Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 66, Chúa nhật 04.03.2007


  Các số báo đã phát hành         MỤC LỤC

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế  DTC JP2

MÙA CHAY TRONG TÌNH HÌNH MỚI                                                           Gm. GB. Bùi Tuần

HẠNH PHÚC TRONG TẦM TAY                                                                Lm. Đỗ Vân Lực, op.

Hạnh phúc                                                                                          Lm. Nguyễn Ngọc Long

SỐNG TRỌN MÙA CHAY                                                    Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình ngọc

CHỚ NÉM ĐÁ                                                                                     LM Vincent Travers, OP

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ VIỆC THƯỞNG PHẠT                          Lm. Lê Văn Quảng

NHỮNG ĐỒNG VÀNG LẺ TRONG KHO VÀNG “KIETISME”      Thuận Châu PHAN VĂN KHẢI

Xác định rõ mất mát của mình để đành nhận chịu mất mát  Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Học với Chúa Giêsu một khoa: hiền lành và khiêm nhượng        HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

LƯỜI BIẾNG,                                                                                Chuyện phiếm của Gã Siêu


TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lo II

 

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương 2 (tiếp theo)

TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT

Đoàn Sủng

24. Chúa Thánh Thần trong lúc giao phó cho Giáo Hội Hiệp Thông các thừa-tác-vụ, thì đồng thời cũng làm cho Giáo Hội được sung túc với nhiều ân hụê và ân sủng đặc biệt khác gọi là đoàn sủng. Các ơn này có nhiều hình thức khác nhau vì Chúa Thánh Thần Đấng ban phát nhứng ơn này là Đấng Tự Do tuyệt đối, và vì lịch sử Giáo Hội có nhiều nhu cầu khác nhau. Tân ước đã mô tả và xếp hạng các ơn nàv, như chúng ta thấy có rất nhiều loại khác nhau: "Vì Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại ích lợi. Như người này nhờ Thánh Linh được ơn lợi khẩu, người khác cũng nhờ Thánh Linh được thông thái, bởi một Thánh Linh đó người này được tín ngưỡng và cũng do Thánh Linh ấy người kia được ơn trị bệnh; lại người được làm phép lạ, kẻ nói tiên tri, người phân biệt các tâm kồn, kẻ nói được nhiều ngoại ngữ, người khác có thể thông dịch các thứ tiêng" (Cor. 12: 7-10...)

Các đoàn sủng cao siêu hay giản dị, tất cả đều là ân sủng Chúa Thánh Thần, trực tiếp hay gián tiếp các ơn này đều đem lại lợi ích cho sự sống Giáo Hội, vì Chúa đã sắp xếp cho các ơn này được xử dụng để xây dựng Giáo Hội, để bổ ích cho con người và để đáp ứng lại các nhu cầu của thế giới

Chính trong thời đại chúng ta, chúng ta cũng thấy đó đây nẩy nở những đoàn sủng nơi người tín hữu giáo dân cả nam lẫn nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng các người khác cũng được thông phán và rồi được bảo tồn qua thời gian như một gia sản sống động, quý giá để tạo nên môt liên hệ thiêng liêng đặc biệt giữa nhĩeu người. Khi nói đến việc tông đồ giáo dân, Công Đồng Vaticanô II đã viết: "Để thể hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hóa dân Chúa bằng bí tích và tác vụ. Ngài cũng ban cho tín hữu ơn đặc biệt (1 Cor. 12: 7) để "mỗi người tùy theo ơn đã nhận mà giúp đỡ nhau và chính họ trở nên như những người quản lý trung tín các ơn Thiên Chúa" (1 Pt. 4:10) hầu xây dựng Toàn Thân trong Đức ái." (79)

Các ơn Chúa Thánh Thần được phát sinh để tạo thêm sinh lực dồi dào, vì thế nó đòi hỏi những ai lãnh nhận phải thi hành để cho Giáo Hội được lớn lên và phát triển như Công Đồng đã dậy.(80)

Không phải chỉ những ai lãnh nhận các đoàn sủng, mà tất cả các chi thể của Giáo Hội đêu phải tỏ lòng biết ơn. Vì các ơn ấy là một kho tàng kỳ diệu ơn sủng Chúa ban cho Toàn Thân Chúa Kitô để được thánh hóa và hoạt động tông đồ, với đìêu kiện là nó thật bởi Chúa Thánh Thần mà đến và được thực thi hoàn toàn do Chúa Thánh Thần thúc đẩy. Vì thế, chúng ta phải luôn thận trọng phân biệt các đoàn sủng. Thực ra, như các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã tuyên bố. "Hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng thổi hơi nơi nào Ngài muốn, thực không phải dễ dàng phân biệt và nhận lãnh . Chúng ta biết Thiên Chúa tác động trong tất cả các tín hữu và chúng ta cũng ý thức được các ơn lành do các đoàn sủng, ban cho mỗi người hoặc cho cả cộng đồng Kitô hữu. Nhưng chúng ta cũng cần ý thức đến sức mạnh của tội lỗi và những cố gắng của nó nhằm gieo rắc rôi loạn trong đời sống của các tín hữu và của các cộng đồng".(81)

Vì thế mọi đoàn sủng phải liên hệ và tuỳ thuộc vào các chủ chăn của Giáo Hội. Công Đồng đã công bố rõ ràng: "Những vị hữu trách của Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân thực và việc xử dụng hơp lý các ơn ấy; các Ngài có nhiệm vụ thử thách, không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thần, nhưng để trắc nghiệm và giứ lại những gì là chính đáng" (82) để tất cả những đoàn sủng, mặc dầu khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, đều quy về lợi ích chung.(83)

NGƯỜl TÍN HỨU GlÁO DÂN THAM GlA VÀO ĐỜl SỐNG GlÁO HỘl

25. Người tín hữu giáo dân tham gia vào sự sống của Giáo Hội không chỉ bằng cách thực thi các thừa-tác-vụ hay các đoàn sủng của mình mà còn bằng nhiều cách khác nữa.

Hành động này phải được thực hiện trước tiên và cần thiết trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội địa phương là các Giáo phận, là nơi có "sự hiện diện và tác động của Giáo Hội Chúa Kitô duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền." (84)

Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ

Để tham dự một cách chính đáng vào đời sống Giáo Hội, các tín hữu giáo dân cần có một cái nhìn sáng suốt và chính xác về Giáo Hội địa phương đôi với Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội địa phương không phải là một mảnh của Giáo Hội hoàn vũ, và Giáo Hội hoàn vũ không phải chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương hơp lại. Nhưng các Giáo Hội địa phương kết hơp với nhau bằng môt giây linh động, căn bản và trường tồn, vì Giáo Hội hoàn vũ hiện hữu và biểu lộ trong các Giáo Hội địa phương. Vì thế, Công Đồng qủa quyết là các Giáo Hội địa phương "được hình thành theo hình ảnh của Giáo Hội hoàn vũ; chính trong các Giáo Hội địa phương và từ các Giáo Hội này mà một Giáo Hội Công Giáo duy nhất hiện hữu." (85)

