Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 64, Chúa nhật 04.02.2007


 Các số báo đã phát hành                MỤC LỤC

THAM GlA VÀO CHỨC TƯ TẾ, RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ          (CHRISTIFIDELES LAICI)

TIẾNG AI GỌI ÐÒ                                                                                  Lm. Đỗ Vân Lực, op.

Logo và "Hôm nay“ trong phúc âm theo Thánh Luca                     Lm. Nguyễn Ngọc Long

Phục vụ dẫn tới bình an                                                                              Phùng văn Phụng

TÂM BẤT BIẾN GIỮA DÒNG ĐỜI VẠN BIẾN                            Thuận châu PHAN VĂN KHẢI

Trẻ                                                                                                                   Samuel Ullman

« Nhìn » với Nghìn Con Mắt (Thiên Nhãn)                                         Gs. Nguyễn Văn Thành

MỤC TIÊU ĐỜI SỐNG                                                        Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

NHỮNG MỤC ĐÍCH SAI LẦM CỦA CON TRẺ                                              Lm Lê Văn Quảng

Nhận biết thương tổn và sự nghèo nàn của mình                 Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Khoác lên lòng trong trắng chiếc áo giáp cầu nguyện và hy sinh                 + HY Fx. Nguyễn Văn Thuận

ÔNG KHỦNG BỐ                                                                           Chuyện phiếm của Gã Siêu


THAM GlA VÀO CHỨC TƯ TẾ, RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ

 

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

CHƯƠNG 1

TA LÀ CÂY NHO CÁC CON LÀ CÀNH

Phẩm giá của ngườí Tín Hữu Giáo Dân

Trong Giáo Hội Mầu Nhiệm

THAM GlA VÀO CHỨC TƯ TẾ, RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ

14. Khi nóí với những ngườl đá chịu phép Rửa Tội, Thánh Phêrô Tông Đồ xem họ như "những người con mới sinh", Người viết: "Chúng con hãy lại gần Ngài, Ngài là tảng đá hằng sống, mà loài người loại bỏ nhưng Thiên Chúa đã chọn vì Thiên Chúa đã thẩm định giá trị. Chúng con cũng thế, chúng con hãy trở nên những viên đá sông động dùng để xây dựng Đền Thờ Thiêng Liêng, dâng lên những của lễ thiêng liêng mà Thiên Chúa có thể chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, chính chúng con là dòng dõi dược lựa chọn, và hàng tư tế vương giả, là một dân tộc thánh, một dân thuợc về Thiên Chúa, như thế chúng con có trách nhiệm rao giảng những kỳ vọng của Đấng đã gọi chúng con từ bóng tôí đên ánh sáng lạ lùng của Ngài" (1 Pt. 2:4-5-9)

ĐÓ là một khía cạnh mớí mẻ của ân sủng và của phẩm giá phẻp Rửa Tội. Người tín hữu gíáo dân về phần nêng họ cũng tham gla vào ba chưc vụ cúa Đức Kltô là chức tư tế rao giảng và vương gíả. Đây là khía cạnh mà truyền thống Giáo Hội khống bao giờ lãng quên, như thánh Augustinô đã trình bày khi chú glải Thánh Vịnh 26; "Đavít nhận lãnh nghi lễ xức dầu làm Vua. Trong thời ấy chỉ có Vua và Tư Tế được xức dầu. Hai vị này tiên báo hình ảnh vị Vua Thượng Tế độc nhất - Đức Kitô (tiếng Kitô bởi chữ "Chrisma" có nghĩa là xức dầu). Không chỉ vị thủ lãnh của chúng ta, là thân thể cua Ngài, chúng ta cũng đuợc xức dầu với Ngài... Vì thế mọi Kitô hữu đêu được xưc dầu, trái với thời Cựu Uớc chỉ có hai người được xức dầu. Nêú chúng ta là thân thể Đức Kito, vì tất cả chúng ta được xức dầu trong Ngài và trở thành những Kỉtô, bởi vì đầu và thân thể làm thành một Đửc Kitô toàn vẹn." (19)

Theo đường lốl của Công đồng Vaticanô II,(20) ngay từ khi mới bắt đầu công việc mục vụ, Ta đã lưu ý ca tụng phẩm chức tư tế rao giảng và vương giả của toan dân Thiên Chúa. Ta nói: "Đâng đã sinh ra bởi Trinh Nữ María, Con của bác thợ mộc theo người đời ấy nghĩ tưởng, nhưng là Con Thlên Chúa Hằng Sống như Thánh Phêro tuyên bố, đã đến để làm cho chúng ta tất cả trở nên "một vương quốc lình mục". Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhở cho chúng ta về mầu nhiệm của quyền bính này, và về sứ mệnh của Đưc Kltô là Linh Mục, là Thầy rao gìảng, là Vua vẫn tiếp tục trong Gíao Hôi. Tát cả mọi ngườỉ, toàn dân Thíên Chúa tham gia vào ba sứ mệnh nay" (21)

Với bưc Tông Huấn này, Ta muốn kêu mời một lần nữa tất cả mọi tỉn hữu gỉáo dân đọc lạỉ và suy ngắm, để lãnh hội một cách tường tận và yêu mến say mê giáo huấn súc tích và phong phú của Công Đồng đề cập đến việc họ tham gia vào ba chức vụ của Đức Kitô.(22). Và đây là một tổng hợp những căn bản của giáo huấn ấy.

Các tín hứu giáo dân tham gia vào trách vụ tư tê, đó là trách vụ Chúa Giêsu đã dùng để hiến tế mình trên Thánh Giá và còn tiếp tục hiến tế mình trong nghi lễ Phép Thánh Thể để làm vinh danh Đức Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại. Được ghép vào Đức Giêsu Kitô, những ai đã chịu phép Rửa Tội đều được kết hợp với Ngài bằng việc dâng hiến chính mình và các hoạt động của mình (Rom. 12:l-2). Khi nói đến người tín hữu giáo dân, Công Đồng tuyên bố. "Tât cả những hoạt động của họ, nhữg lời cầu nguyện cũng như các hoạt động tông đồ, đời sông hôn nhân, gia đình, những công việc lao động hằng ngày, cả việc giải trí, tinh thần thể xác, nêú tất cả đều dược hướng dẫn do Thần Linh Thiên Chúa, ngay cả những thử thách của cuộc đời, miễn là chịu đựng một cách nhẫn nại, tất cả trở thành của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô (1 Phêrô.2:5). Trong Thánh Lễ, các của lễ này hiêp với Mình Chúa được dâng lên cho Đức Chúa Cha với tâm hồn sất sắng. Như thế người giáo dân thánh hiến cho Thiên Chúa chính cả trần thê này. Nhờ lòng phụng thờ Chúa khắp mọi nơi bằng một đời sống thánh thiện." (23)

Việc tham gia vào trách vụ rao giảng của Đức Kitô "là Đấng lấy cả cuộc sông mình cũng như lấy sức mạnh của lời nới để tuyên bố vương quốc Chúa Cha", (24) sự tham gia này làm cho người giáo dân có đủ năng-cách và dấn thân để nhận lãnh Phúc âm trong Đức Tin, để rao giảng bằng lời nói và hành động, và để tố cáo một cách bạo dạn không do dự những gì là điều ác. Người tín hữu giáo dân hợp nhất với Đức Kitô "vị Đại Tiên Tri" (Lk. 7.16) và được đặt làm "chứng nhân" của Đức Kitô Phục Sinh trong Chúa Thánh Thần họ trở thành những người tham dự vào ý thức Đức Tin siêu nhiên của Giáo Hội "không thể sai lầm trong Đức Tin" (25) cũng như tham gia vào ân sủng của lời nói (Acts. 2:17-18, Ap. 19:10). Hơn nữa họ được gọi để chiếu sáng sự mới lạ và sức mạnh của Phúc âm trong đời sống thường ngày, trong đời sống gia đình và xã hội của họ, cũng như để diễn tả niềm hy vọng vinh quang "ngay cả trong những cơ cấu của cuộc sống trần thê ' (L.G. 35) với một tâm hồn nhẫn nại và can đảm giữa những khó khăn của thời hiện đại. (26)

Người tín hữu giáo dân thuộc về Đức Kitô là Chúa tể là Vua vũ trụ, nhờ đó họ được tham gia vào trách vụ vương giả của Ngài, và được Ngài kêu gọi để phục vụ và phổ biến Ngài trong hch sử. Họ sống vương quyền Kìtô hữu trước tiên bằng cách chiến đấu để chiến thắng thế gian tội lỗi (Rom 6. 12) ngay trong chính mình họ, rồi hiến dâng mình để phục vụ trong đức bác ái và trong công bằng. Chính Đức Kitô hiện diện trong mọi người anh em, nhất là trong những người thấp hèn nhất (Mt. 25.40).

