Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 63, Chúa nhật 21.01.2007


 Các số báo đã phát hành            MỤC LỤC

Phẩm giá của ngườí Tín Hữu Giáo Dân Trong Giáo Hội Mầu Nhiệm (CHRISTIFIDELES LAICI)

TÌNH  NỒNG                                                                                              Lm. Đỗ Vân Lực, op.

QUYẾT TÂM TRONG NĂM MỚI 2007                                                                Tôn Thất Bàng

CHÙM THƠ HÁT NÓI                                                                                                Bùi Nghiệp

TÔI  ĐI  HỌC KINH  THÁNH                                                                          Peter Vũ Văn Quí

SỐNG ĐỨC TIN (Chuyện Bốn con búp-bê…)                                              Nguyễn Văn Thành

BẢNG KIỂM TRA TÌNH YÊU                                                         Phó tế GB. Nguyễn Văn Định

CÁI CẦN HỌC                                                                       Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

NHƯ MỘT KẾT LUẬN : SỐNG ĐẠO                                                                              Tuỵ Hiền

MƯỜI HAI GIAI ĐOẠN THA THỨ ĐÍCH THỰC                        Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Chúa là gia nghiệp chưa đủ cho con sao?                             + Cố HY. PX. Nguyễn Văn Thuận

ĐỒN THỔI                                                                                      Chuyện phiếm của Gã Siêu


Phẩm giá của ngườí Tín Hữu Giáo Dân Trong Giáo Hội Mầu Nhiệm

 

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

CHƯƠNG 1

TA LÀ CÂY NHO CÁC CON LÀ CÀNH

Phẩm giá của ngườí Tín Hữu Giáo Dân

Trong Giáo Hội Mầu Nhiệm

MẦU NHlỆM CÂY NHO

8. Hình ảnh cây nho trong Thánh Kinh được dùng nhiều cách và nhiều ý nghĩa. Đặc biệt nó được dùng để diễn tả mầu nhiệm Dân Chúa. Theo ý nghĩa này, người giáo dân không chỉ là những người thợ làm việc trong vườn nho, nhưng họ là một phần tử cây nho. Chúa nói: "Ta là cây nho, các con là cành" (Jn.15.5).

Trong Cựu ước các tiên tri khi muốn nói đến dân được chọn, cũng đã dùng hình ảnh cây nho. Israel là cây nho của Thiên Chúa, là mềm vui của tâm hồn Ngài: "Ta đã trồng ngươi như một cây nho được chọn lọc" (Jer. 2:21); "Mẹ ngươi giông như một cây nho trồng bên bờ nước. Nó sai trái và um tùm hoa lá nhờ có nhiều nước tràn trề " (Ez.19.10); "Người bạn tôi có một vườn nho trên mợt sườn đồi phì nhiêu. ông cày bừa trở dât lượm đá sỏi để trồng vào đó một cây hảo hạng..." (Is. 5.l-2).

Chính Đức Giêsu cũng dùng hình ảnh cây nho để mạc khải một số khía cạnh về Nước Thiên Chúa: "Một người kia trồng một vườn nho, ông rào dậu bôn bề, một hầm ép nho, và xây một tháp canh rồi ông cho các người làm nho thuê mướn và ông khởi hành đi xa." (Mk. 2:1 - Mt. 21:2S).

Thánh Sử Gioan còn mời gọi chúng ta đi xa hơn, và đưa chúng ta đến khám phá mầu nhiệm của cây nho: Nó là biểu tượng và hình ảnh không những của dân Thiên Chúa, mà còn là biểu tượng và hình ảnh của chính Đức Giêsu. Ngài là gốc cây nho, còn chúng ta, môn đệ Ngài, chúng ta là cành. Ngài là "Cây Nho thật", các cành phải kết hơp để được s ống (Jn . 15: 1.. )

Công Đồng Vaticanô II lấy lại hình ảnh Thánh kinh để giải thích máu nhiệm Giáo Hội, cũng đưa ra hình ảnh cây nho và cành: "Cây nho thật chính là Chúa Kitô; chính Ngài ban phát sự sống và sức sinh sản cho các cành là chúng ta. Qua Giáo hội chúng ta sông trong Ngài, và không Ngài chúng ta chẳng làm được việc gì." (Jn. 15.1-5) .(12)

Chính Giáo Hội là vườn nho trong Thánh Kinh. Là nhiệm mầu bởi vì tình thương và sự sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là ân huệ tuyệt đối ban nhưng không cho tất cả những ai được sinh ra bởi nước và Thánh-linh (Jn. 3:5), được gọi để sống chính sự hiệp thông của Thiên Chúa, để tỏ bày và thông truyền sứ mệnh hiệp thông này trong lịch sử. Chúa Giêsu nói: "Trong ngày ấy các con sẽ biêt rõ Thầy Ở trong Cha Thầy, và các con Ở trong Thầy và Thầy Ở trong các con" (Jn. 14:20).

Người giáo dân chỉ nhận diện mình, nhận chân bản tính nguyên thủy của mình bên trong mầu nhiệm của Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông ơn gọi cũng như sứ mệnh trong Giáo Hội và thế giới của người giáo dân cũng chỉ định nghĩa được bên trong phẩm giá này.

NGUỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN LÀ Al?

9. Các Nghị Phụ đã nêu lên một nhận xét chính đáng là phải minh định cách rõ ràng về ơn gọi và sứ mệnh của tín hữu giáo dân, qua việc nghiên cứu sâu xa giáo lý của Công đồng Vaticanô lI, theo ánh sáng của các văn kiện mới của Giáo Hội, và kinh nghiệm sống của Giáo Hội được hướng dẫn do Chúa Thánh Thần. (13)

Để trả lời câu hỏi nguời tín hữu giáo dân là ai. Công Đồng đã đi xa hơn vớí lối giải thích tiêu cực trước đây, bằng một cái nhìn hoàn toàn tích cực. Công Đồng đã đưa ra ý hướng căn bản và đầy đủ thuộc về người giáo dân đối với Giáo Hội và mầu mhiệm của Giáo Hội. Ơn gọi đặc biệt của họ là "Tìm nước Chúa trong khi quản trị các việc trần thế mà họ sắp xếp theo ý Chúa. " (14) Hiến chế ánh Sáng Muôn Dân (Lumengentium) còn thêm: "Danh hiệu Giáo dân có nghĩa là tất cả các Kitô hữul không thuộc thành phần chức thánh hay bậc tu trì được Giáo Hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đã được rửa tội sáp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được nhập tịch Dân Chúa, được trở thành kẻ tham gia theo cách của mình vào chức vụ tư tê, chức vụ rao giảng Lời Chúa và chức vụ vương giả của Chúa Kitô, họ là những người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Giáo Hội và giữa trần thê theo nhiệm vụ riêng của mình. " (15)

Đức Piô thứ XII đã quả quyết: "Các tín hữu nói một cách rộng hơn, là các giáo dân là kẻ đứng ở mặt trận tiền phong trong đời sống của Giáo Hội. Nhờ họ, Giáo Hội trở nên nguyên lý sự sống cho xã hội loài người. Vì thế, chính họ phải ý thức ngày càng rõ rệt là họ không những thuộc về Giáó Hội mà là Giáo Hội, nghĩa là cộng đồng các tín hữu trên mặt đất, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lãnh chung là Đức Giaó Hoàng và các Giám Mục hiệp thông với Ngài. Họ là Giáo Hội".(16)

Theo hình ảnh Thánh kính về cây nho, người tín hữu giáo dân cũng như tất cả các phần thân thể khác của Giáo Hội, là những cành nho tháp nhập vào Đức Kitô là Cây Nho Thật; chính nhờ Ngài mà họ được sống và trổ sinh hoa trái.

