Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 69, Chúa nhật 15.04.2007


Các số báo đã phát hành              MỤC LỤC

Gia đình: nơi đầu tiên để học dấn thân làm việc xã hội                      ĐGH Gioan PhaoLo II

Trách Nhiệm của NGƯỜI Giám Mục và GIÁO DÂN TRONG LÒNG HỘI THÁNH        Gs. Nguyễn Văn Thành

SỨC MẠNH TÌNH YÊU !                                                                          Lm. Đỗ Vân Lực, op.

Đừng hoảng sợ!                                                                                 Lm. Nguyễn Ngọc Long

CHÚA SỐNG LẠI THẬT                                                                  HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

LÀM THẾ NÀO ĐỐI VỚI NHỮNG THÓI XẤU CỦA CON TRẺ?                   Lm. Lê Văn Quảng

12 Ðiều Mà Mọi Người Công Giáo Phải Trả Lời Ðược       GLV. Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

PHẢI CHĂNG CHỈ CÓ NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐƯỢC CỨU ĐỘ?              LM PX. Ngô Tôn Huấn

LỜI CHA KHUYÊN                                                             Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Hiểu kẻ xúc phạm đến mình                     Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss chyển ngữ   

Thánh giá, Sách dạy sự khôn ngoan thật                               + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

GHEN GHÉT                                                                                Chuyện phiếm của Gã Siêu.


Gia đình: nơi đầu tiên để học dấn thân làm việc xã hội

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương III

THẦY ĐÃ SAI CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ

Tinh thần đồng trách nhiệm của Tín hữu giáo dân trong Giáo hội Truyền giáo

Gia đình: nơi đầu tiên để học dấn thân làm việc xã hội

40. Nhân vị con người đã sẵn có tầm vóc xã hội trong cơ cấu tự nhiên của nó, vì tự thâm tâm, nó được kêu gọi để sống hiệp nhất và hiến thân cho kẻ khác: "Thiên Chúa, lo lắng săn sóc mọi người như một hìên phụ đã muốn cho mọi người thành một gia đình và đôí đãi với nhau như anh em". (144) Như thế, xã hội là kết qủa và là dấu chỉ của đặc tính xã hội của con người, nó chỉ thàmh một thực thể hoàn toàn khì nào nó trở tnành một công đồng nhân vị.

Vì thế người tín hữu giáo dân dấn thân làm việc tông đồ trong trật tự trần thế có nghĩa là phục vụ cá nhân con người, cá nhân duy nhất và không ai có thể thay thế được, cũng có nghĩa là phục vụ tất cả mọi người.

Vợ chồng và gia đình, đó là biểu hiệu đầu tiên, nguyên thủy của tầm vóc xã hội con người. "Nhưng Thiên Chúa không dựng nên con người đơn độc: từ nguyên thủy, "Ngài dựng nên một nam một nữ" (Gn. l:27). Xã hội gồm một nam một nữ đó là biểu lộ đầu tiên của sự hiệp thông người với người". (145) Chúa Gìêsu đã để ý đem lại phẩm giá cho vợ chồng và nền tảng vững chắc cho gia đình (Mt. 9:3-9) Thánh Phaolô đã cho chúng ta thấy mốl liên quan sâu xa giữa hôn nhân với mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội . (Eph.5.22 và 6.4, Col. 3:18-21; 1 Pt. 3:1-7).

Vợ chồng và gia đình là nơi đầu tiên để các tín hữu giáo dân dấn thần vào xã hội. Nhưng hành động dấn thân này chỉ có ý nghĩa khi họ xác tín về giá trị duy nhất và không thay thế được của gia đình trong việc phát huy xã hội và Gíáo Hội. Gia đình là chiếc nôi của sự sống và tình thương, trong đó con người "chào đời" và "lớn lên". Gia đình vì thế là tế bào nền tảng của xã hội. Cộng đồng nhỏ bé này phải được lo lắng săn sóc đặc biệt, nhất là mỗi khi lòng ích kỷ của con người, các chiên dịch chống sinh sản, và tình cảnh khó nghèo khốn khổ về phương diện vật chất, văn hóa và luân lý. Nhất là tâm trạng tìm kiêm lạc thú, chạy đua tiêu thụ làm cho khô cạn các nguồn mạch sự sống, trong lúc các ý thức hệ, các hệ thống khác nhau, cũng như các hình thức bất cần sự sống hay thiêú săn sóc phá hoại vai trò giáo dục riêng của gia đình.

Việc tông đồ của các tín hứu giáo dân trước tiên là làm cho gia đình ý thức được nguyên tính của mình như nền tảng căn bản đầu tiên của xã hội, và ý thức được vai trò của mình trong xã hội, để mỗi ngày mỗi đóng vai trò chủ động và trách nhiệm cho sự trưởng thành của mình và tham gia vào đời sống xã hội. Như vậy gia đình có thể và phải đòi hỏi mọi người, nhất là chính quyền, phải tôn trọng các quyền lợi của mình để cứu vãn mình và cứu vãn xã hội.

Tất cả những điều viết về gia đình có liên quan đến sự phát triển xã hội (146) trong bức Tông Huấn về Gia Đình (Familiaris consortio), và những gì Giáo Hội đã nói trong Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1980 trong "Hiến Chương các Quyền lợi của Gia Đình", đã trở thành một chương trình hoạt động đầy đủ và có cơ cấu cho tất cả các tín hữu giáo dân theo danh nghĩa mỗi người đang lưu tâm cổ võ các giá trị và các đòi hỏi của gia đình.

Chương trình này càng phải cấp tốc thực hiện một cách quyết liệt vì các đe dọa làm lung lạc và phá tan gia đình ngày càng trầm trọng, cũng như ngày càng trở nên nặng nề và hệ thống hóa chiều hướng muốn loại bỏ gia đình và tiêu diệt vai trò quan trọng của nó đối với xã hội.

Như kinh nghiệm cho thấy, văn minh và tình liên đới các dân tộc một phần lớn tuỳ thuộc ở phẩm cách tốt xấu của gia đmh. Như thế việc tông đồ gia đình mang một giá trị xã hội không thể so sánh được. Giáo Hội rất xác tín về đìêu này, vì biết rằng "tương lai của nhân loại phải đi qua gia đình". (147)

Đức ái là linh hồn, là sự nâng đữ của tình liên đđi

41. Việc phục vụ xã hội diễn tả và thực hiện bằng nhiều cách thế khác nhau, có những cách tự do riêng tư hoặc được quy định theo một thể chế, có việc nhằm phục vụ từng nhóm người hoặc từng cộng đồng.

Toàn thể Giáo Hội từ bản chất của mình đã được trực tiếp kêu gọi phục vụ đức ái: "Giáo Hội thánh thiện đặt bữa ăn thân tình "Agape" đi liền với bữa Tiệc Thánh Thể để biểu lộ sự hợp nhất hoàn toàn trong tình yêu thương chung quanh Chúa Kitô. Như vậy, bất cứ thời đại nào, người ta cũng nhận ra Giáo Hội nhờ tình yêu này, và Gláo Hội đã tự đảm nhận những công tác bác ái như là nhiệm vụ và quyền lợi bất khả di nhượng của mình, dầu Giáo Hội vẫn hân hoan trước những sáng kiến của người khác. Vì thế, Giáo Hội đặc biệt đề cao lòng thương xót đối với người nghèo đói bệnh tật, cũng như những công tác mệnh danh là từ thiện và tương trợ để xoa dịu nỗi thống khổ của nhân loại". (148) Đức bác ái đôí với anh em, thực hiện dưới hình thức các việc từ thiện thể xác hay tinh thần, hình thức đã có từ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ, đó là nội dung cấp thời thường xuyên của hoạt động đem đạo vào đời của các tín hữu giáo dân. Khi thi hành bác ái đôl với anh em, người tín hữu giáo dân sống và nêu cao sự tham gìa vào vương quyền của Đức Kltô, nghĩa là tham gia vào quyền năng của Con Người là Đấng "không đến để hưởng thụ nhưng để phục vụ" (Mk. 10. 45). Họ sống và nêu cao vương quyền một cách rất đơn giản, theo tầm mức của mọi người và mọi thời đại, vì Đức ái là một ơn huệ cao cả nhất Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Giáo Hội (1 Cor. 13:13) và để đem lại lợi ích cho nhân loại. Đức ái đem lại sinh lực và nâng đỡ cho tình liên đới sống động, lưu tâm đến mọi nhu cầu của con người.

Một Đức ái như thế không chỉ được nhận thức do riêng cá nhân mà còn cần thiết phải được nhận thức do các đoàn thể, và các cộng đồng nứa. Không một ai cũng không một cái gì có thể thay thế nó được, cho đến cả các thể chế hay sáng kiến công cộng, là những tổ chức chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của một dân tộc thôi, những nhu cầu thường rất trầm trọng và lớn lao trong thời đại này. Ngược lại, Đức ái này càng khẩn thiết hơn, khi mà các thể chế từ thiện đã trở nên qúa phức tạp trong tổ chức và có tham vọng nắm trong tay quyền quản lý hết tất cả mọi phạm vi. Cuôí cùng trở nên vô hiệu bởi tổ chức quan liêu, bởi tinh thần làm việc quan lại, bởi lòng tham lợi quá đáng, và rồi không còn ai lưu tâm đến nứa.