Công Đồng còn khích lệ các tín hữu giáo dân sống linh động trong Giáo Hội địa phương, đồng thời ngày càng hướng đến Giáo Hội hoàn vũ công giáo. Sắc lệnh Tông Đồ giáo dân tuyên bố. "Giáo dân phải luôn luôn phát triển ý thức về giáo phận và giáo xứ, vì giáo xứ là một tế bào của giáo phận. Họ phải luôn mau mắn đáp lại tiếng gọi của chủ chăn và tuỳ sức tham gia vào những sáng kiến chung của giáo phận . Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu nơi thành thị cũng như ở thôn quê, họ không chỉ giới hạn sự cộng tác của mình trong phạm vi giáo xứ hay giáo phận, nhưng cố gắng mở rộng phạm vi tới các lãnh vực liên xứ, liên giáo phận, quốc gia và quốc tế. Hơn nữa, việc di dân mỗi ngày một gia tăng, những mối tương giao lại càng mở rộng và việc giao thông thêm dễ dàng, đã không để một thành phần xã hội nào sống đóng kín cho riêng mình. Vì thế người giáo dân phải quan tâm đến những nhu cầu của Dân Chúa rải rác khắp trên thế giới." (86)

Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 theo các ý kiến trên đã yêu cầu nên lập các Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận để phục vụ khi cần. Thực ra, đây là một hình thức chính để hợp tác và đối thoại và đồng thời để kiểm thảo trên bình diện giáo phận. Sự tham gia của các tín hữu vào các Hội Đồng này mở rộng môi trường thăm dò ý kiến và như thế nguyên tắc hợp tác, trong một vài trường hợp cần hơp tác để quyết định, sẽ được áp dụng một cách rộng rãi và chắc chắn hơn. (87)

Việc tham gia của người tín hứu giáo dân vào các đại hội đồng giáo phận hay vào các hội đồng địa phương như hội đồng tỉnh đã được Giáo Luật dự định (88). Việc này làm cho sự thông hiệp được gia tăng và giúp cho sứ mệnh thuộc Giáo Hội của các Giáo Hội địa phương vừa trong ranh giới giáo phận cũng như đối với các giáo hội địa phương khác của giáo tỉnh hay của Hội Đồng Giám Mục.

Các Hội Đồng Giám Mục cũng được mời gọi nghiên cứu phương thế thực tiễn nhất để phát triển, trên bình diện quốc gia hoặc bình diện vùng, việc thăm dò ý kiến và việc hơp tác của các tín hữu giáo dân nam, nữ để mọi người ý thức được các vấn đề chung và để biểu lộ sự hiệp thông Giáo Hội của mọi hạng người.(89)

Giáo Xứ

26. Việc hiệp thông của Giáo Hội mặc dầu có tầm vóc bao quát hoàn vũ, nhưng nó được diễn tả một cách rõ ràng và gần gũi nhất ở trong Giáo xứ. Giáo xứ là đơn vị địa phương của Giáo Hội. Nói một cách khác chính là Giáo Hội sống giữa con cái nam nữ của mình. (90)

Tất cả chúng ta phải dùng Đức Tin để khám phá bộ mặt thật của Giáo xứ, nghĩa là "mầu nhiệm" của Giáo Hội hiện diện và tác động trong Giáo xứ. Mặc dầu đôi lúc Giáo xứ không có nhiều người cũng không đầy đủ phương tiện, có khi Giáo xứ lại tản mác trên những địa hạt rộng lớn, hay lẩn khuất giữa những khu phố tân thời đông đúc và lộn xộn. Nhưng Giáo xứ không phải là một cơ cấu, một địa hạt, hay một ngôi nhà, nó là "một gia đình của Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn" (91) là "mái gia đình, đầy tình huynh đệ và mở rộng đón tiếp mọi người" (92) là "cộng đồng các tín hữưu.(93) Tóm lại, Giáo xứ được đặt nền tảng trên một thực tại thần học, vì đó là một cộng đồng thánh thể.(94) Nghĩa là một cộng đồng có tư cách cứ hành Bí Tích Thánh Thể, nguồn gốc cấu tạo nên cộng đồng và đem lại cho cộng đồng sức sống và giầy liên kết bí tích thông hiệp với toàn thể Giáo Hội. Nói rằng cộng đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh Thể là vì Giáo xứ là một cộng đồng đức tin và là một cộng đồng có cơ cấu, nghĩa là được tạo nên bởi các vị thừa hành có chức Thánh và các Kitô hữu khác dưới quyền trách nhiêm của một Cha sở vừa đại diện cho Giám Mục Giáo phận (95) vừa là môí giây của hàng giáo phẩm liên kết Giáo xứ với toàn Giáo Hội địa phương.

Công việc của Giáo Hội trong thời đại chúng ta thật mênh mông, một Giáo xứ tự mình không thể cáng đáng nổi. Vì thế, Giáo Luật đã dự liệu những hình thức hợp tác giữa các Giáo xứ trong hạt (96) và yêu cầu Giám Mục giáo phận phải lưu tâm đến tất, cả mọi thành phần tín hữu, ngay cả nhữngrgười không ở dưới quyền cai quản mục vụ của các Ngài.(97) Cần phải tạo nên những nơi gặp gỡ, đìêu kiện để Giáo Hội có thể hiện diện và hoạt động hầu đem lại ân sủng và lời Phúc âm vào trong những môi trường sống phức tạp của con người hôm nav. Một cách tương tự có nhiều cách thế chiếu rọi ảnh hưởng thiêng liêng hoặc làm tông đồ trong phạm vi văn hóa, xã hội, giáo dục, chức nghiệp v.v...không thể lấy Giáo xứ làm trung tâm hoặc khởi điểm. Nhưng Giáo xứ hôm nay đang sống một giai đoạn mới đầy hứa hẹn. Đức Phaolô VI, khi mới lên ngôi Giáo Hoàng đã tuyên bố với hàng giáo sĩ Rôma: "Ta tin tưởng là cơ cấu cổ kính của giáo xứ có một sứ mệnh khán thiết rất hơp thời; chính Giáo xứ là cộng đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính giáo xứ phải khai trương đời sống phụng vụ và tập hợp Dân Chúa trong việc cử hành phụng vụ; giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn và nung nấu đức tin của đoàn lũ dân chúng hôm nay; giáo xứ còn là trường dạy dỗ giáo lý Cứu Rỗi của Đức Kitô; nơi tích cực thực thi các công tác bác ái huynh đệ".(98)

Các Nghị Phụ đã để tâm nghiên cứu thực trạng hiện tại của nhiều giáo xứ và đã yêu cầu các giáo xứ này phải canh tân rộng rãi: "Nhiều giáo xứ ở thành thị cũng như tại các xứ truyền giáo, đã không thể sinh hoạt một cách kết qủa vì thiếu phưưng tiện vật chất hay thiếu các vị thừa hành có chức Thánh, hoặc vì điều kiện sinh sống của một số giáo dân (chắng hạn các người phải lưu đày hay di dân). Để cho các giáo xứ này trở thành những cộng đồng thật sự giáo quyền địa phương cần:

a) Giúp đỡ để thích nghi cơ cấu giáo xứ một cách uyển chuyển như Giáo Luật cho phép, nhất là để cho các giáo dân tham gia vào trọng trách mục vụ.

b) Giúp đỡ các cộng đồng cơ bản cũng gọi là cộng đồng sống, trong đó người tín hữu có thể truyền thông cho nhau Lời Chúa cũng như yêu thương, giúp đỡ nhau. Các cộng đồng này diễn tả trung thực sự hiệp thông trong Giáo Hội và những trung tầm truyền bá Phúc âm trong sự hiệp thông với các vị chủ chăn." (99) Để canh tân các giáo xứ và để các giáo xứ sinh hoạt có kết qủa, phải tạo nên những hình thức hơp tác, ngay cả trong phạm vi thể chế giữa các giáo xứ trong một địa hạt.

