Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 65, Chúa nhật 18.02.2007


 Các số báo đã phát hành       MỤC LỤC

Sự tham gia của tín hữu giáo dân vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông            DTC JP.II

TIN MỪNG CHO NGƯỜI GIÀU                                                               Lm. Đỗ Vân Lực, op.

TỔNG KẾT ĐỂ KHAI TRƯƠNG                                                                + Gm. GB. Bùi Tuần

LỜI CHÚC CỦA SƯ HUYNH ZACHARIE NGUYỄN TẤN KIỆT       Thuận Châu Phan Văn Khải

VALENTINE & NĂM MỚI ĐINH HỢI: CHUYỆN TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG MÙI          Lm. Ansgar Phạm Tĩnh

LINH NGHIỆM LỘC THÁNH ĐẦU XUÂN                                                     Phêrô Vũ văn Quí

HÃY CẤT LỜI NGỢI KHEN                                                                        Lm. Vũ Xuân Hạnh

CÁI HẠI CỦA RƯỢU                                                      Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC

Chia sẻ thương tổn của mình với một người nào đó             Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Gia đình, Tế bào của Hội Thánh                                                + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

Giáo xứ Đức Long, Giáo phận Xuân Lộc,       xét mình cuối năm mừng Xuân Đinh Hợi 2007


Sự tham gia của tín hữu giáo dân vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông

 

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương 2

TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO

CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT

Sự tham gia của tín hữu giáo dân

vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông

MẦU NHlỆM CỦA GlÁO HỘl THÔNG HlỆP

18. Chúng ta hãy nghe lại lời của Đức Giêsu: "Ta là Cây Nho Thật, và Cha Ta là Người trồng nho... các con hãy trong Ta, như Ta ở trong các con" (Jn 15:l-4).

Chỉ mấy lời đơn sơ này cũng đã mặc khải cho chúng ta thấy sự thông hiệp mầu nhiệm kết hợp Chúa và các môn đệ Ngài, nối kết Đức Kitô với các người đã chịu phép Rửa Tội trong sự hơp nhất toàn vẹn: một sự thông hiệp linh động và chuyển ban sinh lực, nhờ đó người Kitô-hữu không còn thuộc về mình nữa, nhưng trở thành sở hưu của Đức Kitô, như cành nho hợp nhất với cây nho.

Sự thông hiệp của người Kitô-hữu với Đức Giêsu, lấy sự thông hiệp của Chúa Con với Chúa Cha trong ơn Chúa Thánh Thần làm kiểu mẫu, nguồn gốc và cùng đích: Người Kltô-hữu hiệp nhất với Chúa Con trong mỗi giây ràng buộc tình yêu của Chúa Thánh Thần cũng được hiệp nhất với Chúa Cha. Chúa Giêsu còn tiếp: "Ta là cây nho, chúng con là cành" (Jn. 15.5). Người Kitô hữu hiệp thông với Đức Kitô nên họ cũng hiệp thông với nhau. Tất cả đều là cành nho của Cây Nho duy nhất là Đức Kitô . Trong sự hiệp thông huynh đệ này, Chúa Giêsu phản ảnh lạ lùng việc tham dự nhiệm mầu vào đời sông tình yêu thâm sâu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Để thực hiện sự thông hiệp này, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: "Cho hết thảy được hợp nhất, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để họ cũng được liên hiệp cùng Ta, cho thiên hạ tin rằng Cha đã sai con đến."

Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Vaticanô II đã dùng những lời của Thánh Cypnanô để nhắc lại: "Giáo Hội phố quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánk Thần".(52) Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của Thánh Phaolô Tông Đồ: "Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha và ơn Thông Hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em " (2 Cor. 13:13).

Công Đồng và Giáo-Hội-Học Hiệp Thông

19. Đây là tư tưởng chính mà Giáo Hội đã đưa ra ánh sáng để tự định-nghĩa mình trong Công Đồng Vaticanô II, cũng như Thượng Hội Đồng Giám Mục ngoại lệ năm 1985, đã nhắc lại: "Giáo-hộì-học về hiệp thông là tư tưởng trung tâm căn bản của các văn kiện Công Đồng. Giáo Hội Hiệp Thông (koinonia - Communion) dựa trên Thánh Kinh, đã được tôn trọng trong Giáo Hội thời sơ khởi, và trong Giáo Hội Đông phương cho tới ngày nay. Công Đồng Vaticanô II đã nỗ lực làm việc, khảo sát để Giáo Hội được hiểu một cách rõ ràng như là một sự hiệp thông và để khái mệm này được thực thi một cách cụ thể trong đời sống. "Thông Hiệp", tiếng phức tạp này có nghĩa gì? Từ nguồn gốc nó có nghĩa là sự hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. Sự hiệp thông này chúng ta. nhận được nhờ Lời Chúa và các phép Bí Tích. Phép Rửa Tội là cánh cửa và cũng là nền tảng của sự hiệp thông trong Giáo Hội. Phép Thánh Thể là nguồn và đỉnh cao của sự sống người Kitô hữu. Sự hiệp thông với Mình Thánh Chúa Kitô là dấu chỉ và phát sinh, hay nói cách khác, xây dựng sự hiệp thông mật thiết của mọi tín hữu trong Thân Xác của Chúa Kitô là Giáo Hội". (53)

Công Đồng vừa bế mạc, Đức Phaolô VI đã nói với tín hữu: "Giáo Hội là một sự hiêp thông. Tiêng hiệp thông ở đây có nghĩa gì? Ta mời chúng con đọc lại giáo lý nói về việc các Thánh Thông Công - và các Thánh Thông Công mang hai nghĩa: Người Kitô hữu được thông công vào sự sông Đức Kitô và sự lưu thông của chính đức ái này trong toàn thể cộng đồng các tín hữu ở trần gian, và bên kia thế giới. Hợp nhất với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hợp nhất các Kitô hữu với nhau trong Giáo Hội. (54)

Các hình ảnh Thánh Kinh Công Đồng đã dùng để giúp chúng ta suy niệm mầu nhiệm Giáo Hội, đã đưa ra ánh sáng cho chúng ta thầý thực tại Giáo Hội hiệp thông khăng khít giữa các Kitô hữu với Đức Kitô, và hiệp thông các Kitô hữu với nhau. Đó là hình ảnh chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, toà nhà thiêng hêng, và hình ảnh thành Thánh. (55) Nhưng trên tất cả, hình ảnh về nhiệm thể của Thánh Phaolô được Công Đồng lưu ý nhiều hơn cả vì giáo lý của Người dạy luôn luôn sống động và hấp dẫn .(56) Công Đồng dựa theo lịch sử Cứu Rỗi cũng trình bày Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa: "Thíên Chúa đã không muốn cho con người nhận lãnh sự thánh hóa và ơn Cứu Độ một cách rìêng rẽ, không một giây liên lạc ràng buộc, nhưng Ngài muốn làm cho họ trở thành một dân tộc nhận bỉết Ngài theo sự thật và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện" (57). Ngay từ hàng chữ đầu, Híến Chế "ánh Sảng Muôn Dân" đã tóm lược tín lý này một cách tuyệt diệu: "Giáo Hội Ở trong Chúa Kitô như là Bí Tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ, vừa là phương tiện đưa đến sự kết hợp mât thiết với Thỉên Chúa và hợp nhất của toàn thể nhần loại." (58)

Thưc tại Giáo Hội Hiệp Thông như thế là phần tất yếu hay nói đúng hơn, nó là nội dung trung điểm của "Mầu Nhiệm", nghĩa là của ý định Thiên Chúa trong vỉệc Cứu Rỗi nhân loại. Vì thế sự hiệp thông trong Gỉáo Hội không chỉ nói về phương diện xã hội hay tâm lý. Giáo Hội Thông Công là dân tộc "mới", là dân tộc "thời đại Đấng Thiên Sai" dân tộc "mà vị thủ lãnh là Đức Kitô..." và sự hiệp thông của nó là phẩm gỉá và sự tự do của con cái Chúa... Luật của dân này là giới răn mới yêu thương như chính Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta... Cứu cánh của họ là Nước Thiên Chúa... và dân tộc này đã được Chúa Kitô thiết lập như một Cộng Đồng sống hiệp thông trong đức ái và chân lý" (59). Môí dây liên kết các phần tử của Dân Mới này lại với nhau - và trước tiên với Đức Kitô - không phảỉ là những môí giây "xác thit" và "máu mủ" mà là giây tinh thần, nói rõ hơn là các mối giây của Thánh Thần mà những ai chịu phép Rửa Tội đã nhận lãnh (Jl. 3:l).

