|
Tác giả: DEAL
HUDSON
GLV Phaolô
Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Tự do ngôn luận là một điều cao quý.
Tiếc rằng chúng ta phải trả một giá rất đắt cho nó: Khi dân
chúng được quyền tự do muốn nói gì thì nói, họ đôi khi dùng sự
tự do đó để nói những điều ngớ ngẩn. Và đó là 12 điều mà chúng
tôi sẽ bàn ở đây.
Có một ít điều được nhắc đi nhắc lại, có
những điều khác thì họa hiếm mới được nhắc đến, trong khi những
người đề xướng những sai lầm này tự do quảng bá chúng, chúng ta
là người Công Giáo có nhiệm vụ phải trả lời.
1.
"Không có gì là chân lý tuyệt đối cả. Ðiều đúng cho bạn chưa
chắc đã đúng cho tôi."
2. Kitô giáo không hơn gì các tín ngưỡng
khác. Tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến Thiên Chúa."
3. "Cựu Ước và Tân Ước trái ngược nhau ở
nhiều chỗ. Nếu một Thiên Chúa toàn năng linh hứng Thánh Kinh,
thì Ngài đã không để cho có sai lỗi."
4. "Tôi không cần đến Nhà Thờ. Bao lâu tôi
là một người tốt, chỉ có điều đó mới đáng kể."
5. "Bạn không cần phải xưng tội với một
linh mục. Bạn có thể đến thẳng cùng Thiên Chúa."
6. "Nếu Hội Thánh thật sự theo Chúa Giêsu,
thì đã bán các nghệ thuật, tài sản, và các công trình kiến trúc
lãng phí, mà cho người nghèo."
7. "Chống đối thực sự là điều tích cực, vì
tất cả chúng ta phải có đầu óc cởi mở đối với những tư tưởng
mới."
8. Nếu giải thích đúng, Thánh Kinh không
lên án đồng tính luyến ái. Nhưng đúng hơn là chống lối sống bừa
bãi - dù là đồng tính hay giữa nam nữ. Vì vậy, chúng ta không có
lý do để chống liên hệ tình yêu đồng tính."
9. "Người Công Giáo nên theo lương tâm
trong mọi sự... dù là phá thai, ngừa thai, hay phong chức thánh
cho phụ nữ."
10. Phương Pháp Tự Nhiên chỉ là một cách
ngừa thai của Công Giáo."
11. "Người ta có thể vừa ủng hộ phá thai
(tự do chọn lựa) vừa đồng thời là Công Giáo."
12. "Việc người ta nhớ lại cuộc sống ở kiếp
trước chứng tỏ rằng luân hồi là đúng... và quan điểm của Kitô
Giáo về Thiên Ðàng, Hỏa Ngục là sai."
Người ta dùng lý
luận này rất nhiều khi họ không đồng ý với một câu nói và không
có cách nào khác để chống đỡ tư tưởng của mình. Vậy, nếu không
có gì là đúng cho tất cả mọi người, thì họ muốn tin gì thì tin,
và không thể nói gì để làm họ đổi ý cả.
Nhưng hãy nhìn
lại câu nói "Không có gì là chân lý tuyệt đối cả" một lần nữa.
Có phải chính câu này đã khẳng định nó là điều tuyệt đối không?
Nói cách khác, nó áp dụng ít qui luật hay tiêu chuẩn cho mọi
người -- chính là điều mà những người theo tương đối nói là
không thể được. Họ đã hóa giải lập luận của họ bằng cách đưa ra
lập luận của họ.
Một vấn đề khác
với câu này là không có một người theo thuyết tương đối nào lại
thật sự tin điều đó. Nếu có ai nói với bạn, "Không có chân lý
tuyệt đối nào cả," và bạn thụi vào bụng người đó, người đó có lẽ
sẽ nổi nóng. Nhưng theo niềm tin của anh ta, anh ta phải nhận
rằng đấm vào bụng ai có thể sai đối với anh, nhưng có thể đúng
đối với bạn.
