Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 67, Chúa nhật 18.03.2007


  Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI                        của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II

THÁNH GIUSE và BA CON ĐƯỜNG                                                         + Gm. GB. Bùi Tuần

CÂY VẢ VÀ BỤI GAI                                                                                Lm. Đỗ Vân Lực, op.

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”                                          Lm. Nguyễn Ngọc Long

“TÔI MUỐN TRỞ VỀ VỚI CHA TÔI”                                                    Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh

Sống những nghịch lý                                                                                      Trần Năng Thể

BỐC LỬA                                                                                                                Vân Thanh

TỰ HÀO NGỦ VỚI RẮN                                                                Thuận Châu Phan văn Khải

CHIỀU CHỒNG                                                                                          Hoàng Thị Đáo Tiệp

Chấp nhận nỗi giận và lòng muốn báo thù của mình.           Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Cẩn Mật: Như hạt giống được chôn vùi trong lòng đất             + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

CHÔM CHỈA,                                                                                 Chuyện phiếm của Gã Siêu.


TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II

 

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương III

THẦY ĐÃ SAI CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ

Tinh thần đồng trách nhiệm của Tín hữu giáo dân trong Giáo hội Truyền giáo

Sự Thông Hiệp Truyền Giáo

32. Chúng ta hãy lấy lại hình ảnh Thánh Kinh của cây nho và cành nho. Nó giúp chúng ta nhận xét về sự phong phú và sức sống một cách dễ dàng tự nhiên. Các cành cây dính liền với thân cây và sống do nhựa sống của thân cây, dĩ nhiên phải sinh hoa kết quả: "Ta là cây nho, chúng con là cành. Cành nào ở trong Ta và Ta Ở trong nó, nó sẽ trổ sinh nhiều hoa trái" (Jn. 15.5). Trổ sinh hoa trái là một đòi hỏi căn bản của đời sống Kitô hữu trong Giáo Hội. Ai không trổ sinh hoa trái thì khống Ở trong sự hiệp thông: "Bất cứ cành nào ở trong Ta mà không trổ sinh hoa trái, (Cha Ta) sế chặt nó đi" (Jn. 15.2).

Thông hiệp với Chúa Giêsu, nguồn hiệp thông giữa các Kitô-hũu với nhau, là một điều kiện không thể không có để trổ sinh hoa trái: "Ngoài Ta, chúng con không thể làm được gì,, (Jn. 15.5). Và sự hiệp thông với tha nhân là hoa trái đẹp nhất của cành nho. Đó là ơn của Đức Kitô và của Thánh Thần Ngài.

Sự thông hiệp phát sinh hơp nhất và bản chất nó là hiệp thông truyền giáo. Vì Chúa Giẽsu đã nói với môn đệ Ngài rằng: "Không phải các con chọn Thầy, chính Thầy đã tuyển chọn các con và sai các con đi mang lại kêt quả và để kết qủa âý tồn tại" (Jn.15.16).

Sự hiệp thông và việc truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đã trở nên như nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông. Chính một Chúa Thánh Thần kêu gọi và hiệp nhất Giáo Hội và sai Giáo Hội đi rao giảng Phúc âm "khắp trên mặt đất" (Acts. 1:8). Còn Giáo Hội, Giáo Hội biết sự hiệp thông là ơn Chúa, nó có sứ mệnh đôí với mọi người. Như thế Giáo Hội cam thấy mắc nợ đã nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần, Đấng đã ban tràn đức ái của Chúa Cha trong lòng các kẻ tin tưởng, là sức mạnh nôí kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. Sứ mệnh của Giáo Hội nằm ngay trong bản tính của mình như Chúa Kitô đã muốn: đó là sứ mệnh phải trở nên "dấu chỉ và phương thế... làm cho toàn thể nhân loại được hợp nhất." (120) Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" ; sự hiệp thông đí vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người. Chính theo nghĩa này, Thánh Gioan Thánh Sử đã minh định một cách quyết liệt cứu cánh "hạnh phúc" mà sứ mệnh Giáo Hội phải đạt tới: "Điều mà chúng tôi đã chiêm ngường, đã nghe thấy, chúng tôi đã loan truyền cho anh em, để anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi. Và chúng tôi, chúng tôi được hiệp thông với Chúa Cha và với Con Ngài là Đức Giêsu Kitô" (1 Jn. 1:3).

Cũng trong sứ mệnh của Giáo Hội, Chúa đã giao phó cho người tín hữu giáo dân, trong sự thông hiệp tất cả các thành phần của Dân Chúa, một phần trách nhiệm rất lớn. Các Nghị Phụ Công Đồng Vaticanô II đã ý thức rõ ràng về việc này: "Các chủ chăn biết rõ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các Ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội đôí với thế giới, nhưng nhiệm vụ cao cả của các Ngài là hướng dẫn tín hữu và nhận biết các phận sự và ơn sủng riêng của họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của họ trong sự hơp nhất ". (121) Tiêp theo trong Thượng Hội Đồng Giám Mục, sự xác tín của các Ngài về vấn đề này được nhắc lại một cách rõ ràng và mạnh mẽ hơn nữa.

RAO TRUYỀN PHÚC ÂM

33. Các tín hữu giáo dân, vì thuộc thành phần của Giáo Hội nên được mời gọi và nhận lãnh sứ mệnh rao truyền Phúc âm: Họ đã được chuẩn bị để dấn thân chu toàn hoạt động này bằng các Bí Tích của đời sống Kitô hữu và ơn Chúa Thánh Thần.

Một văn bản rõ ràng và súc tích của Công Đồng Vaticanô II nói: "Giáo dân góp phần tích cực vào đời sống và hoạt động của Giáo Hội, nhờ được tham dự vào chức vụ của Chúa Kitô là tư tế, tiên tri và là vua... Được nuôi dưỡng nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của cộng đoàn, chính họ nhiệt thành góp phần vào những hoạt động tông đồ của chính cộng đoàn đó; họ đem những người có lẽ đang xa lạc trở về với Giáo Hội. Họ cộng tác đắc lực vào việc rao truyền Lời Chúa, nhất là bằng việc dạy giáo lý. Họ đem khả năng của mình làm cho việc coi sóc các hnh hồn, và cả việc quản trị tài sản của Gìáo Hội sinh hiệu qủa hơn".(122)

Tất cả sứ mệnh của Giáo Hội quy tụ và biểu dương trong việc rao truyền Phúc âm. Con đường lịch sứ của Giáo Hội được ơn Chúa che chở và đi theo mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô: "Chúng con hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người". (Mk.16. 15) "Và Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thê" (Mt. 28.20). Đức Phaolô VI lại viết: "Rao truyền Phúc âm, đó là ân sủng và là lời mời gọi riêng của Giáo Hội, là bản tính sâu xa của Giáo Hội." (123)

Nhờ rao giảng Phúc âm, Giáo Hội được xây dựng và trở thành cộng đồng Đức Tin, nói rõ hơn là trở thành cộng đồng của một Đức tin bằng Lời Chúa, một Đức Tin cử hành trong các Bí Tích và sống trong Đức ái là linh hồn của đời sống luân lý Kitô-hữu. Vì "tin mừng" thức tỉnh con người trong cuộc sống, sự ăn năn trở lại và kết hơp với Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế và Chúa tể; chuẩn bị cho con người nhận lãnh phép Rửa Tội, phép Thánh Thể và trở nên vững chắc khi quyết tâm thể hiện một đời sống mới theo ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần.

Mệnh lệnh của Chúa "Chúng con hãy đi và rao giảng Phúc âm", chắc chắn vẫn luôn giữ giá trị linh động và cần phải được thi hành. Tình thế hiện tại của thế giới cũng như của nhiều địa hạt trong Giáo Hội, càng đòi hỏi lời Đức Kitô phải được tuần theo một cách sẵn sàng, mau chóng, và đại độ Mỗi người được gọi nêng và không ai được quyền từ chối trả lời : "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc âm" (1 Cor. 9:16).