Được ghép vào Đức Kitô nhờ Đức Tin và phép Thánh Tẩy, là gốc rễ đầu tiên tạo nên thân phận mới của người Kitô hữu trong mầu nhiệm Giáo Hội, tạo nên sắc thái căn bản, và là nền tảng của tất cả mọi ơn gọi và hoạt động của đời sống Kitô hữu của người tín hữu giáo dân. Trong Đức Kitô chết và sống lại, người đã rửa tội trớ nên một "thụ tạo mới" (Gal. 6.15,2 Cor.5.17), một thụ tạo được thanh tẩy hết tội lỗi và sống ơn nghĩa Chúa.

Như thế "hình ảnh" người giáo dân được phác họa dựa vào kho tàng phong phú nhiệm mầu Thiên Chúa đã ban cho ngườí Kitô hữu trong bí tích Rửa Tội.

PHÉP RỬA TỘl VÀ THÂN PHẬN MỚl CỦA NGƯỜl KlTÔ HỮU"

10. Không phải là quá đáng khi chúng ta quả quyết rằng: toàn cuộc sống của người tín hữu giáo dân chỉ có mục đích là đưa họ đến nhận biết mầu nhiệm chính yếu của họ phát xuất từ phép Rửa Tội, là bí tích Đức Tin, để họ có thể sống nghĩa vụ theo ơn gọi Chúa đã chỉ định. Để phác họa "hình ảnh" người tín hữu giáo dân, chúng ta hãy kiểm xét một cách trực tiếp và rõ ràng các khía cạnh căn bản sau đây: Phép Rửa Tội đã tái sinh chúng ta trong sự sống con Chúa; nó hợp nhất chúng ta với Chúa Giêsu Kltô, với thân thể Ngài là Giáo Hội, xức dầu cho chúng ta trong Chúa Thánh Thần bằng cách làm cho ehúng ta trở nên những đền thờ thiêng liêng.

Con Chúa trong Người Con Một

11. Chúng ta nhớ lại những Lời của Chúa Giêsu nói với Nícôđêmô: "Ta nói rât thật với ông, hễ ai chẳng sinh lại ỏởi nước và Thánh Linh, thì không được vào nước Thiên Chúa"(Jn. 3. 5). Phép Rửa Tội là một sinh hạ mới, một cuộc tái sinh.

Chính khi nghĩ đến khía cạnh này của phép Rửa Tội mà Thánh Phêrô Tông Đồ đã ca lên: "Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả Ngài đã tái sinh chúng ta nhờ sự sông lại của Đức Giêsu Kitô từ trong kẻ chêt, để chúng ta được hưởng gia tài bất diệt, không tì ố, cũng không tàn héo" (1 Pt. 1:3-4), và Người gọí là Kltô hữu những ai Chúa đã "tái sinh, không phải do hạt giông hay hư nát, nhưng do hạt giông bất diệt là Thiên Chúa hằng sống và tồn tại muôn thuở" (1 Pt.1:23)

Nhờ Phép Rửa, chúng ta trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, trong Con Một của Ngài, là Đức Giêsu Kitô. Khi ra khỏi giếng nước Rửa Tội, mỗi người Kitô hữu đều được nghe tiếng đã phán trước kia trên bờ sông Giođanô: "Con là con ta yêu dấu, rất đẹp lòng ta" (Lk. 3:22). Và như thế họ hiểu là họ được kết hợp với Người Con yêu dấu vì đã trở thành dưỡng tử (Gal. 4:4- 7) và là anh em của Chúa Kitô. Như thế, được thể hiện trong lịch sử cuộc đời của Thiên Chúa: "Những ai Ngài đã nhận biết trước, thì Ngài định cho họ được trở nên hình ảnh Con Ngài, để làm cho Con Ngài trở thành trưởng tử của vô số anh em " (Rom.8:29)

Chính Chúa Thánh Thần làm cho những người đã rửa tội trở nên con cái nam nứ của Thiên Chúa, và đồng thời trở nên chi thể của Thân thể Đức Kitô. Thánh Phaolô đã nhắc lại cho các Kitô hữu thành Cônrintô: "Tất cả chúng ta đã được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một thân thể' (1 Cor. 12:13) đến nỗi vị Tông đồ Cả có thể nói với các tín hữu giáo dân của Ngài: "Anh em là thân thể Chúa Kitô, và mỗi người đều là chi thể " (1 Cor.12:27) ; " Và đây là chứng cớ rõ ràng anh em là con cái, được Thiên Chúa sai đên, Thần Linh của Con Ngài ở trong tâm hồn chúng ta" (Gal.4:6, Rom. 8.15-16).

Một thân thể trong Đức Kitô.

12. Được tái sinh trở thành "con trong người Con", những ai đã chịu phép Rửa Tội đều là "chi thể của Đức Kitô và cũng là thành phần trong nhiệm hề của Giáo Hội" theo như giáo huấn của Công Đồng Florence. (17)

Phép Rửa Tội có ý chỉ và đồng thời phát sinh sự tháp nhập mầu nhiệm nhưng thực sự vào Thân Thể bị đóng đinh và vinh hiển của Đức Giêsu. Nhờ Bí Tích ấy, Chúa Giêsu kết hơp người chịu phép Rửa Tội yới cái ehết của Ngài để kết hơp họ với sự sống lại của Ngài (Rom. 6.3-5), lột bỏ "con người cũ" để mặc cho họ "con người mới", nghĩa là chính Ngài: "Tất cả anh em đã được rửa tội trong Đức Kitô, anh em được mặc lấy chính Đức Kitô" (Gal. 3.27, Eph.4:22-24, Col. 3:9-10). Bởi đó "mặc dầu là số đông, chúng ta chỉ là một thân thể trong Đức Kitô" (Rom. 12:5.

Các lời của Thánh Phaolô là những tiếng vọng trung thực giáo huấn của chính Đức Giêsu, nó đã mặc khải cho chúng ta thấy sự hợp nhất nhiệm mầu của các môn đệ với Ngài và giữa họ với nhau, trình bày sự hơp nhất ấý như là hình ảnh và sự nối tiếp của sự thông hiệp nhiệm mầu giữa Chúa Cha với Chúa Con, và Chúa Con với Chúa Cha trong môí giây tình thương của Chúa Thánh Thần (Jn. 17.21). Chính Chúa Giêsu đã đề cập đến sự hơp nhất này khi Ngài dùng hình ảnh cây nho và cành nho: "Ta là cây nho, chúng con là cành " (Jn. 15. 5) . Một hình ảnh nói lên không những sự mật thiết sâu xa của các môn đệ với Chúa Giêsu, mà cũng biểu lộ sự thông hiệp sinh động giữa các môn đệ: tất cả đèu là cành của một Cây Nho duy nhất.

Đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần.

13. Trong một hình ảnh so sánh khác là hình ảnh của một ngôi nhà, Thánh Phêrô Tông Đồ đã định nghĩa các người đã chịu phép Rửa Tội như những "viên đá sống động" xây trên Đức Kitô là "viên đá góc" . Vì thế, các người đã chịu phép Rửa Tội được dành riêng "xây đên thờ thiêng liêng" (1 Pt. 2:5).