Hoạt động tông đồ trong Giáo xứ

27. Giờ đầy chúng ta hãy nhìn rõ sự hiệp thông và sự tham dự của các tín hữu giáo dân vào sinh hoạt của giáo xứ. Ở đây cũng nên lưu ý các tín hữu giáo dân nam cũng như nữ, một lời nói rất xác thực đầy ý nghĩa và đầy khích lệ của Công Đồng: "Trong các cộng đồng trong Giáo Hội, hoạt động của họ cần thiết đến nỗi không có thì việc tông đồ của các vị chủ chăn lắm lúc không đạt được kết qủa mỹ mãn. (100)

Đây là lời xác nhận căn bản phải được hiểu theo ý nghĩa của "khoa giáo-hội-học hiệp thông". Các thừa-tác-vụ cũng như các đoàn sủng, dù khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, nên tất cả đêu cần thiết cho sự trưởng thành của Giáo Hội .

Các tín hữu giáo dân mỗi ngày phải xác tín hơn ý nghĩạ dấn thân tông đồ của mình trong giáo xứ. Chính Công Đồng đã có ý nhấn mạnh điều này: "Giáo xứ là một hình thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đưa họ vào tinh thần đại đồng của Giáo Hội. Giáo dân nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các linh mục của mình để hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng nên có thói quen trình bày với cộng đoàn giáo hội những vấn đê riêng của mình hay của cả thế giới hoặc những vấn đề liên quan tới phần rỗi mọi người, để cùng nhau góp ý kiến nghiên cứu và giải quyết. Họ cũng phải tuỳ sức mà cố gắng đóng góp vào mọi công cuộc tông đồ và truyền giáo của gia đình giáo hội địa phương mình." (101)

Công Đồng nói đến việc "cùng nhau góp ý kiến" để cứu xét và giải quyết các vấn đề mục vụ, được các Nghị Phụ nghiên cứu và giải thích rộng rãi theo một cơ cầú tương xứng gọi là Hôi Đồng Muc Vụ Giáo Xứ. (102)

Trong hiện tình, các tín hữu giáo dân có thể và phải nổ lực làm sao cho việc hiệp thông giáo hội được nẩy nở trong lòng giáo xứ có một nghị lực truỳên giáo cho những người chưa tin, và cho những ai đã tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của mình. Nếu giáo xứ là Giáo Hội ở trong một phạm vi địa dư, thì Giáo Hội sống và sinh hoạt trong lòng xã hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó. Nhiều khi trong nhiều môi trường sống, tình cảm xã hội bị giao động bởi vũ lực và làm cho con người mất hết phẩm giá. Con người bị lạc lỏng mất hết phương hướng, nhưng trong tâm hồn họ vẫn nuôi ước vọng được cảm nghiệm và tài bồi môl tương giao đầy tình huynh đệ, và đầy tình người. Ước vọng này, giáo xứ có thể làm thỏa mãn cho họ, nếu các tín hữu giáo dân hăng hái tham gia để họ đạo trung thành ơn gọi và sứ mệnh nguyên thủy của mình, đó là trở thành "nơi " hiệp thông của những kẻ có lòng tin và đồng thời trở nên "dấu chỉ" và là "phương thể" của ơn gọi mọi người sống hiệp thông. Tóm lại, giáo xứ là căn nhà mở rộng đón tiêp mọi người và phục vụ mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là "giếng nước của thôn xóm" để mọi người đến giải khát.

HÌNH THỨC THAM DỰ CỦA NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN VÀO ĐỜl SÔNG GlÁO HỘl.

28. Các tín hữu giáo dân hợp với các linh mục, với tu sĩ nam nứ, làm thành Dân Thiên Chúa duy nhất, một Thân Thể của Đức Kitô.

Là "phần thân thể" của Giáo Hội, nhưng mỗi Kitô hữu vẫn là "một hữu thể cá biệt không thay thế được". Ngược lại, điều này cho chúng ta thấy ý nghĩa sâu xa của tính chất duy nhất của mỗi người, vì chính nó là nguồn mạch của sự phong phú muôn mặt của toàn thể Giáo Hội. Vì thế mà Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô đã gọi mỗi người trong chúng ta bằng tên riêng của họ, không lẫn lộn người này với người kia. Lời mời gọi của Chúa: "Các con cũng hãy vào làm việc trong vườn nho của Ta" , lời mời gọi này dành riêng cho từng người một có nghĩa là: con, chính con, con hãy vào làm việc trong vườn nho của Thày."

Như thế, mỗi người trong chúng ta, mặc dù vẫn giữ đặc tính duy nhất của mình, vẫn được trọng dụng để làm cho sự hiệp thông Giáo Hội tăng trưởng bằng sinh hoạt và sự hiện diện thực tế của mình, cũng như mỗi người chúng ta nhận lãnh và đồng hóa theo cách thế của mình, cho sự phong phú của toàn thể Giáo Hội . Đó chính là ý nghĩa "Các Thánh Thông Công" mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính. Ích lợi của mọi người là ích lợi của mỗi người, và ích lợi của mỗi người là ích lợì của mọi người. Thánh Grêgôriô Cả nói: "Trong Giáo Hội, mỗi người lo nâng đỡ từng người.(103)

HìNH THỨC THAM GlA CÁ NHÂN CỦA MỖl NGƯỜl

Điều tuyệt đối cần thiết là mỗi tín hữu giáo dân phải ý thức sâu xa mình là "phần thân thể của giáo hội " và nhiệm vụ đặc biệt được giao phó cho mình, một nhiệm vụ không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì lợi ích chung của mọi người. Theo cái nhìn này chúng ta mới hiểu được hết ý nghĩa của Công Đồng khi quả quyết rằng mỗi người bắt buộc phải làm việc tông đồ: "việc tông đồ mà mỗl người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô giáo" (Jn.4:14). Là căn bản và điều kiện của mọi hoạt động tông đồ giáo dân, kể cả việc tông đồ giáo dân tập thể và không có gì có thể thay thế việc đó được! Việc tông đồ cá nhân này rất hiệu quả ở bất cứ nơi nào và thời đại nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có hoạt động tông đồ này mới thích hơp và mới có thể thực hiện được. Mỗi người giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, dù không có cơ hội hay khả năng để cộng tác trong các hội đoàn, đều được kêu gọi, và hơn nữa phải làm việc cá nhân. (104)

Việc tông đồ cá nhân chứa đựng nhiều kho tàng phong phú cần được khai thác, để người giáo dân thấy mà thêm lòng hăng say trong việc truyền giáo. Nhờ hình thức làm tông đồ này mà ánh sáng Phúc âm được tỏa sáng trên các khu vực và môi trường sống, trong đó cuộc sống hằng ngày của giáo dân phải tiếp xúc. Đây là một sự chiếu giãi ánh sáng Phúc âm trường kỳ liên lỉ, vì cuộc sống cá nhân phải tương đồng với Đức Tin. Đây cũng là một sự chiếu giãi Phúc âm quyết liệt thâm sâu. Bởi vì người tín hữu giáo dân cũng chung một điều kiện sinh sống, cùng chung một việc làm, cùng chia sẻ những khó khãn, những niềm hy vọng của anh em mình, họ có thể cảm kích tâm hồn người bên cạnh, các bạn hữu, các đồng nghiệp, và mở rộng cho họ thấy một chân trời toàn diện, ý nghĩa trọn hảo của cuộc sống. Đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người.

