Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 70, Chúa nhật 29.04.2007


 Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

Nhũng người quản lý tốt các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa       ĐGH. Gioan-Phaolô II

PHÁ VỠ KHOẢNG CÁCH                                                                         Lm. Đỗ Vân Lực, op.

LÀM THẾ NÀO ĐỐI VỚI NHỮNG THÓI XẤU CỦA CON TRẺ?                   Lm. Lê Văn Quảng

“NẮNG SÀI-GÒN, ANH ĐI MÀ CHỢT MÁT...”                                       Lm. Vĩnh Sang, DCCT

TỘI: THỰC THỂ và HẬU QỦA                                                             Lm. FX. Ngô Tôn Huấn

ĐẠI NGHĨA                                                                     Nhà Văn HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

Bạn Đã Được Cứu Độ Chưa?                                                    GLV. Phaolô Phạm Xuân Khôi

Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường          Phùng văn Phụng

Mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh của Người Việt Nam                       Gs. Nguyễn Văn Thành

Tìm ra trong cuộc sống mình một ý nghĩa...    Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy chyển ngữ   

Học là cầu nguyện                                                                    + HY. FX. Nguyễn Văn Thuận

TỰ ÁI.                                                                                          Chuyện phiếm của Gã Siêu


Nhũng người quản lý tốt các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa

 

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương IV

NHƯNG NGỪƠI THỢ

TRONG VƯƠN NHO CỦA CHÚA

Nhũng người quản lý tốt

các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa

 

TíNH CÁCH KHÁC BlỆT CỦA CÁC ƠN GỌl

45. Theo dụ ngôn của Phúc âm, "người chủ vườn nho" mời những người thợ đến vườn nho của mình vào những giờ khác nhau trong ngày: nhiều người đến vào lúc bình minh, một số vào khoảng chín giờ sáng, số khác nữa đên vào lúc gần trưa và ba giờ, những kẻ cuối cùng vào khoảng năm giờ chiều (Mt. 20:1 và kế tiếp). Khi chú giải trang Phúc âm này, Thánh Grêgônô Cả nghĩ rằng những gìờ khác biệt đó tươhg ứng với những giai đoạn của tuổi đời; Ngài nói: "Ta có thể áp dụng sự khác biệt của các giờ vào những giai đoạn của đời sống con người". Theo đó, ban sáng tượng trưng cho tuổi thiếu thơ. Giờ thứ ba tiếp theo đó có thể tượng trưng cho tuổi thanh niên: mặt trời vươn lên, có nghĩa là nhiệt huyết của tuổi trẻ tràn đây. Giờ thứ sáu, là tuổi trung niên: mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, là tuổi của sức sống sung mãn. Tuổi bắt đầu già tượng trưng cho giờ thứ chín, vào tuổi này nghị lực thanh xuân bắt đầu mòn mỏi không khác hình ảnh mặt trời từ từ ngã về hướng Tây. Giờ thứ mười một chỉ những người đã cận kề ngày cuôí cùng của cuộc đời mình. Như vầy, những người thợ được gọi đến vườn nho vào những giờ khác nhau, là hình ảnh giúp ta hiểu rằng có người được gọi sống cuộc sống hoàn thiện ngay ở tuổi thơ, có người vào tuổi vị thành mên, người khác vào vào thời kỳ trưởng thành, và kẻ khác nữa lúc đã về già. (167)

Chúng ta có thể dùng lời diễn giải của Thánh Grêgôriô Cả để áp dụng rộng rãi hơn vào tính cách đa dạng, phong phú của những người có mặt trong Giáo Hội ; mỗi một người và tất cả mọi người đều được mời gọi để hoạt động cho nước Thiên Chúa tỏ hiện theo cách thức khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những đoàn sủng và những chức vụ khác nhau. Sự khác biệt này không phải chỉ dựa vào tuổi tác, nhưng còn tùy thuộc vào sự khác biệt của phái tính, tài năng, và tư cách, cũng như liên hệ đến những ơn gọi và hoàn cảnh của từng người. Tính chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo Hội. linh động và cụ thể hơn.

TUỔl TRẺ, TRẺ EM VÀ NGƯỜl LƠN TUỔI

Tuổi trẻ, hy vọng của Giáo Hộl

46. Thượng Hội Đồng đã đặc biệt lưu ý đên tuổi trẻ. Và thật vậy, tại nhiều quốc gia trên thế giới, giới trẻ chiếm một nửa dân số, và thường cũng là một nửa số của Dân Chúa trong các quốc gia đó. Nhìn vào khía cạnh này, giới trẻ đã tạo được một sức mạnh phi thường và trở thành một thách đố lớn lao cho tương lai của Giáo Hội. Vì qua giới trẻ, Giáo Hội nhìn thấy con đường hướng về tương lai đón chờ mình, và tìm gặp nơi đó hình ảnh nhắc nhở về chính tuổi thanh xuân đầy phấn khởi do thần khí Đức Kitô không ngừng làm phong phú đời sống Giáo Hội. Chính trong ý nghĩa đó Công Đồng đã định nghĩa những người trẻ là "niềm hy vọng của Giáo Hội".(168)

Trong bức thư gửi thanh thiếu niên nam nứ thế giới, ngày 31 tháng 3 năm 1985, Ta nói rằng: "Giáo Hội nhìn lớp người trẻ, đúng hơn, một cách đặc biệt, Giáo Hội nhìn lại tuổi trẻ của mình trong mỗi người và chung toàn giới trẻ. Việc đó đã thể hiện ngay từ đầu vào thời các Tông đồ. Nhưng lời của Thánh Gioan trong thư thứ nhất là một trong những bằng chứng đặc biệt: "Hỡi các bạn trẻ, Cha viêt cho các bạn, vì các bạn đã thắng được sự ác. Hỡi thanh thiêú niên nam nữ, Cha viết lời này vì các con đã biết Chúa Cha..., Cha viết cho các con vì các con là những kẻ dũng cảm, và Lời Chúa cư ngụ trong các con" (1 Jn. 2:13 và tlếp theo...). Trong thế hệ chúng ta, vào những ngày cuối cùng của thế kỷ hai mươi, chính Giáo Hội cũng tự nhìn mình qua hình ảnh giới trẻ. (169)

Đừng nên nhìn giới trẻ như chỉ là đối tượng của môí lo âu cho Giáo Hội về phương diện mục vụ: Thực ra, họ là những "chủ nhân tích cực, tham dự vào công việc truyền bá Phúc âm và canh tân xã hội;(170) họ cần được khuyến khích để trở thành như thể' . Tuổi trẻ là thời kỳ khám phá đặc biệt sâu đậm về "bản ngã" cá biệt và về một "dự án cuộc đời riêng của mình". Đó là thời kỳ tăng triển phải được thực hiện trong "khôn ngoan, già dặn và ân sủng trước Thiên Chúa và trước người đời" (Lk. 2:52).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng đã nói rằng: "Cảm thức của những người trẻ thâu nhận một cách sâu xa những giá trị của công bằng, bất bạo động và hoà bình. Tâm hồn họ bao dung tình huynh đệ, thân hữa và đoàn kết. Họ tận tụy hết mình cho những công cuộc đấu tranh bảo vệ phẩm chất đời sống và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng họ cũng mang nặng những lo âu, ê chề, ưu tư và kinh hoàng của thê giới, và thêm vào đó những cám dỗ đặc biệt liên quan đến tuổi họ."(171)

Giáo Hội phải làm sống lại tình yêu đặc biệt mà Chúa Giêsu đã từng tỏ ra cho người thanh niên: "Chúa Giêsu nhìn anh tỏ dạ yêu thương" (Mk. 10.21). Đó là lý do tại sao Giáo Hội không ngừng loan báo Chúa Giêsu Kitô, tuyên xưng Phúc âm của Ngài như câu trả lời duy nhất và thỏa đáng cho những khát vọng căn bản nhất của người trẻ, như một đề nghị thiết tha kêu gọi từng người tự dấn thân: "hãy đến theo Ta" (Mk.10.21), một lời đề nghị nói lên sự thông phần vào tình yêu Cha Con của Chúa Giêsu đôí với Chúa Cha và việc tham gia vào sứ mệnh Cứu Chuộc nhân loại của Ngài .

Giáo Hội có nhiều điều phải nói với giới trẻ và giới trẻ có nhiều điều để nói với Giáo Hội. Cuộc đôí thoại song phương này phải được tiến hành một cách đầy nhiệt tâm, rõ ràng, và can đảm, để xúc tiến việc gặp gỡ giữa các thế hệ và những cuộc trao đổi giữa họ với nhau, và sẽ là một nguồn suối trong mát làm phong phú và trẻ trung cho Giáo Hội và xã hội. Trong sứ điệp gửi giới trẻ, Công Đồng tuyên bố rằng: Giáo Hội nhìn các bạn với nìêm tin tưởng và yêu thương... Giáo Hội chính là sự trẻ trung của thế giới... Hãy nhìn Giáo Hội và các bạn sẽ tìm thầý ở nơi đó khuôn mặt của Đức Kitô." (172)

Trẻ thơ và Nước Trời

47. Trẻ thơ là tuyệt đỉnh của tình yêu thương tinh tế và bao dung của Chúa Giêsu. Ngài dành riêng cho các em phúc lành của Ngài và hơn thế nữa, Ngài đã hứa Nước Trời cho các em (Mt. 19:13- 15, Mc. 10.14). Đặc biệt, Chúa đã đê cao vai trò tích cực mà các em đảm nhận trong Nước Chúa. Các em là biểu tượng hùng hồn, và là hình ảnh sáng chói về luân lý và tinh thần, những điều kiện thiết yếu để vào Nước Trời và sống một cuộc đời phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa: "Ta nói thật với các con, nếu các con không cải hóa để trở nên như những trẻ nhỏ, các con sẽ không vào được Nước Trời. Ai khiêm nhường như trẻ này sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời" (Mt. 18:3-5, Lk. 9. 48) .

Trẻ thơ nhắc nhở chúng ta rằng sự tăng triển trong việc truyền giáo của Giáo Hội có nền tảng sống động không phải nhờ vào các phương tiện hay tài năng sức lực của con người, nhưng nhờ vào ân sủng tuyệt đối của Chúa. Đời sống hồn nhiên vô tội và ân sủng của trẻ nhỏ, và ngay cả những khổ đau người ta bắt chúng phải cam chịu, nhờ vào thập giá Đức Kitô, trở thành một nguồn suối làm sung mãn sức sống siêu nhiên cho chính các em, và cho toàn Giáo Hội. Tất cả chúng ta phải cảm tạ và ý thức sâu xa về sự kiện này.

Ngoài ra phải nhận rằng ngay ở tuổi này, những khả năng hành động quí giá đã tnển nở liên quan đến việc xây dựng Giáo Hội, cũng như nhản-bản-hóa xã hội. Tất cả những điều Công Đồng xác nhận khi nói đến ích lợi của con cái trong gia đình là "Giáo Hội tại gia"; "là phần tử sống động của gia đình, trẻ em theo cách của mình giúp cha mẹ được thánh hóa."(173) Điều này cũng có thể lập lại khi nói đến mối tương quan giữa các em và Giáo Hội địa phương cũng như Giáo Hội hoàn vũ. Thần học gia và cũng là nhà mô phạm của thế kỷ 15, Jean Gerson đã nêu lên sự kiện đó như sau: "Trẻ thơ và thanh mên không phải là một thành phần không đáng kể của Giáo Hội." (174)

Bậc cao niên và ơn khôn ngoan

48. Đôi với những người già cả, mà thông thường một cách sai lầm bị xem như là những kẻ vô dụng, có khi còn được xem là một gánh nặng. Ta nhắc nhở những người này rằng Giáo Hội đòi hỏi và chờ đợi nơi họ phải theo đuổi sứ mệnh tông đồ và truyền giáo của họ. Đây không những là một công tác họ có thể làm và phải làm, mặc dầu ở vào tuổi này, nhưng chính vì ỏ tuổi đó mà sứ mệnh của họ mang một hình thái đặc biệt và độc đáo.

Thánh Kinh trình bày cho chúng ta thấy người cao niên như là biểu tượng của những người khôn ngoan và kính sợ Thiên Chúa (Sir. 25.4-6). Với ý nghĩa đó, "ơn huệ" của người già có thể đôí với Giáo Hội và xã hội là tạo thành những chứng tá của truyền thông đức tin. (Ps. 44:2, Ex. 12:26-27), bậc thầy khả kính (Sir. 6. 34, 3:11-12) và là người kiến tạo tình bác ái.

Ngày nay việc gia tăng con số những người lớn tuổi trong nhiều quốc gia trên thế giới, và tình trạng về hưu sớm tạo nhiều cơ hội cho công tác tông đồ của những người lớn tuổi. Đó là một công việc phải chu toàn với nhiều can đảm, phải biết quyết tầm vượt qua cơn cám dỗ muốn thu mình lại, luyến tiếc một dĩ vãng không còn trở lại nữa, và từ chối dấn thân vào thực tại vì những khó khăn gặp phải trong một thế giới không ngừng đổi mới. Ngược lại, luôn luôn cần phải ý thức rõ ràng vai trò mình trong Giáo Hội và xã hội, bởi vì vai trò này không bị ngưng trệ bởi tuổi đời, trái lại, chỉ là những hình thức mới. Thánh Vịnh ca tụng rằng: "Trong tuổi già, họ còn sinh hoa trái, họ còn đầy nhựa sông và sức trai trẻ, tuyên xưng đức công chính của Thiên Chúa" (Ps. 92:15-16). Ta nhắc lại điều Ta đã nói trong ngày Ngân Khánh của các bậc thượng thọ: "Đi vào thời kỳ thứ ba của cuộc đời phải được xem là một đặc ân: không những bởi vì không phải ai cũng may mắn sống đến tuổi này, nhưng nhất là vì đây là thời kỳ mà con người có thể nhìn lại quá khứ một cách cụ thể và rõ ràng, hiểu biết nhiều hơn và sống mãnh liệt hơn mầu nhiệm phục sinh, trở thành một mẫu mực sống trong Giáo Hội cho toàn thể Dân Chúa... Mặc dầu phải đương đầu với nhiều vấn đề phức tạp, phải chứng kiến sự suy nhược dần dần của thể xác, những thiếu sót của các tổ chức xã hội, những trì trệ của luật lệ lỗi thời, những thái độ thiếu thông cảm của một xã hội ích kỷ, vẫn không được nghĩ rằng mình đang đứng ra ngoài lề cuộc sống của Giáo Hội, là những thành phần thụ động của một thế giới quá biên động, nhưng là những chi thể tích cực sinh hoạt của một giai đoạn phong phú của đời sống con người về phương diện nhân loại cũng như về mặt siêu nhiên. Tuổi già vần còn có sứ mệnh phải hoàn thành, còn có nghĩa vụ phải đóng góp. Theo Thánh ý của Chúa, mỗi người là một cuộc sống luôn tiếp nôl, từ ánh loé đầu tiên của cuộc đời mình cho đến hơi thở cuôí cùng." (175)

NỨ GlỚl VÀ NAM GlỚl

49. Các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã lưu tâm đặt biệt đến tình trạng vai trò của phụ nữ, trong một ý hướng song phương: Các Ngài nhìn nhận và thêm một lần nữa kêu gọi mỗi người nhìn nhận sự đóng góp cần thiết của nữ giới trong công cuộc xây dựng Giáo Hội và phát triển xã hội. Ngoài ra, Giáo Hội còn cố tâm khai triển một cuộc phân tích qui mô hơn về việc tham gia của phụ nữ vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.

Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan XXIII, vị Giáo Hoàng đã nhìn nhận việc nữ giới đã ý thức về chính nhân phẩm của mình, và việc gia nhầp của nhiều phụ nứ vào đời sống xã hội như một dấu chứng của thời đại. (176) Trước những hình thức hết sức đa dạng về tình trạng kỳ thị và cho ra ngoài lề mà phụ nữ phải cam chịu, chỉ vì họ là nữ giới, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã quả quyết nhiều lần và mạnh mê cần phải cấp thời bảo vệ và thăng tiến phẩm giá và sự bình đẳng của nữ giới đối với nam giới.

Nếu đó là công việc của mỗi người trong Giáo Hội cũng như trong xã hội, thì đặc biệt đó hẳn là công việc của chính phụ nứ. Họ phải tự cảm thấy cần dấn thân như những kẻ đấu tranh hàng đầu. Còn có nhiều cố gắng phải thực hiện, ở trong nhiều nơi trên thế giới và trong nhiều môi trường sống khác nhau, để nảo trạng bất công và tàn tệ xem thân phận con người như một đồ vật, một món hàng, một dụng cụ phục vụ cho lợi ích vị kỷ, cho việc tìm kiếm khoái lạc, mà phụ nữ là nạn nhân. Do đó, việc nhìn nhận phẩm giá con người của phụ nứ một cách chân thành và rõ rệt là bước đầu phải thể hiện để cổ xúy việc tham dự đầy đủ của nữ giới vào đời sống của Giáo Hội, cũng như cuộc sống xâ hội và công cộng. Cần phải có một sự đáp ứng dứt khoát hơn cho lời hiệu triệu mà Ta đã kêu gọi trong Tông Huấn Familiaris consortio liên quan đến quá nhiều hình thức kỳ thị mà phụ nữ là nạn nhân: "Ta yêu cầu tất cả mọi người phải dấn thân vào một công tác mục vụ đặc biệt mạnh mẽ hơn và sắc bén hơn để những kỳ thị đó dứt khoát phải được xóa bỏ, và đi đến việc chân nhận đầy đủ hình ảnh của Thiên Chúa sáng chói ra trong toàn thể nhân loại không phân biệt một ai". (177) Trong dòng tư tưởng đó, những Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quả quyết: "Trong sự biểu lộ sứ mệnh của mình, Giáo Hội phải chống lại một cách mạnh mẽ tất cả các hình thái kỳ thị và lạm dụng mà phụ nữ là nạn nhân". (178) Và các Ngài còn nói: "Phẩm giá phụ nữ, từng bị tổn thương nặng nề trong dư luận quần chúng phải được phục hồi, nhờ vào việc tôn trọng cụ thể các quyền về nhân phẩm con người và nhờ vào việc thực thi giáo lý của Giáo Hội". (179)

Còn điểm liên quan đặc biệt đến việc tham dự tích cực và có trách nhiệm vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, thì cần lưu ý là Công Đồng Vaticanô II đã nói rất rõ trong lời mời gọi sau: "Ngày nay, phụ nữ càng ngày càng dự phần một cách tích cực vào trong tất cả cuộc sống xã hội, cũng vì thế sự nới rộng việc tham gia của phụ nữ vào các lãnh vực khác nhau trong công cuộc tông đồ của Giáo Hội lại rất quan trọng." (180)

Trong thời kỳ hậu Cộng Đồng này, người ta cũng nhận thức nhiều hơn và sâu xa hơn những tài năng và trách nhiệm riêng của phụ nữ, cũng như ơn gọi đặc biệt của họ, sự nhận thức đó được khởi hứng đặc biệt từ Phưc âm và lịch sử Giáo Hội. Thật thế, đôi với những ai tin vào Phúc âm, nghĩa là lời nói và gương mẫu của Chúa Giêsu Kitô, vẫn là chốt điểm cần thiết và quyết định. Hơn lúc nào hết trong lịch sử, những điều này cần được phong phú và canh tân hơn.