Hình ảnh này đưa chúng ta vào một khía cạnh mới lạ khác do phép Rửa Tội đem lại, mà Công đồng Vaticanô II trình bày qua những lờị sau đây: "Vì chưng những kẻ đã rửa tội, nhờ sự táì sinh và ơn xức dầu của Chúa Thánh Thần, họ được hiên dâng để trở nên một tòa nhà thiêng liêng." (18)

Chúa Thánh Thần "xức dầu" kẻ chịu phép Rửa Tội, đóng trên họ ấn tín không thể xóa bỏ (2 Cor. l:21-22), làm cho họ trở thành đên thờ thiêng lìêng, nghĩa là thông ban tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa nhờ kết hơp và nên giống Đức Giêsu Kitô.

Người Kitô hữu, nhờ ơn "xức dầư" này làm cho mạnh dạn, có thể lặp lại những lời của Chúa Giêsu theo cách của mình "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài dã xức dầu thánh hiên tôi; sai tôi đem Tin Mừng cho kẻ nghèo khổ, loan tìn giải phóng cho kẻ bì cầm tù, đem sự sáng cho kẻ đui mù, đem tự do cho kẻ bị áp bức, và loan báo năm Hông ân của Chúa" (Lk. 4:lS-19, Is. 61:1-2).

Như thế, nhờ ơn Chúa đổ tràn xuống qua phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, người đã được rửa tội tham gia vào sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên sai cứu Thế.

còn tiếp

Chú thích

12- Vaticanô II - Hiến chếLumen Gentium, số 6.

13- Xem Propositio, số 8.

14- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 81.

15- tld

16- Piô XII - Diễn văn đọc trước các Hồng Y mới nhậm chức (20-02-1946) - AAS. 38 (1946) 149.

17- Công đồng Florentiô, Sắc lệnh Pro Armentis - DS 1314.

18- Vaticanô II - Hiến Chế Lumen Gentium, số 10.

VỀ MỤC LỤC
TÌNH  NỒNG

 

Phúc Âm Nhật Ký 14.01.2007

(Ga 2:1-12)

Ngày nay hiện tượng “ăn cơm trước kẻng” khá phổ biến trong dân gian, nhất là bên Âu Mỹ.  Người ta không còn tin tưởng vào nghi thức cưới hỏi nữa.  Ðúng hơn, họ thấy chỉ khoái lạc mới đem lại hạnh phúc cho con người.  Nếu đúng thế, tại sao ngày nay ly dị đạt tới mức độ kỷ lục như vậy ?

Ðứng trước tình hình hiện nay, có lẽ cũng không nên quy trách hoàn toàn cho giới trẻ.  Ðúng hơn, phải nhận nghi thức hay luật lệ phần nào đã đánh mất nội dung và ý nghĩa đích thực.  Tất cả chỉ còn là nước lã.   Cuộc sống hôn nhân tẻ ngắt  và buồn chán, không còn hấp dẫn nổi giới trẻ nữa.  Cần phải có một cuộc canh tân thực sự mới đem lại cho hôn nhân một sức sống mới.  Gia đình sẽ hạnh phúc. 

Nếu Chúa đã biến nước thành rượu trong tiệc cưới Cana, Chúa cũng có thể canh tân và biến đổi cuộc sống hôn nhân hôm nay.   Cuộc canh tân đó dựa trên nền tảng tình yêu, một thực tại bắt nguồn từ Thiên Chúa.   Tình yêu là động lực phát xuất niềm vui và hạnh phúc thực sự.  Nhờ đó hôn nhân có sức mạnh vượt trên mọi thử thách.

Còn cuộc vui nào lớn hơn tiệc cưới Cana ?  Tiệc cưới thật trang trọng.  Cô dâu rất diễm lệ.  Hai họ vô cùng hân hạnh đón tiếp cả Chúa Giêsu, Mẹ Maria, anh em họ hàng và các môn đệ. Các ngài đến chung vui với tân lang và  tân nương tới phút chót.  Hiện diện như thế, các ngài đã chia sẻ tận tình niềm vui lớn lao đó.  Niềm vui càng tăng lên lúc nước biến  thành rượu ngon “khi khách đã ngà ngà.” (Ga 2:10)

Phép lạ đã vượt qua giới hạn một tiệc cưới.  Không phải chỉ vì cứu vãn danh dự cho cô dâu chú rể hay chủ tiệc, nhưng còn để “bày tỏ vinh quang của Người.” (Ga 2:11) Tất cả ý nghĩa của “dấu lạ đầu tiên” (Ga 2:11) nằm ở chỗ đó.  Không phải nhu cầu đám cưới đã thúc bách Ðức Giêsu hành động, nhưng là đức tin của Mẹ Maria, Thân mẫu Người.  Mẹ chỉ vỏn vẹn loan báo một sự kiện, chứ không xin gì cho chính mình. 

Dĩ nhiên, chưa đến “giờ” Chúa Giêsu hành động.  Mẹ biết, nhưng không hề đáp lại, chỉ lẳng lặng nói với gia nhân : “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo.”(Ga 2:5)  Câu nói cuối cùng của Ðức Mẹ lại được đặt trong khung cảnh tiệc cưới, một cuộc vui lớn nhất và sâu xa nhất cuộc đời.  Thái độ trầm tĩnh qua những lời nói đó đã đủ để Ðức Giêsu hành động.  Ðức Mẹ biết chắc chắn những gì sẽ xảy ra sau lời chứa chất đầy tin yêu đó.

Ở đây, Ðức Mẹ đã hành động ngược hẳn với thái độ của những kẻ thách thức Chúa Giêsu dưới cây thánh giá.  Họ đòi Chúa bước xuống khỏi thánh giá như một dấu chỉ cho họ tin.  Bình thường ai cũng cần dấu lạ mới tin.  Trái lại, Mẹ Maria cho thấy đức tin làm nảy sinh dấu lạ.  Ðức tin đòi một thái độ khiêm cung tín thác, nhưng không mù quáng hay phải làm những việc anh hùng. Ngược lại, thái độ kiêu ngạo luôn làm con người tưởng mình có thể hành động thay thế Thiên Chúa.  Phép lạ hay dấu chỉ là công việc đặc biệt thuộc về Thiên Chúa mà thôi.

Ðức Maria và các môn đệ đã tin như thế.  Chỉ những ai tin mới có thể nhìn thấy chính con người Ðức Giêsu Kitô đã làm được những phép lạ, chứ không phải một thứ thần thông hay ma thuật nào.  Người không thi hành quyền năng ấy một cách ồn ào và ngoạn mục.  Trái lại, Người kín đáo thi thố quyền năng, đến nỗi người quản tiệc cũng không biết rượu từ đâu ra.  Chỉ có các gia nhân mới thấu hiểu ngọn nguồn.  Bởi đâu họ được diễm phúc ấy ?   Có lẽ chính địa vị thấp kém và hoàn cảnh nghèo hèn đã khiến họ có cơ hội gần Chúa và tham dự vào những việc Chúa làm để tạo nên dấu chỉ hôm nay.

