Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 68, Chúa nhật 01.04.2007


Các số báo đã phát hành             MỤC LỤC

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI                      của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II

GIỮA HAI LẰN ÐẠN                                                                              Lm. Đỗ Vân Lực, op.

CHÚA NHẬT LỄ LÁ                                                                           Hương Vĩnh chuyển ngữ

12 Ðiều Mà Mọi Người Công Giáo Phải Trả Lời Ðược        GLV.PhạmXuân Khôi chuyển ngữ

KHI NÀO NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐƯỢC LÃNH MỘT SỐ BÍ TÍCH TRONG GIÁO HỘI KHÁC..?  Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn

LỜI THƯA “XIN VÂNG” THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI                                       Trầm Tĩnh Nguyện

MẸ SẦU BI                                                                                  Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

BÍ QUYẾT SỐNG YÊN TÂM                                                                 Dịch giả Tôn Thất Bàng

Lắng nghe Chúa Thánh Thần…                                                          Gs. Nguyễn Văn Thành

Tha thứ cho chính mình                            Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss chyển ngữ   

Trao tặng cho nhau niềm vui                                                  + Hy. Fx. Nguyễn Văn Thuận

SỐ CÔ…                                                                                       Chuyện phiếm của Gã Siêu


SỐNG PHÚC ÂM BẰNG CÁCH PHỤC VỤ CON NGUỜl VÀ XÃ HỘl

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương III

THẦY ĐÃ SAI CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ

Tinh thần đồng trách nhiệm của Tín hữu giáo dân trong Giáo hội Truyền giáo

SỐNG PHÚC ÂM BẰNG CÁCH PHỤC VỤ CON NGUỜl VÀ XÃ HỘl

36. Giáo Hội vừa nhận lãnh vừa loan truyền Phúc âm trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; như thế Giáo Hội trở nên một cộng đồng được phúc-âm-hóa, đồng thời phúc-âm-hóa kẻ khác, và trở nên đầy tớ của mọi người. Trong Giáo Hội các tín hữu giáo dân tham gia vào sứ mệnh phục vụ con người và xã hội. Cùng đích cao cả của Giáo Hội là Nước Thiên Chúa; Giáo Hội là "hạt giống và là khởi điểm của Nước Thiên Chúa trên mặt đất",(130) vì thế Giáo Hội hoàn toàn tận hiến để làm vinh danh Chúa Cha. Nhưng Nước Chúa là nguồn mạch giải phóng toàn diện và cứu độ của mọi người. Giáo Hội tiến bước với con người và sống với lịch sử con người trong một tình liên đới toàn diện và thân mật.

Giáo Hội đã nhận lãnh trọng trách biểu lộ cho thế giới Mầu Nhiệm Thiên Chúa sáng chói trong Đức Giêsu Kitô, thì đồng thời Giáo Hội cũng mặc khải con người cho con người, dạy họ biết ý nghĩa cuộc sống, và bày tỏ cho con người biết chân lý toàn diện và về vận mạng của Giáo Hội.(131) Theo viễn tượng này, vì có sứ mạng rao giảng Phúc âm, nên Giáo Hội được gọi để phục vụ con người. Việc phục vụ này bắt nguồn từ sự kiện lạ lùng và chấn động là "Con Thiên Chúa đã nhập thể và kết hợp với mọi người ". (132) Vì thế con người "là con đường thứ nhất Giáo Hội phải theo để hoàn thành sứ mệnh của mình: Là con đường căn bản thứ nhất của Giáo Hội, đã được Chúa Kitô vạch ra, con đường xuyên qua Mầu Nhiệm Nhập Thể Yà cứu chuộc." (133)

Theo ý nghĩa này, mà Công Đồng Vaticanô II đã đề cập đên nhiều lần trong nhiều văn kiện một cách rõ ràng và mạnh mẽ. Chúng ta hãy đọc lại bản văn đặc biệt ý nghĩa của Hiên Chế Vui Mừng và Hy Vọng: "Trong khi theo đuổi mục đích cứu rỗi cá biệt của mình, Giáo Hội không phải chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người, nhưng còn chiêú giãi ánh sáng đời sống ấy trên toàn thế giới. Giáo Hội làm công việc này trước hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá nhân vị, củng cố tình đoàn kết xã hội nhân loạì, và thấm nhuần cho hoạt động thường nhật của con người một chiều hướng và một ý nghĩa sâu xa hơn. Như thế nhờ từng phần tử và tất cả cộng đoàn, Giáo Hội tin tưởng có thể đóng góp nhiều vào việc biên đổi gia đình nhân loại và lịch sử của nó để trở thành nhân đạo hơn". (134)

Trong việc đóng góp này cho gia đình nhân loại mà Giáo Hộì phải chịu trách nhiệm, các tín hữu giáo dân chiếm một chỗ đứng đặc biệt, lý do là "đặc tính trần thê" của họ bắt buộc họ dấn thân "đem đạo vào đời" theo cách thế cá biệt của họ mà không ai thay thế được.

Thăng tiến phẩm giá con người

37. Khám phá và giúp khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của mọi con người, đó là bổn phận chính yếu, là trung tâm căn bản có mãnh lực hiệp nhất mà Giáo Hội và con cái của Giáo Hội được kêu gọi để chu toàn đôí với gia đình nhân loại

Trong các thụ tạo trên mặt đất, chỉ có con người là "một nhân vị, một chủ thể hiểu biết và tự do", và vì thế nó là "trung tâm điểm và là cao điểm" của tất cả tạo vật khác sống trên mặt đất. (135)

Phẩm giá nhân vị là tài sản quý hóa nhất của con người, nhờ đó mà nó trổi vượt trên cả thế giới vật chất này. Lời của Chúa Giêsu phán: "Được lợi lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn nào có ích chi?" (Mk. 8:36), hàm chứa một lời qủa quyết rõ ràng và đầy khích lệ. Giá trị con người không chủ tại nơi tài sản nó có, cho dù nó chiếm hữu trọn cả thế giới này, nhưng chủ tại nơi "bản chất" của nó. Của cải thế gian không đáng giá bằng của cải nhân vị vì nhân vị chính là của đáng quý.

Nếu chúng ta nhìn phẩm giá con người từ nguồn gốc và vận mạng của nó, chúng ta sẽ thấy nó rực rỡ sáng chói: Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và được Máu châu báu của Chúa Kitô Cứu Chuộc nên nó được kêu gọi trở thành "Những người con trong Đức Chúa Con " và trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được hưởng sự sống dời đời thông hiệp hạnh phúc với Thiên Chúa. Vì lý do này nên mọi xúc phạm đến nhân phẩm con người đều bị báo oán trước mặt Thiên Chúa và là sự xúc phạm đên Đấng Tạo Hoá đã dựng nên con người.

Nhờ có nhân phẩm, con người luôn luôn tự nó là một giá trị cho chính nó, và nó phải được nhìn nhận và đôí xử với giá trị ấy, ngược lại, nó không thể bị nhìn nhận và đôí xử như một vật để xử dụng, một phương tíện, hay một đồ vật

Chính nhân phẩm con người là nền tảng của sư bình đẳng với nhau. Bởi đó tuyệt đôí phải loại bỏ tất cả mọi hình thức kv thị. Tiếc thay, nạn kỳ thị đã và vẫn tiếp tục chia rẽ và làm ô nhục gia đình nhân loại, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị kinh tế, kỳ thị xã hội, kỳ thị văn hoá, kỳ thị chính trị, kỳ thị địa dư... Mỗi hình thức kỳ thị là một sự bất công không thể chấp nhận, không phải vì nó tạo nên những căng thẳng, những tranh chấp xã hội, nhưng vì nó làm nhục cho phẩm giá con người: không chỉ phẩm giá của nạn nhân bị nhục, mà phẩm giá của thủ phạm lạí càng bị hổ nhục hơn.

Phám giá con người không chỉ là nền tảng của sự bình đẳng giữa mọi người , nó còn là nền móng của việc tham gia và liên đới giữa con người với nhau: Đôí thoại và thông cảm được bắt nguồn từ bản tính con ngừơi, chứ không phải do cái con người "có".