Dầu không được gọi tham dự chức vụ của Mười Hai Tông Đồ, do đó không ở trong chức linh mục thừa tác, nhìêu phụ nữ đã theo Chúa Giêsu trong sứ mạng của Ngài và giúp đỡ các Tông Đồ (Lk. 8.2-3); các bà đã hiện diện bên Thánh Giá (Lk. 23?49) ; các bà đã tham dự trong cuộc an táng Chúa Giêsu (Lk. 23. 55) và sáng Phục Sinh các bà nhận và truyền tin Chúa Sống lại (Lk. 24:l-10); các bà cầu nguyện với các Tông Đồ tại phòng Tiệc Ly để đón chờ Thánh Linh (Acts. 1:14).

Theo dấu chân của Phúc âm, Giáo Hội ngay từ thời khai nguyên đã vượt ra ngoài tập tục văn hoá đương thời và mời gọi phụ nứ vào những công tác liên quan đên việc rao giảng Phúc âm. Trong các thư của Ngài, Thánh Phaolô nêu tên một sổ các bà tuỳ vào các chức vụ đặc biệt của mỗi người trong công cuộc phục vụ bên trong các cộng đoàn Giáo Hội đầu tiên (Rom. 16.1-15, Pt. 4:2-3, Col. 4:15, 1 Cor.11:5, 1 Tm. 5.16). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: "Nếu việc làm chứng của các Tông Đồ thành lập ra Giáo Hội, thì việc làm chứng của phụ nữ đã đóng gúp rất nhiều trong việc nuôi dưỡng Đức Tin của các cộng đoàn Kítô hữu đầu tiên." (181)

Cũng như thời khai nguyên và trong tiến trình phát triển Giáo Hội, dĩ nhiên với những khác biệt về hình thức và cách thế đã luôn có những phụ nữ đảm trách những vai trò lắm lúc quyết định và hoàn thành những công tác có giá trị lớn lao cho Giáo Hội. Đó là cả một sinh hoạt rộng lớn, thường rất khiêm tốn và kín đáo, nhưng không kém phần quyết định trong việc phát huy và thánh hóa của Giáo Hội. Lịch sử đó còn cần phải theo đuổi, hơn thế nữa cần phải phổ biên và tăng gia thêm, song song với việc nhận thức về nhân phẩm của nữ giới và ơn gọi của họ một cách rộng rãi và bao quát, đồng thời xúc tiên nhanh chóng một "đường lối mới rao giảng Phúc âm" và một "hình thức nhân bản" rộng rãi hơn trong eác tương quan xã hội.

Tổng hơp các chỉ thị của Công Đồng Vaticanô II phản ảnh sứ điệp Phúc âm, cũng như lịch sử Giáo Hội, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nêu lên "lời khuyên cáo" rõ rệt này: "Bằng chính cuộc sông và bởi sứ mạng của mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả các ơn huệ của phái nam cũng như phái nữ, và khai triển áp dụng các ơn huệ đó." (182) Tiêp theo: "Thượng Hội Đồng này tuyên bố rằng Giáo Hội buộc phải nhìn nhận và xử dụng tất cả các ơn huệ kinh nghiệm và khả năng này của nam cũng như nữ để sứ mạng của Giáo Hội được hữu hiệu hơn (Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, Giáo Huấn về sự tự do công giáo và sự giải phóng,72". (183)

chú thích

167- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng về Phúc âm I,

168- Vaticanô II, Tuyên ngôn về Giáo dục Kytô giáo Gravissimum Educationis, 2

169- Gioan-Phaolô II - Tông thư gửi tất cả những người trẻ trên thế giới, dịp "Năm Quốc tế giới trẻ", 15, AAS 77 (1985), 620-621.

170- Propositio, 53    171- Propositio, 51

172- Vatican II Nuntii "Gửi các bạn trẻ" (8-12-1965): AAS 58 (1966) 18.

173- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 48

174- Jean Gerson - De Parvulis ad Christum trahendis: Toàn tập. Desclée - Paris- 1973, IX- 669.

175- Gioan-Phaolô II - Diễn văn đọc trước các nhóm người già của các địa phận Ý (23-3-1984), Insegnament VII, 1 (1984) 744

176- Xem Gioan XXIII - Thông điệp Pacem in Terris: AAS 55 (1963), 267-268.

177- Gioan-Phaolô II - Tông huấn Familiaris Consortio, 24: AAS 74 (1982) 109-110.

178- Propositio, 46    179- Propositio 47

180- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 9

181- Phaolô VI- Diễn văn đọc trước ủy ban lo cho Năm Quốc tế Phụ nữ (18-4-1975): AAS 67 (/975) 266.

182- Propositio 46    183- Propositio 47

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
PHÁ VỠ KHOẢNG CÁCH

Phúc Âm Nhật Ký

(Ga 21:1-19)

Một buổi sáng đẹp trời, giữa cảnh mây nước trên biển hồ Tibêria, từ trên bờ, Ðức Giêsu quan sát rất kỹ các môn đệ đang mệt mỏi chèo thuyền về phía mình.  Họ vào gần đến nỗi có thể trao đổi với Thày và nghe lệnh Thày thả lưới xuống bên phải mạn thuyền để bắt cá.  Khoảng cách càng thu ngắn, các môn đệ càng nhận rõ Thày.  Tới lúc lên bờ, khoảng cách không còn nữa.  Thày trò có thể quây quần quanh bếp hồng.  Chúa thích ăn cá mới bắt và tự tay nướng cho các môn đệ.  Ấm cúng và thân mật làm sao !  Chắc chắn Chúa Giêsu và các môn đệ có thể kể hết cho nhau niềm vui Phục Sinh.  Khoảng cách càng thu ngắn, con người càng gần gũi nhau.

Bình thường, cuộc sống cần phải có những khoảng cách giữa người lãnh đạo và quần chúng, giữa nhà giáo dục và học sinh, giữa cha mẹ và con cái.  Khoảng cách quá xa hoặc quá gần cũng đều gây phương hại cho công cuộc chung. 

Giữa thày trò Ðức Giêsu có một khoảng cách nào không ?  Nếu có, Chúa cũng phá vỡ khoảng cách đó.  Tại sao ? Liệu Chúa có thành công khi không tôn trọng khoảng cách tự nhiên không ?  Phá vỡ khoảng cách có gây nguy hiểm cho cộng đồng không ?  Nếu không còn khoảng cách quyền bính trong cả hai lãnh vực cai trị và giáo dục, con người có thể đạt mục đích không ?

Trong Tin Mừng hôm nay, việc phi thường nhất không phải là mẻ cá lạ lùng, nhưng là việc Chúa phá vỡ và phối hiệp một cách tài tình khoảng cách giữa các thực tại.  Việc phá vỡ đó rất cần thiết để Chúa trình bày một bài học rất ý nghĩa cho mọi người. 

Những cảnh trái ngược đã thu ngắn hay phá vỡ khoảng cách bình thường.  Thứ nhất, theo Tin Mừng Gioan, ngay sau khi phục sinh, Ðức Giêsu đã về trời.  Vậy mà, Ðức Giêsu vẫn xuất hiện để ăn uống với các môn đệ ở bờ hồ Tibêria.  Như thế, không còn khoảng cách giữa thiên giới và trần giới nữa.   Thứ hai, ngay trong cảnh trao quyền cho ông Phêrô, Chúa Giêsu đã kết hiệp quyền bính và tình yêu.  Ðúng hơn, quyền bính được xây dựng trên nền tảng tình yêu.  Bình thường quyền bính và tình yêu trái ngược hay xung khắc nhau, như hai lãnh  vực công và tư vậy.  Thứ ba, Hội Thánh lại được đặt dưới quyền lãnh đạo của một tội nhân đã từng phản bội Chúa.  Tại sao tội nhân lại được tuyển dụng để làm một việc thánh trong một Hội thánh như thế ?!

Dù sao, chúng ta cũng cố gắng cầu xin Chúa soi sáng để có thể rút tỉa những điều cần thiết từ ba bài học đó.   Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu xuất hiện với các môn đệ và chia sẻ tận tình với cuộc sống của họ.   Không những Người can thiệp vào kế sinh nhai, nhưng còn có thể chia sẻ tận tình với những hoa quả của cuộc sống với họ. Người mạc khải cho chúng ta thấy có một sợi chỉ xuyên suốt từ cuộc sống trần giới sang thiên giới.  Tuy có khác biệt, nhưng vẫn có điểm chung, đến nỗi Ðức Giêsu có thể ăn uống với các môn đệ.  Bữa ăn thân tình giữa thày trò đã để lại trong lòng môn đệ một niềm tin sâu xa về sự hiện diện thân mật và cần thiết của Ðức Giêsu trong cuộc sống.  Ðiểm nối giữa hai cuộc sống thiên giới và trần giới, đó chính là Thánh Thể.  Bởi đấy, kết thúc trình thuật về mẻ cá lạ lùng là hành vi giống hệt như Chúa đã làm trong bữa Tiệc Ly.

Bài học thứ hai rút từ việc Chúa trao quyền cho ông Phêrô.  Chưa thấy ai trước khi trao quyền cho người khác lại đặt những câu hỏi như Chúa.  Cách đặt vấn đề cho thấy tình yêu rất quan trọng, vì là nền tảng và động lực của quyền bính.   Thực vậy, quyền bính trong Giáo hội chỉ là phương tiện để phục vụ : “Kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.” (Lc 22:26)   Hơn nữa, Chúa còn nói : “Ai phục vụ Thày, hãy theo Thày.” (Ga 12: 26)  Hơn ai hết, những người lãnh đạo trong Giáo hội phải theo sát gót Thày Chí Thánh.  Nhưng làm sao phục vụ, nếu không khiêm tốn ?  Khiêm tốn chỉ phát xuất từ tình yêu đích thực.

Bài học thứ ba mới thật đắt giá.  Một người phản bội như ông Phêrô lại được Chúa ủy thác một trọng trách quá lớn.  Ông có tài cán gì ?   Ông đã chối Chúa ba lần. Một vết đen quá lớn trong cuộc đời !  Làm sao tẩy xóa được ?   Ông cũng không can đảm đến gần cây thánh giá như ông Gioan.  Phải chăng Chúa quá liều lĩnh khi chọn ông làm giáo hoàng đầu tiên của Giáo hội ?   Thực ra, trước khi trao trọng trách cho ông, Chúa đã đặt vấn đề tình yêu với ông ba lần.  Ba lần chứng tỏ tình yêu đối với Thày bù lại ba lần chối Chúa.  Ðó là một xác quyết sau khi cân đo cẩn thận, chứ không nông nổi như trước khi Chúa chịu chết.  Còn hơn một xác quyết, tình yêu như ngọn lửa bùng lên trong đêm trường. Phản bội tựa như rơm rác, làm sao có thể tồn tại trong ngọn lửa hồng ngùn ngụt đó ?  Theo một số nhà chú giải, thánh Gioan đã xử dụng những ngôn từ Hy lạp khác nhau để chỉ về tình yêu (trong hai câu hỏi đầu của Chúa, ông dùng agapan; câu hỏi cuối cùng và trong tất cả các câu trả lời của ông Phêrô, ông dùng từ philein).  Ông muốn cho thấy một chuyển biến từ tình cảm sang tình bạn sâu đậm hơn. Việc ông dùng hai lần trong câu hỏi và câu trả lời cuối cùng nhắc lại việc Chúa coi các môn đệ là “bạn hữu” khi họ thi hành điều Thày truyền. 

Nếu Giáo hội phát xuất và đặt nền tảng trên tình yêu, làm sao ông Phêrô và các đấng kế vị có thể khác được ?   Tình yêu trước hết đòi phải gần gũi, lắng nghe, và quan tâm chăm sóc.  Nếu quá nhấn mạnh tới quyền lực, người ta dễ bỏ quên yếu tính của nó là tình yêu.  Quyền lực hay quyền bính dễ làm cho con người xa nhau.  Trái lại, tình yêu đưa con người lại gần.  Khi đánh mất bản chất tình yêu, quyền bính không còn khả năng phục vụ con người nữa.

Làm sao ông Phêrô có thể xác quyết về tình yêu của ông đối với Chúa tới ba lần, nếu ông không tin vào Chúa ?  Bởi vậy lời xác quyết về tình yêu cũng là lời tuyên xưng đức tin. Chính trong đức tin này, Thiên Chúa sẽ hành động.  Như thế đủ thấy Giáo hội là một công trình của Thiên Chúa, chứ không phải của loài người.  Nếu đó là công trình của Thiên Chúa, các môn đệ có thể nào hành động như không có Chúa không ?  Có thể nào không nhạy cảm trước cảnh con người bị đàn áp không ? Chẳng lẽ Giáo hội trở thành một cơ chế cứng ngắc không phản ứng kịp trước những đau thương của con cái, của đồng loại... ?  Có những điều cả thế giới đều phải quan tâm; Nhưng một số người có thẩm quyền trong đạo lại cho đó là (...)!  Họ làm ra như những nhà mô phạm và đạo đức có bổn phận nhắc nhở các con chiên của Chúa "không được làm chính trị" !  Nếu không có những lời nhắc nhở đó, chắc con chiên sa hỏa ngục hết ! 

Nhưng thử hỏi tiếng nói của ai đáng cho chúng ta nghe theo ?  Trả lời cho những kẻ muốn lên mặt dạy đời, ÐGH Gioan Phaolô II thẳng thắn tuyên bố : “Đừng hiểu chính trị theo nghĩa hẹp! Giáo Hội có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng, mà trong Tin Mừng có con người, tức là có nhân quyền, nhân phẩm, tự do và lương tâm cùng tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những cái đó có một giá trị chính trị thì tôi làm chính trị, vì tôi bênh vực con người.”  Ngay khi vừa lên ngôi giáo hoàng năm 1978, ÐGH Gioan Phaolô II đã tuyên bố thẳng thắn và dứt khoát sẽ về Ba Lan chiến đấu nếu Liên Sô và khối quân sự cộng sản Varsovie (Varsaw) xâm lăng Ba Lan để đàn áp các cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.  Mới đây, ÐGH Bênêđictô cũng yêu cầu tổng thống xứ Sri Lanka tôn trọng nhân quyền và nối lại cuộc đối thoại để chấm dứt bạo động trong quốc gia này.[1]  Lời khuyên đó cũng đủ soi sáng cho những ai đang có trách nhiệm hướng dẫn đoàn chiên Chúa ở Việt nam.

Nhưng trên hết là tiếng nói của vị Giáo Hoàng tiên khởi.  Ðứng trước quyền lực Do thái đã từng đổ máu Thày mình và bây giờ muốn bịt miệng các Tông Ðồ, ông Phêrô khẳng khái tuyên bố : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm.” (Cv 5:29)  Phêrô sau khi Chúa Phục sinh không còn là Phêrô lúc Chúa chịu chết nữa.  Thánh Linh đã giết chết con người nhát sợ nơi ông.  Ba lần đáp trả tình yêu có giá trị gấp bao nhiều lần chối Chúa ?  Chúa đã không sai lầm khi chọn ông.  Ông đã đánh đổi cả mạng sống để chứng tỏ tất cả tình yêu đối với Thày và Giáo hội.  Ông xứng đáng với niềm tin tưởng của Chúa ! 

Các vị hữu trách vẫn kêu gọi phải tỏ ra bác ái và xây dựng ngay cả khi nhận định và phê bình.  Nhưng thử hỏi khi giữ im lặng trước muôn vàn bất công, trù dập kẻ yếu thế..., quý vị có tạo nên sự căng thẳng và ngộ nhận trong dân Chúa không ?  Ðó có phải là bác ái không ? Chắc chắn cũng giống như vụ “Nghi Thức Thánh Lễ 2005” và nhiều vụ khác ..., tất cả rồi cũng sẽ “chìm xuồng” luôn mà thôi.  Vị này đổ cho vị kia.  Không ai thấy có trách nhiệm gì cả !  Ðừng ai trông chờ gì !

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống khiêm tốn và can đảm !  Xin giúp chúng con biết thâu ngắn hay phá vỡ những khoảng cách làm chúng con không thể gần nhau.  Chỉ khi nào gần nhau, chúng con mới có thể phục vụ Chúa và nhân loại một cách hữu hiệu. Xin cho chúng con biết từ bỏ mọi sự, nhất là cái tôi hèn nhát của chúng con mà theo Chúa.  Amen.

Lm đỗ lực, op.  22.04.2007


[1] ZENIT.org,  20.04. 2007 

VỀ MỤC LỤC
LÀM THẾ NÀO ĐỐI VỚI NHỮNG THÓI XẤU CỦA CON TRẺ? 

 

Nói láo hoặc ăn cắp vặt: một đứa trẻ nói láo hoặc ăn cắp vặt thường là muốn cố gắng để thực hiện một cái gì. Nếu đứa trẻ cố ý làm một công việc khác thường để chúng ta khám phá ra sự phá luật của nó, chúng ta có thể bảo đảm rằng mục đích của nó là muốn sự chú ý của chúng ta. Tuy nhiên, nếu nó chối từ điều đó, chúng ta có quyền kết luận rằng nó muốn tỏ uy quyền của nó. Đứa trẻ có thể cảm thấy rằng nó có quyền lấy bất cứ cái gì nó muốn bất kể phương cách nào. Hoặc nó có thể cảm thấy một sự thích thú lớn lao trong việc lấy một cái gì mà không bị bắt. Hành động nói láo hoặc ăn cắp là triệu chứng của sự muốn nổi loạn sâu xa bên trong. Dĩ nhiên, những món đồ ăn cắp cần phải được trả lại. Nhưng chúng ta phải coi nhẹ những sự việc đó và đừng để bị gây ấn tượng. Điều đó có lẽ khó cho bố mẹ là những người hay nghĩ rằng họ có bổn phận phải dạy dỗ con cái không được làm như thế. Nhưng tất cả những việc rầy la, mắng chười, hay hình phạt thường không mang lại kết quả. Trái lạ, chúng còn làm tăng thêm sự ước muốn làm ngược lại để tìm quyền lực và để đánh bại bố mẹ. Vì thế, chúng ta không cần phải nói nhiều vì đứa trẻ biết rất rõ ràng rằng nói láo và ăn cắp là sai, nhưng nó vẫn thích làm vì điều đó sinh kết quả cho nó.

Cô bé Hương Lan 5 tuổi, chơi với đứa trẻ bên cạnh nhà đang cỡi xe đạp. Nó nài nĩ bố mẹ mua cho nó một cái xe như vậy, nhưng bố mẹ cắt nghĩa cho nó rằng họ không thể cung cấp cho nó ngay bây giờ. Một ngày kia, bà mẹ khám phá ra chiếc xe của đứa trẻ kia được dấu đằng sau lò sưởi. Bà mẹ rất là thông minh. Bà nghĩ: tốt, mình chờ xem một hai ngày nữa để xem cái gì sẽ xảy ra? Bà nhận thấy cô bé có cái gì bất ổn. Chiếc xe vẫn còn ở đó và bà mẹ không muốn nghĩ ngợi gì. Ngày thứ hai, buổi chiều bà hỏi cô bé: “Tại sao con không lấy chiếc xe của bạn con ra và cỡi đi”. Ngạc nhiên, cô bé trả lời: “Vì nó sẽ thấy và con phải trả lại cho nó. Bấy giờ, ăn cắp thì xem ra không tốt”, nói thế rồi cô bé bộc phát khóc. “Tại sao con không trả lại cho nó. Ít ra cả hai đứa có thể cỡi được cả”. Bà mẹ đã nói chuyện đó với bà mẹ của bạn nó và đã thuyết phục được sự cộng tác của bà kia để vấn đề được giải quyết một cách tốt đẹp. Từ đó, cô bé đã học được bài học của nó.

Vấn đề thật nằm trong sự kiện nầy là cô bé cảm thấy nó có quyền có bất cứ cái gì nó muốn. Nhưng bà mẹ đã giúp nó biết khám phá ra rằng ăn cắp thì không tốt.