Khi đó họ sẽ trở
lại với một bổ túc cho câu nói nguyên thủy là: "Bao lâu bạn
không làm đau người khác, bạn tự do muốn làm gì và tin gì tùy
ý." Nhưng đây chỉ là một sự phân biệt tùy ý (cũng như là câu
nói tuyệt đối khác). Ai nói là tôi không được làm đau người
khác? Cái gì là đau? Luật này từ đâu mà đến?
Nếu câu này được
đưa ra dựa theo quyền của cá nhân, thì không có nghĩa gì đối với
người khác. "Ðừng làm hại" chính nó là một thỉnh cầu đối với một
cái gì cao trọng hơn - một loại phẩm giá chung của con người.
Nhưng câu hỏi lại là phẩm giá từ đâu đến.
Như bạn có thể
thấy, càng đi sâu vào những câu hỏi này, thì bạn càng hiểu biết
rằng quan niệm về lẽ phải và chân lý không phải tùy ý, nhưng dựa
vào một vài chân lý cao quý và phổ quát ngoại tại -- một chân lý
được viết trong chính bản tính của chúng ta. Chúng ta có thể
không biết nó trọn vẹn , nhưng không thể chối rằng không có chân
lý đó.
Nếu bạn không
nghe đến câu này vài chục lần, bạn không rút ra được bao nhiêu.
Ðáng buồn là những người nói lên điều này thương lại là Kitô hữu
(ít ra trên danh nghĩa).
Những trở ngại
với quan điểm này thật không phức tạp gì cả. Kitô giáo đưa ra
một chuỗi những lời xác nhận về Thiên Chúa và con người: Rằng
chính Chúa Giêsu Nadareth là Thiên Chúa, và Người đã chết và
sống lại -- tất cả để chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi. Mọi
tôn giáo khác trên thế giới phủ nhận tất cả những điều này. Cho
nên, nếu Kitô giáo là đúng, thì đạo này nói cho thế gian biết
một chân lý sống còn -- một chân lý mà tất cả các tôn giáo khác
phủ nhận.
Chỉ điều này thôi
đã làm cho Kitô giáo thành duy nhất.
Nhưng nó không
ngừng ở đó. Hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng Thánh
Gioan.
"Thầy là
đường, sự thật, và sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha, mà
không qua Thầy." Trong Kitô
giáo, chúng ta có trọn sự mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại.
Ðúng là tất cả các tôn giáo chứa đựng một phần chân lý -- số
lượng thay đổi tùy theo tôn giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta khao
khát mong muốn theo và thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta có nên
làm theo cách Ngài chỉ dạy không?
Nếu Chúa Giêsu
quả thực là Thiên Chúa, thì chỉ Kitô giáo chứa đựng hoàn toàn
chân lý này.
Ðây là một luận
điệu thông thường, người ta có thể thấy khắp nơi trên Internet
(nhất là những websites vô thần và tự do tư tưởng). Một bài trên
website của Vô Thần ghi rằng "Ðiều lạ thường về Thánh Kinh không
phải vì tác giả là Thiên Chúa; chính là những mâu thuẫn được bịa
đặt vô nghĩa mà người ta có thể tin là được Thiên Chúa thượng
trí viết ra."
Những câu như thế
thường được kèm theo một danh sách những câu "mâu thuẫn" trong
Thánh Kinh. Tuy nhiên, những điều cho là mâu thuẫn có ít sai
lầm đơn giản. Thí dụ, người phê bình không đọc những sách khác
nhau trong Thánh Kinh theo thể văn mà các sách đó được viết. Xét
cho cùng, Thánh Kinh là một sưu tập nhiều loại văn tự... lịch
sử, thần học, thơ phú, và khải huyền,vv.... Nếu chúng ta đọc các
sách này cùng một cách cứng ngắc như chúng ta đọc báo ngày nay,
thì chúng ta sẽ bị bối rối kinh khủng.