Chính trong hoàn cảnh này đã xuất hiện và lan tràn nhất là trong xã hội có tổ chức, những hình thức tự nguyện phục vụ công tác. Tự nguyện là cách làm tông đồ mà người tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ, đóng vai trò chính yếu. Họ xả thân quên mình cho những người anh em từng bị các tổ chức tự cho mình là vì xã hội bỏ rơi họ.

Đời sống xã hội: Cho mọi người và vì mọi người

42. Đức ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách rời khỏi công lý. Cả hai theo cách riêng biệt của mình đòi buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận thực sự các quyền lợi của con người, vì xã hội với các cơ cấu và thể chế được đặt ra vì con người.(149) Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế, nghĩa là "đem đạo vào đời" theo ý nghĩa là phục vụ con người và xã hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đôl không thể từ chôl tham gia vào "chính trị", nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tê, xã hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhiều lần qủa quyết điều này là mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị dưới nhiều hình thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà cầm quyền, quốc hội, giai cầp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là nhứng kẻ lợi dụng thời cơ, tôn thờ quyền bính, ích kỷ tham nhũng. Chúng ta cũng thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lý. Tất cả lời khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người Công Giáo trốn tránh chính trị hay nghi ngờ việc chung.

Ngược lại, những lời sau đây của Công Đồng Vaticanô II rất có ý nghĩa: "Giáo Hội ca ngợi và quý trọng việc làm của nhứng người, vì công ích mà dấn thân phục vụ con người và lãnh nhận gánh nặng của trách nhiệm này". (150)

Một đường lôí chính trị vì dân vì nước luôn luôn lấy công ích làm tiêu chuán căn bản, vì công ích là ích lợi của mọi người và của từng người, ích lợi cung ứng và được bảo đảm để mọi cá nhân cũng như đoàn thể tự do chấp nhận với tinh thần trách nhiệm: "Vì thế các tổ chức chính trị chỉ hiện hữu vì công ích. Chính công ích là lý do tồn tại, ý nghĩa và là căn bản pháp lý cho các tổ chức chính trị. Công ích nơi đây bao gồm tất cả nhứng điều kiện của đời sống xã hội; nhờ những điều kiện này, cá nhân, gia đình và đoàn thể có cơ hội phát triển trọn vẹn và dễ dàng hơn".(151)

Hơn nữa, một đường lối chính trị vì dân vì nước phải chọn một tôn chỉ thủy chung là bênh vực và cổ võ công lý, được hiểu như một "đức tính" mọi người phải có, và cũng là một "sức mạnh" luân lý nâng đỡ bất cứ ai cố gắng hổ trợ các quyền lợi và nghĩa vụ của con người và mỗi người trên nền tảng nhân phẩm.

Kẻ thi hành quyền bính chính trị phải lấy tinh thần phục vụ làm nền tảng. Tinh thần phục vụ này với khả năng và hiệu năng trong việc lãnh đạo là điều rất cần thiết để làm cho các hoạt động của các nhà chính trị được "sáng suốt" và "trong sạch" như dân chúng thường đòi hỏi một cách rất hợp lý. Muốn thế cần phải thẳng thắn tranh đấu điệt trừ hết mọi dụng ý toan tính như vận động xoay trở, gian trá, nói láo, thụt công quỹ để trục lợi hay mua chuộc, xử dụng các phương cách mờ ám và bất hợp pháp để chiếm đoạt bằng mọi giá duy trì và mở rộng quyền hành.

Các tín hữu giáo dân dấn thân vào chính trị phải thẳng thắn tôn trọng sự tự lập của các thực tại trần thế theo nghĩa của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng: "...Điều rất quan trọng là cần nhận thức chính xác về môí tương quan giữa cộng đồng chính trị và Giáo Hội, nhất là trong một xã hội gồm nhiều thành phần. Cũng cần phải phân biệt minh bạch giữa hành động của các tín hữu hoặc cá nhần hoặc đọàn thể với danh nghĩa công dân dưới sự hướng dẫn của lương tâm Công Giáo, và những hành động của các tín hữu khi họ nhân danh Giáo Hội và hợp nhất với các vị chủ chăn của họ. Vì căn cứ vào vai trò và thẩm quyền của mình, Giáo Hội không cách nào bị đồng hoá với một tập thể chính trị và cũng không hề cầú kết với bất cứ hệ thống chính trị nào vì Giáo Hội vừa là dấu chỉ, vừa là đảm bảo cho tính cách siêu việt của con người".(152)

Đồng thời các tín hữu giáo dân còn có nghĩa vụ cấp bách làm chứng nhân cho các giá trị con người và các giá trị Phúc âm liên kết mật thiết với chính các hoạt động chính trị, như sự tự do và công bình tình liên đới và lòng tận tụy trung thành, vô vị lợi đối với công ích, tình yêu đặc biệt với người nghèo khó và thấp hèn. Muốn thế các tín hữu giáo dân luôn luôn phải tìm nghị lực thiêng liêng trong việc tham gia thực sự vào đời sống Giáo Hội và lấy lý thuyết xã hội của Giáo Hội làm ánh sáng chỉ đạo. Trong công việc nặng nề này họ cần có các công đồng Công Giáo và các vị chủ chăn theo dõi và hổ trợ. (153)

Một đường lôl chính trị nhằm phát triển con người phải cần đến tình liên đới làm phương tiện và kiểu mẫu. Tình liên đới này đòi hỏi sự tham gia tích cực và ý thức trách nhiệm của mọi người vào đời sống chính trị, từ mỗi một người công dân đến các đoàn thể khác nhau, từ các nghiệp đoàn đến các đảng phái; tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta đèu là kẻ thừa hưởng và là người tham gia tích cực vào chính trị. Trong tình trạng này, như Ta đã viết trong Thông Điệp "Nỗi lo âu về tình cảnh xã hội" (Sol-licitudo), tình hên đới "không phải là một tình cảm thương hại mơ hồ hay là một xúc cảm động lòng trắc ẩn nông cạn trước bao nhiêu khốn khổ của nhiều người xa gần. Ngược lại, đây là một sự dấn thân quyết liệt vững chãi, bền chí để thể hiện công ích. Nói cách khác, để thực hiện lợi ích cho mọi người và mỗi người, để chúng ta tất cả, mang lấy trách nhiệm thực sự cho tất cả." (154)

Trong thế giới hôm nay, tình liên đớì chính trì phải vượt khỏi ranh giới quốc gia hay một khối quốc gia, nó phải bao gồm cả một chân trời mở rộng trên biên cương lục địa hay thế giới.

Kết quả của hoạt động chính trị liên đới là Hoà bình. Đó là đĩều mọi người ước vọng nhưng còn xa vời. Các tín hữu giáo dân không thể khoanh tay ngồi nhìn như kẻ bàng quan lười bịếng trước những gì phá hoại hay làm tổn thương hoà bình: như vũ lực và chiên tranh, tra tấn hay khủng bố, trại tập trung, quân sự hoá chính trị, thi đua võ trang, đe dọa nguyên tử. Ngược lại, là môn đệ Đức Giêsu Kitô "Vua Hoà bình" (Is. 9.5) "Hoà bình của chúng ta" (Eph. 2:14) các tín hữu giáo dân phải nhận lãnh bổn phận làm "kẻ kiến tạo hoà bình" (Mt. 5. 9) bằng một cuộc sống trở về với Chúa và bằng các hoạt động vì chân lý, vì tự do, vì công bình và bác ái là những nền móng vững chắc của hòa bình. (155)

Hợp tác với những người thật lòng đi tìm hoà bình và xử dụng những cơ quan riêng biệt và các thể chế quốc gia và quốc tế, người tín hữu giáo dân phải cổ võ một nền giáo dục căn bản để chống lại với một nền văn hoá ích kỷ ,hận thù để phát huy nền văn hoá liên đới trên mọi bình diện. Vì sự liên đới này "là con đường của hoà bình và của phát triển".(156) Trong viễn tượng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã kêu mời người Công Giáo phải tống khứ mọi hình thức vũ lực, cổ võ thái độ đôl thoại, hoà bình và kêu mời họ dấn thân để kiến tạo một trật tự xã hội và quôc tế công bình. (157)

Đặt Con người vào trung tâm điểm của đời sống kinh tế xã hội

43. Điểm hoạt động căn bản của việc phục vụ xã hội của tín hữu giáo dân, nằm tại vấn đề kinh tế xã hội; chìa khóa của vấn đề này là tổ chức lao động.

Tính cách trầm trọng hiện tại của vấn đề này, theo cái nhìn chung của sự phát tnển và dựa trên đề nghị giải quyết của học thuyết xã hội của Giáo Hội, mà Ta mới nhắc lại trong thông điệp "Nỗi lo âu về tình cảnh xã hội" (Sol- licitudo). Ta ước ao tất cả mọi người hãy tham khảo lại nhất là các tín hữu giáo dân.