Trẻ con có những thói tật xấu như thế cần sự giúp đỡ và cần sự cảm thông. Đó là một triệu chứng hơn là một căn bệnh. Chúng ta không thể làm gì được bằng phương cách tấn công. Hãy tìm hiểu nguyên nhân chính nằm ở đằng sau đó là cái gì? Nhiều lúc chúng ta có thể tìm ra được những nguyên nhân đó qua những cuộc nói chuyện thân tình và không chính thức. Đó có thể là vào lúc trước khi đi ngủ, bà mẹ và đứa con trong bầu khí thân tình và hạnh phúc, bà mẹ có thể bày ra một trò chơi nho nhỏ và hỏi: “Cái gì con không thích?” Ở đây, bà có thể khám phá ra đứa trẻ đang hậm hực cái gì? Từ đó, bà biết được một số những tin tức và tâm trạng của đứa bé để rồi bà có thể dùng nó làm nền cho hành động của bà chứ không phải cho lời nói. Bà không cần phê bình, cũng không cần cắt nghĩa cái mà nó không thích. Nhưng bà có thể hỏi nó: “Con cảm thấy cái gì có thể làm được cho vấn đề đó?” Đây là một cơ hội để lắng nghe. Nếu đứa trẻ không có gì để nói, bà mẹ có thể tiếp tục trò chơi bằng cách nói ra cái bà không thích, nhưng chỉ nói những thứ không có liên quan gì đến đứa trẻ. Nếu không, nó sẽ làm ngưng cuộc chơi và sẽ trở thành chỉ trích.

Chúng ta phải cẩn thận, không được tra xét vì nó sẽ làm cho đứa trẻ càng chui vào ốc vỏ, đóng cữa lại đối với những cố gắng muốn tìm hiểu. Trò chơi có thể được lập đi lập lại nhiều lần và trở thành phương tiện của sự đối thoại giao tiếp.

Chúng ta không thể mong đợi con trẻ hoàn toàn không có một tật xấu nào. Đây cũng là câu trả lời cho chúng ta nếu chúng ta cảm thấy chán nản vì sau những cố gắng sửa đổi về phía chúng ta, chúng ta vẫn thấy đứa trẻ vẫn tiếp tục như thế. Bấy giờ, chúng ta cũng như đứa trẻ có vẻ như tin rằng nó sẽ không bao giờ chấm dứt được cái thói xấu đó. Nhưng, hãy thử suy nghĩ lại: thật ra, bây giờ nó có còn mút ngón tay hay đái dầm ở vào tuổi học sinh trung học không? Dĩ nhiên là không! Tuy nhiên, sự lạc quan của chúng ta không có gì bảo đảm. Dẫu thế, chúng ta vẫn biết rằng một ngày kia nó sẽ chấm dứt. Đây là một chương trình dài hạn cần được khích lệ bỡi những hoạt động tăng cường cho những khía cạnh tích cực. Chúng ta có thể nói được rằng cuối cùng đứa trẻ cũng sẽ đáp lại. Một khi chúng ta giải thoát chúng ta khỏi sự chán nản, chính niềm tin của chúng ta vào đứa trẻ có thể cung cấp thêm động lực cho con trẻ chúng ta. Nếu chúng ta không quan tâm quá nhiều, nếu chúng ta bình tĩnh hơn một chút, và nếu chúng ta để một ít sự việc trôi đi tốt đẹp, chúng ta sẽ thấy rằng sự căng thẳng không còn và thói xấu trở thành một cái gì không còn quan trọng mấy cho con trẻ cũng như cho cả chúng ta.

lêvănquảng, taiwan.

VỀ MỤC LỤC

“NẮNG SÀI-GÒN, ANH ĐI MÀ CHỢT MÁT...”

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức kitô thân mến,

Mấy hôm nay Sài-gòn nóng như đổ lửa, từng con đường hầm hập như lò bếp nung, ai cũng tìm mọi cách tránh ra đường vào những giờ nắng nóng, nhưng khi có việc phải ra đường, xe cộ vẫn đông đúc, người người vẫn vội vã di chuyển với tốc độ nhanh.

Nhất là vào những giờ cao điểm, mọi nẻo đường như nêm chặt xe cộ, không còn chỗ để len đi. Khổ nhất là tại các ngã tư, trời nắng rát, xe dừng lại chờ đèn tín hiệu, khói cay bay mù mịt, cái nóng càng khủng kinh hơn khi đậu gần những chiếc xe hơi, ống khói xịt ra hơi nóng, quyện với mùi xăng gây buồn nôn, đường chật cứng, không biết len vào đâu để trốn, mà trốn đi đâu bây giờ ?

Vào thời điểm đèn đường bên kia bật vàng, bên này tiếng máy gầm rú, bên này tiếng còi thi nhau bấm để báo hiệu đèn đã xanh, độ nóng tăng lên rất nhanh theo tiếng rồ máy, và tiếng còi như tiếng búa giộng vào óc những người yếu sức. Tiếng còi còn gây đau buốt hơn nữa khi tiếng còi đó lại là còi xe tải, và tiếng gầm của xe tải nhích lên từng đọan đường, đường dưới chân như rung lên, hình như địa ngục đang mở ra !

Đường phố nhếch nhác làm tăng thêm ô nhiễm của môi trường, có nhiều đoạn đường tu sửa không biết bao giờ mới xong, có đường giải tỏa làm mới hai năm rồi chưa động nay, những đoạn kênh con nước vẫn cứ đen, đường vẫn bị rào, cứ đi một quảng lại môt lần nhích từng bước qua đoạn ”thắt cổ chai”. Chẳng ai có thể nói được ngày hoàn thành của nó, hình như những người có trách nhiệm như muốn thử sức chịu đựng của người dân thành phố này.

Ta thán cũng vậy, chỉ làm cho chính mình mệt mỏi hơn. Nhưng cũng phải trách lại những cư dân của thành phố này, biết cần lắm những mảng xanh trên đường phố, nhưng mấy ai chăm bón, mấy ai làm cho thêm những khoảng xanh hiếm họi nơi này ? Người ta chặt phá cây vô tội vạ, người treo đủ thứ những cái “làm ăn” của người ta trên những cành cây non nớt èo uột, người tìm cách làm cho cây chết vì cái cây “mắc dịch” kia trồng ngay trước cửa nhà .

Biết rằng những khoảng xanh rất cần để làm giảm nhiệt độ thành phố, nhưng những ngôi nhà bê-tông cứ mọc lên, thỏa mãn sức đầu tư tận dụng của con người, nhưng để lại cho thành phố những mảng bê-tông vô hồn quái ác, như những cuc gạch nung hầm thành phố này cho nhừ tử hơn.

Sao không bảo nhau, ít là, hãy trả lại cho thành phố những mảnh vườn trên nóc các ngôi nhà cao tầng, trả lại một chút thiên nhiên, cho dù đó là thiên nhiên được tái tạo để bù đắp, như thế có phải đỡ nghiệt ngã với nhau hơn. Sao không bảo nhau hãy có những dàn dây leo quanh các cửa sổ trên các ngôi nhà, như những bàn tay vươn ra để kết giao với thiên nhiên, với ra thiên nhiên và kéo thiên nhiên vào thân thiện với mình hơn. Sao không bảo nhau, khó khăn đến mấy, hãy cố gắng mỗi nhà ít là có một cây xanh, có những loài cây không đòi nhiều đất, có những loài cây nếu chỉ để cho xanh thì sẵn lòng làm xanh một khoảng lớn mà đất thì chẳng cần bao nhiêu.

Đọc báo thấy Singapore, xứ sở của cây xanh, mật độ xanh thuộc loại hàng đầu của thế giới, nhưng người ta vẫn còn muốn phủ xanh nhiều hơn nữa, người ta đang nghiên cứu các loài cây leo, lọai cây có thể bám leo trên tường mà không làm hỏng tường, có cây leo, diện tích xanh tăng lên nữa, chất lượng cuộc sống lại càng được nâng cao. Chính phủ sẵn sàng đầu tư những nghiên cứu để làm tăng chất lượng sống.

Đọc báo thấy ở Paris, người ta có ngày lịch sự, tất cả xe cộ ra đường ngày hôm đó, không xe nào bấm còi, mỗi người sẽ cố gắng kìm hãm sự nóng giận, mỗi người sẽ cố gắng nở nụ cười để cuộc sống dễ chịu và thân thiên hơn. Sao mình không làm được như vậy nhỉ ?

Bao nhiêu người đã đi nước ngoài, bao nhiêu người đã đi du học ở nước ngoài, khi trở về, sao không cố gắng nói với nhau một lời, sao không cố gắng làm một cái gì đó để cải thiện hơn cuộc sống này ? Những điều hay của người ta nên bắt chước lắm chứ, đâu cần gì phải bắt chước kiểu tóc kiểu quần ? Đâu cần gì phải bắt chước kiểu phù phiếm sa hoa ?

Và cả cái sân Nhà Thờ nữa, xin hãy phủ xanh cái sân cứng cỏi vô hồn đã được xây dựng để thỏa mãn sự “hoành tráng”, để thỏa mãn những cuộc tập họp đông đảo. Cứ phải tập họp đông đảo mới là sống Đạo sao ? Cái cần là sự thân thiện đầy yêu thương toát ra từ những gì mà Nhà Thờ đang sở đắc, gương mặt của Nhà Thờ phải càng ngày càng đễ thương và khiêm tốn hơn trong xã hội hôm nay. Ước gì... đến một ngày... sẽ như Ngô Thụy Miên hát... “Nắng Sài-gòn anh đi mà chợt mát...”

Những mầm xanh là biểu tượng của Sự Sống. Thiên Chúa đã ban Sự Sống cho nhân loại, Thiên Chúa lại còn phục hồi Sự Sống cho nhân loại, Thiên Chúa còn làm cho Sự Sống của nhân loại được trở nên vĩnh hằng trong Thiên Chúa. Đức Ki-tô đã mang Sự Sống Vĩnh Cửu đến cho chúng ta, hãy sống mầu nhiệm Phục Sinh một cách giản đơn và rất đỗi đời thường như vậy.

Tôn vinh Chúa và Mẹ Ma-ri-a...

Lm. VĨNH SANG, DCCT, thứ tư 17.4.2007

VỀ MỤC LỤC
 TỘI: THỰC THỂ và HẬU QỦA

                        

Hỏi: Xin cha giải thích rõ tội là gì, thực sự có tội đối với Chúa là Đấng giầu tình thương, quá nhân từ hay không?

Trả Lời:

Thực trạng của thế giới ngày nay cho thấy quá nhiều người đã mất hết ý thức về tội, về sự xấu, sự dữ (evils). Vì thế người ta đã cho phép mình làm những việc mà thực chất là sai trái về mặt đạo đức, luân lý, Thí dụ, người ta lấy lý do tôn trọng quyền quyết định của phụ nữ (pro-choice) mà cho phép hay ủng hộ phá thai, ngay cả trường hợp bào thai đã lớn, 5, 6 tháng trong lòng me (partial abortion) ; cũng như không biết hổ thẹn khi hai người cùng phái (same sex) dẫn nhau ra toà làm hôn thú và hôn nhau trước ống kính của TV, baó chí..! Bọn tài phiệt khắp nơi mặc sức tiến hành mọi thủ đoạn gian manh, quỷ quyệt để vơ vét của cải, làm giầu bất chấp lương tri và mọi ý thức đạo đức, công bằng….. Cũng vì tham tiền, coi nhẹ lương tâm và đạo lý, mà rất nhiều người đã và đang đầu tư khai thác kỹ nghệ cờ bạc, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, kể cả mãi dâm con nít (child prostitution) rất đáng ghê tởm và phải lên án. Chưa kể những đàn ông đã ngoài 70, 80 còn bỏ hoặc ly dị vợ già để về ViệtNam cưới hay lưà gạt các cô gái trẻ đáng tuổi con cháu mình, mặc cho dư luận chê cười phỉ nhổ !

Mặt khác, lại có những người quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là tình thương, giầu lòng từ bi, khoan dung nên Ngài không để ý hay không chấp điều gọi là “tội lỗi” của con người ! Có chăng chỉ có những nhà đạo đức, luân lý và đặc biệt các tôn giáo đã quá đặt nặng vấn đề tội để đe dọa và làm mất “tự do” của con người mà thôi !

Chúng ta phải nghĩ thế nào cho đúng trước thực trạng này ?

Là người tín hữu, trước hết , chúng ta phải dựa vào những giáo huấn của Giáo Hội và nhất là lời Chúa trong Kinh Thánh để hướng dẫn lương tâm và hành động của chúng ta trong vấn đề rất quan trọng này.

I- Nguồn gốc của tội : Thánh Phaolô đã nói rõ nguyên nhân của tội như sau : 

Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn đến mọi người, bởi vì một người đã phạm tội.” ( Rm 5:12)

Đây chính là tội của nguyên tổ loài người mà “ mặc khải đã cho chúng ta niềm tin chắc chắn là toàn thể lịch sử nhân loại đã được đánh dấu bằng lỗi nguyên thủy do tổ phụ loài người đã tự do mắc phạm. ( x SGLGHCG, số 390)

Giáo Hội định nghĩa tội là “ sự xúc phạm chống lại Thiên Chúa, nên chỉ một mình Ngài có thể tha tội” ( Sđd,số 431).

Ngoài tội của Nguyên Tổ nói trên , con người còn tự do phạm biết bao tội của riêng mình nữa .Thực tế này đã được Thánh Gio-an nói rõ như sau :

Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội : chúng ta tự lừa dối mình. Và sự thật không ở trong chúng ta, Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.” ( 1Ga 1:8-9)

Tác giả Thánh Vịnh 51 cũng nhìn nhận tội lỗi của mình như sau: 

“Vâng con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa… ..( Tv 51: 5-6)

Hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu cũng đã hứa sai Chúa Thánh Thần đến để chính minh thế gian có tội:

“ Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi,về sự công chính và việc xét xử.” ( Ga 16:8).

Như vậy, chúng ta không còn gì phải nghi ngờ, thắc mắc về thực thể tội lỗi của nhân loại trong trần gian này. Nghiã là không phải các tôn giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng đã hùa hoạ con người về thực trạng này để đòi hỏi phải xa tránh hoặc sửa đổi. Ngược lại, đây là một vấn đề rất nghiêm trọng có liên hệ trực tiếp đến sự cưú rỗi nhân loại mà Chúa Kitô đã phải trả giá đắt bằng chính mạng sống của mình trên thập giá xưa kia . Nói khác đi, chính tội lỗi nhân loại đã đóng đanh Chúa Giêsu vào thập giá khiến Ngài đã phải chết để cưú chuộc cho con người, như Thánh Phaolô đã nói rõ: “ Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh.” ( 1 Cor 15 :3).

Vì thế, thật cần thiết phải ý thức sâu xa về nguy hại của tội lỗi và quyết tâm xa tránh sự dữ này nếu ai muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để được sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa.

 Thiên Chúa là tình thường và tha thứ. Đúng, Nhưng đố ai tìm được ở đâu Chúa đã nói : các con đừng lo lắng, bận tâm gì về những việc mình làm bây giờ. Cứ vui chơi thoả thích bao nhiêu tùy ý rồi mai sau Cha sẽ cho tất cả vào Thiên Đàng hưởng phúc trường sinh vì Cha là tình thương vô biên..”!

Ngược lại, chúng ta đọc thấy lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa Giêsu

“ Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã. Nếu tay hoặc chân ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã thì hãy chặt mà ném đi; Thà cụt tay chân mà được vào cõi sống còn hơn có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời..” (Mt 18:7-8)

 Như vậy, có thực thể (entity) tội lỗi và nguy cơ phạm tội trong trần gian này đe doa nghiêm trọng cho những ai muốn được sống hạnh phúc vĩnh cữu trong Nước Thiên Chúa.

 

II- Phân loại tội:

Tội tổ tông (orginal sin) liên quan đến sự sa ngã của Nguyên Tổ loài người như ta đọc thấy trong Sáng Thế Ký 3, và được giải thích trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. (x. SGLGHCG, số 387- 390)

Tội cá nhân (personal sins): tức mọi tôi người ta đã phạm khi sử dụng ý chí tự do (free will) và cũng vì bản chất yêú đuối khi sống trong những hoàn cảnh dễ sa ngã bởi gương xấu và cám dỗ của ma quỉ. Các tội cá nhân này có hai mức nặng và nhẹ, và bao gồm tất cả những gì con người lỗi phạm trong tư tưởng, lời nói và hành động nghịch với tình thương và sự thiện hảo của Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối.

Cụ thể : 

a- về mặt cá nhân : đó là những tội nghịch các giới răn của Chúa về yêu thương, công bằng và thánh thiện như trộm cắp, cờ bạc, lường gạt, gian tham, thù oán, vu cáo, nói xấu, giết người, ngoại tình, dâm ô v,v 

b- về mặt tập thể hay xã hội, Giáo Hội, quốc gia, quốc tế : đó là tội buôn thần bán thánh ( simonia) và chạy theo thế quyền để mưu danh lợi, chức quyền... Đó là những bất công xã hội, tạo gương xấu hay dung dưỡng cho những sự dữ hoành hành. Cụ thể như phân chia gia cấp để cai trị và hưởng thụ, bóc lột người khác, cho phép mở sòng bạc, buôn bán phim ảnh khiêu dâm, mãi dâm, buôn bán phụ nữ như tệ trạng “hôn nhân ngoại quốc” đang ồn ào diễn ra ở ViệtNam nghèo đói hiện nay. Đó là tội của các tập đoàn tài phiệt cấu kết với giới cầm quyền để thao túng mọi hoạt động kính tế, doanh nghiệp và thương mại để vơ vết của cải, bất chấp hậu quả nghèo đói cùng khổ của biết bao người lao động, công nhân ở khắp nơi.

Đặc biệt, đó là tội của các quốc gia giầu có nhưng không muốn chia sẻ và giúp các nuớc nghèo vươn lên thoát khỏi thảm cảnh nghèo nàn, lạc hâu.

Đó cũng là tội rất lớn của nước lớn, nước mạnh tự cho mình quyền võ trang, quyền có võ khí giết người hàng loạt nhưng lại nhân danh công lý một chiêù, đạo đức giả hiệu để ngăn cấm các quốc gia khác không được võ trang, dù để tự vệ ! Đó là tội xâm lăng nước khác, thách đố luơng tâm nhân loại về quyền sống chân chính của con người, dù không cùng chung ý thức hệ. Sau hết, đó là tội dửng dưng, làm ngơ của cộng đồng thế giới trước sự hoành hành của những chế độ độc tài, tàn bạo, trước nạn nghèo đói, bị bách hại và diệt chủng (genocide) như đang diễn ra hiện nay ở Darfur, nước Sudan, Phi Châu.

Tóm lại, tội lỗi là thực tế không ai chối cãi được trong đời sống cá nhân và cộng đồng.

Sự dữ này đang xô nhanh con người xuống hố tự tiêu diệt vì quá nhiều người đã mất hết ý thức về ác tính và hậu quả khốc hại của nó.

Trong niềm tin có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, thì tội là cản trở duy nhất cho con người muốn sống tình thân và hạnh phúc với Chúa ngay trong cuộc sống này trước khi được ng Nhan Thánh Ngài trong cõi vĩnh hằng.

Thiên Chúa giầu tình thương và tha thứ. Nhưng Chúa chê ghét mọi tội lỗi vì nó đi ngược với bản chất thiện hảo của Người. 

Tuy nhiên, Chúa lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn sám hối và muốn xin tha thứ, vì lòng nhân hậu của Người vẫn lớn hơn mọi tội lỗi của con người.