Nhưng hơn tất cả mọi người, nhờ niềm tin, Ðức Maria biết Con mình có khả năng làm phép lạ.  Niềm tin đó mạnh đến nỗi, dù Chúa có vẻ “tỉnh bơ,” Mẹ vẫn khẳng khái nói với gia nhân biết phải làm cái gì.  Nghe Con trả lời, đáng lẽ Mẹ phải cảm thấy xa lạ, vô duyên và bực bội như “búa tạ” giáng trên đầu.  Thực ra, sống bên nhau hơn ba chục năm trời, Mẹ biết đó chỉ là một lối nói thân mật giữa Mẹ và Con.  Tiếng nói sâu xa của hai con tim đã tạo nên sự đồng cảm sâu xa.  Người ngoài làm sao hiểu nổi ?  Bởi thế, sau khi nghe những lời cứng rắn đó, Mẹ vẫn nói như “đi guốc trong bụng” Con : “Người bảo gì, các anh cứ làm.” (Ga 2:5)   Kết quả đúng như Mẹ mong ước.

Sở dĩ có kết quả như thế, không phải vì Mẹ giỏi tâm lý, nhưng vì Chúa Thánh Linh lên tiếng trong Mẹ.  Nhận ra điều đó, Chúa Giêsu hành động ngay, mặc dù  giờ thi hành sứ mệnh cứu độ chưa đến.  Thế là, nhờ Chúa Thánh Thần, Mẹ đã được vinh dự đón nhận dấu lạ đầu tiên trong cuộc đời công khai của Con.  Còn gì sung sướng hơn khi Mẹ biết dấu lạ đó đã làm cho các môn đệ tin vào Chúa.  Nếu Mẹ không tin, làm sao họ có thể thấy được dấu lạ mà tin.  Niềm tin đã sinh ra niềm tin.

Nếu có niềm tin như Mẹ, sẽ thấy Chúa Giêsu đang chuẩn bị cho chúng ta một đại tiệc trong Nước Chúa.  Làm sao có đủ niềm tin để đọc thấy ý nghĩa của những dấu chỉ tình yêu Chúa trên đường hướng về nhà Cha.  Nếu có đủ, chúng ta có thể bước theo Chúa, cùng Mẹ và các môn đệ để khám phá những điều lớn lao hơn trong Giao ước đã được ký kết trong Máu Người.  Người kêu gọi chúng ta khám phá cuộc sống hằng ngày để nhận thấy những dấu chỉ chứng tỏ Người đang hiện diện giữa cuộc đời.  Tham dự một hôn lễ, Chúa Giêsu muốn chuẩn bị một hôn lễ khác – hôn lễ kết hiệp Thiên Chúa với nhân loại.(x. Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:420)

Muốn canh tân thế giới, chúng ta phải bắt đầu từ niềm tin.  Không có niềm tin, không thể hy vọng thấy Thiên Chúa biểu lộ quyền năng ban sự sống của Người.  Có lúc nào thế giới cần được tái sinh và canh tân như hôm nay ?  Vậy mà, niềm tin đang phai mờ và tàn lụi trong tâm hồn nhân loại !  Muốn tìm một sức mạnh canh tân và tái sinh nhân loại, trước hết phải nỗ lực cầu xin Thiên Chúa ban Thần Khí, vì “Thần Khí như một thứ rượu nồng sẽ khiến chúng ta quên đi những quy tắc sáo mòn và những tín điều hẹp hòi của chúng ta.” (Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:420)  Chúa Giêsu không dùng nước bình thường, nhưng là thứ nước đã đổ vào sáu chum theo thói tục Do thái dùng vào việc thanh tẩy.  Chúa muốn canh tân não trạng của những người đã sống lâu năm trong nghi thức đạo đức vô hiệu lực và đầy giả tạo đó.

Tôn giáo đích thực không bao giờ đồng hóa với những nghi thức như thế.  Người Do thái lo lắng thanh tẩy khỏi những điều ô uế.  Họ đặt tất cả niềm hy vọng canh tân nơi các nghi thức.  Nhưng họ đã thất bại.  Chính Thần Khí chủ động trong việc canh tân, chứ không phải nghi thức.  Nghi thức chỉ là phương tiện.  Nhưng muốn Thần Khí khởi động việc canh tân vô cùng cần thiết đó, cần phải tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu Kitô.  Không có Người, không thể có Thần Khí .

Lạy Chúa, xin  ban sức mạnh Thánh Thần để tình yêu chúng con luôn được đổi mới và sinh hoa trái tốt đẹp.  Xin Chúa  hiện diện để tình yêu luôn thăng hoa và bền vững trong cuộc sống hôn nhân và gia đình chúng con.    Amen.

đỗ  lực, 14.01.2007

dzuize@gmail.com

VỀ MỤC LỤC

QUYẾT TÂM TRONG NĂM MỚI 2007

 

QUYẾT TÂM TRONG NĂM MỚI 2007

Năm này tôi quyết tâm rồi

Sáu điều thiện ích trau dồi thường xuyên

Một là ăn uống cử kiêng

Hai là thể dục thường xuyên tập tành

Ba là ngủ đủ thực hành

Bốn là làm việc thiện lành mọi nơi

Năm là giải trí, nghỉ ngơi

Sáu là học hỏi cuộc đời điều hay.

 

(Ngày 1 tháng 1 năm 2007)

_____

 

NGƯỜI KHÔN NGOAN

Uống ăn biết cử biết kiêng

Thể thao thể dục biết siêng tập tành

Ngủ đầy đủ biết thực hành

Biết làm điều phải, thiện, lành mọi nơi

Biết chơi, giải trí, nghỉ ngơi

Biết vừa biết đủ là người khôn ngoan.

 

(Ngày 16 Tháng 12 Năm 2006)

_____

 

SÁU ĐIỀU NÊN LÀM

Ăn uống nên cử kiêng

Thể dục nên cần chuyên

Ngủ đủ nên thực hiện

Làm việc nên hướng thiện

Tịnh tâm nên ngồi thiền

Trí tuệ nên phát triển.

_____

 

SÁU CÁI BIẾT LÀM

Uống ăn biết cử biết kiêng

Thể thao thể dục biết siêng tập tành

Ngủ đầy đủ biết thực hành

Làm điều hiền thiện biết rành không lơi

Tịnh tâm thiền định biết ngồi

Mở mang trí tuệ biết tôi luyện đầu.

 

(Ngày 17 tháng 12 năm 2006)

Tôn Thất Bàng

VỀ MỤC LỤC

CHÙM THƠ HÁT NÓI

 

CHÙM THƠ HÁT NÓI.

HÀNH THIỆN

Cuộc nhân thế bể dâu dâu bể,

Lẽ tuần hòan tan hợp hợp tan.

Xác thân như nguyệt khuyết hoa tàn,

Linh tâm hãy tích y tích cốc.

 

Bình sinh hành thiện Thiên gia phúc!

Nhược thị ngu ngoan họa thọ ương.

 

Lấy trí nhân dìu đỡ bốn phương,

Đem tài lộc phát ban tám hương.

Trời chúc phúc trào tuôn ơn thánh,

Đất chia phần nảy lộc đơm hoa.

Hai năm mươi an hưởng tuổi già,

Một bách tuế vui vầy Thiên quốc.

Con thuyền đạo chất đầy công đức,

Mái chèo vui khuấy nước về quê.

Mạn thuyền sóng vỗ xàng xê!...

 

THUẬN MỆNH.

Then tạo hóa đóng cài thiên định,

Máy huyền cơ luân chuyển diệu kỳ.

Cuộc nhân sinh trăm tuổi là chi?

Vòng sanh tử đúng kỳ thiên định.

 

Niên nguyệt nhật thì giai tải định,

Tóan lai do mệnh bất do nhân.

 

Nghịch nhân thường mê mải ám tâm,

Thuận trời đất thong dong tự tại.

