|
Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế
Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc
Chương 2 (tiếp theo)
TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO
CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT
Đoàn Sủng
24.
Chúa Thánh Thần trong lúc giao phó cho Giáo Hội Hiệp Thông các
thừa-tác-vụ, thì đồng thời cũng làm cho Giáo Hội được sung túc với
nhiều ân hụê và ân sủng đặc biệt khác gọi là đoàn sủng. Các ơn này
có nhiều hình thức khác nhau vì Chúa Thánh Thần Đấng ban phát nhứng
ơn này là Đấng Tự Do tuyệt đối, và vì lịch sử Giáo Hội có nhiều nhu
cầu khác nhau. Tân ước đã mô tả và xếp hạng các ơn nàv, như chúng ta
thấy có rất nhiều loại khác nhau: "Vì
Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người hầu
mang lại ích lợi. Như người này nhờ Thánh Linh được ơn lợi khẩu,
người khác cũng nhờ Thánh Linh được thông thái, bởi một Thánh Linh
đó người này được tín ngưỡng và cũng do Thánh Linh ấy người kia được
ơn trị bệnh; lại người được làm phép lạ, kẻ nói tiên tri, người phân
biệt các tâm kồn, kẻ nói
được nhiều ngoại ngữ, người khác có thể thông dịch
các thứ tiêng" (Cor. 12: 7-10...)
Các đoàn sủng cao siêu hay giản dị, tất
cả đều là ân sủng Chúa Thánh Thần, trực tiếp hay gián tiếp các ơn
này đều đem lại lợi ích cho sự sống Giáo Hội, vì Chúa đã sắp xếp cho
các ơn này được xử dụng để xây dựng Giáo Hội, để bổ ích cho con
người và để đáp ứng lại các nhu cầu của thế giới
Chính trong thời đại chúng ta, chúng ta
cũng thấy đó đây nẩy nở những đoàn sủng nơi người tín hữu giáo dân
cả nam lẫn nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng
các người khác cũng được thông phán và rồi được bảo tồn qua thời
gian như một gia sản sống động, quý giá để tạo nên môt liên hệ
thiêng liêng đặc biệt giữa nhĩeu người. Khi nói đến việc tông đồ
giáo dân, Công Đồng Vaticanô II đã viết: "Để thể hiện việc tông đồ
này, Chúa Thánh Thần thánh hóa dân Chúa bằng bí tích và tác vụ. Ngài
cũng ban cho tín hữu ơn đặc biệt (1 Cor. 12: 7) để "mỗi người tùy
theo ơn đã nhận mà giúp đỡ nhau và chính họ trở nên như những người
quản lý trung tín các ơn Thiên Chúa" (1 Pt. 4:10) hầu xây dựng Toàn
Thân trong Đức ái." (79)
Các ơn Chúa Thánh Thần được phát sinh để
tạo thêm sinh lực dồi dào, vì thế nó đòi hỏi những ai lãnh nhận phải
thi hành để cho Giáo Hội được lớn lên và phát triển như Công Đồng đã
dậy.(80)
Không phải chỉ những ai lãnh nhận các
đoàn sủng, mà tất cả các chi thể của Giáo Hội đêu phải tỏ lòng biết
ơn. Vì các ơn ấy là một kho tàng kỳ diệu ơn sủng Chúa ban cho Toàn
Thân Chúa Kitô để được thánh hóa và hoạt động tông đồ, với đìêu kiện
là nó thật bởi Chúa Thánh Thần mà đến và được thực thi hoàn toàn do
Chúa Thánh Thần thúc đẩy. Vì thế, chúng ta phải luôn thận trọng phân
biệt các đoàn sủng. Thực ra, như các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã
tuyên bố. "Hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng thổi hơi nơi nào
Ngài muốn, thực không phải dễ dàng phân biệt và nhận lãnh . Chúng ta
biết Thiên Chúa tác động trong tất cả các tín hữu và chúng ta cũng ý
thức được các ơn lành do các đoàn sủng, ban cho mỗi người hoặc cho
cả cộng đồng Kitô hữu. Nhưng chúng ta cũng cần ý thức đến sức mạnh
của tội lỗi và những cố gắng của nó nhằm gieo rắc rôi loạn trong đời
sống của các tín hữu và của các cộng đồng".(81)
Vì thế mọi đoàn sủng phải liên hệ và tuỳ
thuộc vào các chủ chăn của Giáo Hội. Công Đồng đã công bố rõ ràng:
"Những vị hữu trách của Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính
cách chân thực và việc xử dụng hơp lý các ơn ấy; các Ngài có nhiệm
vụ thử thách, không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thần, nhưng để
trắc nghiệm và giứ lại những gì là chính đáng"
(82)
để tất cả những đoàn sủng, mặc dầu khác biệt nhưng bổ túc cho nhau,
đều quy về lợi ích chung.(83)
NGƯỜl TÍN HỨU GlÁO DÂN
THAM GlA VÀO ĐỜl SỐNG GlÁO HỘl
25.
