|
TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI
của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II
Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế
Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc
CHƯƠNG 1
TA LÀ CÂY NHO CÁC CON LÀ
CÀNH
Phẩm giá của ngườí Tín
Hữu Giáo Dân
Trong Giáo Hội Mầu Nhiệm
THAM GlA VÀO CHỨC TƯ TẾ,
RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ
14. Khi
nóí với những ngườl đá chịu phép Rửa Tội, Thánh Phêrô Tông Đồ xem họ
như "những người con mới sinh", Người viết:
"Chúng con hãy lại gần Ngài, Ngài là
tảng đá hằng sống, mà loài người loại bỏ
nhưng Thiên Chúa đã chọn vì Thiên Chúa đã thẩm định giá trị. Chúng
con cũng thế, chúng con hãy trở nên những viên đá sông động dùng để
xây dựng Đền Thờ Thiêng Liêng, dâng lên những của lễ thiêng liêng mà
Thiên Chúa có thể chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, chính
chúng con là dòng dõi dược lựa chọn, và hàng tư tế vương giả, là một
dân tộc thánh, một dân thuợc về Thiên Chúa, như thế chúng con có
trách nhiệm rao giảng những kỳ vọng của Đấng đã gọi chúng con từ
bóng tôí đên ánh sáng lạ lùng của Ngài" (1 Pt.
2:4-5-9)
ĐÓ là một khía cạnh mớí mẻ của ân sủng và của phẩm giá phẻp Rửa Tội.
Người tín hữu gíáo dân về phần nêng họ cũng tham gla vào ba chưc vụ
cúa Đức Kltô là chức tư tế rao giảng và vương gíả. Đây là khía cạnh
mà truyền thống Giáo Hội khống bao giờ lãng quên, như thánh
Augustinô đã trình bày khi chú glải Thánh Vịnh 26;
"Đavít
nhận lãnh nghi lễ xức dầu làm Vua. Trong
thời ấy chỉ có Vua và Tư Tế được xức dầu. Hai vị này tiên báo hình
ảnh
vị Vua Thượng Tế độc nhất - Đức Kitô
(tiếng Kitô bởi chữ
"Chrisma" có nghĩa là xức dầu). Không chỉ
vị thủ lãnh của chúng ta, là thân thể cua Ngài, chúng ta cũng đuợc
xức dầu với Ngài... Vì thế mọi Kitô hữu đêu được xưc dầu, trái với
thời Cựu Uớc chỉ có hai người được xức dầu. Nêú chúng ta là thân thể
Đức Kito, vì tất cả chúng ta được xức dầu trong Ngài và trở thành
những Kỉtô, bởi vì đầu và thân thể làm thành một Đửc Kitô toàn vẹn."
(19)
Theo đường lốl của Công đồng Vaticanô II,(20)
ngay từ khi mới bắt đầu công việc mục vụ, Ta đã lưu ý ca tụng phẩm
chức tư tế rao giảng và vương giả của toan dân Thiên Chúa. Ta nói:
"Đâng đã sinh ra bởi Trinh Nữ María, Con của bác
thợ mộc theo người đời ấy nghĩ tưởng,
nhưng là Con Thlên Chúa Hằng Sống như Thánh Phêro tuyên bố, đã đến
để làm cho chúng ta tất cả trở nên "một vương quốc lình mục". Công
đồng Vaticanô II đã nhắc nhở cho chúng ta về mầu nhiệm của quyền
bính này, và về sứ mệnh của Đưc Kltô là Linh Mục, là Thầy rao gìảng,
là Vua vẫn tiếp tục trong Gíao Hôi. Tát cả mọi ngườỉ, toàn dân Thíên
Chúa tham gia vào ba sứ mệnh nay" (21)
Với bưc Tông Huấn này, Ta muốn kêu mời một
lần nữa tất cả mọi tỉn hữu gỉáo dân đọc lạỉ và suy ngắm, để lãnh hội
một cách tường tận và yêu mến say mê giáo huấn súc tích và phong phú
của Công Đồng đề cập đến việc họ tham gia vào ba chức vụ của Đức
Kitô.(22).
Và đây là một tổng hợp những căn bản của
giáo huấn ấy.
