Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 70, Chúa nhật 29.04.2007


 Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

Nhũng người quản lý tốt các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa       ĐGH. Gioan-Phaolô II

PHÁ VỠ KHOẢNG CÁCH                                                                         Lm. Đỗ Vân Lực, op.

LÀM THẾ NÀO ĐỐI VỚI NHỮNG THÓI XẤU CỦA CON TRẺ?                   Lm. Lê Văn Quảng

“NẮNG SÀI-GÒN, ANH ĐI MÀ CHỢT MÁT...”                                       Lm. Vĩnh Sang, DCCT

TỘI: THỰC THỂ và HẬU QỦA                                                             Lm. FX. Ngô Tôn Huấn

ĐẠI NGHĨA                                                                     Nhà Văn HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

Bạn Đã Được Cứu Độ Chưa?                                                    GLV. Phaolô Phạm Xuân Khôi

Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường          Phùng văn Phụng

Mặc cảm Sơn Tinh và Thủy Tinh của Người Việt Nam                       Gs. Nguyễn Văn Thành

Tìm ra trong cuộc sống mình một ý nghĩa...    Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy chyển ngữ   

Học là cầu nguyện                                                                    + HY. FX. Nguyễn Văn Thuận

TỰ ÁI.                                                                                          Chuyện phiếm của Gã Siêu


Nhũng người quản lý tốt các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa

 

TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II

Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế

Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc

Chương IV

NHƯNG NGỪƠI THỢ

TRONG VƯƠN NHO CỦA CHÚA

Nhũng người quản lý tốt

các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa

 

TíNH CÁCH KHÁC BlỆT CỦA CÁC ƠN GỌl

45. Theo dụ ngôn của Phúc âm, "người chủ vườn nho" mời những người thợ đến vườn nho của mình vào những giờ khác nhau trong ngày: nhiều người đến vào lúc bình minh, một số vào khoảng chín giờ sáng, số khác nữa đên vào lúc gần trưa và ba giờ, những kẻ cuối cùng vào khoảng năm giờ chiều (Mt. 20:1 và kế tiếp). Khi chú giải trang Phúc âm này, Thánh Grêgônô Cả nghĩ rằng những gìờ khác biệt đó tươhg ứng với những giai đoạn của tuổi đời; Ngài nói: "Ta có thể áp dụng sự khác biệt của các giờ vào những giai đoạn của đời sống con người". Theo đó, ban sáng tượng trưng cho tuổi thiếu thơ. Giờ thứ ba tiếp theo đó có thể tượng trưng cho tuổi thanh niên: mặt trời vươn lên, có nghĩa là nhiệt huyết của tuổi trẻ tràn đây. Giờ thứ sáu, là tuổi trung niên: mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, là tuổi của sức sống sung mãn. Tuổi bắt đầu già tượng trưng cho giờ thứ chín, vào tuổi này nghị lực thanh xuân bắt đầu mòn mỏi không khác hình ảnh mặt trời từ từ ngã về hướng Tây. Giờ thứ mười một chỉ những người đã cận kề ngày cuôí cùng của cuộc đời mình. Như vầy, những người thợ được gọi đến vườn nho vào những giờ khác nhau, là hình ảnh giúp ta hiểu rằng có người được gọi sống cuộc sống hoàn thiện ngay ở tuổi thơ, có người vào tuổi vị thành mên, người khác vào vào thời kỳ trưởng thành, và kẻ khác nữa lúc đã về già. (167)

Chúng ta có thể dùng lời diễn giải của Thánh Grêgôriô Cả để áp dụng rộng rãi hơn vào tính cách đa dạng, phong phú của những người có mặt trong Giáo Hội ; mỗi một người và tất cả mọi người đều được mời gọi để hoạt động cho nước Thiên Chúa tỏ hiện theo cách thức khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những đoàn sủng và những chức vụ khác nhau. Sự khác biệt này không phải chỉ dựa vào tuổi tác, nhưng còn tùy thuộc vào sự khác biệt của phái tính, tài năng, và tư cách, cũng như liên hệ đến những ơn gọi và hoàn cảnh của từng người. Tính chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo Hội. linh động và cụ thể hơn.