Kìa vũ trụ tinh vân ngàn giải,

Nọ trần hòan sinh họat ức lòai.

Vay hóa công: chữ phúc  lộc tài,

Trả nhân thế: câu nhân nghĩa trí.

Thuyền vĩnh cửu trương buồm hoan hỷ.

Xe thiên thu chuyển bánh hồi quy.

Mệnh an vui bước ra đi!...

 

 

CHÍNH KỶ.

Câu khắc kỷ tu tâm dưỡng tánh,

Xét tật mình trau sửa nằm lòng.

Lưới công hầu vây bủa  uốn cong,

Mồi danh lợi thắt vòng mời triệu.

 

Lợi bất cẩu tham chung họa thiểu,

Sự năng thường nhẫn đắc thân an.

 

Chữ khiêm nhu ghi dấu trong tâm,

Câu nhẫn nhịn tạc hình ngòai miệng.

Ngày bảy lượt thức lòng trau niệm,

Đêm ba lần cảnh trí ngô thân.

Nọ công khanh vấp bước phong vân,

Này áo mão tần ngần vướng bận.

Vòng danh lợi thế trần lận đận,

Bã vinh hoa bụi bặm lấm thân.

Ai ơi! Một kiếp hồng trần!...

Bùi Nghiệp.

VỀ MỤC LỤC
TÔI  ĐI  HỌC KINH  THÁNH

 

Để trả lời cho câu hỏi “động lực nào đã thúc đẩy tôi đến với kinh thánh 100 tuần”, tôi đã phải tìm vào thanh vắng mới có thể  không rơi vào những luồng suy tư rất dễ gây cho nội tâm mình giao động méo mó vì  thời gian chưa đủ để khẳng định một chiều sâu tâm hồn. Hơn nữa câu hỏi này cũng cần phải được trải nghiệm bằng những chứng từ giúp cho lời xác quyết của mình luôn bền vững và chân thật bằng những hành  động rõ rệt và minh bạch . Chính những nguyên nhân cần thiết như thế mà tôi đã phải hồi tâm để ghi  nhận “tôi đi tìm “Lời sự sống“ để “được sống dồi dào”.      

Thánh Gioan thánh sử , khi mở dầu các thư, đã tuyên bố rất sảng khoái và đã làm tôi phải ngưỡng mộ vì  đấy chính là cảm nghiệm của chính tôi.                    

      “Điều chúng tôi đã nghe ,    

      Điều chúng tôi đã thấy tận mắt

      Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng

      Và tay chúng tôi đã chạm đến

      Đó là Lời sự sống. (1 Ga 1,1)

Để sống được cái cảm nghiệm sâu lắng này, cuộc sống tâm linh của tôi đã trải qua biết bao thăng trầm vì bị lệ thuộc vào những sự thế gian dến nỗi cay đắng bầm dập bởi cái thân xác quá ư  là vấp phạm, bởi cái hồn cứ phiêu lãng bay theo những khắc khoải phiền muộn của cái lều rệu rã và suy kiệt này. Thời gian trượt dài nhiều vô kể. Nếu tính  đúng và đủ tức bằng với những tháng năm mà Chúa Giêsu hiện hữu nơi trần gian.

Quả là sự kiên nhẫn của Chúa rộng dài và cao sâu. Đủ để nói lên tình yêu kỳ diệu của Ngài đối với riêng tôi khốn nạn. Như thánh Phaolô đã phải cảm tạ:”Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác này? Tạ ơn Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chung ta! (Rm 7,24 – 25). Đúng thế nhờ vào ơn của Thiên Chúa mà tôi đã đến được với Lời Chúa nơi Tin Mừng của Ngài. Và rồi với thời gian miệt mài kiên trì  mỗi ngày Lời Chúa thấm vào hồn tôi dân tôi đi dần vào lòng mến của Ngài và biến đổi  trái tim tôi không còn chai đá nữa mà biết rung động theo từng tiếng nói âm vang nơi sâu thẳm của lòng minh, theo từng nhịp chân rảo bước nơi những trang sách Tin Mừng, theo từng giây phút ngất ngây chiêm ngắm Ngài khi con tim đã suy sụp trước tình yêu vạn năng của Ngài. Và như chạm tay vào thân xác Thần Linh của Ngài khi nài van Ngài giải thoát đời sống trần tục đã quá ư  suy thoái để thay vào đó sức mạnh Thần Khí Thánh Phục Sinh Vinh Hiển của Ngài. Lời sự sống đã phục sinh tôi và đã cho tôi sống trong ân sủng tuyệt vời cuả Ngài. Ngài đã đến dùng bữa với tôi mọi ngày từ thưa thớt đến đậm đặc hầu như chúng ngập tràn hồn tôi khi tôi bừng mắt cho một ngày mới.

Cho đến khi thầy Nội cho biết có một lớp học Thánh Kinh 100 tuần, tôi đã bừng lên một khao khát được sống dồi dào hơn nữa để có thể lan toả sức sống Đức Kitô sang người khác. Nhưng hỡi ơi ….! Và rồi, với sự khao khát quá đỗi vượt xa cái thân xác tàn lụi này nên Chúa đã dọn sẵn cho tôi một chiếc giường hai bánh cùng với một người bạn tương đông với tôi để rồi anh ta khiêng tôi đến bằng chiếc xe “ hay vòi tiền”. Nhưng bất chấp đường dài trên 20 km miễn sao tôi được ở ngay trước mặt Chúa Giêsu hiện diện trong cộng đoàn cầu nguyện và dù có phải bị gỡ dăm ba miếng da trên cơ thể đã héo úa do trên đường có quá nhiều xe cộ.

Với sự cố gắng kiên trì  không ngơi nghỉ này tôi đã được Ngài cho sống dồi dào hơn nữa, không chỉ cho riêng tôi mà cảm tạ ơn Chúa đã lan sang được người khác và tôi đã thấy hiệu quả sau những tháng ngày miệt mài cùng vơi anh chị em trong nhóm của tôi.

Số là sau những buổi chia sẻ về cuộc sống gắn bó với từng nhịp sống của các ngôn sứ nhất là Gêrêmia đã phải chất vất hạch sách Chúa về số phận hẩm hiu cô quạnh của mình. Từ những lần chia sẻ và cầu nguyện này, anh chị em trong nhóm  đã mở lòng ra trước những số phận kém may mắn mà tôi đã gặp trên đường hoạt động tông đồ cũng như anh chị em đã bao bọc chở che cho chính tôi bằng thăm viếng đóng góp rất chân thành và rất sống động bởi nó đi sâu vào tâm hồn  và trái  tim của những ngươi khốn khổ để có được niềm vui trong Chúa. Như thánh Phaolô nói với cộng đoàn Philippê:

“Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã đến gần. Anh em đừng lo lắng gi cả.” (Pl 4, 4-5a).

Và tôi ó thể mượn lời ngôn sứ Gêrêmia để nói lên tâm tình cháy bỏng của chính mình: “ Lời Ngài cứ như lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến hao mòn nhưng làm sao nén được! (Gr 20, 9b)

      Chúa ơi! Chúa là tất cả!

      Deus meus et omnia ! Amen.

Saigon, Mùa Vọng 2006.

Phêrô Vũ văn Quí (lớp Kinh Thánh 100 tuần)

peterquivu@gmail.com

VỀ MỤC LỤC

SỐNG ĐỨC TIN (Chuyện Bốn con búp-bê…)

 

Hôm ấy, , tôi đã trải qua một giấc mơ êm dịu.