Nhân phẩm là một tư sản không thể hủy diệt của mọi người. Lời qủa quyết này có một sức mạnh phi thường, nó dựa trên đặc tính thuần nhất không thay thế được của mọi nhân vị. Vì đó, mà con người đã chống lại một cách bất khuất tất cả mọi toan tính đè bẹp, tiêu diệt họ bằng cách đặt họ vào tình trạng vô danh của tập thể, của thể chê, của cơ cấu hay hệ thông. Nhân vị trong cá tính của nó không phải là một con số, nó cũng không phải là một vòng tròn trong một dây xích, hay một bánh xe trong một hệ thống. Lời qủa quyết căn bản và đầy ý nghĩa về giá trị của con người đã thể hiện bởi con Thiên Chúa khi Ngài nhập thể trong cung lòng của một trinh nữ. Lễ Giáng Sinh luôn luôn nhắc nhở chúng ta về lời qủa quyết này. (136)

Tôn trọng quyền sống bất khả xâm phạm

38. Sự nhìn nhận nhân phẩm con ngườl đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng, bênh vực và thăng tiến các quyền lợi của con người . Đáy là quyền tự nhiên, phổ quát và bất khả xâm phạm. Không một ai, cho dù là cá nhân, đoàn thể, ngay cả quyền bính quốc gia, không một ai có thể sửa đổi và càng không thể loại bỏ các quyền lợi ấy, vì nó từ Thiên Chúa mà đến.

Bản chất bất khả xâm phạm của nhân vị này là phản ảnh của bản chất không thể xúc phạm tuyệt đôi của Thiên Chúa; và vì thế không ai có thể phạm đến mạng sống con người. Nói đến nhân quyền, thí dụ quyền được sức khỏe, quyền có chỗ ở, có việc làm, quyền lập gia đình, quyền học hành, nhưng thật sai lầm và hảo huyền khi nói đến nhân quyền như người ta thường nói, mà lại không cương quyết bênh vực quyền sống như một quyền lợi bậc nhất, vì nó là nguồn gốc và điều kiện cho tất cả mọi quyền lợi khác của con người.

Giáo Hội không bao giờ chịu bó tay trước bất cứ xâm phạm nào đên quyền sống là quyền của mọi người, dù bởi tư nhân hay chính quyền. Chủ thể của quyền lợi ấy, chính là con người, con người ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống từ lúc mới được thụ thai cho đên khi tắt thở; và trong tất cả mọi trạng thái khỏe mạnh cũng như bệnh tật, lành mạnh cũng như tàn phế, giàu có cũng như nghèo hèn. Công Đồng Vaticanô II đã mạnh dạn nói lên: " Tất cả những gì đôl nghịch với sự sống như giết người dưới bất cứ hình thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm díu, hoặc tự ý tự tử; tất cả những gì xâm phạm đến sự toàn vẹn của nhân vị con người, như cắt bỏ một phần thân thể, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý; tất cả những gì xúc phạm đến nhân phẩm, như những cảnh sống thấp kém dưới mức độ phải có của con người, giam cầm vô cớ, lưu đày, nô lệ, mãi dâm, buôn bán phụ nứ và trẻ con; kể cả những tình trạng lao động khiến cho nhân công hoàn toàn trở thành công cụ cho lợi lộc, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm; tất cả nhứng điều nói trên và những điều tương tự đều được coi là tội lỗi. Trong khi làm thôí nát nền văn minh nhân loại, tất cả nhứng điều trên lại trở thành nguy hại cho chính những kẻ chủ động hơn là đối với những người chịu sự thiệt thòi đó. Hơn nữa nó còn xúc phạm nặng nề đến danh dự của Đấng Tạo Hóa." (137)

Nếu mỗi người chúng ta đều có sứ mệnh và trách nhiệm nhìn nhận nhân phẩm của con người và bênh vực quyền sống của con người, thì đồng thời có một số tín hữu giáo dân được kêu gọi làm việc này với một tước hiệu nêng biệt: đó là các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, bác sĩ và y tá, và tất cả những ai nắm quyền kinh tế và chính trị.

Khi đón tiếp với một lòng yêu mến và đại độ tất cả mọi người, nhất là những người thất thế và đau yếu, Giáo Hội hôm nay đang sống thời điểm quan trọng nhất của sứ mạng mình, một sứ mạng càng khẩn thiết vì mỗi ngày con người càng chạy theo cái gọi là Văn hóa chết. Bởi vì, "Giáo Hội tin chắc chắn rằng sự sống con người, cho dù là yếu đau bệnh tật, luôn luôn vẫn là một ơn lạ lùng của lòng từ bi Thiên Chúa. Để chống với tính ích kỷ và bi quan đang ám ảnh thế giới, Giáo Hội bênh vực sự sống và trong mỗi mạng sống con người, Giáo Hội biết khám phá ra sự sáng chói của tiếng "Vâng" tiếng "Amen" là chính Đức Kitô (2 Cor.1:19, Ap.3:14). Để đáp lại tiếng "không" đang xâm chiếm và gieo sầu khổ cho con người và thế giới, Giáo Hội nói "có" sống động, và như thế Giáo Hội bênh vực con người và thế giới chống lại với những kẻ đe dọa và phạm đến sự sống". (138) Người tín hữu giáo dân, hoặc vì ơn gọi hay vì nghề nghiệp, phải trực tiếp chịu trách nhiệm đón nhận sự sống, phải làm cho tiếng "Vâng" của Giáo Hội chấp nhận sự sống, được thực hiện một cách có hiệu quả.

Nhờ sự phát tnển mau lẹ của các ngành sinh-vật-học và y-khoa, song song với tiến bộ lạ lùng của khoa học, hiện giờ chúng ta phải đương đầu với nhiều vấn nạn mới vì con người có khả năng làm những điều mới lạ đối với sự sống con người. Con người thời nay, không những có khả năng "quan sát", hơn nữa còn có thể nghiên cứu cách kiểm soát sự sống con người ngay từ giây phút đầu tiên và qua các giai đoạn phát triển của nó.

Lương tâm luân lý của nhân loại không thể đứng nhìn như kẻ bàng quan trước những bước tiến dài do một quyền lợi kỹ thuật ngày càng thao túng trong lãnh vực truyền sinh, và trong những giai đoạn đầu của sự phát triển nhân vị con người.

Có lẽ ngày nay hơn bao giời hết trong địa hạt này, sự khôn ngoan là cái neo cứu rỗi độc nhất để con người trong công cuộc sưu tầm khoa học và áp dụng có thể hành động theo lý trí và tình thương, nghĩa là biết tôn trọng nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người ngay từ buổi đầu cuộc sống của nó. Muốn được như vậy, khoa học và kỹ thuật với những phương tiện hơp pháp, phải dấn thân bênh vực sự sống và chữa trị các bệnh tật ngay từ ban đầu, và từ chối - vì danh dự của công trình khảo cứu - không can thiệp cách nào để đưa đến hậu quả biến đổi khả năng sinh sản của cá nhân và của nhân loại. (139)

Các tín hữu giáo dân vì chức nghiệp trên nhiều phương diện phải dần thần trong lãnh vực khoa học hay kỹ thuật, cũng như những lãnh vực y khoa, xã hội, lập pháp hay kinh tế, tất cả phải có can đảm đón nhận "sự thách thức" do các vấn đề mới của nền luân lý sự sống gây ra. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quả quyết: "Người Kitô hữu phải thi hành trách nhiệm như chủ nhân chứ không phải như nô lệ của khoa học và kỹ thuật. Trong viễn tượng "thách đô" về luân lý tung ra do quyền năng ghê gớm của kỹ thuật mới, đang đe dọa không nhứng các quyền lợi căn bản của con người, mà ngay cả bản chất sự sống của nhân loại. Người giáo dân, nhờ sự giúp đỡ của toàn thể Giáo Hội, phải nhận lấy trọng trách để làm cho văn hoá giữ được các nguyên tắc của một nền nhân bản xác thực nguyên vẹn; như thế việc cổ võ và bênh vực nhân quyền mới có được một nền móng đầy sinh lực và vững chãi ngay trong bản chất của nó. một bản chất đã được mặc khải cho con người qua Phúc ấm. (140)

Ngày nay là lúc cấp bách mọi người phải tỉnh thức trước hiện tượng tập trung quyền lực kỹ thuật. Vì sự tập trung này có dụng ý tráo trở không những bản chất của sự sống mà ngay cả nội tại của lương tám con người và cách sống của nó, khiến cho việc kỳ thị và khinh rẻ nhiều dân tộc trở thành trầm trọng.