Đã đến giờ phải đổi mới việc rao giảng Phúc âm

34. Có những nước, những quốc gia xưa kia hoàn toàn Công giáo và đời sống Kitô hữu rất nhiệt thành, từng nẩy sinh những cộng đồng Đức Tin sống động và linh hoạt; nhưng ngày nay lại bị thử thách trầm trọng và có khi lại bị biến đổi tận gốc rễ vì các học thuyết vô thần, tình trạng tục hóa và vô đạo. Nhất là những nước, những quốc gia được gọi là Nhất Thế Giới, nơi đó con người chỉ biết hưởng thụ và chạy đua tiêu thụ, mặc dầu bên cạnh họ còn có những tình trạng nghèo đói và khốn cùng ghê gớm; họ sống một đời sống "như thể không có Thiên Chúa". Trước tình trạng thờ ơ đôi với tôn giáo và coi rẻ Thiên Chúa một cách trầm trọng của cuộc sống, còn đáng lo ngại và nguy hại hơn cả học thuyết vô thần. Đức Tin Công Giáo mặc dầu còn được giứ lại trong những nghi lễ cổ truyền, cũng đang từ từ bị loại bỏ khỏi những giờ phút rất nghiêm trọng của đời sống như lúc sinh sản, khi gặp đau khổ, và giờ phút lìa đời. Do đó, có những vấn đề và những bí ẩn ghê gớm chưa giải đáp được và con người ngày nay cảm thấy thất vọng ê chề, hoặc có khi bị cám dỗ tiêu diệt sự sống đã tạo nên.

Ngược lại, tại nhiều nước, nhiều quốc gia tuy còn bảo tồn được truyền thống đạo đức sống động và tâm tình Công giáo, nhưng gia sản luân lý thiêng liêng ấy cũng đang bị nguy cơ biên dần vì nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là ảnh hưởng phong trào tục hóa và các giáo phái đang lan tràn khắp nơi. Chỉ có cách đổi mới việc truyền bá Phúc âm mới bảo đảm được Đức Tin trưởng thành, sáng suốt và sâu xa, có khả năng làm cho những truyền thống ấy trở thành một sức mạnh tự do thật.

Chắc chắn rằng việc tái lập cho xã hội loài người một cơ cấu căn bản Công Giáo là việc làm cấp bách. Nhưng đìêu kiện tiên quyết, là phải tái lập cơ cấu căn bản của cộng đồng Giáo Hội đang sống trong các nước, các quốc gia ấy.

Ngày nay, người tín hữu giáo dân nhờ tham gia vào chức vụ rao giảng của Chúa Kitô, nên được dấn thân đầy đủ vào công việc này của Giáo Hội. Đặc biệt họ phải chứng tỏ cho mọi người biết là chỉ có Đức Tin mới có câu trả lời đáng giá cho các ván đề, cho niềm hy vọng do cuộc sống tạo nên cho mọi người và cho xã hội, một câu trả lời mà mọi người nhiều hay ít đang thoáng thấy xa xa và chờ đợi. Điều này có thể thực hiện được nếu người tín hữu giáo dân thắng vượt tình trạng chia rẽ giữa Phúc âm với đời sống, nghĩa là biết tạo nên trong các hoạt động thường ngày, trong gia đình, nơi sở làm, trong xã hội, sự hiệp nhất theo tinh thần Phúc âm và nhờ sức mạnh của Phúc âm để thực hiện.

Một lần nữa Ta lập lại với tất cả mọi người đang sống thời đại hôm nay, tiếng kêu cầu tha thiết khi Ta khai mạc đời phục vụ các linh hồn của Ta: "Các con đừng sợ, các con hãy mở, hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô! Ngài là Đáng cứu độ quyền năng, các con hãy mở rộng cho Ngài biên giới quốc gia, các hệ thống kinh tế chính trị, các lãnh vực mênh mông của văn hóa, của văn minh, của phát triển. Các con đừng sợi Đức Kitô biết rõ "tất cả những gì đang ầp ủ trong lòng người". Chỉ có Ngài mới biết được mà thôi. Hôm nay, nhiều lần con người không biết được những gì họ đang mang trong mình, họ đang ấp ủ tận đáy lòng, trong thâm cung của linh hồn mình. Vì thế nên họ không rõ được ý nghĩa cuộc sống trần gian. Họ bị ám ảnh nghi ngờ rồi đâm ra thất vọng. Ta yêu cầu các con, Ta van nài các con với tất cả lòng khiêm nhượng và cậy trông, các con hãy cho phép Đức Kitô nói với các con. Chỉ có Ngài mới có lời ban sự sống. Phải, chỉ có Ngài mới có lời hằng sống." (124)

Mở rộng cửa cho Chúa Kitô, đón rước Ngài vào cuộc sống riêng tư của mình, làm như vậy con người không bị một điều gì đe dọa. Trái lại, đây là con đường độc lộ phải đi qua nếu chúng ta muốn nhìn nhận tất cả sự thực về con người và tôn vinh các giá trị của nó.

Người tín hữu giáo dân biết đem Phúc âm vào đời sống nghĩa vụ hằng ngày đó là chứng tá đẹp nhất và hữu hiệu nhất, để cho mọi người thấy rằng không phải sợ hãi, mà là tìm kiếm Đức Kitô, để bám chặt lấy Ngài, là yếu tố quyết định cho con người được sống và trưởng thành, và để tạo nên những mẫu sống phù hợp với phẩm giá con người.

Con người được Thiên Chúa yêu thương! Đó là điều rất đơn giản và cũng là rất táo bạo mà Giáo Hội phải loan truyền cho mọi người. Lời nói và đời sống của mỗi người Kitô hữu phải là dư âm của sứ điệp này: Thiên Chúa yêu thương con. Đức Kitô đã đến vì con, vì con mà Đức Kitô trở nên "Đường, Sự Thật và Sự Sống" (Jn. 14:6).

Việc rao giảng Phúc âm không phải chỉ cho từng người, mà cho toàn thể các dân tộc tùy theo tình trạng, cảnh vực và văn hóa riêng của họ. Mục đích là cố ý tạo nên sự thông hiệp Giáo Hội trưởng thành, nghĩa là sống Đức Tin, là theo sát con người của Chúa Kitô và Phúc âm của Ngài, là gặp gỡ và hiệp thông với Ngài nhờ các Bí Tích, là sống Bác ái và phục vụ. Đó là ý nghĩa nguyên thủy của Đức Tin.

Vai trò của tín hữu giáo dân là tạo nên những cộng đồng Giáo Hội, không phải chỉ bằng cách tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm vào đời sống cộng đồng, một việc chúng ta không thể thay thế được, mà còn bằng cách hăng say làm việc tông đồ cho nhứng người chưa có Đức Tin hoặc không sống theo Đức Tin đã nhán lãnh trong phép Rửa Tội.

Đối với các thế hệ trẻ, người tín hữu giáo dân còn phải đóng góp, một sự đóng góp quý giá cần thiết hơn bao giờ hết, là cố gắng dạy giáo lý cho họ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tỏ lòng biết ơn công việc của các người dạy giáo lý, nhìn nhận "vai trò của họ rất có giá trị trong việc làm cho các cộng đồng Giáo Hội thêm sức sống" (125) Các bậc phụ huynh Công Giáo nhờ phép Hôn Phối đã trở nên những người dạy giáo lý trước hết cho con cái không ai thay thế được. Nhưng tất cả chúng ta đồng thời cũng phải xác tín là mọi người đã chịu phép Rửa Tội đều có "quyền lợi" phải được dạy dỗ, được giáo dục, và được theo dõi trong Đức Tin và trong đời sống Công Giáo.

Chúng con hãy đi khắp thế giới

35. Trong khi nhận xét và kinh nghiệm tình trạng khẩn cấp thúc đẩy phải rao giảng Phúc âm theo một đường lôí mới, Giáo Hội không thể tránh né sứ mệnh thường trực của mình là đem Phúc âm đên cho từng triệu triệu ngườí cả nam lẫn nữ chưa nhận biết Chúa Kitô, Đâng Cứu Rỗi con người. Đó là công việc đặc biệt truyền giáo mà Đức Kitô đã trao phó và còn trao phó mỗi ngày cho Giáo Hội.

Công việc của các tín hữu giáo dân, mặc dầu luôn luôn đã đóng góp trong phạm vi này, nhưng ở giai đoạn này lại cần thiết và quý giá hơn. Thực ra, mệnh lệnh của Chúa "Chúng con hãy đi khắp thế giới" - vẫn có những giáo dân đại độ hưởng ứng; họ sẵn sàng từ bỏ nơi sinh sống của mình, bỏ công việc, bỏ làng xóm quê hương để lao mình vào các xứ truyền giáo, ít nữa trong một thời gian hạn định - cũng có những cặp vợ chồng Công Giáo theo gương ông bà Aquila và Priscilla xưa (Acts. 18, Rom. 16.3) đã nêu gương chứng nhân tình yêu say sưa đôí với Chúa Kitô và Giáo Hội bằng đời sống hy sinh trong các xứ truyền giáo. Ngoài ra còn có sự hiện diện truyền giáo đích thực khác do những người Kitô hữu vì nhiều lý do phải sống làm chứng Đức Tin trong các nước hay những nơi Giáo Hội chưa được thiết lập.