Nhưng người tín hữu giáo dân được gọi đặc biệt để đem lại cho các tạo vật những giá trị nguyên thủy của nó. Khi hoạt động trong ơn nghĩa Chúa, người giáo dân liên kết mọi thụ tạo vào lợi ích chân thật của con người. Làm như thế, họ được tham gia vào việc thi hành quyền bính của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng đã lôi kéo mọi sự về Ngài, và đặt mọi sự và chính mình dưới quyền Đức Chúa Cha, để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Jn. 12:32, 1Co r. 18: 28.

Sự tham gia của giáo dân vào ba chức vụ của Chúa Giêsu Linh Mục, rao giảng và Vua bắt nguồn từ việc xức dầu của phép Rửa Tội, được phát triển nhờ phép Thêm Sức, được nâng đỡ và kiện toàn trong phép Thánh Thể. Đây là một sự tham gia ban cho mỗi tín hữu giáo dân, nhưng với tư cách là họ tạo thành một thân thể duy nhất của Chúa Kitô. Bởi vì Chúa Giêsu làm cho Giáo Hội được sung túc bằng các ân huệ của mình, vì Giáo Hội là Thân thể và là Hiền thê của Ngài. Như thế mỗi người được tham gia vào ba sứ vụ của Đức Kitô chỉ vì họ là phần thân thể của Giáo Hội, như Thánh Phêrô Tông đồ đã dạy khi gọi những người đã chịu phép rửa tội "là dòng giông được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, là dân tộc thuợc về Thiên Chúa" (1 Pt. 2:9). Và cũng vì nó bắt nguồn từ sự thông hiệp trong Giáo Hội nên việc tham dự của các tín hữu giáo dân vào ba chức vụ của Đức Kitô đòi hỏi phải sống và thực hiện trong sự thông hiệp, và để cho sự thông hiệp ngày càng tăng trưởng. Thánh Augustinô viết: "Cũng như chúng ta tât cả được gọi là Kitô-hữu (Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta là thành phần thân thể ủa Linh Mục duy nhât." (27)

NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN VÀ TÍNH CÁCH TRẦN THẾ

15. Tính chất mới lạ của đời sống Kitô-hữu là nền tảng và tước hiệu của sự bình đẳng giữa tất cả những ai đã chịu phép Rửa Tội trong Đức Kitô, giữa tất cả những thành phần của Dân Chúa: "Phẩm giá của tât cả mọi thành phần đều giống nhau vì mọi thành phần đều cùng được tái sinh trong Đức Kitô; ơn làm nghĩa tử cũng như nhau; mọi người cùng (đêu được kêu gọi đên sự trọn lành, chỉ có một ơn cứu rỗi, một đức cậy trông, một đức ái không phân chia" (28). Nhờ phẩm giá chung do phép Rửa Tội này, người tín hữu giáo dân là người đồng trách nhiệm với tất cả các vị thừa-tác-viên đã được phong chức thánh, với các tu sĩ nam nữ, đối với sứ mệnh của Giáo Hội.

Nhưng phẩm giá chung do phép Rửa Tội nơi người tín hữu giáo dân có một hình thái làm cho họ khác biệt, nhưng không chia cách họ khỏi linh-mục và tu-sĩ nam nứ. Công Đồng Vaticanô II đã diễn tả hình thái này chủ tại trong tính cách trần thế. "tính cách trần thế là đặc tính riêng biệt của giáo dân." (29)

Muốn hiểu rõ một cách đầy đủ vị trí chuyên biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, phải đào sâu tầm mức thần học của tính cách trần thế theo ánh sáng của chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, và mầu nhiệm của Giáo Hội.

Như Đức Phaolô VI quả quyết, Giáo Hội "mang tính chất trần thế chính tông, bẫm sinh trong bản tính thâm sâu và sứ mệnh của mình, gơc rễ nó nằm trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đôí với các thành phần của mình." (30)

Tuy Giáo Hội sống giữa trần thế, mà không thuộc về trán thế (Jn. 17.16). Giáo Hội được sai đi để tiếp nôi công trình Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô; công trình này "chính là lo cứu rỗi con người, nhưng cũng bao gồm việc canh tân những trật tự thế giới." (31)

Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào lãnh vực trần thế của Giáo Hội, nhưng bằng những cách thế khác nhau. Đặc biệt sự tham gia của người giáo dân có một hình thái thực hiện và chức vụ "riêng rẽ và đặc biệt" theo như Công Đồng phân tích. Chính những hình thái này đã được gọi là "tính cách trần thế." (32) Trong thực tế, khi Công Đồng nói về thân thế của các tín hứu giáo dân, thì trước tiên chỉ thân thế ấy như nơi chỗ họ được Thiên Chúa gọi: "Đó là nơi họ được gọi" .(33)  Đó là "nơi" được trình bày với từ ngữ có nghĩa hoạt động, các tín hứu giáo dân "sống giữa đời, nghĩa là dấn thân vào đủ mọi nghĩa vụ và công tác của trần thế, trong những điều kiện thường nhật của đời sống gia đình và xã hội đã tạo nên." (34). Đó là những con người đang sống một đời sống thông thường giữa thế giới, đang học hành, đang làm việc, đang tạo nên những tình bạn, những tương giao xã hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không nhìn thân phận của họ một cách đơn giản do khuôn mẫu những điều kiện và môi trường bên ngoài, nhưng tìm gặp đầy đủ ý nghĩa của nó trong Đức Giêsu Kitô. (35) Công Đồng lại qủa quyết: "Ngôi Lời nhập thể đã muốn đích thân chia xẻ tình liên đới nhân loại. Người thánh hóa những môi liên hệ của con người, nhất là những liên hệ gia đình là ngưồn gốc phát sinh những liên hệ xã hội. Người đã tự nguyện tuân theo luật lệ quốc gia của Người . Người đã muôn sống cuộc sống thợ thuyền với người đương thời trong quê hương mình." (36)

Như vậy, "thế giới ", đã trở nên môi trường và phương thế cho ơn gọi Kitô-hữu của người tín hữu giáo dân, vì chính trần thế được chỉ định để tôn vính Chúa Cha trong Đức Kitô. Với ý nghĩ này, Công Đồng có thể giải thích ý nghĩa nêng tư và đặc biệt ơn gọi của Thiên Chúa muốn kêu mời các tín hữu giáo dân. Họ không phải được kêu gọi để bỏ vị trí của mình giữa thế giới. V phép Rửa Tội không kéo họ ra khỏi thế giới như Thánh Phaolô Tông Đồ đã nhấn mạnh: "Hơĩ; anh chị em, mỗi người hãy ở trươc mặt Chúa, trong vị thế mình đang ở khi được kêu gọi" (1 Cor. 7.24). Trái lại, phép Rửa Tội trao phó cho họ một ơn gọi liên quan mật thiết với tình trạng của họ giữa thế giới. Các tín hữu giáo dân "được gọi, để nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm, họ hành động như men dậy từ bên trong, để thánh hóa thế giới bằng việc thực thi các nhiệm vụ của mình. Như thế họ có thể đem Chúa Kitô đến cho kẻ khác bằng chứng tá của một đời sông sáng chói Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến." (37). Vì Vậy, sống và hành động giữa thế giới đôí với các tín hữu giáo dán, không chỉ là một thực tại nhân-sinh-xã-hội, mà còn là một thực tạí chuyên-biệt-thần-học giữa trần thê. Thiên Chúa muốn biểu lộ ý định của Ngài và thông ban cho họ ơn gọi đặc biệt là "tìm nước Thiên Chúa bằng cách quản lý các thực tại trần thế mà họ phải sắp xếp theo ý Thiên Chúa." (38)

Theo ý hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tuyên bố. "Tính cách trần thế của người tín hữu giáo dân không chỉ được định nghĩa theo quan niệm xã hội, mà theo ý nghĩa thần học. Tính cách trần thế phải hiểu theo ánh sáng của tác động tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Đâng đã trao phó trần thế này cho con người cả nam lẫn nữ để họ tham gia vào việc tạo dựng, dể họ giải thoát thụ tạo khỏi ảnh hưởng của tội lỗi, để họ tự thánh hóa mình trong đối sông hôn nhân hoặc độc thân, trong gia đình, trong chức nghiêp và trong các hoạt động xã hội". (39)

Vị trí của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội được minh định rõ ràng từ gốc rễ, bắt nguồn từ những mới lạ của đời sống Kitô-hữu và đặc tính trần thế của nó. (40)

Các hình ảnh trong Phúc âm nói về muôi mặn, ánh sáng và men bột, mặc dầu có ý nói về tất cả mọi tín đồ của Đức Giêsu , nhưng áp dụng cách nêng cho người tín hữu giáo dân. Đó là những hình ảnh mang nặng ý nghĩa tuyệt vời, bởi vì không những nó diễn tả việc hội nhập sâu xa và tham gia toàn diện của các người tín hữu giáo dân trên mặt đất, vào sự sống của thế giới, của cộng đồng nhân loại, nhưng nhất là nói lên nét mới mẻ và độc đáo của một sự hội nhập và tham gia để phổ biến Tin Mừng Cứu Độ.