Bởi vì chính Chúa Thánh Thần tự đời đời đã là sợi giây liên kết của Thiên Chúa Ba Ngôi, một và không phân chia được Thánh Thần này khi thời gían đến" (Gal. 4:4) đã vĩnh viễn kết hơp máu thịt con người với Con Thiên Chúa, là Thánh Thần qua suốt các thế hệ của đạo Chúa Kitô đã trở nên nguồn suốt vô tận đem lại sự hiệp thông trong Giáo Hội.

Một sự Hiệp Thông có cơ cấu:

khác biệt nhưng bổ túc

20. Sự thông hiệp trong Giáo Hội là một sự thông hiệp "có cơ cấu", giống như một thần thể sống động. Nó bao gồm các thành phần khác biệt và bổ túc nhau theo ơn gọi và địa vị, gồm các thừa-tác-vụ, các ơn đoàn-sủng (charismes), và các trách nhiệm khác nhau. Nhờ có sự khác biệt và bổ túc này, mỗi tín hữu giáo dân có liên hệ với toàn thần và đem lại phần đóng gúp cho toàn thân.

Thánh Phaolô Tông Đồ đã đặc biệt nhấn mạnh về sự thông hiệp cơ cấu của Nhiệm Thể Đức Kitô. Chúng ta hãy lắng nghe lại một lần nữa giáo huấn súc tích của Người trong bản đúc kết Công Đồng Hiến Chế "ánh Sáng Muôn Dân" quả quyết: "Đức Giêsu Kitô khi thông ban Thánh Thần cho anh em mình mà Ngài đã triệu tập từ các dân các nước lại, đã liên kết họ một cách nhiệm mầu thành Thân Thể Ngài . Trong Thân Thể này, sự sống của Đức Kitô tràn ra nơi các kẻ tin... tất cả các chi thể" tuy nhiều, nhưng lập thành một thân thể, cũng thế các tín hữu họp thành một thân thể trong Chúa Kitô (1 Cor. 12:12). Trong việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô cần có nhiều chi thể với chức vụ khác nhau. Chỉ có một Chúa Thánh Thần ban những ân sủng khác nhau để làm ích cho Giáo Hội theo sự sung mãn của Ngài và tuỳ nhu cầu của các công tác (1 Cor.12:1-11). Trong các ân sủng ấy, ơn ban cho các Tông Đồ đứng hàng đầu: "Chính Chúa Thánh Thần đặt dưới quyền các Ngài những người lãnh nhận các đoàn sủng (1 Cor.14). Cũng chính Thánh Thần ấy, là nguyên lý hợp nhất trong thân xác nơi đó thần lực của Ngài hoạt động và thể hiện sự liên kết các chi thể, làm phát sinh và khích lệ đức ái giứa các tín hữu. Vì thế, nếu một chi thể nào đau đớn, tất cả các chi thể khác đều bị đau đớn , và một chi thể nào được vinh dự tất cả các chi thể khác cùng chung vui".(60)

Luôn luôn chính cũng một Thánh Thần duy nhất là nguyên lý đầy động lực phát sinh sự khác biệt và sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Chúng ta hãy đọc lạì Hiến Chế Muôn Dần: "Để chúng ta được liên lỉ canh tân trong Ngài " (Eph.4:23), Đấng đã ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để hiện hữu nơi đầu cũng như trong thân thể, là sống động, hợp nhất và thúc đẩy toàn thân. Các Thánh Giáo Phụ đã so sánh tác động của Chúa Thánh Thần như công việc của linh hồn là nguyên lý sự sông, hoàn thành trong thân xác,(61) Trong một bản văn khác đặc biệt súc tích và hiếm có để giải thích không những "tính chất cơ cấư" riêng biệt của sự hiệp thông trong Giáo Hội, mà hiệp thông này phải luôn luôn trưởng thành cho đến ngày hiệp thông toàn vẹn, Công Đồng viết: "Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự trong Đền Thánh (1Cor.3:16, 6.19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử của Thiên Chúa (Gal. 4:6, Rom. 8:15-6, 26). Ngài thông đạt cho Giáo Hội toàn bộ chân lý (Jn.16.13). Ngài thống nhất Giáo Hội trong sự hiệp thông và phục vụ. Ngàỉ xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân hụê khác nhau theo phẩm trật và ơn đoàn sủng, tô điểm Giáo Hội bằng hoa trái ân sủng của Ngàl (Eph. 4:11-12,1 Cor.12:4, Gal.5:22). Nhờ sức mạnh Phúc âm, Ngài làm cho Giáo Hội được phát triển, luôn luôn đổi mới, và hướng dẫn Giáo Hội ngày kết hơp với vị Phu quân của mình. Cả Chúa Thánh Thần và Hiền Thê cũng mời gọi Chúa Giêsu rằng: "Xin hãy đến".(62)

Sự hiệp thông trong Giáo Hội là một ân huệ, một đại ân huệ của Chúa Thánh Thần, các tín hữu đươc mời gọi nhận lãnh ơn này với lòng biết ơn và đồng thời sống ơn này bằng tinh thần trách nhiệm. Việc này thực hiện một cách cụ thể khi họ tham gia vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, và để phục vụ Giáo Hội các tín hữu giáo dân thi hành các thừa-tác-vụ, và các đoàn sủng của mình.

Người tín hữu giáo dân "không được quyền tự cô lập mình với cộng đoàn, nhưng họ phải luôn sống trong sự chia xẻ với anh em khác trong tình huynh đệ sâu đậm, trong niềm vui vẻ bình đẳng, và hợp tác với nhau để kho tàng gia tài mênh mông đã được nhận lãnh được sinh hoa kết qủa. Thánh Thần Thiên Chúa ban cho họ cũng như ban cho kẻ khác nhiều ơn đòan sủng, Ngài gọi họ lãnh nhận nhiều thừa-tác-vụ và nhiều trọng trách khác nhau. Ngài nhắc lại cho họ cũng như cho kẻ khác biết rằng trong mối tương quan với nhau điều làm cho họ nổi bật, không phải là thăng tiến chức phận, mà chính họ là được trao quyền năng đặc biệt và bổ túc để phục vụ.... Vì thế, các ơn đoàn sủng, các thừa tác vụ, các trọng trách các dịch vụ của người tín hữu giáo dân nếu có là có trong sự hiệp thông. Đó là những kho tàng bổ túc lẫn nhau dùng để tạo lợi ích cho mọi người dưới sự hướng dẫn khôn nguan của các vị Chủ Chăn".(63)

THỪA-TÁC-VỤ VÀ ĐOÀN SỦNG LÀ ƠN CỦA CHÚA

THÁNH THẦN BAN CHO GlÁO HỘl

21. Công Đồng Vaticanô II trình bày các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng như là ơn Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, và để truyền giáo hầu để cứu rỗi thế giới.(64) Vì Giáo Hội được hướng dẫn điều hành do Chúa Thánh Thần là Đấng ban phát mọi sự khác nhau theo phẩm trật và có tính cách đoàn sủng, Ngài ban cho hết mọi người đã chịu phép Rửa Tội, và kêu gọi họ phải hoạt động và đồng chịu trách nhiệm mỗi người theo cách thế của mình.

Giờ đây chúng ta hăy xem xét các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng đôl với các tín hữu giáo dân, và việc tham gia của họ vào đời sống Giáo Hội Hiệp Thông.

