con đường Evà đã đi, nhưng như con đường Ðức Mẹ Maria đã đi.

 Lễ Ðức Mẹ Maria, mẹ Thiên Chúa 01.01.2007

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC

KHÍCH LỆ, bài 5

 

Thùy Hương đang học thêu. Cô đang tập thêu một cách chú tâm sung sướng. Với sự hài lòng và hảnh diện, cô giơ chiếc khăn đang thêu lên để chiêm ngắm công trình tuyệt vời của mình. Đoạn cô đưa đến cho mẹ để nhờ mẹ chỉ cho cách  phải làm thế nào để hoàn tất công trình sắp hoàn thành của cô.

“Thùy Hương, chỗ nầy không được, bà mẹ nói. Con nhìn xem. Chỗ nầy con phải làm thế nầy thì nó đẹp hơn. Cái nầy quá dài, nó xem ra lượm thượm. Tại sao con không lấy nó ra và làm lại. Nó coi bộ sẽ đẹp hơn”. Nét mặt của Thùy Hương thay đổi, từ phấn khởi thích thú thành chán chường buồn bã. Cô thở dài và nhếch môi khẽ nói: “Con chả muốn làm gì nữa bây giờ. Con muốn đi ra ngoài mẹ ơi!”

Những lời phê bình của bà mẹ đã làm tiêu tan nỗi sung sướng và niềm kiêu hãnh của Thùy Hương. Câu nói: “Con phải làm thế nầy thì nó đẹp hơn” không phải là một lời khích lệ. Nó ám chỉ công trình đã được làm không tốt đủ, không đáng để làm mẫu mực. Cái mà Thùy Hương nghĩ là đẹp lại trở thành lượm thượm đối với mẹ cô. Sự đề nghị nên tháo ra và làm lại là một điều không thể chấp nhận được đối với cô bé. Đó là một lời hoàn toàn thiếu khích lệ. Vì thế, cô bé đã bỏ dở công việc đang làm và quay sang làm một công việc khác. Mẹ cô có thể dễ dàng quan sát được kết quả của lời nói mình khi nhìn thấy nét mặt cũng như phản ứng của con bà hoàn toàn thay đổi.

Tại sao cứ phải đi tìm những cái bất toàn, những khuyết điểm để nêu ra khiến người nghe cảm thấy chán nản, xuống tinh thần. Chúng ta có thể dùng một phương cách khác xem ra hữu ích hơn trong việc chỉ dạy con cái để khuyến khích chúng tiếp tục công việc một cách thích thú, chẳng hạn như nói: “Cưng ơi, đẹp lắm! Những đường kim của con rất dễ thương, bà có thể vừa nói vừa chỉ cho cô bé một số đường nét đẹp mà nó đã làm. Khi con hoàn thành tác phẩm nầy chúng ta sẽ treo nó trong nhà tắm”. Như vậy, người mẹ cùng với con, cả hai cùng thưởng thức tác phẩm ấy và xem đó như một công trình hữu ích và quí giá.

Khi người mẹ chỉ cho cô bé thấy những đường nét nho nhỏ mà nó đã hoàn tất một cách tốt đẹp, bà đã khuyến khích cô bé tiếp tục để hoàn thành tác phẩm với một sự khéo léo tuyệt vời hơn. Chúng ta chỉ có thể gầy dựng trên ưu điểm chứ không phải trên khuyết điểm. Cần chú ý nhiều hơn đến những đường nét đẹp của tác phẩm mà cô bé đã cố gắng làm. Nhiều khi bố mẹ cũng cần phải có can đảm để nói lên những lời khích lệ con cái tiếp tục tiến bước với một kinh nghiệm mới.