Người tín hữu giáo dân tham gia vào sự sống của
Giáo Hội không chỉ bằng cách thực thi các
thừa-tác-vụ hay các đoàn sủng của mình mà còn bằng nhiều cách khác
nữa.
Hành động này phải được thực hiện trước
tiên và cần thiết trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội địa phương
là các Giáo phận, là nơi có "sự hiện diện và tác động của Giáo Hội
Chúa Kitô duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền."
(84)
Giáo Hội địa phương và
Giáo Hội hoàn vũ
Để tham dự một cách chính đáng vào đời
sống Giáo Hội, các tín hữu giáo dân cần có một cái nhìn sáng suốt và
chính xác về Giáo Hội địa phương đôi với Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội
địa phương không phải là một mảnh của Giáo Hội hoàn vũ, và Giáo Hội
hoàn vũ không phải chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương hơp lại.
Nhưng các Giáo Hội địa phương kết hơp với nhau bằng môt giây linh
động, căn bản và trường tồn, vì Giáo Hội hoàn vũ hiện hữu và biểu lộ
trong các Giáo Hội địa phương. Vì thế, Công Đồng qủa quyết là các
Giáo Hội địa phương "được hình thành theo hình ảnh của Giáo Hội hoàn
vũ; chính trong các Giáo Hội địa phương và từ các Giáo Hội này mà
một Giáo Hội Công Giáo duy nhất hiện hữu."
(85)
Công Đồng còn khích lệ các tín hữu giáo
dân sống linh động trong Giáo Hội địa phương, đồng thời ngày càng
hướng đến Giáo Hội hoàn vũ công giáo. Sắc lệnh Tông Đồ giáo dân
tuyên bố. "Giáo dân phải luôn luôn phát triển ý thức về giáo phận và
giáo xứ, vì giáo xứ là một tế bào của giáo phận. Họ phải luôn mau
mắn đáp lại tiếng gọi của chủ chăn và tuỳ sức tham gia vào những
sáng kiến chung của giáo phận . Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu nơi
thành thị cũng như ở thôn quê, họ không chỉ giới hạn sự cộng tác của
mình trong phạm vi giáo xứ hay giáo phận, nhưng cố gắng mở rộng phạm
vi tới các lãnh vực liên xứ, liên giáo phận, quốc gia và quốc tế.
Hơn nữa, việc di dân mỗi ngày một gia tăng, những mối tương giao lại
càng mở rộng và việc giao thông thêm dễ dàng, đã không để một thành
phần xã hội nào sống đóng kín cho riêng mình. Vì thế người giáo dân
phải quan tâm đến những nhu cầu của Dân Chúa rải rác khắp trên thế
giới." (86)
Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 theo các ý
kiến trên đã yêu cầu nên lập các Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận để phục
vụ khi cần. Thực ra, đây là một hình thức chính để hợp tác và đối
thoại và đồng thời để kiểm thảo trên bình diện giáo phận. Sự tham
gia của các tín hữu vào các Hội Đồng này mở rộng môi trường thăm dò
ý kiến và như thế nguyên tắc hợp tác, trong một vài trường hợp cần
hơp tác để quyết định, sẽ được áp dụng một cách rộng rãi và chắc
chắn hơn. (87)
Việc tham gia của người tín hứu giáo dân
vào các đại hội đồng giáo phận hay vào các hội đồng địa phương như
hội đồng tỉnh đã được Giáo Luật dự định
(88).
Việc này làm cho sự thông hiệp được gia tăng và giúp cho sứ mệnh
thuộc Giáo Hội của các Giáo Hội địa phương vừa trong ranh giới giáo
phận cũng như đối với các giáo hội địa phương khác của giáo tỉnh hay
của Hội Đồng Giám Mục.
Các Hội Đồng Giám Mục cũng được mời gọi
nghiên cứu phương thế thực tiễn nhất để phát triển, trên bình diện
quốc gia hoặc bình diện vùng, việc thăm dò ý kiến và việc hơp tác
của các tín hữu giáo dân nam, nữ để mọi người ý thức được các vấn đề
chung và để biểu lộ sự hiệp thông Giáo Hội của mọi hạng người.(89)
Giáo Xứ
26.
Việc hiệp thông của Giáo Hội mặc dầu có tầm vóc bao quát hoàn vũ,
nhưng nó được diễn tả một cách rõ ràng và gần gũi nhất ở trong Giáo
xứ. Giáo xứ là đơn vị địa phương của Giáo Hội. Nói một cách khác
chính là Giáo Hội sống giữa con cái nam nữ của mình.