Nhưng chúng ta phải tránh hai cực đoan này: 

Một là ỷ lại hay cố tình lợi dụng tình thương, tha thứ của Chúa để cứ phạm tội, cứ làm sự dữ rồi mong được tha thứ. Ai có thái độ này, hãy nghe lời Chúa cảnh cáo sau đây: 

“Ta biết việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh Nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3: 15-16)

Hai là quá thất vọng hoặc khước từ hoàn toàn tình thương của Chúa để không còn muốn xin tha thứ nữa.

Đây chính là tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã nói rõ là không thể tha thứ được. ( X. Mt 12 :32; Mc 3: 29; SGLGHCG, số 1864)

Ước mong mọi người chúng ta ý thức sâu xa về thực thể tội lỗi này và cố gắng xa tránh để được sống với Chúa là cội nguồn mọi hạnh phúc, vui sướng vĩnh cữu. 

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

VỀ MỤC LỤC
ĐẠI NGHĨA

 

Nguyên Tác IN STEP WITH GOD LM Vincent Travers, OP

 HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

ĐẠI NGHĨA

Để khuyên bảo những Kitô hữu vào buổi ban đầu, Thánh Phao-lồ đã nói: “Nếu ta cùng chết với Người, ta cũng sẽ sống cùng Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người.” (2Tm, 2, 11-12). Thánh Phao-lồ đã nói như thế, do kinh nghiệm bản thân. Ngài đã chịu đựng nhiều gian khổ trước khi làm nên những việc lớn lao. 

Như người ta thường nói: “Một con tim nhút nhát không thể nào chinh phục được quả tim vàng.” Kitô giáo không phải là một tôn giáo dành cho những con tim nhút nhát. Chúng ta phải chịu đựng nhiều hy sinh gian khổ trong cuộc đời thường, đầy chông gai thử thách, trước khi có thể vào Nước Thiên Chúa.  

Đó là định luật của cuộc sống, vừa khắt khe vừa hùng tráng. Không thể có triều thiên mà không có thánh giá, không thể có chiến thắng mà không đổ mồ hôi, máu và nước mắt. Không thể có Chúa nhật Phục Sinh mà không có Thứ Sáu Tuần Thánh, không thể có sống lại nếu không có chết đi.

Đại nghĩa 

Tôi thiết tưởng “đại nghĩa” phải là sứ điệp cốt lõi cần được trao ban cho giới trẻ ngày nay. Dorothy Day, khi còn thiếu nữ, là một người mẹ có con nhưng không có chồng và là đảng viên Đảng Cộng Sản, nhưng hiện tại là một ứng viên để được phong thánh trong Giáo Hội Công Giáo. Có lần chị đã nói là giới trẻ phải hy sinh mạng sống mình vì đại nghĩa. Chị hoàn toàn có lý.

Chúng ta phải công bố một cách cương quyết là sự đại nghĩa” có thể có được trong cuộc đời thường của Kitô hữu. Nhiều việc lớn lao cần được thực thi và ai sẽ thực thi, nếu giới trẻ không được chuẩn bị để đứng lên nhận lãnh trách nhiệm. Nếu tôi không công bố là Kitô hữu phải can đảm để trở thành anh hùng trong cuộc đời thường thì tôi không làm tròn nhiệm vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu.  

Do đó, tôi xin trình bày dưới đây ba gương chứng nhân về sự “đại nghĩa” được lấy từ cuộc đời thường của những người tầm thường như bạn và tôi. 

Ba câu chuyện

Trước hết là câu chuyện về một nhóm người sinh sống ở thành phố Sitka, Alaska mà đa số là tín hữu Công giáo. Một bênh viện mới được xây cất cho cư dân ở đó và ngay khi thành lập, bệnh viện đã bắt đầu thực hiện dịch vụ phá thai. Những nhân viên cao cấp của bệnh viện đồng ý, vì đối với họ không thành vấn đề. Các bác sĩ trẻ tuổi và giới y tá cũng đồng ý, vì đối với họ cũng không thành vấn đề.

Tuy nhiên, nhân viên phụ trách vệ sinh đã phản đối. Họ cho biết sẽ không lau chùi sạch sẽ sau khi dịch vụ phá thai được thi hành và họ rút lui khỏi phần vụ đó. Họ là những người Phi-luật-tân và bị cho nghỉ việc. Họ đã đứng lên tranh đấu đối với việc làm vô luân như thế, cho dù phải nhận lãnh hậu quả trầm trọng.

Sự thải hồi nầy đã gây nên một làn sóng chống đối dữ dội và kết quả là nhân viên phụ trách vệ sinh được phục hồi và bệnh viện phải thay đổi chính sách về việc phá thai. Việc đứng lên chống đối bởi nhân viên phụ trách vệ sinh trong bệnh viện đó đã thể hiện “đại nghĩa” trong cuộc đời thường và khiến chúng ta kính trọng cùng ngưỡng mộ họ hoàn toàn. 

Câu chuyện thứ hai tôi muốn chia sẻ với quí bạn về hai người kết hôn và sau đó một hai năm, một trong hai người phối ngẫu bị một tai nạn thảm thương. Đó là những người mà tôi quen biết. Trong trường hợp nầy, chính người chồng bị tàn phế. Bà vợ của anh chăm sóc anh từ năm nầy qua năm khác, không bao giờ có thể sắp đặt cuộc sống cho mình, vì bận săn sóc cho chồng với một tình yêu tận tụy và không bao giờ ngừng nghỉ, ngày cũng như đêm, theo kim đồng hồ.

Chị đã giữ lời hứa trong ngày kết hôn: “Em sẽ yêu anh trong khi đau yếu cũng như lúc khỏe mạnh cho đến ngày nhắm mắt” và chị không lỗi lời thề. Những gì chị làm thật anh hùng cao cả, đúng là “đại nghĩa”. 

Khác thường 

Câu chuyện thứ ba đã xảy ra hơn năm mươi năm rồi, trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là câu chuyện về một người phản chiến vì lương tâm. Anh là một thanh niên đã sống một cuộc sống cuồng loạn trong một trang trại. Cuối cùng anh đã lập gia đình và ổn định cuộc sống. Vào thời điểm đó, anh được hoán cải và bắt đầu thay đổi cuộc sống. 

Mấy năm sau đó, nói chính xác hơn là vào năm 1942, anh nhận được lệnh gọi nhập ngũ qua bưu điện. Anh phải đi khám sức khỏe để tòng quân. Sau khi khám sức khỏe, anh trở về nhà. Anh nhận thấy chiến tranh là một hành động vô luân và thật là sai lầm khi phải cầm súng. Anh đi gặp một vị linh mục để xin ý kiến và ngài cho biết đó là bổn phận phải chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Anh cảm thấy không thỏa mãn với lời khuyên bảo đó. 

Anh đến gặp Đức Giám Mục và ngài cũng nói như vị linh mục vậy. Đức Cha cho biết đó là một cuộc chiến tranh để bảo vệ tổ quốc, chống lại một chính thể độc tài vô thần, nên anh có bổn phận phải gia nhập quân ngũ. Lời khuyên bảo đó cũng không có sức thuyết phục anh.

Anh vẫn tin tưởng chiến tranh là điều không chính đáng, không thể biện minh được. Vì thế thật sai lầm đối với anh là một Kitô hữu phải đi đánh giặc. Vợ anh và nhiều bạn hữu của anh cũng khuyên nhủ anh nên hợp tác với chính quyền. 

Sau cùng, anh nhận được lệnh của quân đội buộc anh phải trình diện nhập ngũ. Anh quyết định thông báo cho biết là anh không tuân lệnh. Do đó anh bị bắt, bị xét xử theo quân luật, bị kết tội mưu phản và và nhận lãnh bản án tử hình.  

Chính Phủ Đức Quốc Xã đã thi hành bản án ngày 9 tháng 8 năm 1943 tại Bá-linh. Anh là người Áo, với danh xưng là Franz Yeagersteter. Không giống như vị linh mục và giám mục đã khuyên bảo, anh xác tín việc tham gia vào cuộc chiến của Hitler là điều vô luân và anh đã chết vì niềm tin của mình.

Khi đọc câu chuyện nầy, có thể bạn không thích người đó vì anh không chiến đấu cho một cuộc chiến chính đáng, và đó cũng là cuộc chiến chính đáng đối với Đức Quốc Xã. Mọi cuộc chiến được xem là chính đáng vì lý do luân lý, đối với những người chiến đấu cho những cuộc chiến đó. Họ đã chiến đấu ở nước Áo để bảo vệ Kitô giáo, chống lại chế độ Công Sản vô thần của Nga Sô Viết. Đó là điều chính quyền tuyên truyền cho dân chúng và nhiều người đã tin theo.

Nhưng thử nói lại điều đó cho những nạn nhân các lò hỏa thiêu của Đức Quốc Xã và những người đã mất tất cả trong Đệ Nhị Thế Chiến, chắc chắn không lọt tai chút nào. Sự đứng lên chống lại cuộc chiến đó của Franz Yeagersteter khiến chúng ta ngày nay ca tụng anh là người anh hùng cao cả. Ngày anh lên đoạn đầu đài, anh đã viết một lá thư trần tình cho biết tại sao anh đã hành động như thế.  

Anh viết: “Tôi tin tưởng đó là điều Chúa đã kêu gọi tôi làm và tôi đã dâng hiến cuộc đời của tôi như một hy lễ đền tội cho Đức Quốc Xã. Tôi ngước mắt nhìn trời là nơi tôi sẽ tới và rồi từ đó tôi sẽ  nhìn xem các con tôi trong tương lai và được biết chúng sẽ hỉểu tại sao cha chúng đã làm điều đó.

Đó là đức tính anh hùng cao cả chắc chắn được nói lại cho chúng ta một cách hùng hồn nhất. Đó là anh hùng tính mà chúng ta được kêu gọi để sống như Kitô hữu trong cuộc đời thường của chúng ta.

Những việc lớn lao cần phải thực hiện

Không có chỗ để thỏa hiệp ở đây. “Đại nghĩa” là việc có thể thực hiện được trong cuộc đời thường. Một người có thể giữ ngày Sabbat cho dẫu không ai tuân giữ hết, hoặc xem lễ Chúa nhật cho dẫu bạn bè từ khước. Người ta có thể sống quảng đại, quan tâm và vị tha đối với người khác, hoặc thảo kính và phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già.

Người ta có thể không làm chứng gian, không nói dối, trộm cắp hay ngoại tình. Người ta có thể không bị lãng phí bởi nếp sống tiêu thụ và giới trẻ có thể khước từ việc nghiện ngập, xì ke, ma túy và dấn thân vào những tương giao đặt cơ sở trên những nguyên tắc luân lý vững chắc.  

Người ta có thể đương đầu với những trào lưu thế tục, cho dẫu phải đứng lên một mình, hơn là chạy theo quần chúng. Bạn có thể ngẩng đầu lên cao trong khi những người chung quanh cúi thấp đầu xuống. Người ta có thể sống cũng như mọi người nhưng lại khác biệt mọi người, tức là “hòa nhi bất đồng”. Người ta có thể đi con đường hẹp, ít người đi và có thể trở thành một nhà lãnh đạo hơn là người theo bén gót.

Người ta có thể sống và chết cho một lý tưởng cao đẹp, như sống cho Chúa Kitô trong một bối cảnh trần tục. Khi chúng ta vấp ngã, và điều đó thường xuyên xảy ra, chúng ta có thể chỗi dậy, với ơn Chúa phù trợ, bằng lời cầu nguyện hằng ngày để tiếp tục đoạn đường kế tiếp.

Tuy nhiên những điều đó sẽ không xảy đến, nếu chúng ta không chấp nhận cho mình một kỷ cương và sức mạnh nội tâm, cũng như có ý muốn chấp nhận gian khổ để được dẫn tới Vương Quốc của Chúa.

Lời khen tặng cao đẹp nhất 

Trước khi chấm dứt, tôi tưởng đây là dịp tốt nhất để nêu lên một vài câu hỏi gợi ý. Gần đây bạn có bị bắt bớ vì niềm tin của bạn không? Bạn có bị người khác hạ thấp xuống, làm cho ngã quỵ và kể bạn là kẻ điên rồ vì đức tin Kitô giáo không? Nếu có, đó là một dấu hiệu tốt.

Bạn có cam chịu đắng cay để bảo tồn sự liêm chính của mình không? Nếu có, tốt lắm! George Bernard Shaw có lần đã nói: lời khen tặng cao đẹp nhất đối với một tác giả là đốt cháy tác phẩm của họ. Ông ta thật có lý. Người ta không tấn công một người vô tích sự, tầm thường và rõ ràng không ra gì.

Bị bắt bớ, chế nhạo hay cười chê vì đức tin của mình là lời khen tặng cao đẹp nhất, bởi vì đó là chứng cớ người ta đã “đứng lên vì một điều gì”. Đối lại với việc đứng lên vì một điều gì là không đứng lên vì điều gì hết. Và người không đứng lên vì điều gì hết, buồn thay, đó là người sẽ gục ngã vì bất cứ điều gì. 

Đôi khi chúng ta tưởng Phúc Âm là một tập hợp những ý niệm không thể thực hiện được. Thật ra lý tưởng của Phúc Âm có thể thực hiện được “ngay bây giờ và ở nơi đây”, bởi những người tầm thường như bạn và tôi, bởi vì Chúa không truyền dạy cho ta những gì không thể làm được. Chúa chỉ truyền dạy những gì chúng ta có thể làm được mà thôi.

VỀ MỤC LỤC
Bạn Đã Được Cứu Độ Chưa?

 

27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.30 Tôi và Chúa Cha là một." (Ga 10:27-30)

 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Phục Sinh này nhắc làm tôi nhớ lại một cuộc đối thoại ngắn giữa một người bạn Tin Lành làm cùng sở với tôi về Ơn Cứu Độ.

Một ngày kia có một cô bé vừa tốt nghiệp Đại Học đến làm chung sở với tôi. Tình cờ cô biết tôi là người Công Giáo nên tò mò bắt chuyện.  Cô hỏi tôi bằng tiếng Anh “Are you saved?” tạm dịch là “Chú đã được cứu độ chưa?”  Cô cho tôi biết rằng trước kia cô là người Công Giáo, nhưng bây giờ cô là “Christian” và cô chắc chắn rằng cô được rỗi vì cô đã tin vào Đức Kitô và đã chấp nhận Người là Cứu Chúa của cá nhân cô bởi Người đã hứa với tất  cả những ai tin vào Người là: “Tôi sẽ ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng bị diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi.” (Ga 10:28).  Rồi cô nhìn tôi cách đắc thắng và nói: “Chú thấy không, đâu cần phải xưng tội, rước lễ, thờ bà Maria, xin các thánh, và làm đủ mọi thứ việc lành như đạo Công Giáo dạy, mà vẫn chưa chắc đã được rỗi, trong khi đó theo đạo của cháu, chỉ cần tin Chúa thôi!  Đạo Công Giáo bày đặt ra đủ thứ ngoài Thánh Kinh để làm tiền và nô lệ hóa giáo dân, còn đạo Tin Lành chỉ dựa vào Thánh Kinh, và Thánh Kinh nói rõ rằng chúng ta chắc chắn được rỗi nếu chúng ta tin vào Ðức Kitô (Ga 10:28). Dù phạm tội và bị xa lìa Thiên Chúa (Rom 3:23), nhưng chúng ta vẫn biết chắc là mình sẽ lên Thiên Ðàng, vì Thiên Chúa thương yêu chúng ta (Ga 3:16) và Chúa Giêsu đã chết thay cho chúng ta (Rom 5:8). Bằng cách ăn năn tội lỗi và nhận Ðức Kitô vào tâm hồn chúng ta, chúng ta được cứu thoát khỏi Hỏa Ngục (TÐCV 3:19; Kh 3:20). Như thế là được cứu rỗi, và một khi được cứu rồi thì không thể xuống Hỏa Ngục nữa, như Chúa đã hứa trong câu Gioan  10:28 ở trên. Chú thấy không, chỉ cấn biết chân lý và ‘chân lý giải phóng chúng ta’ (Ga 8:32)”.  Cô bé thuyết pháp một cách rất hùng hồn, tự nhiên và nhiệt tình.  Cô thuộc làu Thánh Kinh, còn nhớ từng số đoạn và câu. Hồi lâu không thấy tôi trả lời, tưởng là đã thuyết phục được tôi, cô đưa tôi một tờ giấy nhỏ và nói tiếp: “Chú đọc tờ này và chỉ cần theo công thức trong đó mà tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu là chú chắc chắn được cứu độ và được giải thoát khỏi ách nô lệ của đạo Công Giáo như cháu!” 

Thực sự cô đã đưa ra một ít chân lý căn bản của Kitô giáo, nhưng chưa trọn vẹn Ðức Tin Kitô giáo.  Người Tin Lành có khuynh hướng học thuộc lòng một số câu Thánh Kinh tủ rồi dùng chúng để chứng minh niềm tin của họ.  Để xác tín điều người Công Giáo chúng ta tin là đúng, chúng ta cũng phải dựa vào Kinh Thánh, nhưng phải dựa vào toàn thể Thánh Kinh.

Hãy bắt đầu với câu Gioan 3:16: “Vì Thiên Chúa quá yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để ai tin vào Người thì không bị hư mất, nhưng được sống đời đời”.

Câu này là một câu thật chính xác và đẹp đẽ của sứ điệp Tin Mừng.  Thiên Chúa yêu chúng ta quá sức đến nỗi đã sai Con Một Ngài, là Ðức Chúa Giêsu Kitô, đển để chết trên Thánh Giá mà cứu chúng ta khỏi Hỏa Ngục (Rom 5:16-11).  Ơn Cứu Ðộ của chúng ta là một món quà nhưng không của Thiên Chúa, mà  Ðức Kitô đã mua. Chúng ta không làm gì để chiếm được Thiên Ðàng nên chúng ta đừng tự hào (Eph 2:8).  Chúng ta được cứu độ nhờ Ðức Kitô qua việc tin vào Ðức Kitô.  Nhưng "Tin" là gì?

Nhưng câu Gioan 3:16 chưa diễn tả trọn vẹn học thuyết cứu độ. Chúng ta phải hiểu câu này trong phạm vi của toàn thể mặc khải, vì chỉ hai mươi câu sau,Tin Mừng viết: “Ai tin (pisteuon) vào Chúa Con, thì được sống đời đời; nhưng ai không vâng phục (apeithon) Chúa Con, thì không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy” (Ga 3:36).

Theo chữ Hy Lạp apeithon là "vâng phục" mà nhiều sách dịch sai là “tin”. Ðộng từ này liên kết "niềm tin vào Ðức Kitô" với sự "vâng phục Ðức Kitô."  Bây giờ trở lại câu Gioan 10:28. Trước khi hứa “ban sự sống đời đời”, Chúa nói trong câu 27: “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi; Tôi biết chúng và chúng theo Tôi.” Như thế Chúa cũng đòi hỏi Chiên của Chúa phải nghe và theo Chúa, tức là phải vâng phục Chúa, mới được cứu độ. Ở những nơi khác, Thánh Phaolô cũng liên kết đức tin với vâng phục như "vâng phục đức tin" (Rom 1:5) và với việc lành như "đức tin hoạt động qua đức ái" (Gal 5:6).  Cũng có câu: "Nhờ đức tin, ông Abraham,.., đã vâng lời" (DT 11:8). Vậy theo Thánh Kinh "Tin" có nghĩa là "vâng phục." Chúng ta không thành tâm tin vào Ðức Kitô, nếu chúng ta không tuân phục Giới Răn của Thiên Chúa và phạm tội (Gia 2:18-26).  Tội lỗi làm đức tin dừng lại (DS 5:6-7).  Mà vâng phục Chúa thì cũng phải vâng phục Hội Thánh, vì Chúa đã nói với ncác Tông Đồ: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” (Lc 10:16).