Nhưng ngày nay vấn đề truyền giáo của Giáo Hội đã trở nên quá rộng lớn và khẩn thiết, vì thế chỉ khi nào tất cả mọi thành phần Giáo Hội từng cá nhân hay từng nhóm đồng liên đới chịu trách nhiệm trong việc truyền giáo, mới có hy vọng đem lại kết qủa mỹ mãn.

Lời mời gọi của Công Đồng Vaticanô II kêu cầu các Giáo Hội địa phương vẫn còn nguyên giá trị: "Vì Giáo Hội địa phương có nhiệm vụ phản ảnh Giáo Hội hoàn vũ một cách hết sức hoàn hảo, nên phải thành thực nhận định mình cũng được sai tới những kẻ chưa tin Chúa Kitô" . (126)

Giáo Hội hôm nay phải tiến tới trong việc rao truyền Phúc âm, phải bước vào một giai đoạn lịch sử mới của tiềm thức truyền giáo. Trong một thế giới không còn khoảng cách và ngày càng trở nên nhỏ bé, các cộng đồng Giáo Hội càng phải hơp nhất với nhau và cùng nhau dấn thân trong cùng một sứ mệnh độc nhất là rao truyền và sống Phúc âm. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố. "Các Giáo Hội trẻ cần sức mạnh của các Giáo Hội trưởng thành, và đồng thời các Giáo Hội này cũng cần chứng tá và sự thúc đẩy của các Giáo Hội trẻ; như thế Giáo Hội này hưởng nhờ kho tàng của các Giáo Hội kia".(127)

Trong giai đoạn mới này, việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương cũng như đào tạo hàng giáo dân trưởng thành và có tinh thần trách nhiệm, đôí với các Giáo Hội trẻ, là môt yếu tố cơ bản và cần thiết cho việc thiết lập Giáo Hội. (128) Và như thế các cộng đồng đã nhận được Phúc âm lại rao truyền cho các nước khác trên thế giới để đáp lại sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô và làm chứng nhân.

Các tín hữu giáo dân nhờ gương sáng và hoạt động của mình có thể cải thiện được những môí tương giao với các tín đồ thuộc các tôn giáo bạn như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã lưu ý: "Ngày nay Giáo Hội hoạt động khắp nơi giứa những người theo tôn giáo khác nhau... Tất cả các tín hữu, nhất là giáo dân đang sống giữa các dân tộc theo tôn giáo khác hoặc ở trong nước mình cư ngụ, các giáo dân này phải trở nên chứng nhân cho Chúa và Giáo Hội đôí với người dân bản xứ một cách thích nghi với hoàn cảnh sống riêng biệt. Việc đôí thoại giữa các tôn giáo rất quan trọng vì nhờ đó họ biết yêu thương và kính trọng nhau, hay ít nữa xóa bỏ xoa dịu các thiên kiến giữa các tín đồ các đạo, và cổ võ được sự hiệp nhất và tình bằng hứu giũa các dân tộc (129)

Muốn Phúc-âm-hóa các dân tộc, cần phải có các tông đồ. Muốn thế, tất cả chúng ta, bắt nguồn từ các gia đình công giáo, chúng ta phải ý thức trách nhiệm của chúng ta là tìm cách làm nẩy nở và chín mùi ơn kêu gọi, đặc biệt ơn thừa sai, bằng lời cầu nguyện, theo lời Chúa Giêsu dạy: "Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít. Chúng con hãy cầu xin Chủ Nhà sai thêm thợ gặt" (Mt. 9:37-38).

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
THÁNH GIUSE và BA CON ĐƯỜNG

 

Thánh Giuse là con người thinh lặng. Nhưng Ngài là thầy dạy nhiều nhân đức.

Năm nay, mừng lễ Ngài tại Việt Nam trong tình hình mới, tôi cùng với những kẻ mến Ngài cùng nhau cầu nguyện và suy nghĩ. Chúng tôi khẩn khoản xin Ngài chỉ bảo cho biết điều gì, mà Ngài thấy là cần để ý nhất cho cuộc sống đạo hôm nay.

Tôi gẫm suy và giờ đây tôi mạo muội chia sẻ.

Tôi thấy cuộc sống thánh Giuse được chi phối bởi ba con đường.

Cuộc sống của thánh Giuse với ba con đường

1/ Con đường sinh sống của thánh Giuse

Đọc Phúc Âm, chúng ta nhận ra phần nào hình ảnh sinh sống của thánh Giuse.

Ngài đã sinh sống đúng như một người lao động bình thường. Ngài kiếm sống một cách cần cù với nghề thợ mộc. Ngài hoà nhã với xóm làng. Ngài giữ luật Nước đi về Belem để đăng ký. Theo lệnh Chúa, Ngài mau lẹ đưa gia đình sang Ai Cập để lánh nạn. Cũng theo lệnh Chúa, Ngài đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trở về Galilê, định cư tại thành Nadarét. Ở đó Ngài lo cho gia đình một cuộc sống tương đối đầy đủ. Ngài được mọi người đồng hương coi là một người công chính.

Như vậy, con đường sinh sống của thánh Giuse kể là ổn định, bảo đảm được nhân cách cho tất cả gia đình.

2/ Con đường giữ đạo của thánh Giuse

Thánh Giuse đã thực hiện mọi điều luật đạo bấy giờ truyền dạy. Ngài để Chúa Hài Đồng chịu phép cắt bì, đúng ngày, đúng cách. Ngài đem Chúa Hài Đồng lên Giêrusalem để tiến dâng lên Thiên Chúa. Hằng năm Ngài cùng với Đức Mẹ và Chúa Giêsu trẩy hội đến đền Giêrusalem mừng lễ Vượt qua.

Con đường giữ đạo của thánh Giuse được coi là đúng đắn, trọn vẹn theo luật đạo.

Ngài kính trọng các hình thức luật đạo. Trong mọi hình thức đó, Ngài dâng lên Chúa tất cả tấm lòng tin cậy mến, tôn thờ tạ ơn Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân.

3/ Con đường thiêng liêng của thánh Giuse

Tôi gọi con đường thiêng liêng của thánh Giuse là sự Ngài tin tuyệt đối Chúa Giêsu chính là con đường cứu độ nhân loại. Niềm tin này đưa Ngài vào sự sống mới. Ngài gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa Cha. Sự sống mới không ngừng thôi thúc Ngài từ bỏ mình, sẵn sàng chịu mọi sự khốn khó, để cộng tác vào chương trình cứu thế của Chúa Giêsu.

Con đường thiêng liêng này rất âm thầm, nhưng biến đổi toàn diện đời Ngài. Ngài sống cho ơn gọi đó. Hạnh phúc của Ngài là được đi trên con đường thiêng liêng cao cả ấy. Ngài biết con đường thiêng liêng này đòi Ngài phải tỉnh thức lắng nghe ý Chúa, khiêm tốn thực thi ý Chúa trong mọi sự, can đảm bỏ ý riêng. Nhưng nhờ ơn Chúa, Ngài đã trung thành với con đường này từng giây từng phút suốt trọn đời Ngài.

Cuộc sống thánh Giuse là đã đi theo ba con đường trên đây một cách hài hoà, với nhiều tỉnh thức và khôn ngoan, nhất là với đức ái quên mình.

Bây giờ, chúng ta thử nhìn vào chính mình và cộng đoàn ta, để xem cuộc sống hiện nay của ta có giống cuộc sống của thánh Giuse không.

Cuộc sống của chúng ta với những con đường

1/ Con đường sinh sống của ta

Ta phải sống. Nên ta lo chọn một con đường để sinh sống, sao cho an cư lạc nghiệp. Nỗi lo đó là chính đáng. Nhưng trên thực tế hôm nay, đang xảy ra nhiều điều đáng ngại. Có những người lười biếng, không phấn đấu làm ăn lương thiện. Lại có những người chạy theo con đường sinh sống với nhiều tham vọng không chính đáng. Được cái này lại muốn thêm cái kia. Ngày đêm bơi lội trong những bận tâm về của cải và danh vọng.

Phong trào hưởng thụ và cạnh tranh kinh tế đang thúc đẩy con người dốc hết sức mình vào hiệu năng vật chất. Xa xỉ kéo theo xa xỉ. Phí phạm đòi thêm phí phạm.

Tham vọng không biên giới. Hưởng thụ không có chỗ dừng. Nhiều điều lừa dối ta. Nhưng lại nói là để phục vụ cuộc sống. Do đó, rất nhiều người không còn để tâm đến việc đạo.

2/ Con đường giữ đạo của ta

Thực ra, phần đông còn giữ đạo. Nhưng biết bao người giữ đạo cho có lệ. An tâm với hình thức. Bỏ nhiều điều căn bản. Nhất là lỗi phạm đức ái một cách ngon lành.