TUỔl TRẺ, TRẺ EM VÀ NGƯỜl LƠN TUỔI

Tuổi trẻ, hy vọng của Giáo Hộl

46. Thượng Hội Đồng đã đặc biệt lưu ý đên tuổi trẻ. Và thật vậy, tại nhiều quốc gia trên thế giới, giới trẻ chiếm một nửa dân số, và thường cũng là một nửa số của Dân Chúa trong các quốc gia đó. Nhìn vào khía cạnh này, giới trẻ đã tạo được một sức mạnh phi thường và trở thành một thách đố lớn lao cho tương lai của Giáo Hội. Vì qua giới trẻ, Giáo Hội nhìn thấy con đường hướng về tương lai đón chờ mình, và tìm gặp nơi đó hình ảnh nhắc nhở về chính tuổi thanh xuân đầy phấn khởi do thần khí Đức Kitô không ngừng làm phong phú đời sống Giáo Hội. Chính trong ý nghĩa đó Công Đồng đã định nghĩa những người trẻ là "niềm hy vọng của Giáo Hội".(168)

Trong bức thư gửi thanh thiếu niên nam nứ thế giới, ngày 31 tháng 3 năm 1985, Ta nói rằng: "Giáo Hội nhìn lớp người trẻ, đúng hơn, một cách đặc biệt, Giáo Hội nhìn lại tuổi trẻ của mình trong mỗi người và chung toàn giới trẻ. Việc đó đã thể hiện ngay từ đầu vào thời các Tông đồ. Nhưng lời của Thánh Gioan trong thư thứ nhất là một trong những bằng chứng đặc biệt: "Hỡi các bạn trẻ, Cha viêt cho các bạn, vì các bạn đã thắng được sự ác. Hỡi thanh thiêú niên nam nữ, Cha viết lời này vì các con đã biết Chúa Cha..., Cha viết cho các con vì các con là những kẻ dũng cảm, và Lời Chúa cư ngụ trong các con" (1 Jn. 2:13 và tlếp theo...). Trong thế hệ chúng ta, vào những ngày cuối cùng của thế kỷ hai mươi, chính Giáo Hội cũng tự nhìn mình qua hình ảnh giới trẻ. (169)

Đừng nên nhìn giới trẻ như chỉ là đối tượng của môí lo âu cho Giáo Hội về phương diện mục vụ: Thực ra, họ là những "chủ nhân tích cực, tham dự vào công việc truyền bá Phúc âm và canh tân xã hội;(170) họ cần được khuyến khích để trở thành như thể' . Tuổi trẻ là thời kỳ khám phá đặc biệt sâu đậm về "bản ngã" cá biệt và về một "dự án cuộc đời riêng của mình". Đó là thời kỳ tăng triển phải được thực hiện trong "khôn ngoan, già dặn và ân sủng trước Thiên Chúa và trước người đời" (Lk. 2:52).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng đã nói rằng: "Cảm thức của những người trẻ thâu nhận một cách sâu xa những giá trị của công bằng, bất bạo động và hoà bình. Tâm hồn họ bao dung tình huynh đệ, thân hữa và đoàn kết. Họ tận tụy hết mình cho những công cuộc đấu tranh bảo vệ phẩm chất đời sống và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng họ cũng mang nặng những lo âu, ê chề, ưu tư và kinh hoàng của thê giới, và thêm vào đó những cám dỗ đặc biệt liên quan đến tuổi họ."(171)

Giáo Hội phải làm sống lại tình yêu đặc biệt mà Chúa Giêsu đã từng tỏ ra cho người thanh niên: "Chúa Giêsu nhìn anh tỏ dạ yêu thương" (Mk. 10.21). Đó là lý do tại sao Giáo Hội không ngừng loan báo Chúa Giêsu Kitô, tuyên xưng Phúc âm của Ngài như câu trả lời duy nhất và thỏa đáng cho những khát vọng căn bản nhất của người trẻ, như một đề nghị thiết tha kêu gọi từng người tự dấn thân: "hãy đến theo Ta" (Mk.10.21), một lời đề nghị nói lên sự thông phần vào tình yêu Cha Con của Chúa Giêsu đôí với Chúa Cha và việc tham gia vào sứ mệnh Cứu Chuộc nhân loại của Ngài .