Như một hậu quả của tội Ađam (Rom 5:12) và tội trọng của chúng ta, chúng ta chối bỏ Thiên Chúa và đánh mất sự sống đời đời, đáng sa Hỏa Ngục. Nên nhớ rằng Hỏa Ngục không phải là hình phạt của Thiên Chúa, nhưng là hậu quả tất nhiên của việc chối từ Thiên Chúa là nguồn mạch Sự Sống và Tốt Lành. Tội lỗi của chúng ta xúc phạm đến Tình Yêu Thiên Chúa. Không có gì chúng ta có thể làm để đền bù sự xúc phạm vô lường này được. Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, Ðức Kitô đã cứu chuộc chúng ta khỏi Hỏa Ngục qua Cuộc Khổ Nạn và Hiến Lễ của Người trên Thánh Giá. Như một món quà nhưng không (Tit 3:5), Thiên Chúa tha cho chúng ta và ban cho chúng ta ân sủng để sống với Ngài trong tình bằng hữu cho đến muôn đời, khởi đầu từ Bí Tích Rửa Tội (Mc 16;16; 1 Phr 3:21; TÐCV 2:38). Trong Bí Tích Rửa Tội, chúng ta nhận được Ơn Thánh Hóa, làm cho chúng ta nên công chính trước mặt Thiên Chúa (TÐCV 22:16; 1 Cor 6:9-11).

Giờ đây chúng ta chắc chắn rằng mình được cứu độ bởi Đức Kitô qua Bí Tích Rửa Tội, nhưng chúng ta vẫn có quyền tự do chọn lựa chối từ món quà này bằng cách phạm tội trọng, như Thánh Phaolô viết: “Tiền công tội lỗi là sự chết; còn hồng ân nhưng không của Thiên Chúa là sự sống đời đời trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rom 6:23). Trong câu này, sự sống đời đời là Thiên Ðàng, và sự chết là Hỏa Ngục. Thiên Ðàng là món quà Thiên Chúa ban cách nhưng không, nhưng chúng ta vẫn có thể chiếm được Hỏa Ngục bằng cách phạm tội trọng. Tương tự như vậy, quyền công dân tự do của tôi là món quà của tổ tiên, nhưng nếu tôi phạm pháp, thì tôi có thể đi tù.  Thánh Phaolô cũng nói cách: “Anh em phải biết rõ điều này là không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào, cũng là thờ ngẫu tượng, được thừa hưởng gia nghiệp trong Nước của Ðức Kitô và của Thiên Chúa. Ðừng để ai lường gạt anh em bằng những lời hão huyền, bởi những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ bất phục tùng” (Eph 5:5-6).

Một câu khiêm tốn khác của Thánh Phaolô là: “Nếu chúng ta cố tình phạm tội sau khi đã nhận được sự hiểu biết về chân lý, thì không còn có hy lễ nào đền tội được nữa, nhưng chỉ còn sự sợ hãi đợi chờ ngày phán xét” (Dt 10:26-27).

Xin lưu ý rằng chữ "chúng ta" trong câu này kể cả Thánh Phaolô, một Đại Tông Đồ!  Sau Phép Rửa, nếu chúng ta cố tình phạm tội và không chịu hối cải, thì chúng ta mất ơn cứu độ. Trong Bí Tích Rửa Tội chúng ta nhận được Ơn Thánh Hóa không vì công lao riêng của mình, nhưng sau đó chúng ta phải cộng tác với Ơn này, nếu không chúng ta sẽ mất nó (2 Cor 6:1). Việc công tác với Ơn Cứu Ðộ của Thiên Chúa này, người Công Giáo hiểu là công trạng (GLCG 162; 2025).

Phúc thay Thiên Chúa ban cho chúng ta Bí Tích Giải Tội (Hoà Giải), để chúng ta có thể tiếp tục nhận được ơn tha thứ các tội lỗi đã phạm sau khi Rửa Tội. Bởi vì chúng ta tiếp tục phạm tôi sau khi Rửa Tội (1 Ga 1:8-9), nên chúng ta phải tiếp tục ăn năn, xưng tội, và trở về cùng Ðức Kitô trong tâm hồn. Đối với chúng ta ăn năn hối cải không chỉ là một biến cố duy nhất trong cuộc đời, nhưng phải là một tiến trình liên tục và hằng ngày. Ngày hôm qua chúng ta có thể thực lòng hối lỗi và được tha thứ, nhưng ngày mai, vì sự yếu đuối, chúng ta có thể lại sa ngã phạm tội (2 Phr 2:20-22). Chúng ta có thể tin chắc rằng Chúa Giêsu sẽ tha thứ cho chúng ta thường xuyên như chúng ta tha thứ cho tha nhân (Lc 6:36-37; Mt 6:14-15). Qua Bí Tích này, chúng ta lãnh nhận Ơn Thánh Hóa và Ơn Hiện Sủng là những ơn có thể giúp chúng ta chống trả các tội lỗi trong lương lai.

Chúa Giêsu hiểu sự yếu đuối của chúng ta ngay cả sau khi Rửa Tội. Ðó là lý do tại sao Người ban cho các Tông Ðồ quyền tha tội: “Người thổi hơi vào các ông và bảo các ông, ‘Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nếu các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha; nếu các con cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc’” (Ga 20:22-23).

Qua nhiều kỷ nguyên quyền này được truyền lại cho các Giám Mục và các Linh Mục trong Bí Tích Hòa Giải. Các Kitô hữu ngày nay cũng cần ơn tha tội như các Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất.  Hơn nữa quyền tha tội hay buộc tội có ý nói đến việc xưng tội của chúng tội bằng lời nói (thú tội) bởi vì linh mục cần phải biết bản chất của tội (TÐCV 19:18; Lev 5:5-6) cũng như thầy thuốc cần biết căn bệnh.

Dù phần rỗi của cá nhân chúng ta không được chắc chắn, chúng ta vẫn hy vọng sẽ được cứu độ nếu chúng ta làm theo Thánh Ý Chúa. Thánh Phaolô dùng câu: "hy vọng ơn cứu độ" (1 Thes 5:8) hay "niềm hy vọng vào sự sống đời đời" (Tit 1:2; 3:7) để nói lên niềm hy vọng này. Nếu chúng ta được bảo đảm chắc chắn về Thiên Ðàng, thì không cần hy vọng nữa. Hy vọng khác với chắc chắn (Rom 8:24). 

Theo sách Giáo Lý Công Giáo (GLCG): “Hy vọng là sự mong đợi một cách tin tưởng hồng phúc của Thiên Chúa và ơn hưởng Nhan Thánh Chúa; nó cũng là sự sợ hãi xúc phạm đến tình yêu của Thiên Chúa và chịu phạt” (GLCG 2090).

Hai tội phạm đến hy vọng là tuyệt vọng và quá tự tin (GLCG 2091). Tội tuyệt vọng là không còn hy vọng vào ơn Cứu Ðộ vì hoàn toàn mất tin tưởng vào Thiên Chúa.  Tội quá tự tin là quá dựa vào sức mình để được cứu độ thay vì vào Thiên Chúa, hay coi lòng thương xót Thiên Chúa là điều hiển nhiên mà không còn kính sợ. Chối từ tình trạng tội lỗi của chúng ta hoặc tin rằng "một khi đã được cứu độ,thì luôn được cứu độ" có thể đưa chúng ta đến tội coi thường. Tuy nhiên, chúng ta không được đi quá về phiá kia mà phạm tội tuyệt vọng.  Hy vọng là một sự quân bình khéo léo giữa niềm tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa và sự kính sợ Thiên Chúa (Prv 1:7).

Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (1 Tim 2:4). Qua Hội Thánh của Ðức Kitô, là Hội Thánh Công Giáo, chúng ta có thể nhận biết chân lý (1 Tim 3:15; Mt 16:18). Nhờ các Phép Bí Tích chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa như một hồng ân. Nhưng sau đó chúng ta phải hợp tác với ân sủng, vì chúng ta có ý chí tự do để khước từ Thiên Chúa bất cứ lúc nào qua việc bất tuân trầm trọng, như tội trọng. Sau khi nhận lãnh ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Bí Tích Rửa Tội. Chúng ta phải tiếp tục "run sợ mà chăm lo cho phần rỗi"(Php 2:12)  của mình. Qua Bí Tích Hoà Giải, chúng ta có thể xin Thiên Chúa tiếp tục ban ơn tha thứ đầy thương xót và nhiều ân sủng hơn để giúp chúng ta chống trả tội lỗi trong tương lai.

Là những người tội lỗi, chúng ta không biết chắc về phần rỗi của chúng ta. Nhưng chúng ta chắc chắn sẽ được cứu độ nếu chúng ta luôn sống trong tình trạng ân sủng. Theo các Giáo Phụ và Thánh Thôma Aquina (THTL I-II, 112, a. 5) thì có những dấu chỉ cho chúng ta biết rằng chúng ta đang ở trong tình trạng ân sủng là: giữ các Giới Răn một thời gian dài, sùng kính Đức Kitô và Mẹ Maria, siêng năng lãnh nhận các Bí Tích, nhất là Bí Tích Hòa Giải và Thánh Thể, chê ghét tôi lỗi, coi thường những sự thế gian, cùng ưa thích những sự trên trời, và tâm hồn luôn bình an.  Các Kitô hữu trung thành với ơn Chúa mà không buông xuôi, có thể hy vọng cách chắc chắn được ơn cứu độ.

Phaolô Phạm Xuân Khôi

VỀ MỤC LỤC

Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường.

 

Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la.

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8.

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc  cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở, sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ.

Được làm con Thiên Chúa:

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa.

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là  con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha.

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1)

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng , Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là  chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “ thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma.

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều  nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình.

“ Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” ( Sách Sáng thế ký,câu 27 ) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha.

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát : “ Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4 : 6,7)

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “ Áp-ba., Cha ơi ”.

Lòng tin của con đã cứu con:

Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết:

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “ Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “ Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” ( Mc 5 : 25-34) 

Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường:

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “ Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “ Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “ Ta-li-tha-kum” nghĩa là “ Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được. … người ta kinh ngạc sững sờ. ( Mc 5: 35-42)

Chúa chữa người mù:

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “ Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “ Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “ Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “ Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “ Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “ Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.( Mc 10: 46-52) 

Chúa chữa người phong cùi

Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “ Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta:  “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” ( Luca 7: 12-19) 

Hồi tâm hay tĩnh tâm  theo thánh I-Nhã.

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét.  

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói.

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền( thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11 , 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua “các luân xa ”. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “ tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “ thiền ” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được.   

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó , lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa ”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn.

Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform)

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở : “ Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất…

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là  lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “ Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh ” 

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “ transform ” sự xấu thành sự tốt. “ Ơn thánh ” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật  v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “ transform ”  nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ ở cùng ”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ.

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. ( Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa.

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời.

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “ có Chúa ở cùng ”  thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu?

 

(1)   Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam đầu thế kỷ 17 của Nguyễn Khắc Xuyên 

  Phùng văn Phụng

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)

 rogerphung42@yahoo.com 

VỀ MỤC LỤC

Mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh của Người Việt Nam

(thử phân tâm một vết thương nghìn đời vẫn còn rướm máu)

 

Trong lịch sử của Đất Nước Việt Nam, những sự kiện như Nam Bắc phân tranh, Con Sông Bến Hải… tuy dù đã lùi dần vào quá khứ, vết thương vẫn còn rướm máu và nhức nhối, trong cõi lòng của tất cả những ai :

« Nhớ Nước đau lòng con Quốc Quốc,

« Thương Nhà mỏi miệng cái Gia Gia ». 

Hẳn thực, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh, cho đến ngày hôm nay vào thời đại Nghìn Năm Thứ Ba, vẫn còn là một ung nhọt đang lở lói, lan tỏa, chưa được điều trị một cách dứt điểm. 

Bao lâu chúng ta chưa có một tầm nhìn thẳng, cố quyết nhận diện và đối diện vết thương lòng ấy, một cách can đảm và trung thực, chúng ta sẽ không bao giờ tìm cách hóa giải mặc cảm ấy tận gốc rễ và ngọn nguồn. Bóng hình nó vẫn thấp thoáng đó đây, đeo đưổi tâm tư của nhiều người, len lỏi nằm vùng trong mọi công trình đóng góp và xây dựng của chúng ta. Và cứ như vậy, mỗi lần hai ba người Việt Nam có cơ hội ngồi lại với nhau, làm việc với nhau, trong bất cứ lãnh vực nào, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh được hà hơi tiếp sức, sống lại và trở về. Họ chỉ gây ra bão lụt, mất mùa, đói khát, lầm than, chia rẽ, hận thù, chiến tranh và tàn hoại, trong chính cuộc đời và bản thân mình. Có bao giờ họ biết giật mình, thức tỉnh, nhận thức một cách sáng suốt rằng tất cả anh chị em đồng bào, không loại trừ một ai, đang khát khao hòa bình, hạnh phúc, no cơm ấm áo, trên mỗi con đường của Quê Hương, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau ? 

Dưới ánh sáng của FREUD, tôi muốn phân tâm cặn kẽ và chi li, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh. Tôi cố gắng đào bới lên, để khám phá cho kỳ được bao nhiêu tầng lớp đã đóng lớp rêu phong và tạo nên một thế kẹt, từ đời nầy qua đời khác. Nói khác đi, nội kết hay là thế kẹt nghìn đời của chúng ta nằm ở đâu, bao gồm những yếu tố nào ? Khi nhận diện và đối diện, một cách thành tâm và can trường, ba cấu trúc Tự Ngã, Bản Ngã và Siêu Ngã, đang có mặt trong nội tâm, chúng ta sẽ có cơ may chuyển hóa bao nhiêu vấn đề đang bủa vây và làm tê liệt mọi công trình xây dựng Đất Nước và phục vụ anh chị em đồng bào.

1.- Siêu Ngã của chúng ta là gì ? 

Tác giả HOÀNG Trọng Miên, trong tác phẩm « Việt Nam Văn Học Toàn Thư », do Tiếng Đông Phương xuất bản, Saigon 1973, đã đưa ra những dữ kiện sau đây :

« Thuở bấy giờ, Vua Hùng Vương đang trị vì ở Phong Châu, có người con gái rất đẹp tên là Mỵ Nương…Hùng Vương, trước lời xin cầu hôn cùng một lượt của hai thần Sơn Tinh và Thủy Tinh, mới bảo đôi bên thi tài. Thấy cả hai thần đều tài giỏi, không ai kém sút ai, Hùng Vương không biết nhận lời bên nào, mới hứa gả cho ai đem nhiều vật lạ của quý làm đồ sính lễ đến trước nhất, trong ngày hôm sau. Sơn Tinh đến trước. Hùng Vương giữ đúng lời hứa, cho Sơn Tinh rước Mỵ Nương về Núi Tản Viên ».

Trong câu chuyện nầy, nhằm tìm hiểu Siêu Ngã là gì, chúng ta cần ghi nhận những yếu tố cơ bản sau đây : 

Thứ nhất, trong vấn đề tương lai và hạnh phúc đôi lứa của đứa con gái của mình, Vua Hùng Vương, với tư cách là người cha, đã đơn phương quyết định mọi chuyện, không có một lời và một lần tham khảo ý kiến của đứa con gái, như « Con yêu người nào trong hai thần Núi và Sông  ».

Thứ hai, động cơ thúc đẩy hành động và tiêu chuẩn quyết định, trong vấn đề chọn lựa giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, là « Ai tài giỏi hơn ai ». Và vì hai người có tài ngang nhau, Vua Hùng Vương đã nêu ra một tiêu chuẩn thứ hai. Nhưng tiêu chuẩn nầy nằm ở ngoài con người của hai thần. Đó là tiêu chuẩn thời gian « Ai đến trước, người ấy sẽ là người thắng cuộc ».

Xét cho cùng, đây là một loại quyết định « Tránh Né ». Khi phó thác trách nhiệm cho yếu tố thời gian, Vua Hùng Vương không dám đảm nhận một cách sáng suốt mọi hậu quả của hành động.

Thêm vào đó, dựa vào thời gian để quyết định, là một bất công trắng trợn. Hẳn thực, khoảng cách giữa Tản Viên và Phong Châu làm sao có giá trị ngang bằng về mặt thời lượng, giữa Phong Châu và Biển Đông, nơi cư ngụ của Thủy Tinh ?

Sau cùng, trong thực tế, Vua Hùng Vương đã chọn lựa Sơn Tinh, vì biết rõ thế nào chàng cũng sẽ đến trước một cách dễ dàng. Tuy nhiên Vua Hùng Vương không dám bộc lộ tình cảm của mình, một cách trung thực và trực tiếp.

Thứ ba, trong tình huống cụ thể, chỉ có một người có khả năng  đề xuất tiêu chuẩn đánh giá, có giá trị và đáng khảo sát một cách nghiêm chỉnh, đó là Mỵ Nương. Nàng yêu người nào ? Ai sẽ làm cho nàng hạnh phúc ? Nàng có quyền diễn tả tiếng nói của con tim, vì đây là vấn đề riêng tư của nàng.

Tuy nhiên, Vua Hùng Vương đã nghĩ đến tài nghệ và của cải, khả dĩ mang lại lợi ích cho mình. Tâm tình của đứa con không được coi trọng. Tình cảm giữa cha con là vấn đề thứ yếu, so với tiền tài và uy lực… 

Xuyên qua tất cả những nhận xét ấy, chúng ta có thể khám phá những đặc điểm, có mặt trong tâm hồn và tính tình của Vua Hùng Vương :

·       Xu thế áp đặt và kiểm soát tất cả, từ bên trên và từ bên ngoài, trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi,

·       Lập trường Hơn-Thua chi phối mọi quyết định,

·       Tình cảm bị chối từ, coi nhẹ,

·       Ý đồ trục lợi biện minh mọi hành động. 

Hai nhận xét sau đây còn bộc lộ thêm tính nghiêm trọng và tầm độ phổ quát của nội kết, hay là vấn đề truyền kiếp của người Việt Nam:

·       Theo lịch sử, Họ Hồng Bàng gồm có 18 đời vua, từ Hùng Vương thứ nhất đến Hùng Vương thứ muời tám. Thế nhưng, trong câu chuyện tranh chấp sống mái giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, người cha của Mỵ Nương là Vua Hùng Vương không niên lịch. Phải chăng câu chuyện muốn nói đến tư cách, tính tình và cách thiếp lập quan hệ của mọi người cha Việt Nam, trải qua mọi thời đại, từ nguyên thủy cho đến ngày hôm nay ?

·       Thêm vào đó, quan hệ hay là lập trường HƠN-THUA không phải chỉ có mặt ở đây mà thôi. Trong câu chuyện Bánh Chưng Bánh Dầy, để tìm người nối ngôi, Vua Hùng Vương thứ nhất đã tổ chức một cuộc thi tài. Từ ngày ấy, trong lòng Quê Hương Việt Nam, « chữ TÀI liền với chữ TAI một vần ». Hẳn thực, bao lâu còn có những cuộc « thi tài », để xếp đặt HƠN-THUA, là bấy lâu còn có CHIA RẼ, HẬN THÙ. Nói cách khác, « Nồi da xáo thịt » phải chăng là một vòng luân hồi bất tận, tiếp nối nhau, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, phát xuất từ loại tư duy nhị nguyên nầy ?

2.- Bản Ngã của chúng ta là gì ?

Nhân vật chính yếu, cần đưa ra quyết định cuối cùng, trong câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, đáng lý phải là Mỵ Nương, người con gái duy nhất của Vua Hùng Vương. Tuy nhiên, Mỵ Nương phải chăng là tên tuổi đích thực của nàng công chúa ? Hay đó chỉ là tên chung của mọi người con gái thùy mị, nết na, đức hạnh… trên Đất Nước Việt Nam, tư thời Hồng Bàng đến nay ?