Đáng ngại nhất là người trong đạo bị dụng-cụ-hoá, để cho ma quỷ tự do lôi kéo vào những chương trình đen tối, gây nên gương mù gương xấu.

3/ Con đường thiêng liêng của ta

Nếu tôi không lầm, thì con đường thiêng liêng hiện nay đang bị nhiều cộng đoàn coi rất nhẹ. Con đường thiêng liêng, mà thánh Giuse đã tha thiết trung thành là sống mật thiết với Chúa Giêsu, luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Con đường ấy trước đây đã được nhiều giáo dân, nhất là nhiều tu sĩ giáo sĩ nêu gương. Nhưng nay mẫu gương đời sống khó nghèo, chiêm niệm, cầu nguyện, hy sinh, khổ hạnh đang có nguy cơ trở nên khan hiếm.

Hiện nay, cơ sở đạo ta được mở mang hơn. Tổ chức đạo ta được tưng bừng hơn. Nhân sự đạo ta được tăng số hơn. Thiết tưởng, tất cả sẽ tốt hơn, nếu con đường thiêng liêng cũng được phát triển sâu rộng, nhất là nơi những người tu, đặc biệt là nơi các đấng bậc trong đạo.

Phần đông chúng ta tưởng rằng: Vấn đề giải phóng con người tuỳ thuộc ở vấn đề tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ chế xã hội, tự do tín ngưỡng. Thiết nghĩ đó chỉ đúng một phần. Theo tôi, yếu tố quan trọng để cứu độ con người và thế giới vẫn là con đường thiêng liêng. Thánh Kinh dạy như thế. Kinh nghiệm lịch sử  minh chứng điều đó. Tại Việt Nam, nhiều nơi đạo coi như đang lên, nhưng thực sự đang xuống, vì bỏ con đường thiêng liêng.

Xin thánh Giuse thương dẫn dắt mỗi người chúng ta đi đúng những con đường mà Chúa muốn, nhất là biết tha thiết với con đường thiêng liêng cứu độ, mà xưa Ngài đã gắn bó.

Xin thánh Giuse chia sẻ đức ái của Ngài một cách đặc biệt cho các gia trưởng, và một cách đặc biệt hơn nữa cho các mục tử tại Việt Nam hôm nay.

GB. BÙI TUẦN

VỀ MỤC LỤC
CÂY VẢ VÀ BỤI GAI  

 

Phúc Âm Nhật Ký ngày 11.03.07

(Lc 13:1-9)

Ngày 2/3/07 vừa qua, hãng Tin Tức Công Giáo Thế Giới (CWN) đã loan tin ông Fred Nassiri, một nhà tỷ phú tại Hoa Kỳ, dâng hiến tất cả tài sản mình cho người nghèo và sẽ trở thành tu sĩ Phanxicô.   Một Phanxicô thời đại đã xuất hiện !  Ông là người Mỹ gốc Iran. Từ Hồi Giáo, ông đã trở lại Công Giáo.   Ngày  1/3 vừa qua, khi đến Vatican gặp Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Tarcisio Bertone, ông nói : “Tôi muốn mang đến Vatican một chứng từ đức tin và lòng khâm phục lý tưởng dòng Phanxicô. Tất cả tài sản của tôi sẽ dành cho người nghèo để tôi trở thành tu sĩ Phanxicô. ” Giải thích về sự chuyển hướng cuộc đời, ông Nassiri phát biểu : “Càng nhiều tiền của, càng có nhiều nghĩa vụ đối với người chung quanh mình.”[1]

Tại sao ông Nassiri có thể thực hiện một cuộc từ bỏ lớn lao đó ?  Ông không tính toán như Giakêu.  Chẳng biết ngày xưa, sau khi chia nửa gia tài cho người nghèo và đền bù gấp bốn cho những nạn nhân, ông Giakêu còn lại bao nhiêu ?   Nassari chắc chắn hơn ông rồi. Cuộc từ bỏ nào cũng bắt đầu từ sự sám hối.  Năm xưa, thời còn trong sa mạc, thế nào ông Môsê chẳng có lúc sám hối vì hành động giết người Ai cập để bênh vực cho đồng bào ?  Ðành rằng đó là một hành vi anh hùng, nhưng trước nhan Chúa, lương tâm ông không để ông yên.   Từ đó, ông đã sám hối.  Thiên Chúa đã dủ lòng thương kêu gọi ông lãnh sứ mệnh giải thoát dân tộc, từ bụi gai bốc lửa mà không bốc cháy (x. Xh 3:2).   Thiên Chúa đã biến bụi gai vô dụng thành “đất thánh,” (Xh 3:5) nơi Môsê đã được Thiên Chúa Giao Ước (Xh 3:6) mạc khải là “Ðấng Hiện Hữu.” (Xh 3:14) Bụi gai đã góp phần làm nên lịch sử dân Chúa.  

Trước đây, giống như bụi gai, ông Môsê cảm thấy mình bất lực trước kiếp nô lệ tang thương của đồng bào. Thời gian gậm nhấm tâm hồn.  Niềm đau đưa ông gần tới Chúa.  Như bụi gai, ông đã được Chúa dùng để mạc khải cho dân Do thái biết tất cả tấm lòng cảm thông sâu xa và sức mạnh của Chúa muốn ra tay giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai cập.   Vì luôn hiện diện trong dân, nên Người thấu hiểu và quan tâm tới mọi nỗi khốn cùng của họ.  Không những thế, Người còn hứa dẫn họ tới “một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật.” (Xh 3:8a)   Dù là bụi gai giữa sa mạc, nếu được Chúa đoái tới, cũng trở thành nơi tràn đầy sự sống và thánh thiện.  Nhưng nếu không được chăm sóc, ngay cây vả tại góc vườn nho cũng vô dụng, dù đầy dẫy thợ làm vườn. 

Bình thường, cây vả có dáng đẹp, đem lại bóng mát và chất bổ dưỡng cho gia đình (1 V 4:25), nên được nhiều người ưa thích.  Nhưng trong dụ ngôn hôm nay, không biết tại sao cây vả lại không sinh hoa trái ?  Sau ba năm liên tục ra thăm, chủ vườn không tìm được một trái nào nơi cây vả.  Nếu cứ để cây vả tiếp tục sống, lợi nhuận gia đình sẽ bị ảnh hưởng.  Sự hiện hữu của nó trở thành thừa thãi và nguy hại cho đất đai và môi trường chung quanh.  Ông mất kiên nhẫn và muốn chặt nó đi.  Nhưng nhờ người làm vườn nài xin, ông chủ cho nó sống thêm một năm nữa.  Sau một năm, cây vả có sinh hoa trái nào không ?  Không thấy dụ ngôn nói tới.

Thực tế, chỉ cần sau một năm ngắn ngủi, tình hình đã hoàn toàn thay đổi.  Cây vả đã được vun xới cẩn thận.  Những người làm vườn cũ đã bị thay thế.  Người Làm Vườn mới là chính Con Thiên Chúa.  Là Chủ vườn nho, Chúa Cha đã sai Chúa Con  đến chăm sóc vườn nho và cây vả.    Người đã lấy chính Thân Thể chăm bón và Bửu Huyết vun tưới cây cối.  Nói khác, Người canh tác bằng chính tình yêu của mình, tình yêu không bao giờ cạn kiệt hay tắt ngúm.   Người đã trả giá bằng chính mạng sống để đem lại mùa màng tươi tốt cho Chúa Cha và toàn thể nhân loại.   Chỉ cần một thời gian rất ngắn, Chủ vườn có thể bội thu.  Người làm việc cực nhọc để có một Vương quốc Công Bình với những hoa trái bao dung và cảm thông.

Không có kinh nghiệm sâu xa về lòng thương yêu và nhân ái vô cùng lớn lao của Chúa, không thể làm Vườn Nho Chúa.  Nếu thực sự có lòng bao dung đó, Giáo hội không thể không sám hối.  Từ đó mới có thể xây dựng một Vương quốc Công Bình.  Ðược ủy thác chăm sóc cả vườn nho lẫn cây vả, chúng ta đã hành động ra sao ? 

Trong Kinh Thánh, cây nho và trái vả thường biểu tượng cho hòa bình và thịnh vượng.[2]  Khi thay Chúa chăm sóc vườn nho và cây vả, Giáo hội phục vụ cho nền hòa bình và hạnh phúc nhân loại. Thực vậy, cũng như Ðức Giêsu, Giáo hội phải hy sinh BỎ  mạng sống mới có thể hoàn thành sứ mạng cao cả ấy.  Nhìn vào tình trạng bạo động và mất tự do trên thế giới hôm nay, chúng ta thấy Giáo hội còn phải nỗ lực nhiều lắm.