Tự do kêu cầu danh Chúa

39. Tôn trọng phẩm giá con người đó là bênh vực và cổ võ tôn trọng nhân quyền, và đồng thời đòi hỏi phải nhìn nhận phạm vi tôn giáo của con người. Đây không chỉ đơn giản là một đòi hỏi "tín ngưỡng", nhưng là một đòi hỏi tự nó không thể bị tiêu diệt của thực thể con người. Mối liên quan với Thiên Chúa là một yêú tố cấu tạo nên "bản chất" và "cuộc sống" con người: Chính trong Thiên Chúa mà "chúng ta được sống, được cử động và được hiện hữư' (Acts. 17:28) . Nếu không phải mọi người đều chấp nhận chân lý, thì ít nữa ai chấp nhận đều có quyền buộc kẻ khác phải tôn trọng Đức Tin của họ, tôn trọng sự lựa chọn đời sống của họ, hoặc cá nhân hay đoàn thể. Đó là quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo, công nhận quyền lợi này là cả một lợi ích cao cả nhất và là một trong những bổn phận nặng nề nhất của mỗi dân tộc, nếu dân tộc này muốn bảo đảm lợi ích của cá nhân và của xã hội: "Tự do tôn giáo, một đòi hỏi không thể phá hủy được của phẩm giá con người, là viên đá góc để xây dựng toà nhà nhân quyền, và là một yếu tố không thể thay thế được của lợi ích con người và xã hội, và làm cho con người được phát triển toàn vẹn. Bởi đó tự do tuyên xưng và hành đạo của cá nhân hay của cộng đồng là một yếu tố căn bản để con người chung sống hoà bình... Quyền tự do tôn giáo về mặt dân luật và xã hội, vì nó thuộc phạm vi thâm sâu của tinh thần, nên nó là điểm tham chiếu, một cách nào đó, nó trở nên thước đo lường của các quyền lợi căn bản khác".(141)

Thượng Hội Đồng Giám Mục đã không lãng quên một số đông các anh chị em chưa được hưởng quyền tự do và đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, với nạn bỏ rơi, với đau khổ và bắt bớ, và có khi phải chết vì Đức Tin. Một số đông trong họ là giáo dân Truyền bá Phúc âm và làm chứng nhân đời sống Công Giáo trong đau khổ và tử đạo, đó là tột đỉnh của việc tông đồ của các môn đệ Chúa Kitô, cũng như tình yêu của Chúa Giêsu đến hy sinh mạng sống phát sinh nguồn mạch đầy sức sống lạ thường để xây dựng Giáo Hội. Cây nho thần bí như thế tỏ ra rất đầy sinh khí như Thánh Augustinô nói: "Cây nho này như các Tiên Tri và chính Chúa đã loan báo trước, tỏa ra trên khắp thế giới cành cây của nó nặng trĩu hoa trái và nó ngày càng thêm sinh lực nếu càng được tưới thêm bằng máu tử đạo. (142)

Toàn thể Giáo Hội hết lòng biết ơn về thí dụ và ơn này. Kitô-hữu đã hy sinh mạng sống để đem lại một lý do đổi mới nghị lực đời sống thánh thiện và tông đồ. Vì thế các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhận thấy có bổn phận cách riêng "phải cám ơn các người giáo dân đang sống kiên cường chứng nhân Đức Tin, trung thành hợp nhất với Giáo Hội, dầu phải bị chèn ép và thiêú thốn linh mục. Họ liều bỏ tất cả ngay cả mạng sống. Như thế giáo dân đã làm chứng cho đặc tính căn bản của Giáo Hội, là: Giáo Hội sinh bởi ơn nghĩa Chúa và tỏ ra cao cả trong máu tử đạo." (143)

Tất cả những gì chúng ta bàn đến về việc tôn trọng phẩm giá con người, về việc nhìn nhận nhân quyền, mỗi người cũng như mỗi Kitô-hữu đều có trách nhiệm. Nhưng chúng ta cũng phải biết rằng vấn đề này có tầm mức quốc tế vì là một vấn đề liên hệ đên đoàn người đông đảo, có khi cả một dân tộc bị cướp đoạt quyền lợi căn bản. Những hình thức bất bình đẳng này đang phát triển giữa các "thế giới" khác nhau đã bị tố cáo rành mạch trong Thông Điệp "Sol-licitudo rei socialis" (Mối lo ngại về tình trạng xã hội).

Việc tôn trọng nhân vị con người vượt trên đòi hỏi luân lý cá nhân, vì nó là một tiêu chuẩn nền tảng, là cột trụ, là nền móng xây cơ cấu xã hội, vì mục tiêu xã hội là con người.

Như thê, trọng trách phục vụ xã hội có liên quan mật thiết với trọng trách phục vụ con người. Đó là định nghĩa sứ mệnh đem đạo vào đời mà các tín hữu giáo dân được gọi để hoàn thành theo cách thế riêng biệt của mình.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
GIỮA HAI LẰN ÐẠN

 

Phúc Âm Nhật Ký 01.04.2007

(Lc 19:28-40; 22:14-23:56)

Ngày xưa, khi còn ngồi ghế nhà trường tiểu học, chúng tôi thường hát bài suy tôn Ngô Tổng Thống trước khi vào lớp : “Ai bao năm vì dân nước quên thân mình.  Cứu đất nước, thề tranh đấu cho tự do …”   Tiếng hát làm sống lại cả một tuổi thơ đầy mơ mộng trong tôi.  Những ngày tháng đó thật ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho Tổng Thống dẹp yên những bạo loạn và đặt nền tảng cần thiết cho cuộc sống tự do cho toàn dân .

Nhưng khi chưa kịp bước vào tuổi trưởng thành, tôi đã trải qua những đêm lịch sử kinh hoàng cho Tổng thống và dân tộc.  Ngày 26.10.1963 vinh quang Tổng Thống lên tột đỉnh, sau khi được tái đắc cử.  Không đầy một tuần sau, ngày 01.11.1963, Tổng Thống đã gục ngã trên vũng máu đào cùng với bào đệ trong hầm tối.

Tổng thống là một Kitô hữu.  Cuộc đời ông khác gì Thày Chí Thánh ?  Từ vinh quang giữa rừng người cầm lá, trải khăn trên đường đón tiếp tung hô, đến cái chết tủi nhục tang thương trên Thánh giá, Ðức Giêsu chỉ có một thời gian rất ngắn để sống bình an trên mặt đất.  Vinh quang trần gian nào chẳng đầy quyến rũ ?  Ðau khổ nào chẳng là ma lực trấn áp con người ?  Ðó là hai lằn đạn. Cả nhân loại bị kẹt cứng giữa hai lằn đạn đó.  Chúa Giêsu cũng là con người, nên cũng không thoát khỏi thân phận đó.

Trong khi nhiều người ngã gục giữa hai lằn đạn, tại sao Chúa Giêsu đứng vững ? Giữa cảnh tưng bừng nhộn nhịp “gần chỗ dốc xuống núi Ôliu,” (Lc 19:37) Chúa xuất hiện như Vị Thiên Sai.  Tất cả dân chúng và đoàn môn đệ tung hô : “Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng ngự đến nhân danh Chúa !”  Bước đi giữa cảnh nườm nượp cành ôliu và trên các tấm áo choàng dân chúng trải xuống mặt đường, chắc chắn các ông không thể không nghĩ tới vị trí hai bên tả bên hữu trong Vương Quốc Thày.   Trước đó ít lâu, “các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm đươc coi là người lớn nhất.” (Lc 22:24).  Nếu có cùng tâm trạng với các môn đệ như thế, Thày đã sa vào chước cám dỗ trong hoang địa rồi.

Rõ ràng ngay giữa những thành công, Người vẫn nhất quyết chọn theo hướng  Chúa Cha.  Người đang muốn mọi người rời xa thứ vinh quang mau qua và giả tạo nơi trần thế.  Sứ mạng của Người hướng mọi người tới “bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời !” (Lc 19:38)  Thật khác hẳn những gì các tông đồ vẫn mơ mộng.

Chỉ có vinh quang Thiên quốc mới đủ sức thúc đẩy Người vượt trên những giới hạn tầm thường của kiếp người và mạnh dạn vác Thánh giá lên tận đỉnh đồi Canvê.  Người chìm ngập trong đau khổ và uống chén đắng đến giọt cuối cùng.  Chén đắng đó có đủ mùi vị của kẻ thù lẫn người thân.  Nếu Giuđa không phản bội, kẻ thù cũng không biết cách nào hại Thày.  Khuôn mặt môn đệ thân tín như Phêrô cũng in đậm nét bất trung khi ngang nhiên chối Thày tới ba lần.  Những con người phản bội như thế làm Thày đau khổ gấp mấy lần kẻ thù !  Mặc dù đã tiên liệu, Thày cũng không tránh khỏi đau khổ. 

Ðau khổ do kẻ thù gây ra cũng có nhiều hình thức khác nhau.  Có những đau khổ tinh thần như những lời nhạo báng, xúc phạm đến chính sứ mệnh tiên tri của Chúa.  Hạng vô lại và thất học lại dám cả gan nhục mạ Ðấng Toàn Tri !  Hạng lãnh đạo cũng không khá hơn.  Họ lợi dụng khả năng và địa vị để xuyên tạc và vu cáo Người như một tên bạo  loạn chống chính quyền.  Trước những cật vấn của bọn cầm quyền, Người không hề run sợ.  Người vẫn giữ thái độ thinh lặng, mặc cho những trận cười chế diễu và thái độ khinh dể trong triều đình Hêrôđê. Sự đau khổ tinh thần lên đến tột độ khi Chúa bị mọi người hạ nhục.  Số phận Người không bằng một tên cướp.  Họ la hét đòi giết Người cho bằng được !  Tới giờ linh thiêng nhất trên thập giá, Người vẫn còn phải trải qua những cơn thách đố ghê rợn về chính sứ mạng Thiên Sai và địa vị cao cả nhất của Người.