ĐUỢC KÊU GỌl ĐỂ NÊN THÁNH

16. Chúng ta sẽ thấy rõ ràng trọn vẹn phẩm giá của người tín hữu giáo dân nếu chúng ta khảo sát ơn gọi đầu tiên và căn bản mà Chúa Cha kêu mời mỗi người trong Đức Giêsu Kitô qua trung gian của Chúa Thánh Thần: ơn gọi nên Thánh nghĩa là ơn gọi đạt đến sự trọn lành của Đức ái. Thánh nhân là người đã sống cuộc đời làm chứng nhân phẩm giá của tín hữu Đức Kitô một cách sáng lạn.

Công Đồng Vaticanô II đã nói rất rõ ràng về ơn gọi mọi người phải nên Thánh. Có thể qủa quyết đó là đường hướng chính đã được vạch ra cho con cái nam nứ của Giáo Hội do Công Đồng, một Công Đồng đã được triệu tập để canh tân đời sống Kitô hữu theo ánh sáng Phúc âm.(41) Đường hướng này không chỉ đơn giản là một lời khích lệ luân lý, nhưng đó là một đòi hỏi mầu nhiệm của Giáo Hội: Giáo Hội là một cây nho được tuyển chọn, nhờ Giáo Hội các cành nho sinh trưởng nhờ nhựa sống của chính Đức Kitô, nhựa sống vừa thánh thiện vừa có sức thánh hóa; Giáo Hội là Nhiệm Thể, các phần thân thể của Giáo Hội thông phần sự sống thánh thiện của đầu là Đức Kitô; Giáo Hội là Hiền thê khả aí của Chúa Giêsu, là Đầng đã hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (Eph. 5. 25). Chúa Thánh Thần là Đấng đã thánh hóa nhân-tính Chúa Giêsu trong lòng Trinh Nứ Maria (Lk. 1:35) thì cũng chính Chúa Thánh Thần ấy cư ngu và hoạt động trong Giáo Hội để thông ban cho Giáo Hội sự thánh thiện của Con Thiên Chúa làm người.

Ngày nay hơn bao giờ hết, mọi người Kitô-hữu phải đi lại con đường canh tân theo tinh thần Phúc âm, đại độ chấp nhận lời mời của vị Tông Đồ "phải nên thánh trong mọi tác phong của mình" (1 Pt. 1:15). Thượng Hội Đồng ngoại lệ năm 1985, hai chục năm sau Công Đồng, đã nhấn mạnh kịp thời về tình trạng khẩn cấp này: "Giáo Hội trong Đức Kitô là mầu nhiệm, vì thế Giáo Hội phải được xem như là dấu chỉ, và phương thế của sự thánh thiện. Các vị Thánh nam, nữ, đã luôn luôn là nguồn gốc canh tân trong Giáo Hội và những giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Giáo Hội. Ngày hôm nay chúng ta cần có những vị Thánh lớn, chúng ta hãy khẩn khoản cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những vị Thánh như vậy." (42)

Mọi người trong Giáo Hội, vì là phần thân thể Giáo Hội, nên nhận được và chia sẻ ơn gọi nên thánh chung của mọi người. Ngườl tín hữu giáo dán được mời gọi nên thánh, và họ có quyền được gọi giống như mọi thành phần khác của Giáo Hội: "Tất cả những ai tin vào Đức Kitô, không phân biêt bậc sống, địa vị, đều được kêu gọi tiên đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của Đức ái" .(43) "Tất cả những tín hữu của Đức Kitô đều được mời gọi và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo địa vị của mình .(44)

Ơn gọi nên thánh bắt ngùôn từ phép Rửa Tội và được các bí tích khác thêm sinh lực, nhất là phép Thánh Thể. Được mặc lấy Chúa Kitô và được hướng dẫn bởl Thánh Linh Ngài, các Kitô hữu là những "thánh nhân" và vì thế, có năng cách để dấn thân hầu biểu lộ sự thánh thiện của hành động mình. Thánh Phaolô Tông ĐỒ luốn luôn khuyến khích các Kỉtô hữu sống "như những vị thanh" (Eph.5. 3).

Sống theo Thảnh Linh đem lại kết qủa là sự thánh thiện (Rom. 6.22, Gal. 5.22). Sự sống này khởi dậy trong tầm hồn mọi ngườl và mỗi ngươi đã chịu phép Rửa Tội, ước muốn và đòi hỏỉ phải theo và bắt chước Đức Giêsu Kitô, bằng cách chấp nhận các Mốt Phúc Thật của Ngài, bằng việc lắng nghe và suy niệm Lờì Chúa, bằng cách tham gia mốt cách ý thức và linh động vào đời sống phụng vụ và bí tích của Gỉáo Hộỉ, bằng việc cầu nguyện cá nhần, trong gia đình hay trong cộng đồng, bằng tâm hồn đói khát sự công chính, bằng việc thực hành giới răn yêu thương trong mọi hoàn cảnh của đời sống, và bằng việc phục vụ anh em, đặc bíệt nhưng người khó hèn, nghèo túng và đau khồ.

Thánh Hóa bản thân giứa thế giới.

17. ơn gọi nên thánh của người tín hữu giáo dán đòi hỏi sống theo tác động của Thánh Linh một cách đặc biệt trong việc hội nhập của họ vao thực tại trần thế, và trong việc tham gia vào các hoat động trần gian. Chính vị Tông Đồ Cả đã khuyên khích chúng ta như vậy: "Những gì chúng ta nóí, những gì chúng ta làm đêu phải thực hiện với danh nghĩa Đức Giêsu Kitô, nhờ Ngài để cảm tạ Thiên Chúa Cha" (Col. 3:17). Áp dụng lời của Thánh Tông Đồ cho tín hữu gíáo dân, Công Đồng qủa quyết một cách cứng rắn: "Họ không được để cho việc gia đình việc trần thế lấn át đời sống thiêng liêng của mình".(45)

Sau Công Đồng, các Nghí Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố. "Sự thống nhất đời sống của người tín hữu giáo dân rất quan trọng: vì họ phải tự thánh hóa trong cuộc sống hằng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội. Để đáp lại ơn gọi của mình, người tín hữu giáo dân phải xem đời sông thường nhật như một cơ hội kêt hiệp với Chúa và thực hiện ý muôn của Ngài, như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô" (46)

Ơn gọi nên thánh phải được người tín hữu giáo dân nhận thức và sống, không phải như một bổn phận đòi hỏi và không thể lẫn tránh, nhưng một dấu chỉ chói sáng của tình yêu vô biên của Chúa Cha là Đấng đã tái sinh họ trong đời sống thánh thiện. Một ơn gọi như thế, trong những điều kiện ấy, phải được định nghĩa như yêú tố căn bản và không thể phân lìa của đởi sống mới do phép Rửa Tội, và vì thế, như một yếu tố cấu tạo nên phẩm giá của họ. Đồng thời, ơn gọi nên thánh lại được líên kết mật thiết với sứ mệnh và trách nhiệm được trao phó cho người tín giáo dân trong Giáo Hội và giữa thế giới. Bởi vì, sự thánh thiện đang sống trong tín hữu phát xuất từ việc tham gia vào đời sống thánh thiện của Giáo Hội, tự nó cũng biểu tượng sự đóng góp tiên khởi và căn bản vào việc xây dựng Giáo Hội như là "việc các thánh thông công". Trước cặp mắt Đức Tin đang mở ra một cảnh tượng lạ lùng: đó là bao nhiêu tín hữu giáo dân, nam và nữ trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày, không ai hay biết tới họ, đôi khi cũng không ai hiểu được họ, các kẻ quyền hành trần thế không đếm xỉa tới họ nhưng Chúa Cha nhìn họ đầy vẻ trìu mến, họ là nhưng người thợ đang mài miệt làm việc t.rong vườn nho của Chúa, là những kẻ thấp hèn nhưng cao sang vì nhờ sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa, họ đang mở rộng Nước Thiên Chúa trong dòng lịch sử.

Phải nhìn nhận sự thánh thiện cũng là nền tảng căn bản và là điều kìện tuyệt đôí không thay thế được để hoàn thành sứ mệnh của Giáo Hội. Chính sự thánh thiện của Giáo Hội là nguồn gốc sâu nhiệm và là mực thước không sai lầm của hoạt động tông đồ, và nghị lực truyền giáo của Giáo hội. Giáo hội Hìên thê của Đức Kitô càng được Ngàì yêu mến và đáp lạỉ Tình yêu Ngài bao nhiêu, thì Giáo Hội càng trở nên người Mẹ phong phú trong Thánh Linh bấy nhiêu.