Nguyên nhân chính khiến Giáo hội chưa hoàn thành sứ mệnh, vì chúng ta chưa sám hối.  Chỉ khi nào sám hối, Giáo hội mới có thể quy tụ muôn dân vào làm vườn nho Chúa.  Nếu không, Giáo hội sẽ phải phân tán như dân Do thái sau khi Ðền Thờ Giêrusalem bị tiêu hủy.

Chúa không muốn Dân Chúa hôm nay lâm vào cảnh tan tác như thế, nên mới lên tiếng cảnh cáo : “Nếu anh em không chịu sám hối, thì anh em sẽ chết hết.” (Lc 13:5)  Ngược lại, nếu sám hối, không những được sống, mà chúng ta còn thực hiện được sứ mệnh hòa bình và đem lại cuộc sống giàu mạnh cho mọi người.  Nếu sám hối, dù là bụi gai, chúng ta cũng được Chúa dùng làm nơi phát ra lời mạc khải và cứu độ.  Dù có là cây vả vô sinh, chúng ta cũng sẽ được chuyển hóa để sản xuất hoa quả tốt tươi cho Chúa.  Tất cả đều phải bắt đầu từ sám hối.

Ngay khi mới mở lời rao giảng Nước Trời, Chúa đã kêu gọi sám hối.  Việc sám hối luôn là chủ đề chính trong mọi lời giảng của Chúa.   Bởi thế, khi tường thuật tin tức về những người đồng hương bị Philatô sát hại, Chúa lợi dụng cơ hội để kêu gọi con người sám hối.  Chắc hẳn lúc đó những người Do thái muốn Chúa bày tỏ một thái độ chính trị đối với đế quốc.  Nếu bình luận về tin tức thời sự nóng  bỏng đó theo hướng chính trị, chắc chắn đã đến tai Philatô.  Lời kêu gọi sám hối có thể Philatô đã nghe báo cáo.  Nếu đúng thế, ông cũng phải suy nghĩ về những hành động của mình.  Ông không thể dựa vào thế mạnh của chính trị mà đàn áp hay tiêu diệt con người, bất chấp Thiên Chúa.  Lương tâm, tiếng nói Thiên Chúa, còn mạnh hơn lệnh của hoàng đế Roma.  Ông sẽ phải đối diện trực tiếp với Tạo Hóa của ông.  Ông cần sám hối !

Ngày nay vẫn có những con người chưa nhận ra sự thật đó.  Vụ đập phá tượng Pieta tại Phát Diệm sáng ngày 30.01.2007 là một thí dụ điển hình.  Biến cố xảy ra chỉ 4 ngày sau khi Thủ tướng nước Việt Nam hội kiến với Đức Giáo Hoàng và Quốc Vụ Khanh Toà Thánh tại Rôma.   Xung quanh bức tượng, giáo dân đặt các vòng hoa kính viếng Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Trên các vòng hoa có các dòng chữ phân ưu như: “Giáo họ Đông Thịnh vô cùng đau thương  khi Mẹ chịu thương đau,”  “Cộng đoàn Giáo họ Phong Châu vô cùng thương tiếc khi Mẹ đau thương,” “Hội Mân Côi xứ Ngọc Cao kính viếng sự đau thương Mẹ”. Tại chân tượng bị đập phá hãy còn tấm bảng ghi dòng chữ: “Tạ ơn Đức Mẹ 'Pieta'. Người đã trở nên hình ảnh Hội Thánh tại GP Phát Diệm.”   Ðọc những hàng chữ đó, tôi có cảm tưởng như mình đang tham dự đám tang của Chúa và Ðức Mẹ.  Tôi đã thất vọng khi không tìm thấy vòng hoa nào ghi những câu như : “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34)  hay  “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em,”(Mt 5:44; Lc 6:35)   Nếu có, chắc chắn Chúa sẽ vui hơn và phù hợp với Tin Mừng hơn !

Trong vụ đập phá ảnh tượng đó, người ta đã chứng tỏ tất cả sức mạnh vô địch (!) của chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng.   Nên nhớ, Chúa Giêsu và Mẹ Maria là những thần tượng tuyệt vời của Kitô hữu. Họ đã đập nát được “tượng.”  Liệu có phá nát nổi “thần” trong lòng người hay không ?   Nên biết : “Ceasar không phải là tất cả.  Có một vương quyền khác, mà nguồn gốc và bản chất không thuộc về thế gian này.”[3]   Chỉ khi thành tâm sám hối, mới thấy rõ Vương quyền đó.  Theo thánh Clêmentê, tự bản chất, Giáo hội là một cơ cấu có tổ chức, nơi mỗi thành viên đảm trách sứ mệnh theo ơn gọi của mình.  Người nhấn mạnh, sứ mệnh của Giáo hội có tính cách bí tích hơn chính trị, và khuyến khích tín hữu đáp ứng lời Thiên Chúa mời gọi bước vào “một tiến trình sám hối một cách quảng đại và can đảm.”[4]

Là người đang phục vụ Vương Quốc Thiên Chúa, tôi đã sám hối để phục vụ một cách hữu hiệu hơn chưa ?  Nếu chưa, tôi cũng chỉ là bụi gai hay cây vả vô sinh mà thôi.  Nhưng nếu sám hối, tôi có thể “thay đổi cho phù hợp với kinh nghiệm về  Thiên Chúa tuyệt vời đang hiện diện để ban ân sủng và tự mạc khải”[5] cho tôi.  Nếu không có kinh nghiệm về tình yêu đầy khoan dung và tha thứ của Thiên Chúa, tôi không thể sám hối.  Tình yêu Thiên Chúa vô cùng mãnh liệt đến nỗi  tôi có thể thay đổi thái độ và ý chí để lựa chọn những gì thực sự giá trị hơn là tìm thỏa mãn những tham vọng tự nhiên. 

ÐGH Bênêđictô XVI đã diễn tả thật chính xác : “Hoán cải là chấp nhận một cách tự do và với tình yêu tự lệ thuộc tất cả vào Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo đích thực của chúng ta, tự lệ thuộc vào tình yêu. Do đó tự hoán cải có nghĩa là không tìm kiếm sự thành công cá nhân - điều sẽ trôi qua – nhưng là từ bỏ mọi thâm tín con người, đi theo Thiên Chúa với sự đơn giản và niềm tin tưởng để Đức Giêsu trở thành cho mỗi người, “tất cả trong mọi sự” như á thánh Têrêsa thành Calcutta thích lập lại. Ai để cho Người chiếm hữu thì không sợ mất sự sống của mình, bởi vì trên Thập Giá, Người đã thương yêu và tự hiến mình cho chúng ta. Chính vì thế khi mất sự sống bởi tình thương, chúng ta tìm lại được nó.”[6]

Lạy Chúa, con là cây vả nhiều năm không sinh hoa trái gì cho Chúa và anh em.  Cám ơn Chúa đã sai Con Chúa đến cứu con.  Xin cho con cảm nghiệm sâu xa về tình yêu vô cùng mãnh liệt của Chúa để con có thể hoán cải và trở thành người làm vườn nho đắc lực của Chúa.  Amen.  

đỗ lực


[1] CWN 02/03/2007.  [2] Harper’s Bible Dictionary 1985:308.

[3] Thánh Clêmentê, CWNews 07.03.2007.  [4] Ibid.

[5] Encyclopedia of Catholicism 1995:366.  [6] ÐGH Bênêđictô XVI, Zenit 21/02/2007.

 
VỀ MỤC LỤC
“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”

 

Lời kinh cầu nguyện này chúng ta đọc hằng ngày trong suốt đời sống đức tin vào Thiên Chúa.

Đọc khi còn trên đường lữ hành ở trần gian cho chính mình và đọc bên nấm mồ cho người đã qúa cố.

Đọc lúc vui mừng thành công, cũng như lúc gặp khó khăn thất bại, buồn phiền lo lắng trong đời sống.

Nhiều người đạo đức hay cả những người ít đạo đức hơn cũng thường hay nói: Ma quỉ cám dỗ làm sao ấy..!

Và ai cũng đều có kinh nghiệm không ít nhiều về cám dỗ đã vướng mắc gặp phải trong đời sống. Nhưng cám dỗ là gì? Tại sao lại gọi là chước cám dỗ?

1. Ba thèm muốn căn bản thầm kín

Nhiều điều hiển nhiên trong đời sống có đấy. Nhưng khi phải nhận diện đặt tên nó ra, ta cảm thấy lung túng, có khi mắc cở ngượng ngùng khó nói, không biết nói ra làm sao cho có đầu đuôi khúc chiết. Một trong những điều đó là chước cám dỗ.