Còn những đau khổ nơi thân xác Chúa, bút mực nào tả xiết ?! Người đã bị bắt như một tên cướp, trong khi Người là Ðấng công chính !  Những trận đòn tan xương nát thịt xối xả tuôn xuống thân xác gầy gò của Người.  Những vết thương bật máu rải đều khắp thân thể.  Cây Thánh giá ngàn cân vừa đè nặng vừa ghì chặt Thân Người bằng những mũi đinh nhọn.  Từ đỉnh đầu tới bàn chân, không chỗ nào không rướm máu.  Thật khủng khiếp !  “Quyền lực tối tăm” (Lc 22:47) nhất trí đẩy Người ra khỏi cõi sống. 

Nhưng có chết đi, Người mới đem lại niềm hy vọng cho nhân loại.  Bước theo Người, các vị tử đạo đã trở thành “niềm hy vọng cho thế giới, vì họ làm chứng cho mọi người biết rằng tình yêu Ðức Kitô mạnh hơn bạo lực và hận thù.”[1]  Người Anh Cả đã hành động phi thường để chứng tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa và đàn em đông đúc. 

Nhờ tình yêu đó, Người đứng vững giữa hai lằn đạn !  Chính nhờ Thần Khí, Người kiên vững giữa bao cơn phong ba bão táp.  Thánh ý Chúa Cha xác định Người là Con Thiên Chúa và đã được Chúa Cha tuyển chọn làm Ðấng Cứu độ muôn dân (Lc 9:35) nhờ Thánh giá, một chứng từ mãnh liệt nhất cho tình yêu.  Thánh giá trở thành lời nói vượt trên mọi ngôn từ.  Lời nói đó chính là tình yêu Ðấng Vĩnh hằng ban tặng cho dân Người, cho mọi người và mỗi người, cho từng người chúng ta.  Thánh giá cũng là dấu chỉ sự vâng phục tuyệt đối Thánh Ý Chúa Cha.  Nhờ đó, giữa những cơn thử thách lớn lao, Người vẫn hiên ngang xác định mình là  “Con Thiên Chúa,” (Lc 22:70-71) “là Mêsia, là Vua nữa.” (Lc 23:2-3)   

Ngay khi Người vừa tắt thở, “viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng : ‘Người này đích thực là người công chính !’” (Lc 23:47)  Tại sao lời tôn vinh này lại được đặt vào miệng viên sỹ quan ?  Hẳn ông đã điều động toán lính thi hành việc bắt bớ, đánh đập và đóng đinh Chúa Giêsu.  Trước khi dẫn Tử tội ra pháp trường, chắc chắn ông đã đọc kỹ bản án.  Nhưng sau chứng kiến tất cả những gì đã diễn ra trước và sau cuộc hành hình, ông nhận thấy Tử tội là nạn nhân của những âm mưu đen tối bất công và chính sách bất công.  Lời tôn vinh đó trở thành lời phủ nhận tất cả những tố cáo trước kia của giới lãnh đạo cũng như quần chúng.  Tất cả sự thật đã được phơi bày. 

Ðức Giêsu đã sống và chết như người công chính.   Người dám chết để nói lên tiếng nói của những người thấp cổ bé họng trước bọn cường quyền và đám đông ngông cuồng.  Dù không làm chính trị, Người vẫn chết cho quyền làm người và làm con Chúa.  Người chết cho tự do con người !

Lạy Chúa, giữa cơn khát vọng nhân quyền hôm nay, xin cho chúng con biết phải làm gì cho dân tộc và giáo hội chúng con.  Dù đang ở giữa quê hương hay lưu lạc khắp bốn phương trời, xin cho chúng con luôn gắn bó mật thiết với Chúa và hăng say hành động theo tiếng gọi và sự thôi thúc của Chúa cũng như của quê hương.  Xin cho tất cả mọi phán đoán, mọi kế hoạch, mọi hành xử của chúng con đều khơi nguồn từ cầu nguyện.  Xin đừng để chúng con  hành động vì  danh lợi cá nhân, nhưng chỉ nhằm phục hưng Dân Chúa và dân tộc chúng con.[2]  Amen 

đỗ lực  01.04.2007


[1] ÐGH Bênêđictô XVI, Zenit 25.03.2007.

[2] Theo Hoàng Quý, “Nêhêmia, Gương Mặt Lãnh Ðạo Giáo Dân,”  Tiengnoigiaodan.net 28-03-07.

VỀ MỤC LỤC
CHÚA NHẬT LỄ LÁ

 

Nguyên Tác IN STEP WITH GOD LM Vincent Travers, OP

HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

Bài suy niệm

CHÚA NHẬT LỄ LÁ 

Nói những lời ấy xong, Đức Giêsu đi đầu, tiến lên Giê-ru-sa-lem. Khi đến gần làng Bết-pha-ghê và làng Bê-ta-ni-a, bên triền núi gọi là núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo: Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi. Nếu có ai hỏi: ‘Tại sao các anh cởi lừa người ta ra’ thì cứ nói: ‘Chúa có việc cần dùng!’

Hai người được sai liền ra đi và thấy y như Người đã nói. Các ông cởi dây lừa thì những người chủ nói với các ông: ‘Tại sao các anh lại cởi lừa người ta ra?’ Hai ông đáp: ‘Chúa có việc cần dùng.

Các ông dắt lừa về cho Đức Giêsu, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa và giúp Người cỡi lên. Người đi tới đâu, dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường. Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mầng, bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời! (Lc 19, 28-38) 

***

Tôi ưa thích câu chuyện nói về một em bé hỏi người mẹ, nhân Chúa nhật Lễ Lá: “Má ơi, chúng ta biết những gì đã xảy ra cho Chúa Giêsu Kitô, nhưng điều gì đã xảy ra cho con lừa?” Tôi cũng thích ngay cả câu chuyện nói về con lừa đã theo Chúa Giêsu suốt hành trình của Ngài cho đến đỉnh đồi Can-vê. Vì vậy mỗi con lừa đều có hình thánh giá trên lưng.

Nhưng, trên tất cả, tôi thích điều mà Đức Cha Helder Camera, vị tổng giám mục vĩ đại ở Recife, Brazil đã nói về con lừa: “Tôi chỉ thích con lừa đã chuyên chở Chúa Giêsu lên kinh thành Giê-ru-sa-lem vào Chúa nhật Lễ Lá đầu tiên mà thôi.” Ít người thấy con lừa, phần đông chỉ thấy Chúa Giêsu. Vậy ước gì mỗi người trong chúng ta trở nên con lừa để chuyên chở Chúa Giêsu.

Điều đáng chú ý nhất, Chúa nhật Lễ Lá đánh dấu việc khởi đầu Tuần Thánh theo lịch Phụng Vụ Kitô giáo. Giống như cậu bé trên đây, chúng ta đều biết câu chuyện về sự khổ nạn và chịu chết của Chúa Giêsu.

Thật thế, có thể chúng ta đã nghe thuật lại câu chuyện đó rất nhiều lần trong quá khứ cho đến nỗi không mang lại một ý nghĩa gì cho lắm. Và nếu đã xảy ra như thế, chúng ta nên ngồi xuống khi đang còn thời giờ, trước khi quá trễ, và thấu hiểu điều kinh hoàng mà Chúa Giêsu đã làm. Nếu chỉ gật đầu hay ghi nhận như thế thì đó là một sự kiện trống rỗng và rồi cứ tiếp tục như trước. Nếu thế, điều đó chứng tỏ trong thực tế chúng ta chưa hiểu gì hết.

Ân Sủng lạ lùng

Điều gì chúng ta phải cố gắng tìm hiểu mà trước đây chúng ta chưa bao giờ hiểu? Sứ điệp lớn lao mà Chúa Giêsu đã công bố và Giáo Hội lặp lại trong tuần nầy, vì lợi ích của chúng ta: “Thiên Chúa yêu thương chúng ta”. Đó phải là lời tuyên bố lạ lùng nhất, ít khi được nghe nói tới. Nhưng chúng ta có cảm thấy lạ lùng không?

Thánh Augustinô đã mạnh mẽ nhắc nhở chúng ta là Thiên Chúa yêu thương cho dẫu chỉ có một người duy nhất trong chúng ta sống trên đời nầy, Ngài cũng yêu thương. Đó là tầm rộng lớn của tình yêu Thiên Chúa. Ngài yêu thương như thể bạn là người duy nhất Ngài đã tạo dựng.