Giáo Hội có nhiều điều phải nói với giới trẻ và giới trẻ có nhiều điều để nói với Giáo Hội. Cuộc đôí thoại song phương này phải được tiến hành một cách đầy nhiệt tâm, rõ ràng, và can đảm, để xúc tiến việc gặp gỡ giữa các thế hệ và những cuộc trao đổi giữa họ với nhau, và sẽ là một nguồn suối trong mát làm phong phú và trẻ trung cho Giáo Hội và xã hội. Trong sứ điệp gửi giới trẻ, Công Đồng tuyên bố rằng: Giáo Hội nhìn các bạn với nìêm tin tưởng và yêu thương... Giáo Hội chính là sự trẻ trung của thế giới... Hãy nhìn Giáo Hội và các bạn sẽ tìm thầý ở nơi đó khuôn mặt của Đức Kitô." (172)

Trẻ thơ và Nước Trời

47. Trẻ thơ là tuyệt đỉnh của tình yêu thương tinh tế và bao dung của Chúa Giêsu. Ngài dành riêng cho các em phúc lành của Ngài và hơn thế nữa, Ngài đã hứa Nước Trời cho các em (Mt. 19:13- 15, Mc. 10.14). Đặc biệt, Chúa đã đê cao vai trò tích cực mà các em đảm nhận trong Nước Chúa. Các em là biểu tượng hùng hồn, và là hình ảnh sáng chói về luân lý và tinh thần, những điều kiện thiết yếu để vào Nước Trời và sống một cuộc đời phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa: "Ta nói thật với các con, nếu các con không cải hóa để trở nên như những trẻ nhỏ, các con sẽ không vào được Nước Trời. Ai khiêm nhường như trẻ này sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời" (Mt. 18:3-5, Lk. 9. 48) .

Trẻ thơ nhắc nhở chúng ta rằng sự tăng triển trong việc truyền giáo của Giáo Hội có nền tảng sống động không phải nhờ vào các phương tiện hay tài năng sức lực của con người, nhưng nhờ vào ân sủng tuyệt đối của Chúa. Đời sống hồn nhiên vô tội và ân sủng của trẻ nhỏ, và ngay cả những khổ đau người ta bắt chúng phải cam chịu, nhờ vào thập giá Đức Kitô, trở thành một nguồn suối làm sung mãn sức sống siêu nhiên cho chính các em, và cho toàn Giáo Hội. Tất cả chúng ta phải cảm tạ và ý thức sâu xa về sự kiện này.

Ngoài ra phải nhận rằng ngay ở tuổi này, những khả năng hành động quí giá đã tnển nở liên quan đến việc xây dựng Giáo Hội, cũng như nhản-bản-hóa xã hội. Tất cả những điều Công Đồng xác nhận khi nói đến ích lợi của con cái trong gia đình là "Giáo Hội tại gia"; "là phần tử sống động của gia đình, trẻ em theo cách của mình giúp cha mẹ được thánh hóa."(173) Điều này cũng có thể lập lại khi nói đến mối tương quan giữa các em và Giáo Hội địa phương cũng như Giáo Hội hoàn vũ. Thần học gia và cũng là nhà mô phạm của thế kỷ 15, Jean Gerson đã nêu lên sự kiện đó như sau: "Trẻ thơ và thanh mên không phải là một thành phần không đáng kể của Giáo Hội." (174)

Bậc cao niên và ơn khôn ngoan

48. Đôi với những người già cả, mà thông thường một cách sai lầm bị xem như là những kẻ vô dụng, có khi còn được xem là một gánh nặng. Ta nhắc nhở những người này rằng Giáo Hội đòi hỏi và chờ đợi nơi họ phải theo đuổi sứ mệnh tông đồ và truyền giáo của họ. Đây không những là một công tác họ có thể làm và phải làm, mặc dầu ở vào tuổi này, nhưng chính vì ỏ tuổi đó mà sứ mệnh của họ mang một hình thái đặc biệt và độc đáo.

Thánh Kinh trình bày cho chúng ta thấy người cao niên như là biểu tượng của những người khôn ngoan và kính sợ Thiên Chúa (Sir. 25.4-6). Với ý nghĩa đó, "ơn huệ" của người già có thể đôí với Giáo Hội và xã hội là tạo thành những chứng tá của truyền thông đức tin. (Ps. 44:2, Ex. 12:26-27), bậc thầy khả kính (Sir. 6. 34, 3:11-12) và là người kiến tạo tình bác ái.