Tuy nhiên, « thùy mị, đức hạnh… », phải chăng đồng nghĩa với tình trạng « không có tiếng nói, không có ý kiến, không có quan điểm và lập trường, không có ý muốn và nhu cầu » ?

Thùy mị phải chăng còn có ý nghĩa « Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy » ? Là « đồ vật » được gả bán, cho người nào mang đến nhiều vật lạ, của quí, làm đồ sính lễ, trước tất cả những người khác ?

Thùy mị là « xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử », nghĩa là lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con. Tòng cũng còn mang ý nghĩa là phục tùng, vâng lời. Hẳn thực, trong lối nhìn của nhiều người chồng, thậm chí vào thời đại văn minh ngày nay, tòng vẫn còn mang ý nghĩa là trở thành đồ vật, thuộc quyền sở hữu của vị hôn phu. Nhân cách và bản sắc hay là bản ngã của người phụ nữ Việt Nam hệ tại ở chỗ nào ? Từ đời Hồng Bàng cho tới ngày hôm nay, Mỵ Nương vẫn còn là mẫu mực và mẫu khuôn của mọi người phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên, để trở thành tấm gương được mọi người qui chiếu, bắt chước, phải chăng nàng phải đánh mất tất cả, thậm chí NHÂN CÁCH và NHÂN PHẨM của mình ?

Thêm vào đó, trong câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, người MẸ không có mặt. Vấn đề cũng dễ hiểu, vì nếu người vợ đã không có tiếng nói, thì người mẹ cũng không có mặt mũi và chân dung, chân tướng gì cả. Vấn đề sẽ ít nghiêm trọng hơn, nếu kỳ thực người mẹ vắng mặt hoàn toàn.

Theo Phân Tâm Học, có mặt mà xa lòng, có mặt mà không có giá trị, có mặt mà không được kính trọng, trong đầy đủ mọi chiều kích…còn tệ hơn là không có mặt. Người mẹ có mặt bên cạnh người cha, mà đồng thời chỉ là « con người hạng hai, hạ đẳng », đó là một tình huống tâm lý kinh hoàng, hãi hùng, khả dĩ phát sinh nhiều khủng hoảng nội tâm và gây ra bao đổ nát, hoang tàn, trong cuộc đời làm người và thành người.

Trong tình cảnh tâm lý bế tắc nầy, lối thoát duy nhất và cuối cùng của đứa con thương mẹ, là GIẾT cha, để lập lại vị trí của người mẹ, đối tượng yêu thương của mình, tư ngày sinh ra.

Đưa con có thể giết cha, bằng gươm. Bằng súng, bằng bom đạn, để chiếm đoạt ngai vàng của cha. Một cách giết khác, bằng hình tượng và gián tiếp, là hủy diệt mọi công trình của người cha. Trong đó, có bản thân của chính mình.

Tình cảnh hai người cha mẹ Việt Nam, có mặt nhưng không đồng hành, không trở thành « một xương một thịt », gắn bó với nhau… Hay là vắng mặt, nhưng không bỏ nhau, vẫn lui tới với nhau, khi cần thiết… Tình cảnh nầy, thực ra đã có mặt giữa Bà Âu Cơ và Lạc Long Quân, tổ tiên của người Việt Nam :

« Ta thuộc giống RỒNG, nàng là giống TIÊN, thủy hỏa khác nhau. Người thích ở cạn, người ưa ở nước, tính tình đôi bên khác nhau, không cùng ở chung với nhau một nơi lâu được. Bây giờ một nửa các con theo tôi, về Thủy Phủ. Còn một nửa thì ở lại với mẹ. Tuy đôi bên, kẻ ở rừng. Người ở biển, song đến khi có việc gì, thì tin cho nhau, không được bỏ nhau ».

Theo Phân Tâm Học, tình cảnh « vừa ở lại, vừa bỏ đi », là nguyên nhân của tất cả mọi khủng hoảng và xung đột nội tâm.

Từ tình cảnh khai nguyên này, hai đứa con Việt Nam không gặp nhau, trong yêu thương, đối thoại, chia sẻ, đồng cảm và đồng hành. Không cùng ngồi lại với nhau. Không cùng nhau nhìn về một hướng. Tranh chấp, xung đột, chém giết lẫn nhau… cũng là những cách « tìm cho có việc, để gặp nhau ». Nhưng khi gặp nhau bằng cách nầy, hai người chỉ làm nên những bãi tha ma, những Đại Lộ Kinh Hoàng, những con Sông Nhật Lệ và Bến Hải. 

Thêm vào đó, chiến tranh triền miên cũng là một hình thức giải quyết tình cảnh « sống xa nhau, nhưng không được bỏ nhau ».

Theo Phân Tâm Học, đây là một cơ chế « DỜI CHỖ », giải quyết bằng con đường chiến tranh, hận thù, tố cáo, chụp mũ, gắn nhãn hiệu, khi chúng ta không có đủ can đảm để thú nhận : « Anh đi  đường Anh, tôi đi đường tôi, TÌNH NGHĨA đôi ta chỉ thế thôi ». 

3.- Tự Ngã của chúng ta là gì ?

Tự Ngã, theo cách giải thích của Phân Tâm Học, là năng động tạo nên hứng khởi thôi thúc con người đi tới, vươn lên, xây dựng, đóng góp… nghĩa là dấn bước trên con đường YÊU THƯƠNG và HẠNH PHÚC. 

Sơn Tinh và Thủy Tinh là hai năng động ngược chiều, chỉ vì Mỵ Nương là đối tượng tranh chấp và xung đột. Nói đúng hơn, chính Vua Hùng Vương là người khởi xướng tình huống mâu thuẫn nầy, do những đòi hỏi độc tài và phi lý của mình, còn được gọi là Siêu Ngã độc tài và độc tôn. Bên cạnh Siêu Ngã nầy, Mỵ Nương chỉ là một Bản Ngã nhợt nhạt, yếu ớt, bạc nhược, vô danh, lệ thuộc và hoàn toàn bị động. 

Sơn Tinh hội tụ mọi đức tính của Bà Âu Cơ. Thủy Tinh phản ảnh tâm hồn của Lạc Long Quân. Xét riêng từng người, đây là hai tài năng vượt bực. Nhưng những tài năng ấy đang được sử dụng không đúng chỗ. Nói đúng hơn cả hai người bị lèo lái bởi một Siêu Ngã ở ngoài và ở trên. 

Đang lý ra, mỗi người cần ý thức mình là một giá trị đích thực, và người đối diện cũng là một giá trị đích thực ngang hàng và giống như mình. Từ đó, họ học tập NGỒI LẠI với nhau, cùng nhau góp sức sáng tạo một con đường thích ứng với giá trị của nhau. Đồng thời họ sáng suốt chấp nhận từ bỏ những con đường không tương ứng với giá trị cao cả và bao la của mình. 

Đối với Mỵ Nương, nếu cả hai thần thực sự YÊU nàng, theo ý nghĩa toàn vẹn là CHO và NHẬN, họ sẽ đối xử với nàng như một CON NGƯỜI có khả năng quyết định và chọn lựa. Của Cải, Tiền Tài, hay là Thời Gian không phải là những yếu tố quyết định. Duy tình yêu mới có tiếng nói cuối cùng. Chính vì lý do độc nhất và cuối cùng nầy, khi Mỵ Nương đã diễn tả quyết định và chọn lựa của mình, một trong hai người sẽ biết TRI CHỈ, dừng lại, can đảm rút lui, chọn lựa một con đường khác.

Trong tinh thần và lăng kính ấy, TÌNH YÊU đâu phải là con đường độc lộ và một chiều. Trái lại, Tình Yêu là CON ĐƯỜNG ĐẠI LỘ thênh thang và bát ngát. Đó cũng là một vườn hoa có trăm hoa kiều diễm. Mỵ Nương cho dù tài sắc đến đâu, cũng chỉ là một trong muôn ngàn đóa hoa muôn màu muôn sắc, trên Đất Nước Vạn Xuân và Đại Việt hay là Việt Nam. 

Nói một cách vắn gọn, cho dù tài giỏi xuất chúng, Sơn Tinh và Thủy Tinh đang thiếu tự tin một cách trầm trọng. Trái lại, con người tư tin có khả năng CHO một cách vô điều kiện, khộng cần người đối diện ĐÁP LỄ.

Thêm vào đó, con người TỰ TIN tìm cách giải quyết những xung đột, bằng con đường tiếp xúc qua lại, trao đổi hai chiều, đối thọai. Nói cách khác, họ NÓI với nhau bằng lời nói lich sự và thanh nhã, thay vì dùng tay chân để đấm đá hay là sử dụng những phương tiện bạo động, những ngôn từ đao to búa lớn…

Con người tự tin khám phá những đồng điểm, để xích lại gần nhau hơn mỗi ngày. Khi có những dị điểm, họ biết tìm cách bổ túc và kiện toàn cho nhau, ngày ngày mở lòng đón nhận quà tặng mà kẻ khác đang mang đến, nhất là những gì mình chưa có.

Sở dĩ Sơn Tinh và Thủy Tinh đang còn thiếu tự tin, vì người Mẹ của cả hai người đang vắng mặt. Hay nói một cách đứng đắn hơn, Mẹ đang VẮNG MẶT trong tâm tưởng của họ. Cho nên họ lăng xăng, loạn động, đi tìm một hình ảnh của mẹ ở ngoài. Và vì lý do ấy, họ tìm cách chiếm đoạt một vài mảnh vụn của mẹ, khi có một người phụ nữ xuất hiện ở bất cứ nơi đâu… 

Chừng nào hai Thần Sơn và Thủy « sáng mắt và sáng lòng », họ sẽ ý thức được rằng Mẹ Âu Cơ đang hiện diện một cách tích cực và năng động, trong huyết quản của họ, cũng như đang có mặt trong máu mủ của mỗi người anh chị em, trước mặt và hai bên cạnh. 

Lúc bấy giờ, mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh sẽ nhường bước cho khả năng đồng cảm và đồng hành, giữa những người đang chia sẻ cùng một Nước Non như nhau và với nhau. Chính Thi sĩ Tản Đà đang nhắc nhở cho chúng ta : 

« NƯỚC Non nặng một Lời Thề,

« Nước đi đi mãi, Nước về cùng NON ».

 

Tháng tư năm 2007

Trên những nẻo đường của Nước Non.

NGUYỄN Văn Thành

Lausanne, Thụy Sĩ 

Sách tham khảo : 

1.- HOÀNG Trọng Miên  -  Việt Nam Văn Học Toàn Thư  - Tiếng Phương Đông, Saigon 1973.

2.- NGUYỄN Văn Thành  -  Đường vào Nội Tâm với Phân Tâm Học  - Tủ Sách Tình Người, Lausanne 1997.

3.- NGUYỄN Văn Thành  -  Sơn Tinh và Thủy Tinh : Hai con đường, một Nước Non  - Tủ Sách Tình Người 2003.

4,- NGUYỄN Văn Thành  -  Huyền Sử Việt Nam : Con đường luyện vàng của Con Rồng Cháu Tiên  - Tình Người, Hè 2004.

VỀ MỤC LỤC
Tìm ra trong cuộc sống mình một ý nghĩa cho sự xúc phạm

 

Thách đố … là quấn vào nhau những sợi tinh tế của một cuộc đời tan nát để làm thành một công trình giàu ý nghĩa và ý thức trách nhiệm.       Gordon Allport

Tiến trình tha thứ của bạn đã qua nhiều giai đoạn. Sau khi đã quyết định không trả thù, bạn đã nghĩ đến làm một cuộc trở về can đảm với chính mình và bạn đã cảm nhận rằng vết thương của bạn đang trên đường được chữa lành. Nhờ những sự ý thức liên tiếp và nhờ sự chấp nhận đau khổ nội tâm của bạn, bạn đã nhận ra bạn sẵn sàng hiểu kẻ xúc phạm bạn. Như vậy bạn đã đặt được các nền móng và các điều kiện tâm lý cho sự tha thứ của bạn. Suốt trong giai đoạn thứ tám, tôi mời bạn vượt quá quan điểm thuần túy tâm lý để khám phá ra ý nghĩa tích cực của sự xúc phạm đã nhận chịu hoặc để mang lại cho nó một ý nghĩa. Bạn học được cái gì từ lời chửi mắng nầy, từ sự xúc phạm nầy, từ sự phản bội nầy, từ sự bất trung nầy ? Bạn tính sử dụng nó thế nào để trưởng thành và để thực hiện chính mình cách sâu xa ?

 Điều mà tôi xin bạn, chính là phát hiện ra những hậu quả tích cực có thể có mà sự xúc phạm sản xuất ra trong cuộc đời bạn. Bạn sẽ sử dụng thất bại nầy cho lợi ích của bạn thế nào ? Những hậu quả độc hại chỉ tồn tại cho những kẻ chọn không tiến lên phía trước và than vãn cho số phận của mình. Thay vì nhượng bộ cho cơn cám dỗ nầy, điều quan trọng là nhớ lại rằng không có sai lầm và thất bại nào không giấu ẩn những yếu tố tăng trưởng.

 Tìm được ý nghĩa tích cực của thất bại hệ tại việc khám phá ra sự phong phú ẩn giấu của nó. Vậy bạn đừng để bị chận dừng lại bởi những kẻ bảo rằng : "Chẳng có gì tốt để kỳ vọng nơi một nỗi bất hạnh cả". Tôi bảo đảm cho bạn điều nghịch lại rằng thương tổn của bạn có thể trở nên nguồn suối tăng trưởng. Biết bao nhiêu người đã nhìn thấy cuộc đời của họ có một định hướng mới và hữu thể của họ được triển nở theo sau một thử thách lớn lao !

 Tôi nghĩ là thích hợp để nói với bạn trước khi đi xa hơn là có thể lúc nầy bạn cảm thấy bối rối, khó chịu và phẩn nộ vì lời mời gọi tìm cho được một ý nghĩa tích cực cho thương tổn của bạn và cho các hậu quả của nó trong cuộc sống của bạn. Một phản ứng kiểu đó là dấu hiệu bạn chưa sẵn sàng để thực hiện giai đoạn hiện tại. Bạn cần trở lại các giai đoạn trước để đào sâu và hấp thụ chúng tốt hơn. 

1. Sự thay đổi môi trường có lợi của xúc phạm :

 Hậu quả đầu tiên của xúc phạm trên nạn nhân là hậu quả của một cú va chạm và của một sự xáo trộn sâu xa. Nạn nhân cảm thấy bị giày vò mãnh liệt. Những ý tưởng định trước, những dư luận có sẵn, những xác tín, những thành kiến cũng như những vở kịch cuộc đời của y đều bị xáo trộn. Nhưng dù hoàn cảnh có khó khăn, nó không để mất sự hứa hẹn cuộc sống. Nó có thể được biểu lộ là một thời khắc trong sáng quí báu, một cơ hội thuận lợi để thoát ra khỏi sự thiển cận thường nhật của mình.

 Một trong các vị giáo sư của tôi khẳng định rằng rất ít người biết rút tỉa lợi ích từ những sự phong phú và những khả thể của thực tại. Phần đông mang những thành kiến đúc khuôn trên các biến cố. Họ nhìn thấy các biến cố ấy xuyên qua các lăng kính đã bị biến dạng của những chờ đợi, những thành kiến cá nhân và văn hóa hoặc của dư luận sẵn có của môi trường sống của họ. Không chịu cố gắng khám phá ra ý nghĩa sâu xa của một biến cố, họ bằng lòng với những phán đoán tầm thường và tổng quát kiểu điều đó tốt, điều đó xấu, cái đó trắng, cái kia đen.

Câu chuyện sau đây rút từ văn học dân gian Trung Hoa minh chứng rõ ràng tính vô ích của những phán đoán kiểu đó. Một hôm, một người chủ trang trại bị mất con ngựa đực giống đẹp nhất, con ngựa tuyệt vời đã trốn đi. Các người láng giềng đến thăm an ủi cho số phận của y : Ông thật rủi ro ! Y trả lời : Biết đâu !… Hôm sau, con ngựa đực giống lại hiện về trong chuồng có ba con ngựa cái hoang dã ở bên cạnh. Các người láng giềng vội đến chúc mừng chủ trang trại về vận may của ông. Cũng câu trả lời vắn gọn đó Biết đâu !… Ngày nọ, con trai chủ trại vì muốn khống chế một trong mấy con ngựa cái hoang dã bị ngã gảy chân. Các người láng giềng lại chạy đến thương xót cho nỗi bất hạnh của ông. Nhưng chủ trang trại vẫn có cùng phản ứng đó Biết đâu !… Ít ngày sau, một toán lính tới động binh bắt buộc các thanh niên tại chỗ. Tuy nhiên họ không muốn nhận người thanh niên tật nguyền. Các người láng giềng lại la lên May mắn thay ! Và chủ trang trại đáp lại Biết đâu !…

 Vì những thành kiến và và dư luận định trước về người và các biến cố, chúng ta thường gặp phải thất vọng và mất mát. Chúng ta mang những ý nghĩ định sẵn về cách cha mẹ phải hành động đối với con cái, về cách một người phối ngẫu phải cư xử, về cách ông chủ phải đối xử với thợ, về cách Thiên Chúa phải cứu chuộc thế giới, v.v… Thế mà các sự việc không xảy ra như dự liệu trước. Và như vậy lại càng hay !

 Bởi vì sự va chạm của xúc phạm lại bổ ích. Nó làm cho người bị xúc phạm loại bỏ được những thiên kiến và vất bỏ những lập trường cứng cỏi của mình. Còn thật hơn nữa đối với một xúc phạm do một người thân yêu gây nên : bị tước đoạt những chờ đợi không thiết thực của mình, người bị xúc phạm sẽ phải thanh luyện bản thân để đi tới chỗ tán dương và yêu thương người bà con hoặc kẻ gần gủi đó đúng như bản chất của họ.

2. Khám phá ra những cái thu được từ sự mất mát của mình :

Trong một số lần thuyết trình, tôi thường thúc giục các thính giả suy nghĩ về những gì kinh nghiệm bị chữi bới, lăng nhục hoặc là nạn nhân của một sự bất trung, bất công mang lại cho họ. Tôi hướng dẫn họ tự vấn như sau : "Bạn đã học được gì từ kinh nghiệm nầy ? Bạn đã lớn lên như thế nào xuyên qua thử thách nầy ? Đời sống bạn đã có một ý nghĩa mới đến mức độ nào ?" Đây là ít mẫu câu trả lời :      

- Tôi biết mình hơn nhiều lắm.

- Tôi đã đạt được tự do nội tâm nhiều hơn.

- Điều đó đã làm cho tôi ý thức về các giá trị của mình. Sau khi ly thân, tôi nhận thấy mình có thể trở nên chính mình hơn và sống theo các giá trị của tôi.

- Nỗi đau vì tình đã dạy cho tôi biết mình hơn. Bây giờ, thay vì lệ thuộc vào tình thương của người khác, tôi đã bắt đầu yêu thương chính mình.

- Thế là xong, tôi kkông còn để cho người khác làm tổn thương nữa. Tôi học tự bảo vệ cho mình tốt hơn.

- Tôi đã học được nói "không" khi điều đó không xứng hợp với các giá trị của mình.

- Khi vợ tôi ra đi, tôi tự nhủ tôi không có chọn lựa nữa, tôi sẽ phải làm nội trợ lấy. Bấy giờ, dù kiêu ngạo, tôi đã cầu xin sự giúp đỡ lần đầu tiên trong đời tôi.