Bằng cách nào đó, chúng ta phải nuốt trôi những chữ đó, phải tiếp thu những chữ đó và biến chúng thành xương thành thịt của chúng ta. Nếu chúng ta tin tưởng vào những chữ đó và làm chúng trở thành một phần trong đời sống chúng ta thì chúng ta sẽ không bao giờ hoàn toàn như thế nữa. Điều đó không có nghĩa là phút chốc chúng ta được biến đổi hay trở nên điều gì như thế. Không bao giờ dễ dàng để ứng đối với một tình yêu cao cả. Luôn luôn phải bắt đầu làm quen từ từ.

Trong câu chuyện “Camelot”, Vua Arthur đưa ra một câu hỏi: “Người ta phải ứng phó với một ngưòi đàn bà như thế nào?” Nhà vua gặp khó khăn trong những tương giao của ngài với Hoàng Hậu Guinevere và ngài cần một sự hiểu biết sâu sắc về những bí ẩn gây ra những tệ hại ngấm ngầm cho nam giới.

Do đó, nhà vua đi tìm câu trả lời do nguồn duy nhất để có thể giải quyết điều bí ẩn về tình yêu và mối tình lãng mạng. Nhà vua đã hỏi Merlin là một pháp sư. Merlin đã trả lời câu hỏi “làm thế nào để ứng phó với một người đàn bà?” như sau: “Bệ hạ phải yêu thương bà đó!

Đó là điều nhà vua Arthur có thể làm, bởi vì ngài rất đỗi yêu thương hoàng hậu Guinevere. Do đó nhà vua đã yêu thương hoàng hậu với hết con tim và tâm hồn mình. Cuối cùng, hoàng hậu đã phản bội nhà vua và câu chuyện “Camelot” kết thúc. Thật đáng buồn, phần lớn những người phàm như chúng ta đều như thế hết. Phần lớn chúng ta đều yêu và đều bị mất mát.

Tuy nhiên, không bị khuất phục bởi những cản trở và chán nản, chúng ta nên theo đuổi giấc mơ và sự huyền nhiệm của tình yêu, như Tennyson đã viết: “Thà yêu và bị mất mát, còn hơn là không bao giờ yêu hết.

Có đáng không

Điều đó đưa chúng ta đến câu hỏi lớn lao mà Tuần Thánh đặt ra: “Sự Thương Khó của Chúa Giêsu có đáng như vậy không?” Tình yêu say đắm của Ngài thúc đẩy Ngài hy sinh mạng sống cho mỗi người chúng ta có đáng như vậy không? Chúng ta có đáng được Chúa thương yêu nhiều như thế không? Câu trả lời vẫn có âm vang lớn: “Có!” Tình yêu luôn luôn rất đáng như vậy. Chỉ cần hỏi vua Arthur thì rõ.

Lời nói xem ra tuyệt đẹp, nhưng chỉ nói mà thôi thì không đủ. Chúng ta phải vượt qua biên giới của lời nói và đáp trả tình yêu say đắm của Thiên Chúa bằng một tình yêu say đắm của chính chúng ta. Chỉ lúc bấy giờ chúng ta mới có thể thực sự nói: “Vâng, lạy Chúa, đáng lắm!

Giờ đây chúng ta đáp trả tình yêu lớn lao của Chúa, không những chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính cuộc sống chúng ta. Bởi vì đó là ngôn ngữ duy nhất mà tình yêu mới thực sự hiểu được.

VỀ MỤC LỤC
12 Ðiều Mà Mọi Người Công Giáo Phải Trả Lời Ðược

 

Tác giả: DEAL HUDSON

GLV Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

 

Tự do ngôn luận là một điều cao quý. Tiếc rằng chúng ta phải trả một giá rất đắt cho nó: Khi dân chúng được quyền tự do muốn nói gì thì nói, họ đôi khi dùng sự tự do đó để nói những điều ngớ ngẩn.  Và đó là 12 điều mà chúng tôi sẽ bàn ở đây.

Có một ít điều được nhắc đi nhắc lại, có những điều khác thì họa hiếm mới được nhắc đến, trong khi những người đề xướng những sai lầm này tự do quảng bá chúng, chúng ta là người Công Giáo có nhiệm vụ phải trả lời.

 

 1. "Không có gì là chân lý tuyệt đối cả. Ðiều đúng cho bạn chưa chắc đã đúng cho tôi."

2. Kitô giáo không hơn gì các tín ngưỡng khác. Tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến Thiên Chúa."

3. "Cựu Ước và Tân Ước trái ngược nhau ở nhiều chỗ. Nếu một Thiên Chúa toàn năng linh hứng Thánh Kinh, thì Ngài đã không để cho có sai lỗi."

4. "Tôi không cần đến Nhà Thờ. Bao lâu tôi là một người tốt, chỉ có điều đó mới đáng kể."

5. "Bạn không cần phải xưng tội với một linh mục. Bạn có thể đến thẳng cùng Thiên Chúa."

6. "Nếu Hội Thánh thật sự theo Chúa Giêsu, thì đã bán các nghệ thuật, tài sản, và các công trình kiến trúc lãng phí, mà cho người nghèo."

7. "Chống đối thực sự là điều tích cực, vì tất cả chúng ta phải có đầu óc cởi mở đối với những tư tưởng mới."

8. Nếu giải thích đúng, Thánh Kinh không lên án đồng tính luyến ái. Nhưng đúng hơn là chống lối sống bừa bãi - dù là đồng tính hay giữa nam nữ. Vì vậy, chúng ta không có lý do để chống liên hệ tình yêu đồng tính."

9. "Người Công Giáo nên theo lương tâm trong mọi sự... dù là phá thai, ngừa thai, hay phong chức thánh cho phụ nữ."

10. Phương Pháp Tự Nhiên chỉ là một cách ngừa thai của Công Giáo."

11. "Người ta có thể vừa ủng hộ phá thai (tự do chọn lựa) vừa đồng thời là Công Giáo."

12. "Việc người ta nhớ lại cuộc sống ở kiếp trước chứng tỏ rằng luân hồi là đúng... và quan điểm của Kitô Giáo về Thiên Ðàng, Hỏa Ngục là sai."

 

1. "Không có gì là chân lý tuyệt đối cả. Ðiều đúng cho bạn chưa chắc đã đúng cho tôi."

Người ta dùng lý luận này rất nhiều khi họ không đồng ý với một câu nói và không có cách nào khác để chống đỡ tư tưởng của mình. Vậy, nếu không có gì là đúng cho tất cả mọi người, thì họ muốn tin gì thì tin, và không thể nói gì để làm họ đổi ý cả.

Nhưng hãy nhìn lại câu nói "Không có gì là chân lý tuyệt đối cả" một lần nữa. Có phải chính câu này đã khẳng định nó là điều tuyệt đối không? Nói cách khác, nó áp dụng ít qui luật hay tiêu chuẩn cho mọi người -- chính là điều mà những người theo tương đối nói là không thể được. Họ đã hóa giải lập luận của họ bằng cách đưa ra lập luận của họ.  

Một vấn đề khác với câu này là không có một người theo thuyết tương đối nào lại thật sự tin điều đó. Nếu có ai nói với bạn, "Không có chân lý tuyệt đối nào cả," và bạn thụi vào bụng người đó, người đó có lẽ sẽ nổi nóng. Nhưng theo niềm tin của anh ta, anh ta phải nhận rằng đấm vào bụng ai có thể sai đối với anh, nhưng có thể đúng đối với bạn.

Khi đó họ sẽ trở lại với một bổ túc cho câu nói nguyên thủy là: "Bao lâu bạn không làm đau người khác, bạn tự do muốn làm gì và tin gì tùy ý."  Nhưng đây chỉ là một sự phân biệt tùy ý (cũng như là câu nói tuyệt đối khác). Ai nói là tôi không được làm đau người khác? Cái gì là đau? Luật này từ đâu mà đến?

Nếu câu này được đưa ra dựa theo quyền của cá nhân, thì không có nghĩa gì đối với người khác. "Ðừng làm hại" chính nó là một thỉnh cầu đối với một cái gì cao trọng hơn - một loại phẩm giá chung  của con người. Nhưng câu hỏi lại là phẩm giá từ đâu đến.

Như bạn có thể thấy, càng đi sâu vào những câu hỏi này, thì bạn càng hiểu biết rằng quan niệm về lẽ phải và chân lý không phải tùy ý, nhưng dựa vào một vài chân lý cao quý và phổ quát ngoại tại -- một chân lý được viết trong chính bản tính của chúng ta. Chúng ta có thể không biết nó trọn vẹn , nhưng không thể chối rằng không có chân lý đó.