Ngày nay việc gia tăng con số những người lớn tuổi trong nhiều quốc gia trên thế giới, và tình trạng về hưu sớm tạo nhiều cơ hội cho công tác tông đồ của những người lớn tuổi. Đó là một công việc phải chu toàn với nhiều can đảm, phải biết quyết tầm vượt qua cơn cám dỗ muốn thu mình lại, luyến tiếc một dĩ vãng không còn trở lại nữa, và từ chối dấn thân vào thực tại vì những khó khăn gặp phải trong một thế giới không ngừng đổi mới. Ngược lại, luôn luôn cần phải ý thức rõ ràng vai trò mình trong Giáo Hội và xã hội, bởi vì vai trò này không bị ngưng trệ bởi tuổi đời, trái lại, chỉ là những hình thức mới. Thánh Vịnh ca tụng rằng: "Trong tuổi già, họ còn sinh hoa trái, họ còn đầy nhựa sông và sức trai trẻ, tuyên xưng đức công chính của Thiên Chúa" (Ps. 92:15-16). Ta nhắc lại điều Ta đã nói trong ngày Ngân Khánh của các bậc thượng thọ: "Đi vào thời kỳ thứ ba của cuộc đời phải được xem là một đặc ân: không những bởi vì không phải ai cũng may mắn sống đến tuổi này, nhưng nhất là vì đây là thời kỳ mà con người có thể nhìn lại quá khứ một cách cụ thể và rõ ràng, hiểu biết nhiều hơn và sống mãnh liệt hơn mầu nhiệm phục sinh, trở thành một mẫu mực sống trong Giáo Hội cho toàn thể Dân Chúa... Mặc dầu phải đương đầu với nhiều vấn đề phức tạp, phải chứng kiến sự suy nhược dần dần của thể xác, những thiếu sót của các tổ chức xã hội, những trì trệ của luật lệ lỗi thời, những thái độ thiếu thông cảm của một xã hội ích kỷ, vẫn không được nghĩ rằng mình đang đứng ra ngoài lề cuộc sống của Giáo Hội, là những thành phần thụ động của một thế giới quá biên động, nhưng là những chi thể tích cực sinh hoạt của một giai đoạn phong phú của đời sống con người về phương diện nhân loại cũng như về mặt siêu nhiên. Tuổi già vần còn có sứ mệnh phải hoàn thành, còn có nghĩa vụ phải đóng góp. Theo Thánh ý của Chúa, mỗi người là một cuộc sống luôn tiếp nôl, từ ánh loé đầu tiên của cuộc đời mình cho đến hơi thở cuôí cùng." (175)

NỨ GlỚl VÀ NAM GlỚl

49. Các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã lưu tâm đặt biệt đến tình trạng vai trò của phụ nữ, trong một ý hướng song phương: Các Ngài nhìn nhận và thêm một lần nữa kêu gọi mỗi người nhìn nhận sự đóng góp cần thiết của nữ giới trong công cuộc xây dựng Giáo Hội và phát triển xã hội. Ngoài ra, Giáo Hội còn cố tâm khai triển một cuộc phân tích qui mô hơn về việc tham gia của phụ nữ vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.

Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan XXIII, vị Giáo Hoàng đã nhìn nhận việc nữ giới đã ý thức về chính nhân phẩm của mình, và việc gia nhầp của nhiều phụ nứ vào đời sống xã hội như một dấu chứng của thời đại. (176) Trước những hình thức hết sức đa dạng về tình trạng kỳ thị và cho ra ngoài lề mà phụ nữ phải cam chịu, chỉ vì họ là nữ giới, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã quả quyết nhiều lần và mạnh mê cần phải cấp thời bảo vệ và thăng tiến phẩm giá và sự bình đẳng của nữ giới đối với nam giới.

Nếu đó là công việc của mỗi người trong Giáo Hội cũng như trong xã hội, thì đặc biệt đó hẳn là công việc của chính phụ nứ. Họ phải tự cảm thấy cần dấn thân như những kẻ đấu tranh hàng đầu. Còn có nhiều cố gắng phải thực hiện, ở trong nhiều nơi trên thế giới và trong nhiều môi trường sống khác nhau, để nảo trạng bất công và tàn tệ xem thân phận con người như một đồ vật, một món hàng, một dụng cụ phục vụ cho lợi ích vị kỷ, cho việc tìm kiếm khoái lạc, mà phụ nữ là nạn nhân. Do đó, việc nhìn nhận phẩm giá con người của phụ nứ một cách chân thành và rõ rệt là bước đầu phải thể hiện để cổ xúy việc tham dự đầy đủ của nữ giới vào đời sống của Giáo Hội, cũng như cuộc sống xâ hội và công cộng. Cần phải có một sự đáp ứng dứt khoát hơn cho lời hiệu triệu mà Ta đã kêu gọi trong Tông Huấn Familiaris consortio liên quan đến quá nhiều hình thức kỳ thị mà phụ nữ là nạn nhân: "Ta yêu cầu tất cả mọi người phải dấn thân vào một công tác mục vụ đặc biệt mạnh mẽ hơn và sắc bén hơn để những kỳ thị đó dứt khoát phải được xóa bỏ, và đi đến việc chân nhận đầy đủ hình ảnh của Thiên Chúa sáng chói ra trong toàn thể nhân loại không phân biệt một ai". (177) Trong dòng tư tưởng đó, những Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quả quyết: "Trong sự biểu lộ sứ mệnh của mình, Giáo Hội phải chống lại một cách mạnh mẽ tất cả các hình thái kỳ thị và lạm dụng mà phụ nữ là nạn nhân". (178) Và các Ngài còn nói: "Phẩm giá phụ nữ, từng bị tổn thương nặng nề trong dư luận quần chúng phải được phục hồi, nhờ vào việc tôn trọng cụ thể các quyền về nhân phẩm con người và nhờ vào việc thực thi giáo lý của Giáo Hội". (179)