(90)
Tất cả chúng ta phải dùng Đức Tin để khám
phá bộ mặt thật của Giáo xứ, nghĩa là "mầu nhiệm" của Giáo Hội hiện
diện và tác động trong Giáo xứ. Mặc dầu đôi lúc Giáo xứ không có
nhiều người cũng không đầy đủ phương tiện, có khi Giáo xứ lại tản
mác trên những địa hạt rộng lớn, hay lẩn khuất giữa những khu phố
tân thời đông đúc và lộn xộn. Nhưng Giáo xứ không phải là một cơ
cấu, một địa hạt, hay một ngôi nhà, nó là "một gia đình của Chúa,
một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn"
(91)
là "mái gia đình, đầy tình huynh đệ và mở rộng đón tiếp mọi người"
(92)
là "cộng đồng các tín hữưu.(93)
Tóm lại, Giáo xứ được đặt nền tảng trên một thực tại thần học, vì đó
là một cộng đồng thánh thể.(94)
Nghĩa là một cộng đồng có tư cách cứ hành Bí Tích Thánh Thể, nguồn
gốc cấu tạo nên cộng đồng và đem lại cho cộng đồng sức sống và giầy
liên kết bí tích thông hiệp với toàn thể Giáo Hội. Nói rằng cộng
đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh Thể là vì Giáo xứ là một cộng
đồng đức tin và là một cộng đồng có cơ cấu, nghĩa là được tạo nên
bởi các vị thừa hành có chức Thánh và các Kitô hữu khác dưới quyền
trách nhiêm của một Cha sở vừa đại diện cho Giám Mục Giáo phận
(95)
vừa là môí giây của hàng giáo phẩm liên kết Giáo xứ với toàn Giáo
Hội địa phương.
Công việc của Giáo Hội trong thời đại
chúng ta thật mênh mông, một Giáo xứ tự mình không thể cáng đáng
nổi. Vì thế, Giáo Luật đã dự liệu những hình thức hợp tác giữa các
Giáo xứ trong hạt (96)
và yêu cầu Giám Mục giáo phận phải lưu tâm đến tất, cả mọi thành
phần tín hữu, ngay cả nhữngrgười không ở dưới quyền cai quản mục vụ
của các Ngài.(97)
Cần phải tạo nên những nơi gặp gỡ, đìêu kiện để Giáo Hội có thể hiện
diện và hoạt động hầu đem lại ân sủng và lời Phúc âm vào trong những
môi trường sống phức tạp của con người hôm nav. Một cách tương tự có
nhiều cách thế chiếu rọi ảnh hưởng thiêng liêng hoặc làm tông đồ
trong phạm vi văn hóa, xã hội, giáo dục, chức nghiệp v.v...không thể
lấy Giáo xứ làm trung tâm hoặc khởi điểm. Nhưng Giáo xứ hôm nay đang
sống một giai đoạn mới đầy hứa hẹn. Đức Phaolô VI, khi mới lên ngôi
Giáo Hoàng đã tuyên bố với hàng giáo sĩ Rôma: "Ta tin tưởng là cơ
cấu cổ kính của giáo xứ có một sứ mệnh khán thiết rất hơp thời;
chính Giáo xứ là cộng đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính giáo xứ
phải khai trương đời sống phụng vụ và tập hợp Dân Chúa trong việc cử
hành phụng vụ; giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn và nung nấu đức tin
của đoàn lũ dân chúng hôm nay; giáo xứ còn là trường dạy dỗ giáo lý
Cứu Rỗi của Đức Kitô; nơi tích cực thực thi các công tác bác ái
huynh đệ".(98)
Các Nghị Phụ đã để tâm nghiên cứu thực
trạng hiện tại của nhiều giáo xứ và đã yêu cầu các giáo xứ này phải
canh tân rộng rãi: "Nhiều giáo xứ ở thành thị cũng như tại các xứ
truyền giáo, đã không thể sinh hoạt một cách kết qủa vì thiếu phưưng
tiện vật chất hay thiếu các vị thừa hành có chức Thánh, hoặc vì điều
kiện sinh sống của một số giáo dân (chắng hạn các người phải lưu đày
hay di dân). Để cho các giáo xứ này trở thành những cộng đồng thật
sự giáo quyền địa phương cần:
a) Giúp đỡ để thích nghi cơ cấu giáo xứ
một cách uyển chuyển như Giáo Luật cho phép, nhất là để cho các giáo
dân tham gia vào trọng trách mục vụ.
b) Giúp đỡ các cộng đồng cơ bản cũng gọi
là cộng đồng sống, trong đó người tín hữu có thể truyền thông cho
nhau Lời Chúa cũng như yêu thương, giúp đỡ nhau. Các cộng đồng này
diễn tả trung thực sự hiệp thông trong Giáo Hội và những trung tầm
truyền bá Phúc âm trong sự hiệp thông với các vị chủ chăn."
(99)
Để canh tân các giáo xứ và để các giáo xứ sinh hoạt có kết qủa, phải
tạo nên những hình thức hơp tác, ngay cả trong phạm vi thể chế giữa
các giáo xứ trong một địa hạt.