Một lần nữa, chúng ta hãy lấy lại hình ảnh của Thánh Kính: sự sinh trưởng của cành nho tùy thuộc vào việc kết hơp với cây nho: "Cũng như cành nho không tụ nó sinh hoa kêt qủa nếu nó khồng ở trong cây nho, cũng thế chúng con sẽ không đem lại hoa trái nêú chúng con không ở trong Thầy, Thầy là Cây Nho, chúng con là cành. Aí ở trong Thầy và Thầy ở trong ngươì ấy, họ sẽ mang lại nhiều hoa trái, bởi vì, ngoài Thầy, chúng con không làm gì được" (Jn. 15. 4-5).

Ở đây cần phải nhắc lại việc tôn phong chân phúc hay hiển thánh cho các tín hữu nam, nữ trong thởi gian Thượng Hội Đồng. Toàn dân Thiên Chúa, nhất là các tín hữu gìáo dân có thể tìm ở họ, những vị mô phạm mới cho việc nên thánh, những chứng nhân mới của các nhân đức anh hùng, được thực hiện trong những hoàn cảnh thông thường hằng ngày. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quả quyết: "Các Gián Hội địa phương nhất là các Gíáo Hộỉ trẻ trung phải lưu ý tìm xem trong con cái mình, những giáo dân nam nử gìữa những cánh đông như thê (cảnh sống thường nhật ở trần thế và bậc sống vợ chồng) đã sông chứng nhân thánh thiện và có thể trở nên gương mẫu cho người khác, để đề nghị phong Chân Phườc hoặc Hiển Thánh". (47)

Suy nghĩ đên đây, để định vai trò người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, Ta nhớ lại lời kêu mời của Thánh Lêô Cả: "Hỡi người tín hữu hãy nhận chân phẩm giá của mình" (48). Đó cũng là điều mà Thánh Maxime, Giám Mục thành Turin nói với những người đã chịu phép Rửa Tội: "Anh em hãy nhìn nhận vình dự anh em đã được trong mầu nhiệm này". (49) Tất cả những ai đã chịu phép Rửa Tội đêu được mời gọi lắng nghe một lần nữa những lời của Thánh Augustinô: "Chúng ta hãy vui mừng và tạ ơn: Không những chúng ta đã được trở nên những Kitô-hữu, mà là trở nên Chúa Kitô... Chúng ta hãy vui sướng hân hoan, chúng ta đã trở nên Chúa Kitô!" (50)

Phẩm giá người Kitô hữu, nguồn phát sinh sự bình đẳng của mọi thành phần Giáo Hội, bảo đảm và cổ võ tinh thần hiệp thông và huynh đệ, và đồng thời trở nên nguồn sức mạnh âm thầm của nghị lực tông đồ truyền giáo của người tín hữu giáo dân. Tuy nhiên là một phẩm giá đòi hỏi nhiều tước vị khác nhau của những người thợ được Chúa gọi vào làm vườn nho của Ngài, Công Đồng nói: "Bởi vậy, nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tđi tât cả mọi người, ở mọi nơi và mọi thời đại ". (51)

CHÚ THÍCH

19- Thánh Augustinô - Ennar-in PS XXVI, II,2.

20- Xem Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 10.

21- Gioan-Phaolô II - Bài giảng ngày nhậm chức Giáo Hoàng (22-10-1978)- AAS 70 (1978) 946.

22- Xem lại giáo huấn này trong Instrumentum laboris "ơn gọi và sứ mạng...", số 25.

23- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 34.

24- tld - 35     25- tld - 12    26- tld - 35

27- Thánh Augustinô - De Civitate Dei - XX, 10.

28- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 32.      29- tld - 31

30- Phaolô VI . Bài giảng trước các Bề trên và Hội viên của các Tu hội đời (02-02-1972). AAS. 64 (1972) 208.

31- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuasitatem, 5.

32- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 31.   33- tld - 31  34- tld - 31 

35- Xem tld 48.   36- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, số 32.

37- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 31.  38- tld -  39- Propositio, 4.

40- "Là thành phần của Dân Chúa và Thân thể Mâu nhiệm, qua Bí tích Thánh tẩy tham dự vào ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả của Chúa Kitô, gìáo dân diễn tả và thể hiện những kho tàng của phẩm giá đó khi sống giữa trần thế. Đôí với những ai có chức thừa tác vụ được phong chức thánh, đó là một phận vu bổ sung hoặc đặc biệt khác thường, thì đôí với người giáo dân lại là một sứ mệnh đặc loại của họ, Ơn gọi riêng cửa họ là "tìm Nước Chúa trong việc quản iý thế sự theo ý Chúa" (Lumen Gentium, số 31), (Gioan-Phaolo II  Kinh Truyền tin (15-3-1987, Insegnamenti. X,1 (1957), 566)."

41- Xem Chương V - Hiến chế Lumen Gentium, số 39-42. - "Ơn gọi nên thánh của mọi người trong Giáo hội".

42- Buổi họp lần II Thượng Hội Đồng Giám mục (1985) Relatio finalis II. A,4.

43- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 40.

44- tld - 42 - Những xác quyết của Công đồng, nói lên một cách long trọng và rõ rệt, nhắc lại một chân lý nền tảng của Đức tin Kitô giáo. Chẳng hạn, Đức Piô XI trong Thông điệp Casti Connubii nói với vợ chồng Kitô giáo như sau: "Bất cứ ở hoàn cảnh nào, ở bậc sống nào tùy ý mình chọn, mọi người có thể và phải bắt chước mẫu mực hoàn hảo về sự thánh thiện mà Chúa muốn con người thực hiện, mẫu mực đó là Chúa Giêsu Kitô; và với ơn Chúa giúp họ có thể và phải đạt đến mức sống trọn lành của Kitô giáo, như các Thánh đã làm gương cho chúng ta" AAS - 22 (1980), 548.

45- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 4.         46- Propositio, 5.  

47- Propositio, 8.  48- Thánh Lêo Cả - Bài giảng XXI

49- Thánh Maximô - Luận giải III về Bí tích Rửa tội.

50- Thánh Augustinô - Luận giải về Phúc âm Thánh Gioan - 21,8.

51- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium, số 33.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
TIẾNG AI GỌI ÐÒ

Phúc Âm Nhật Ký  28.01.2007

(Lc 4:21-30)

Sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), Việt nam đang cần những bước tiến mới và những giây phút nhìn sâu hơn vào nội tâm.  Ðứng ở bên này bờ sông Cửu Long hay biển Thái Bình, ông Lý Quang Diệu lấy ngón tay chỉ sang bờ bên kia và nói với các nhà lãnh đạo Việt nam : “Giai đoạn đuổi theo sẽ tiếp tục trong 20, 30, 40 năm nữa để bắt kịp, ví dụ như Malaysia.”  Theo thống kê IMFnăm 2005, hàng năm thu nhập đầu người của Malaysia là 5042 Mỹ kim, Thái Lan 2659, Việt nam 618, và Singapore 26.836.  Một thời gian dài hơn trăm năm có đủ cho Việt nam bắt kịp Singapore không ?  Nguyên nhân nào khiến Việt nam tụt hậu quá mức như vậy ?   Theo ông, tại Việt Nam cơ sở hạ tầng kém, tiêu chuẩn giáo dục thấp, chương trình đại học và các trường kỹ thuật không cập nhật.[i]   Những nhận xét đó có làm các nhà lãnh đạo Việt nam giật mình như tưởng “tiếng ai gọi đò” không ?  Tiếng ai gọi đò đã vang rộn cả bến đò từ lâu rồi.  Nhưng khách sang sông vẫn cứ “lui cui” ở mãi bên này bờ sông. 

Tình trạng đất nước như thế, còn GHVN ra sao ?  Có ai dám đưa nhận xét gì không ?  Nhận xét rồi, có ai lắng nghe không ?  Hôm nay, không phải cô lái đò, nhưng Chúa đang lên tiếng kêu gọi mọi người hãy nhìn sang bên kia bờ đại dương và hãy mạnh dạn lên thuyền với Thày !  Không sang sông, không thể thấy lòng mình mở ra trước những hoa thơm cỏ lạ nơi bờ bên kia. 

Ngày xưa, những người đồng hương với Ðức Giêsu cũng thế.  Họ quanh quẩn trong “lũy tre xanh” làng Nadarét.  Hình ảnh “con ông Giuse” (Lc 4:22) với những dụng cụ làm mộc trên tay quá quen thuộc với dân làng.   Ai còn lạ gì anh chàng Giêsu hàng ngày đi hết nhà này sang nhà kia làm mướn kiếm ăn ?  Thế mà, không ngờ khi ra khỏi lũy tre xanh, anh chàng thợ mộc trẻ đó đã lừng danh tận Caphacnaum, một thành phố nổi tiếng giàu sang và trụy lạc, nơi đặt bản doanh nhiều quân lính Rôma.  Bởi tiếng đồn về Người lan rộng khắp đế quốc Rôma.  Ðó là tin đồn.  Thực tế, dân làng đợi dịp gặp Người sẽ trực tiếp kiểm chứng thực hư.  Hôm nay cơ hội đã đến.