Còn điểm liên quan đặc biệt đến việc tham dự tích cực và có trách nhiệm vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, thì cần lưu ý là Công Đồng Vaticanô II đã nói rất rõ trong lời mời gọi sau: "Ngày nay, phụ nữ càng ngày càng dự phần một cách tích cực vào trong tất cả cuộc sống xã hội, cũng vì thế sự nới rộng việc tham gia của phụ nữ vào các lãnh vực khác nhau trong công cuộc tông đồ của Giáo Hội lại rất quan trọng." (180)

Trong thời kỳ hậu Cộng Đồng này, người ta cũng nhận thức nhiều hơn và sâu xa hơn những tài năng và trách nhiệm riêng của phụ nữ, cũng như ơn gọi đặc biệt của họ, sự nhận thức đó được khởi hứng đặc biệt từ Phưc âm và lịch sử Giáo Hội. Thật thế, đôi với những ai tin vào Phúc âm, nghĩa là lời nói và gương mẫu của Chúa Giêsu Kitô, vẫn là chốt điểm cần thiết và quyết định. Hơn lúc nào hết trong lịch sử, những điều này cần được phong phú và canh tân hơn.

Dầu không được gọi tham dự chức vụ của Mười Hai Tông Đồ, do đó không ở trong chức linh mục thừa tác, nhìêu phụ nữ đã theo Chúa Giêsu trong sứ mạng của Ngài và giúp đỡ các Tông Đồ (Lk. 8.2-3); các bà đã hiện diện bên Thánh Giá (Lk. 23?49) ; các bà đã tham dự trong cuộc an táng Chúa Giêsu (Lk. 23. 55) và sáng Phục Sinh các bà nhận và truyền tin Chúa Sống lại (Lk. 24:l-10); các bà cầu nguyện với các Tông Đồ tại phòng Tiệc Ly để đón chờ Thánh Linh (Acts. 1:14).

Theo dấu chân của Phúc âm, Giáo Hội ngay từ thời khai nguyên đã vượt ra ngoài tập tục văn hoá đương thời và mời gọi phụ nứ vào những công tác liên quan đên việc rao giảng Phúc âm. Trong các thư của Ngài, Thánh Phaolô nêu tên một sổ các bà tuỳ vào các chức vụ đặc biệt của mỗi người trong công cuộc phục vụ bên trong các cộng đoàn Giáo Hội đầu tiên (Rom. 16.1-15, Pt. 4:2-3, Col. 4:15, 1 Cor.11:5, 1 Tm. 5.16). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: "Nếu việc làm chứng của các Tông Đồ thành lập ra Giáo Hội, thì việc làm chứng của phụ nữ đã đóng gúp rất nhiều trong việc nuôi dưỡng Đức Tin của các cộng đoàn Kítô hữu đầu tiên." (181)

Cũng như thời khai nguyên và trong tiến trình phát triển Giáo Hội, dĩ nhiên với những khác biệt về hình thức và cách thế đã luôn có những phụ nữ đảm trách những vai trò lắm lúc quyết định và hoàn thành những công tác có giá trị lớn lao cho Giáo Hội. Đó là cả một sinh hoạt rộng lớn, thường rất khiêm tốn và kín đáo, nhưng không kém phần quyết định trong việc phát huy và thánh hóa của Giáo Hội. Lịch sử đó còn cần phải theo đuổi, hơn thế nữa cần phải phổ biên và tăng gia thêm, song song với việc nhận thức về nhân phẩm của nữ giới và ơn gọi của họ một cách rộng rãi và bao quát, đồng thời xúc tiên nhanh chóng một "đường lối mới rao giảng Phúc âm" và một "hình thức nhân bản" rộng rãi hơn trong eác tương quan xã hội.