Hoạt động tông đồ
trong Giáo xứ
27.
Giờ đầy chúng ta hãy nhìn rõ sự hiệp thông và sự tham dự của các tín
hữu giáo dân vào sinh hoạt của giáo xứ. Ở đây cũng nên lưu ý các tín
hữu giáo dân nam cũng như nữ, một lời nói rất xác thực đầy ý nghĩa
và đầy khích lệ của Công Đồng: "Trong các cộng đồng trong Giáo Hội,
hoạt động của họ cần thiết đến nỗi không có thì việc tông đồ của các
vị chủ chăn lắm lúc không đạt được kết qủa mỹ mãn.
(100)
Đây là lời xác nhận căn bản phải được
hiểu theo ý nghĩa của "khoa giáo-hội-học hiệp thông". Các
thừa-tác-vụ cũng như các đoàn sủng, dù khác biệt nhưng bổ túc cho
nhau, nên tất cả đêu cần thiết cho sự trưởng thành của Giáo Hội .
Các tín hữu giáo dân mỗi ngày phải xác
tín hơn ý nghĩạ dấn thân tông đồ của mình trong giáo xứ. Chính Công
Đồng đã có ý nhấn mạnh điều này: "Giáo xứ là một hình thức tông đồ
cộng đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một
cộng đoàn và đưa họ vào tinh thần đại đồng của Giáo Hội. Giáo dân
nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các linh mục của mình để
hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng nên có thói quen trình bày với cộng
đoàn giáo hội những vấn đê riêng của mình hay của cả thế giới hoặc
những vấn đề liên quan tới phần rỗi mọi người, để cùng nhau góp ý
kiến nghiên cứu và giải quyết. Họ cũng phải tuỳ sức mà cố gắng đóng
góp vào mọi công cuộc tông đồ và truyền giáo của gia đình giáo hội
địa phương mình." (101)
Công Đồng nói đến việc "cùng nhau góp ý
kiến" để cứu xét và giải quyết các vấn đề mục vụ, được các Nghị Phụ
nghiên cứu và giải thích rộng rãi theo một cơ cầú tương xứng gọi là
Hôi Đồng Muc Vụ Giáo Xứ. (102)
Trong hiện tình, các tín hữu giáo dân có
thể và phải nổ lực làm sao cho việc hiệp thông giáo hội được nẩy nở
trong lòng giáo xứ có một nghị lực truỳên giáo cho những người chưa
tin, và cho những ai đã tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của
mình. Nếu giáo xứ là Giáo Hội ở trong một phạm vi địa dư, thì Giáo
Hội sống và sinh hoạt trong lòng xã hội loài người và liên đới thâm
sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó. Nhiều khi trong nhiều môi
trường sống, tình cảm xã hội bị giao động bởi vũ lực và làm cho con
người mất hết phẩm giá. Con người bị lạc lỏng mất hết phương hướng,
nhưng trong tâm hồn họ vẫn nuôi ước vọng được cảm nghiệm và tài bồi
môl tương giao đầy tình huynh đệ, và đầy tình người. Ước vọng này,
giáo xứ có thể làm thỏa mãn cho họ, nếu các tín hữu giáo dân hăng
hái tham gia để họ đạo trung thành ơn gọi và sứ mệnh nguyên thủy của
mình, đó là trở thành "nơi " hiệp thông của những kẻ có lòng tin và
đồng thời trở nên "dấu chỉ" và là "phương thể" của ơn gọi mọi người
sống hiệp thông. Tóm lại, giáo xứ là căn nhà mở rộng đón tiêp mọi
người và phục vụ mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là
"giếng nước của thôn xóm" để mọi người đến giải khát.
HÌNH THỨC THAM DỰ CỦA
NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN VÀO ĐỜl SÔNG GlÁO HỘl.
28.
Các tín hữu giáo dân hợp với các linh mục, với tu sĩ nam nứ, làm
thành Dân Thiên Chúa duy nhất, một Thân Thể của Đức Kitô.
Là "phần thân thể" của Giáo Hội, nhưng
mỗi Kitô hữu vẫn là "một hữu thể cá biệt không thay thế được". Ngược
lại, điều này cho chúng ta thấy ý nghĩa sâu xa của tính chất duy
nhất của mỗi người, vì chính nó là nguồn mạch của sự phong phú muôn
mặt của toàn thể Giáo Hội. Vì thế mà Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô
đã gọi mỗi người trong chúng ta bằng tên riêng của họ, không lẫn lộn
người này với người kia. Lời mời gọi của Chúa: "Các con cũng hãy vào
làm việc trong vườn nho của Ta" , lời mời gọi này dành riêng cho
từng người một có nghĩa là: con, chính con, con hãy vào làm việc
trong vườn nho của Thày."