Thừa-tác-vụ, Nhiệm-vụ và Chức-vụ

Các thừa tác vụ hiện tại đang tác động trong Giáo Hội, mặc dầu có khác biệt nhau trong cách thế, nhưng tất cả là đều tham gia vào thừa tác vụ của Chúa Giêsu Kitô là vị Chủ Chăn đã liều mạng sống vì đàn chiên (Jn. 10.11), là người đầy tớ hèn mọn và hoàn toàn hy sinh để cứu rỗi mọi người (Mk. 10:45). Thánh Phaolô nói rất rõ ràng về sự thiết lập các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội đời các Thánh Tông Đồ. Trong thư thứ nhất gỉn các tín hữu thành Côrintô, Ngài viết: "Thiên Chúa đặt để trong Giáo Hội, trước tiên có các Tông Đồ, thứ đên các vị rao giảng, rồi đến những kẻ nhận trách nhiệm dạy dỗ... " (Cor. 12.28). Trong thư gởi cho giáo hữu thành Ephêsô Ngài viết: "Mỗi người trong chúng ta đã lãnh nhận ơn nghĩa thánh như Chúa Kitô đã phân chia... và các ơn Ngài ban cho con người, trước tiên là các Tông Đồ, đến các vị rao giảng, các nhà Thừa Sai Phúc âm, các chủ chăn và những người lo việc dạy dỗ. Như thế, dân thánh Chúa được tổ chức để các thừa-tác-vụ được hoàn thành và để Thân Thể của Đức Kitô được xây dựng. Cuối cùng, tất cả chúng ta cùng nhau hiệp nhất trong Đức Tin và trong sự hiểu biết chân chính Con Thiên Chúa, để tiên tới tình trạng trưởng thành, và sung mãn trọn vẹn của tầm vóc con người Đức Kitô" (Eph.4:7-11-13, Rom.12:4-8). Các bản văn này cũng như các văn bản khác của Tân ước cho chúng ta thấy là các thừa-tác-vụ, cũng như các ơn huệ và các công tác trong Hội Thánh, có rất nhiều và khác nhau.

Các thừa-tác-vụ phát sinh từ

Phép Truyền Chức Thánh

22. Trong Giáo Hội , chúng ta thấy trước tiên các thừa-tác-vụ được truyền phong nghĩa là phát nguồn từ Phép Truyền Chức Thánh. Chúa Giêsu đã chọn và đặt các Tông Đồ "như là hạt giống nảy sinh dân Israel mới và đồng thời cũng là nguồn gốc của phẩm trật trong Giáo Hội" (65) , và truyền cho họ phải huần luyện và đào tạo những môn đệ trong khắp các dân tộc (Mt. 28:19), và đĩeu khiển hàng tư tế. Sứ vụ của các Tông Đồ mà Chúa Giêsu tiếp tục giao phó cho các vị Chủ chăn dân Ngài, là một chức vụ mà Thánh Kinh gọi là "diakonia" nghĩa là phục vụ hay mục vụ. Các vị này nhận lãnh nơi Đức Kitô Phục sinh, ơn đoàn sủng của Chúa Thánh Thần được truyền thụ không ngừng từ đời các Tông Đồ, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh: Từ Đức Kitô họ nhận lãnh trách nhiệm và quyền năng linh thiêng để phục vụ Giáo Hội, họ hành động nhân danh Chúa Kitô là Đầu (66) và để hơp nhất Giáo Hội lại trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc âm và phép Bí Tích.

Các thừa-tác-vụ được truyền phong là một ân sủng được ban cho toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ là ân sủng riêng cho cá nhân người lãnh nhận. Các thừa-tác-vụ này là sư thực thi và biểu lộ việc được tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô; sự tham dự này khác biệt ngay trong bản tính, chứ không chỉ trong mức độ tham dự đã được ban cho mọi tín hứu nhờ phép Rửa Tội và phép Thêm Sức. Đàng khác, chức linh mục thừa-tác-vụ, như Công Đồng Vaticanô II đã gọi hướng về chưc tư-tê-vương-giả cộng đồng của mọi tín hữu, và cùng đích cốt yếu của nó nằm ở trong chức tư tế này.(67)

Vì thế, để bảo đảm và làm tăng trưởng sự hiệp thông trong Giáo Hội, đặc biệt về những gì có lỉên quan đến các thừa-tác-vụ khác nhau và bổ túc cho nhau, các vị chủ chăn phải xác tín chắc chắn rằng chức linh mục của mình là để phục vụ toàn dần Thiên Chúa (Heb. 5.1). Các tín hữu giáo dân cũng phải nhìn nhận rằng chức linh mục thừa-tác-vụ tuyệt đối cần thiết cho cuộc sống của chính mình trong Giáo Hội, và cho mình được tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội.(68)

Thừa tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ của giáo dân

23. Sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội giữa thế giới được thực hiện không chỉ nhờ các vị thừa hành đã nhận lãnh bí tích Truyền chức Thánh, nhưng cũng nhờ các tín hữu giáo dân; vì họ đã được chịu phép Rửa Tội và được kêu gọi đặc biệt, để tham dự theo mức độ của mỗi người vào chức vụ tư tế, rao giảng và vương giả của Đức Kitô.

Bởi thế, các vị chủ chăn phải thừa nhận và cổ võ các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ của các tín hữu giáo dân, những nhiệm vụ và tác vụ này có nền tảng bí tích trong phép Rửa Tội, phép Thêm Sức và hơn nữa trong phép Hôn Phối đối với nhiều người trong giáo dân.

Hơn nữa, khi cần thiết hoặc vì lợi ích của Giáo Hội đòi buộc, các chủ chăn có thể theo quy chế dự định trong bộ luật chung, giao phó cho tín hữu giáo dân một số nhiệm vụ hay chức vụ. Những nhiệm vụ hay chức vụ này vẫn (tuỳ thuộc) với thừa-tác-vụ chủ chăn của các Ngài, nhưng không cần chức Thánh mới thi hành đuược. Giáo Luật xác định: "Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa-tác-viên, thì các giáo dân dù không có chức tác-vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc như đọc Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các quy tắc luật định".(69)

Tuy nhiên, việc thi hành chức vụ này không làm cho người tín hữu giáo dân trở thành vị chủ chăn: Thật ra, điều tạo nên một thừa-tác-vụ, không phải là chính tác động mà là bí tích Truyền Chức. Chỉ có phép Truyền Chức Thánh mới ban cho vị thừa-tác-viên nhận chức sự tham gia vào chức tư tế của Đức Kitô.(70) Chức vụ thi hành với tư cách là kẻ thay thế được xem là hơp pháp, là vì các chủ chăn đã lãnh nhận một cách công khai sự đại diện chính thức. Vậy khi thi hành chức vụ này, người thay thế phải lệ thuộc vào quyền lãnh đạo của Giáo-quyền.(71)

Thượng Hội Đồng Giám Mục vừa qua đã trình bày cho thấy một cái nhìn bao quát tình trạng Giáo Hội về các thừa-tác-vụ, nhiệm-vụ và chức-vụ của những người đã chịu phép Rửa Tội. Các Nghị Phụ đã hết lòng thán phục những sự cộng tác tông đồ của các tín hữu giáo dân nam nữ để làm cho Giáo Hội được sống và tăng trưởng bằng các ơn đoàn sủng, bằng các hoạt động nâng đỡ việc truyền giáo, việc thánh hóa và sống đạo. Đồng thời các vị Nghị Phụ cũng rất quý mến sự tận tâm sẵn có của họ để phục vụ các cộng đồng trong Giáo Hội, và việc chuẩn bị sẵn sàng của họ để thay thế các vị chủ chăn trong những trường hơp khần cấp hoặc trong các nhu cầu nhất thời.(72)

Sau khi Công Đồng cổ võ việc canh tân Phụng vụ, các tín hữu giáo dân cũng ý thức rõ ràng về nhiệm vụ của họ trong khi chuẩn bị tham dự các nghi thức Phụng vụ; vì thế họ đã tỏ ra rất quan tám: Vì việc cứ hành Phụng vụ là một việc Thánh của cộng đồng dân Chúa chứ không riêng gì của hàng giáo sĩ. Lẽ dĩ nhiên việc nào không phảí dành riêng cho các vị có chức Thánh thì phải do các tín hữu giáo dân đảm trách.(73) Một khi chấp nhận việc tham gia thật sự của người tín hữu giáo dân trong việc phụng sự, tự nhiên cũng để chấp nhận họ tham gia vào việc rao truyền Lời Chúa và trách nhiệm mục vụ.(74)

Trong buổi Đại Hội Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, ngoài những phán đoán tích cực ủng hộ, cũng không thiêú những lời chỉ trích bài bác việc dùng từ ngữ "thừa-tác vụ, , việc lẫn lộn chức linh mục cộng đồng với chức linh mục thừa hành, việc bỏ sót không áp dụng luật lệ và định chế của Giáo Hội, việc giải thích tự tiện khái mệm về việc thay thế, chỉ trích xu hướng giáo-sĩ-hóa, các tín hữu giáo dân có nguy tạo nên một cơ cấu phục vụ trong Giáo Hội song song với cơ cấu đã được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh.