Tổng hơp các chỉ thị của Công Đồng Vaticanô II phản ảnh sứ điệp Phúc âm, cũng như lịch sử Giáo Hội, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nêu lên "lời khuyên cáo" rõ rệt này: "Bằng chính cuộc sông và bởi sứ mạng của mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả các ơn huệ của phái nam cũng như phái nữ, và khai triển áp dụng các ơn huệ đó." (182) Tiêp theo: "Thượng Hội Đồng này tuyên bố rằng Giáo Hội buộc phải nhìn nhận và xử dụng tất cả các ơn huệ kinh nghiệm và khả năng này của nam cũng như nữ để sứ mạng của Giáo Hội được hữu hiệu hơn (Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, Giáo Huấn về sự tự do công giáo và sự giải phóng,72". (183)

chú thích

167- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng về Phúc âm I,

168- Vaticanô II, Tuyên ngôn về Giáo dục Kytô giáo Gravissimum Educationis, 2

169- Gioan-Phaolô II - Tông thư gửi tất cả những người trẻ trên thế giới, dịp "Năm Quốc tế giới trẻ", 15, AAS 77 (1985), 620-621.

170- Propositio, 53    171- Propositio, 51

172- Vatican II Nuntii "Gửi các bạn trẻ" (8-12-1965): AAS 58 (1966) 18.

173- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et Spes, 48

174- Jean Gerson - De Parvulis ad Christum trahendis: Toàn tập. Desclée - Paris- 1973, IX- 669.

175- Gioan-Phaolô II - Diễn văn đọc trước các nhóm người già của các địa phận Ý (23-3-1984), Insegnament VII, 1 (1984) 744

176- Xem Gioan XXIII - Thông điệp Pacem in Terris: AAS 55 (1963), 267-268.

177- Gioan-Phaolô II - Tông huấn Familiaris Consortio, 24: AAS 74 (1982) 109-110.

178- Propositio, 46    179- Propositio 47

180- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, 9

181- Phaolô VI- Diễn văn đọc trước ủy ban lo cho Năm Quốc tế Phụ nữ (18-4-1975): AAS 67 (/975) 266.

182- Propositio 46    183- Propositio 47

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
PHÁ VỠ KHOẢNG CÁCH

Phúc Âm Nhật Ký

(Ga 21:1-19)

Một buổi sáng đẹp trời, giữa cảnh mây nước trên biển hồ Tibêria, từ trên bờ, Ðức Giêsu quan sát rất kỹ các môn đệ đang mệt mỏi chèo thuyền về phía mình.  Họ vào gần đến nỗi có thể trao đổi với Thày và nghe lệnh Thày thả lưới xuống bên phải mạn thuyền để bắt cá.  Khoảng cách càng thu ngắn, các môn đệ càng nhận rõ Thày.  Tới lúc lên bờ, khoảng cách không còn nữa.  Thày trò có thể quây quần quanh bếp hồng.  Chúa thích ăn cá mới bắt và tự tay nướng cho các môn đệ.  Ấm cúng và thân mật làm sao !  Chắc chắn Chúa Giêsu và các môn đệ có thể kể hết cho nhau niềm vui Phục Sinh.  Khoảng cách càng thu ngắn, con người càng gần gũi nhau.

Bình thường, cuộc sống cần phải có những khoảng cách giữa người lãnh đạo và quần chúng, giữa nhà giáo dục và học sinh, giữa cha mẹ và con cái.  Khoảng cách quá xa hoặc quá gần cũng đều gây phương hại cho công cuộc chung. 

Giữa thày trò Ðức Giêsu có một khoảng cách nào không ?  Nếu có, Chúa cũng phá vỡ khoảng cách đó.  Tại sao ? Liệu Chúa có thành công khi không tôn trọng khoảng cách tự nhiên không ?  Phá vỡ khoảng cách có gây nguy hiểm cho cộng đồng không ?  Nếu không còn khoảng cách quyền bính trong cả hai lãnh vực cai trị và giáo dục, con người có thể đạt mục đích không ?