Cơ hội đến với dân làng hay đến với Ðức Giêsu ?  Ðúng hơn, đây là cơ hội bằng vàng để Chúa mở mắt và mở lòng cho họ.  Người muốn dùng “gậy ông đập lưng ông,” tức những điển tích về ngôn sứ Êlia và Êlisa, để cảnh tỉnh họ về con đường thênh thang của Thiên Chúa dành cho những ngôn sứ đích thực.  Sống giữa cảnh đói khổ của hàng ngàn người, ngôn sứ Êlia đã vượt qua hàng rào Ítraen đến với bà góa nghèo thành Xarépta miền Xiđôn.  Ông đã làm đầy hũ bột và cứu sống người con trai sắp chết của bà (1 V 17:8-24).  Thừa hưởng “hai phần thần khí” (2 V 2:9) tôn sư Êlia, ngôn sứ Êlisa đã thi thố quyền năng và tình thương của Thiên Chúa cho tướng Naaman, người xứXyri (x. 2 V 5), chứ không cho một người phong cùi nào ở ngay quê hương Ítraen của ông (x. Lc 4: 27).  Ðáng lý hai ông phải cứu sống những người đồng hương trước chứ ! Tại sao lại thi thố tình thương cho người ngoài và phớt lờ trước những đau khổ của đồng bào ?  Thật khó hiểu !

Nhưng, như thế mới rõ vai trò ngôn sứ không lệ thuộc vào biên giới quốc gia hay chủng tộc.  Chúa đã nêu ra hai bằng chứng Kinh thánh để biện minh cho sứ mệnh cứu độ muôn dân của Người.  Không thể căn cứ vào những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày nơi xóm làng để kết luận về một con người như Ðức Giêsu.  Những điều bình thường không không thể biểu lộ hết thực chất con người.  Không tỏ lộ quyền năng nơi xóm làng không có nghĩa là con người không vươn xa hơn lũy tre xanh.  Những việc hai ông làm cho những người ngoại có khác gì những việc Chúa làm ở Caphacnaum ?

Khi mượn hình ảnh hai ông Êlia và Êlisa, Ðức Giêsu muốn tự phác họa về chính mình như một ngôn sứ của thời đại mới với tầm nhìn vượt qua mọi biên cương.  Cũng như hai ông, Ðức Giêsu nhắm tới người dân “tứ chiếng,” không thuộc chủng tộc Ítraen.  Ðó là đối tượng sứ vụ của Người.  Khi thấy dân ngoại hay người xa lạ được ưu ái hơn, đồng hương Người đã lồng lộn ghen tức.  Họ trút cả cơn giận xuống con người Ðức Giêsu (x. Lc 4:28-29), vì không chịu nổi cách cư xử “bất công” của Chúa.  Nhưng thực ra, chính lòng dạ cứng tin của họ là nguyên nhân chính ngăn cản Chúa thi thố quyền năng tại quê hương.

Bởi vậy, dân làng chưa sẵn sàng đón nhận được sứ vụ ngôn sứ hay chính ngôn sứ.  Chưa mở rộng tầm nhìn, làm sao họ có thể thấy những kỳ công nơi vị Ngôn Sứ Giêsu.  Không đón nhận được Ðức Giêsu như Ngôn Sứ, làm sao có thể nhìn nhận Người là Ðấng Cứu Ðộ muôn dân?   Con đường tới đức tin chân chính còn quá dài !  Họ không thể vượt qua nổi !

Ngày nay cũng có những con đường dài như thế !  Con đường đại kết giữa các Kitô hữu chẳng hạn.  Hàng bao thế kỷ, những người cùng tin Chúa Kitô vẫn chưa nhận ra nhau là anh em.  Như thế, làm sao Chúa Kitô có thể hiện diện và xuất hiện với muôn dân ngoài biên giới các giáo hội ?  Có những lúc người ta có cảm tưởng Giáo hội giống như con thuyền trơ vơ giữa dòng vì cô lái đò đi lo chuyện riêng.  Cảnh người ùn tắc bờ sông làm tắc nghẽn mọi sinh hoạt : 

Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.
[ii] 

Khách buồn không thể sang bờ bên kia.  Biết bao thiệt hại chồng chất năm tháng.  Ðáng lý con thuyền đưa người lữ khách sang bến bờ gặp gỡ.   Trong quá khứ, Giáo hội khép kín trong những tin tưởng, lo lắng và bận tâm riêng, mặc những ùn tắc bên ngoài. 

Rất may, từ Công Ðồng Vatican II, con thuyền Giáo hội bắt đầu rời bến.  Bao niềm vui đã rộ lên từ những cuộc đối thoại đại kết.  Nhưng cũng từ đó mới thấy vấn đề không đơn giản và mau lẹ như nhiều người mơ tưởng.  Quả thế, có gặp gỡ mới thấy “đại kết là một tiến trình chậm chạp, một con đường lên dốc, như mọi con đường sám hối.”  Sở dĩ vì “người ta dễ chiều theo cám dỗ thích ‘nghe qua’ chứ không thích ‘chăm chú lắng nghe,’ thích nói những phân nửa các sự thật, thay vì can đảm công bố các sự thật đó.”[iii]  Người ta thích nghe chính mình, chứ không lắng nghe nhau.  Bất cứ ai có ý kiến khác mình đều bị gán cho tội chống đối, phá hoại, gây chia rẽ, xáo trộn v.v.  Chính những giọng điệu này mới gây chia rẽ.  Những ý kiến hay cả niềm tin khác biệt là những lời mời gọi chúng ta cởi mở chấp nhận đối thoại để tìm điểm gặp gỡ hay hiệp nhất.  Hiệp nhất không có nghĩa là bắt người khác phái theo ý mình.  Không chấp nhận ý kiến người khác, chúng ta không thể nhìn thấy hết vấn đề và dễ trở thành độc tài và tự mãn.

Chính vì khép kín lâu đời trong những lâu đài tín lý tráng lệ, Giáo hội đã tự cô lập và chưa quen mở cửa đón nhận hay ra ngoài gặp gỡ những con người sống trong thực tế.  Bằng chứng, sau 40 năm đối thoại đại kết, Giáo hội cũng chưa đạt tới mức tiến bộ nào đáng kể.  Có những giọng nói quá lạ đối với Giáo hội.  ÐGH Bênêđictô phải thú nhận : “Người muốn mù điếc thì dễ gì nhận ra khả năng canh tân nơi Tin Mừng, nắm men Chúa quan phòng ban cho mỗi người chúng ta để sám hối và canh tân tinh thần.”[iv]  Tự bản chất sâu thẳm nhất, Giáo hội duy nhất.  Nếu chia rẽ, Giáo hội không thể hiện hữu.  Ở đâu có sự chia rẽ, nên lấy sự tha thứ và hòa giải mà phục hồi. 

Giữa các Giáo hội, biết bao dư luận không tốt thêu dệt dầy đặc qua bao thế kỷ !  Bao nhiêu nghi kỵ và hiềm khích đã nổi lên trong lòng Giáo hội.  Con đường tìm đến nhau để đánh tan những lớp mây mù đó, đâu phải dễ !   “Tuy nhiên, sau những khó khăn ban đầu con đường đó cũng cho thấy các niềm vui, các chặng dừng chân giải khát cho phép thỉnh thoảng hít thở đầy hai lá phổi không khí trong lành của sự hiệp nhất trọn vẹn.  Nhìn lại chặng đường 40 năm qua, chúng ta ngạc nhiên về cách Chúa thức tỉnh chúng ta khỏi cơn hôn mê tự mãn và lãnh đạm ; cách Chúa làm cho chúng ta ngày càng có thể ‘lắng nghe nhau’ hơn, chứ không chỉ ‘nghe chính mình’ mà thôi ; cách Người mở miệng lưỡi chúng ta dâng Chúa lời cầu nguyện có sức thuyết phục thế giới hơn.”[v] 