2. Kitô giáo không hơn gì các tín ngưỡng khác. Tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến Thiên Chúa."

Nếu bạn không nghe đến câu này vài chục lần, bạn không rút ra được bao nhiêu. Ðáng buồn là những người nói lên điều này thương lại là Kitô hữu (ít ra trên danh nghĩa).

Những trở ngại với quan điểm này thật không phức tạp gì cả. Kitô giáo đưa ra một chuỗi những lời xác nhận về Thiên Chúa và con người: Rằng chính Chúa Giêsu Nadareth là Thiên Chúa, và Người đã chết và sống lại -- tất cả để chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi. Mọi tôn giáo khác trên thế giới phủ nhận tất cả những điều này. Cho nên, nếu Kitô giáo là đúng, thì đạo này nói cho thế gian biết một chân lý sống còn -- một chân lý mà tất cả các tôn giáo khác phủ nhận.

Chỉ điều này thôi đã làm cho Kitô giáo thành duy nhất.

Nhưng nó không ngừng ở đó. Hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng Thánh Gioan.

"Thầy là đường, sự thật, và sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha, mà không qua Thầy." Trong Kitô giáo, chúng ta có trọn sự mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại. Ðúng là tất cả các tôn giáo chứa đựng một phần chân lý -- số lượng thay đổi tùy theo tôn giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta khao khát mong muốn theo và thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta có nên làm theo cách Ngài chỉ dạy không?

Nếu Chúa Giêsu quả thực là Thiên Chúa, thì chỉ Kitô giáo chứa đựng hoàn toàn chân lý này.

3. "Cựu Ước và Tân Ước trái ngược nhau ở nhiều chỗ. Nếu một Thiên Chúa toàn năng linh hứng Thánh Kinh, thì Ngài đã không để cho có sai lỗi."

Ðây là một luận điệu thông thường, người ta có thể thấy khắp nơi trên Internet (nhất là những websites vô thần và tự do tư tưởng). Một bài trên website của Vô Thần ghi rằng "Ðiều lạ thường về Thánh Kinh không phải vì tác giả là Thiên Chúa; chính là những mâu thuẫn được bịa đặt vô nghĩa mà người ta có thể tin là được Thiên Chúa thượng trí viết ra."

Những câu như thế thường được kèm theo một danh sách những câu "mâu thuẫn" trong Thánh Kinh.  Tuy nhiên, những điều cho là mâu thuẫn có ít sai lầm đơn giản. Thí dụ, người phê bình không đọc những sách khác nhau trong Thánh Kinh theo thể văn mà các sách đó được viết. Xét cho cùng, Thánh Kinh là một sưu tập nhiều loại văn tự... lịch sử, thần học, thơ phú, và khải huyền,vv.... Nếu chúng ta đọc các sách này cùng một cách cứng ngắc như chúng ta đọc báo ngày nay, thì chúng ta sẽ bị bối rối kinh khủng.

Và danh sách "các mâu thuẫn" trong Thánh Kinh minh xác điều này. Thí dụ lấy điều đầu tiên trong danh sách Vô Thần của Mỹ:

"Hãy nhớ ngày Sabát, và giữ nó cách thánh thiện." Xuất Hành 20:8

So với

"Người thì cho rằng ngày này trọng hơn ngày khác; người khác lại cho rằng ngày nào cũng như nhau. Vậy mỗi người phải xác tín trong thâm tâm mình." Rom 14:5

Người vô thần la lên: Ðó! rõ ràng là một mâu thuẫn. Nhưng phê bình gia quên không nhắc đến điều mà mọi Kitô hữu đều biết: Khi Ðức Kitô thiết lập Giao Ước Mới, thì những đòi hỏi về nghi lễ của Giao Ước Cũ được làm trọn (và qua đi). Vì thế việc những luật lệ trong Cựu Ước về nghi lễ không còn được ứng dụng cho dân của Tân Ước là điều hoàn toàn hợp lý.

Nếu nhà phê bình hiểu giáo lý đơn giản này của Kitô giáo, thì anh đã không mắc phải một lỗi sơ đẳng như thế.

Ðiều kế tiếp trong danh sách của Vô Thần Mỹ cũng có khuyết điểm tương tự:

"...trái đất mãi mãi trường tồn."  

Giảng Viên 1:4

So với:

"...các nguyên tố vật chất sẽ cháy tiêu tan, trái đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ." 2 Phr 3:10

Vậy Cựu Ước cho rằng trái đất sẽ tồn tại đến muôn đời, trong khi Tân Ước nói rằng nó rồi sẽ bị hủy diệt. Chúng ta dung hòa hai câu này thế nào? Thực ra rất dễ, lại theo sự hiểu biết về thể văn mà theo hai sách này được viết ra.

Thí dụ Sách Giảng Viên so sánh cái nhìn thế tục và tôn giáo - và hẩu hết sách này viết theo quan niệm thế tục. Ðó là lý do tại sao chúng ta thấy những dòng như, "Bánh được làm cho vui, và rượu làm cho cuộc đời thêm tươi, và tiền bạc giải quyết được tất cả" (GV 10:19).

Tuy nhiên, ở cuối sách, tác giả đưa ra một khúc quanh, không cần tất cả "sự khôn ngoan" ông tặng và bảo chúng ta "Kính sợ Thiên Chúa, và tuân giữ giới răn Ngài; vì đó là tất cả nhiệm vụ của con người." (12:13).

Nếu một độc giả ngưng đọc trước khi đến cuối, thì người ấy sẽ bối rối như phê bình gia Vô Thần Mỹ. Tuy nhiên, vì quan điểm đó nảy ra khái niệm về một thế giới trường tồn bị gạt bỏ ở hàng cuối cùng của sách, hiển nhiên là không có mâu thuẫn với điều được mạc khải sau đó ở trong Tân Ước. (Và đây chỉ là một cách để trả lời tố cáo về sự khác biệt này)

Những "mâu thuẫn" khác giữ Cựu và Tân Ước có thể được trả lời cách tương tự. Hầu như với điểm nào, nhà phê bình cũng bị lầm lẫn về mạch văn, không để ý đến thể văn, và không để dành chỗ nào cho việc cắt nghĩa cách hợp lý.

Không một Kitô hữu biết suy nghĩ nào phải bối rối về những danh sách này.

4. "Tôi không cần đến Nhà Thờ. Bao lâu tôi là một người tốt, chỉ có điều đó mới đáng kể."

Luận điệu này dược dùng thường xuyên, và rất gian xảo. Khi một người nhận mình là "người tốt," người đó thật sự ám chỉ rằng họ "không phải là một người xấu." -- người xấu là người sát nhân, hiếp dâm, và trộm cắp. Phần đông người ta không cần cố gắng mấy để tránh các tội này, và đó là tư tưởng: Chùng ta muốn làm một số việc tối thiểu để được thông qua. Ðiều đó không giống Ðức Kitô lắm, phải không?

Nhưng bỏ qua trạng thái tâm lý đó, có một lý do quan trọng để người Công Giáo đền Nhà Thờ hơn là chỉ để thực hành việc đi thêm một dặm nữa. Thánh Lễ là viên đá góc của đời sống đức tin của chúng ta vì một điều nằm ở trọng tâm của nó: Bí Tích Thánh Thể. Ðó là nguồn mạch của tất cả đời sống cho người Công Giáo, là những người tin rằng bánh và rượu trở nên Mình và Máu thật của Ðức Kitô. Chứ không phải chỉ là biểu tượng của Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa hiện diện cách thể lý với chúng ta bằng một phương thế mà chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được bằng cầu nguyện.

Chúa Giêsu phán, "Thật, Thật, Ta bảo các người, trừ khi các người ăn thịt Con Người và uống máu Người, các người không có sự sống trong các người; ai ăn thịt và uống máu Ta có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết"  (Ga 6:53-54). Chúng ta tôn trọng lệnh của Chuá Giêsu và tin tường vào lời hứa của Người mỗi lần chúng ta đi dự Thánh Lễ.

Hơn nữa, bí tích Thánh Thể, cùng với tất cả các bí tích khác, chỉ dành cho những người ờ trong Hội Thánh. Là phần tử của Hội Thánh, nhiệm thể hữu hình của Ðức Kitô trên thế gian, đời sống chúng ta liên hệ mật thiết với đời sống của người khác trong Hội Thánh. Liên hệ cá nhân của chúng ta đối với Thiên Chúa thật quan trọng, nhưng chúng ta cũng có nhiệm vụ sống như những phần tử trung thành của nhiệm thể Ðức Kitô. Là "người tốt" mà thôi chưa đủ.

5. "Bạn không cần phải xưng tội với một linh mục. Bạn có thể đến thẳng cùng Thiên Chúa."