Như thế, mỗi người trong chúng ta, mặc dù
vẫn giữ đặc tính duy nhất của mình, vẫn được trọng dụng để làm cho
sự hiệp thông Giáo Hội tăng trưởng bằng sinh hoạt và sự hiện diện
thực tế của mình, cũng như mỗi người chúng ta nhận lãnh và đồng hóa
theo cách thế của mình, cho sự phong phú của toàn thể Giáo Hội . Đó
chính là ý nghĩa "Các Thánh Thông Công" mà chúng ta tuyên xưng trong
kinh Tin Kính. Ích lợi của mọi người là ích lợi của mỗi người, và
ích lợi của mỗi người là ích lợì của mọi người. Thánh Grêgôriô Cả
nói: "Trong Giáo Hội, mỗi người lo nâng đỡ từng người.(103)
HìNH THỨC THAM GlA CÁ
NHÂN CỦA MỖl NGƯỜl
Điều tuyệt đối cần thiết là mỗi tín hữu
giáo dân phải ý thức sâu xa mình là "phần thân thể của giáo hội " và
nhiệm vụ đặc biệt được giao phó cho mình, một nhiệm vụ không thể
thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính
mình phải chu toàn vì lợi ích chung của mọi người. Theo cái nhìn này
chúng ta mới hiểu được hết ý nghĩa của Công Đồng khi quả quyết rằng
mỗi người bắt buộc phải làm việc tông đồ: "việc tông đồ mà mỗl người
phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô giáo"
(Jn.4:14). Là căn bản và điều kiện của mọi hoạt động tông đồ giáo
dân, kể cả việc tông đồ giáo dân tập thể và không có gì có thể thay
thế việc đó được! Việc tông đồ cá nhân này rất hiệu quả ở bất cứ nơi
nào và thời đại nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có hoạt
động tông đồ này mới thích hơp và mới có thể thực hiện được. Mỗi
người giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, dù không có cơ hội
hay khả năng để cộng tác trong các hội đoàn, đều được kêu gọi, và
hơn nữa phải làm việc cá nhân. (104)
Việc tông đồ cá nhân chứa đựng nhiều kho
tàng phong phú cần được khai thác, để người giáo dân thấy mà thêm
lòng hăng say trong việc truyền giáo. Nhờ hình thức làm tông đồ này
mà ánh sáng Phúc âm được tỏa sáng trên các khu vực và môi trường
sống, trong đó cuộc sống hằng ngày của giáo dân phải tiếp xúc. Đây
là một sự chiếu giãi ánh sáng Phúc âm trường kỳ liên lỉ, vì cuộc
sống cá nhân phải tương đồng với Đức Tin. Đây cũng là một sự chiếu
giãi Phúc âm quyết liệt thâm sâu. Bởi vì người tín hữu giáo dân cũng
chung một điều kiện sinh sống, cùng chung một việc làm, cùng chia sẻ
những khó khãn, những niềm hy vọng của anh em mình, họ có thể cảm
kích tâm hồn người bên cạnh, các bạn hữu, các đồng nghiệp, và mở
rộng cho họ thấy một chân trời toàn diện, ý nghĩa trọn hảo của cuộc
sống. Đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người.
Hình thức tham gia tập
thể.
29.
Sự hiệp thông Giáo Hội đã sẵn có và đang linh động trong sinh hoạt
của mỗi người, lại mang thêm một ý nghĩa riêng biệt khi các tín hữu
giáo dân hơp tác sinh hoạt chung, nghĩa là khi họ đoàn kết để hoạt
động và tham gia với một tinh thần trách nhiệm vào đời sống và sử
mệnh của Giáo Hội .
Trong thời gían sau này, người ta thấy có
rất nhiều hiệp hội giáo dân ra đời và hoạt động rất hăng hái đắc
lực. Trong lịch sử Giáo Hội các hiệp hội tín hữu đã phát sinh và
tiếp nối liên tục cho đến ngày hôm nay như các hội đoàn, các Dòng
Ba, các cộng đồng huynh đệ. Nhưng trong thời đại ngày nay hiện tượng
này đã bùng phát một cách đặc biệt, đây đó phát sinh và lan tràn
nhiều hình thức tập thể như: hiệp hội, nhóm, cộng đồng, phong trào.
Nói được đây là một mùa gặt mới của các hội đoàn tín hữu giáo dân.
Bởí vì "bên cạnh các nhóm cổ truyền, mọc lên những phong trào và
nhóm mới có khi bắt nguồn từ nhóm cổ truyền, nhưng lại có bộ mặt và
mục đích riêng. Nguồn mạch và ơn Chúa Thánh Thần càng phong phú và
muôn mặt trong cơ cấu Giáo Hội, thì khả năng sáng tạo và tâm hồn đại
độ của người giáo dân càng lớn lao."