Kết quả lớn lao đó phát xuất từ đức tin.  Không có đức tin, không thể nhìn thấy bao nhiêu chứng từ ân sủng Chúa ban cho chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần.  Không có đức tin, không thể cầu nguyện hữu hiệu.  Ðó là điều ÐGH Bênêđictô xác tín : “Quả thực Chúa đã ban cho tôi nhiều ân sủng, và trong ánh sáng Thánh Linh, qua những chứng từ, Người cho thấy mọi sự đều có thể đạt được nhờ lời cầu nguyện, nếu chúng ta biết vâng phục mệnh lệnh tình yêu của Chúa với lòng xác tín và khiêm cung và tha thiết với niềm mong đợi sự hiệp nhất tất cả môn đệ Chúa.”[vi]  Nếu thế, “việc lo lắng tái lập hiệp nhất liên quan tới toàn thể Giáo Hội các giáo hữu cũng như các chủ chăn, và từng người một theo các khả năng trong cuộc sống thường ngày cũng như trong các nghiên cứu thần học và lịch sử.”[vii]

Một lần nữa, lời Chúa Kitô cầu nguyện cho hiệp nhất (x. Ga 17:21-22) lại vang lên trong lòng Giáo hội. Tiếng kêu gào thống thiết đến nỗi không ai có thể giả điếc làm ngơ được !  Quả thực, “phải tìm sự hiệp nhất trong nhiều cấp độ và trong vô số hoàn cảnh khác nhau : giáo xứ, bệnh viện, những cuộc tiếp xúc giữa quần chúng, sự hợp tác giữa các cộng đoàn địa phương ở khắp nơi trên thế giới, và nhất là trong các miền đang thể giúp kêu gọi mọi người nỗ lực tối đa sống tình huynh đệ và thanh tẩy quá khứ nữa.”[viii]  Nếu mọi người đều có trách nhiệm đối với cuộc hiệp nhất Giáo hội, chúng ta phải làm gì ?  Có thể sống mãi trong bốn bức tường nhà thờ như những pháo đài không ? 

Ðã đến lúc chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa qua những dấu chỉ thời đại.  Chúng ta không thể nhìn niềm tin cóng lạnh trong những truyền thống lâu đời được nữa.   Trái lại, đức tin luôn thúc đẩy chúng ta phải tìm mọi phương cách giải quyết những vấn đề thời đại.  Ðức tin luôn năng động.  Nhờ đức tin, chúng ta biết “nhiệm vụ chung đầu tiên là cầu nguyện. Khi cầu nguyện và khi cùng nhau cầu nguyện các tín hữu Kitô ý thức hơn về tình trạng của các anh chị em khác cả khi còn chia rẽ nhau; và khi cầu nguyện chúng ta học biết lắng nghe Chúa hơn, vì chỉ khi lắng nghe Chúa và theo tiếng của Người chúng ta mới có thể tìm ra con đường của sự hiệp nhất.”[ix] Ðức tin không thể cô lập, nhưng mở rộng cõi lòng và tương quan chúng ta với tha nhân.  Từ đó, các biên giới sẽ được phá vỡ.  Chúng ta có thể dễ dàng đến với anh em cùng niềm tin vào Chúa Kitô. 

Dù cùng đang phục vụ Dân Chúa trong một Giáo Hội, nhưng biết bao người tin Chúa Kitô không thể gặp gỡ nhau.  Ngay trong GHVN, những bức tường dầy cộm hay những hàng kẽm gai đang vây chặt và phân cách các nhóm người, đến nỗi họ không thể đến với nhau. Rõ ràng dấu chỉ tình yêu đã phai lạt và sức sống Giáo Hội yếu hẳn đi vì thiếu tinh thần hiệp nhất.  Theo trào lưu hội nhập thế giới hôm nay, GHVN cần phá đổ những bức tường và hàng rào trong nội bộ.  Ðối thoại thẳng thắn và tích cực bao giờ cũng là đường lối vững chắc đi vào tương lai.  Có đối thoại, mới có hợp tác. Muốn đẩy mạnh công cuộc truyền giáo và xây dựng cho chính mình và quê hương, GHVN cần phải sám hối.  Các thành phần GHVN cần tha thứ cho nhau mới có thể sống hiệp nhất như Chúa Kitô mời gọi và mọi người đang mong chờ !  Nếu không, chẳng còn nhiều thời gian để làm việc cho Dân Chúa trên trần gian nữa đâu ! 

Thực tế, muốn phá đổ những bức tường hay hàng rào trong GHVN, cần có cái nhìn sâu sắc và nỗ lực lớn lao của mọi người.  Ngoài đời chính phủ Việt nam đã mời ông Lý Quang Diệu vạch ra những mặt yếu kém hiện tại và phóng tầm nhìn về tương lai trong nhiều thập niên tới.  Ðề nghị GHVN mời một nhân vật nổi tiếng của Giáo Hội Ðại Hàn hay Ấn Ðộ sang thăm để giúp chúng ta có những cái nhìn mới mẻ và thực tiễn hơn . . .

Lạy Chúa, xin thương đến Giáo Hội của Chúa.  Xin cho chúng con luôn cố gắng mở rộng tâm hồn để có thể đón nhận và đến với mọi người.  Xin cho các Giáo Hội của Con Chúa, nhất là GHVN,  hiệp nhất thành một chứng từ tình yêu của Chúa trên trần gian. Amen

đỗ lực  28.01.2007     dzuize@gmail.com


[iii] Benedict XVI, Zenit 24.01.2007.  [iv] ibid.  [v] ibid.  [vi] ibid.

[vii] Unitatis redintegratio, 5.

[viii] Benedict XVI, Zenit 24.01.2007.  [ix] ibid.

 
VỀ MỤC LỤC
Logo và "Hôm nay“ trong phúc âm theo Thánh Luca

 

Chúa Giêsu sống trên trần gian 33 năm. Ba năm Ngài đi khắp đất nước Do Thái rao giảng tình yêu nước Thiên Chúa, nhưng ngài không để lại một mẫu tự chữ viết nào. Nói rõ hơn, Ngài chỉ giảng thuyết bằng lời nói, không viết thành chữ, thành văn bản bao giờ.

Nhưng từ khi Ðức Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội Chúa Giêsu được thành lập, những lời nói giảng dậy ngày xưa của Chúa Giêsu được thu gom lại và  được viết thành những bài giáo lý, như kho tàng của Chúa trối lại cho trần gian qua bốn thánh sử: Mathêo, Mácô, Luca và Gioan, mà ngày nay gọi là bốn phúc âm Chúa Giêsu Kitô.

Bốn Thánh sử ghi viết lại lời Chúa Giêsu nói, việc Chúa Giêsu làm, đời sống của Chúa Giêsu không phải ngay lúc Ngài còn đang sống trên trần gian ở giữa con người. Nhưng vào thời gian mãi sau này lúc Ngài đã trở về trời với Thiên Chúa Cha.

Theo truyền thống để lại, Thánh Luca là học trò hay người cùng đồng hành với Thánh Phaolô trong việc truyền giáo, và ông viết Phúc âm Chúa Giêsu vào thời gian từ năm 80 đến năm 90.

1. Logo hình con Bò.

Đó đây trong thánh đường có những bức tượng hay bức danh họa của bốn Thánh sử: Matthêo, Mácô, Luca và Gioan với những biểu tượng khác nhau. Và còn có cả những cuốn Kinh Thánh cũng ghi khắc chìm nổi hay vẽ đậm nét những biểu tượng đó ngay nơi trang bìa : hình đầu người,  hình con sư tử, hình con bò và hình con chim đại bàng.

Bốn Thánh sử viết Phúc âm vào những thời điểm khác nhau. Họ trình thuật lại việc làm cùng Lời giảng dậy của Chúa theo như họ nghe biết và hiểu trong ánh sáng được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Vì thế họ viết lại, trình bày Lời Chúa với những trọng điểm khác nhau và theo khung cảnh nền văn hóa thời họ sinh sống

Và cũng do những trọng điểm khác nhau đó, bốn Thánh Sử viết Phúc âm có bốn Logo khác nhau. Những Logo này không phải do họ tự đặt ra cho mình, nhưng sau này do những nhà nghiên cứu học hỏi về Kinh Thánh, những nhà nghệ thuật về hội họa điêu khắc, đặt cho họ. 

Ngay phần đầu sách Tin Mừng Thánh sử Luca thuật lại khung cảnh Thiên Thần Chúa hiện ra báo tin mừng cho Ong Daca-ria đang lúc ông cử hành phụng tự tế lễ Thiên Chúa trong đền thờ: Lời cầu xin của Ông Bà đã được Thiên Chúa nhậm lời, ông Bà sẽ có con (Lc 1,5-23).

Rồi cảnh Thiên Thần Gabriel hiện đến đưa tin cho Đức Mẹ: Bà sẽ thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần và Chúa Giêsu sẽ sinh ra làm người (Lc 1, 26-38).

Và nhất là bài tường thuật chi tiết về khung cảnh đêm Chúa Giêsu giáng sinh làm người giữa các mục đồng, chiên bò cừa dê và có các Thiên Thần hiện đến.(Lc 2, 1- 20).