Hình thức tham gia tập thể.

29. Sự hiệp thông Giáo Hội đã sẵn có và đang linh động trong sinh hoạt của mỗi người, lại mang thêm một ý nghĩa riêng biệt khi các tín hữu giáo dân hơp tác sinh hoạt chung, nghĩa là khi họ đoàn kết để hoạt động và tham gia với một tinh thần trách nhiệm vào đời sống và sử mệnh của Giáo Hội .

Trong thời gían sau này, người ta thấy có rất nhiều hiệp hội giáo dân ra đời và hoạt động rất hăng hái đắc lực. Trong lịch sử Giáo Hội các hiệp hội tín hữu đã phát sinh và tiếp nối liên tục cho đến ngày hôm nay như các hội đoàn, các Dòng Ba, các cộng đồng huynh đệ. Nhưng trong thời đại ngày nay hiện tượng này đã bùng phát một cách đặc biệt, đây đó phát sinh và lan tràn nhiều hình thức tập thể như: hiệp hội, nhóm, cộng đồng, phong trào. Nói được đây là một mùa gặt mới của các hội đoàn tín hữu giáo dân. Bởí vì "bên cạnh các nhóm cổ truyền, mọc lên những phong trào và nhóm mới có khi bắt nguồn từ nhóm cổ truyền, nhưng lại có bộ mặt và mục đích riêng. Nguồn mạch và ơn Chúa Thánh Thần càng phong phú và muôn mặt trong cơ cấu Giáo Hội, thì khả năng sáng tạo và tâm hồn đại độ của người giáo dân càng lớn lao." (105)

Các nhóm giáo dân thường có vẻ khác biệt nhau trong nhiều khía cạnh, như hình thức bên ngoài, cách sinh hoạt, phương pháp giáo dục và môi trường hoạt động. Nhưng tất cả đều quy về một mục đích chung đã thúc đẩy họ, là tham gia một cách có trách nhiệm vào sứ mệnh của Gíáo Hội, để đem Phúc âm Chúa Kitô đến như là nguồn hy vọng cho con ngườì, một sinh lực canh tân cho xã hội.

Tín hữu giáo dân qui tụ thành đoàn thể vì lý do thiêng liêng hay tóng đồ, là do nhiều nguồn mạch thúc đẩy và cũng để đáp ứng lại nhiều nhu cầu đòi hỏi. Thực ra, bản tính xã hội của con người và vì con người muốn đạt được hiệu qủa sâu rộng và quyết liệt trong hành động của mình. Trong thực tế, hiệu lực văn hóa, ngùôn mạch và khích lệ, cũng là kết qủa và là dấu hiệu biến đổi xã hội đã không thể đạt được do công việc của từng cá nhân, mà nhờ vào hoạt động của một "chủ thể xã hộí" nghĩa là của một nhóm, một cộng đoàn, một hiệp hội, một phong trào, đặc biệt trong một xã hội muôn mặt và phân hóa như trong nhiều nước trên thế giới ngày nay, và trước vấn đề đã trở thành quá phức tạp và khó khăn. Nhất là trong một thế giới đã bị tục hóa, nhiều người thấy rằng những sinh hoạt hội đoàn có thể giúp họ sống đời sống đạo trung thành với các đòi hỏi Phúc âm vàdấn thân vào việc truyền giáo tông đồ một cách đắc lực.

Ngoài các lý do trên, lý do sâu xa đòi hỏi các tín hữu giáo dân phải tụ tập nhau thành nhóm, chính là lý do thần học xây dựng trên khoa giáo-hội-học như Công Đồng Vaticanô II đã công nhán. Công Đồng nhận thầý trong việc tông đồ tập thể là "một dấu hiệu của sự hiệp thông và tính cách hơp nhất của Giáo Hội trong Chúa Kitô." (106)

Đây là "một dấu hiệư" phải biểu lộ trong môí tương giao "hiệp thông" đôí nội và đôi ngoại của các hội đoàn hay đoàn thể, nằm trong khuôn khổ rộng rãi của Cộng Đồng Kitô hữu. Chính do khoa giáo-hội-học mà người tín hứu giáo dân có "quyền" qui tụ thành đoàn thể. Cũng vì lý do này mà cần phải có "tiêu chuẩn" phân biệt hình thức hiệp hội nào chân chính, đích thực thuộc về Giáo Hội.

Trước tiên phải công nhán là người tín hứu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo Hội. Quyền tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là một hình thức "nhân nhượng" của giáo quyền mà là hậu qủa đương nhiên của phép Rửa Tội. Là một bí tích, Phép Rửa Tội kêu gọi các tín hữu giáo dân phải tích cực tham gia vào sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Công Đồng đã nói rõ ràng về điều này: "Giáo dân có quyền thành lập các hội đoàn; điều khiển và ghi tên vào các đoàn thể đã có sẵn. miễn là phải giữ môí liên lạc cần thiết với giáo quyền".(107) Giáo Luật lại qủa quyết: "Các tín hữu có quyền tự do thiết lập và đlêu khiển các hội đoàn nhằm mục đích từ thiện hay đạo đức, hoặc nhằm cổ võ ơn gọi của người Kitô trong thế giới; họ cũng có quyền nhóm họp để cùng theo đuổi đạt tới các mục đích đó ". (108)

Đây là một quyền tự do được công nhận và bảo đảm do giáo quyền, nhưng phải luôn luôn thi hành trong sự hiệp thông với Giáo Hội. Do đó, quyền lợi của người tín hữu giáo dân được tự do hội họp là một quyền lợi nôí kết mật thiết với đời sống chung và sứ mệnh chính của Giáo Hội.

Tiêu chuẩn để nhìn nhận tính cách Giáo Hội đối với các Hiệp Hội giáo dân

30. Cần phải có các tiêu chuẩn rõ ràng và chính xác để phân biệt và nhìn nhận các hội đoàn giáo dân, có thể gọi là "tiêu chuẩn có tính cách giáo hội". Đó không phải là để hạn chế quyền tự do hiệp hội mà chính là để cho các đoàn thể ấy thực hiện được sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Những tiêu chuẩn nền tảng để phân biệt các Hội đoàn giáo dân trong Giáo Hội là những tiêu chuẩn sau đây:

*** Ơn gọi nên Thánh của người Kitô-hữu, đó là mục đích tiên quyết. Điều này phải được biểu lô trong ơn Chúa Thánh Thần phát sinh nơi người tín hữu (109) để họ lớn lên cho đên tuổi trưởng thành sung mãn của đời sống đạo và đến mức trọn lành của đức ái.(110)

Vì thế tất cả các hội đoàn công giáo được kêu gọi để ngày càng trở nên phương tiện thánh hóa trong Giáo Hội. Một phương tiện giúp đỡ và khích lệ "sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc sống thường nhật với Đức Tin của các hội viên."