Trong các điểm quan trọng của học thuyết xã hội của Giáo Hội, có nguyên tắc này: mọi người đều được quyền hưởng của cải trần gian theo ý định của Thiên Chúa. Những thứ này được ban cho con người và mỗi người làm phương tiện để phát triển một đời sống làm người đúng mức. Tư sản là sự thể hiện mục đích ấy và còn có công dụng xã hội tự trong bản tính nó. Một cách cụ thể, lao động của đàn ông hay đàn bà là dụng cụ rất thông thường, rất cấn thiết để phát triển đời sống kinh tế, dụng cụ này là một quyền lợi và một nghĩa vụ đôí với mỗi người. Tất cả những điều này thuộc về sứ mệnh của người tín hữu giáo dân một cách đặc biệt. Mục đích và tiêu chuẩn của sự hiện diện và hoạt động của họ được Công Đồng Vaticanô II đúc kết như sau: "Ngay trong đời sống kinh tế xã hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi ích của toàn thể xã hội phải được tôn trọng và thăng tiến. Vì con người là tác giả, là tâm điẽm và mục đích của tất cả đời sống kinh tế xã hộl " (158)

Giữa bao nhiêu biên đổi của thế giới lao động và kinh tế đang bị đảo lộn, anh em tín hữu giáo dân phải là kẻ tiền phong đứng ra tìm các giải pháp cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, tranh đấu để chấm dứt các bất công do các tổ chức bất công của lao động, cố gắng làm cho nơi làm việc trở thành một nơi sống của cộng đồng nhân vị được kính trọng vì đặc tính và quyền lợi tham gia của các nhân vị, và phải hết mình phát triển những môí giây liên đới mới giữa những anh em cùng làm chung một việc, giúp sáng kiên về hình thức kinh doanh mới, và thúc đẩy duyệt lại các hệ thống thương mại, tài chánh và trao đổi kỹ thuật.

Để thực hiện điều này, các tín hữu giáo dân phải chu toàn bổn phận theo khả năng nghề nghiệp một cách ngay thắng, với tinh thán công giáo như là phương tiện thánh hóa bản thân, (159) theo lời chỉ dạy của Công Đồng: "Nhờ việc làm, con người theo lệ thường là có ý nuôi sống mình và gia đình, liên kết với anh em và phục vụ họ, có thể thực thi bác ái đích thực và góp công vào việc kiện toàn công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn nữa chúng tôi cho rằng nhờ việc làm của mình, con người cộng tác vào chính công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã nâng cao giá trị của việc làm khi Ngài làm việc với chính hai bàn tay của mình tại Nagiarét".(160)

Đi đôi với đời sống kinh tế xã hội, ngày nay lại xuất hiện thêm vấn đề ngày càng gay go, đó là vấn đề "Môi sinh" (Ecological). Không ai chối cãi được là con người đã nhận lãnh bởi Thiên Chúa trách nhiệm "chế ngư" các tạo vật và "vun trồng mảnh vườn" thế giới. Những nghĩa vụ này con người phải chu toàn với một lòng tôn trọng hình ảnh của Thượng Đế mà họ đã lãnh nhận với tình yêu và lý trí, phải có trách nhiệm về các ơn Chúa đã ban tràn trề và còn tiếp tục ban cho họ. Con người làm chủ một ơn mà họ phải truyền lại cho các thế hệ mai sau, ơn ấy phải làm cho nó tất đẹp hơn nữa nếu có thể. Vì các thế hệ này cũng là những người được quyền nhận lãnh các ân huê của Chúa: "Việc chế ngự thụ tạo Thiên Chúa đã ban cho người ... không phải là một quyền độc đoán, và chúng ta không thể nói đến tự do "xử dụng và lợi dụng" hoặc sắp đặt sự vật như ý mình muốn. Khi Thiên Chúa cấm Adong và Evà "ăn trái cá'm" (Gn. 2:16-17), điều ấy có nghĩa là trong khuôn khổ các tạo vật hiện hữu... Chúng ta không phải chỉ vâng theo luật lệ luân lý không thể bỏ qua các nhận xét liên quan đến việc xử dụng các yếu tố thiên nhiên, đến việc phải tái tạo các nguồn tài nguyên và hậu quả của một nền kỹ nghệ vô trật tự. Một lần nữa các nhận xét này đề nghị với lương tâm chúng ta phải lưu ý đến bình diện luân lý của phát triển ". (161)

Phúc âm hóa vãn hóa và các nền văn hóa của con người

44. Việc phục vụ con người và xã hội được diễn tả và thực hiện qua việc tạo nên và truyền thông văn hóa, một trong những nghĩa vụ nặng nề cho con người sống chung và tiến hóa của xã hội ngày nay. "Văn hóa" được Công đồng hiểu nghĩa như sau: "Theo nghĩa tổng quát, chữ "văn hóa" ám chỉ bao gồm tất cả những gì con người dừng để trau giồi các tài năng của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự trái đất bằng hiểu biết và lao động; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế, sau hết diễn tả, thông truyền và bảo tồn những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn" (162) Theo nghĩa này, văn hóa phải được xem như là của chung của mỗi dân tộc, là sự diễn tả phầm giá, tự do và óc sáng tạo của họ, và là chứng tá chặng đường lịch sử. Chỉ khi nào nó đi vào lòng văn hóa và qua một nền văn hóa, thì Đức tin Công giáo mới thực sự tham dự vào lịch sử và kiên tạo lịch sử. Trước môt nền văn hóa xem ra lạc xa đức tin công giáo và có khi trái ngược với các giá trị nhần bản,(163) cũng như đứng trước một thứ văn hóa khoa học và kỹ thuật là văn hóa bất lực để trả lời cho những khát vọng chân lý và điều thiện đang nung nầú tâm hồn con người, Giáo Hội rất ý thức bổn phận cấp bách, nhất là về phương diện mục vụ, phải lưu tâm đặc biệt đến văn hóa.

Vì thế Giáo Hội yêu cầu các tín hữu giáo dân phải hiện diện một cách can đảm và với óc sáng tạo thông minh, trong các chức vụ quan trọng của văn hóa như học đường, đại học, trung tâm nghiên cứu nhân bản. Sự hiện diện này không chỉ có mục đích nhìn nhận hay thanh lọc các yếu tố của văn hóa hiện có bằng những phê bình khôn ngoan, mà còn có ý làm tăng giá trị của nó nhờ kho tàng phong phú của Phúc âm và Đức Tin công giáo. Những điều Công Đồng Vatican II viết về môl liên lạc giữa Phúc âm và văn hóa đều đúng với sự kiện lịch sử không thay đôi và đồng thời là một lý tưởng hoạt động thức thời và khẩn thiêt. Đây là một chương trình quan trọng Giáo Hội phải đặc biệt chịu trách nhiệm nhất là các tín hữu giáo dân. "Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới đời sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống lại và loại bỏ những sai lầm và tai họa phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe dọa. Phúc âm không ngừng tinh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Những đức tính của mọi thời đại và mọi dân tộc được Phúc âm làm cho phong phú từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô nhờ những ân huệ bởi Trời. Như thê, trong khi chu toàn bổn phận riêng, Giáo Hội cũng đồng thời thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hóa nhân loại, và nhờ hoạt động của mình, ngay cả trong các nghi lễ phụng vu Giáo Hội giáo dục cho con người đạt tới tự do nội tâm".(164)

Ở đây cũng nên nhắc lại những lời thật ý nghĩa Tông Huấn của Đức Phaolô VI "Phải rao truyền Phúc âm" (Evangehi nuntiandi) khi nhờ thần lực Sứ điệp của Thiên Chúa, mà Giáo Hội rao truyền (Rom.11:16, 1 Cor.1:18, 2:4), Giáo Hội tìm cách cải hóa lương tâm cá nhân và lương tâm con người, cải hóa hoạt động, đời sống và cảnh vực thực tại của con người. Hiện giờ sinh hoạt của nhân loại biến đổi. Đối với Giáo Hội, ván đề không có nghĩa là rao giảng Phúc âm cho từng vùng đất môi ngày càng rộng lớn, hoặc cho các dân tộc ngày càng đông đảo, nhưng là đạt đến và nhờ sức mạnh Phúc âm chưyển hướng tiêu chuẩn phán đoán, các giá trị quyết định, các trọng tâm sinh hoạt, các đường hướng tư tưởng, các nguồn cảm hứng, và lôí sống của nhân loại khi nó đôỉ ngược với Lời Chúa và chương trình cứu rỗi. Tóm lại : Phúc-âm-hóa không phải như một cách trang trí, một lớp sưn bên ngoài, nhưng bằng một cách sống chết, thấm tận xương tủy, nghĩa là Phúc-âm-hóa các nền văn hóa của con người. Sự đổ vỡ giữa Phúc âm và văn hóa đó là thảm kịch của thời đại chúng ta, và cũng đã là thảm kịch của các thời đại xưa. Vì thế phải cố sức để thực hiện Phúc- âm-hóa văn hóa, hay nói đúng hơn các nền văn hóa". (165)