Trong Tin Mừng hôm nay, việc phi thường nhất không phải là mẻ cá lạ lùng, nhưng là việc Chúa phá vỡ và phối hiệp một cách tài tình khoảng cách giữa các thực tại.  Việc phá vỡ đó rất cần thiết để Chúa trình bày một bài học rất ý nghĩa cho mọi người. 

Những cảnh trái ngược đã thu ngắn hay phá vỡ khoảng cách bình thường.  Thứ nhất, theo Tin Mừng Gioan, ngay sau khi phục sinh, Ðức Giêsu đã về trời.  Vậy mà, Ðức Giêsu vẫn xuất hiện để ăn uống với các môn đệ ở bờ hồ Tibêria.  Như thế, không còn khoảng cách giữa thiên giới và trần giới nữa.   Thứ hai, ngay trong cảnh trao quyền cho ông Phêrô, Chúa Giêsu đã kết hiệp quyền bính và tình yêu.  Ðúng hơn, quyền bính được xây dựng trên nền tảng tình yêu.  Bình thường quyền bính và tình yêu trái ngược hay xung khắc nhau, như hai lãnh  vực công và tư vậy.  Thứ ba, Hội Thánh lại được đặt dưới quyền lãnh đạo của một tội nhân đã từng phản bội Chúa.  Tại sao tội nhân lại được tuyển dụng để làm một việc thánh trong một Hội thánh như thế ?!

Dù sao, chúng ta cũng cố gắng cầu xin Chúa soi sáng để có thể rút tỉa những điều cần thiết từ ba bài học đó.   Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu xuất hiện với các môn đệ và chia sẻ tận tình với cuộc sống của họ.   Không những Người can thiệp vào kế sinh nhai, nhưng còn có thể chia sẻ tận tình với những hoa quả của cuộc sống với họ. Người mạc khải cho chúng ta thấy có một sợi chỉ xuyên suốt từ cuộc sống trần giới sang thiên giới.  Tuy có khác biệt, nhưng vẫn có điểm chung, đến nỗi Ðức Giêsu có thể ăn uống với các môn đệ.  Bữa ăn thân tình giữa thày trò đã để lại trong lòng môn đệ một niềm tin sâu xa về sự hiện diện thân mật và cần thiết của Ðức Giêsu trong cuộc sống.  Ðiểm nối giữa hai cuộc sống thiên giới và trần giới, đó chính là Thánh Thể.  Bởi đấy, kết thúc trình thuật về mẻ cá lạ lùng là hành vi giống hệt như Chúa đã làm trong bữa Tiệc Ly.

Bài học thứ hai rút từ việc Chúa trao quyền cho ông Phêrô.  Chưa thấy ai trước khi trao quyền cho người khác lại đặt những câu hỏi như Chúa.  Cách đặt vấn đề cho thấy tình yêu rất quan trọng, vì là nền tảng và động lực của quyền bính.   Thực vậy, quyền bính trong Giáo hội chỉ là phương tiện để phục vụ : “Kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.” (Lc 22:26)   Hơn nữa, Chúa còn nói : “Ai phục vụ Thày, hãy theo Thày.” (Ga 12: 26)  Hơn ai hết, những người lãnh đạo trong Giáo hội phải theo sát gót Thày Chí Thánh.  Nhưng làm sao phục vụ, nếu không khiêm tốn ?  Khiêm tốn chỉ phát xuất từ tình yêu đích thực.

Bài học thứ ba mới thật đắt giá.  Một người phản bội như ông Phêrô lại được Chúa ủy thác một trọng trách quá lớn.  Ông có tài cán gì ?   Ông đã chối Chúa ba lần. Một vết đen quá lớn trong cuộc đời !  Làm sao tẩy xóa được ?   Ông cũng không can đảm đến gần cây thánh giá như ông Gioan.  Phải chăng Chúa quá liều lĩnh khi chọn ông làm giáo hoàng đầu tiên của Giáo hội ?   Thực ra, trước khi trao trọng trách cho ông, Chúa đã đặt vấn đề tình yêu với ông ba lần.  Ba lần chứng tỏ tình yêu đối với Thày bù lại ba lần chối Chúa.  Ðó là một xác quyết sau khi cân đo cẩn thận, chứ không nông nổi như trước khi Chúa chịu chết.  Còn hơn một xác quyết, tình yêu như ngọn lửa bùng lên trong đêm trường. Phản bội tựa như rơm rác, làm sao có thể tồn tại trong ngọn lửa hồng ngùn ngụt đó ?  Theo một số nhà chú giải, thánh Gioan đã xử dụng những ngôn từ Hy lạp khác nhau để chỉ về tình yêu (trong hai câu hỏi đầu của Chúa, ông dùng agapan; câu hỏi cuối cùng và trong tất cả các câu trả lời của ông Phêrô, ông dùng từ philein).  Ông muốn cho thấy một chuyển biến từ tình cảm sang tình bạn sâu đậm hơn. Việc ông dùng hai lần trong câu hỏi và câu trả lời cuối cùng nhắc lại việc Chúa coi các môn đệ là “bạn hữu” khi họ thi hành điều Thày truyền. 