Vì nào có ai muốn nói đến điều thầm kín gây xấu hổ mắc cở, mất thể diện ra đâu. Ngày xưa Bà Evà, khi Thiên Chúa hỏi tại sao lại ăn qủa trái cấm, đã một mực chối bỏ, đổ tội cho con rắn đường mật dụ dỗ mình ( St 4,13).

Một em bé ở nhà nghịch ngợm làm bể chén bát, bình bông... Cha mẹ hỏi em, em tìm cách chối quanh, nói là gió thổi nó rơi xuống nền nhà bể vỡ...

Nhiều người lớn, cả những bậc vị vọng đời đạo xưa nay, đã nhất mực chối từ không dính dáng đến một lỗi lầm xa xưa. Đến khi sự việc tỏ bày ra ánh sáng. Lúc đó mới chịu trận nhìn nhận “ ngày xưa đã nhẹ dạ sa vào cơn cám dỗ!”.

Ai là người không muốn một đời sống đầy đủ cơm ăn áo mặc, nhà cửa khang trang, tiện nghi trong đời sống…

Ai là người không muốn được nhiều người biết đến, được nổi danh, được có thế lực, gây ảnh hưởng trên người khác, trên nhiều lãnh vực…

Ai là người không muốn được tung hô vạn tuế, được kính trọng nể vì, được yêu thương…

Những ao ước này không là điều xấu. Và ai chúng ta hầu như cũng đều có kinh nghiệm ít nhiều về điều này, nếu không trong thực tế đời mình, đời người khác, thì cũng có trong niềm mơ ước!

Những mơ ước, phải, những mong chờ thèm muốn này ăn rễ sâu nơi tâm khảm con người. Nó qui về ba điều mong ước : Muốn hưởng thụ, muốn có thế lực quyền uy, và muốn được công nhận kính trọng yêu thương!

Ông Bà nguyên tổ Adam-Eva của chúng ta đã vướng vào tròng dụ dỗ của con rắn. Vì nó khêu gợi lên nơi Bà Eva ba khát vọng thầm kín này: thèm ăn, thèm tự lập tự quyết, thèm được cho là người lớn hiểu biết.

 

Và ma qủi cũng đã áp dụng chiến thuật này với Chúa Giêsu. Nó dụ dỗ bản năng thèm muốn nơi con người của Chúa Giêsu:

-         Thèm ăn: “ Nếu Ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh mà ăn đi”. Vì Ông đang đói bụng mà! ( Lc 4, 3)

-         Thèm quyền hành: “ Tôi sẽ cho Ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này…” ( Lc 4,6).

-         Thèm được tung hô, nổi tiếng ngoạn mục: “ Nếu Ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn.” ( Lc 4,9-10)

Ngày xưa bà Eva, thủy tổ loài người, đã để cho những khát vọng thèm muốn đó nổi lên làm chủ đời sống. Vì thế Bà đã sa chước ma qủi cám dỗ.

Còn với Chúa Giêsu thì không. Ngài đã nói “ không” với ma qủi. Ngài không để cho ba khát vọng thèm muốn trong bản năng con người dấy lên thống trị đời sống mình.

2.  Chước cám dỗ trong đời sống

      2.1. Thèm muốn mới lạ

Con người chúng ta ai cũng cần cơm bánh cho bao tử, cho phát triển thể xác. Nhưng nhu cầu căn bản đó lại trở nên vấn đề thèm muốn cho đời sống. Khi nhu cầu căn bản cơm bánh được thỏa mãn, con ngưòi ta lại bị nhử sang thèm muốn của ăn lạ thích, của ăn sang trọng, của ăn béo bổ… Nhưng chính của ăn mới lạ, sang trọng làm thỏa mãn nhu cầu thèm muốn lại tạo ra vấn đề cho đời sống.

Ngày nay ai cũng biết, ăn chất có nhiều lượng đường, có mỡ, nó ngậy béo ngon miệng đấy, nhưng lại gây ra bệnh mập béo phì, bệnh đường, bệnh có mỡ trong máu. Chứng bệnh nguy hiểm cho sức khoẻ thể xác lẫn tinh thần con người.

Rượu bia chất cồn càng ngày trở nên nước uống quen thuộc khó có thể thiếu cho nhiều người . Nhưng chính những chất rượu bia, cồn mang đến cảm giác mới lạ, đem lại ngon miệng này lại gây ra tai họa: bị nghiện ngập sinh ra bệnh tật nguy hiểm. Một tai nạn cho cá nhân người đó và cho xã hội.

Chúa Giêsu, khi bị ma qủi dụ dỗ bản năng thèm ăn uống cho thỏa mãn nhu cầu, đã nói với chúng: “Người ta sống không riêng bởi cơm bánh”. Ngài biết cơm bánh cần cho nhu cầu đời sống con người. Nhưng Ngài muốn đặt ra câu hỏi đối chất cho cám dỗ thèm muốn này: Tôi sống bằng gì? Con người còn cần điều gì hơn nữa cho đời sống?

Nên nhận ra điều gì không thể mang lại cho đời sống hạnh phúc được, là đã thắng vượt được cám dỗ rồi. Chính vì thế, bảy tuần mùa chay hằng năm là mùa tập luyện để nhận ra: cơm bánh hay điều gì mang lại sự sống mạnh khoẻ thể xác lẫn tinh thần, mang lại hạnh phúc, là cần thiết; chứ không phải điều gây ra bệnh tật, gây ra tai họa cho đời sống, dù cái đó có thể thỏa mãn nhu cầu thèm muốn của con người.

      2.2. Thèm muốn vinh quang đỉnh cao

Nỗi lo âu sợ hãi bị kém, bị lép vế, bị mất thể diện…nằm ăn rễ sâu trong đời sống con người. Vì thế, chúng ta hằng mơ ước đạt được chút vinh quang đỉnh cao hơn người khác, không muốn bị chìm ngập trong làn sóng vô danh ngoài xã hội.

Tâm trạng này biểu hiện rõ nét nơi cha mẹ nào cũng hãnh diện khoe thành tích con mình. Rồi trong đời sống xã hội công cộng, địa vị chức tước hàng đầu quan trọng, được khen ngợi, có được huy chương tưởng thưởng là điều hấp dẫn, thèm ao ước của con người.

Nhu cầu thèm được khen thưởng, công nhận, đạt lên vinh quang đỉnh cao… không phải là điều tiêu cực. Trái lại nó là điều tốt. Nó thúc đẩy đà tiến triển phấn khởi.

Nhưng cái gì cũng có gía của nó. Và chính cái gía phải trả này gây ra những hệ lụy tiệu cực không tốt cho bản thân người đó và cho cả người khác nữa.

Không thiếu  gì những trường hợp trong đời sống được ca ngợi, được công nhận, nhưng sau đó phải trả gía qúa mắc cho đời sống: Bị lệ thuộc, bị khống chế phải làm theo điều kiện.

Hay khi đã leo đến đỉnh cao quyền hành, lại chỉ biết quyền lợi riêng mình: lòng ích kỷ, tư lợi to nặng hơn việc công ích!

Ma quỉ đã đưa Chúa Giêsu vào tròng cơn cám dỗ muốn bằng hay hơn Thiên., Nhưng ngài đã đối lại: “ Trước Thiên Chúa tối cao, con người phải qùy gối bái phục chỉ một mình Người thôi. Không một ai khác!

      2.3. Thèm muốn đời sống dễ dãi

Qủy dữ đã khơi dậy lên nơi Chúa Giêsu một nhu cầu thèm muốn có đời sống dễ dãi, được nâng đỡ chiều chuộng “ Thiên Thần Thiên Chúa sẽ giơ tay ra nâng đỡ che chở Ông không bị nạn!”

Xưa nay ai cũng hằng mong muốn có được bàn tay nâng đỡ che chở, bàn tay yêu thương chiều chuộng, có được đời sống hôn nhân thành công, hài hòa thỏa mãn. Tóm lại cuộc đời không gặp khó khăn trở ngại, không phải hy sinh nỗ lực.

Nhưng không ai là con người có thể làm thỏa mãn thèm muốn đó cho người khác được. Thực tế luôn chứng minh điều này.

Cả Thiên Chúa cũng không làm thỏa mãn thèm muốn này cho ai.

Không có đời sống nào mà không có đau khổ, không có bệnh tật, không có hy sinh, không có khó khăn. Ngay từ lúc mở mắt chào đời cuộc hành trình trong đau khổ, trong hy sinh đã bắt đầu rồi và kéo dài trong suốt dọc đời sống.