*** Sự dấn thân tuyên xưng đức tin công giáo trong việc nhận lãnh và rao truyền chân lý về Chúa Kitô, về Giáo Hội, và về con người, đúng theo giáo huấn của Giáo Hội là Thầy dạy chân chính. Tất cả các hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải trở nên "một nơi rao truyền và thông đạt Đức Tin và giáo dục sống Đức Tin này trọn vẹn." (111)

*** Phải chứng minh một đời sống hiệp nhất kiên cường vưng chắc, trong tình nghĩa phụ tử đối với Đức Giáo Hoàng, trung tâm muôn thuở và hữu hình của sự hiệp nhất trong Giáo Hội hoàn vũ (112) đối với Giám Mục "Nguyên lý hiển hiện và nền móng của sự hơp nhất" (113) của Giáo Hội địa phương và "tất cả các hình thức tông đồ khác của Giáo Hội" (114)

Sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và với Giám Mục phải tỏ ra bằng cách sẵn sàng, ngay thẳng nhận lãnh các giáo dân tín lý và chỉ giáo mục vụ của các Ngài. Hiệp thông với Giáo Hội còn đòi hỏi phải chấp nhận hình thức đa diện hợp pháp của các tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và đồng thời sẵn sàng hơp tác chung với nhau.

*** Thỏa thuận và cộng tác để thực hiện sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, là "rao truyền Phúc âm và Thánh hoá nhân loại, và đào tạo cho con người một lương tâm Công Giáo đích thực để họ có thể đem tinh thần Phúc âm thấm nhuần mọi cộng đồng cũng như mọi lãnh vực của đời sống". (115)

Theo viễn tượng này, tất cả mọi hình thức hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải có một tinh thần truyền giáo hăng say để trở thành dụng cụ ngày càng sinh động cho việc truyền bá Phúc âm.

*** Dấn thân hiện diện trong xã hội loài người để phục vụ nhân phẩm toàn diện con người, đúng theo học thuyết xã hội của Giáo Hội.

Như thế, các hội đoàn giáo dần phải trở nên những trào lưu mạnh mẽ thu hút nhỉều người và lỉên đới để tạo nên những điều kìẹn công bình và huynh đệ hơn cho đời sống xã hội.

Những tiêu chuẩn nền tảng vưa trình bày trên đã được chứng mình rõ ràng trong nhứng kết qủa cụ thể tốt đẹp trong đời sống và hoạt động của các hình thức hiệp hội, chẳng hạn việc ưa thích cầu nguyện, suy ngắm, đời sống phụng vu và bí tích; việc tổ chức để giúp đỡ thanh thíêu niên ý thức ơn gọi hôn nhân, ơn goỉ linh mục, ơn gọỉ đơi sống tận híên, sẵn sàng tham gia vào các chương trình và hoạt động của Giáo Hộỉ trên bình dỉện quốc gia và quổc tế; dần thân vao viêc day giáo lý và trao đổi khả năng sư phạm để đào tạo ngươỉ Kitô hữu; tìm cách thực hiện sự có mặt của ngườỉ Kitô hữu trong các lãnh vưc xã hội; thanh lập và làm linh động các cống tác từ thiện, văn hóa và thiêng liêng tạo tinh thần vô vị lợi và nghèo khó Phúc âm để thực hiện lòng bác ái đại độ với mọi người, giúp kẻ đa chíu phép Rửa Tội nhưng lại "bê tha" trở lại đơi sống Kitô hưu.

Phận sự của vị Chủ Chăn để thực hiện vỉệc hiệp thông

31. Trong trường hợp các hiệp hội gặp phải khó khăn  và có  nhiều hình thức mới xuất hiện, các vi Chủ Chăn trong Giáo Hôi phải dung quyền bính của mình, vì lợi ích của Giáo Hội, và cũng vì lợi ích của chính các hội đoàn giáo dân, các Ngài phải phán đoán, phân bỉệt để hướng dần nhất là khích lệ cho các hiệp hội ấy trưởng thành trong sự hiệp thông và trong sứ mệnh của Giáo Hộỉ.

Điều thuận lợi nên làm là các hội đoàn và các phong trào mới khi đã phổ biến rộng rãi trong nước và ngpài nước phải được Giáo quyền có thầm quyền chính thức công nhận. Chính Công Đồng đã qủa quyết về điểm này như sau: "Có nhiều hình thức liên hệ giữa việc tông đồ giáo dân với hàng Giáo phẩm, tuỳ theo hình thức và mục đích của mỗi hoạt động... Một số tổ chức tông đồ giáo dân, dưới hình thức này hay hình thức khác, đã được Giáo quyền công khai chấp nhận. Ngoài ra vì lợi ích chung của Giáo Hội, Giáo quyền có thể lựa chọn và cổ võ cách đặt biệt một vài tổ chức trong số những tổ chức hay hiệp hội tông đồ sẵn có, trực tiếp nhằm mục đích thiêng hêng, và Giáo quyền cũng nhận trách nhiệm đặc biệt đối với những tổ chức ấy" (116)

Trong những hình thức tông đồ giáo dân có mối liên hệ đặc biệt với Hàng Giáo phẩm, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã kê rõ các phong trào hay hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, trong đó "người giáo dân tự nguyện tổ chức có cơ cấu và cố định theo ơn soi sáng của Chtía Thánh Thần, trong sự hiệp thông với các Giám Mục và linh mục để có thể hoạt động một cách hăng say và trung thành theo đường hướng ơn gọi của riêng mình, để mở rộng Cộng Đồng Kitô hữu, và để thực hiện các chương trình mục vụ, cũng như để tất cả các môi trường sống của con người được thấm nhuần tinh thần Phúc âm." (117)

Hội Đồng Giáo Hoàng phụ trách giáo dân có bổn phận phải soạn thảo một danh sách các hiệp hội được Tòa Thánh chính thức chầp nhận và phôí hợp với Văn Phòng Hiệp Nhất Kitô-hữu, để định rõ điều kiện chấp nhận hay không thể chấp nhận cho một hiệp-hội-liên-tôn gồm những người Công Giáo và một thiểu số không Công Giáo. (118)

Tất cả chúng ta, Chủ Chăn cũng như tín hữu phải tìm mọi cách để duy trì giữa các đoàn thể giáo dân mối giây huynh đệ để mọi người mến chuộng, yêu thương và hơp tác với nhau. Chỉ có cách này thì kho tàng ơn Chúa ban cho chúng ta là các ân huệ, các đoàn sủng, mởi có thể đóng góp một cách dồi dào và trật tự vào việc xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta: "Để xây dựng chắc chắn ngôi nhà chung, chúng ta phải khưởc từ óc chia rẽ bè phái; ngược lại chúng ta phải tôn trọng và sẵn sàng cộng tác với nhau bằng môt tâm hồn nhẫn nại, sáng suốt và sẵn sàng hy sinh". (119)

Một lần nứa chúng ta hãy đọc lại lời của Chúa Giêsu: "Tá là Cây Nho chúng con là cành" (Jn. 15.5), để cảm tạ Chúa ban cho chúng ta ơn hiệp thông trong Giáo Hội; đó là tia sáng chiếu vào thời gỉan, tia sáng của sự thông hiệp tình yêu đời đời không thể diễn tả được của Thiên Chúa Ba Ngôi. Y thức được ơn Chúa thì phải ý thức trách nhiệm: Bởi vì đó là một ơn, như nén bạc trong Phúc âm, nó đòi hỏi phải biến thành sự sống thông hiệp ngày mỗi lớn lên.