Để ngăn ngừa các hiểm họa ấy, các Nghị Phụ lưu tâm đến việc cần thiết phải giải thích rõ ràng bằng cách quy định một từ ngữ chính xác, diễn tả hai điểm quan trọng này (75), sự duy nhất sứ mệnh của Giáo Hội là sứ mệnh tất cả những người đã chịu phép Rửa Tội phải tham gia, và sự khác biệt bản chất mà thừa-tác-vụ của các vị chủ chăn được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh, với các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ khác được xây dựng trên nền tảng của phép Rửa Tội và phép Thêm Sức.

Vì thế, trước khi thừa nhận hay trao ban cho các tín hữu giáo dân các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ hay chức vụ, các chủ chăn phải thận trọng cho họ hiểu là các nhiệm vụ này phát sinh từ phép Rửa Tội . Thứ đến các vị chủ chăn không nên dễ dãi viện cớ trường hợp khẩn trương hoặc thay thế khẩn cấp, khi thật sự không có hoặc lúc có thể sắp đặt một chương trình mục vụ hữu hiệu hơn. .

Các nhiệm-vụ và chức-vụ người tín hữu giáo dân có thể thực thi hơp pháp trong Phụng vụ, trong việc truyền bá Đức Tin và trong các cơ cấu mục vụ của Giáo Hội, phải được thực thi phù hơp với ơn gọi đặc biệt của họ, một ơn gọi khác biệt với các thừa-tác-vụ Thánh. Chính bức Tông Huấn "Truyền bá Phúc âm" của Đức Phaolô VI đã đề cập đến vấn đề này. Bức Tông Huấn đã đem lại những kết qủa rất lớn lao và tốt đẹp vì đã cảnh tỉnh được người tín hữu giáo dân để họ tham gia bằng nhiều cách vào đời sống, và vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội . Bức Tông Huấn đã nhắc nhở rõ ràng rằng: "Môi trường riêng biệt của các hoạt động tông đồ của người giáo dân là thế giới mênh mông phức tạp của đời sống chính trị, của các thực tại xã hội và kinh tế, của đời sống văn hóa, khoa học và nghệ thuật, của đời sống quôc tế, của các phương tiện truyền thông xã hội. Nó cũng bao gồm các thực tại khác đặc biệt mở rộng cho việc rao truyền Phúc âm như tình yêu, gia đình, giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, lao động chức nghíệp và đau khổ. Càng có nhiều giáo dân thấm nhuần tinh thần Phúc âm, ý thức trách nhiệm đối với các thực tại ấy và dấn thân một cách tích cực, đủ khả năng trong việc khai triển các thực tại ấy, và đồng thời ý thức được bổn phận buộc mình phải phát huy tiềm năng Công Giáo của mình đã từ lâu bị chôn vùi và bóp nghẹt, chúng ta càng thấy tầm mức siêu việt và hiệu năng trần thế của nó, để được xử dụng trong công cuộc xây dựng nước Thiên Chúa nghĩa là nước Cứu Rỗi trong Đức Giêsu Kitô".(76)

Trong Thượng Hội Đồng, các Nghị Phụ cũng đã khảo sát về chức Đọc Sách và chức Cầm Nến. Ngày xưa, trong Giáo Hội Latinh, hai chức này chỉ là hai giai đoạn thiêng líêng dọn đường đưa đến các Chức Thánh; nhưng Đức Phaolô VI trong Tự Sắc Ministeria quaedam - (15-8-1972) đã quyết định có thể truyền riêng hai chức này cho các nam tín hữu giáo dân.(77) Các Nghị Phụ đã đề nghị phải nghiên cứu lại Tự Sắc Ministeria quaedam đối chiếu với việc thi hành của các Giáo Hội địa phương, và nhất là định rõ các tiêu chuẩn để chọn các ứng cử viên vào các chức vụ ấy."(78)

Để thực hiện điều này, một ủy ban đặc biệt đã được thành lập. Ủy ban này không những có mục đích đáp lại ước nguyện các Nghị Phụ, mà nhất là để nghiên cứu một cách sâu rộng các vấn đề thần học, phụng vụ, pháp lý và mục vụ được nêu ra vì hiện nay quá nhiều thừa-tác-vụ được trao phó cho giáo dân.

Trong thời gian chờ đợi công việc nghiên cứu của ủy ban kết thúc để việc thi hành các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội trao cho tín hữu giáo dân cho có trật tự và hữu ích, các Giáo Hội địa phương phải tôn trọng những nguyên tắc thần học đã dẫn giải ở trên, nhất là sự khác biệt căn bản giữa chức linh mục thừa hành và chức linh mục cộng đồng, và do đó, sự khác biệt giữa các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Truyền Chức Thánh và các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Rứa Tội và phép Thêm Sức.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
TIN MỪNG CHO NGƯỜI GIÀU

 

Phúc Âm Nhật Ký ngày 11.02.2007

(Lc 6:17.20-26)

Còn gì  hạnh phúc hơn những giây phút sống bên người thân yêu trong những ngày đầu xuân ? Tất cả con tim như mở ra đón nhận luồng sinh khí mới từ cảnh trời đang vào xuân.   Nếu suốt năm, ngày nào cũng như ngày tết, chắc chắn cuộc đời đã vơi đi bao  đau khổ. Nhưng dù 360 ngày chìm ngập không khí mùa xuân, con người vẫn luôn khát khao và mơ ước hạnh phúc.  Hạnh phúc nằm trong hay vượt ngoài tầm tay ? 

Ngay cả khi hạnh phúc nằm trong tầm tay, con người vẫn thấy xa vời vợi.  Cuộc đuổi bắt không bao giờ ngừng.  Thế nhưng, Ðức Giêsu muốn cho thấy hạnh phúc nằm ngay giữa những đau khổ trong cuộc sống. 

Trong Thánh Kinh, khi ngỏ lời với con người, hầu như Thiên Chúa bao giờ cũng nói tới hạnh phúc.[1]  Giàu sang, quyền lực, danh vọng là phúc hay họa ?  Nếu họa, tại sao ai cũng mơ ước và theo đuổi ?  Nếu phúc, tại sao có người tìm cách lánh xa ? 

Khác với Mathêu, Luca có nhắc tới mối họa nữa.  Mặc dù trong Tin Mừng Luca, Ðức Giêsu chỉ trích những người giàu, nhưng Công Vụ Tông Ðồ cho thấy Giáo hội sơ khai chia sẻ của cải, chứ không vứt bỏ.  Mọi người lo làm phúc bố thí.  Những người có phương tiện đã chào đón và chia sẻ của cải cho ông Phaolô (Cv 16:11-15; 17:12).  Lời nói cuối cùng ngỏ với dân thành Êphêsô, ông khuyên họ làm việc để giúp đỡ người nghèo khổ và đau yếu (Cv 20:32-35). 

Dĩ nhiên, vật chất góp phần không nhỏ cho hạnh phúc con người.  Nhưng đó không phải là mục đích của Chúa khi công bố các mối phúc.   Người giàu cũng có thể lãnh trọn vẹn các mối phúc như người nghèo.  Của cải, quyền bính, danh vọng là những hồng ân.  Chúa Giêsu không bao giờ lên án những hồng ân Chúa Cha đã ban cho nhân loại.  Người chỉ cảnh cáo họ trước những nguy hiểm của các thực tại trần gian mà thôi.  Họa hay phúc đều tùy con người.  Hạnh phúc không phải là tổng hợp những gì con người sở hữu trên trần gian.  Hạnh phúc chỉ đến khi con người dành được quyền làm chủ trên các thực tại đó.   