Và danh sách "các
mâu thuẫn" trong Thánh Kinh minh xác điều này. Thí dụ lấy điều
đầu tiên trong danh sách Vô Thần của Mỹ:
"Hãy nhớ ngày
Sabát, và giữ nó cách thánh thiện." Xuất Hành 20:8
So với
"Người
thì cho rằng ngày này trọng hơn ngày khác; người khác lại cho
rằng ngày nào cũng như nhau. Vậy mỗi người phải xác tín trong
thâm tâm mình." Rom 14:5
Người vô thần la lên: Ðó! rõ ràng là một
mâu thuẫn. Nhưng phê bình gia quên không nhắc đến điều mà mọi
Kitô hữu đều biết: Khi Ðức Kitô thiết lập Giao Ước Mới, thì
những đòi hỏi về nghi lễ của Giao Ước Cũ được làm trọn (và qua
đi). Vì thế việc những luật lệ trong Cựu Ước về nghi lễ không
còn được ứng dụng cho dân của Tân Ước là điều hoàn toàn hợp lý.
Nếu nhà phê bình hiểu giáo lý đơn giản này
của Kitô giáo, thì anh đã không mắc phải một lỗi sơ đẳng như
thế.
Ðiều kế tiếp trong danh sách của Vô Thần Mỹ
cũng có khuyết điểm tương tự:
"...trái đất mãi mãi trường tồn."
Giảng Viên 1:4
So với:
"...các nguyên
tố vật chất sẽ cháy tiêu tan, trái đất và các công trình trên đó
sẽ bị thiêu huỷ." 2 Phr 3:10
Vậy Cựu Ước cho
rằng trái đất sẽ tồn tại đến muôn đời, trong khi Tân Ước nói
rằng nó rồi sẽ bị hủy diệt. Chúng ta dung hòa hai câu này thế
nào? Thực ra rất dễ, lại theo sự hiểu biết về thể văn mà theo
hai sách này được viết ra.
Thí dụ Sách Giảng
Viên so sánh cái nhìn thế tục và tôn giáo - và hẩu hết sách này
viết theo quan niệm thế tục. Ðó là lý do tại sao chúng ta thấy
những dòng như, "Bánh được làm cho vui, và rượu làm cho cuộc đời
thêm tươi, và tiền bạc giải quyết được tất cả" (GV 10:19).
Tuy nhiên, ở cuối
sách, tác giả đưa ra một khúc quanh, không cần tất cả "sự khôn
ngoan" ông tặng và bảo chúng ta "Kính sợ Thiên Chúa, và tuân giữ
giới răn Ngài; vì đó là tất cả nhiệm vụ của con người." (12:13).
Nếu một độc giả
ngưng đọc trước khi đến cuối, thì người ấy sẽ bối rối như phê
bình gia Vô Thần Mỹ. Tuy nhiên, vì quan điểm đó nảy ra khái niệm
về một thế giới trường tồn bị gạt bỏ ở hàng cuối cùng của sách,
hiển nhiên là không có mâu thuẫn với điều được mạc khải sau đó ở
trong Tân Ước. (Và đây chỉ là một cách để trả lời tố cáo về sự
khác biệt này)
Những "mâu thuẫn"
khác giữ Cựu và Tân Ước có thể được trả lời cách tương tự. Hầu
như với điểm nào, nhà phê bình cũng bị lầm lẫn về mạch văn,
không để ý đến thể văn, và không để dành chỗ nào cho việc cắt
nghĩa cách hợp lý.
Không một Kitô
hữu biết suy nghĩ nào phải bối rối về những danh sách này.
Luận điệu này
dược dùng thường xuyên, và rất gian xảo. Khi một người nhận mình
là "người tốt," người đó thật sự ám chỉ rằng họ "không phải là
một người xấu." -- người xấu là người sát nhân, hiếp dâm, và
trộm cắp. Phần đông người ta không cần cố gắng mấy để tránh các
tội này, và đó là tư tưởng: Chùng ta muốn làm một số việc tối
thiểu để được thông qua. Ðiều đó không giống Ðức Kitô lắm, phải
không?