Như một cựu mục sư Baptist, tôi có thể hiểu việc chống xưng tội của người Tin Lành (họ hiểu về chức linh mục một cách khác). Nhưng một người Công Giáo mà nói một điều như thế... thì thật là thất vọng. Tôi nghi rằng bản tính loài người là thế, người ta thường không thích nói cho người khác biết tội mình, nên đưa ra lý do để biện minh tại sao không làm thế.

Bí Tích Giải Tội đã có với chúng ta từ đầu, từ chính Lời của Ðức Kitô:

"Chúa Giêsu lại bảo các ông, 'Bình an cho các con! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con.' Nói rồi, Người thổi hơi vào các ông và bảo các ông, 'Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nếu các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha; nếu các con cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc.'” (Ga 20:21-23)

Nên ghi nhận rằng Chúa Giêsu ban cho các tông đồ quyền tha tội. Tất nhiên, họ không biết phải tha tội nào nếu họ không được nói cho biết là tội nào chúng ta phạm.

Việc xưng tội cũng được chứng minh trong thư thánh Giacôbê:

Có ai trong anh em đau ốm? Hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh, và hãy để họ cầu nguyện trên người ấy, xức dầu cho người ấy nhân danh Chúa; Và lời cầu nguyện do đức tin sẽ cứu người bệnh; và Chúa sẽ nâng người ấy dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy xưng tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được chữa lành. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính có hiệu lực rất lớn lao. (Gia 5:14-16)

Ðiều đáng quan tâm là không có chỗ nào Thánh Giacôbê (hay Chúa Giêsu) bảo chúng ta là chỉ xưng tội với Thiên Chúa, nhưng các Ngài có vẻ nghĩ là ơn tha tội đến bằng cách xưng tội công khai.

Và lý do thật dễ hiểu. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta làm tổn thương không những mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, mà còn với Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh (vì tất cả mọi người Công Giáo nối kết với nhau như con cùng một Cha). Cho nên khi chúng ta xin lỗi, chúng ta phải xin lỗi tất cả mọi nhóm liên hệ - Thiên Chúa và Hội Thánh.

Hãy nghĩ về xưng tội cach này. Thử tưởng tượng rằng bạn vào một tiệm và ăn cắp vài món hàng. Sau đó, bạn áy náy và hối hận về hành động tội lỗi này. Giờ đây, bạn có thể cầu xin Thiên Chúa tha cho bạn vì đã phạm giới răn của Ngài. Nhưng còn một phần tử khác liên hệ; bạn phải trả lại món hàng và đền bù cho hành động của bạn.

Ðối với Hội Thánh cũng thế. Trong toà giải tội, linh mục đại diện cho Thiên Chúa và Hội Thánh, vì chúng ta có tội với cả hai. Và khi ngài công bố lời tha tội, thì sự tha thứ chúng ta lãnh nhận được trọn vẹn.

6. "Nếu Hội Thánh thật sự theo Chúa Giêsu, thì đã bán các nghệ thuật, tài sản, và các công trình kiến trúc lãng phí, mà cho người nghèo."

Khi một người nghĩ đến Thành Vatican, họ liên tưởng ngay đến một vương quốc giàu sang, với nơi ở như cung điện cho Ðức Giáo Hoàng và các hòm đầy vàng cất ở các xó nhà, chưa kể đến các sưu tầm nghệ thuật và đồ cổ vô giá. Nhìn đến Vatican cách này thì dễ thấy tại sao một số người trở thành bực tức vì những điều họ nghĩ là sự khoe khoang tài sản cách phô trương và phí phạm.

Nhưng sự thật thì hoàn toàn khác. Các dinh thự chính gọi là "Ðiện Vatican" không phải được xây làm chỗ ở xa hoa của Ðức Giáo Hoàng. Thực ra, khu vực gia cư tương đối nhỏ. Phần lớn điện Vatican được dùng vào việc nghệ thuật, khoa học, điều hành công việc Hội Thánh, và điều hành chung của điện. Có một số đông nhân viên của Hội Thánh và hành chánh sống trong điện Vatican cùng ÐTC, làm cho nó thành trụ sở chính của Hội Thánh.

Còn về những sưu tầm nghệ thuật, thực sự là sưu tập quý nhất trên thế giới, Vatican coi đó như một "kho tàng không thể thay thế được," nhưng không phải về diện tài chánh. ÐTC không làm chủ những tác phẩm nghệ thuật này, và nếu ngài muốn, ngài cũng không được phép bán chúng; chúng chỉ được đặt dưới sự săn sóc của Toà Thánh. Các tác phẩm này không đem nguồn lợi đến cho Hội Thánh, mà ngược lại, Tòa Thánh phải đầu tư một số tài nguyên không nhỏ để bảo tổn các sưu tầm này.

Sự thật của vấn đề này là Tòa Thánh có một ngân sách khá eo hẹp Nếu thế thì tại sao lại giữ những nghệ phẩm này? Vì tin vào một trong các sứ mệnh của Hội Thánh là một động lực truyền bá văn minh trong thế giới. Cũng như các thầy dòng thời trung cổ cẩn thận chép lại các sách cổ để cung cấp cho các thế hệ tương lai -- nếu không thì những văn bản này không còn nữa -- Hội Thánh tiếp tục bảo trì nghệ thuật để chúng không bị mai một với thời gian. Trong nền văn hóa sự chết ngày nay khi mà từ "văn minh" chỉ được dùng cách lỏng lẻo, sứ vụ truyền bá văn minh của Hội Thánh ngày nay còn quan trọng hơn bao giờ hết.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC

KHI NÀO NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐƯỢC LÃNH MỘT SỐ BÍ TÍCH TRONG GIÁO HỘI KHÁC..?

 

Hỏi: Xin Cha cho biết rõ :

1- Khi nào người Công Giáo được phép lãnh một số bí tích trong Giáo Hội khác ?

2- Người không Công Giáo có được rước Mình Thánh Chúa khi tham dự Thánh Lễ trong nhà thờ Công Giáo không ?

Trả lời:

I-  Người tín hữu hiệp thông trọn vẹn (full communon) với Giáo Hội Công Giáo khi tin rằng “ đó là Giáo Hội độc nhất của Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là duy nhất, thánh thiện ,công giáo và tông truyền…….. ..Giáo Hội ấy tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Prêrô và các Giám Mục hiệp thông với Ngài điều khiển..” (x. Lumen Gentium ,số 8).

Như thế, bình thường, người tín hữu Công Giáo không được phép tham dự với niềm tin và lãnh nhận bất cứ nghi thức hay ‘bí tích” nào trong các Giáo Hội ngoài Công Giáo. Nghĩa là không được hiệp thông (communion) trong niềm tin với bất cứ giáo phái nào ngoài Công Giáo. Nếu vì  giao tế mà phải tham dự nghi lễ của tôn giáo  nào khác thì người Công Gáio chỉ được tham dự vì xã giao và thân hữu (courtesy and fellowship) chứ không vì muốn chia sẻ niềm tin hay hiệp thông trọn vẹn với họ. Thí dụ, một số giáo phái Tin Lành cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho, nhưng họ không tin có sự hiện diện thực sự (real presence) của Chúa Kitô như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống tin trong bí tích Thánh Thể. Cho nên , nếu tín hữu Công Giáo,  vì xã giao mà phải tham dự một nghi lễ nào của anh  em Tin Lành, thì không được tham dự vào việc bẻ bánh và uống rượu này, vì làm như vậy là hiệp thông với họ trong niềm tin không có Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu. Và như thế sẽ mâu thuẫn với niềm tin và hiệp thông của mình trong Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội duy nhất mà Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng các Thánh Tông Đồ như Công Đồng Vaticanô II đã dạy trên đây.

Tuy nhiên , trong hoàn cảnh chưa hiệp nhất hiện nay giữa các Giáo Hội có chung một niềm tin vào Chúa Kitô nhưng chưa hiệp thông và hiệp nhất (communion and unity) trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, thì chúng ta cần biết những điều quan trọng  sau đây:

1- Trước hết, Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận Phép Rửa của mọi Giáo Hội khác nếu Phép này được làm với nước và công thức Chúa Ba Ngôi ( the Trinitarian Baptismal Formula). Do đó, những người đã được rửa tội đúng với công thức này trong các giáo phái khác sẽ không phải rửa tội lại mà chỉ cần tuyên xưng đức tin  khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo mà thôi.

2- Trong các Giáo Hội ly khai, chỉ có Giáo Hội Chính Thống Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga và vài nước Đông Âu là gần gũi với Giáo Hội Công Giáo hơn cả về mặt đức tin,thần học, kinh thánh, phụng vụ và bí tích. Các Giáo Hội này có đủ các bí tích hữu hiệu như Giáo Hội Công Giáo. (x.SGLGHCG,số  1399).