Các tín hứu giáo dân tham gia vào trách vụ
tư tê, đó là trách vụ Chúa Giêsu đã dùng để hiến tế mình trên Thánh
Giá và còn tiếp tục hiến tế mình trong nghi lễ Phép Thánh Thể để làm
vinh danh Đức Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại. Được ghép vào Đức Giêsu
Kitô, những ai đã chịu phép Rửa Tội đều được kết hợp với Ngài bằng
việc dâng hiến chính mình và các hoạt động của mình (Rom. 12:l-2).
Khi nói đến người tín hữu giáo dân, Công Đồng tuyên bố. "Tât cả
những hoạt động của họ, nhữg lời cầu nguyện
cũng như các hoạt động tông đồ, đời sông hôn nhân, gia đình, những
công việc lao động hằng ngày, cả việc giải trí, tinh thần thể xác,
nêú tất cả đều dược hướng dẫn do Thần Linh Thiên Chúa, ngay cả những
thử thách của cuộc đời, miễn là chịu đựng một cách nhẫn nại, tất cả
trở thành của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô
(1 Phêrô.2:5). Trong Thánh Lễ, các của lễ này hiêp với Mình Chúa
được dâng lên cho Đức Chúa Cha với tâm hồn sất sắng. Như thế người
giáo dân thánh hiến cho Thiên Chúa chính cả trần thê này. Nhờ lòng
phụng thờ Chúa khắp mọi nơi bằng một đời sống thánh thiện."
(23)
Việc tham gia vào trách vụ rao giảng của
Đức Kitô "là Đấng lấy cả cuộc
sông mình cũng như lấy sức mạnh của lời nới để tuyên bố vương quốc
Chúa Cha", (24)
sự tham gia này làm cho người
giáo dân có đủ năng-cách và dấn thân để nhận lãnh Phúc âm trong Đức
Tin, để rao giảng bằng lời nói và hành động, và để tố cáo một cách
bạo dạn không do dự những gì là điều ác. Người tín hữu giáo dân hợp
nhất với Đức Kitô "vị Đại Tiên Tri" (Lk. 7.16) và được đặt làm
"chứng nhân" của Đức Kitô Phục Sinh trong Chúa Thánh Thần họ trở
thành những người tham dự vào ý thức Đức Tin siêu nhiên của Giáo Hội
"không thể sai lầm trong Đức Tin"
(25)
cũng như tham gia vào ân sủng của lời nói (Acts.
2:17-18, Ap. 19:10). Hơn nữa họ được gọi để
chiếu sáng sự mới lạ và sức
mạnh của Phúc âm trong đời sống thường ngày, trong đời sống gia đình
và xã hội của họ, cũng như để diễn tả niềm hy vọng vinh quang "ngay
cả trong những cơ cấu của cuộc sống trần thê ' (L.G. 35) với một tâm
hồn nhẫn nại và can đảm giữa những khó khăn của thời hiện đại.
(26)
Người tín hữu giáo dân thuộc về Đức Kitô là
Chúa tể là Vua vũ trụ, nhờ đó họ được tham gia vào trách vụ vương
giả của Ngài, và được Ngài kêu gọi để phục vụ và phổ biến Ngài trong
hch sử. Họ sống vương quyền Kìtô hữu trước tiên bằng cách chiến đấu
để chiến thắng thế gian tội lỗi (Rom 6. 12) ngay trong chính mình
họ, rồi hiến dâng mình để phục vụ trong đức bác ái và trong công
bằng. Chính Đức Kitô hiện diện trong mọi người anh em, nhất là trong
những người thấp hèn nhất (Mt. 25.40).
Nhưng người tín hữu giáo dân được gọi đặc
biệt để đem lại cho các tạo vật những giá trị nguyên thủy của nó.
Khi hoạt động trong ơn nghĩa Chúa, người giáo dân liên kết mọi thụ
tạo vào lợi ích chân thật của con người. Làm như thế, họ được tham
gia vào việc thi hành quyền bính của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng đã
lôi kéo mọi sự về Ngài, và đặt mọi sự và chính mình dưới quyền Đức
Chúa Cha, để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Jn. 12:32, 1Co
r. 18: 28.