Con đường hiện tại rất thuận lợi cho việc cấu tạo và trao đổi văn hóa là các phương tiện truyền thông xã hội . (166) Thế giới của truyền thông xã hội, nhờ sự phát tnển mau lẹ của các phát minh và nhờ ảnh hưởng của nó bao gồm không gian và đồng thời sâu đậm trên tâm trạng và phong tục con người, nó đã trở thành một ranh giới mới cho sứ mệnh của Giáo Hội. Đặc biệt trách nhiệm nghề nghiệp của các tín hữu giáo dân trong địa hạt này, hoặc là trách nhiệm với danh nghĩa cá nhân hay trách nhiệm với danh nghĩa các thể chế cộng đồng, bất cứ trên danh nghĩa nào, trách nhiệm họ phải được nhìn nhận với toàn giá trị của nó, và phải được nâng đỡ về mặt vật chất, tinh thần và mục vụ liên quan đến việc xử dụng các phương tiện truyền thông. Nghĩa là việc sán xuất chương trình hay việc thâu nhận các chương trình ấy, chúng ta cần phải giáo dục óc phê bình ưa chuộng sự thật và đồng thời hành động nhằm bênh vực tự do và tôn trọng phẩm giá con người, và hổ trợ nền văn hóa chân thực của các dân tộc, bằng cách can đảm khước từ mọi hình thức độc quyền và tráo trở.

Trách nhiệm tông đồ của người tín hữu giáo dân không chỉ dừng lại ở vị thế bênh vực mà thôi: trên khắp mọi nẻo đường thế giới, ngay trên lãnh vực báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, Phúc âm Cứu rỗi phải được loan truyền cho mọl người.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC

Trách Nhiệm của NGƯỜI Giám Mục và GIÁO DÂN TRONG LÒNG HỘI THÁNH

 

(Nhận định về bức thư ngỏ của ký giả Domenico Del Rio) 

Kính gủi TS www.chungnhanduckito.net

Nhiều độc giả gửi thư yêu cầu tôi phổ biến lại bài báo tôi đã viết, cách đây 6 năm. Lý do được đưa ra: nhiều nhận xét của ký giả Domenico Del Rio còn thích hợp với hoàn cảnh hiện nay… Tôi xin kinh chuyển lời yêu cầu nầy đến Tòa Soạn.

NGUYỄN Văn Thành Lausanne, Thụy Sĩ

Số báo «Tương Lai» phát hành ngày Chủ Nhật 28 tháng 10 năm 2001, đã đăng tải bài phát biểu «Những người Cha của sự dịu hiền nhưng có khả năng thịnh nộ». Tác giả là nhà báo lão thành, đã từng cộng tác với nhật báo «Quan sát viên Rôma» và Đài Phát Thanh Vatican.

Dưới hình thức một bức thư ngỏ, tác giả công khai phổ biến một số nguyện vọng chủ đạo, trước mặt mọi người thuộc năm châu bốn biển. Nhưng trong bài báo, tác giả chỉ tự xác định mình là «người tín hữu nhỏ bé và già nua», muốn gửi tâm tư và nguyện vọng của lòng mình cho «các giám mục trẻ trung» vừa kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục tại Rôma.

***

Trong phần MỘT, tác giả muốn nhắc lại cho các chủ chăn «nhiều lời dốc quyết TỐT LÀNH» của các bậc đàn anh, khi kết thúc Công Đồng Vatican 2, cách đây 40 năm về trước. Vào những ngày ấy, một số giám mục ngày nay chưa tròn 10 tuổi đời.

Ngoài việc dấn thân rao giảng Cái Chết và Sống Lại của Chúa Giêsu Kitô, các nghị phụ lúc bấy giờ đã đề xuất cho mình những mục tiêu thiết thực và cụ thể như sau :

 

1.- Sống đơn sơ giữa các tín hữu và với các tín hữu ;

2.- Khước từ những hào nhoáng bên ngoài, những thực tại giàu sang và quyền thế ;

3.- Chăm lo các người nghèo khổ ;

4.- Coi thừa tác vụ của mình như một việc phục vụ kẻ khác ;

5.- Can đảm lắng nghe Lời khiển trách của Tiên Tri  Êdêkien, để ngày ngày tìm cách hóa giải những tệ đoan đang hoành hành trong hàng ngủ chủ chăn :

-         Chỉ lo CHĂN mình,

-         Không chuyền sức cho người yếu đuối,

-         Không chữa lành người bệnh tật,

-         Không băng bó người bị thương tích,

-         Không đi tìm người thất lạc trở về.

Phải chăng Lời của Thánh  Augustinô hôm nay đang còn là ĐƯỜNG ĐI NẺO VỀ của mỗi giám mục giữa đoàn chiên của mình ?

        « GIỮA anh chị em và NHƯ anh chị em, tôi là một TÍN HỮU.

        « VÌ anh chị em và CHO anh chị em, tôi LÀM giám mục».

***

Trong phần HAI, ký giả Domenico Del Rio «ước mong» các giám mục trẻ trung từ THĐGM trở về địa phận, SỐNG và THI HÀNH trách vụ của mình với những «Lời Dốc Quyết Tốt Lành» như sau :

1.- Sống đời sống khó nghèo, vì vững tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa trong mọi sự ;

2.- Trở nên TIÊN TRI, can đảm làm Phát ngôn viên của Thiên Chúa : «Nói To, nói Lớn, không sợ hãi, khi rao giảng Lời Chúa» ;

3.- Biết ăn nói NGỌT NGÀO khi tuyên xưng Lời Chúa trước mắt mọi người. Nhưng đồng thời cũng BIẾT Tố Cáo, BIẾT Thịnh nộ. BIẾT cầm Roi, xua đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền Thờ. Với lớp TRÍ THỨC của Thời Đại, có những Lời nẩy lửa như : «Quân Giả Hình, loài Rắn Rết, loài Rắn Độc, Mồ Chôn Xác Chết, Quét vôi bên ngoài, Đầy Hôi Thối…» ;

4.- Không xu thời chạy theo Phong Trào «NEW AGE, Thời Đại Mới» ;

5.- Không hèn nhát rút lại Lời Chúa, khi có người không chịu lắng nghe, giận hờn bỏ ra đi, vì «Lời Ngài là Chân Lý, ban Sự Sống đời đời».

Nói tóm lại, bất cứ ai nhìn vào con mắt của vị chủ chăn, đều NHẬN được Hồng Ân Tha Thứ của Thiên Chúa, lúc họ ra đi.

***

Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu lá thư ngỏ của ký giả Domenico Del Rio, tôi không có gì để thêm bớt về mặt nội dung. Toàn bộ nguyện vọng của tác giả đều ăn khớp với Tin Mừng của Đức Kitô, cũng như phản ảnh các Huấn Thị của Hội Thánh. Chắc hẳn, trong suốt thời gian họp Hội Đồng tại Rôma, các giám mục trẻ trung cũng đã có nhiều dịp lắng nghe và ghi nhận những điều khá tương tự. Tuy nhiên, câu hỏi tôi muốn nêu ra là : Tác giả đặt mình ở vị trí nào để phát biểu : Ký giả ? Người Tín Hữu lão thành và có tâm huyết đối với các giám mục vừa được thụ phong ? Hay là với tư cách một chuyên viên, một giáo sư được chỉ định để thuyết giảng về vai trò và thể thức lãnh đạo của các giám mục, trong lòng Hội Thánh hoặc Địa phận ?

Phát biểu là quyền lợi của mỗi người công dân trong một đất nước. Của mỗi người tín hữu trong lòng Hội Thánh. Mỗi lời nói phải được trân trọng như một VIÊN GẠCH góp công XÂY DỰNG Ngôi Nhà của Thiên Chúa, trong nhiều hoàn cảnh và địa hạt khác nhau. Cho nên, dù ở vị trí nào, ai ai cũng được hoan nghênh và cổ vũ, để phát biểu, bày tỏ ý kiến tích cực của mình.

Tuy nhiên, để mang lại lợi ích cho mình và cho người khác, người phát biểu cần xác định, một cách rõ rệt, mục tiêu xây dựng Hội Thánh của chính mình. Khi quá ôm đồm hay là còn mù mờ về bản sắc của mình, chúng ta có thể gây ra nhiều ngộ nhận. Chúng ta trích dẫn Kinh Thánh, để ánh sáng Lời Chúa, tôn vinh Danh của Ngài ?  Hay là chúng ta nuôi ẵm một ý đồ, một toan tính hoàn toàn chủ quan ẩn núp ở bên dưới ?  Chứng minh ý thức hệ và lập trường chính trị ?  

Thứ nhất, nếu tôi phát biểu với tư cách là một ký giả, tôi sẽ nêu ra những trường hợp khách quan, cụ thể đang có mặt trong thời sự ngày hôm nay.