Nếu không có những người giàu chia sẻ của cải, làm sao người nghèo có thể tồn tại ?   Ví dụ người giàu nhất thế giới như Bill Gates viết chúc thư dành 95% tài sản kếch sù cho người nghèo.  Người giàu như thế không phải là đối tượng hứng chịu những nguyền rủa của Chúa.  Chính khi chia sẻ cho người khác, họ sẽ trở nên nghèo hơn về tinh thần và thể chất, để hưởng trọn vẹn niềm vui của giao ước mới.  Nếu nhìn nhận  của cải là hồng ân Thiên Chúa, người giàu sẽ coi chia sẻ là một bổn phận, chứ không phải việc làm tùy thích.  Bổn phận ấy phát xuất từ một giao ước ngầm với Thiên Chúa.   Có vay có trả. Giúp đỡ người nghèo là cách duy nhất để hoàn thành giao ước và trả ơn Thiên Chúa.  Không có Thiên Chúa, làm sao có của cải ?   Nếu xử dụng của cải đúng theo đường lối Chúa, họ còn lãnh nhận được những ơn cao quý hơn.  Ðó là “ơn cứu độ, tự do, công lý, và hạnh phúc đến từ niềm tin vào các lời hứa của Chúa và niềm hy vọng vào lòng thương xót và ân sủng của Người.”[2] 

Dĩ nhiên nếu cứ khư khư giữ tất cả của cải, không chia sẻ cho ai, người giàu có dư điều kiện để sống với “lụa là gấm vóc và yến tiệc linh đình.”   Những hạng giàu có như người phú hộ đã sống xa hoa trước cảnh cùng cực của Ladarô, sẽ phải giật mình khi thấy cuộc sống quá khác biệt giữa  Âm Phủ và Thiên Ðàng (x. Lc 16:19-31).  Công Vụ Tông Ðồ (Cv) cho thấy Giuđa phản bội chỉ vì tham lam của cải (1:18). Chỉ vì ham tiền, hai vợ chồng Khanania và Saphira lừa dối cộng đoàn, nên đã phải chết tươi dưới chân thánh Phêrô (5:1-11).  Simon miền Samaria đã bị thánh Phêrô nguyền rủa vì cố dùng tiền bạc hối lộ các Tông đồ mà chiếm các ân huệ thiêng liêng (8:14-24).  Ðó là những cách tiền bạc làm chủ, khuynh loát và mê hoặc con người.   Nhưng người giàu nào cũng như thế, làm sao họ được hưởng hạnh phúc thứ nhất dành cho những người nghèo ? 

Giúp đỡ người nghèo là một bổn phận bắt buộc, chứ không phải là một việc làm tùy ý hay chỉ phải làm sau khi đã lo xong mọi chuyện.  Bác ái không mỏi mệt.  Bác ái không chờ đợi thời gian.  Bác ái không phải là một hành vi phụ thuộc vào những việc khác.  Nhưng bác ái là một giới răn tối quan trọng phải được thực hiện không ngừng.  Bác ái là yếu tính của Kitô hữu.  Không phải vì một số phần tử lạm dụng, chúng ta có quyền từ chối làm việc bác ái.  Trong số những hành khất, biết bao kẻ nghiện ngập và gian manh.  Nhưng không phải vì thế việc bác ái mất giá trị và không còn cần thiết.  Làm bác ái vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân.  Tự bản chất, bác ái là một chứng từ rất mạnh mẽ và thiết yếu để hoàn thành sứ mệnh Kitô hữu. 

Của cải không phải là một mối họa.  Những lời nguyền rủa trong Tin Mừng Luca thực ra là những câu ta thán về những người giàu lãng quên Thiên Chúa hay không còn khát vọng Thiên Chúa nữa.  Ðó là dấu chỉ Chúa quan tâm tới người giàu.  Nếu hoàn toàn bị luận phạt như quỷ dữ, họ sẽ chẳng bao giờ được Chúa nhắc nhớ tới nữa.  Tình yêu Chúa dành cho hết mọi người, nhưng theo những cách thức khác nhau.  Với người nghèo, Chúa chúc phúc và hứa một cuộc đổi đời, dẹp tan những cơ chế bất công.  Với người giàu, Chúa cảnh cáo về những nguy hiểm chết người nơi tiền của.[3]  Muốn tránh những cạm bẫy do tiền của, người giàu cần phải chia sẻ.  Thay vì dồn hết tham vọng vào tiền của, họ nên quan tâm tới người nghèo.  Ðược thế, ơn cứu độ chắc chắn sẽ đến với họ.  Ðó là Tin Mừng cho người giàu.  

Ngày nay trong Giáo hội, thiếu gì người từ bỏ mọi sự theo Chúa Kitô, sống trong tình liên đới thực sự với người nghèo và vì thế họ bị nguyền rủa, ghét bỏ và bách hại.  Giáo hội tùy thuộc vào lòng quảng đại của những người có phương tiện giúp việc truyền giáo.  Càng quảng đại giúp đỡ người nghèo, càng có cơ hội đón nhận những phúc lộc vượt trên những của cải vật chất.

Nhưng sau khi được cứu khỏi những bức bách vật chất, người nghèo phải biết vươn lên trên vật chất để đạt tới sự tự do đích thực của con cái Chúa.  Nếu họ hoàn toàn thờ ơ trước những vấn đề liên đới với người giàu và chỉ quan tâm thỏa mãn chính mình, họ sẽ lãnh đủ tất cả mối họa từ của cải vật chất.  Người nghèo có thể gặp nguy hiểm nơi của cải như người giàu.  Thử nhìn xem những người vô sản chuyên chính đang làm gì.  Họ có phải là những người nghèo nằm trong mối phúc thứ nhất không ?  Có thể họ xuất thân từ những giai cấp công nhân và nông dân.  Họ đã nhân danh giai cấp vô sản để tranh đấu.  Nhưng khi đạt mục tiêu, họ đã làm gì cho những người nghèo ?   Lý tưởng ban đầu quá xa vời, chỉ vì họ cũng không thoát khỏi ma lực vật chất.

Vượt lên trên biên giới giàu nghèo, Tin Mừng thực sự chỉ dành cho những ai đang “làm giàu trước mặt Thiên Chúa.” (Lc 12:20)   Ðó là những người giàu đang hy sinh giúp đỡ người nghèo.  Ðó cũng là những người nghèo đang sống sâu xa tình liên đới với anh em.  Trong lịch sử, nhiều nơi Giáo hội đã bị mang tiếng vì chỉ “lo an ủi những người nghèo và bảo đảm an toàn cho người giàu,” như tiểu thuyết gia linh mục Jean Sulivan tả oán.  Nhưng Tin Mừng không bao giờ ve vuốt người giàu.  Thực tế, Tin Mừng trở thành một thách đố lớn cho những ai đang nắm trong tay quyền lực, của cải v.v.   Không thể tìm thấy sự phân biệt giai cấp trong Tin Mừng.  Giàu hay nghèo vẫn thấy nơi Tin Mừng một sức mạnh giải thoát thực sự cho con người được làm người.  Trái lại, những cơ chế bất công đang nghiền nát  con người. 

Giữa những bế tắc hôm nay, có thể tìm được lối thoát không ?  - Có chứ !  Lối thoát đó Chúa đã vạch ra trong Các Mối Phúc.  Ðó là nguồn phát sinh hạnh phúc con người.  Chúng ta không thể không đối mặt với những thách đố trong đời, như nghèo đói, nước mắt, máu lửa v.v.  Nhưng Ðức Giêsu chỉ cho chúng ta thấy con đường tìm thấy suối nguồn và đối tượng niềm vui hôm nay là chính Thiên Chúa giữa những thách đố ấy.[4]

Lạy Chúa, xuân đang đến trên quê hương con.  Nhưng bóng đêm vẫn bao trùm khắp nơi.  Xin cho  chúng con  mau thấy mùa xuân tràn ngập Các Mối Phúc để chúng con thực sự  vươn lên làm người  sống tự do và hạnh phúc.  Amen.

đỗ lực    11.02.2007

dzuize@gmail.com


[1] Pinckaers, S., O.P., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes.  New York : 2005:26.