Sự tham gia của giáo dân vào ba chức vụ của
Chúa Giêsu Linh Mục, rao giảng và Vua bắt nguồn từ việc xức dầu của
phép Rửa Tội, được phát triển nhờ phép Thêm Sức, được nâng đỡ và
kiện toàn trong phép Thánh Thể. Đây là một sự tham gia ban cho mỗi
tín hữu giáo dân, nhưng với tư cách là họ tạo thành một thân thể duy
nhất của Chúa Kitô. Bởi vì Chúa Giêsu làm cho Giáo Hội được sung túc
bằng các ân huệ của mình, vì Giáo Hội là Thân thể và là Hiền thê của
Ngài. Như thế mỗi người được tham gia vào ba sứ vụ của Đức Kitô chỉ
vì họ là phần thân thể của Giáo Hội, như Thánh Phêrô Tông đồ đã dạy
khi gọi những người đã chịu phép rửa tội "là dòng giông được lựa
chọn, là hàng
tư tế vương giả, là dân thánh, là
dân tộc thuợc về Thiên Chúa" (1 Pt. 2:9). Và cũng vì nó bắt nguồn từ
sự thông hiệp trong Giáo Hội nên việc tham dự của các tín
hữu giáo dân vào ba chức vụ của Đức Kitô
đòi hỏi phải sống và thực hiện trong sự thông hiệp, và để cho sự
thông hiệp ngày càng tăng trưởng. Thánh Augustinô viết: "Cũng như
chúng ta
tât cả được gọi là Kitô-hữu
(Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do
đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta là thành phần thân
thể ủa Linh Mục duy nhât." (27)
NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN
VÀ TÍNH CÁCH TRẦN THẾ
15.
Tính chất mới lạ của đời sống Kitô-hữu là nền tảng và tước hiệu của sự
bình đẳng giữa tất cả những ai đã chịu phép Rửa Tội trong Đức Kitô,
giữa tất cả những thành phần của Dân Chúa: "Phẩm giá của tât cả mọi
thành phần đều giống nhau vì
mọi thành phần đều cùng được tái sinh trong Đức Kitô; ơn làm nghĩa
tử cũng như nhau; mọi người cùng (đêu được kêu gọi đên sự trọn lành,
chỉ có một ơn cứu rỗi, một đức
cậy trông, một đức ái không phân chia"
(28). Nhờ phẩm giá chung do phép
Rửa Tội này, người tín hữu giáo dân là người đồng trách nhiệm với
tất cả các vị thừa-tác-viên đã được phong chức thánh, với các tu sĩ
nam nữ, đối với sứ mệnh của Giáo Hội.
Nhưng phẩm giá chung do phép Rửa Tội nơi
người tín hữu giáo dân có một hình thái làm cho họ khác biệt, nhưng
không chia cách họ khỏi linh-mục và tu-sĩ nam nứ. Công Đồng Vaticanô
II đã diễn tả hình thái này chủ tại trong tính cách trần thế. "tính
cách trần thế là đặc tính riêng biệt của giáo dân."
(29)
Muốn hiểu rõ một cách đầy đủ vị trí chuyên
biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, phải đào sâu tầm mức
thần học của tính cách trần thế theo ánh sáng của chương trình cứu
chuộc của Thiên Chúa, và mầu nhiệm của Giáo Hội.
Như Đức Phaolô VI quả quyết, Giáo Hội "mang
tính
chất trần thế chính tông, bẫm sinh trong
bản tính thâm sâu và sứ mệnh của mình, gơc rễ nó nằm trong mầu nhiệm
Ngôi Lời nhập thể và thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đôí
với các thành phần của mình."
(30)
Tuy Giáo Hội sống giữa trần thế, mà không
thuộc về trán thế (Jn. 17.16). Giáo Hội được sai đi để tiếp nôi công
trình Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô; công trình này "chính là lo cứu
rỗi con người, nhưng cũng bao gồm việc canh tân những trật tự thế
giới."
(31)
Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều
phải tham gia vào lãnh vực trần thế của Giáo Hội, nhưng bằng những
cách thế khác nhau. Đặc biệt sự tham gia của người giáo dân có một
hình thái thực hiện và chức vụ "riêng rẽ và đặc biệt" theo như Công
Đồng phân tích. Chính những hình thái này đã được gọi là "tính cách
trần thế."