Ví dụ, trong những biến cố khủng bố đã và đang xảy ra ở Hoa Kỳ, thế nào là làm phát ngôn viên của Thiên Chúa ?  Các giám mục trẻ trung có thể và có bổn phận đề xuất những gì ?  Rao giảng Lời Chúa thế nào cho các vị lãnh đạo, cho anh chị em đồng bào của mình ?

Trường hợp nào nên nói ? Trong hoàn cảnh nào, chúng ta cần thinh lặng, bắt chước Đức Kitô, khi Ngài đứng trước Philatô ? Thinh lặng chưa hẳn là HÈN NHÁT, như báo chí có xu thế phóng đại… trong một vài trường hợp đang xảy ra trong lòng quê hương và đất nước.

Có bao nhiêu công trình đang được LÀM, trong âm thầm và kín đáo. Trong khi đó, chúng ta có xu thế khua chiêng gõ mõ và khiêu khích… bằng cách nhấn mạnh, tố cáo, phê phán những điều chưa được làm, chưa thể làm. Chúng ta phát biểu từ ngoài, từ trên… một cách trịch thượng. Có bao giờ chúng ta ở trong, ở giữa, hòa mình để đồng hành và chia sẻ ?  Chúng ta hãy bắt chước Thiên Chúa : Xuống Thế, Làm Người, đóng lều, ăn khoai, ăn mì với anh chị em dồng hương, đồng bào của mình.

Nhìn một cánh đồng trong mùa đông giá lạnh, tôi chỉ thấy cỏ cây khô héo, cảnh vật tiêu điều, lá rụng tràn đầy… không có bóng hình con người lui tới sinh hoạt. Nhưng, để làm người và giúp kẻ khác làm người, tôi phải có khả năng THẤY cho kỳ được rằng : Độ một vài tháng sắp tới, bao nhiêu bắp khoai, lúa đậu và các loại ngủ cốc sẽ phơi phới mộc lên xanh tươi. Thấy được như vậy, tôi mới kêu mời kẻ khác cuốc đất, gieo vụ mùa với tôi, như tôi.

Sau biến cố khủng bố, ở New York, có mấy người nhận thấy được rằng : dân chúng bắt đầu thay đổi nếp sống hằng ngày và quan hệ giữa người với người ?  Trong hoạn nạn, họ chào hỏi nhau. Họ mở lời nâng đỡ nhau. Họ ý thức rằng  mình đang cần kẻ khác, và kẻ khác cũng cần mình, dù màu da của họ đen hay là trắng… Hẳn thực, mọi người đang sợ hãi. Nhưng họ bắt đầu HỌC chia sẻ niềm sợ hãi với người khác. Và chỗ nào có hai ba người cùng đi, giống như trên con đường về làng Ê-Mau, Đức Kitô Sống Lại sẽ xuất hiện và ĐỒNG HÀNH.

Thứ hai, nếu tôi phát biểu với tư cách là một TÍN HỮU, đang sống Đức Tin vào Đức Kitô, giống như Luca, tác giả Sách Công Vụ, tôi sẽ tìm cách chỉ cho mọi người thấy được rằng : Chúa Thánh Thần đang ngự xuống trên chúng ta, mỗi lần chúng ta tha thứ cho người anh chị em. Chỗ nào người đồ đệ của Đức Kitô đang gieo vãi hạt giống Tin Mừng, ở đó Chúa Thánh Thần đang có mặt tràn đầy, và làm cho hạt giống  ấy lớn lên, thành cây to lớn, làm chốn ẩn núp cho mọi loại chim trời bay đến, từ bốn phương chân trời…

Trước khi Mẹ Maria, người Tín Hữu mẫu khuôn và nguyên tượng của mọi người tín hữu, cất lời phát biểu, bà Êlidabét đã nhận ra : Mẹ đang cưu mang Thiên Chúa Cứu Độ, trong cung dạ của mình. Cách đi đứng, chào hỏi của Mẹ đã toát ra Hồng Ân tràn đầy của Thiên Chúa, là Chúa Thánh Thần.

Có lẽ nhiều giám mục đang sợ sệt, kinh hoàng… thậm chí hèn nhát, có thái độ «then gài cửa khóa».  Trong hoàn cảnh ấy, tôi bắt chước Mẹ Maria, đến «ở giữa», cầu nguyện và chờ đợi cùng với nhiều người… Khi đến giờ của Thiên Chúa, Thánh Thần của Ngài sẽ đổ xuống tràn trề, lai láng trên các giám mục của chúng ta. Và họ cùng chúng ta, VỚI Chúa Thánh Thần, đi ra và mang về nhiều hoa trái cho Hội Thánh của Đức Kitô, như trong ngày Lễ Hiện Xuống.

Thứ ba, điều mà các giám mục trẻ trung đang đợi chờ và khát khao chúng ta mang đến, theo niềm xác tín của tôi, đó là hành trang KHOA HỌC khả dĩ giúp các ngài lãnh đạo đoàn chiên của mình, một cách hữu hiệu, theo những tiêu chuẩn thuộc khoa học đương đại của Nghìn Năm Thứ Ba :

3.1.- Để hướng dẫn một địa phận, các ngài không thể không đề xuất những mục đích tối hậu, còn gọi là viễn ảnh hay là chí hướng. Đó là đường đi nẻo về của mỗi tín hữu cũng như của toàn diện địa phận. Tuy nhiên, lãnh đạo là tìm mọi cách để chuyển biến đường hướng lý tưởng và tổng quát ấy thành những mục tiêu cụ thể ngắn và dài hạn, có thể đánh giá một cách khách quan, theo từng giai đoạn đi tới. Cũng từ những mục tiêu ấy, làm cách nào để khám phá, sáng tạo, nhằm đề xuất, liệt kê những động tác cụ thể, cần thực hiện và thành đạt mỗi ngày. Bằng không, như Thánh Phaolô đã cảnh cáo, chúng ta, về mặt địa phận cũng như mặt cá nhân của từng người, chỉ là «Thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng».

3.2.- Để thành tựu công việc xác định mục tiêu hay là phương hướng hành động, các giám mục cần sự hỗ trợ của người tín hữu, để các ngài có khả năng thao tác một phương pháp tư duy khoa học. Khi giải quyết một vấn đề nhỏ hay lớn, các ngài không thể KHÔNG bắt đầu khảo sát những sự kiện khách quan, đề xuất và kiểm chứng giả thuyết. Rồi từ đó, rút ra những kết luận và lên phương án  hay là kế hoạch hoạt động.

3.3.- Để có khả năng tư duy một cách khoa học và hữu hiệu như vậy, người giám mục cũng như mọi người, trong trời đất nầy, phải HỌC.

Học mỗi ngày. Học thưòng xuyên. Học với người trên mình, cũng như Học với người dưới mình. Học nhìn. Học nghe. Học tiếp xúc. Thiên Chúa mà còn học với Mẹ Maria. Với trẻ em. Với những người bắt bớ, sát hại mình. Huống hồ chúng ta…

Học không phải là lặp lại một cách máy móc những điều kẻ khác đã nói. Không phải là xưa bày nay làm. Nhưng HỌC là tìm cách kết hợp một cách chặt chẽ và mật thiết hai thành tố Tư duy và Hành động. Ngày ngày chuyển biến Lý Tưởng Tin Mừng thành tác động cụ thể, từng ngày, từng giờ. Tin Mừng trở thành xương da, máu thịt. Tin Mừng tác động trên cuộc sống ngày hôm nay, ở đây, trong giờ phút hiện tại nầy.

3.4.- Khi Tin Mừng đã biến thành những bước đi cụ thể, hằng ngày như vậy, cuộc sống của chúng ta tự khắc đổi mới mỗi ngày. Không ngày nào giống ngày nào. Chính vì lý do đó, chúng ta làm người Tín hữu một cách hăng say, hứng khởi, nhiệt tình. Đức Tin lúc bấy giờ mới thực sự trở thành muối mặn, ngọn đèn soi sáng thế gian.

Và khi nhiệt tình của Thiên Chúa nung đốt chúng ta, chúng ta ĐANG trở thành như Mẹ Maria : cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng và mang Ngài đến cho Nhân loại.

3.5.- Để có thể tư duy, học hỏi và sống hăng say như vậy, người giám mục cũng như tất cả mỗi người sinh ra trong trời đất nầy, không thể «sống bít kín trong tòa nhà của mình». Đi ra, chia sẻ, lắng nghe, trao đổi… là những TẤT YẾU trong cuộc đời và tác vụ của một giám mục. Các ngài cần «feedback» của người tín hữu sống trong địa phận của mình, cũng như cần cơm ăn, áo mặc, nước uống…

Feedback trong tiếng Anh có nghĩa là «Nuôi lại», cơ hồ Mẹ nuôi con. Nhưng Mẹ cũng cần đứa con nuôi lại mình, với nhiều thức dạng khác nhau.