(105)
Các nhóm giáo dân thường có vẻ khác biệt
nhau trong nhiều khía cạnh, như hình thức bên ngoài, cách sinh hoạt,
phương pháp giáo dục và môi trường hoạt động. Nhưng tất cả đều quy
về một mục đích chung đã thúc đẩy họ, là tham gia một cách có trách
nhiệm vào sứ mệnh của Gíáo Hội, để đem Phúc âm Chúa Kitô đến như là
nguồn hy vọng cho con ngườì, một sinh lực canh tân cho xã hội.
Tín hữu giáo dân qui tụ thành đoàn thể vì
lý do thiêng liêng hay tóng đồ, là do nhiều nguồn mạch thúc đẩy và
cũng để đáp ứng lại nhiều nhu cầu đòi hỏi. Thực ra, bản tính xã hội
của con người và vì con người muốn đạt được hiệu qủa sâu rộng và
quyết liệt trong hành động của mình. Trong thực tế, hiệu lực văn
hóa, ngùôn mạch và khích lệ, cũng là kết qủa và là dấu hiệu biến đổi
xã hội đã không thể đạt được do công việc của từng cá nhân, mà nhờ
vào hoạt động của một "chủ thể xã hộí" nghĩa là của một nhóm, một
cộng đoàn, một hiệp hội, một phong trào, đặc biệt trong một xã hội
muôn mặt và phân hóa như trong nhiều nước trên thế giới ngày nay, và
trước vấn đề đã trở thành quá phức tạp và khó khăn. Nhất là trong
một thế giới đã bị tục hóa, nhiều người thấy rằng những sinh hoạt
hội đoàn có thể giúp họ sống đời sống đạo trung thành với các đòi
hỏi Phúc âm vàdấn thân vào việc truyền giáo tông đồ một cách đắc
lực.
Ngoài các lý do trên, lý do sâu xa đòi
hỏi các tín hữu giáo dân phải tụ tập nhau thành nhóm, chính là lý do
thần học xây dựng trên khoa giáo-hội-học như Công Đồng Vaticanô II
đã công nhán. Công Đồng nhận thầý trong việc tông đồ tập thể là "một
dấu hiệu của sự hiệp thông và tính cách hơp nhất của Giáo Hội trong
Chúa Kitô." (106)
Đây là "một dấu hiệư" phải biểu lộ trong
môí tương giao "hiệp thông" đôí nội và đôi ngoại của các hội đoàn
hay đoàn thể, nằm trong khuôn khổ rộng rãi của Cộng Đồng Kitô hữu.
Chính do khoa giáo-hội-học mà người tín hứu giáo dân có "quyền" qui
tụ thành đoàn thể. Cũng vì lý do này mà cần phải có "tiêu chuẩn"
phân biệt hình thức hiệp hội nào chân chính, đích thực thuộc về Giáo
Hội.
Trước tiên phải công nhán là người tín
hứu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo Hội. Quyền
tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là một hình thức
"nhân nhượng" của giáo quyền mà là hậu qủa đương nhiên của phép Rửa
Tội. Là một bí tích, Phép Rửa Tội kêu gọi các tín hữu giáo dân phải
tích cực tham gia vào sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Công
Đồng đã nói rõ ràng về điều này: "Giáo dân có quyền thành lập các
hội đoàn; điều khiển và ghi tên vào các đoàn thể đã có sẵn. miễn là
phải giữ môí liên lạc cần thiết với giáo quyền".(107)
Giáo Luật lại qủa quyết: "Các tín hữu có quyền tự do thiết lập và
đlêu khiển các hội đoàn nhằm mục đích từ thiện hay đạo đức, hoặc
nhằm cổ võ ơn gọi của người Kitô trong thế giới; họ cũng có quyền
nhóm họp để cùng theo đuổi đạt tới các mục đích đó ".
(108)
Đây là một quyền tự do được công nhận và
bảo đảm do giáo quyền, nhưng phải luôn luôn thi hành trong sự hiệp
thông với Giáo Hội. Do đó, quyền lợi của người tín hữu giáo dân được
tự do hội họp là một quyền lợi nôí kết mật thiết với đời sống chung
và sứ mệnh chính của Giáo Hội.
Tiêu chuẩn để nhìn
nhận tính cách Giáo Hội đối với các Hiệp Hội giáo dân
30.
Cần phải có các tiêu chuẩn rõ ràng và chính xác để phân biệt và nhìn
nhận các hội đoàn giáo dân, có thể gọi là "tiêu chuẩn có tính cách
giáo hội". Đó không phải là để hạn chế quyền tự do hiệp hội mà chính
là để cho các đoàn thể ấy thực hiện được sự hiệp thông và sứ mệnh
của Giáo Hội. Những tiêu chuẩn nền tảng để phân biệt các Hội đoàn
giáo dân trong Giáo Hội là những tiêu chuẩn sau đây:
*** Ơn gọi nên Thánh của
người Kitô-hữu, đó là mục đích tiên
quyết. Điều này phải được biểu lô trong ơn Chúa Thánh Thần phát sinh
nơi người tín hữu (109)
để họ lớn lên cho đên tuổi trưởng thành
sung mãn của đời sống đạo và đến mức trọn lành của đức ái.(110)
Vì thế tất cả các hội đoàn công giáo được
kêu gọi để ngày càng trở nên phương tiện thánh hóa trong Giáo Hội.