Cu Long 7 tuổi vừa được mẹ cho phép mua một chiếc máy bay mà nó đã nhìn thấy ở tiệm đồ chơi, trong trung tâm mua bán đồ chơi trẻ con. “Mẹ không thể đưa con đến đó ngay bây giờ được, chúng ta sẽ đi ngày mai con ơi”, bà mẹ nói thế. “Con có thể đi bằng xe đạp”, cậu bé nài nĩ. Nhưng mẹ nó trả lời: “Con không được phép lên phố bằng xe đạp. Xe nhiều lắm con ơi”. “Con có thể lo cho con mẹ ơi. Nhiều đứa trẻ lên trên đó bằng xe đạp”. Bà mẹ thoáng nghĩ trong một phút. Bà nghĩ đến hàng loạt xe đạp mà bà thường gặp đậu ở bên ngoài tiệm đồ chơi. Bà cũng thấy hằng ngày con bà đạp xe đạp đi học và nó đã làm điều đó rất tốt, nên bà bảo: “Được, con hãy đi. Hãy mua lấy cái con thích”. Cậu bé sung sướng vội phóng nhanh ra khỏi nhà. Bà mẹ yên lặng với cảm giác lo lắng. Bà nghĩ: nó còn quá nhỏ nhưng nó không chịu học bất cứ đứa nào trẻ hơn nó. Gần một tiếng đồng hồ sau, nó phóng xe về nhà với gói đồ chơi. “Mẹ ơi, xem! Con đã mua nó”. “Cưng ơi, mẹ rất hài lòng, bà mẹ nói với nét mặt tươi cười, bây giờ thì con có thể tự đi mua đồ cho con. Như vậy không phải là tuyệt vời sao?”

Bà mẹ bé Long đã cảm thấy lo lắng nhưng bà đã khuất phục được nỗi lo sợ và đã tỏ cho thấy niềm tin của bà vào khả năng đi xe đạp của cậu bé. Cậu bé đã đáp lại niềm tin của bà một cách tốt đẹp. Người mẹ đã theo dõi kiến thức cũng như việc làm của nó. Cuối cùng bà cho phép nó được tự do hơn bằng cách hứa cho nó nhiều cơ hội để đi mua lấy những món đồ riêng của nó.

Bé Thịnh 5 tuổi, cài nút áo ấm của nó một cách lệch lạc, nhưng mẹ nó cứ để như vậy một thời gian. Một ngày kia, mẹ nó nói: “Cưng ơi, mẹ có ý kiến. Tại sao con không cài nút áo bắt đầu từ nút cuối cùng cài lên, như thế có dễ hơn không? Với nét mặt tươi vui và bằng phương cách mới, bé Thịnh đã làm theo lời đề nghị của mẹ và cảm thấy sung sướng khi cài đến hạt nút cuối cùng. Từ sự thành công của phương cách nầy, bà mẹ đã cố gắng khích lệ nó trong những vấn đề khác. Chẳng hạn, cậu bé thường treo đồ ngủ trên giá treo quần áo, nhưng vì nó treo lộn ngược, nên quần áo thường hay rơi xuống sàn nhà. Mẹ nó đề nghị: “Tại sao con không cầm lấy đầu kia và giũ nhẹ vài cái cho nó thẳng trước khi con treo vào giá”. Cu Thịnh vói lấy chiếc áo rơi và làm y như mẹ nói, đoạn treo vào giá. Nó không rơi nữa. Cậu bé cười vui vẻ và nói: “Mẹ ơi, nhìn kìa! Nó có kết quả như mẹ dạy!”

Mẹ của bé Thịnh đã tìm ra một phương pháp khuyến khích cậu bé bằng cách đề nghị với nó rằng: cách thế mà nó đã làm trước đây thì không được đúng. Bà đã dựa vào tinh thần thám hiểm và sự ước muốn tìm phương cách mới của nó. Bé Thịnh có thể nhìn thấy được kết quả từ những công việc nó làm. Bà mẹ không cần phải chỉ ra cho nó. Bà mẹ chỉ mỉm cười và ánh mắt của bà đã nói cho nó rằng bà muốn chia xẻ sự thích thú về khả năng của nó.