Để có khả năng lãnh đạo địa phận của mình, người giám mục cần những đóng góp hồi tố của người giáo dân. Hãy cho họ có dịp và có khả năng phản ảnh, nghĩa là nói ra một cách đơn sơ, ngay thẳng cho mình biết những gì tạo nên ưu và khuyết trong cuộc sống hằng ngày của mình. Hãy tạo điều kiện thuận lợi, cho họ đề nghị những cách làm mới mẽ, thức thời, ngang tầm với thời đại. Khuyến khích, kêu mời, thậm chí khen thưởng, để họ đề xuất những tiêu chuẩn đánh giá kết quả, nhất là khi phải quyết định, chọn lựa, trong vấn đề tuyển chọn người cộng tác.

***

Để kết luận, tôi xin chọn làm của mình ý kiến của ký giả Domenico Del Rio «ước ao, thỉnh cầu  người giám mục ngồi lại với người giáo dân. Ở giữa lòng dân». Chứ không phải từ trên rót xuống những mệnh lệnh, những chỉ thị, những lá thư luân lưu…

Nói tóm lại, lãnh đạo trong lòng Hội Thánh không phải là lãnh đạo từ trên, từ ngoài, thiết lập những quan hệ chiều dọc. Nhưng là lãnh đạo chiều ngang, lateral leadership. Là ĐỒNG HÀNH và CHIA SẺ. Giám mục và giáo dân, theo câu nói của Thánh Âugustinô được trích dẫn trong lá thư ngỏ, là anh chị em, có cùng một Cha chung là Thiên Chúa Ngôi Cha. Đầu duy nhất của chúng ta, có khả năng qui tụ và thu góp mọi người, là Đức Kitô. Sức Mạnh có khả năng động viên và hướng dẫn mọi người tín hữu là Chúa Thánh Thần.

Trong tinh thần và ý nghĩa ấy, người giám mục chỉ có khả năng lãnh đạo, theo mẫu khuôn của Đức Kitô, khi ngài đón nhận sự đóng góp hữu hiệu và cần thiết của mỗi người tín hữu trong lòng Hội Thánh. Khi làm và sống như vậy, người giám mục đang thực sự nuôi dưỡng và xây dựng cũng như kiện toàn, làm thành viên mãn «Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô».

Cũng vậy, khi đóng góp phần mình để thăng tiến vị giám mục, người tín hữu đang thực thi trách nhiệm lãnh đạo chiều ngang, trong lòng Hội Thánh.

«Tôi sống. Nhưng đâu phải tôi sống. Chính Đức Kitô sống trong tôi. Sống đối với tôi là Đức Kitô».

Mỗi người tín hữu là Đức Kitô thứ hai – Alter Christus – ở đây và bây giờ, trên mọi nẻo đường của Nhân Loại.


VỀ MỤC LỤC
SỨC MẠNH TÌNH YÊU !

 

Phúc Âm Nhật Ký Chúa Nhật Phục sinh

08.04.2007

Nhân loại hôm nay vẫn xôn xao đi tìm hạnh phúc.   Đã có nhiều người vẫn cứ tưởng hạnh phúc nằm trong thực tại trần gian.   Nhưng hạnh phúc vẫn vuột khỏi tầm tay.   Chỉ có Đấng Phục sinh mới mạc khải cho mọi người biết hạnh phúc nằm ở đâu.

 CÒN MỘT CHÚT GÌ

Sau ba năm vất vả gầy dựng cộng đoàn niềm tin, Đức Giêsu đã hoàn toàn trắng tay.  Công xây dựng bao năm một sớm một chiều tan thành mây khói.  Bao nhiêu giây phút dặn dò, tâm sự đều trôi vào hư vô.  Bao nhiêu tin tưởng đã tan thành mảnh vụn.  Bằng chứng, vào giây phút nguy khốn nhất, các môn đệ đã bỏ trốn hết.   Niềm tin đặt nơi con người nguy hiểm chừng nào !   Cái chết thể xác chỉ là dấu chỉ băng hoại của niềm tin bấy lâu tưởng đã bén rễ và vươn lên.

Khi chọn các môn đệ, chắc chắn Đức Giêsu rất sáng suốt.   Nhưng Chúa không dùng quyền năng để phá hủy tự do con người.  Tự do cộng với nhát đảm có thể sinh ra phản bội.  Ngay cả khi tỏ ra khẳng khái nhất trong các tông đồ, Phêrô vẫn không che dấu nổi sự hèn nhát.   Trong biến cố đau thương nhất cuộc đời, Đức Giêsu muốn mạc khải Người lệ thuộc ai.   Chắc chắn con người không thể là điểm tựa.  Bởi vậy, cho dù tất cả đều bỏ cuộc, Đức Giêsu vẫn kiên cường đứng vững.   Đối với Chúa, chẳng ai là quan trọng cả !   Công cuộc cứu độ tùy thuộc một mình Thiên Chúa mà thôi.  

Điểm tựa duy nhất của Đức Giêsu chính là tình yêu Thiên Chúa.  Tình yêu Thiên Chúa không hề vơi bớt chút nào trong suốt cuộc đời Đức Giêsu.   Bởi thế, Người tin tưởng mãnh liệt và hiên ngang lên đường đi Giêrusalem nộp mạng.   Tình yêu sẽ phục hồi tất cả và làm nên tất cả.   Chính “Thiên Chúa (là tình yêu) đã làm cho Người trỗi dậy.” (Cv 10:40)   Bởi đó, tình yêu có một sức mạnh lạ thường !  Từ ngàn xưa, chính tình yêu đã tự vẽ đường cho mình.   Thật vậy, “tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người” (Cv 10:43) như một Đấng chết vì tình yêu và cho tình yêu.    

Không những có các chứng nhân quá khứ, tình yêu còn chuẩn bị những chứng nhân tương lai đẩy mạnh niềm tin nhân loại vào mầu nhiệm tình yêu nơi biến cố Đức Giêsu Phục sinh.   Thiên Chúa “cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.” (Cv 10:41)   Từ nay, mọi người sẽ thấy ơn cứu độ chỉ tùy thuộc vào một người duy nhất là Đức Kitô.  Thực vậy, “phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội,” (Cv 10:43) nghĩa là được hòa giải với Thiên Chúa và chia sẻ gia sản Thiên quốc với Đức Giêsu. 

 Chỉ tình yêu mới có sức mạnh biến thù thành bạn !  Không những thế, từ nay một sức sống mới đã ùa vào nhân loại.   Thật vậy, tận chiều sâu con người, “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3:3)   Sự sống đã trào vọt lên từ nguồn mạch Phục sinh của Đức Giêsu.   Sự sống ấy không tự nhiên chiếm hữu được. Nhưng từ cõi chết “anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô,” (Cl 3:1) nhờ sức mạnh tình yêu Thiên Chúa.   Chính sức mạnh tình yêu Thiên Chúa đang làm những việc kỳ diệu trong Giáo hội và khắp thế giới.  Hơn nữa, tình yêu luôn hướng con người lên cao.  Bởi thế, “hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa,” (Cl 3:1)    Từ nơi đầy sức mạnh tình yêu đó, Đức Giêsu sẽ làm cho vạn vật được phục sinh trong ánh sáng của Người.

CHỨNG TỪ TÌNH YÊU.

Nhìn vào cuộc sống với bao nhiêu thứ tin tưởng hiện tại, chúng ta thấy tình yêu vẫn còn là một sức mạnh áp đảo trước những cơ chế văn minh vật chất.  Giáo hội vẫn hiện diện như một dấu chỉ cho mọi người biết con đường giải thoát ở đâu.  Ngày nay, như Maria Mácđala, con người vẫn thắc mắc : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu ?” (Ga 20:2)   Nhiều người vẫn còn tin Chúa nằm chết trong mộ.  Nhiều tín hữu vẫn trình bày cho mọi người như thể Đức Giêsu chưa bao giờ trỗi dậy.  Nhưng “theo Thánh Kinh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.” (Ga 20:9)  Phải, chỉ khi nào sống theo Lời Chúa, mới có thể làm chứng Đức Giêsu đã Phục sinh !  Ngày nay, cũng như ông Simôn Phêrô, nhân loại đi vào Giáo hội như “đi thẳng vào trong mộ, thấy những băng vải để ở đó và khăn che đầu Đức Giêsu.” (Ga 20:6)  Một cái nhìn quá cơ chế như con mắt Phêrô dễ làm lạc hướng con tim muốn khám phá Đức Giêsu đang Phục sinh trong từng mạch sống và hơi thở thiên nhiên và lòng người.  Có thể người ta thấy Giáo hội rất có tổ chức và trật tự.   Nhưng họ không như Gioan.  “Ông đã thấy và đã tin.” (Ga 20:8)   Oâng thấy cái gì và tin cái gì ?   Oâng thấy mọi sự như Phêrô.   Nhưng ông tin Đức Giêsu đã từ cõi chết trỗi dậy, vì ông là môn đệ đã nằm sát ngực Đức Giêsu.  Chỉ có con tim mới đọc được ý nghĩa của những bằng chứng tình yêu. 