Căn cứ vào nội dung cùng đặc điểm của Phúc âm tường thuật, người ta đã dùng hình con bò làm biểu tượng, phải, là Logo, cho Phúc âm theo Thánh Luca. Chưa hết, Phúc âm do vị Thánh này viết, còn có một đặc điểm khác nữa: Thuật chuyện hôm qua, nhưng lại là chuyện cho hôm nay.

2. Bảy lần "Hôm nay”

Thánh Luca viết thuật lại những biến cố và lời của Chúa Giêsu lúc Ngài không còn ở trần gian nữa. Và phúc âm được viết cách đây hơn hai nghìn năm. Nhưng khi đọc sách phúc âm đó, ta lại bắt gặp bảy đoạn tường thuật bằng câu “hôm nay”.

1. Khi Hài nhi Giêsu sinh ra làm người, Thiên Thần Chứa từ trời xuống nói với các mục đồng: “Hôm nay Đấng Cứu Thế sinh ra cho anh em” ( Lc 2,11).

Lời nói “Hôm nay” khởi đầu cho một sự sống mới xuất hiện trên trần gian.

2. Khi Chúa Giêsu chịu phép Rửa bên dòng song Giordan, tiếng của Ðức Chúa Cha từ trời phán ra: Con là con yêu qúi của Ta. Hôm nay Cha đã sinh ra con” ( Lc 3,22)

Lời nói “Hôm nay” gửi đi tín hiệu, xác nhận qua làn nước rửa tội Giêsu là con Thiên Chúa.

3. Khi Chúa Giêsu vào Hội Ðường cầu nguyện ở Nadaréth, Ngài đọc đoạn sách của Ngôn sứ Isaia và Ngài suy niệm lời sách thánh với câu: “ Hôm nay Lời sách thánh, mà anh em vừa nghe, được ứng nghiệm.” ( Lc 4,21).

Lời “ Hôm nay” khởi đầu một giai đoạn mới trong đời Chúa Giêsu: Thánh Thần Thiên Chúa xuống trên Ngài, củng cố sức mạnh niềm tin trong tâm hồn ra đi làm nhân chứng cho Thiên Chúa.

4. Khi Chúa Giêsu chữa một bệnh nhân bị tê bại được lành mạnh trở lại, người ta nói với nhau: “ Hôm nay, chúng ta đã thấy những chuyện kỳ lạ.” ( Lc 5,26).

Lời nói “Hôm nay” của mọi người nói lên sự tin nhận của tâm hồn họ vào Chúa Giêsu.

5. Chúa Giêsu nói với Ông Da-kêu:„ Hôm nay, tôi phải đến nhà Ông” ( Lc 19,5)

Lời nói “ hôm nay” là lời kêu gọi.

6. Rồi khi vào nhà ông dùng cơm, Chúa Giêsu lại nói với Ông: “Hôm nay, ơn cứu độ đến cho nhà này.” ( Lc 19, 9.)

Lời nói “hôm nay” đánh dấu sự tha thứ làm hòa.

7. Lần sau cùng trên thánh gía Chúa Giêsu nói với người cùng bị đóng đinh trên thập gía: “ Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng.” (Lc 23, 43)

Lời nói “hôm nay” là lời hứa bảo đảm có Chúa cùng đồng hành cứu giúp trong đời sống.

3. Bảy Bí tích ngày hôm nay

Bảy giai đoạn “Hôm nay” đó cũng xảy ra trong đời sống người tín hữu Côn giáo Chúa Giêsu:  

- Hôm nay em bé sinh ra cho gia đình và nhận lãnh làn nước Bí tích rửa tội

- Hôm nay bạn trẻ lãnh nhận ân đức Chúa Thánh Thần qua Bí tích Thêm sức 

- Hôm nay một tâm hồn mang nhiều uẩn khúc u buồn, vì bóng đen tội lỗi che phủ, đã nhận được ân đức tha thứ từ Trời Cao qua Bí tích Giải tội.

- Hôm nay một bệnh nhân nhận được sức trợ giúp cho tâm hồn niềm tin của Chúa qua Bí tích Xức Dầu Thánh.

- Hôm nay “ hãy theo Thầy” vào sống đời theo lời khuyên của phúc âm hay qua Bí tích truyền Linh mục.

- Hôm nay Chúa Giêsu cùng cử hành bữa tiệc Thánh Thể qua Bí tích Mình thánh Chúa trong thánh lễ Misa.

- Hôm nay Chúa Giêsu ban tặng tình yêu và lòng nhân ái, qua Bí tích Hôn Phối cho đôi bạn nam nữ thề ước trung thành suốt đời nhận nhau làm vợ làm chồng.

Với thần học giáo lý trong chuồng bò lừa súc vật và  “hôm nay”, Thánh sử Luca muốn vẽ ra con đường bắc ngang qua những hố hèn hạ xấu xa tội lỗi. Và qua đó trình bày Chúa Giêsu là Đấng đến mang ơn cứu độ niềm vui cho con người vào mọi thời đại hôm qua cũng như hôm nay.

Lm. Nguyễn ngọc Long  

VỀ MỤC LỤC
Phục vụ dẫn tới bình an

  

Trong các ngày 19, 20 và 21 tháng 01 năm 2007 tôi có đến tham gia “trợ nguyền” là phụ giúp “ khóa căn bản ” cho khóa viên trong “Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia đình” tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đường W. Little York Houston, Texas.

Tổng cộng số cặp tham dự là 27 cặp. Có hai Sơ và một Linh Mục.

Cha Ðinh Minh Hải bề trên Dòng Chúa Cứu thế hải ngoại có nói trong buổi tĩnh tâm cho các anh chị em “trợ nguyền”, trước khi khóa bắt đầu, có nhắc đến lời nói của Mẹ Têrêsa: “ Hoa quả của im lặng là cầu nguyện, hoa quả của cầu nguyện là đức tin, hoa quả của đức tin là phục vụ, hoa quả của phục vụ là bình an.”

Những “trợ nguyền” là những người đến giúp khóa, có người từ Dallas xuống, có người từ Port Athur tới, làm đủ các công việc như nấu nướng, dọn dẹp bàn ghế, đem thức ăn lên bàn, trang hoàng phòng ốc, ca hát giúp vui, đọc kinh cầu nguyện trong nhà Bêtania  v.v…

Vài tháng trước khóa, anh chị em trong Ban đìều hành đã hội họp phân công. Anh “ Chủ nguyền ” chính là trưởng ban điều hành và vài người nữa đã đến Palacios để bắt cá, đông lạnh lại để dùng làm thức ăn cho khóa viên. Vài ngày trước khóa, anh chị em tĩnh tâm, tập dượt một lần nữa, chịu khó, chịu mất thì giờ, bỏ công ăn việc làm mà có người còn tự động đóng góp tiền bạc để cho khóa có đủ tài chánh chi dùng.

Ðộng lực nào thúc đẩy anh chị em đến khóa, hy sinh thì giờ tiền bạc như thế. Đó có phải là sự thể hiện đức tin.? Nếu không có đức tin không có niềm tin vào Thiên Chúa toàn năng, vào Ðức Mẹ nhân từ sẽ an ủi nâng đỡ anh chị em trong đời này và cứu rỗi, được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong đời sau thì liệu rằng anh chị em có làm việc hăng hái như thế không?

Cảm nghiệm một điều nếu mình chịu khó làm việc vì người khác, lo cho người khác, khi họ có niềm vui thì mình cũng vui lây. Niềm vui đó sẽ thẩm thấu lâu dài trong tâm tư của mình. Tiếp xúc những khó khăn của nhiều người khác để mình thấy những khó khăn của mình chỉ là hạt cát nhỏ nhoi trong đời sống gia đình mà thôi.

Sau khi đã rửa chân cho môn đệ, Chúa Giêsu mặc áo lại, rồi ngồi ăn và phán: “ Các con có hiểu biết việc Thầy làm cho các con không? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa cũng phải lắm, vì Thầy đúng như vậy đó. Nên nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân các con, các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con nữa.” ( Gioan 13:12,15)

Chúa Kitô, Thầy Chí Thánh còn phải rửa chân cho các môn đệ, huống hồ gì chúng ta không thể giúp người khác bằng những lời nói an ủi khi họ gặp lo âu, khó khăn, buồn khổ, khi họ gặp những đau đớn về vật chất như đói khát, bị bịnh hoạn, thương tật, những đau khổ về tinh thần như những trường hợp mất mát người thân yêu, những người cô đơn, những người bị bỏ rơi, những đứa trẻ cha mẹ không nhìn nhận, những người cha, người mẹ con cái không đói hoài tới. 