Nhưng bỏ qua
trạng thái tâm lý đó, có một lý do quan trọng để người Công Giáo
đền Nhà Thờ hơn là chỉ để thực hành việc đi thêm một dặm nữa.
Thánh Lễ là viên đá góc của đời sống đức tin của chúng ta vì một
điều nằm ở trọng tâm của nó: Bí Tích Thánh Thể. Ðó là nguồn mạch
của tất cả đời sống cho người Công Giáo, là những người tin rằng
bánh và rượu trở nên Mình và Máu thật của Ðức Kitô. Chứ không
phải chỉ là biểu tượng của Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa hiện
diện cách thể lý với chúng ta bằng một phương thế mà chúng ta
chỉ có thể cảm nghiệm được bằng cầu nguyện.
Chúa Giêsu phán,
"Thật, Thật, Ta bảo các người, trừ khi các người ăn thịt Con
Người và uống máu Người, các người không có sự sống trong các
người; ai ăn thịt và uống máu Ta có sự sống đời đời, và Ta sẽ
cho người ấy sống lại trong ngày sau hết" (Ga 6:53-54).
Chúng ta tôn trọng lệnh của Chuá Giêsu và tin tường vào lời hứa
của Người mỗi lần chúng ta đi dự Thánh Lễ.
Hơn nữa, bí tích Thánh Thể, cùng với tất cả
các bí tích khác, chỉ dành cho những người ờ trong Hội Thánh. Là
phần tử của Hội Thánh, nhiệm thể hữu hình của Ðức Kitô trên thế
gian, đời sống chúng ta liên hệ mật thiết với đời sống của người
khác trong Hội Thánh. Liên hệ cá nhân của chúng ta đối với Thiên
Chúa thật quan trọng, nhưng chúng ta cũng có nhiệm vụ sống như
những phần tử trung thành của nhiệm thể Ðức Kitô. Là "người tốt"
mà thôi chưa đủ.
Như một cựu mục
sư Baptist, tôi có thể hiểu việc chống xưng tội của người Tin
Lành (họ hiểu về chức linh mục một cách khác). Nhưng một người
Công Giáo mà nói một điều như thế... thì thật là thất vọng. Tôi
nghi rằng bản tính loài người là thế, người ta thường không
thích nói cho người khác biết tội mình, nên đưa ra lý do để biện
minh tại sao không làm thế.
Bí Tích Giải Tội
đã có với chúng ta từ đầu, từ chính Lời của Ðức Kitô:
"Chúa Giêsu lại bảo các ông, 'Bình an
cho các con! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các
con.' Nói rồi, Người thổi hơi vào các ông và bảo các ông, 'Các
con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nếu các con tha tội cho ai,
thì người ấy được tha; nếu các con cầm buộc ai, thì người ấy bị
cầm buộc.'” (Ga 20:21-23)
Nên ghi nhận rằng Chúa Giêsu ban cho các
tông đồ quyền tha tội. Tất nhiên, họ không biết phải tha tội nào
nếu họ không được nói cho biết là tội nào chúng ta phạm.
Việc xưng tội cũng được chứng minh trong
thư thánh Giacôbê:
Có ai trong anh em đau ốm? Hãy mời các
kỳ mục của Hội Thánh, và hãy để họ cầu nguyện trên người ấy, xức
dầu cho người ấy nhân danh Chúa; Và lời cầu nguyện do đức tin sẽ
cứu người bệnh; và Chúa sẽ nâng người ấy dậy, và nếu người ấy đã
phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy xưng tội với nhau
và cầu nguyện cho nhau để được chữa lành. Vì lời cầu xin tha
thiết của người công chính có hiệu lực rất lớn lao. (Gia
5:14-16)
Ðiều đáng quan tâm là không có chỗ nào
Thánh Giacôbê (hay Chúa Giêsu) bảo chúng ta là chỉ xưng tội với
Thiên Chúa, nhưng các Ngài có vẻ nghĩ là ơn tha tội đến bằng
cách xưng tội công khai.