Nhân loại đang cần những con tim hơn những khối óc !   Văn minh cực kỳ như thế giới hôm nay, vẫn còn hằng triệu người đau khổ vì anh em đồng loại.  Trên thế giới hiện tại vẫn còn trên 200 triệu Kitô hữu đang bị bách hại và hằng tỉ người nghèo đói vì cơ chế bất công vàsự thờ ơ hay thù ghét của đồng loại.   Bao giờ chúng ta mới có thể cùng mở hội ăn mừng đại lễ Phục sinh “bằng bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật.” (1 Cr 5:8) giữa một thế hệ gian tà và bất công này ?   Bao giờ mới có thể vùng dậy khỏi thế giới hạn hẹp, trần tục này để “tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3:1) ?      Thế giới đang thèm khát hòa bình.  Chính Đức Giêsu Phục sinh đã trả lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại khi nối kết con người với Thiên Chúa và tha nhân.

 Lm. Đỗ Vân Lực, op.

VỀ MỤC LỤC
Đừng hoảng sợ!

 

Bên nấm mồ Chúa Giêsu, Thiên Thần nói với với các phụ nữ ngày xưa, lúc họ sáng sớm ra thăm viếng mộ: „Đừng hoảng sợ! Chúa Giêsu đã sống lại rồi. Người không còn ở đây nữa“

Ngày nay Thiên Thần có lẽ sẽ nói với chúng ta: Đừng hoảng sợ! Khi chúng ta đi tìm Chúa Giêsu nơi những hình ảnh cũ, nơi những mường tượng vượt trên tâm trí, nơi những hiểu biết học đọc trong các sách vở. Các thước đo, các mẫu khuôn suy nghĩ, những công thức đã chôn vùi sống động trong chúng ta. 

„Đừng hoảng sợ !“ đó là lời mời gọi của Thiên Thần bên nấm mồ Chúa Giêsu nói với các phụ nữ. Bước vào bên trong, quan sát nhìn xem và sẽ hiểu được từ tận trong thâm cung, ý nghĩa của sự sống lại. Điều gì đổi hoàn toàn mới, điều gì lạ lùng đã xảy ra, không thể hiểu nổi. Nấm mồ trở nên nơi chốn của sự sống mới. Chúa Giêsu đã được mai táng chôn ở nơi đây, nhưng ngài đã sống lại.

Bước vào bên trong nấm mồ bóng tối của sợ hãi, của những cản trở trói buộc, của những thói quen đã làm tê liệt trí óc suy nghĩ sáng tạo. Những điều đó tưởng như đã làm tê liệt, chết nơi ta. Nhưng đức tin giúp nhận ra ở cuối đường hầm tăm tối đó có điểm ánh sáng, có khởi đầu mới. 

Thiên Thần Chúa nói với chúng ta: Tập trung hướng tầm nhìn vào đời sống hằng ngày của anh em và hãy học hỏi từ chính trong lòng đời sống mình. Cùng hãy tin rằng, sự sống lại và sự sống mới cũng là điều có thể xảy ra nơi anh em.

Hãy hướng tầm nhìn về trẻ con! Hãy để nền khuôn mẫu giáo dục cùng những mơ ước tốt đẹp khắc ghi vào đời sống chúng. Vì những điều đó giúp họ phát triển lớn lên thành người. Nhưng xin hãy vui mừng với tính ngây thơ hồn nhiên, sự sống động vui tươi nơi chúng, và hãy học hỏi nơi chúng những điểm này.

Hãy quan sát nhìn xem sức lực cùng khả năng sức sống còn đang tiềm tàng nơi con người chúng. Là trẻ con, nhưng chúng cũng là một người có gía trị, có nhân vị, con người đó được tạo dựng có một lần không có bản sao thứ hai, có uy tín của một cá nhân còn đang còn tiềm ẩn trong đời sống. Hãy quan sát nhìn xem, Chúa Giêsu đã yêu mến trẻ con như thế nào. Ngài đã đem một em bé ra đặt ở giữa mọi người. Rồi lấy đó làm mẫu mực thước đo cho đời sống chân thành của con người.

Học hỏi nơi trẻ em, sẽ tìm được cổng vào đời sống mới trong nước trời.

Đừng hoảng sợ! Hãy nhìn xem các người phụ nữ. Xưa nay việc bổn phận đời sống của họ quy vào ba việc: nuôi con, làm bếp và giáo dục tinh thần niềm tin cho con. Khuôn mẫu này càng ngày càng mất chỗ đứng trong đời sống xã hội. Nhiều người càng tỏ ra hoài nghi với khuôn mẫu thước đo cổ hủ. Bị cho là đã lỗi thời, đã như chết và dần đang bị chôn vùi dưới nấm mồ rồi.

Nhưng đừng hoảng sợ! hãy ngẩng đầu nhìn thẳng hướng lên cao và tìm hiểu học hỏi. Ý tưởng, suy nghĩ của con người theo dòng thời gian có thể thay đổi ra khác. Thiên Chúa sẽ đổi mới làm cho sống lại đời sống mới. Người phụ nữ nào cũng được Thiên Chúa tạo dựng nên có một không có bản sao thứ hai, họ có gía trị nhân vị và cũng là hình ảnh của Thiên Chúa. Nơi họ, Đấng Tạo Hoá đã ký thác đặt để những gía trị cùng khả năng sáng tạo, khả năng sinh con, khả năng ban tặng tình yêu thương cho con cái, khả năng kiên nhẫn cùng mềm dẻo hướng dẫn con em bạn trẻ. Đó là cổng của khởi đầu sự sống.

Đừng hoảng sợ! Hãy nhìn nhìn xem lớp người trẻ, cho dù khi họ không còn hợp với khuôn mẫu hình ảnh cùng tưởng tượng nữa. Nhưng hãy nhìn xem họ và tìm hiểu học hỏi nơi họ, sẽ tìm thấy cổng dẫn đến sự sống mới.  

Các Bạn Trẻ hãy nhìn vào chính mình. Các bạn cũng là con người được Thiên Chúa dựng nên có gía trị nhân vị, mỗi người được tạo dựng một lần không có bản sao thứ hai, có tâm hồn rộng mở hăm hở, tò mò tìm hiểu hướng về ngày mai.

Nếu khi người trẻ thấy mình lâm vào đường cùng tận, đừng vội nản lòng thất vọng. Nhưng hãy tin tưởng, các bạn cũng sẽ sống lại với Chúa Giêsu trong sự sống mới. Hãy ngước mắt nhìn xem và sẽ tìm thấy cổng bước vào sự sống mới. 

Các người đàn ông, khi thấy đời sống ngoài xã hội, nơi gia đình, nơi Gíao hội như đang trong cơn lốc khủng hoảng theo đà xuống dốc, như qúa cứng nhắc. Sống động đó, mà như đã chết. Nhưng đừng hoảng sợ! Chính nơi đoạn đường khúc sông này một cánh cổng mở ra sang sự sống mới, sự sáng tạo mới, tương quan mới, khuôn mẫu đời sống mới đang dần thành hình. 

Thiên Chúa, Đấng tạo hóa, khi tạo dựng nên con người, đã ký thác đặt để nơi mỗi người khả năng phát minh sáng tạo, khả năng suy nghĩ tìm cách phát triển đời sống cho tồt đẹp thêm ra. Học hỏi tự trong chính đời sống cùng với ánh sáng đức tin, sẽ tìm thấy cổng dẫn đến con đường sự sống mới.

Chúa Giêsu, trung tâm nhân lõi của đức tin Công giáo, đã chết và đã được mai táng chôn vùi trong lòng đất tối tăm. Nhưng ngài đã chỗi dậy, biến sự chết thành sự sống. Ngài đã biến đổi tận cùng thành một khởi đầu mới, nấm mồ thành cổng đời sống mới.

Đừng hoảng sợ! Chúa Giêsu là cổng đời sống mới cho con người.

Lễ Phục sinh 2007

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
CHÚA SỐNG LẠI THẬT 

Nguyên Tác IN STEP WITH GOD LM Vincent Travers, OP

 HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

CHÚA SỐNG LẠI THẬT 

 (Lc 24, 1-7) 

***

Một tập tục dễ thương ở trong Giáo Hội Đông phương đã diễn tả một cách đơn sơ và tuyệt đẹp sứ điệp Phục Sinh. Khi hai người gặp nhau vào Chúa Nhật Phục Sinh, một người chào: “Chúa đã sống lại”, và người kia đáp lại: “Chúa sống lại thật.” 

Chúa sống lại thật’ có nghĩa là Chúa Giêsu đang sống, đang khoẻ mạnh và tự do tuần hành trên mặt đất. Ngài đang thong dong trên những xa lộ, núi đồi và sông rạch, trên những công viên và bãi biển, trên những bến xe và phi trường, trong những bệnh xá và nhà tù, trong những tư thất và nơi làm việc của chúng ta.  