- Thử thách của tôi đã kết dệt cho tôi một trái tim yêu thương.

- Tôi đã có lòng trắc ẩn và cảm thông nhiều hơn với tha nhân.

- Tôi thôi không chạy theo những người chồng say sưa để cứu vớt họ nữa. Tôi đã ý thức rằng chính tôi là người cần được cứu giúp.

- Trong cơn cùng quẩn của mình, tôi đã tìm lại được tình yêu và lòng trung thành của Chúa, sau khi tôi đã rất phẩn nộ đối với Ngài.

 Khi tôi chất vấn các người như thế về những ý nghĩa mới của cuộc đời họ tiếp theo sau một xúc phạm, tôi luôn luôn ngạc nhiên về tính đa dạng và phẩm chất của các câu trả lời. Đôi khi hậu quả tích cực của xúc phạm và sự bất công mà họ là nạn nhân xuất hiện một cách tự phát. Những lần khác, sự khám phá ra những cái tích cực thu được và ảnh hưởng của chúng trải ra trong nhiều tuần lễ, cả nhiều tháng nữa. Ban đầu, những người nầy thấy cuộc đời họ như hình ghép khó hiểu, nhưng sau khi khám phá được ý nghĩa của xúc phạm thì một viễn ảnh mới của cuộc đời họ được hình thành và xác định.

3. Sự xúc phạm dẫn đến "hãy biết mình" :

Không ai khác ngoài chính bản thân có thể đạt được việc tìm thấy một ý nghĩa cho sự mất mát mà mình vừa phải chịu, nhưng điều đó không muốn nói rằng chúng ta chẳng cần ai thúc đẩy mình làm vệc đó. Rủi thay rất hiếm có những người hướng dẫn biết đưa chúng ta đạt được một sự biết mình và đánh thức những khả năng tăng trưởng mà nỗi bất hạnh mang lại.

Một sự bất công nặng nề hoặc một xúc phạm nghiêm trọng có thể đánh dấu khởi điểm của một cuộc phiêu lưu nhân bản phong phú diễn ra trong ba thời kỳ. Trong thời kỳ thứ nhất, vấn đề là phải tống táng hoàn cảnh trước đó. Thời kỳ thứ hai, được gọi là "giai đoạn bản lề" hoặc là "giai đoạn ở giữa", sẽ dành cho sự hiểu biết tốt hơn về mình và về những dự án tương lai của mình. Giai đoạn ở giữa nầy là chủ chốt và quyết định. Phải miệt mài đào sâu giai đoạn nầy trước khi dấn thân vào thời kỳ thứ ba, là thời kỳ tái tổ chức lại cuộc sống mình nhằm tới một cuộc khởi hành mới.

Cái nguy hiểm lớn ở đây là quên bỏ pha quyết định của giai đoạn ở giữa: hoặc là chúng ta bị cám dỗ trở lại đàng sau để trú đóng ở đó, hoặc là bị đẩy sang lập tức ở pha khởi hành mới của cuộc đời. Trong cả hai trường hợp, chúng ta tự kết án phải thất bại.

Nhưng tại sao lại cho pha của giai đoạn ở giữa một tầm quan trọng lớn lao như vậy ? Một khi vết thương đã bớt cay độc và làm bận lòng thì cần phải dừng lại và điểm lại tình hình của biến cố đau thương : "Làm sao tôi lại đến nước đặt mình vào một tình huống dễ bị tổn thương như thế được ?" Với sự gãy đổ mà xúc phạm mang lại, chúng ta dần dần trở nên có khả năng bỏ rơi một số ảo tưởng và chờ đợi không thể được mà chúng ta đã ôm ấp cho mình và cho kẻ khác. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải trực diện với chính mình và nhận thấy rằng các lập trường và vai trò đã đảm nhận cho tới lúc ấy mất đi tầm quan trọng của chúng. Đương đầu với sự trống rổng chung quanh mình, chúng ta bị bó buộc tự đặt ra cho mình câu hỏi nền tảng : "Tôi là ai ?" Không ai khác ngoài chính mình có thể trả lời câu hỏi đó, không cả chuyên gia tâm lý hoặc người đồng hành thiêng liêng. Sự chất vấn về căn tính sâu xa của mình nầy chắc chắn sẽ gây nên những lúc cô đơn, xao xuyến và sợ bị lầm. Nhưng nếu kiên trì, chúng ta sẽ thấy thời khắc suy tư nầy có thể biến đổi thành một sự hiểu biết mới mẻ và sâu xa về chính mình.

Suốt trong giai đoạn bản lề nầy, một vấn nạn thứ ba được đặt ra : "Tôi muốn làm gì với cuộc đời của tôi?" "Tôi sẽ cho mình những lý do mới mẻ nào để sống?" Lại một lần nữa, câu trả lời cho những vấn nạn nầy không tìm được ở bất cứ nơi đâu ngoài nội tâm của mình. Cần phải có can đảm và nhẫn nại để cho những câu trả lời đó lộ ra và đón nhận chúng.

Chịu đựng một bất công hay một xúc phạm còn lâu mới là một kinh nghiệm thú vị. Một khi chấn thương tâm thần đã qua đi, kinh nghiệm nầy sẽ dẫn bạn về với chính mình và với tự do nội tâm của bạn. Nó sẽ đặt bạn đứng trước sự chọn lựa để bạn bị quật ngã hay là tác động trở lại. Nếu bạn chấp nhận tác động trở lại, thì bạn sẽ mở ra với khả năng tìm lại được căn tính sâu xa của bạn và nối kết những giây liên lệ mới với những người khác. Lý do là vì bạn đã tìm được một ý nghĩa cho đau khổ của bạn.

Đó là sứ điệp bác sĩ Victor Frankl nói trong cuốn Découvrir un sens à sa vie. Ông nói cách có thẩm quyền, bởi vì ông đã phải chịu đựng biết bao nhiêu đau khổ và sĩ nhục trong các trại tập trung mà không để cho mình bị quật ngã. Ông viết : "Vậy điều quan trọng là phải kêu gọi đến khả thể cao nhất của con người, đó là khả thể biến một bi kịch cá nhân thành chiến thắng, biến một đau khổ thành sự thực hiện nhân cách".      

4. Để khám phá ra ý nghĩa tích cực của thương tổn :

Ở đây tôi đề nghị một loạt câu hỏi có mục đích giúp khám phá ra ý nghĩa tích cực của thương tổn của mình. Điều quan trọng là hãy để các câu hỏi nầy cật vấn mình và lưu tâm đến các câu trả lời do tiếng nói nội tâm gợi lên mà không nghĩ đến việc kiểm duyệt chúng. Một câu trả lời có thể tiến hóa và chỉ với thời gian mà chúng ta khám phá được tất cả tầm mức và ý nghĩa nó mang lại cho mình. Trong khi luyện tập, nên ghi lại vào nhật ký các suy tư của bạn      

- Tôi đã học được cái gì từ sự xúc phạm đã phải chịu ?

- Những hiểu biết mới mẻ nào tôi đã đạt được về chính mình ?

- Những giới hạn hoặc dòn mỏng nào tôi đã khám phá được nơi mình ?

- Sau đó tôi có trở nên nhân bản hơn không ?

- Những suối nguồn và sức mạnh mới mẻ nào của cuộc sống mà tôi đã khám phá được ở nơi mình ?

- Tôi đã đạt được mức độ trưởng thành nào ?

- Thử thách nầy đã dẫn tôi đến cái gì ?

- Tôi đã cho mình những lý do mới mẻ nào để sống ?

- Thương tổn của tôi đã làm lộ ra chiều sâu tâm hồn đến điểm nào ?

- Trong mức độ nào tôi đã quyết định thay đổi các tương quan với những người khác, đặc biệt với Thiên Chúa ?

- Cách thức nào bây giờ tôi sẽ theo đuổi dòng đời của mình ?

- Xúc phạm đã phải chịu đun đẩy tôi đồng hóa với nhân vật quan trọng nào hiện thời, trong lịch sử hay thần thoại ?

Lm. Jean Monbourquette OMI, 

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss chyển ngữ   

VỀ MỤC LỤC
Học là cầu nguyện.

Tác phẩm Đường Hy Vọng

Học là cầu nguyện.

557. Muốn tiến kịp, tiến nhanh, tiến vững trên đường hy vọng, con phải học.

558. Giờ học là giờ cầu nguyện.

559. "Hãy mến Chúa với tất cả quả tim con, với tất cả tâm hồn con, với tất cả sức lực con, với tất cả trí khôn con." Chưa học để phục vụ đúng mức, con chưa mến Chúa.

560. Học để biết. Học để canh tân. Học để phục vụ. Học để yêu mến.

561. Ai có mười nén phải làm lợi mười nén. Ai có năm nén phải làm lợi năm nén. Ai có một nén cũng phải làm lợi một nén.

Con mang trách nhiệm nặng nếu con từ chối học hỏi khi có thể được.

562. Học đây không phải là vào lớp hay văn chương khoa học. Học là luyện khả năng của con, nghề nghiệp của con cho tinh vi, hiện đại.

563. Muốn cách mạng thế giới, phải có ơn Chúa, nhưng con phải là khí cụ điêu luyện.

564. Trách nhiệm càng cao mà thiếu khả năng nghề nghiệp càng khốc hại. Con muốn phó mạng trong tay một phi công, một bác sĩ không kinh nghiệm không?

565. Xem nghề nghiệp con là một ơn thiên triệu thực hiện ý Chúa giữa xã hội, con sẽ thánh hóa nghề con.

566. Hy sinh cho nghề nghiệp, tận tụy với văn hóa, phục vụ khoa học, cao đẹp lắm; nhưng con nhớ đây là phương tiện, không phải là cùng đích.

567. Làm việc! Học và hành không lìa nhau. Con sẽ gần thực tế hơn, con sẽ thấy: nói dễ, làm khó; con sẽ bớt phê bình, con sẽ gia tăng xét mình.

568. Hội Thánh cần sự hợp nhất của những bộ óc thông minh để đem tình yêu Chúa đến trong mọi lãnh vực trần thế.

Hội Thánh đau khổ và rối loạn vì sự chia rẽ và lộn xộn của những đầu óc thông minh mà tâm hồn tự cao, tự đại. Các thiên thần dữ đã làm như thế.

569. "Ở nhưng" là cội rễ mọi sự dữ. "Ở nhưng" là sự dữ. Tông đồ không biết "ở nhưng". Không có "tông đồ hưu", chỉ đổi cách làm việc tùy sức.

570. Thanh niên, đời con đầy hy vọng, hăng say luyện đức và rèn tài. Bao nhiêu phấn khởi và tươi sáng vì con thao thức vươn lên lý tưởng tông đồ, môi trường của con.

571. Lên phi cơ, nhìn xe cộ, nhà cửa, người ta, loài vật, như đồ chơi của lũ trẻ; lên nguyệt cầu mới thấy địa cầu nhỏ bé. Người càng học hỏi thông minh, càng khiêm tốn, càng muốn học thêm.

572. Hội Thánh ở giữa trần gian. Tất cả mọi kiến thức, khoa học đều được xử dụng để bênh vực và trình bày chân lý; càng hiểu biết con càng phục vụ Hội Thánh đắc lực hơn.

573. Người càng thông minh, càng thấy khoa học có giới hạn. Nhiều người dốt, tưởng sự hiểu biết của mình vô hạn.

574. Nhiều người công giáo thông minh một khi sinh hoạt giữa xã hội lại giấu diếm tính cách công giáo của mình. Đó là hạng "công giáo sơ-mi", tiện đâu thay đó.

575. Nếu mỗi ngày con học thuộc một danh từ thôi, nếu mỗi tháng con đọc thêm một cuốn sách thôi, đến nay con đã tiến nhiều. Nếu đến nay con chưa làm, hãy khởi sự ngay từ hôm nay.

576. Không thông thạo, con dễ tự phụ và tuyên bố táo bạo. Trường hợp con có địa vị, con càng dễ ảo tưởng con thông thạo hơn nữa. Đại họa cho con và cho nhiều người vì sự bất lực ngạo nghễ của con.

577. Tài không đủ, phải có đức. Tài của con người kiêu căng, khó chịu, chỉ để xử dụng với máy móc và chất hóa học, chứ không để yêu thương thuyết phục người khác.

578. Tự xem mình "chuyên môn tất cả" là phản khoa học và lạc hậu. Thời đại này, muốn phục vụ, phải đem tất cả hiểu biết để hợp tác.

579. Văn bằng chứng minh con đã thông minh một giai đoạn nào đó, đặc biệt lúc đi thi. Nếu sự học hỏi của con đứng ngang đó, dù một đống văn bằng cũng không bảo đảm sự thông minh của con.

580. Con hỏi "Học đến bao giờ?" - Học luôn mãi. Thế giới biến chuyển luôn, công việc của Hội Thánh mới mẻ luôn, khí cụ của Hội Thánh phải tối tân mãi. Chúa không ban sự khôn ngoan của Salomon và ơn thông hiểu thiên phú của Đức Mẹ Maria cho người làm biếng.

581. Con hiểu biết một chân lý khi con tìm học chân lý ấy. Con càng thông hiểu rõ rệt hơn khi con tìm cách bênh vực chân lý ấy.

+ HY. FX. Nguyễn Văn Thuận

VỀ MỤC LỤC

TỰ ÁI. Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Ngày nay, mỗi khi nói tới hai chữ “thất tình”, gã liền nghĩ ngay đến khuôn mặt buồn so của một anh chàng đã đánh mất tình yêu, không còn được thương nữa, hay nói một cách khác anh chàng ấy đang “đứng ngẩn trông vời” tình yêu chấp cánh bay đi mất tiêu…Thành thử cứ phải kéo lê những bước chân âm thầm và thinh lặng gậm nhấm nỗi cô đơn héo hắt của mình.

Thế nhưng, ngày xưa hai chữ “thất tình” còn có một ý nghĩa khác nữa, đó là bảy giai điệu tình cảm luôn rung lên phừng phực trong “lái tim” con người, hay  bảy thứ tình cảm luôn chiếm ngự cõi lòng chúng ta. Bảy giai điệu ấy là : hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố và dục. Có nghĩa là mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét và muốn. Bảy thứ tình cảm này luôn tả đột hữu xung và làm cho chúng ta nhiều cơn xính vính, Vì thế Nguyễn Gia Thiều trong “Cung Oán Ngâm Khúc” đã muốn tẩy trừ tận gốc rễ:

- Mối thất tình quyết dứt cho xong.

Trong bảy thứ tình cảm này, theo thiển ý của gã, thì yêu là hoạt động quan trọng nhất, chi phối toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Chả thế mà các cụ ta đã từng nói :

- Cái tình là cái chi chi,

Dù chi chi, cũng chi chi với tình.

- Tương tư không biết nói làm sao,

Muốn vẽ mà chơi, vẽ thế nào,

Khi đứng, khi ngồi, khi nói chuyện,

Lúc say, lúc tỉnh lúc chiêm bao…

Như vậy, cái tình lúc nào nó cũng canh cánh bên lòng và chữ yêu lúc nào cũng bàng bạc ở mọi nơi và trong mọi lúc, có khác nhau là khác ở nồng độ đậm nhạt mà thôi.

Vậy phải yêu những gì ?

Gã xin thưa đối tượng của tình yêu quả thực là hầm bà lằng, thôi thì thượng vàng hạ cám, đủ mọi thứ, chẳng thiếu thứ chi. Trước hết là yêu mình, tiếp đến là yêu người, rồi tới yêu đời và những thứ lỉnh kỉnh khác nữa, như yêu tiền, yêu quyền, vân vân và vân vân.

Hôm nay, gã chỉ xin bàn đến cái phạm trù thứ nhất, đó là yêu mình. Nếu diễn tả hành động yêu mình bằng chữ nho, thì phải dùng hai chữ…“tự ái”.

Theo “Hán Việt Tân Từ Điển” của Nguyễn Quốc Hùng, thì tự ái có nghĩa là lòng yêu chính mình, cho mình là hay là tốt. Còn theo “Việt Nam Tự Điển” của Lê Văn Đức, thì tự ái có nghĩa là thương mình, quá nghĩ về mình rồi sanh hờn mát mỗi khi bị đụng chạm đến. Trong thực tế, người bình dân thường hiểu tự ái là đùng đùng nổi giận khi bị…chạm nọc, chứ không phải chỉ là hờn mát mà thôi đâu.

Nếu phân tích kỹ lưỡng hơn, gã thấy yêu mình chính là một bản năng thông thường mà Thượng đế đã phú ban cho con người ta. Ai mà lại chẳng yêu mình. Nào có ai nỡ ghét mình bao giờ đâu. Họa chăng chỉ có những vị thánh sống, đường nhân đức cao vòi vọi, thì mới cảm thấy mình thật vô duyên tệ, để rồi…ghét mình mà thôi. Còn hầu như tất tật bàn dân thiên hạ đều…yêu mình tuốt luốt hết.

Một khi đã yêu mình, thì đều muốn vơ vét về cho mình những cái hay, những cái tốt, những cái lợi…Và hễ kẻ nào đụng chạm đến, thì lập tức lòng tự ái hay thói yêu mình nổi lên đùng đùng, cùng với cơn giận phừng phừng, kèm theo những phản ứng khó mà lường nổi, cốt ý dạy cho những kẻ “hỗn láo” kia một bài học. Vì tự ái, vì yêu mình, nên chúng ta không thể bỏ qua một sự khinh bỉ nào của kẻ khác. Và hơn thế nữa, khi lòng tự ái đã bị sỉ nhục, thì người ta khó có thể tha thứ.

Lòng tự ái và thói yêu mình theo chúng ta như hình với bóng và cùng đi với chúng ta trong suốt cả cuộc đời, như danh ngôn đông tây đã xác quyết :

“Càng thêm tuổi, các đam mê càng lụi tàn, nhưng lòng tự ái thì khác, nó sẽ chẳng bao giờ chết.”

“Người ta chỉ có thể làm tổn thương lòng tự ái, chứ không giết  chết được nó.”

“Lòng tự ái là một con thú kỳ dị, nó có thể ngủ yên trong cơ thể của những kẻ tàn bạo nhất, nhưng một khi đã thức tỉnh dậy, nó sẽ đả thương cho đến chết chỉ vì một trầy trụa nho nhỏ.”

Tuy nhiên, ở một mức độ trung bình và vừa phải thì tự ái chính là ổ khóa của trái tim, đóng lại và không cho phép mình làm những điều xằng bậy, bởi vì chính mình cũng phải tự trọng, nghĩa là phải biết tôn trọng chính mình, cũng như phải biết bảo vệ danh dự của mình. Trong khi đó, sự nịnh bợ là như một chiếc chìa để mở tung ổ khóa này và sự tâng bốc là như một thứ thuốc nổ phá tan rào cản này.

Thực vậy, nếu không còn tự ái, người ta sẽ trở nên một thứ mặt mo, mặt thớt hay một thứ mặt dày mày dạn, trơ trơ như đá, không còn  nhạy cảm trước những lời phê bình hay góp ý, để rồi mặc sức lặn ngụp trong bùn nhơ tội lỗi, sẵn sàng làm những hành động tồi tệ nhất, mà chẳng cảm thấy một chút hổ thẹn hay áy náy gì sốt.

Thế nhưng, để được gọi là một nhân đức, bao giờ cũng phải ở vào cái thế trung dung, bởi vì thái quá thì bất cập, phàm cái gì quá đà, đều gây nên những bất ổn.