Thiên Chúa, Đấng tốt lành tạo dựng nên đời sống con người. Nhưng Ngài không làm thỏa mãn như ta thèm muốn mong ước. Trái lại Ngài tin tưởng con người. Ngài không muốn con người bơi lội chìm ngập trong những thèm muốn bất chính dễ dãi. Ngài muốn con người chấp nhận thực tế, cho dù thực tế đời sống có khô cứng khó nhai nuốt.

Hình ảnh đó Chúa Giêsu đã phác họa trong chính cuộc đời Ngài: Vinh quang sáng lạn trên núi Tabor và lo âu sợ hãi trong vườn cây dầu Gietsemani.

Cám dỗ luôn có trong đời sống. Không riêng gì ngoài xã hội đưa tới. Nhưng nó nằm ăn rễ sâu trong tâm khảm con người.

Biết nhận diện, kiểm soát cùng nói “không” với nó, ta sẽ thắng cuộc và trở nên người có bản lãnh. Bằng không nó sẽ thắng chế ngự ta.

Mùa Chay 2007

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
“TÔI MUỐN TRỞ VỀ VỚI CHA TÔI”
 

Ngày xưa người ta thích gọi dụ ngôn này là dụ ngôn Người con hoang đàng. Nhưng bây giờ, nhiều người không đồng ý như thế. Họ thích gọi dụ ngôn là dụ ngôn Người Cha nhân hậu. Có lẽ cách gọi sau hay hơn cách gọi trước vì, rõ ràng, dụng ý của thánh Luca khi viết dụ ngôn này, đã cho thấy vai trò của Người Cha chủ động trong tình yêu của ông, một tình yêu lớn  không thể tưởng, không thể hiểu nổi bởi nó vượt quá sức những gì ta có thể tưởng nghĩ, có thể hiểu được: một tình yêu vĩ đại không gì sánh bằng.

Người cha đó không ai khác hơn là chính Thiên Chúa. Người là Thiên Chúa của tình yêu. Hơn thế, Người là chính tình yêu. Bởi vậy, dù loài người có thể đánh mất, hoặc đã tự mình đánh mất tư cách làm con Thiên Chúa, tự mình vong thân và vuột khỏi tình yêu Thiên Chúa, thì Thiên Chúa vẫn một mực đón nhận loài người. Thiên Chúa vẫn trung thành trong tình yêu của mình. Thiên Chúa chẳng thôi làm cha bao giờ cả. Ngược lại, vẫn mãi mãi là một người Cha cần mẫn, bao dung, tha thứ, từ bi hãi hà…

Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Dù tội lỗi chúng ta có nặng nề tới đâu, thì tình thương của Chúa vẫn cứ sâu nặng, vẫn cứ cao ngất, vẫn cứ mạnh mẽ, không có bất cứ một chướng ngại nào có thể cản trở.

Dù chúng ta có tự tách mình đi xa tình yêu Thiên Chúa tới mức độ nào, Thiên Chúa vẫn không ngừng kiên nhẫn chờ đợi để tha thứ và thông chia cho ta chính sự sống của Người, miễn là ta biết nhìn nhận tội lỗi và thành tâm sám hối quay trở về với Người.

Trở về với Chúa là nhìn nhận mình tội lỗi và quyết tâm chừa tội, quyết tâm thay đổi đời sống. Đứa con hoang đàng, sau khi đã nếm đủ mọi mùi vị đắng cay, đói khổ, cả đến nhục nhã: thấp hơn loài heo, bởi chỉ “muốn ăn đồ heo ăn mà cũng chẳng ai cho”, đã tự nhủ: "Tôi muốn trở về với cha tôi". Sau cùng, anh ta đã đứng lên, trở về thật, dù sự trở về của anh không hề vì tình yêu của cha, mà chỉ vì mình, chỉ vì bụng đói. Vậy mà người cha bất kể anh trở về với ông vì lý do gì, miễn là anh trở về, và đứng trước mặt ông là đủ để ông tha thứ tất cả, quên tất cả lỗi lầm của con ông. Lòng nhân từ của ông không thể có bất cứ điều gì sqa1nh ví được.

Chúng ta cũng vậy. Hãy trở về với Chúa để đón nhận lòng nhân từ vô biên của Người. Thiên Chúa chờ đợi chúng ta, đón tiếp chúng ta, quên tất cả, và quên một cách hết sức nhanh chóng tất cả những gì trong quá khứ chúng ta lỗi phạm. Người tha thứ cho chúng ta vô điều kiện.           Tình yêu thương, lòng tha thứ đại lượng của Thiên Chúa, đó là những điểm then chốt của bí tích hòa giải, bí tích mà Hội Thánh tha thiết kêu nài chúng ta hãy lãnh nhận trong Mùa Chay này.

Trong mùa Chay, Hội Thánh mời gọi ta trở về với Chúa và trở nên giống Thiên Chúa. Hội Thánh dạy ta hãy để cho tình yêu của Chúa ngự trị trên cuộc đời mình, và hãy tin tưởng ngã vào tình yêu của Người. Bởi đó, dụ ngôn trên được gọi là dụ ngôn Người Cha nhân hậu lại càng ý nghĩa hơn, có sức mời gọi ta mạnh hơn, tích cực hơn, giúp ta hiểu rằng, khi ta trở về với Chúa, trước hết, là do tình yêu của Chúa, nại vào tình Chúa yêu ta, chứ không phải tự bản thân ta. Bởi nếu ta có cố gắng vươn lên, thì đó cũng chỉ là nỗ lực cộng tác của ta vào tình yêu của Chúa mà thôi. Chính Chúa là Đấng đoái nhìn đến ta, chủ động yêu thương và tha thứ cho ta. Ước gì mỗi người chúng ta biết hồi tâm sám hối, biết lãnh nhận niềm vui được tha thứ, được Chúa ôm ấp trong cánh tay nhân từ của Người, bởi Người là tình yêu, là suối nguồn bình an muôn đời của loài người chúng ta. Tất cả chúng ta hãy sống và luôn luôn tâm niệm lời của người con hoang đàng: “Tôi muốn trở về với cha tôi”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tin tưởng phó thác tuyệt đối vào tình yêu của Chúa. Chúng con biết, nhiều lần, chúng con cũng giống như người con hoang đàng bỏ Chúa mà ra đi theo thế gian, theo tiếng gọi của cám dỗ. Xin tha thứ cho chúng con. Xin uốn nắn lòng chúng con, để từ đây, nhất là trong mùa Chay thánh này, chúng con làm lại những gì đã đánh mất và xứng đáng hơn với tình yêu vô bờ của Chúa. Chúa là Cha nhân từ. Chúng con muốn trở về với Cha chúng con.  Amen.

Lm. JB VŨ XUÂN HẠNH.

VỀ MỤC LỤC
Sống những nghịch lý

 

Khi ước mơ không thành, ta thường có hai nơi để đổ tội: Trời và Người. Hai nơi khác nhau, xa nhau, nhưng cần như nhau khi ta muốn tránh tội, gỡ tội, và chạy tội.

Không thành công, ta bảo tại Trời. Lận đận lao đao, ta bảo tại Đời, tại Người. Không mấy khi ta nhận mình có một phần lỗi hay tìm xa hơn đến những nghịch lý mà ta phải sống, phải chấp nhận.

Nói thế xem ra không hợp lý chút nào. Tại sao phải sống những nghịch lý? Tại sao phải chấp nhận nghịch lý? Tại sao còn ở lại đó tiếp tục sống, tiếp tục chịu đựng?

Ai đã trải qua đời sống gia đình mới thấm thía những giây phút chán chường khi ‘cơm không lành canh không ngọt’. Sau những giây phút đương đầu chán ngấy ấy là hằng đêm hằng giờ nuối tiếc thở than: Giá mình đừng đâm đầu vào! Nếu biết trước ta đâu dại lập gia đình! Tại mình bị ép buôc… Trăm thứ giá, ngàn lần nếu, hằng vạn kiểu ‘tại’, ‘bị’. Nhưng rồi khổ vẫn khổ, chán vẫn chán. Nỗi niềm vẫn mình ta với ta. Không kể những bước chân siêu vẹo đi tìm lối cũ những đêm sương khi giật mình thấy ước mơ, lý tưởng một thời ngày xưa ôm ấp tan như bọt xà phòng trong những bực dọc, gò trói, ngột ngạt của đời vợ chồng vào những ngày ‘trái gió trở trời’. Rồi những thăng trầm lận đận, bất đắc ý như những giọt đắng ngấm dần sâu trong cổ họng làm rát rúa thêm nỗi buồn da diết.

Sở dĩ đến một lúc nào đó, ta thấy ngao ngán đời vợ chồng, không phải vì những đời khác vui hơn, sướng hơn, thoải mái hơn, nhưng vì ta quên nhận diện những nghịch lý có thể có trong mỗi cuộc đời.