[2] ibid.:27.  [3] x. Lời Chúa Cho Mọi Người 2005:301.  [4] ibid.

 
VỀ MỤC LỤC

TỔNG KẾT ĐỂ KHAI TRƯƠNG

 

Thời gian tại Việt Nam lúc này là đầu năm dương lịch và cuối năm âm lịch.

Thời gian này là thời gian tổng kết. Tổ chức nào cũng tổng kết. Lớn thì tổng kết lớn. Nhỏ thì tổng kết nhỏ, đôi khi cũng lớn.

Nghe các bài tổng kết trên đài truyền hình, và đọc các tài liệu tổng kết trên các báo, tôi tự tổng kết lại thành một bài học chung và một bài học riêng.

Bài học chung là con đường chung dẫn tới việc đánh giá một năm qua của các tổ chức ban ngành. Con đường đó thường gồm 5 yếu tố:

1/ Nhìn tình hình chung,

2/ Nêu lên một vấn đề do trách nhiệm trao,

3/ Suy tư vấn đề đã nêu,

4/ Nhấn mạnh đến các hoạt động để giải quyết vấn đề.

5/ Đánh giá việc giải quyết dựa theo vài tiêu chuẩn được lựa chọn.

Bài học riêng rút ra từ mỗi tổng kết. Nó gồm 02 yếu tố:

1/ Trình độ thông minh của cái trí được diễn tả qua tổng kết.

2/ Mức độ đạo đức của cái tâm toát ra từ hồn của tổ chức tổng kết.

Qua những bài học rút ra từ các tổng kết trong thời gian qua, tôi thấy gợi lên trong tâm trí tôi một vấn đề quan trọng cho Hội Thánh Việt Nam của chúng ta.

Vấn đề quan trọng đó, là vấn đề đào tạo nhân sự cho thời kỳ mới

Tất nhiên, đào tạo vốn được Hội Thánh ta quan tâm trong bất cứ thời buổi nào. Nhưng, lịch sử không dừng ở một chỗ. Lịch sử Đất Nước chúng ta đã bước vào giai đoạn phát triển. Phát triển về nhiều mặt cao quý. Phát triển với tốc độ nhanh.

Trước tình hình này, Nhà Nước đang nhấn mạnh đến việc đào tạo. Các tôn giáo bạn cũng mở rộng việc đào tạo. Hội Thánh tại Việt Nam ta cũng đã nhận thức rõ, và đang đi sâu vào vấn đề đào tạo.

Để góp phần nhỏ vào công trình trọng đại này, tôi xin được nêu lên vài điểm, mà tôi cho là cần thiết. Mong mọi tín hữu có thể trở thành chứng nhân cho Tin Mừng trong giai đoạn phát triển này.

1/ Chăm sóc đời sống nội tâm sao cho đúng và sâu

Đời sống nội tâm căn bản là đời sống ta lãnh nhận khi chịu phép Rửa, để ta được nhận làm con Chúa, được chia sẻ sự sống của Chúa.

Nhưng, lúc đó, đời sống ấy mới chỉ như hạt giống. Hạt giống này cần nảy nở. Nó sẽ nảy nở nhờ sự ta hằng ngày biết lắng nghe Chúa, biết đón nhận ơn Chúa, biết cộng tác vào chương trình cứu độ, mà Chúa muốn nơi ta.

Nhờ ơn Chúa trong ta, ta sẽ sống cuộc đời ta như một hành trình đồng hành với Chúa Kitô. Nghĩa là sẽ trải qua những gian nan, thử thách, đớn đau, trước khi vào cõi phục sinh.

Nhờ đời sống nội tâm đúng và sâu, chúng ta sẽ biết phân biệt những giá trị tương đối, để luôn trung thành vào giá trị tuyệt đối là được có Chúa ở cùng.

Thời kỳ phát triển sẽ phát triển nhiều giá trị phụ thuộc. Nếu ta không cảm nhận được có Chúa trong ta là hạnh phúc tuyệt đối, thì ta sẽ dễ đổ hết công sức vào những hạnh phúc tương đối. Tất nhiên, ta không coi thường những giá trị tương đối. Nhưng những phấn đấu của ta cho những giá trị đó sẽ phải được đặt dưới sự hướng dẫn của Chúa, để mọi sự đều trong trật tự.

Rất nhiều người, vì không được hướng dẫn bởi đời sống nội tâm bền vững, nên đã có những lựa chọn sai lầm trong mục đích làm sáng danh Chúa. Họ thiếu sự tự do nội tâm. Nội tâm họ bị áp lực bởi nhiều thứ giá trị đạo đức ảo do trí vẽ, dư luận và ma quỷ tạo nên. Hiệu quả là họ sống trong thời phát triển, như con thiêu thân.

Người có đời sống nội tâm dồi dào, thì ngay sự hiện diện của họ cũng toả ra được luồng khí thiêng liêng, khiến những người thiện tâm xung quanh cũng có thể cảm thấy một sức mầu nào đó.

Chính vì thế, mà trong giai đoạn các giá trị đua nhau phát triển, chúng ta phải quan tâm rất nhiều đến việc đào tạo chính bản thân ta và mọi người thuộc về ta, sao cho có một đời sống nội tâm sâu sắc. Hy vọng nhờ vậy, chúng ta sẽ là men, là muối cho môi trường ta sống và phục vụ.

Ngoài đời sống nội tâm, thiết tưởng chương trình đào tạo cũng cần để ý đến việc phát triển khả năng đối thoại với các tôn giáo bạn.

2/ Trau dồi khả năng đối thoại với các tôn giáo bạn

Các tôn giáo bạn đang và sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam. Quan hệ tốt với các tôn giáo bạn là một việc đạo đức nên được ta quan tâm đặc biệt.

Để những quan hệ đó đưa tới một kết quả chung, có lợi cho nhau và cho Đất Nước, thiết tưởng chúng ta cần có những chuẩn bị.

Ngoài phong cách tác phong chân thành, kính trọng trong đối xử, chúng ta đừng quên mở rộng tầm nhìn của ta đối với các giá trị của tôn giáo bạn.

Đã từ mấy năm nay, sức khoẻ không cho phép tôi đi thăm viếng các chùa chiền, thiền viện của Phật giáo. Nhưng qua các tin tức và hình ảnh trên đài, trên báo, tôi thấy Phật giáo Việt Nam đang phát triển mạnh và được đề cao về:

- Truyền thống đồng hành với dân tộc,

- Chăm lo việc từ thiện,

- Duy trì tính chất tu thân,

- Bảo tồn được nhiều di tích lịch sử có giá trị cao.

Một bạn độc giả "Công giáo và Dân tộc" mới gởi cho tôi hơn 40 cuốn sách Phật giáo với những đầu đề khác nhau. Tất cả đều được xuất bản sau năm 2000, do các nhà xuất bản trong Nước. Tôi mới đọc qua, và nhận thấy một nguồn sức mạnh tôn giáo đáng kính nể. Nó đang tiếp tục lan rộng, và có thể sẽ giữ một địa vị rất đáng kể trong văn hoá và đạo đức tại Việt Nam trong giai đoạn mới và mãi mãi sau này.

Tôi nghĩ: Biết người biết ta trên đường phục vụ là việc của lương tri lành mạnh.

Sau cùng, việc đào tạo nhân sự cho Hội Thánh Việt Nam thời phát triển cũng cần để ý đến việc đào tạo tài đức, có khả năng phục vụ Hội Thánh, và xã hội Việt Nam đang phát triển.

3/ Nâng cao khả năng phục vụ xã hội và Giáo Hội ở mọi tầng lớp

Người Công giáo Việt Nam tài đức ở trong nước và ở ngoài nước không phải hiếm. Nhưng cũng cần tăng thêm về chất lượng và số lượng. Cần nhất là gây được niềm tin. Sẽ đến lúc Công giáo Việt Nam phải tỏ mình có khả năng trả lời cho những tình thế cởi mở.