Biết tự trọng và bảo vệ danh dự của mình, đó là điều tốt. Tuy nhiên, vì “tự ái hão” mà bảo vệ cái “danh dự ảo”, cái danh dự mình tưởng là có, nhưng thực sự lại chẳng có, hay vì “tự ái vặt”, bởi những lý do nhỏ mọn không đâu, cũng đùng đùng nổi giận,  la hét, quát tháo, đánh đập người ta, thì rất rất cần phải xét lại.

Đời vua Trang Công nước Tề, có một chàng tên là Tân Ti Tụ, đêm nằm mơ thấy một người to lớn mặc quần gai, áo vải, đội mũ trắng, đi giày mới, đeo thanh gươm, tự dưng vào tận nhà mắng mỏ, rồi nhổ vào mặt.

Chàng ta giật mình sực tỉnh dậy, tuy biết là chuyện chiêm bao, nhưng chàng ta vẫn tức, rồi suốt đêm lấy làm bực dọc khó chịu lắm.

Sáng hôm sau, chàng ta mời một người bạn thân đến và nói rằng :

- Bác ơi ! Từ thuở bé đến giờ, tôi vẫn là người thích dùng sức mạnh, tới nay đã sáu mươi tuổi, chưa hề bị đứa nào làm  cho mất mặt bao giờ. Thế mà đêm hôm qua phải một đứa nó làm nhục. Tôi định tìm kỳ được đứa ấy để báo thù mới thỏa. Nếu tôi tìm thấy nó thì hay, còn nếu không tìm thấy thì tôi chết mất.

Rồi từ hôm đó cứ sáng nào chàng ta cũng cùng người bạn ra đứng ngoài đường cái để rình. Rình đã ba ngày mà không thấy đâu, chàng ta về nhà uất lên mà chết.

Bình luận về câu chuyện trên, tác giả viết như sau :

“Xem chuyện này không cho là phải được, vì tức ai, chứ tức một người gặp trong lúc chiêm bao mơ ngủ, là tức hão huyền, tức cái không đáng tức. Nhưng tựu trung, câu chuyện lại có một điều thật rất đáng khâm phục là chính thâm ý câu chuyện muốn nâng cao cái lòng biết nhục, biết lấy liêm sỉ làm trọng.  Ôi ! trong giấc  ngủ mơ màng, bị người làm nhục, còn không chịu được, thì trong khi thật tỉnh táo rõ ràng mà bị làm nhục, thì đáng như thế nào ? Thế mà lạ thay, ở đời có lắm kẻ  hoặc ham mê danh lợi, hoặc quen thói tôi đòi, chôn hết cả liêm sỉ, chịu hết mọi nỗi nhục nhằn đè nén, không bút nào tả cho xiết được mà vẫn hớn hở như không. Đối với những hạng không biết nhục, Tân Ti Tụ thực đáng là một cái gương soi sáng sâu vào đến tâm não họ vậy.”

Đúng như một kinh nghiệm sống…sượng mà người đời thường diễn tả :

- Thật thà, thẳng thắn thường thua thiệt,

Len lỏi, lợi lộc, lại lên lương.

Hay :

- Lươn lẹo, luồn lách, lắm lợi lộc.

Nhưng hơn thế nữa, vì tự ái, cho dù là chính đáng, để rồi từ đó có những hành động, có những phản ứng quá mạnh, làm tổn thương và gây thiệt hại cho kẻ “lỡ” xúc phạm đến chúng ta,  thì e rằng chúng ta cần phải “xì tốp” lại, kẻo mà :

- Chửa đánh được người, mặt đỏ như vang,

Đánh được người rồi, mặt vàng như nghệ.

- Chửa đánh được người, mày xanh, mắt tía,

Đánh được người rồi, hồn vía lên mây.

Qua những hành vi bạo động kiểu này, ắt hẳn thiên hạ sẽ tôn phong chúng ta lên hạng anh hùng, nhưng lại là một thứ anh hùng…dổm, anh hùng…rơm :

- Anh hùng gì ?  Anh hùng rơm,

Tôi cho nắm lửa, hết cơn anh hùng.

Chúng ta đã xác quyết :

- Phàm đã là người thì ai cũng có tự ái và lòng tự ái ấy luôn theo chúng ta trong suốt cả cuộc đời.

Hơn thế nữa, hình như càng làm lớn, tự ái lại càng to. Nếu không biết kiềm chế, thì với quyền lực trong tay, họ sẽ có những hành động tàn bạo đến quỷ thần cũng không lường nổi.

Hán Vũ Đế ngày kia sai đại tướng Lý Lăng đem quân đi đánh Hung Nô. Trong thời gian đầu, Lý Lăng thắng lớn, tin chiến thắng báo về triều đình, Hán Vũ Đế rất hài lòng. Các quan đại thần đua nhau ca tụng Vũ Đế là minh quân, biết chọn tướng tài, khen Lý Lăng là anh hùng.

Thế rồi Lý Lăng tiến quá sâu vào nội địa Hung Nô, bị quân Hung Nô bao vây. Vũ Đế sai cận thần Lý Quảng Lợi đem binh vào đất Hung Nô tiếp viện cho Lý Lăng. Nhưng Lý Quảng Lợi bất tài, khiếp nhược, bị quân Hung Nô đánh tan tành, đành phải rút về. Lý Lăng bị bao vây cho đến lúc lương tận, hết cả tên bắn, phải đầu hàng Hung Nô.

Tin Lý Lăng đầu hàng Hung Nô về tới triều đình. Vũ Đế nổi giận. Các quan đại thần chê Lý Lăng bất trung, kết  Lý Lăng vào tội phản quốc. Riêng có quan thái sử Tư Mã Thiên, trước mặt Hán Vũ Đế, đã lên tiêng bênh vực Lý Lăng. Tư Mã Thiên nói :

- Đại tướng Lý Lăng không bất tài, không bất trung và cũng không có tội. Lý Lăng sở dĩ phải đầu hàng vì lương hết, võ khí thiếu và quân tiếp viện đáng lý phải đến đã không đến. Lý Lăng chỉ còn có năm ngàn quân, nhưng đã anh dũng đánh trận cuối cùng giết cả năm mươi ngàn quân Hung Nô. Như vậy, xét ra Lý Lăng vẫn có công chứ không có tội…

Lời biện hộ cho Lý Lăng của tư Mã Thiên thật khẳng khái và công bình, nhưng Hán Vũ Đế cho rằng Tư Mã Thiên có ý chê trách mình sai lầm trong việc dùng Lý Quảng Lời cầm quân đi tiếp viện. Bị chạm tự ái, Vũ Đế bèn nổi giận, ghép Tư Mã Thiên vào tội khi quân,ra lệnh tống ngục và sau đó bắt Tư Mã thiên chịu cái tội tàn tệ nhất thời đó đối với những người trí thức, đó là tội “hủ hình”, tức là tội bị…thiến.

Năm ấy Tư Mã Thiên mới khoảng bốn mươi tuổi. Bị hoạn, ông quyết định tự tử, nhưng sau đó đã nghĩ lại :

- Mình có chết đi cũng chẳng ai thương tiếc, mình chẳng là cái thớ gì hết trong xã hội này, mạng sống của mình có mất đi cũng chỉ như “chín con trâu bị mất một sợi lông” mà thôi.

Rồi ông nhủ thầm :

- Mình chết thực là vô ích, chi bằng cố sống những năm cuối cùng của cuộc đời mà làm một công trình để lại cho hậu thế.

Nghĩ như thế, Tư Mã thiên bỏ ý định tự vận, ông phấn phát tinh thần và dẹp hết buồn rầu, tủi hận sang một bên để chuyên tâm vào việc biên soạn bộ Sử Ký. Ông hoàn thành bộ Sử vĩ đại này trước khi chết. Bộ Sử của ông hiện nay được gọi là Sử Ký Tư Mã Thiên, bộ Sử vĩ đại nhất, giá trị nhất của Trung Hoa mà cho tới nay vẫn chưa có bộ Sử mới nào hơn được.

Không phải chỉ những vị tai to mặt lớn, mà nhiều khi cả một dân tộc cũng dễ dàng bị lôi cuốn vào vòng xoáy của lòng tự ái.

Thực vậy, trong những năm vừa qua, chúng ta đã chứng kiến những cuộc biểu tình của Trung Quốc, của Hàn Quốc nhằm phản đối con cháu đất Phù Tang vì  những lệch lạc về lịch sử được ghi lại trong sách giáo khoa, cũng như vì những hành động bạo tàn mà những người lính Nhật Bản đã làm trong cuộc thế chiến lần thứ hai. Với niềm tự ái dân tộc, họ đã đòi Nhật Bản phải chính thức xin lỗi và bồi thường.

Và gần đây hơn, vì một câu nói hớ hênh của một ca sĩ nào đó, đại khái cho rằng khu đền Angkor-Vat  là do người Thái Lan xây và thuộc về người Thái Lan. Thế là dân “Cam bốt” nổi giận đùng đùng, đã xuống đường, nổi lửa đốt tòa đại sứ Thái Lan tại Nam Vang và cách đây không lâu, lại còn định đóng cửa biên giới nữa, khiến cho mối bang giao giữa hai quốc gia  trở nên căng thẳng và ngột ngạt.

Nhưng những va chạm tự ái thường xảy ra hơn hết là trong mối liên hệ hằng ngày, chẳng hạn như giữa bè bạn với nhau. Gã xin đưa ra một thí dụ điển hình :

Mấy tên bợm nhậu ngồi lai rai với nhau trong một  bàn tiệc. Khi rượu đã thấm, thì sự phấn khởi bèn nở rộ trên từng khuôn mặt đỏ gay. Họ gặp ai cũng kết làm bạn để chén thù chén tạc và nhìn bất cứ cái gì cũng thấy là đẹp. Rồi người này nâng cốc mời người kia một ly.

Rủi thay, người kia hôm ấy “long thể bất an”, nên đã từ chối. Và thế là  bị chạm nọc, người này cho rằng nó khinh mình, nó coi mình chẳng có tí “gờ ram” nào cả, bèn hất cả ly rượu vào cái tên dám hỗn láo, đã coi thường mình. Không chừng người này còn lật đổ cả bàn ghế, hất tung cả chén bát và nện cho người kia một trận rách cằm, xẻ tai và phun máu đầu, với dụng ý dạy cho người kia một bài học để biết được rằng thế nào là…lễ độ.

Nhất là trong phạm vi đời sống gia đình, những va chạm ấy thường xảy ra như cơm bữa giữa vợ chồng với nhau. Đúng vậy, đối đấu với thực tế, người ta thấy “đời không như là mơ”. Và hơn nữa, “có ở trong chăn mới biết chăn có rận”, sống gần nhau, người ta mới khám phá ra những khuyết điểm của nhau. Chính những khuyết điểm này đã châm ngòi cho những bất đồng bùng nổ.

Gã xin mượn tạm những lượm lặt của tác giả Ánh Ngọc trong một bài viết mang tựa đề “Thách thức”, được đăng trên báo “Phụ Nữ Chủ Nhật”, đại khái như sau :

Anh dẫn xe ra khỏi cửa rồi mà chị vẫn còn chạy theo níu áo : Nè, có “ngon” thì đánh tui đi ! Đánh đi ! Chớ đừng có nói rồi không dám làm ! Và thế là “bốp ! Bốp !...Chị bị hai bạt tai in dấu trên gò má một cách…ngon ơ ! Trong khi anh đã cố nhịn bằng cách lấy xe đi khỏi nhà để dằn cơn nóng giận trong một trận cãi vã. Trước khi đi anh nói thòng một câu cho đỡ quê : “Cô mà nói nữa là coi chừng ăn đòn !”. Bị chạm tự ái vì câu hăm dọa ấy, chị đã chạy theo và thách thức, đẩy anh vào cái thế phải “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” với vợ mình.

Sự thực thì nhiều ông chồng đánh vợ chỉ vì bất đắc dĩ mà thôi, chứ họ cũng ý thức : “Mình là đàn ông, có sức khỏe, giỏi thì đánh với mấy tay ngang cơ ! Chứ còn đánh đàn bà chân yếu tay mềm thì hèn lắm…Vợ chồng nào mà chẳng có chuyện cãi nhau. Tức quá thì mình dọa cho mấy bả ngán. Ai dè mấy bả thách lại mình và còn nhấn mạnh “nói mà không làm là kẻ…tiểu nhân !”. Thế là vì tự ái đầy mình, nên chồng mới quyết giữ thể diện bằng cách chứng tỏ “quân tử nhất ngôn”. Vậy là nhiều bà bị ăn đòn lãng xẹt !

Có khi vừa bị nện cho một trận tơi bời khói lửa, lại còn bị “tiền mất tật mang” như câu chuyện này : Anh là người hay uống rượu và mỗi lần say lại có tật chửi đổng. Mỗi lần anh chửi, thì chị lại bảo : Ổng hổng chửi tui thì chửi ai. Hai người cứ lời qua tiếng lại, nên chuyện nhỏ hóa chuyện to. Anh đòi chị đưa tiền đi uống rượu tiếp nên dọa : Không đưa thì chết với tao. Nghe vậy chị bèn hét lên : Dám làm gì thì làm đi. Anh xô mạnh chị ngã và bị trặc tay, phải bó thuốc cả tháng. Tức quá, chị thảy hết số  tiền vừa bán bắp hơn ba triệu cho anh và nói : có ngon thì đi mà nhậu hết. Anh nghe vợ thách, bèn ôm tiền đi tuốt. Hai ngày sau mới về, trong túi không còn một đồng.

Không phải chỉ có những ông chồng, mà ngay cả những bà vợ, khi bị chạm tự ái, thì cơn giận cũng nổi lên đùng đùng.

Liên tiếp hai tuần rồi, ngày nào anh cũng phải ghé quán đầu ngõ để ăn cơm bụi, bởi vì chị đang hạ quyết tâm thực hiện đúng lời “thách lẫy” của anh, khi anh chị cãi nhau tuần trước, chỉ vì chị lỡ nấu cháy món bao tử phá lấu, là món ruột của anh : Làm đàn bà có bi nhiêu chuyện đó mà làm hổng xong nữa thì còn làm cái giống gì ? Dẹp luôn cái bếp này, đi ăn cơm tiệm luôn. Chị kể : Hở ra là biểu dẹp bà đi ! Vứt hết đi ! Còn không thì bà đi đâu cho khuất mắt tui, hỏi ai mà không tự ái ? Bị ổng nói nhiều lần rồi, nay tôi mới làm theo cho…biết thân. Biết thân ai không thấy, chỉ thấy tháng đó cả nhà bị thâm thủng ngân sách trầm trọng vì toàn đi…ăn cơm tiệm.

Nhưng “lớn gan” hơn phải là câu chuyện sau : giận chồng không cho đi coi cải lương, cãi nhau một hồi anh bèn thách : Có đi thì coi thằng kép hát nào mà theo nó luôn…Chị đi luôn thiệt, nhưng không phải theo kép hát, mà là đến ở nhà thằng em, mua vé cải lương coi liền nửa tháng cho bõ ghét ! Đáng lẽ chị cũng chưa chịu “hồi cung”, nhưng vì thằng con trai lớn qua kiếm chị và “mật báo” : Ở nhà, ba đem xe đạp, tivi đi bán rồi. Chị mới hốt hoảng trở về.

Nếu cứ kể ra như thế, thì không biết đến thuở nào mới hết. Để kết thúc, gã xin đưa ra mấy việc cần làm ngay để chữa trị cái chứng tự ái hão, tự ái vặt, như đã trình bày ở trên.

Việc thứ nhất đó là hãy tự biết mình.

Người Tây thì  khuyên :

- Connais-toi, toi-même. Này bạn, bạn hãy biết chính mình bạn.

Còn người Tàu thì nói :

- Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng. Biết mình biết người, trăm trận đều thắng.

Tại một thung lũng hoang vu, có chú chim cú. Cú ta ngày thì ru rú trong hang, đêm đến mới có thể bay đi kiếm ăn. Sở dĩ cú làm thế vì mắt cú quáng gà, chỉ có thể nhìn thấy ban đêm. Ngày kia, cú thầm  nghĩ :

- Quái lạ, tại sao ta cũng là loại chim quí hiếm, diện mạo ta oai hùng, mỗi lần ta xuất hiện, muông thú đều chạy trốn, tiếng ta kêu rùng rợn trong đêm. Thế mà ta thua loài phượng hoàng, cái anh chàng trông dễ ghét nhưng lại có thể bay cao tận mây xanh, hiên ngang lượn cánh dưới ánh mặt trời, làm như thể hắn là vua loài chim vậy.

Rồi cú tự nhủ :

- Được rồi, ngày mai khi hừng đông, ta sẽ bay khỏi hang sâu, tung mình vút tận mây xanh, cho phượng hoàng khiếp vía, muông chim nể vì.

Hôm sau, khi mặt trời lên cao, cú ta vận sức bay ra, bay lên cao, cao mãi…Nhưng bỗng cú chạm phải vật gì cứng. Cú lóa mắt, không còn nhìn thấy gì. Rồi rầm một tiếng, cú lao vào thành núi và rớt xuống tan xương.

Việc thứ hai, đó là khi bị chạm tự ái và cơn giận bốc lên, thì hãy án binh bất động, hoãn binh chi kế, đừng vội có bất cứ hành động nào sốt, vì giận quá thì mất khôn.

Nhà hiền triết Atenodoro đã khuyên vua Augustô, vốn là người có tính dễ nóng mỗi khi bị xúc phạm, như sau :

- Khi vua cảm thấy mình tức giận, hãy nhẩm đọc hai mươi bốn chữ cái.

Nhà vua áp dụng lời khuyên này và tránh đi được những hành động đáng tiếc.

Một cha xứ già đã nhắc nhở các đôi tân hôn như sau :

- Khi các con sắp sửa cãi vã hoặc gây gổ với nhau, các con hãy nhủ thầm: để sáng mai rồi hãy tính. Và sáng hôm sau, các con sẽ thấy  việc hôm qua thật nhỏ nhoi, chẳng đáng gì.

Có một cặp vợ chồng già, thường xuyên cãi vã với nhau. Người hàng xóm thấy vậy bèn góp ý:

- Vị ẩn sĩ sống trên núi chế biến được một thứ thuốc rất linh, giúp cho nhiều gia đình được êm ấm.

Bà vợ nghe lời người hàng xóm, lên núi tìm vị ẩn sĩ. Sau khi nghe trình bày, vị ẩn sĩ  bèn trao cho bà một chai thuốc khá to và nói :

- Đây là một loại thuốc gia truyền rất hiệu nghiệm. Hễ khi nào ông gây sự, bà chỉ cần uống một ngụm, ngậm trong miệng, không được nuốt và cũng chẳng được nhổ ra, cho tới khi ông không còn nói nữa, rồi mọi chuyện sẽ được ổn thỏa.

Bà vừa về tới nhà, thì ông liền quát tháo. Nghe vậy, bà liền hớp một ngụm thuốc, giữ trong miệng, đúng như lời căn dặn của vị ẩn sĩ. Thấy vợ không đáp lời, một lúc sau ông cũng thinh lặng. Bà vợ hết sức vui mừng :

- Đúng là một loại thuốc gia truyền. Linh thật…

Và cứ thế, cứ thế…Từ đó hai ông bà dần dần trở lại cuộc sống êm ấm và hạnh phúc của thời còn trẻ. Thứ thuốc gia truyền ấy, chẳng có gì khác hơn là nước lã mà thôi.

Đừng tự ái hão và cũng đừng nóng giận, nhất là đừng vội có những hành động trả đũa rước những lời bình phẩm có tính cách xúc phạm, bởi vì ai khen ta mà khen phải, ấy là bạn ta, còn ai chê ta mà chê phải, ấy là thày ta vậy.

Gã Siêu   gasieu@gmail.com

VỀ MỤC LỤC

Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho GHVN bay lên

*************