(32)
Trong thực tế, khi Công Đồng nói về thân thế của các tín hứu giáo
dân, thì trước tiên chỉ thân thế ấy như nơi chỗ họ được Thiên Chúa
gọi: "Đó là nơi họ được gọi" .(33)
Đó là "nơi" được trình bày với từ ngữ có
nghĩa hoạt động, các tín hứu giáo dân "sống giữa đời, nghĩa là dấn
thân vào đủ mọi nghĩa vụ và công tác của trần thế, trong những điều
kiện thường nhật của đời sống gia đình và xã hội đã tạo nên."
(34).
Đó là những con người đang sống một đời sống thông thường giữa thế
giới, đang học hành, đang làm việc, đang tạo nên những tình bạn,
những tương giao xã hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không nhìn
thân phận của họ một cách đơn giản do khuôn mẫu những điều kiện và
môi trường bên ngoài, nhưng tìm gặp đầy đủ ý nghĩa của nó trong Đức
Giêsu Kitô. (35)
Công Đồng lại qủa quyết: "Ngôi Lời nhập thể đã muốn đích thân chia
xẻ tình liên đới nhân loại. Người thánh hóa những môi liên hệ của
con người, nhất là những liên hệ gia đình là ngưồn gốc phát sinh
những liên hệ xã hội. Người đã tự nguyện tuân theo luật lệ quốc gia
của Người . Người đã muôn sống cuộc sống thợ thuyền với người đương
thời trong quê hương mình."
(36)
Như vậy, "thế giới ", đã trở nên môi trường
và phương thế cho ơn gọi Kitô-hữu của người tín hữu giáo dân, vì
chính trần thế được chỉ định để tôn vính Chúa Cha trong Đức Kitô.
Với ý nghĩ này, Công Đồng có thể giải thích ý nghĩa nêng tư và đặc
biệt ơn gọi của Thiên Chúa muốn kêu mời các tín hữu giáo dân. Họ
không phải được kêu gọi để bỏ vị trí của mình giữa thế giới. V phép
Rửa Tội không kéo họ ra khỏi thế giới như Thánh Phaolô Tông Đồ đã
nhấn mạnh: "Hơĩ; anh chị em, mỗi người hãy ở trươc mặt Chúa,
trong vị thế mình đang ở khi được kêu
gọi" (1 Cor. 7.24).
Trái lại, phép Rửa Tội trao phó cho họ một
ơn gọi liên quan mật thiết với tình trạng của họ giữa thế giới. Các
tín hữu giáo dân "được gọi, để nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc
âm, họ hành động như men dậy từ bên trong, để thánh hóa thế giới
bằng việc thực thi các nhiệm vụ của mình. Như thế họ có thể đem Chúa
Kitô đến cho kẻ khác bằng chứng tá của một đời sông sáng chói Đức
Tin, Đức Cậy và Đức Mến."
(37). Vì Vậy, sống và hành động
giữa thế giới đôí với các tín hữu giáo dán, không chỉ là một thực
tại nhân-sinh-xã-hội, mà còn là một thực tạí chuyên-biệt-thần-học
giữa trần thê. Thiên Chúa muốn biểu lộ ý định của Ngài và thông ban
cho họ ơn gọi đặc biệt là "tìm nước Thiên Chúa bằng cách quản lý các
thực tại trần thế mà họ phải sắp xếp theo ý Thiên Chúa."
(38)
Theo ý hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng đã tuyên bố. "Tính cách trần thế của người tín hữu giáo dân
không chỉ được định nghĩa theo quan niệm
xã hội, mà theo ý nghĩa thần học. Tính cách trần thế phải hiểu theo
ánh sáng của tác động tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Đâng đã
trao phó trần thế này cho con người cả nam lẫn nữ để họ tham gia vào
việc tạo dựng, dể họ giải thoát thụ tạo khỏi ảnh hưởng của tội lỗi,
để họ tự thánh hóa mình trong đối sông hôn nhân hoặc độc thân, trong
gia đình, trong chức nghiêp và trong các hoạt động xã hội".
(39)
Vị trí của người tín hữu giáo dân trong
Giáo Hội được minh định rõ ràng từ gốc rễ, bắt nguồn từ những mới lạ
của đời sống Kitô-hữu và đặc tính trần thế của nó.