Ngài tự do đi đứng trong vũ trụ, không có gì cản trở Ngài được và không có người anh hùng nào như thế cả trong quá khứ lẫn hiện tại và mãi mãi trong tương lai. Chúa Giêsu đang sống giữa thời đại chúng ta. Ngài đang ở trong cuộc sống chúng ta

Bước đi hiên ngang 

Đó là niềm tin của Kitô hữu ngay từ thuở ban sơ của Giáo hội. Ngày nay nếu một đức tin không có gì khác biệt thì không phải là đức tin chút nào. Một người đồng hành với Chúa Phục Sinh trong cuộc sống thì khác với một người mà đối với họ Thiên Chúa chỉ là một danh xưng, một khuôn mặt để thuyết giảng, một bức tượng treo trên tường hay một cây thánh giá đeo nơi cổ ngực.  

Một người Công giáo sống mùa Phục Sinh là một người không bao giờ quên rằng Chúa Phục Sinh là một người bạn luôn đồng hành với họ. Một khi chúng ta bắt đầu cố gắng sống nhãn quan đó thì Phục Sinh phải có một ảnh hưởng cơ bản hơn hết trong cuộc sống chúng ta, nhằm tác động và tô màu cho hết mọi sắc thái đời sống chúng ta.

Vấn đề không còn là chúng ta phải tránh việc lỗi phạm giới răn thứ sáu hay thứ chín, cho dù điều đó quan trọng đến đâu. Đúng hơn, chúng ta phải cố gắng tối đa, để rồi xắn tay áo lên, chúng ta có thể đồng hành với Chúa Phục Sinh.

Khi chúng ta sẵn sàng như thế, chúng ta sẽ hiên ngang lên đường để giải quyết hết mọi vấn nạn một cách đúng đắn như thế. Nói tắt một lời, tất cả ý nghĩa Phục Sinh nằm ở trong những tương quan – tương quan giữa mình với Chúa và tương quan giữa mình với tha nhân.

Sự Phục Sinh đang xảy ra ngày hôm nay

T.S. Eliot trong tác phẩm “Dry Salvages” đã mô tả “đặc điểm thế giới tiến bộ ngày nay là một thế giới mà trong đó người ta có kinh nghiệm nhưng thiếu ý thức”. Giòng chữ đó khiến ngưòi đọc phải suy nghĩ. Chúng ta càng suy tư về những chữ đó của Eliot, chúng ta càng ngạc nhiên và thắc mắc không biết có phải ý nghĩa hai chữ “Phục Sinh” đã xảy ra trong chiều hướng ngược lại hay không?

Chúng ta hiểu rất rõ ý nghĩa Phục Sinh nhưng chúng ta không có chút kinh nghiệm về biến cố Phục Sinh. Suy diễn như thế, chúng ta muốn nói lên điều gì đây? Chúng ta rất quen thuộc với câu chuyện Phục Sinh. Chúng ta đã được dạy dỗ về ý nghĩa Phục Sinh như thế nào. Chúng ta đã thuộc lòng câu chuyện đó. Phục Sinh đã là một phần trong đời sống Kitô hữu chúng ta, bao lâu chúng ta còn tưởng nhớ tới.

Và bởi vì câu chuyện đã quá quen thuộc, nên việc nghĩ tới biến cố Phục Sinh như là một câu chuyện lịch sử thì quá ư dễ dàng, vì đó là điều đã xảy ra trong quá khứ xa xưa rồi. Thật rất khó cho chúng ta để có một chút kinh nghiệm về biến cố Phục Sinh – kinh nghiệm thực sự, sống động và ngay tại đây, nơi mà chúng ta đang sống bây giờ, trong giây phút hiện tại.

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Chúa Giêsu giờ đây đang ở đâu trong cuộc sống chúng ta? Có phải Ngài là Đấng đã sống trong quá khứ và giờ đây Ngài đang ngự trị ở trên kia, nơi xa thăm thẳm, ẩn kín ở chốn Thiên đàng cao xanh vời vợi? Có phải đó là nơi Chúa Giêsu chúng ta đang ở không? 

Hay chúng ta nên nghĩ rằng “Ngài đang ở rất gần chúng ta”, còn gần hơn chính hơi thở chúng ta nữa? Chúng ta có liên hệ với Ngài như một người bà con xa xa hay như một kẻ rất thân cận với chúng ta, thân cận còn hơn chính nhịp đập của con tim chúng ta? Chúng ta có tìm thấy Chúa Giêsu trong nhân cách mỗi một người mà chúng ta gặp gỡ không?

Có phải Ngài là Đấng đang cho chúng ta sức mạnh nội tâm để đương đầu với bao khó khăn trong cuộc sống, ngõ hầu trở thành sung mãn hơn thực trạng mà chúng ta đang trải qua bây giờ đây không? Ngài có phải là Đấng mà chúng ta đã tìm gặp trong sự tha thứ được trao đi và nhận lại? Ngài có ở trong niềm vui và tiếng cười của cuộc sống chúng ta không? Ngài có ở trong tiếng rên la và những giòng lệ của chúng ta?

Ngài có ở trong niềm khát vọng của chúng ta để rồi cuộc sống chúng ta trở nên ân cần hơn, lịch sự hơn và dễ mến hơn đối với người khác? Chúa Giêsu Phục Sinh của chúng ta có được tìm thấy trong cách thức mà chúng ta sinh sống, hoạt động, vui đùa và cầu nguyện không? Phục Sinh có trở nên chìa khóa cho toàn bộ cuộc sống chúng ta bây giờ và về sau không?

Đó là những vấn nạn thật lớn lao. Không có vấn nạn nào lớn hơn nữa. Chúng ta đã được lớn lên và được giáo dục trong một mùa Phục Sinh thuộc về quá khứ xa xôi. Chúng ta biết được câu chuyện đó đã xảy ra từ thời xa xưa rồi. Nhưng chúng ta không được giáo dục về mùa Phục Sinh hiện đang xảy ra. Chúng ta đã được giáo dục về ý nghĩa Phục Sinh mà không có chút kinh nghiệm về Phục Sinh.

Phục Sinh ở khắp nơi 

Người ta kể lại câu chuyện sau đây:

Ở sau cửa kiếng của một gian hàng bày bán ảnh tượng, một bức tượng rất lớn phác họa lại biến cố tử nạn trên thập giá đập mạnh vào mắt người qua kẻ lại. Một cụ già dừng chân ngắm xem và một em bé đi ngang qua đó cũng dừng lại để xem. Cụ già muốn trắc nghiệm kiến thức tôn giáo của em bé nên hỏi: “Thật là một bức tượng tuyệt đẹp, nhưng cháu có thể nói cho bác biết về những nhân vật ở trong bức tượng đó không?

Em bé chỉ vào những khuôn mặt khác nhau trong bức tượng và trả lời: “Đây là Chúa Giêsu bị treo trên thánh giá và kìa là Mẹ Ngài đang đứng cạnh thánh giá. Còn người đàn bà khóc lóc kia là bà Maria Ma-đa-lê-na; bà đang quì gối dưới chân thánh giá. Người đàn ông đứng gần đó là Thánh Gioan. Những người khác còn lại là những binh lính La-Mã. Họ là những kẻ đã giết chết Chúa Giêsu.”

Cụ già rất cảm phục. Cụ gật đầu tán thưởng và bắt đầu dời gót ra đi. Nhưng trước khi tới khúc rẽ, cụ nghe những bước chân chạy đuổi theo. Thì ra đó là em bé đang chạy theo cụ, vừa chạy vừa thở có vẻ khẩn trương lắm. Em nói: “Thưa bác, cháu quên nói với bác một điều quan trọng hơn hết. Đó là Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba.

Em bé nói đúng. Phục Sinh là biến cố lớn lao nhất. Thỉnh thoảng chúng ta thường nghe nói Thánh Lễ ở khắp nơi. Chúng ta đều biết Thánh lễ từ đâu đến và ý nghĩa của Thánh Lễ như thế nào. Tuy nhiên, điều đó không hoàn toàn đúng. Chính mầu nhiệm Phục Sinhchứ không phải Thánh Lễmới ở khắp nơi. Thánh Lễ chỉ là một sự biểu lộ lớn lao về đức tin chúng ta ở trong mầu nhiệm Phục Sinh.

Quá khó để nắm bắt

Chúng ta hiểu Phục Sinh như thế nào? Phải chăng phần đông chúng ta đã liên kết Phục Sinh với những thứ bánh kẹo đặc biệt bày bán cho mùa Phục Sinh? Chúng ta không chống đối gì về điều đó cả. Những bánh kẹo đó cũng tốt thôi, bao lâu chúng liên kết chúng ta với niềm vui, sự bình an và đời sống mới phát sinh từ mùa Phục Sinh.  

Chúng ta hoàn toàn tán thành những thứ đó bao lâu chúng không lôi cuốn chúng ta tách khỏi điều cơ bản là “Chúa Giêsu đã sống lại thật” và đó là điều vĩ đại hơn hết. Mùa Phục Sinh đích thực không phải là những thứ bánh kẹo đặc biệt dành cho mùa đó, chắc chắn rồi. Chúng ta có thể thưởng thức những thứ đó, không thành vấn đề. Những thứ đó không phải là mối de dọa cho sự bình an trong tâm hồn chúng ta.

Nhưng một Chúa Giêsu đang thong dong đi lại trên trần thế nầy