Và lý do thật dễ hiểu. Khi chúng ta phạm
tội, chúng ta làm tổn thương không những mối liên hệ của chúng
ta với Thiên Chúa, mà còn với Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh (vì
tất cả mọi người Công Giáo nối kết với nhau như con cùng một
Cha). Cho nên khi chúng ta xin lỗi, chúng ta phải xin lỗi tất cả
mọi nhóm liên hệ - Thiên Chúa và Hội Thánh.
Hãy nghĩ về xưng tội cach này. Thử tưởng
tượng rằng bạn vào một tiệm và ăn cắp vài món hàng. Sau đó, bạn
áy náy và hối hận về hành động tội lỗi này. Giờ đây, bạn có thể
cầu xin Thiên Chúa tha cho bạn vì đã phạm giới răn của Ngài.
Nhưng còn một phần tử khác liên hệ; bạn phải trả lại món hàng và
đền bù cho hành động của bạn.
Ðối với Hội Thánh cũng thế. Trong toà giải
tội, linh mục đại diện cho Thiên Chúa và Hội Thánh, vì chúng ta
có tội với cả hai. Và khi ngài công bố lời tha tội, thì sự tha
thứ chúng ta lãnh nhận được trọn vẹn.
Khi một người
nghĩ đến Thành Vatican, họ liên tưởng ngay đến một vương quốc
giàu sang, với nơi ở như cung điện cho Ðức Giáo Hoàng và các hòm
đầy vàng cất ở các xó nhà, chưa kể đến các sưu tầm nghệ thuật và
đồ cổ vô giá. Nhìn đến Vatican cách này thì dễ thấy tại sao một
số người trở thành bực tức vì những điều họ nghĩ là sự khoe
khoang tài sản cách phô trương và phí phạm.
Nhưng sự thật thì hoàn toàn khác. Các dinh
thự chính gọi là "Ðiện Vatican" không phải được xây làm chỗ ở xa
hoa của Ðức Giáo Hoàng. Thực ra, khu vực gia cư tương đối nhỏ.
Phần lớn điện Vatican được dùng vào việc nghệ thuật, khoa học,
điều hành công việc Hội Thánh, và điều hành chung của điện. Có
một số đông nhân viên của Hội Thánh và hành chánh sống trong
điện Vatican cùng ÐTC, làm cho nó thành trụ sở chính của Hội
Thánh.
Còn về những sưu tầm nghệ thuật, thực sự là
sưu tập quý nhất trên thế giới, Vatican coi đó như một "kho tàng
không thể thay thế được," nhưng không phải về diện tài chánh.
ÐTC không làm chủ những tác phẩm nghệ thuật này, và nếu ngài
muốn, ngài cũng không được phép bán chúng; chúng chỉ được đặt
dưới sự săn sóc của Toà Thánh. Các tác phẩm này không đem nguồn
lợi đến cho Hội Thánh, mà ngược lại, Tòa Thánh phải đầu tư một
số tài nguyên không nhỏ để bảo tổn các sưu tầm này.
Sự thật của vấn đề này là Tòa Thánh có một
ngân sách khá eo hẹp Nếu thế thì tại sao lại giữ những nghệ phẩm
này? Vì tin vào một trong các sứ mệnh của Hội Thánh là một động
lực truyền bá văn minh trong thế giới. Cũng như các thầy dòng
thời trung cổ cẩn thận chép lại các sách cổ để cung cấp cho các
thế hệ tương lai -- nếu không thì những văn bản này không còn
nữa -- Hội Thánh tiếp tục bảo trì nghệ thuật để chúng không bị
mai một với thời gian. Trong nền văn hóa sự chết ngày nay khi mà
từ "văn minh" chỉ được dùng cách lỏng lẻo, sứ vụ truyền bá văn
minh của Hội Thánh ngày nay còn quan trọng hơn bao giờ hết.
còn tiếp
|