(40)
Các hình ảnh trong Phúc âm nói về muôi mặn,
ánh sáng và men bột, mặc dầu có ý nói về tất cả mọi tín đồ của Đức
Giêsu , nhưng áp dụng cách nêng cho người tín hữu giáo dân. Đó là
những hình ảnh mang nặng ý nghĩa tuyệt vời, bởi vì không những nó
diễn tả việc hội nhập sâu xa và tham gia toàn diện của các người tín
hữu giáo dân trên mặt đất, vào sự sống của thế giới, của cộng đồng
nhân loại, nhưng nhất là nói lên nét mới mẻ và độc đáo của một sự
hội nhập và tham gia để phổ biến Tin Mừng Cứu Độ.
ĐUỢC KÊU GỌl ĐỂ NÊN
THÁNH
16. Chúng ta sẽ thấy rõ ràng
trọn vẹn phẩm giá của
người tín hữu giáo dân nếu chúng ta khảo
sát ơn gọi đầu tiên và căn bản mà Chúa Cha kêu mời mỗi người trong
Đức Giêsu Kitô qua trung gian của Chúa Thánh Thần: ơn gọi nên Thánh
nghĩa là ơn gọi đạt đến sự trọn lành của Đức ái. Thánh nhân là người
đã sống cuộc đời làm chứng nhân phẩm giá của tín hữu Đức Kitô một
cách sáng lạn.
Công Đồng Vaticanô II đã nói rất rõ ràng về
ơn gọi mọi người phải nên Thánh. Có thể qủa quyết đó là đường hướng
chính đã được vạch ra cho con cái nam nứ của Giáo Hội do Công Đồng,
một Công Đồng đã được triệu tập để canh tân đời sống Kitô hữu theo
ánh sáng Phúc âm.(41)
Đường hướng này không chỉ đơn giản là một lời khích lệ luân lý,
nhưng đó là một đòi hỏi mầu nhiệm của Giáo Hội: Giáo Hội là một cây
nho được tuyển chọn, nhờ Giáo Hội các cành nho sinh trưởng nhờ nhựa
sống của chính Đức Kitô, nhựa sống vừa thánh thiện vừa có sức thánh
hóa; Giáo Hội là Nhiệm Thể, các phần thân thể của Giáo Hội thông
phần sự sống thánh thiện của đầu là Đức Kitô; Giáo Hội là Hiền thê
khả aí của Chúa Giêsu, là Đầng đã hiến thân để thánh hóa Giáo Hội
(Eph. 5. 25). Chúa Thánh Thần là Đấng đã
thánh hóa nhân-tính Chúa Giêsu
trong lòng Trinh Nứ Maria (Lk. 1:35) thì cũng chính Chúa Thánh Thần
ấy cư ngu và hoạt động trong Giáo Hội để thông ban cho Giáo Hội sự
thánh thiện của Con Thiên Chúa làm người.
Ngày nay hơn bao giờ hết, mọi người
Kitô-hữu phải đi lại con đường canh tân theo tinh thần Phúc âm, đại
độ chấp nhận lời mời của vị Tông Đồ "phải nên thánh trong
mọi tác phong của mình" (1 Pt. 1:15).
Thượng Hội Đồng
ngoại lệ năm 1985, hai chục năm sau Công
Đồng, đã nhấn mạnh kịp thời về tình trạng khẩn cấp này: "Giáo Hội
trong
Đức Kitô là mầu nhiệm, vì thế Giáo Hội
phải được xem như là dấu chỉ, và phương thế của sự thánh thiện. Các
vị Thánh nam, nữ, đã luôn luôn là nguồn gốc canh tân trong Giáo Hội
và những giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Giáo Hội. Ngày hôm nay
chúng ta cần có những vị Thánh lớn, chúng ta hãy khẩn khoản cầu xin
Thiên Chúa ban cho chúng ta những vị Thánh như vậy."