 

Trước mặt tôi, từ trên cao rơi xuống bốn con búp bê hoàn toàn giống nhau, trong mọi chi tiết. Mỗi con đều có mũ đỏ, áo trắng, quần xanh, đôi dép màu vàng mặt trời. Bỗng có một tiếng nói từ trên vọng xuống:

 

“Này con, hãy phân biệt cho bằng được cái gì làm nên nét khác biệt cơ bản, giữa bốn con búp bê ở trước mặt con.”

 

Tôi có sáng kiến đi ra vườn, kiếm một cọng cỏ vừa dài, vừa dai, vừa dẻo.

Rồi tôi đút cọng cỏ vào lỗ tai của con búp bê thứ nhất. Tôi nhích, nhích, và tiếp tục nhích…  Cọng cỏ  thoát ra khỏi lỗ tai phía bên kia.

 

Tôi cũng làm như thế với con búp bê thứ hai. Lần này cọng cỏ thoát ra khỏi lỗ miệng của nó.

 

Với con thứ ba, cọng cỏ đi xuống quả tim , bị bế tắc và dừng lại ở đó. Với con sau cùng, tôi nhích lui nhích tới cọng cỏ, một cách rất tế vi và ý nhị. Tức thì, quả tim nó bắt đầu thổn thức, phập phồng.

 

Tôi tiếp tục nhích thêm. Đôi mắt nó loé sáng, như hai đốm lửa.

 

Tôi vẫn tiếp tục nhích cọng cỏ. Hai tay búp bê bắt đầu cử động. Đôi chân di chuyển về phía trước. Con búp bê đứng dậy, bước tới. Nó Làm Người.

 

Nếu tôi được phép đem cọng cỏ nhích vào tai người Kitô-hữu đang lắng nghe Lời Chúa, họ sẽ đáp ứng làm sao … giống như con búp bê nào, trong bốn con trên đây ?

 

Nguyễn văn Thành, Lausanne


VỀ MỤC LỤC
BẢNG KIỂM TRA TÌNH YÊU

 

Một phụ nữ tên là Thảo đã dùng mấy câu trong 1Corintô 13 để giúp mình đối phó với những xung khắc trong đời sống Gia đình.

Chị gọi các câu từ 4 đến 7 là “Bảng Kiểm Tra Tình Yêu” và dùng nó để đối chiếu khi cơn giận hờn, nóng nẩy nổi dậy trong lòng.

Thảo cho thí dụ về cách chị dùng bảng kiểm tra này. Một sáng nọ chị đi chợ mua lặt vặt rồi thăm bố mẹ, trước khi cùng với Gia đình đi nghỉ mát. Chồng chị là anh Dũng ở nhà trông chừng các con và chuẩn bị sẵn hành lý để rời nhà vào sáng sớm. Lúc về đến nhà, chị thấy chồng đã bỏ nguyên buổi chiều để lo rửa và đánh bóng xe của anh, chứ không lo chuẩn bị đồ đạc cho chuyến đi.!

Thảo tức giận và nói năng nặng lời với Dũng, vài phút sau, những lời trong bảng Kiểm Tra Tình Yêu nhắc nhở tâm trí chị như sau:

“Đức mến thì nhẫn nhục hiền hậu, không ghen tương, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác; nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến thì tha thứ tất cả,, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.   (1 Cor 13, 4-7)

Sau đó vài phút, chị im lặng cầu nguyện, và gặp gỡ Chúa xong, chị liền xin lỗi chồng về cơn giận bộc phát vừa qua. Anh nói anh cũng có lỗi, rồi họ vui vẻ rời nhà đi nghỉ mát, tuy trễ giờ dăm phút.

Phần lớn chuyện bé xé ra to, nếu vợ chồng không có đạo đức nhân bản, bình tĩnh trước mọi trái ý, không có căn bản Lời Chúa để dẫn dắt mình trong mọi tư tưởng và hành động, bạn sẽ dễ phản ứng theo bản năng tự nhiên theo xác thịt con người. Anh chị Thảo và Dũng nhờ biết bình tâm cầu nguyện, nói năng với Chúa, xin lỗi và nhận lỗi nhau trong 5 phút như vậy là vì anh chị có tham gia Nhóm Cầu Nguyện và chia sẻ Kinh Thánh trong Giáo xứ rất đều đặn từ lâu.

Ngày nay, biết bao Gia đình tan nát vì những chuyện nhỏ, rồi dần dần ma quỉ cám dỗ, làm gia đình phải ly thân, ly di. Bạn và tôi quyết tâm không để những những lỗi lầm nhỏ làm tan vỡ gia đình, không giữ đạo hình thức, chiếu lệ, đi lễ ngày Chúa nhật cho qua lần, nhưng hàng tuần biết làm theo Lời Chúa và Cầu nguyện chung với nhau.

Phó tế: GB Nguyễn Văn Định  *  johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
CÁI CẦN HỌC

 

Ông chú họ tôi năm nay đã 94 tuổi nhưng ông vẫn còn đi lại và tự lo lấy cho mình những nhu cầu cá nhân. Chân đã hơi yếu, ông phải dùng cây gậy để thân người được thăng bằng. Thể lí thì thế nhưng tinh thần ông còn minh mẫn, sáng suốt ít ai bì kịp.

Cách đây ít bữa, tôi gặp ông, sau tuần trà, tôi hỏi:

“Hôm nay chú có gì nhắn nhủ cháu không?”

Ông vuốt chòm râu bạc trắng như cước, cười tươi:

“Anh nhà văn, nhà báo, đọc sách là đủ quá, anh cần lời lẽ của chú làm gì!”

“Không chú ạ, Sách báo là một đàng. Cổ nhân nói:”Tận tín ư thư bất như vô thư” * đấy sao? Chú cứ nói những gì chú đang có trong đầu cho cháu nghe!”

Ông cụ nâng tách trà mạn sen từ Việt Nam gửi sang nhấp một ngụm, nói:

“Ừ thì nói. Nhiều việc để nói lắm nhưng anh đã bảo chỉ những gì đang ở trong óc. Đây nhé, có nhiều người, cái đáng học chẳng học, cái không đáng học lại học. Cái đáng kĩ thì làm dối, cái có thể dối thì làm kĩ. Khổ là ở chỗ đó!”

Tôi cũng lại nâng tách trà:

“Xin chú cho nghe!”

Ông cụ đằng hắng, trầm ngâm môt chút rồi thong thả:

“Cái đáng học đi kèm cái không đáng học là:

- Tập làm con người chân thật; không dối trá, gian lận. Có nói có, không nói không, thành thực với chính mình và thành thực với người. Địa vị cao, chức tước lớn càng phải làm gương về đức thành thật. Thành thật đẻ ra tín nhiệm. Người đánh mất sự tín nhiệm thì giống như kẻ đi buôn luôn luôn lỗ vốn. Sản xuất một món hàng, phân lời đã định, không thể làm tốt lúc đầu rồi thấy có  khách, quay ra gian dối. Thí dụ người sản xuất nước mắm, nước tương khi đã có khách, cứ thế cho thêm muối, nước lạnh vào để có lời nhiều. Gian dối thế, ở trong nước biết ra người ta không mua nữa mà ra ngoại quốc, bị mất tín nhiệm một lần thì coi như xóa tên. Làm quan, nói dối dân một lần thì dân không tin nữa, lần sau nói vô hiệu quả.

Vì vậy, học làm người trước nhất là học sự thành thật.