Nghịch lý trong cuộc đời là chuyện hầu như ‘tất nhiên’ của kiếp người. Nó nhan nhản đó đây làm đỏ mắt người, làm oan hồn người, làm tơi tả đời người. Địa bàn hoạt động của nó là thế giói người, thế giới con người phải chung sống, ở cùng. Có những nghịch lý tưởng như không còn gì phi lý hơn và không ngôn từ nào lý luận được.

Tôi chọn gia đình Đức Kitô để ghi nhận một vài nghịch lý.

Gia đình này gồm một người chồng nhưng không hưởng quyền làm chồng. Giuse đã sống như một người chồng bình thường. Bằng chững là Ngài đã hốt hoảng, nghi nan khi thấy vợ mình có thai mặc dù hai người chưa một lần ‘gần gũi’. Giuse đã sống thực cái nghịch lý khi toan tính bỏ Maria và kín đáo ra đi trong đêm(Mt 1, 18-25). Ngài cũng sống cái nghich lý của người cha có bổn phận nuôi nấng, bảo vệ một đứa con không do mình sinh ra. Giuse đã sống sâu thẳm mầu nhiệm nghịch lý này khi đức Kitô trả lời Ngài sau biến cố đi lạc tại Giêrusalem “Thầy mẹ tìm con làm gì? Thầy mẹ không biết con phải làm công việc của cha con sao?”

Gia đình này có một người vợ ‘đồng trinh’. Nghịch lý không thể hiểu được khi làm vợ mà vẫn đồng trinh, ở với chồng nhưng vẫn giữ ‘độc thân trinh khiết’, chung sống với chồng nhưng thụ thai bởi quyền phép Thánh Linh( Luc 1, 26-38). Ai hiểu nổi khổ đau của Đức Mẹ khi trả lời ‘Xin Vâng’. Trả lời Vâng trước những nghịch lý mà chính mình không hiểu đã đòi một đức tin anh hùng và lòng phó thác tuyệt đối. Không anh hùng đã không thể dám tin, không tuyệt đối phó thác đã không dám liều mạng chấp thuận lời mời dấn thân này. Ở đây Đức Mẹ đã sống một đêm đen dầy đặc và dằng dặc, ở đó không có một vì sao thương tình dõi mắt. Chỉ trái tim đang run rẩy với Đức Tin mới dám cho mẹ mơ một bình minh ở cuối trời. Và cuộc đời Đức Mẹ từ đó cứ trôi nổi với biết bao nghịch lý trên hành trình cứu chuộc bên cạnh Chúa Giêsu, con Mẹ.

Gia đình ấy còn có một người con, một con Trời trong một gia đình người, một Thiên Tử dưới một mái tranh nghèo dột nát, một Vua các vua với gia cảnh nghèo nàn, không tên tuổi. Khi chăm sóc nuôi nấng Đức Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse đã sống tận cùng những nghịch lý cứu độ này và chỉ biết ‘giữ kín những sự ấy trong lòng’.

Gia đình chúng ta tuy chưa được là ‘thánh gia’, nhưng cũng đã chung những nghịch lý của gia đình thánh này. Tuy không gọi rõ tên, nhưng những nghịch lý không ngớt qua lại trong gia đình ta. Những ước mơ thoi thóp, giẫy chết trong thực tại bẽ bàng, những cố gắng co thắt quặn đau trứoc trái tim chai đá, bên lương tâm ù lì, những kỷ niệm ôm nhau té đổ giữa hiện tại ngạo mạn, tất cả như nuốn òa vỡ vội vàng, không thương tiếc. Nghịch lý cuộc đời và nghịch lý của những cuộc tình…

Là những nghịch lý, nó không chiều theo ý ta, không uốn mình theo ta, nó chỉ chờ ta tìm ra ý nghĩa ‘mầu nhiệm’ của nó. Chính nhờ mầu nhiệm mà nghịch lý trở thành hữu lý, có ý nghĩa và mang một giá trị. Cái khó của ta là làm sao dám đi vào mầu nhiệm của những nghịch lý này.

Nếu những người trong gia đình Chúa Giêsu đã cứng cỏi đương đầu hay tìm cách trốn chạy những nghịch lý mà không tìm kiếm ý nghĩa của nó trong bầu khí mầu nhiệm thì thử hỏi làm thế nào để mầu nhiệm nhập thể, nhập thế của con Thiên Chúa được thực hiện? Nếu Đức Mẹ đã không dám chấp nhận sống nghịch lý làm một người ‘mẹ đồng trinh’, nếu thánh Giuse từ chối nhgịch lý làm chông một trinh nữ, làm cha một người không do mình sinh ra, nếu Chúa Giêsu không vui lòng làm con của con người thì Thiên Chúa sẽ làm người cách nào? Ở đâu? Trong lòng ai?

Thái đọ của các Ngài là ‘giữ những nghịch lý ấy và suy niệm trong lòng’. Đó là thái độ tích cực nhất phải có trước mọi nghich lý, nghịch cảnh, nghịch lòng. Đó cũng là thái độ của chính Đức Kitô trứơc khổ đau của bệnh tật và sự chết, là những nghịch lý của kiếp người.

Theo gương gia đình thánh, gia đình chúng ta không thể có một thái độ nào khác tốt hơn. Nếu ơn cứu độ đã đến với nhân loại qua một gia đình đầy nghịch lý này, thì hồng phúc cũng sẽ theo con đường quanh co, khúc khuỷu của nghịch cảnh, nghịch lòng để đến với nhiều gia đình khác. Và như thế trong mọi thứ NGHỊCH, ta hãy có một thái độ THUẬN để mọi mầu nhiệm có cơ may thực hiện.

(Trich trong Thao Thức và Chia Sẻ tập IV của Trần Năng Thể, trang 135-139)

VỀ MỤC LỤC

BỐC LỬA

 

(Xh 3:1-8a.13-15; 1 Cr 10:1l-6.10-12)

 

Nỗi buồn sa mạc mênh mông,

như dân quằn quại trong vòng lầm than,

ngựa trâu một kiếp cơ hàn,

bao giờ thoát ách bạo tàn, nô vong ?!

 

Ðêm sa mạc bỗng sáng trưng,

Bụi gai bốc lửa bập bùng lạ chưa ?!

Môsê như tỉnh như mơ,

giật mình khi chạm bến bờ thánh thiêng. 

Chúa sai đi cứu dân riêng,

xa vùng nô lệ tới miền tự do.

hoàn thành Giao Ước thuở xưa,

toàn dân vui sướng Vượt Qua đêm dài 

 

Môsê nghe giữa bụi gai,

một lời mạc khải, bài sai lên đường,

chính nhờ Thiên Chúa tình thương,

qua hơn bốn chục năm trường bình an

ngổn ngang ngàn nỗi quan san,

tới miền Ðất Hứa dư tràn phúc ân,

 

Bước chân sa mạc trắng ngần,

vẫn còn in dấu mười phân vẹn mười

tình yêu Thiên Chúa tuyệt vời,

vẫn luôn Hiện Hữu cho người nương thân,

ban đêm cột lửa chói chang,

ban ngày lờ lững mây ngàn thân thương

trong cơn đói khát điên cuồng,

Người làm Tảng Ðá suối nguồn thơm tho.

 

Ðó là chính Ðức Kitô,

mở đường khai lối dẫn vô Nước Trời.

Giữa muôn tăm tối trùng khơi,

Người là ngọn lửa soi đời TỰ DO.

 

vân thanh

VỀ MỤC LỤC

TỰ HÀO NGỦ VỚI RẮN

 

Bà ấy tên Pamela

Sống bằng nghề nuôi rắn

Bà thường khoe cái ta :

“Tự hào ngủ với rắn !”

  

Bà thường làm như vậy

Cứ tưởng là không sao

Nhưng buổi tối hôm ấy

Bà đã chết rất mau!

 

Những con rắn mà bà

Thường nâng niu gần gũi

 Bà tưởng nó vô hại

Nhưng chúng đã giết bà !

 

Tội lỗi như rắn độc

Dù là rắn nhà nuôi

Rắn độc là rắn độc

Chúng sẽ hại ta thôi !

 

NGUỒN SÁNG DUY NHẤT

Thắp đèn nơi phần mộ

Chiếu sáng hàng ngàn năm

Tục lệ xưa cũ ấy

Ngày nay hiện vẫn còn

 

Nơi mộ Tullia

Con gái Ciceron

Có ngọn đèn thắp sáng

Một ngàn năm trăm năm

 

Mới đây Caruso

Một ca sĩ giọng kim