(42)
Mọi người trong Giáo Hội, vì là phần thân
thể Giáo Hội, nên nhận được và chia sẻ ơn gọi nên thánh chung của
mọi người. Ngườl tín hữu giáo dán được mời gọi nên thánh, và họ có
quyền được gọi giống như mọi thành phần khác của Giáo Hội: "Tất cả
những ai tin vào Đức Kitô, không phân
biêt bậc sống, địa vị, đều được kêu gọi
tiên đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của Đức
ái" .(43)
"Tất cả những tín hữu của Đức Kitô đều được
mời gọi và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo địa vị của
mình .(44)
Ơn gọi nên thánh bắt ngùôn từ phép Rửa Tội
và được các bí tích khác thêm sinh lực, nhất là phép Thánh Thể. Được
mặc lấy Chúa Kitô và được hướng dẫn bởl Thánh Linh Ngài, các Kitô
hữu là những "thánh nhân" và vì thế, có năng cách để dấn thân hầu
biểu lộ sự thánh thiện của hành động mình. Thánh Phaolô Tông ĐỒ luốn
luôn khuyến khích các Kỉtô hữu sống "như những vị thanh" (Eph.5. 3).
Sống theo Thảnh Linh đem lại kết qủa là sự
thánh thiện
(Rom. 6.22, Gal. 5.22). Sự sống này khởi
dậy trong tầm
hồn mọi ngườl và mỗi ngươi đã chịu phép Rửa
Tội, ước muốn và đòi hỏỉ phải theo và bắt chước Đức Giêsu Kitô, bằng
cách chấp nhận các Mốt Phúc Thật của Ngài, bằng việc lắng nghe và
suy niệm Lờì Chúa, bằng cách tham gia mốt cách ý thức và linh động
vào đời sống phụng vụ và bí tích của Gỉáo Hộỉ, bằng việc cầu nguyện
cá nhần, trong gia đình hay trong cộng đồng, bằng tâm hồn đói khát
sự công chính, bằng việc thực hành giới răn yêu thương trong mọi
hoàn cảnh của đời sống, và bằng việc phục vụ anh em, đặc bíệt nhưng
người khó hèn, nghèo túng và đau khồ.
Thánh Hóa bản thân giứa
thế giới.
17. ơn
gọi nên thánh của người tín hữu giáo dán đòi hỏi sống theo tác động
của Thánh Linh một cách đặc biệt trong việc hội nhập của họ vao thực
tại trần thế, và trong việc tham gia vào các hoat động trần gian.
Chính vị Tông Đồ Cả đã khuyên khích chúng ta như vậy: "Những gì
chúng ta nóí, những gì chúng ta làm đêu
phải thực hiện với danh nghĩa Đức Giêsu Kitô, nhờ Ngài để cảm tạ
Thiên Chúa Cha" (Col. 3:17). Áp dụng lời của Thánh Tông Đồ cho tín
hữu gíáo dân, Công Đồng qủa quyết một cách cứng rắn: "Họ không được
để cho việc gia đình việc trần thế lấn át đời sống thiêng liêng của
mình".(45)
Sau Công Đồng, các Nghí Phụ Thượng Hội Đồng
tuyên bố. "Sự thống nhất đời sống của người tín hữu giáo dân
rất quan trọng: vì họ phải tự thánh hóa
trong cuộc sống hằng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội. Để đáp
lại ơn gọi của mình, người tín hữu giáo dân phải xem đời sông thường
nhật như một cơ hội kêt hiệp với Chúa và thực hiện ý muôn của Ngài,
như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng
cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa
trong Đức Kitô" (46)
Ơn gọi nên thánh phải được người tín hữu
giáo dân nhận thức và sống, không phải như một bổn phận đòi hỏi và
không thể lẫn tránh, nhưng một dấu chỉ chói sáng của tình yêu vô
biên của Chúa Cha là Đấng đã tái sinh họ trong đời sống thánh thiện.