Từ mấy tháng nay, tôi thấy nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ mới với các tầng lớp xã hội. Thí dụ: Đi sâu vào tầng lớp dân nghèo, có mặt trong các sinh hoạt trí thức, phục vụ trong mọi lãnh vực như văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, kinh tế, y tế, chính trị. Trong Giáo Hội cũng vậy, nhiều tín hữu đã tích cực tham gia với tinh thần con thảo. Trong biến cố Đức Thánh Cha Benêđitô XVI bị Hồi giáo chỉ trích kịch liệt, tôi có viết thư nâng đỡ Ngài. Ngài đã trả lời với tâm tình ưu ái.

Trước lễ Noel vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có gọi điện thoại cho tôi, để chúc mừng lễ Giáng sinh và Năm mới. Tiện dịp, tôi có trao đổi với Ngài Thủ tướng vài nhận xét của tôi, như tình hình đạo đức trong nước, đời sống nông thôn, trách nhiệm của các phương tiện truyền thông, phong cách lãnh đạo của bản thân Thủ tướng. Ngài Thủ tướng rất cởi mở, lắng nghe.

Mấy sự kiện trên đây cho phép tôi nghĩ rằng: Thời mở ra và phát triển có nhiều cửa cho các mối tương quan phục vụ công ích. Vì thế mình phải chuẩn bị kỹ cả về cái trí cả về cái tâm.

Nhạy bén với tình hình này khiến Hội Thánh chúng ta phải chuẩn bị nhiều hơn trong việc đào tạo. Tình hình sẽ rất mới. Mỗi người chúng ta cần luôn tỉnh thức tìm thánh ý Chúa. Ta phải làm những gì Chúa sai ta làm. Ta phải đến với địa chỉ Chúa sai ta đến phục vụ. Đó là thực chất lương tâm trách nhiệm. Làm đúng việc, dấn thân đúng lúc, đó là điều Chúa chờ đợi nơi ta, như những cộng tác viên trung tín và khôn ngoan.

Trên đây là một cách tổng kết phương hướng của tôi trong năm cũ. Nó cũng trở thành một hướng để khai trương cho Năm mới Đinh Hợi. Khai trương này tôi dâng lên Chúa giàu lòng thương xót, và để chia sẻ với anh chị em, như quà đầu Xuân. Chứ trên thực tế, với sức lực mòn mỏi, tôi chỉ còn sống trong niềm phó thác mà thôi.

Xuân mới, xin cầu chúc cho Đất Nước và Hội Thánh Việt Nam một năm phát triển tốt, đặc biệt là trong lãnh vực đào tạo.

Long Xuyên, ngày 21  tháng 01 năm 2007

+ Gm. GB. BÙI TUẦN

VỀ MỤC LỤC

LỜI CHÚC CỦA SƯ HUYNH ZACHARIE NGUYỄN TẤN KIỆT

  

- Lời chúc của tôi cho bạn là :

Có một ngày, một giây phút tuyệt vời

Một hội ngộ

Một nụ cười

Một hành động khuyến khích

Một bàn tay chăm sóc

Một ánh mắt thông cảm

Một cái gì đó tốt lành, đẹp đẽ

Một cái gì đó hiền dịu, cuốn hút sự quan tâm, chú ý

Một cái gì đó cho bạn một hơi thở trong mát

Và khuyến khích bạn, làm cho bạn cất tiếng ca và tạ ơn

Và thúc đẩy bạn phục vụ

Một cái gì đó làm cho bạn trầm lặng

Một cái gì đó đụng đến bạn, mời gọi bạn cầu nguyện...

 

- Lời chúc của tôi cho bạn là :

Bạn có thể làm cho một người được hạnh phúc

Qua lần xuất hiện

Qua lời nói của bạn

Qua lòng nhân từ, hành động thông cảm

Qua sự khuyến khích, ủi an

Qua thái độ lắng nghe

Qua viết lách

Qua hiện diện

Qua tình bạn

Qua sự thấu cảm của bạn

Đối với người ấy...

 

 -Lời chúc của tôi cho bạn là :

Bạn có ít nữa một người

Mà với họ, bạn cảm thấy an toàn

Có thể yên tâm tin tưởng

Để về nhà ...

 

- Lời chúc của tôi cho bạn là :

Vào mỗi lúc chiều tà

Bạn có thể thì thầm :

-Phải rồi ! Cuộc sống thật là tuyệt diệu !

Bạn hữu tôi quá tốt !

Tôi thỏa mãn !

Và, mỗi ngày

Bạn có thể tạ ơn Chúa !

 

- Tết đến rồi!

Ăn Tết xong, mỗi người trong chúng ta, dù muốn dù không, đều thêm một tuổi.

Trên quan điểm Kietisme, tôi đề nghị mỗi chúng ta rất nên tự soi xét lòng mình, để củng cố TÂM PHẬT.

Nói năng, viết lách cho thêm tình thêm nghĩa, để phát triển KHẨU PHẬT.

Và, mạnh tay chia xẻ cái may lành của mình cho bất cứ ai cần, để thể hiện HÀNH VI PHẬT.

 

Sống có cái NHÀ

Chết có cái MẢ.

Từ NHÀ đến MẢ

Phải BUÔNG Xả dần dần.

Buông xả TẤT CẢ

Kể cả cái NGẢ.

 

Càng XẢ

THẢ

NHẢ

Càng nhẹ nhàng

THƯ THẢ.

Đó là quan điểm của Kietisme.

Kính chúc tất cả quý độc giả

“Kietisme giản yếu”

Một NĂM ĐINH HỢI

Trọn vẹn như vậy.

 

Tết ĐINH HỢI 2007

ZACHARIE NGUYEN TẤN KIỆT

LASAN TABERD, SAIGON - VIET NAM

[Ghi chép của Thuận Châu PHAN VĂN KHẢI]

VỀ MỤC LỤC

VALENTINE & NĂM MỚI ĐINH HỢI: CHUYỆN TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG MÙI

 

Ông Mùi tính khí vui tươi

Hiền lành như bụt, mọi người nể nang

Ngờ đâu sau chuyến về làng

Ông đâm sinh tật, “ăn hàng” ngoài bar

Kiều Trinh trẻ đẹp, mặn mà

Ngày đêm chăm sóc, thiết tha ân cần

Ông Mùi sung sướng vô ngần

Cho nên hứa hẹn chẳng cần nghĩ suy

Hứa rằng: “Về đến Hoa Kỳ,

Anh lo bảo lãnh, vu quy có ngày!”

Ông Mùi khờ quá, đâu hay

Si-đa, Trinh đã truyền lây qua mình

Về Mỹ, thay đổi tính tình

La con chửi cháu, coi khinh bà Mùi

Làm cho cháu chắt mất vui

Vợ buồn con khóc, sụt sùi, thảm thương!

Một hôm ông đến nhà thương

Để xem lượng máu, lượng đường ra sao?

Ngờ đâu! Bác sĩ gọi vào

Rỉ tai hỏi nhỏ: “Khai mau! Khi nào?

Ăn chơi trác táng ra sao?

Giờ Si-da đã lan vào người ông?”

Nghe xong, Mùi bỗng hãi hùng

Lái xe lảo đảo, lung tung xà bèng

Đụng vào một chiếc xe Ben

Cái xe nát bét, teng beng, kinh hoàng!

Say mê tửu sắc, hoang đàng

Quà Sida đó! Bịnh mang về nhà

Ai ơi, chớ có la cà

Ăn chơi trác táng cửa nhà nát tan

Sida thời bịnh ngập tràn

Dính vào một phát, tiêu tan cuộc đời

Vợ chồng, trung tín trọn đời

Gia đình hạnh phúc, mọi người an vui

Đinh Hợi, năm mới ai ơi!

Đừng mê tửu sắc, tiêu đời, hại thân

Lỡ bước, còn rút được chân

Chứ lỡ… cái ấy, thiệt thân, mất (linh) hồn!

Bạn có biết tại sao hôm nay tôi lại kể cho bạn nghe chuyện tình dại dột của ông Mùi qua những vần thơ lục bát này hay không? Là bởi vì tôi đã từng nghe, từng thấy và từng chứng kiến nhiều cảnh li tán, chồng vợ lục đục, xào xáo, bất hòa và thậm chí đưa nhau ra tòa li dị nhau … vì cái

HỘI CHỨNG THÍCH HƯỞNG LẠC ở bên Việt Nam của một số Việt Kiều trong đó gồm đủ mọi giới: thiếu niên choai choai, thanh niên, trung niên và cả lão niên nữa!