Nhận lãnh trách nhiệm về ơn thông hiệp, trước tiên có nghĩa là phấn đấu để thắng chia rẽ và đôí lập; chính hai cám dỗ này đe dọa sự sống và sự dấn thân làm tông đồ của các người Kitô-hữu. Thánh Phaolô đã đau đớn kêu lên: "Ta nghe mỗi người trong anh em nói: Tôi thuộc về Phaolô, và tôi thuộc về Apolló, còn tôi thuộc về Cepha và tôi thuộc về Chúa Kitô; thế thì Chúa Kitô bị chia năm xẻ bảy sao?" (Cor. 1:12-13). Lời này vẫn còn vang vọng như một trách móc trước cảnh "nhiệm thể Chúa Kitô bị xâu xé." Ngược lại chúng ta hãy lắng nghe dư âm của lời mời gọi cũng của Thánh Phaolô sau đây: "Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin toàn thể anh em hãy nhất tâm đừng chia rẽ, nhưng hãy hợp nhất và đoàn kết với nhau trong tinh thần, và trong tư tưởng" (1 Cor.1:10)

Như thế sự sống thông hiệp của Giáo Hội trở nên một dấu chỉ cho thế giới và là một hấp lực thu hút mọi người tới niềm tin vào Chúa Kitô: "Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con Ở trong Cha, xin cho họ trở thành một trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Jn. 17.21).

Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
MÙA CHAY TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Đất Nước việt nam đang có những chuyển biến mạnh và mau. Những ngày tết Đinh Hợi vừa qua cho thấy một sự phân hoá giàu nghèo rất rõ. Đạo đức cũng chuyển biến theo chủ nghĩa tiêu thụ. Một lương tâm mới đang dần dần thay thế cho lương tâm truyền thống biết sợ bất cứ sự gì là tội.

Mùa Chay đã đến trong tình hình này. Mùa Chay nhắm mục đích đón nhận ơn cứu độ. Đón nhận bằng sự thành thực sám hối và trở về đàng lành.

Với ý thức như vậy, tôi xin chia sẻ mấy việc tôi thiết nghĩ là có thể giúp nhau sống mùa Chay này một cách hữu ích.

1/ Đừng vô cảm trước những mất mát coi như bình thường của xã hội và Giáo Hội

Không gì nguy hiểm trên đường đạo đức bằng lương tâm trở nên chai đá. Thường lương tâm trở nên chai cứng không một cách đột ngột. Nhưng nó biến đổi dần dần. Bắt đầu thì chai. Nếu không sửa, nó sẽ cứng. Cứng lâu, cứng thêm, nó sẽ thành đá. Một khi đã thành đá, thì mọi lời khuyên, mọi gương sáng, mọi biến cố xảy ra trên đời sẽ rất khó lay chuyển được lương tâm. Lúc ấy việc ăn  năn trở lại là vấn đề cực kỳ khó khăn.

Những kinh nghiệm như thế đã và đang xảy ra chồng chất.

Vì thế, xin hãy tỉnh thức gìn giữ lương tâm mình. Sao cho nó biết luôn nhạy cảm.

Cũng may là một số lương tâm còn biết rung động trước những đớn đau lớn và mất mát lớn xảy ra đó đây. Nhưng rất nhiều lương tâm xem ra vô cảm trước những đau đớn và mất mát coi như bình thường xảy ra xung quanh mình nơi tha nhân, trong xã hội và Giáo Hội. Xin trình bày một hiện tượng.

Dịp Tết vừa qua, tôi mới thấy rõ ở địa phương tôi có những chuyển biến đáng ngại:

- Bỏ quê đi nơi khác.

- Bỏ nghề cũ tìm nghề mới.

- Bỏ gia đình để kiếm sống.

- Bỏ nhà thờ do hoàn cảnh.

- Bỏ đạo hoàn toàn hay từng phần, vì cảm thấy không sao.

Nhiều người đau xót trước cảnh đó. Nhiều mục tử lo âu cho đoàn chiên và cho Giáo Hội. Bởi vì hiện tượng bỏ đi càng ngày càng vuột khỏi khuôn khổ lãnh đạo và lãnh thổ người mục tử. Lo âu đó là chính đáng. Đau xót đó là dấu chỉ tốt, khi nó phản ánh một đức ái sống động của người mục tử nhân lành.

Thiết tưởng hiện tượng trên đây sẽ còn gây thêm nhiều biến động, ảnh hưởng lớn đến đời sống luân lý nói chung và đời sống đức tin nói riêng.

Rất mong các lương tâm công giáo, đặc biệt là các lương tâm mục tử giàu khả năng nhạy bén sẽ để ý đến những biến động trên đây với tinh thần trách nhiệm cao.

Cùng với hiện tượng “ra đi” trên đây, lương tâm chúng ta cũng rất cần nhạy bén trước tương quan giữa đạo ta với các tôn giáo và dân tộc tại Việt Nam ta.

2/ Đừng tưởng chỉ có những tội ác lớn mới đưa xã hội và Giáo Hội đến tình trạng suy tàn, mà chính những tâm thức sai lầm được đồng thuận đã gây nên những tàn phá ghê gớm

Mọi tín hữu công giáo nói chung và các mục tử công giáo nói riêng chắc còn nhớ một thời xa xưa, công giáo ta rất tự hào. Hầu như mọi người công giáo đều xác tín rằng: Chỉ có đạo mình là duy nhất đúng, duy nhất thánh, duy nhất cứu độ. Từ cái tự hào đó đã nảy sinh ra một tâm thức xa cách các tôn giáo khác. Tâm thức đồng thuận này được gieo trồng và bảo vệ. Rồi xa cách gây nên khoảng cách. Nhiều nơi khoảng cách là môi trường dễ sinh ra xung đột.

Từ lâu nay, tại Việt Nam, những chuyện đó coi như được xếp lại thành quá khứ. Nhưng không nên chủ quan, cho rằng đạo Công giáo tại Việt Nam ta đã thực sự gần lại với các tôn giáo bạn và hội nhập vào nền văn hoá Việt Nam, đồng thời hoàn toàn gắn bó với dân tộc.

Tết vừa qua, ngày nào trên các đài truyền hình cũng đưa những hình ảnh gọi là văn hoá cổ truyền Việt Nam. Nhiều dòng người niệm hương trước các anh hùng dân tộc, trước các người thời xa xưa có công khai phá thiên nhiên và dạy nghề để dân biết làm ăn sinh sống. Nhiều đoàn đi thăm và tặng quà cho các người bệnh tật, cô đơn, nghèo túng.

Đang khi đó, đạo Công giáo nhiều nơi vẫn cố gắng làm chứng cho Đạo bằng các việc từ thiện, tham gia việc chung xã hội và siêng năng lui tới nhà thờ.