Một ơn gọi như thế, trong những điều kiện ấy, phải được định nghĩa
như yêú tố căn bản và không thể phân lìa của đởi sống mới do phép
Rửa Tội, và vì thế, như một yếu tố cấu tạo nên phẩm giá của họ. Đồng
thời, ơn gọi nên thánh lại được líên kết mật thiết với sứ mệnh và
trách nhiệm được trao phó cho người tín giáo dân trong Giáo Hội và
giữa thế giới. Bởi vì, sự thánh thiện đang sống trong tín hữu phát
xuất từ việc tham gia vào đời sống thánh thiện của Giáo Hội, tự nó
cũng biểu tượng sự đóng góp tiên khởi và căn bản vào việc xây dựng
Giáo Hội như là "việc các thánh thông công". Trước cặp mắt Đức Tin
đang mở ra một cảnh tượng lạ lùng: đó là bao nhiêu tín hữu giáo dân,
nam và nữ trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày, không ai hay biết
tới họ, đôi khi cũng không ai hiểu được họ, các kẻ quyền hành trần
thế không đếm xỉa tới họ nhưng Chúa Cha nhìn họ đầy vẻ trìu mến, họ
là nhưng người thợ đang mài miệt làm việc t.rong vườn nho của Chúa,
là những kẻ thấp hèn nhưng cao sang vì nhờ sức mạnh của ân sủng
Thiên Chúa, họ đang mở rộng Nước Thiên Chúa trong dòng lịch sử.
Phải nhìn nhận sự thánh thiện cũng là nền
tảng căn bản và là điều kìện tuyệt đôí không thay thế được để hoàn
thành sứ mệnh của Giáo Hội. Chính sự thánh thiện của Giáo Hội là
nguồn gốc sâu nhiệm và là mực thước không sai lầm của hoạt động tông
đồ, và nghị lực truyền giáo của Giáo hội. Giáo hội Hìên thê của Đức
Kitô càng được Ngàì yêu mến và đáp lạỉ Tình yêu Ngài bao nhiêu, thì
Giáo Hội càng trở nên người Mẹ phong phú trong Thánh Linh bấy
nhiêu.
Một lần nữa, chúng ta hãy lấy lại hình ảnh
của Thánh Kính: sự sinh trưởng của cành nho tùy thuộc vào việc kết
hơp với cây nho: "Cũng như cành nho không tụ nó sinh
hoa kêt qủa nếu nó khồng ở trong cây
nho, cũng thế chúng con sẽ không đem lại hoa trái nêú chúng con
không ở trong Thầy, Thầy là Cây Nho, chúng con là cành. Aí ở trong
Thầy và Thầy ở trong ngươì ấy, họ sẽ mang lại nhiều hoa trái, bởi
vì, ngoài Thầy, chúng con không làm gì được" (Jn. 15. 4-5).
Ở đây cần phải nhắc lại việc tôn phong
chân phúc hay
hiển thánh cho các tín hữu nam, nữ trong
thởi gian Thượng Hội Đồng. Toàn dân Thiên Chúa, nhất là các tín hữu
gìáo dân có thể tìm ở họ, những vị mô phạm mới cho việc nên thánh,
những chứng nhân mới của các nhân đức anh hùng, được thực hiện trong
những hoàn cảnh thông thường hằng ngày. Như các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng quả quyết: "Các
Gián Hội địa phương nhất là các Gíáo Hộỉ
trẻ trung phải
lưu ý tìm xem trong con cái mình, những
giáo dân nam nử
gìữa những cánh đông như thê (cảnh sống
thường nhật ở trần thế và bậc sống vợ chồng) đã sông chứng nhân
thánh thiện và có thể trở nên gương mẫu cho người khác, để đề nghị
phong Chân Phườc hoặc Hiển Thánh".
(47)
Suy nghĩ đên đây, để định vai trò người tín
hữu giáo dân trong Giáo Hội, Ta nhớ lại lời kêu mời của Thánh Lêô
Cả: "Hỡi người tín hữu hãy nhận chân phẩm giá của
mình"
(48). Đó cũng là điều mà
Thánh Maxime, Giám Mục
thành Turin nói với những người đã chịu
phép Rửa Tội:
"Anh em hãy nhìn nhận vình dự anh em đã
được trong mầu nhiệm này". (49)
Tất cả những ai đã chịu phép Rửa Tội
đêu được mời gọi lắng nghe một lần
nữa những lời của Thánh Augustinô: "Chúng ta hãy vui mừng và tạ ơn:
Không những chúng ta đã được trở nên
những Kitô-hữu, mà là trở nên Chúa Kitô... Chúng ta hãy vui sướng
hân hoan, chúng ta đã trở nên Chúa Kitô!"