Rất nhiều người chia nhau làm việc. Có người đến được ba ngày từ chiều thứ sáu đến tối chúa nhật. Mỗi đêm có người chỉ ngủ được hai, ba giờ vì lo nấu nướng để phục vụ cho gần một trăm người ăn, uống. Cơm nóng, canh ngọt ngày ba bửa, nước trà, cà phê đầy đủ trong mấy ngày sinh hoạt này. Nhiều người quá bận công việc cũng ráng sắp xếp thời giờ đến phụ giúp khóa khi rảnh rỗi. Cái gì đã thúc đẩy anh chị em đến làm việc, đến phục vụ.

Họ đã được thúc đẩy bởi Thầy chí Thánh là Ðức Giêsu vì họ là môn đệ của Thầy mà. Theo Thầy chí Thánh họ đã nhận được vui vẻ, bình an, hạnh phúc ở đời này và ở đời sau nữa.

Trong sinh hoạt đời sống hàng ngày, khi làm việc gì trong hảng xưởng, trong “business” riêng, trong hoạt động các đoàn thể, xã hội hay tôn giáo, sinh hoạt trong gia đình giữa vợ chồng, con cái hay anh chị em thân thuộc, nếu mình làm việc theo tinh thần phục vụ noi gương Thầy chí Thánh thì chắc chắn công việc mình làm sẽ dễ đạt kết quả, thành công hơn. Nhớ đến lời nói của Thánh Phao Lô gởi giáo dân Têsaloni (5, 16-18): “ Hãy luôn luôn vui vẻ, hãy cầu nguyện không ngừng. Bất kỳ việc nào cũng tạ ơn.: đó là Thánh Ý Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô ngỏ cùng tất cả anh chị em.”

Bất cứ làm việc gì dù thành công hay thất bại mình cũng tạ ơn. Thất bại mà tạ ơn thì khó quá nhưng biết đâu nhờ thất bại ngày hôm nay, mình sẽ học hỏi có kinh nghiệm cho ngày mai, chưa kể nhờ thất bại đó mà mình sẽ có đức khiêm nhường, đời sống tinh thần, đời sống tâm linh sẽ được thăng hoa hơn lên, mình sẽ cần cầu nguyện nhiều hơn nữa, nhờ đó, được gần gũi Thiên Chúa toàn năng hơn. Với tâm tình tạ ơn khi thất bại mình sẽ có bình an.

Xin chia xẻ vài cảm nghiệm khi đi phụ giúp khóa căn bản về gia đình trong cuối tuần qua.

Ngày 25 tháng 01 năm 2007

Phùng văn Phụng                     rogerphung42@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
TÂM BẤT BIẾN GIỮA DÒNG ĐỜI VẠN BIẾN

 

ĐÀM ĐẠO VỚI SƯ HUYNH ZACHARIE NGUYỄN TẤN KIỆT

NGƯỜI KHAI SINH TRƯỜNG PHÁI KIETISME.

- Lâu quá không được gặp Sư Huynh : Sư Huynh vẫn mạnh khỏe và vẫn viết khỏe ? – Khỏe thì không còn khỏe nữa, hiện bị ung thư thanh quản, vì gần như suốt cả đời, mình phải nói nhiều và nói to quá. Thầy giáo mà. Đành vậy. Viết thì vẫn viết đều : như một cái máy, Chúa sai viết gì viết đó. Bây giờ cũng đang trong mùa Giáng Sinh, chúng ta có thể nói về giáng sinh chứ ?

- Đứng trước hang đá và máng cỏ, nơi có Chúa Giê Su Hài Đồng, có Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giu Se, có các chú mục đồng, có bò lừa và có rơm rạ, cỏ rác, bạn nghĩ gì ? Có thể lắm bạn tự hỏi : Tại sao Thiên Chúa lại chọn một thôn nữ vô danh khó nghèo như Maria để sinh ra mà không chọn một công chúa lừng danh, giàu sang phú quý ? Tại sao lại chọn một người thợ mộc quá đổi mộc mạc tầm thường như ông Giu Se để làm cha nuôi ? Tại sao lại không chọn nơi cung điện nhà vua, lầu son gác tía để chào đời mà lại chọn nơi chuồng chiên máng cỏ? 

Tại sao, tại sao Thiên Chúa lại hóa hiện làm người, mang thân xác con người, ở giữa loài người trong thân phận một trẻ thơ yếu đuối ? Tôi có thể đoan chắc với bạn rằng : Ai trả lời được những câu hỏi đó ấy là người đã tiếp cận được mầu nhiệm giáng sinh. Nói theo ngôn ngữ thần học, đã tiếp cận được mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa, một Thiên Chúa siêu việt, toàn trí, toàn năng muốn tự bộc lộ mình là một Thiên Chúa yếu ớt mong manh, không quyền lực, không sức mạnh trong tay, cần được che chở, cần được chăm sóc dưỡng nuôi. Ấy là một Thiên Chúa hòa đồng, ai ai cũng có thể gặp, có thể gần, ai ai cũng tìm thấy niềm vui, cũng yêu thương và được yêu thương. Ấy vậy là cái dụng ý của Thiên Chúa .

Theo Kinh Thánh, biến cố lớn nhất trong lịch sử nhân loại là biến cố Thiên Chúa hóa hiện làm người - với mục đích duy nhất - là vì tình yêu thương. Bởi vậy, nếu bạn muốn tìm học những bài học về luân lý, về đối nhân xử thế, những bài học nhằm đánh giá những giá trị đời sống nhân bản, bạn hãy đến cùng Đức Khổng Phu Tử. Nếu bạn muốn tìm một hệ thống triết lý vững chắc nhằm cải đổi thế giới, bạn hãy tìm học những điều đó nơi Platon. Nếu bạn muốn tìm con đường tu hành vĩ đại để đạt thành chánh quả, xin giới thiệu bạn đến gặp Đức Phật. Còn nơi Thầy Giê Su chí ái, bạn chỉ tìm thấy một tình yêu thương chân chính – tình yêu của người hy sinh chính mạng sống mình cho người mình yêu -, sống như một người, để chia xẻ và thông cảm với con người. Tình yêu ấy là một cuộc cách mạng tình thương, đã canh tân thế giới La Hy, đã biến đổi tận gốc rễ và lột xác con người, đem đến cho con người một thang giá trị mới, làm xuất hiên, triển nở sung mãn và làm cho sống vĩnh hằng. Tôi đã được dạy dỗ như thế. Và, tôi nghĩ : tôi chỉ có thể viết và chỉ có thể nói với bạn như thế.

- Đọc Sư Huynh, tôi thấy Sư Huynh cũng là một nhà thơ, có những bài thơ rất hay. Chẳng hay lúc này Sư Huynh có còn làm thơ không ? – Để tôi đọc cho bạn nghe một bài thơ tôi mới viết :

             - Sống không giận không hờn không oán trách.

             Sống mĩm cười với thử thách chông gai.

             Sống vươn lên theo nhịp ánh ban mai.

             Sống an hòa với những người chung sống.

             Sống là động, nhưng lòng luôn bất động.

             Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.

             Sống yên vui, - danh lợi mãi coi thường :

             Tâm bất biến, - giữa dòng đời vạn biến !

              ...

- Ô, tuyệt quá! Xin Sư Huynh, bằng đường bưu điện, gởi cho tôi bài thơ ấy. Bây giờ, thưa Sư Huynh, có lẽ tôi xin được biết tôn ý của Sư Huynh về việc các websites của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam ở  hải ngoại muốn post lên mạng tuyển tập “Kietisme giản yếu” ? –Tôi đã tặng anh những bài viết của tôi là tôi tặng luôn bản quyền các bài viết ấy : anh có toàn quyền sử dụng, phần tôi, không trở ngại. Tôi sẽ trở lại thăm anh và sẽ đem theo bài thơ ấy. Có lẽ là tôi phải trở về trong Dòng, công việc đang chờ tôi trong ấy. Bây giờ, chúng ta hãy cầu nguyện :

- Lạy Chúa là Đức Vua hòa bình, Chúa rèn giáo mác nên liềm nên hái, đúc gươm dao thành cuốc thành cày, xin biến hận thù thành yêu thương, đổi nguyền rũa thành lời chúc phúc!

- Lạy Đấng được Chúa Trời tuyển chọn, -Chúa không nở nghiền nát cây lau đã gãy, cũng chẳng đành dập tắt tim đèn đang khói, -xin thương xót những kẻ tìm kiếm Chúa, trong chân lý, với tất cả lòng thành !

- Chúa la Vua công bình, -Chúa đến để giải thoát người nghèo cô thân cô thế, - xin thương xót những người cùng khổ sầu đau!

- Chúa là Vua muôn thuở muôn đời, trường tồn qua muôn thế hệ đổi thay, -xin cho Lời Chúa thấm vào lòng con như sương sa nơi nội cỏ ! Amen !

Ghi chép của Thuận châu PHAN VĂN KHẢI

nguyên Phóng Viên Thời Sự Đài THVN – SAIGÒN.

VỀ MỤC LỤC