Một phương tiện giúp đỡ và khích lệ "sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc
sống thường nhật với Đức Tin của các hội viên."
***
Sự dấn thân tuyên xưng đức tin công giáo trong
việc nhận lãnh và rao truyền chân
lý về Chúa Kitô, về Giáo Hội, và về con người, đúng theo giáo huấn
của Giáo Hội là Thầy dạy chân chính. Tất cả các hiệp hội của người
tín hữu giáo dân phải trở nên "một nơi rao truyền và thông đạt Đức
Tin và giáo dục sống Đức Tin này trọn vẹn."
(111)
***
Phải chứng minh một đời sống hiệp nhất kiên
cường vưng chắc, trong tình nghĩa
phụ tử đối với Đức Giáo Hoàng, trung tâm muôn thuở và hữu hình của
sự hiệp nhất trong Giáo Hội hoàn vũ
(112) đối với Giám Mục "Nguyên
lý hiển hiện và nền móng của sự hơp nhất"
(113)
của Giáo Hội địa phương và "tất cả các hình thức tông đồ khác của
Giáo Hội" (114)
Sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và với
Giám Mục phải tỏ ra bằng cách sẵn sàng, ngay thẳng nhận lãnh các
giáo dân tín lý và chỉ giáo mục vụ của các Ngài. Hiệp thông với Giáo
Hội còn đòi hỏi phải chấp nhận hình thức đa diện hợp pháp của các
tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và đồng thời sẵn sàng hơp tác chung
với nhau.
***
Thỏa thuận và cộng tác để thực hiện sứ
mệnh tông đồ của Giáo Hội, là "rao
truyền Phúc âm và Thánh hoá nhân loại, và đào tạo cho con người một
lương tâm Công Giáo đích thực để họ có thể đem tinh thần Phúc âm
thấm nhuần mọi cộng đồng cũng như mọi lãnh vực của đời sống".
(115)
Theo viễn tượng này, tất cả mọi hình thức
hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải có một tinh thần truyền
giáo hăng say để trở thành dụng cụ ngày càng sinh động cho việc
truyền bá Phúc âm.
***
Dấn thân hiện diện trong xã hội loài người để
phục vụ nhân phẩm toàn diện con
người, đúng theo học thuyết xã hội của Giáo Hội.
Như thế, các hội đoàn giáo dần phải trở
nên những trào lưu mạnh mẽ thu hút nhỉều người và lỉên đới để tạo
nên những điều kìẹn công bình và huynh đệ hơn cho đời sống xã hội.
Những tiêu chuẩn nền tảng vưa trình bày
trên đã được chứng mình rõ ràng trong nhứng kết qủa cụ thể tốt đẹp
trong đời sống và hoạt động của các hình thức hiệp hội, chẳng hạn
việc ưa thích cầu nguyện, suy ngắm, đời sống phụng vu và bí tích;
việc tổ chức để giúp đỡ thanh thíêu niên ý thức ơn gọi hôn nhân, ơn
goỉ linh mục, ơn gọỉ đơi sống tận híên, sẵn sàng tham gia vào các
chương trình và hoạt động của Giáo Hộỉ trên bình dỉện quốc gia và
quổc tế; dần thân vao viêc day giáo lý và trao đổi khả năng sư phạm
để đào tạo ngươỉ Kitô hữu; tìm cách thực hiện sự có mặt của ngườỉ
Kitô hữu trong các lãnh vưc xã hội; thanh lập và làm linh động các
cống tác từ thiện, văn hóa và thiêng liêng tạo tinh thần vô vị lợi
và nghèo khó Phúc âm để thực hiện lòng bác ái đại độ với mọi người,
giúp kẻ đa chíu phép Rửa Tội nhưng lại "bê tha" trở lại đơi sống
Kitô hưu.
Phận sự của vị Chủ
Chăn để thực hiện vỉệc hiệp thông
31.
Trong trường hợp các hiệp hội gặp phải khó khăn và có nhiều hình
thức mới xuất hiện, các vi Chủ Chăn trong Giáo Hôi phải dung quyền
bính của mình, vì lợi ích của Giáo Hội, và cũng vì lợi ích của chính
các hội đoàn giáo dân, các Ngài phải phán đoán, phân bỉệt để hướng
dần nhất là khích lệ cho các hiệp hội ấy trưởng thành trong sự hiệp
thông và trong sứ mệnh của Giáo Hộỉ.