Những điểm trình bày trên đây cho thấy sự quan trọng của việc khích lệ, nhưng dĩ nhiên chúng ta không thể mong đợi tất cả mọi khích lệ đều mang lại kết quả. Chẳng hạn như ca tụng là một cách khuyến khích mà chúng ta thường dùng, nhưng cũng phải được dùng một cách cẩn thận. Nếu không, nó có thể gây ra những nguy hiểm như chúng ta đã gặp thấy trong một số trường hợp trên đây. Vì nếu con trẻ coi ca tụng là một phần thưởng thì thiếu nó là một sự sỉ nhục. Như vậy, nếu nó không được ca tụng trong bất cứ điều gì nó làm, nó sẽ cảm thấy mình bị thất bại. Một đứa bé như thế, sẽ làm việc với hy vọng chiếm đươc phần thưởng hơn là làm việc để thõa mãn cho sự khát vọng muốn đóng góp vào lợi ích chung. Như vậy, sự ca tụng cũng có thể đưa tới một sự thoái chí, vì nó củng cố cho quan niệm sai lầm của đứa bé là nếu nó không được ca tụng, nó không có giá trị gì.

Bố mẹ nào cũng yêu thương con cái. Nhưng cách thức mà chúng ta dùng để biểu lộ tình yêu thì không được thích hợp. Tình yêu bố mẹ dành cho con cái được biểu lộ cách tốt nhất chính là việc khuyến khích con trẻ biết sống tự lập. Chúng ta cần bắt đầu hướng dẫn chúng từ lúc mới sinh và giữ mãi suốt thời kỳ ấu thơ. Việc khích lệ được chứng tỏ bằng cách tin tưởng vào đứa bé ở mỗi giai đoạn lớn lên của nó. Cần có sự hướng dẫn của chúng ta trong mọi biến cố và mọi trường hợp trong suốt thời thơ ấu của chúng. Trẻ con cần có sự can đảm, và chúng ta có bổn phận phải giúp chúng lớn lên và phát triển một cách trọn vẹn và sung mãn.

lm.lêvănquảng

VỀ MỤC LỤC
HÃY THA THỨ

 

Dịch giả Tôn Thất Bàng

Trích dịch từ “Let There Be Forgiveness” by Gillian Stokes  

1. “He who forgives ends a quarrel.” (African Proverb)

 “Người tha thứ là người chấm dứt cuộc cãi vả.”  (Tục ngữ Châu Phi)

 2. “Only the brave know how to forgive. A coward never forgave; it is not in his nature.”  (Laurence Stern)

 “Chỉ những người can đảm mới biết tha thứ. Kẻ hèn nhát không bao giờ tha thứ vì trong y không có tánh ấy.” (Laurence Stern)

 3. “He who cannot forgive breaks the bridge over which he himself must pass.”  (George Herbert)

 “Người không thể tha thứ là người phá gãy chiếc cầu mà chính anh ta cần phải đi qua.”  (George Herbert)

 4. “When a deep injury is done us, we never recover until we forgive.”  (Alan Paton)

“Khi chúng ta bị tổn thương nặng nề, chúng ta sẽ không bao giờ hồi phục được trừ phi chúng ta tha thứ.” (Alan Paton)

 5. “Forgiveness means that you do not hold others responsible for your experiences.”  (Gary Zukav)

 “Tha thứ có nghĩa là mình không bắt người khác phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã kinh qua.” (Gary Zukav)

 6. “We pardon to the extent that we love.”  (La Rouchefouchauld)

“Chúng ta tha thứ cho đến mức chúng ta yêu thương.”  (La Rouchefouchauld)

7. “Strive to be patient; bear with the faults and frailties of others, for you, too, have many faults which others have to bear …”  (Thomas A Kempis)

“Hãy cố kiên nhẫn; hãy chịu đựng những lầm lỗi và những yếu đuối của những người khác, vì mình, cũng vậy, có nhiều lầm lỗi mà người khác phải chịu đựng …” (Thomas A Kempis)

 8. “To forgive is to set a prisoner free and discover that the prisoner was you.” (Lewis Smedes)

“Tha thứ là trả tự do cho một người tù và phát hiện ra người tù ấy chính là ta.”  (Lewis Smedes)

 9. “What power has love but forgiveness?” (William Carlos Williams)