(50)
Phẩm giá người Kitô hữu, nguồn phát sinh sự
bình đẳng của mọi thành phần Giáo Hội, bảo đảm và cổ võ tinh thần
hiệp thông và huynh đệ, và đồng thời trở nên nguồn sức mạnh âm thầm
của nghị lực tông đồ truyền giáo của người tín hữu giáo dân. Tuy
nhiên là một phẩm giá đòi hỏi nhiều tước vị khác nhau của những
người thợ được Chúa gọi vào làm vườn nho của Ngài, Công Đồng nói:
"Bởi vậy, nhiệm
vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý
định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tđi tât cả mọi người, ở mọi
nơi và mọi thời đại ".
(51)
CHÚ THÍCH
19- Thánh Augustinô - Ennar-in PS XXVI,
II,2.
20- Xem Vaticanô II - Hiến chế Lumen
Gentium, số 10.
21- Gioan-Phaolô II - Bài giảng ngày nhậm
chức Giáo Hoàng (22-10-1978)- AAS 70 (1978) 946.
22- Xem lại giáo huấn này trong
Instrumentum laboris "ơn gọi và sứ mạng...", số 25.
23- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium,
số 34.
24- tld - 35 25-
tld - 12 26- tld - 35
27- Thánh Augustinô - De Civitate Dei - XX,
10.
28- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium,
số 32. 29- tld - 31
30- Phaolô VI . Bài giảng trước các Bề trên
và Hội viên của các Tu hội đời (02-02-1972). AAS. 64 (1972) 208.
31- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam
Actuasitatem, 5.
32- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium,
số 31. 33- tld - 31 34- tld - 31
35- Xem tld
48.
36- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et
Spes, số 32.
37- Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium,
số 31. 38- tld - 39- Propositio, 4.
40- "Là thành phần của Dân Chúa và Thân thể
Mâu nhiệm, qua Bí tích Thánh tẩy tham dự vào ba chức vụ Tư tế, Ngôn
sứ và Vương giả của Chúa Kitô, gìáo dân diễn tả và thể hiện những
kho tàng của phẩm giá đó khi sống giữa
trần thế. Đôí với những ai có chức thừa tác vụ được phong
chức thánh, đó là một phận vu bổ sung hoặc đặc biệt khác thường, thì
đôí với người giáo dân lại là một sứ mệnh đặc loại của họ, Ơn gọi
riêng cửa họ là "tìm Nước Chúa trong việc quản iý thế sự theo ý
Chúa" (Lumen Gentium, số 31), (Gioan-Phaolo II Kinh Truyền tin
(15-3-1987, Insegnamenti.
X,1 (1957), 566)."
41- Xem Chương V - Hiến chế Lumen Gentium,
số 39-42. - "Ơn gọi nên thánh của mọi người trong Giáo hội".
42- Buổi họp lần II Thượng Hội Đồng Giám
mục (1985) Relatio finalis II. A,4.
43- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium,
số 40.
44- tld - 42 - Những xác quyết của Công
đồng, nói lên một cách long trọng và rõ rệt, nhắc lại một chân lý
nền tảng của Đức tin Kitô giáo. Chẳng hạn, Đức Piô XI trong Thông
điệp Casti Connubii nói với vợ chồng Kitô giáo như sau: "Bất cứ ở
hoàn cảnh nào, ở bậc sống nào tùy ý mình chọn, mọi người có thể và
phải bắt chước mẫu mực hoàn hảo về sự thánh thiện mà Chúa muốn con
người thực hiện, mẫu mực đó là Chúa Giêsu Kitô; và với ơn Chúa giúp
họ có thể và phải đạt đến mức sống trọn lành của Kitô giáo, như các
Thánh đã làm gương cho chúng ta" AAS - 22 (1980), 548.
45- Vaticanô II - Sắc lệnh Apostolicam
Actuositatem, 4. 46-
Propositio, 5.
47- Propositio, 8. 48- Thánh Lêo Cả -
Bài giảng XXI
49- Thánh Maximô - Luận giải III về Bí tích
Rửa tội.
50- Thánh Augustinô - Luận giải về Phúc âm
Thánh Gioan - 21,8.
51- Vaticanô II - Hiên chế Lumen Gentium,
số 33.
còn tiếp
|