-  Nâng câu “kỉ sở bất dục vật thi ư nhân và kỉ sở dục giả khả thi ư nhân”* lên hàng phương châm của cuộc sống. Tại sao những chuyện khốn khổ khốn nạn mình ghét cay ghét đắng lại cứ quàng lên cổ thiên hạ và những gì mình muốn người khác làm cho mình thì mình hà tiện với người xung quanh?

-  Tập yêu đồng bào mình vì cùng nòi giống chứ sao lại đi yêu người khác giống, xun xoe với họ còn người mình thì hạnh hoẹ, hạch xách? Anh có thấy một ông thẩm phán Việt ở trên nước Mỹ này, thấy Mỹ thì xun xoe nịnh bợ nhưng với người đồng hương thì hạnh họe, quát tháo ra oai. Người Việt hình như đã có căn bệnh từ xa xưa, khúm núm với ngoại quốc, bất biết ngoại quốc là Pháp, Tàu, Nhật, Mỹ, Anh, Nga, Thụy điển... nhưng rất coi thường đồng hương. Phải bỏ cái tật đó và làm ngược lại. Với ngoại quốc, ta lễ độ, nhã nhặn nhưng không cúi luồn, xu nịnh. Với đồng hương ta tương thân tương ái, giúp đỡ khi đồng hương cần mình.

-   Tập yêu nước hơn nữa, yêu giống nòi hơn nữa, yêu tiếng Việt hơn nữa chứ không như một số ít gia đình Việt ở đây cấm con nói tiếng Việt mà chỉ cho nói tiếng Anh.

-  Tập cho con trẻ thương kính người già, người tàn tật, giúp đỡ kẻ bệnh hoạn nghĩa là có từ tâm, có lòng bác ái thực sự. Đừng tập cho con nít sống ích kỉ, đòi cái này, xin cái nọ  như một số trẻ Mỹ, sau này chúng quen thói chỉ biết chính chúng không lí đến ai, ngay cả cha mẹ.

-  Tập cho con trẻ chăm chỉ học hành, lương thiện trong các kì thi. Muốn vậy, người lớn phải làm gương trước. Các hãng xưởng thử tay nghề, tài học khi mướn, không căn cứ vào cấp bằng. Những sai phạm phải được xét xử công minh.

- Người đối xử với người cần tử tế làm phương châm, không tìm cách hại người, không ỷ vào quyền thế hãm hại, bắt nạt người. Ngôn hành phải hợp nhất.

-  Con cái phải học kĩ đạo hiếu với cha mẹ, ông bà; đúng đạo cháu với chú bác cô dì, hòa thuận với anh chị em. Người không có hiếu đễ là người bỏ đi, không xứng đáng được gọi là người.

-  Theo tôn giáo nào cũng là tùy theo ý thích cá nhân nhưng phải ăn ở xứng đáng là người có đạo, hiểu đạo, không làm ố danh đạo. Đạo dạy ăn ngay ở lành, cấm nói dối, cấm tà dâm, cấm giết và làm hại người, cấm lấy của người. Phải  thờ phụng đấng Chí Tôn, noi gương Ngài để hoàn hảo mãi lên.

-  Trẻ con phải học trí, đức, thể dục bài trừ nói dối, bài trừ chửi tục, hỗn láo, bài trừ học thói mánh mung, du côn du kề. Ngày xưa nói tục bị phạt, bị quì. Hỗn láo với thầy cô bị phạt, học sinh bị đánh bằng roi. Ngày nay học trò bỏ hẳn cái “tiên học lễ”. Khá sao được?

- Phụ nữ học siêng năng, đạo hạnh, nết na không học thói chua ngoa, lăng loàn, không học thói nhảy đầm ăn chơi, cờ bạc, đua đòi, se sua.

-  Đàn ông học mở mang trí óc, học võ nghệ, học hướng dẫn thiếu niên phụng sự gia đình và tổ quốc, trở thành những trang thanh niên xây dựng quốc gia dân tộc, biết ghét cái ác, biết phù điều thiện, noi gương những bậc anh hùng từ ngàn xưa để giữ nước, dựng nước.

CÓ NHỮNG CÁI KHÔNG ĐÁNG KĨ THÌ LẠI KĨ – CÓ NHỮNG CÁI ĐÁNG KĨ THÌ LÀM DỐI.

Chú biết một ông Cao học người Việt ở thành phố chú ở, máng một cái áo sơ-mi vào mắc, ông ta phải cài đủ 6 cái nút. Nhưng khi làm những việc khác, ông ta rất dối, thí dụ rửa rau trái để ăn, chỉ rửa qua quít, tay chân đang dơ bẩn cũng cầm ổ bánh mì nhai...Chú biết được vì chú chứng kiến và do người nhà kể lại. Đó chỉ là thí dụ những cái đáng kĩ và những cái không đáng kĩ nhưng nhiều người mắc phải. Nhiều người khác thì:

- Đáng uống ít rượu nhưng uống kĩ quá, say, lái xe phóng bừa, làm chết người, chết mình.

- Đáng kĩ theo luật giao thông nhưng quá dối nên đi tràn, bị phạt, gây tai nạn.

-  Đáng phải làm kĩ con đường theo điều kiện sách, xi-măng bao nhiêu, đá bao nhiêu, sắt bao nhiêu nhưng làm dối để ăn kĩ phần lời, đường mau hư, ổ voi, ổ gà, tai nạn xẩy ra.

-  Đáng phải xem xét công việc cho kĩ thì lại làm qua loa, tắc trách, gây phản ứng phụ.

-  Đáng phải coi sóc vợ con thì lại bỏ thí đi săn sóc những bạn rượu, bạn hút.

-  Đáng phải học kĩ để đi thi thì lại học dối rồi mua phao, mua đề, gian lận thi cử.

-  Người có chức có quyền là công bộc của dân đáng lẽ giúp đỡ kĩ người dân thì lại làm dối, đáng lẽ xuề xòa nhiều chuyện thì lại làm kĩ.

-  Đáng phải học làm một con người thì lại lơ là chểnh mảng, chỉ học ăn chơi hưởng thụ và tìm mọi cách dù không hợp pháp để làm tiền.

-  Còn nhiều cái khác đáng kĩ không kĩ, không đáng kĩ thì lại kĩ, đáng học không học, không đáng học lại học không thể kể hết ở đây.

“Thưa chú,” tôi tiếp lời, “thế chú bảo phải làm sao?”

Ông cụ ngưng một lát để thở vì đã nói quá nhiều, xong bảo:

“Mỗi ngày lấy cái gương ra soi ít nhất một lần, nhìn vào đó 5 phút và tự hỏi:”Cái con người này phải cải thiện như thế nào?” Tự nhiên tìm ra lời giải đáp.

 

Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC 

       * Hoàn toàn tin tưởng vào sách chẳng thà không có sách.

       * Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người.  Điều gì mình muốn, hãy làm cho người.

VỀ MỤC LỤC
NHƯ MỘT KẾT LUẬN : SỐNG ĐẠO

  

Trên một chuyến xe đò, tôi được nghe một mẩu tâm sự vụn của mấy bà ngồi ở hàng ghế sau.

Bà thì bảo :

- Đàn ông bây giờ ghê gớm lắm, không kiểm soát không được, hở ra một tí là vợ nọ con kia.