Mối tình … cuối … đời của ông Mùi chỉ là một trong những chuyện buồn nhiều tập đã và vẫn còn đang xảy ra trong rất nhiều gia đình Việt Nam mà thôi!

Ông Mùi lúc đầu về Việt Nam với cái lý do rất ư là chính đáng, vì thương nhớ quê hương là chùm khế ngọt mà ngày xưa ông đã từng trèo hái mỗi ngày. Ông về thăm quê hương với những mục đích rất ư là chính đáng: Thăm nom, chăm sóc, báo hiếu cha mẹ già, thăm mồ mả ông bà tổ tiên, thăm bạn bè, họ hàng làng xóm… Thế nhưng vì là Made in Việt Kiều, vì tổng thống

Franklin (tức tờ đôla 100) cứ theo sát ông như là một tên cận vệ trung thành cho nên dù ông đã ngoài lục tuần, mặc dầu bù loong đinh ốc đã đến ngày rã rời , dù đã ba thứ tóc trên đầu (trắng, xám và … quăn), ông vẫn bị xập bẫy của những con hồ li tinh như thường (theo nguyên văn như lời bà Mùi). Ông xụp hầm là bởi vì ông đã được em Kiều Trinh (trẻ hơn cả con gái út của ông) chiều chuộng, chăm sóc, và được nghe những lời nịnh nọt, tâng bốc ngọt ngào: anh của em, cưng của em, my honey … ngọt như đường cát, mát như đường phèn, nhưng sau này ông mới thấy nó chua hơn hèm… Ông Mùi đã sa đọa, những cuộc ăn chơi trác táng bắt đầu xảy ra. Kết quả là ông rời quê hương với một ổ vi trùng siđa, một căn bịnh thời đại, ở trong người.

Mối Tình Cuối … Đời của ông Mùi trong ngày mừng Xuân Đinh Hợi xem như là một tiếng chuông cảnh báo cho những ai đang trên đường sa đọa và đang bị mê hoặc, bị đắm đuối bởi những nàng tiên nhỏ hoặc những con mèo nhỏ … Hãy cẩn thận! Chớ có mà dại dột giống như ông Mùi để rồi phải ân hận suốt đời vì đã lỡ kiếm củi ba năm thiêu … rụi cuộc đời của mình trong một vài phút!

Bạn thân mến, nếu bạn muốn cho không khí hạnh phúc và thơ mộng của ngày lễ Tình Yêu được tồn tại lâu dài trong gia đình của bạn và nếu bạn muốn cho những lời chúc tốt đẹp như khoẻ mạnh, gặp nhiều may mắn, phát tài, gia đình hạnh phúc, trên thuận dưới hòa, đầm ấm, vạn sự như ý … mà bạn nhận được từ những người thân quen trở thành hiện thực trong năm mới Đinh Hợi này thì tôi nghĩ, trước tiên, bạn phải sống TRUNG TÍN với vợ hoặc với chồng của bạn!

Hãy ghi nhớ và đọc mỗi ngày câu mà bạn đã thề hứa trước mặt Chúa, trước mặt vị đại diện của Hội Thánh và bà con thân thuộc hai bên khi xưa: “Anh (em) hứa sẽ giữ lòng trung thuỷ với em (anh) khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bịnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em).”

Gieo gió thì gặt bão! Chơi dao có ngày đứt tay! Đi đêm có ngày gặp ma! Ông bà ta nói không sai đâu! Chớ có dại mà đi vào con đường chơi bời trác táng! Có ngày sẽ bị nhiễm Siđa cho mà xem! Lúc đó là kể như tàn đời! Chớ có dại! Mất cả hồn lẫn xác như chơi đấy!


VALENTINE: LỄ TÌNH YÊU

Bạn có biết từ gốc của chữ VALENTINE xuất phát từ đâu không? Từ

trong Tin Mừng của Thánh Gio-an chương 3 câu 16 đấy!

      "FOR GOD SO LOVED THE WORD,

                     THAT HE GAVE

                                HIS ONLY

                                   BEGOTTEN

                                                 SON

                                                    SO THAT EVERYONE WHO

                                             BELIEVES IN HIM

                                                     MIGHT NOT PERISH,

                                        BUT MIGHT HAVE ETERNAL LIFE."

(John 3:16)

Cầu chúc bạn một ngày lễ Valentine thật vui vẻ, hạnh phúc và tràn đầy ơn

Chúa. “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4:16)nếu bạn có Chúa hiện diện ở

trong bạn, ngự trị ở trong gia đình bạn thì bạn sẽ cảm nghiệm được sự

bình an và hạnh phúc đích thực của Ngài.

phamtinh@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
LINH NGHIỆM LỘC THÁNH ĐẦU XUÂN

 

Vào đầu xuân 2003, tôi chẳng mấy bận tâm và ý thức mình có Lộc Thánh đầu năm. Vợ tôi, sau khi dự lễ giao thừa về, trân trọng dán câu Lời Chúa lên phía dưới thấp bàn thờ trong gia đình với tâm nguyện để dễ nhìn thấy, dễ ghi nhớ và suy niệm trong lòng.

Với cách trình bày đẹp mắt, một bên trang trí cánh mai vàng rực rỡ, một bên hình ảnh về Đức Mẹ bồng ẵm Chúa Con. Chính giữa nổi bật câu Kinh Thánh. Tôi đọc được Lời Thiên Chúa rất rõ nét và ngắn gọn:

“Tôi vững vàng tin tưởng, sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.” (Tv 27, 13)

Thế rồi, Lời Chúa vẫn trang trọng ở nơi xứng đáng ấy. Còn lòng trí tôi thì vẫn vô tư trống trơn như không hề bận tâm đến Lời Ngài.

Thời gian trôi dần và cứ thế trôi mau. Cho đến một ngày khoảng tháng 8 năm ấy, vì sức khỏe suy kiệt mỗi ngày mỗi khắc nghiệt, tôi được rước Mình Máu Thánh Chúa tại nhà và anh em trong nhóm “canh tân đặc sủng” của giáo xứ mời gọi tham gia vào cùng đọc và cầu nguyện Lời Chúa. Mới đầu, vì thấy anh em tận tâm nhiệt tình, nên tôi cũng không muốn phụ lòng để hiệp ý cầu nguyện xin Chúa chữa lành. Thắm thoát một tháng rồi hai tháng, tôi vẫn miễn cưỡng thử nghiệm lời mời gọi của họ là một mình cầm lấy Phúc Âm, đọc, suy niệm rồi cầu nguyện mỗi ngày.

Quả là, Lời Chúa thấm, thấm dần, thấm sâu hơn mặc dù tôi không ý thức sâu rộng về Ngài. Như Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng:

“Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Đất tự động sinh hoa mầu: trước hết cây mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và cũng thành bông lúa nặng trĩu.” (Mc 4, 26-28)

Đọc, suy niệm rồi cầu nguyện bằng tâm trí vẫn chưa đủ ý. Tôi nảy ra một cách tốt hơn là viết lại lời cầu nguyện trong một cuốn nhật ký mà tôi gọi tên rất ấn tượng là “NÓI VỚI CHÚA MỖI NGÀY”. Trải qua gần vào cuối năm, tôi bỗng nhìn lại Lộc Thánh và bắt đầu suy tư về câu Lời Chúa gắn nơi trang nghiêm. Tôi mở tìm câu Kinh Thánh trong sách Cựu Ước mà tôi mới nhờ anh em mua tận nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng. Tôi đọc hết thánh vịnh 27 và ngừng lại nơi hai câu cuối. Tôi nhẩm đi nhẩm lại:

“Tôi vững vàng tin tưởng,

sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.

Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!

Hãy cậy trông vào Chúa !” ( Tv 27, 13-14)

Sau vài phút lắng đọng, tôi ùa lên một nhận định thầm kín:

“Ồ ! Chúa động viên tôi: mạnh bạo lên, can đảm lên nào ! Hãy tiếp tục gắn bó với cõi đất dành cho kẻ sống là Lời Hằng Sống của Ngài”.