Tuy nhiên, nói chung vẫn còn nhiều khoảng cách giữa đạo ta và và các tôn giáo bạn. Thậm chí có nơi vẫn chưa hội nhập được vào nhịp sống của dân tộc một cách hồn nhiên.

Những hiện tượng đó là có thực. Nhiều lương tâm công giáo đã nhận ra. Không thiếu các mục tử đã rất áy náy, khi được đức ái mục tử nhìn những hiện tượng đó là những vấn đề không đơn giản.

3/ Còn một vấn đề khác, mà lương tâm công giáo nói chung và lương tâm mục tử nói riêng rất cần nhạy bén, đó là vấn đề cạnh tranh thời nay

Thời nay, nói đến cạnh tranh là nói đến cạnh tranh về kinh tế, địa vị. Hiện tượng cạnh tranh để hơn người về quyền lực do kinh tế, địa vị là một nhu cầu không thể thiếu trong nền văn minh vật chất, tiêu thụ và hưởng thụ.

Cạnh tranh một cách lành mạnh thì không nói làm gì. Nhưng cạnh tranh bằng những cách không đạo đức là điều đáng phải cảnh giác.

Tại Việt Nam hôm nay, phong trào cạnh tranh không lành mạnh cũng đang xuất hiện trong Đạo ta, trong mọi tầng lớp.

Nếu không tỉnh thức, thì sẽ hình thành hai Giáo Hội: Giáo Hội giàu của người giàu và Giáo Hội nghèo của người nghèo. Khẩu hiệu: “Phục vụ trong yêu thương” vẫn được đề cao. Nhưng trên thực tế, những áp dụng sẽ khác nhau, tuỳ theo giàu nghèo. Phần đông nghĩ rằng: Người này làm, thì người khác cũng làm. Rồi đâu đâu cũng làm. Nhất là khi vấn đề giàu nghèo đã trở thành bình thường: Nghèo thì phải thế, giàu thì được vậy, đâu đâu cũng đối xử theo cung cách đó. Hội Thánh xem ra làm thinh.

Nhưng những lương tâm sống thực chất Phúc Âm sẽ coi đây là một nguy cơ có sức làm hại đạo Chúa một cách chính thức và một cách rất độc hại.

Những điều tôi chia sẻ trên đây là rất chân thành. Với tuổi 80, tôi có một số kinh nghiệm tư riêng, và do đó cũng có một suy nghĩ lo xa cho Giáo Hội Việt Nam. Tôi tha thiết xin Chúa giàu lòng thương xót ban cho các mục tử lửa đức ái của Người. Chỉ với lửa đức ái Chúa Kitô, chúng ta mới dám cùng với Người đi vào sa mạc mùa Chay, để được Chúa thanh tẩy. Và rồi sẽ ra đi làm chứng cho Tin Mừng bằng những từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Chúa giữa tình hình văn hoá hôm nay đầy phức tạp đối với đạo đức Phúc Âm.

+ Gm. GB. BÙI TUẦN

VỀ MỤC LỤC
HẠNH PHÚC TRONG TẦM TAY

 

Phúc Âm Nhật Ký 25.02.2007

(Lc 4:1-13)

Cuộc khủng hoảng về căn tính đang bùng nổ dữ dội trên khắp thế giới.  Khi con người đánh mất chính mình, mọi tương quan đều tan biến.  Ðó là nguyên nhân chính gây nên nỗi bất hạnh lớn lao cho nhân loại.   Hình ảnh người ôm bom tự sát có thể dùng làm biểu tượng cho cuộc khủng hoảng đó.  Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ niềm tin.  Con người như bị xé rách thành trăm mảnh khi niềm tin châm ngòi cho những cuộc xung đột, căm thù và bạo động giữa các dân tộc.  Khi niềm tin biến thành động lực phá hoại, tôn giáo còn đủ lý do chính đáng[1] để tồn tại hay không ?   Tôn giáo đã đánh mất tương quan siêu việt.  Con người bị đẩy vào những tranh chấp bạo lực ngông cuồng.  Tôn giáo đã bị tục hóa và hạ giá quá thấp.

Muốn thăng tiến và phát triển toàn vẹn, con người không thể cắt đứt tương quan với quyền bính siêu việt.  Phong trào tục hóa đang nỗ lực tách lìa con người khỏi Thiên Chúa và xóa nhòa tương quan siêu việt trong các sinh hoạt nhân loại.   Nếu loại bỏ chiều hướng tới siêu việt ra khỏi cuộc sống, không thể hiểu được con người.[2]  Thiếu chiều kích siêu việt, chỉ còn những hình ảnh què cụt về con người.  Không hiện hữu toàn vẹn, làm sao con người hạnh phúc.  Làm cách nào tìm lại hình ảnh toàn vẹn của con người  bây giờ ?

Cuộc phấn đấu trong hoang địa hôm nay của Chúa Giêsu nhằm phục hồi hình ảnh toàn vẹn của con người.  Càng theo dõi sát ba cơn cám dỗ và cuộc chiến thắng lớn lao của Chúa, càng thấy ý nghĩa và hạnh phúc cuộc đời nằm trong tầm tay.

 Ba cơn cám dỗ xoay quanh lòng ham mê khoái lạc, của cải và quyền bính.  Cả ba đều do Chúa dựng nên và rất cần thiết cho cuộc sống.  Vậy tại sao Chúa từ chối ?  Từ chối không phải tự bản chất những điều đó xấu xa tệ hại.  Nhưng những thứ đó đã bị tên “quỷ cám dỗ” bóp méo nhằm phục vụ và thỏa mãn cái tôi nhất thời.  Bởi thế, Chúa không thể nào chấp nhận được !  Người không bao giờ rời xa mục tiêu là Thiên Chúa.  Mục tiêu cao cả đó lôi con người ra khỏi chính mình.  Chúa không muốn sống cho mình.  Người càng không muốn loại hạnh phúc nào vắng bóng Thiên Chúa.

Sau khi nhịn đói bốn mươi ngày, chắc hẳn Chúa Giêsu có đủ lý do chính đáng để biến đá thành bánh để đáp ứng nhu cầu sinh tồn.  Tự bản chất, việc biến đá thành bánh chẳng có gì xấu xa.  Nhưng giải quyết vấn đề phải hợp thời và hợp lý.   Nếu không, Người sẽ phá hỏng chương trình Thiên Chúa.  Giải quyết vấn đề quá cấp bách để thỏa mãn nhu cầu trước mắt, có thể đánh mất mục tiêu lâu dài. Hơn nữa, nhu cầu vật chất đó không phải là tất cả khát vọng của con người. 

Con người toàn vẹn không thể thiếu niềm tin nơi Chúa.  Khi niềm tin vươn lên, con người sẽ tìm được lối thoát cho mình.  Lối thoát đó nằm ngay trong việc vâng phục Thiên Chúa.  Ðối với con người Ðức Giêsu, sự vâng phục đó cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cứu độ muôn dân. Con người toàn vẹn phải bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần.  Chúa cho thấy một bức họa toàn bích về con người : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, (Lc 4:4) nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4; Ðnl 8:3)   Cơm bánh đáp ứng nhu cầu vật chất.  Lời Chúa nuôi sống niềm tin.