Bà thì nói :

- Rõ ràng biết ông xã có bồ nhí, làm tới thì tan hoang cửa nhà, còn cắn răng chịu vậy thì ấm ức trong lòng…

Cuối cùng một bà phát biểu :

- Chỉ có mấy bà Công Giáo là sướng. Đạo họ dạy chỉ được phép một vợ một chồng và phải trung thành với nhau cho đến chết.

Nghe lời phát biểu này, tôi cảm thấy hãnh diện bởi vì hôn nhân Công Giáo đã là một điểm sáng khiến cho nhiều người phải thán phục.

Tuy nhiên, không ít lần chúng ta được nghe những lời phê bình :

- Có đạo mà cũng như thế à ?

Nhất là khi những chuyện bể hụi, quỵt nợ xảy ra trong một xứ đạo, người ta đã phải ngao ngán thốt lên :

- Tin đạo chứ đừng tin kẻ có đạo.

Chúng ta là những người có đạo, thế nhưng chúng ta đã sống đạo hay chưa ? Chúng ta là những người tin Chúa, thế nhưng chúng ta đã bước đi trên con đường của Chúa, đã thực thi những điều Ngài truyền dạy hay chưa ?

NHỮNG QUAN NIỆM BẤT ỔN.

Nhìn vào cuộc sống người Kitô hữu, chúng ta ghi nhận được những quan niệm bất ổn về việc sống đao như sau :

Có những người cho rằng sống đạo là tuân giữ những lằn mức tối thiểu mà lề luật đòi buộc, chẳng hạn : mỗi năm xưng tội rước lễ ít là một lần, mỗi tuần đi xem lễ ít là một lần vào ngày Chúa nhật… Làm nhiều quá, giữ nhiều quá, e rằng tốn sức lao động và không chừng lên thiên đàng cả giường lẫn chiếu.

Có những người chia ngày sống của mình thánh những ô, những ngăn nhỏ. Ngăn làm việc, ngăn ăn uống, ngăn ngủ nghỉ, ngăn giải trí và ngăn… đạo đức. Những ngăn này hoàn toàn biệt lập và không ảnh hưởng gì đến nhau. Chẳng hạn ở nhà thờ, họ ăn năn khóc lóc sụt sùi đến rơi cả nước mắt, thế nhưng một khi bước xuống cuộc đời, họ lại vội vã gian tham và độc ác. Trong nhà thờ họ là những con chiên ngoan, những giữa lòng cuộc đời họ lại là một loài sói dữ.

Và sau cùng có những người cho rằng : việc sống đạo hệ tại những tổ chức bên ngoài, như rước kiệu, dâng hoa, hội ca… Nếu không có những tổ chức bên ngoài và nặng phần trình diễn này, thì họ coi như đạo đã …chết. Vì thế đức tin của họ thật nông cạn, hời hợt và mang tính cách tình cảm, như một ngôi nhà không có nền móng, sẽ dễ dàng sụp đổ. Họ rất ngại và nhiều khi chẳng biết cầu nguyện, suy gẫm…là như thế nào ?

QUAN NIỆM ĐÍCH THỰC.

Vây đối với chúng ta sống đạo, sống đức tin là gì ? Như chúng ta đã biết, đối tượng đức tin của chúng ta không phải là một mớ những tín điều phải chấp nhận, cũng không phải là một mớ những giới luật phải tuân giữ.

Đối tượng của đức tin chính là Đức Kitô, Đấng đã yêu thương chúng ta và đã nộp mình chịu chết vì chúng ta. Bởi đó, sống đức tin trước hết là sống gắn bó mật thiết với Đức Kitô qua tâm tình cầu nguyện.

Thực vậy, như hai người yêu thương nhau, luôn tìm mọi cơ hội để gặp gỡ nhau. Còn nếu không gặp gỡ nhau được, họ sẽ luôn tưởng nhớ đến nhau, lúc nào hình ảnh người mình thương cũng như canh cánh bên lòng.

Với chúng ta cũng vậy : gặp gỡ Chúa, tưởng nhớ đến Chúa là gì, nếu không phải là sống tinh thần cầu nguyện.

Thế nhưng cầu nguyện mà thôi chưa đủ, điều quan trọng và cần thiết trong việc sống đạo, sống đức tin của mình, còn là thực thi những điều Ngài truyền dạy.

Đây là điều Chúa luôn đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta :

- Không phải những ai nói rằng lạy Chúa tôi mà vào được Nước Trời, nhưng là những người tuân giữ những điều Ta truyền dạy.

Đồng thời đây cũng là điều dễ hiểu. Khi hai người yêu thương nhau, họ sẽ làm mọi việc để cho người kia được hài lòng.

Còn chúng ta, nếu thực sự kính mến Chúa, chúng ta cũng phải làm cho Ngài được hài lòng qua việc tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, hay nói một cách đơn giản hơn, chúng ta phải sống lời Chúa.

LÝ DO PHẢI SỐNG ĐẠO.

Sở dĩ chúng ta phải sống đạo, sống đức tin như thế bởi vì chúng ta là Kitô hữu, là môn đệ của Chúa.

Trước hết, người môn đệ muốn được tiến bộ thì phải tuân giữ những lời giảng dạy của Thày mình. Cũng vậy, muốn tiến bộ trong đường thiêng liêng, muốn đạt tới mục đích cuối cùng là niềm hạnh phúc Nước Trời, chúng ta phải thực thi những điều Chúa truyền dạy, chúng ta phải đi trên con đường Chúa đã chỉ vẽ.

Ngoài ra, là người môn đệ của Chúa, chúng ta cũng mong mỏi sao cho Thày mình được nhiều người biết đến… Chính việc sống đạo, sống đức tin sẽ làm cho chúng ta trở lên những chứng nhân sống động cho Chúa giữa lòng cuộc đời.

Và hơn thế nữa, cuộc sống gương mẫu của chúng ta sẽ là một bài giảng hùng hồn có sức lôi cuốn người khác đến cùng Chúa. Như tục ngữ đã bảo : Lời nói như gió lung lay, việc làm như tay lội kéo.

 Đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương sẽ biến chúng ta trở nên như muối mặn ướp cho trần gian khỏi ươn thối, trở nên như dúm men làm khiến cả môi trường được dậy lên vẻ thánh thiện, trở nên như ánh sáng xóa tan bóng tối trong xã hội chúng ta đang sống.

Tuỵ Hiền

VỀ MỤC LỤC
MƯỜI HAI GIAI ĐOẠN THA THỨ ĐÍCH THỰC

 

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

Thật ngạc nhiên khi nhận thấy rằng những sách tâm lý viết về khả năng trị liệu của tha thứ quá hiếm hoi. Theo sự hiểu biết của tôi, không một trường tâm lý trị liệu nào đã thử cố gắng đưa ra một lời giải thích về tính chất chữa bệnh của sự tha thứ. Hơn nữa, họ chẳng nghĩ đến việc dành cho tha thứ một chỗ trong quan niệm của họ về nhân cách. Làm sao cắt nghĩa sự thiếu sót nầy ? Chắc chắn lỗ hổng nầy đến do khuynh hướng của họ giảm trừ sự tha thứ vào một hoạt động thuần túy có tính cách tôn giáo. Nếu như vậy thì đó là một sai lầm nghiêm trọng, bởi vì như chúng ta đã thấy, tha thứ đụng đến tất cả mọi chiều kích của con người, từ những chiều kích thiêng liêng đến những chiều kích sinh học và tâm lý.

Ngày nay, tha thứ có một tính thời sự rất lớn. Lợi ích gộp lại của nó được phát triển