Vì thế , theo giáo luật và giáo lý của Giáo Hội thì :

    a- Khi vì nhu cầu thiêng liêng cần kíp mà không tìm được nhà thờ hay linh muc Công Giáo để xin lãnh các bí tích hòa giải, xức dầu và Thánh Thể, thì người Công Giáo được phép lãnh nhận các tích này nơi các thừa tác viên ngoài Công Giáo (Giáo Hội Chính Thống Đông Phương) vì  Giáo Hội này có các bí tích ấy.

    b- Các thừa tác viên Công Giáo (Giám mục, Linh mục) cũng có thể ban các bí tích đó  cho các tín hữu thuộc các Giáo Hội trên nếu họ tự ý xin và tỏ ra sẵn sàng lãnh nhận các bí tích này trong Giáo Hội Công Giáo.

    c- Riêng đối với các tín hữu thuộc các Giáo Hội khác, thì  chỉ trong trường hợp nguy tử nếu họ không thể đến được với các thừa tác viên trong Giáo Hội của họ, và nếụ họ thực sự muốn tuyên xưng đức tin trong Giáo Hội Công Giáo và muốn lãnh nhận các bí tích trên với lòng ao ước và chuẩn bị cần thiết  thì các thừa tác viên Công Giáo cũng được phép ban các bí tích ấy cho họ. Xin nhấn mạnh là chỉ trong trường hợp nguy tử và vì lợi ích thiêng liêng của người muốn thụ hưởng mà thôi. ( x. Canon #844 &1,2,3,4: SGLGHCG, số 1399, 1401).

2- Người không Công Giáo (trừ anh  em Chính Thống Đông Phương) tham dự Thánh lể trong nhà thờ Công Giáo không được phép rước Mình Máu Thánh Chúa vì thiếu sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo và không hiểu rõ giá trị thiêng liêng của việc cao trong này. Thừa tác viên Công Giáo, nếu biết rõ ai là người không Công Giáo lên rước lễ, thì không được phép trao Mình Thánh Chúa mà chỉ chúc lành cho họ mà thôi.

Tóm lại, chỉ có các tín hữu Công Giáo và Chính Thống Đông Phương  có thể lãnh các bí tích trong cả hai Giáo Hội này cách hợp pháp và hữu hiệu trong trường hợp cần thiết  vì ngăn trở thể  lý không cho phép họ lãnh nhận ở Giáo Hội mình. Thí dụ, ở nơi không có nhà thờ và linh muc Công Giáo, chỉ có nhà thờ Chính Thống, thì giáo dân được phép tham dự phụng vụ và rước Thánh Thể ở nhà thờ này, và ngược lại đối với các giáo hữu Chính Thống, nếu họ muốn.

Sỡ dĩ Giáo Hội cho phép điều này vì Giáo Hội nhìn nhận chức tư tế và phép Thánh Thể của Giáo Hội Chính Thống Đông Phương là Giáo Hội có nguồn gốc Tông Đồ thực sự. (Thánh Giacôbê đã truyền giáo ở vùng đất nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi Thánh Phêrô truyền giáo ở LaMã)  mặc dù cho đến nay Giáo Hội này chưa hiệp thông và hiệp nhất trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo.

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
 

VỀ MỤC LỤC
LỜI THƯA “XIN VÂNG” THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI

 

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, chúng ta như những chiếc thuyền con đang bơi giữa một đại dương thông tin mênh mông. Vô vàn con sóng tin tức tràn tới chung quanh chúng ta. Lúc thì êm dịu, lúc lại hung hãn. Tin tốt có, mà tin xấu cũng chẳng thiếu. Có tin nghe xong làm chúng ta vui mừng phấn khởi, lạc quan vui sống. Cũng có tin khiến chúng ta bối rối hoang mang, âu lo tư lự. Chúng ta không thể bỏ thuyền để lên bờ, gác ngoài tai mọi tin tức thế sự thăng trầm, trốn chạy thực tế để sống yên thân trong ốc đảo của riêng mình. Song chúng ta cũng không thể tiếp thu mọi tin tức thượng vàng hạ cám một cách ngây ngô, để mình bị lèo lái hoặc vùi dập bởi những làn sóng dữ. Trong bối cảnh đó, ngày lễ Đức Ma-ri-a được sứ thần truyền tin là một dịp rất tốt để chúng ta tìm cho mình một phương cách tiếp cận thông tin đúng đắn nhất, mang lại lợi ích cho bản thân chúng ta và cho những người chung quanh.           

*** 

Mỗi khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta lập lại lời sứ thần Gáp-ri-en chào Đức Ma-ri-a khi mở đầu cuộc truyền tin: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà. Đây chính là lời chúc phúc có ý nghĩa nhất, và cũng là lời chúc phúc có giá trị nhất cho một con người. Quả thế, không có mối phúc nào lớn hơn mối phúc của người được Thiên Chúa ở cùng. Khi cầu khẩn, người Việt chúng ta hay nguyện xin rằng: “Xin Trời phù hộ cho con. Xin Trời thương cứu giúp con. Và khi được toại nguyện, người ta cảm thấy rất hạnh phúc vì Trời đã nghe tiếng mình khẩn cầu. Vậy mà ở đây, khi không thể ngờ tới, Đức Ma-ri-a lại được chính Ông Trời ở với mình, chung nhà chung cửa, sớm tối cận kề. Thử hỏi có niềm hạnh phúc nào lớn lao hơn thế chăng? Có ai dám mơ tưởng đến niềm hạnh phúc quá sức tưởng tượng ấy chăng?

Theo sau lời chúc phúc, cũng là lời loan báo cho Đức Ma-ri-a biết tình trạng ân sủng tuyệt vời của Mẹ, sứ thần cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai Con Thiên Chúa. Đây quả là một tin hết sức trọng đại khiến Mẹ phải bối rối. Hơn nữa, Mẹ sẽ thụ thai như thế nào đây, khi mà Mẹ chưa hề chung chăn gối với ai? Thắc mắc của Đức Ma-ri-a được sứ thần giải đáp bằng một câu trả lời có sức thuyết phục một cách tuyệt đối, nhân danh quyền năng của Đấng Tối Cao. Kèm theo là một chứng cứ cụ thể đang xảy ra cho người chị họ của Mẹ. Đối chiếu với các câu Thiên Chúa trả lời cho tổ phụ Áp-ra-ham, cho ông Mô-sê, hay cho thánh Giu-se, chúng ta thấy Thiên Chúa rất tế nhị khi giao tiếp với từng đối tượng: để giải đáp thắc mắc của một thiếu nữ, Người đã chọn cách trả lời giản dị mà có hiệu quả nhất. Câu trả lời này đã mang lại cho Đức Ma-ri-a sự bình an sâu thẳm, Mẹ đã sẵn sàng lãnh nhận sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa trao phó cho Mẹ. Mẹ đã tiếp nhận được điều chính yếu trong sứ điệp truyền tin, Mẹ đã tin tưởng tuyệt đối vào sứ điệp ấy, và Mẹ sẽ sống hết mình cho điều mình xác tín.

*** 

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa gởi đến những sứ điệp có liên quan đến công cuộc cứu độ của Ngài. Trong cái đại dương thông tin mênh mông đang ùa tới với chúng ta mỗi ngày, Thiên Chúa vẫn không ngừng nói với chúng ta bằng tiếng nói của con người hôm nay. Cung cách giao tiếp của Thiên Chúa vẫn luôn tế nhị, thích ứng cho từng đối tượng mà Ngài muốn ngỏ lời. Nếu chịu khó lắng nghe, chúng ta sẽ thấy sứ điệp mà Thiên Chúa gởi đến cho mình cũng có những nét tương tự như sứ điệp truyền tin cho Đức Ma-ri-a. Thay cho lời chào của sứ thần, chúng ta có thể cảm thấy có một cái gì đó lay động linh hồn chúng ta và tạo cho chúng ta một cảm giác thiêng liêng huyền nhiệm. Trước cảm giác linh thiêng này, có thể chúng ta sẽ bối rối xao xuyến vì không biết chuyện gì đang xảy ra trong tâm hồn mình. Chúng ta có thể lờ đi không lưu tâm đến nó nữa. Trong trường hợp này, chúng ta sẽ không nhận được phần tiếp theo của sứ điệp. Nhưng nếu chúng ta để ý lắng nghe, chúng ta sẽ nhận được những sứ mạng mà Thiên Chúa muốn trao phó cho chúng ta. Đa số các sứ mạng này là những công việc bình lặng trong cuộc sống thường ngày, với mục đích đem ơn cứu độ đến cho chính chúng ta và cho những người khác. Nhưng cũng có lúc đó là những công việc có tầm ảnh hưởng lớn hơn, khó thực hiện hơn, và đôi khi vượt quá khả năng của chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta sẽ cảm thấy e ng