Rất may Ðức Giêsu không thi thố quyền phép để biến đá thành bánh.  Người cũng không chịu khuất phục hay thỏa hiệp với quỷ dữ để thống trị trần gian.  Ðó không phải là con đường cứu độ.  Trong lịch sử, rất nhiều lần Giáo hội đã thỏa hiệp để cầu an.  Có khi Giáo hội hy sinh cả chân lý hay công lý để tìm một chút lợi lộc hay  thỏa mãn chế độ “xin cho.”  Nhưng rõ ràng con đường thỏa hiệp đã làm cho công cuộc truyền giáo thất bại.  Thỏa hiệp là con đường ngắn nhất dẫn đến suy vong.Bài học lịch sử còn đó.  Không ai có thể chối cãi được !  Càng thỏa hiệp với quyền lực, càng làm cho muôn người xa lánh Giáo hội.  Thỏa hiệp với đối phương là phản bội Thiên Chúa.  Bổn phận duy nhất của Giáo hội là thờ phượng Thiên Chúa mà thôi (x. Lc 4:8). 

Trong hoang địa, Chúa đã dứt khoát phục vụ một mình Thiên Chúa là nguồn sống đích thực.  Niềm tín thác vào tình yêu Thiên Chúa Cha đã cho Ðức Giêsu một cái nhìn toàn diện về con người.  Bởi đấy, Người không hy sinh bất cứ phần nào trong toàn bộ cuộc sống để đổi lấy quyền lợi cho riêng mình.

Trong cả hai cơn cám dỗ đầu, Ðức Giêsu đã trích dẫn lời Chúa trong sách Ðệ Nhị Luật (8:30 và 6:13).  Người dùng Luật để xác quyết sự sống con người quý trọng hơn phương tiện vật chất.  Cả hai cám dỗ đó vẫn chưa chạm đến bản chất con người Ðức Giêsu.  Sau này, khi “buồn rầu đến nỗi chết” trong Vườn Giệtsimani, Chúa như rơi vào tình trạng rối loạn tình cảm.   Cơ hội đã tới.  Quỷ tưởng bở.   Nhưng, hắn không ngờ phải nếm mùi thảm bại !   Không có cách  nào phá tan tương quan giữa Người với Chúa Cha.  Tương quan tình yêu nổi bật và bền vững qua lời xin vâng thánh ý Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba trong hoang địa mới làm cho kẻ yếu tin choáng váng.  Choáng váng không phải vì cuộc thử thách diễn ra từ chóp đỉnh đền thờ, nhưng vì đụng tới phần cao cả nhất trong con người Ðức Giêsu.  Người bị thử thách về chính địa vị làm Con Thiên Chúa.  Quỷ dữ đã đánh mạnh vào tương quan tình yêu thâm sâu nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi !”  (Lc 4:9)   Một thử thách tương tự đã đến với Chúa vào lúc cuối đời : “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” (Mt 27:40)   Trong cả hai trường hợp, nếu nhảy xuống, Ðức Giêsu đã không vâng lời Chúa Cha.  Không còn thử thách nào lớn hơn !  Thử thách đụng tới yếu điểm nhưng không phải là điểm yếu của Chúa ! 

Người không hề bị lay chuyển.  Trái lại, tên cám dỗ đã vô cùng choáng váng như lãnh búa tạ khi nghe Chúa tỏ tất cả uy quyền : “Ngươi chớ thử thách Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” (Ðnl 6:13)  Chúa không gieo mình xuống đất  theo lời xu nịnh của quỷ dữ.  Nhưng Người sẽ gieo mình vào bàn tay nhân hiền của Chúa Cha từ cây Thánh Giá : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Tv 30)  Phó thác như một người con thơ hay tín thác như một người đầy tớ (Is 50:10), dù phải bước đi trong đêm tối.   

Cuộc  thắng bại đã phân minh !

Chính trong lời vâng phục, con người có khả năng gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu trong thực tại toàn vẹn của mình.  Con người có khả năng yêu như Thiên Chúa.  Trong tình yêu Thiên Chúa, con người sẽ tìm được bình an và sự toàn vẹn.  Nhờ vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa Cha, Ðức Giêsu đã dùng “Thánh Giá mạc khải trọn vẹn tình yêu Thiên Chúa.  Sự chết đã biến thành hành vi yêu thương và tự do tột đỉnh của Ađam mới.”[3]   Như thế, “chết là một mối lợi” (Pl 1:21) tuyệt vời cho toàn thể nhân loại.

Chúa thà chết để bảo tồn tương quan siêu việt và sâu đậm với Chúa Cha, còn hơn sống mà phủ nhận uy quyền Thiên Chúa trên thân phận mình.  Người không chọn con đường thỏa hiệp hay thỏa mãn tham vọng trước mắt. 

Có chết đi như thế, Ðức Giêsu mới cho thấy con người có một định mệnh cao cả. Chúng ta không phải là tác giả hay người sáng tạo chính mình.   “Chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa đích thực của chúng ta.”[4]  Sự lệ thuộc này không làm  con người mất tự do, vì “Thiên Chúa là tình yêu và tình yêu là huyền nhiệm làm nên hạnh phúc chúng ta.  Tuy thế, chỉ có xả thân và bước vào đường khổ giá, chúng ta mới có thể đi vào huyền nhiệm tình yêu này.”[5]   Phải đợi đến cơn cám dỗ cuối cùng trên thập giá, tất cả ý nghĩa và giá trị của cuộc chiến thắng trong hoang địa mới hoàn toàn được mạc khải . 

Mạc khải đó cho thấy không ai hạnh phúc hơn Ðức Giêsu !  

Hôm nay hạnh phúc đang chạy trốn con người, vì cuộc sống đang mất đi chiều  kích siêu việt.  Muốn tìm lại chiều kích siêu việt đó, phải tìm đến với Ðức Giêsu.  Khi vâng lời Chúa Cha, Người đã sống trong tương quan sung mãn.  Nhờ thế, không những Người không đánh mất chính mình, mà còn làm cho mọi người tìm thấy căn tính đích thực và chiều kích siêu việt, để có thể tin yêu Thiên Chúa. 

Hạnh phúc nằm trong tầm tay !

Lạy Chúa, Chúa đã thương chia sẻ thân phận làm người, vừa tầm thường vừa cao cả, với chúng con.  Xin sai Chúa Thánh Thần đến  hướng dẫn chúng con chiến thắng mọi thử thách trên sa mạc trần gian.  Xin soi sáng cho chúng con tìm thấy nơi Lời Chúa thần khí và sự sống cần thiết cho hạnh phúc hôm nay và ngày mai.  Amen.

đỗ lực 


[1] x. ÐHY Renato Martino, Zenit 19.02.2007.  [2] x. Mariano Fazio, Zenit 19.02.2007.

[3] ÐGH Bênêđictô XVI, Thông Ðiệp Mùa Chay 2007. [4] ibid.  [5] ibid.

 
VỀ MỤC LỤC
Hạnh phúc

 

Năm Mới chúng ta cầu chúc nhau hạnh phúc.

Điều này đúng cùng hợp với tâm trạng mong ước của con người, nhất là vào dịp đầu năm mới.