Điều thuận lợi nên làm là các hội đoàn và
các phong trào mới khi đã phổ biến rộng rãi trong nước và ngpài nước
phải được Giáo quyền có thầm quyền chính thức công nhận. Chính Công
Đồng đã qủa quyết về điểm này như sau: "Có nhiều hình thức liên hệ
giữa việc tông đồ giáo dân với hàng Giáo phẩm, tuỳ theo hình thức và
mục đích của mỗi hoạt động... Một số tổ chức tông đồ giáo dân, dưới
hình thức này hay hình thức khác, đã được Giáo quyền công khai chấp
nhận. Ngoài ra vì lợi ích chung của Giáo Hội, Giáo quyền có thể lựa
chọn và cổ võ cách đặt biệt một vài tổ chức trong số những tổ chức
hay hiệp hội tông đồ sẵn có, trực tiếp nhằm mục đích thiêng hêng, và
Giáo quyền cũng nhận trách nhiệm đặc biệt đối với những tổ chức ấy"
(116)
Trong những hình thức tông đồ giáo dân có
mối liên hệ đặc biệt với Hàng Giáo phẩm, các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng đã kê rõ các phong trào hay hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, trong
đó "người giáo dân tự nguyện tổ chức có cơ cấu và cố định theo ơn
soi sáng của Chtía Thánh Thần, trong sự hiệp thông với các Giám Mục
và linh mục để có thể hoạt động một cách hăng say và trung thành
theo đường hướng ơn gọi của riêng mình, để mở rộng Cộng Đồng Kitô
hữu, và để thực hiện các chương trình mục vụ, cũng như để tất cả các
môi trường sống của con người được thấm nhuần tinh thần Phúc âm."
(117)
Hội Đồng Giáo Hoàng phụ trách giáo dân có
bổn phận phải soạn thảo một danh sách các hiệp hội được Tòa Thánh
chính thức chầp nhận và phôí hợp với Văn Phòng Hiệp Nhất Kitô-hữu,
để định rõ điều kiện chấp nhận hay không thể chấp nhận cho một
hiệp-hội-liên-tôn gồm những người Công Giáo và một thiểu số không
Công Giáo. (118)
Tất cả chúng ta, Chủ Chăn cũng như tín
hữu phải tìm mọi cách để duy trì giữa các đoàn thể giáo dân mối giây
huynh đệ để mọi người mến chuộng, yêu thương và hơp tác với nhau.
Chỉ có cách này thì kho tàng ơn Chúa ban cho chúng ta là các ân huệ,
các đoàn sủng, mởi có thể đóng góp một cách dồi dào và trật tự vào
việc xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta: "Để xây dựng chắc chắn
ngôi nhà chung, chúng ta phải khưởc từ óc chia rẽ bè phái; ngược lại
chúng ta phải tôn trọng và sẵn sàng cộng tác với nhau bằng môt tâm
hồn nhẫn nại, sáng suốt và sẵn sàng hy sinh".
(119)
Một lần nứa chúng ta hãy đọc lại lời của
Chúa Giêsu: "Tá là Cây Nho
chúng con là cành" (Jn. 15.5), để cảm tạ
Chúa ban cho chúng ta ơn hiệp thông trong
Giáo Hội; đó là tia sáng chiếu vào thời gỉan, tia sáng của sự thông
hiệp tình yêu đời đời không thể diễn tả được của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Y thức được ơn Chúa thì phải ý thức trách nhiệm: Bởi vì đó là một
ơn, như nén bạc trong Phúc âm, nó đòi hỏi phải biến thành sự sống
thông hiệp ngày mỗi lớn lên.
Nhận lãnh trách nhiệm về ơn thông hiệp,
trước tiên có nghĩa là phấn đấu để thắng chia rẽ và đôí lập; chính
hai cám dỗ này đe dọa sự sống và sự dấn thân làm tông đồ của các
người Kitô-hữu. Thánh Phaolô đã đau đớn kêu lên: "Ta nghe mỗi người
trong anh em nói: Tôi thuộc về Phaolô, và tôi thuộc về Apolló, còn
tôi thuộc về Cepha và tôi thuộc về Chúa Kitô; thế thì Chúa Kitô bị
chia năm xẻ bảy sao?" (Cor.
1:12-13). Lời này vẫn còn vang vọng như một trách
móc trước cảnh "nhiệm thể Chúa Kitô bị
xâu xé." Ngược lại chúng ta hãy lắng nghe dư âm của lời mời gọi cũng
của Thánh Phaolô sau đây: "Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là
Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin toàn thể anh em hãy nhất tâm đừng chia
rẽ, nhưng hãy hợp nhất và đoàn kết với nhau trong tinh thần, và
trong tư tưởng" (1 Cor.1:10)
Như thế sự sống thông hiệp của Giáo Hội
trở nên một dấu chỉ cho thế giới và là một hấp lực thu hút mọi người
tới niềm tin vào Chúa Kitô: "Lạy Cha, như Cha ở trong
Con và Con Ở trong Cha, xin cho họ trở
thành một trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Jn.
17.21).
Như thế sự hiệp thông
hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo.
còn tiếp
|