Nếu Giáo hội phát xuất và đặt nền tảng trên tình yêu, làm sao ông Phêrô và các đấng kế vị có thể khác được ?   Tình yêu trước hết đòi phải gần gũi, lắng nghe, và quan tâm chăm sóc.  Nếu quá nhấn mạnh tới quyền lực, người ta dễ bỏ quên yếu tính của nó là tình yêu.  Quyền lực hay quyền bính dễ làm cho con người xa nhau.  Trái lại, tình yêu đưa con người lại gần.  Khi đánh mất bản chất tình yêu, quyền bính không còn khả năng phục vụ con người nữa.

Làm sao ông Phêrô có thể xác quyết về tình yêu của ông đối với Chúa tới ba lần, nếu ông không tin vào Chúa ?  Bởi vậy lời xác quyết về tình yêu cũng là lời tuyên xưng đức tin. Chính trong đức tin này, Thiên Chúa sẽ hành động.  Như thế đủ thấy Giáo hội là một công trình của Thiên Chúa, chứ không phải của loài người.  Nếu đó là công trình của Thiên Chúa, các môn đệ có thể nào hành động như không có Chúa không ?  Có thể nào không nhạy cảm trước cảnh con người bị đàn áp không ? Chẳng lẽ Giáo hội trở thành một cơ chế cứng ngắc không phản ứng kịp trước những đau thương của con cái, của đồng loại... ?  Có những điều cả thế giới đều phải quan tâm; Nhưng một số người có thẩm quyền trong đạo lại cho đó là (...)!  Họ làm ra như những nhà mô phạm và đạo đức có bổn phận nhắc nhở các con chiên của Chúa "không được làm chính trị" !  Nếu không có những lời nhắc nhở đó, chắc con chiên sa hỏa ngục hết ! 

Nhưng thử hỏi tiếng nói của ai đáng cho chúng ta nghe theo ?  Trả lời cho những kẻ muốn lên mặt dạy đời, ÐGH Gioan Phaolô II thẳng thắn tuyên bố : “Đừng hiểu chính trị theo nghĩa hẹp! Giáo Hội có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng, mà trong Tin Mừng có con người, tức là có nhân quyền, nhân phẩm, tự do và lương tâm cùng tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những cái đó có một giá trị chính trị thì tôi làm chính trị, vì tôi bênh vực con người.”  Ngay khi vừa lên ngôi giáo hoàng năm 1978, ÐGH Gioan Phaolô II đã tuyên bố thẳng thắn và dứt khoát sẽ về Ba Lan chiến đấu nếu Liên Sô và khối quân sự cộng sản Varsovie (Varsaw) xâm lăng Ba Lan để đàn áp các cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.  Mới đây, ÐGH Bênêđictô cũng yêu cầu tổng thống xứ Sri Lanka tôn trọng nhân quyền và nối lại cuộc đối thoại để chấm dứt bạo động trong quốc gia này.[1]  Lời khuyên đó cũng đủ soi sáng cho những ai đang có trách nhiệm hướng dẫn đoàn chiên Chúa ở Việt nam.

Nhưng trên hết là tiếng nói của vị Giáo Hoàng tiên khởi.  Ðứng trước quyền lực Do thái đã từng đổ máu Thày mình và bây giờ muốn bịt miệng các Tông Ðồ, ông Phêrô khẳng khái tuyên bố : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm.” (Cv 5:29)  Phêrô sau khi Chúa Phục sinh không còn là Phêrô lúc Chúa chịu chết nữa.  Thánh Linh đã giết chết con người nhát sợ nơi ông.  Ba lần đáp trả tình yêu có giá trị gấp bao nhiều lần chối Chúa ?  Chúa đã không sai lầm khi chọn ông.  Ông đã đánh đổi cả mạng sống để chứng tỏ tất cả tình yêu đối với Thày và Giáo hội.  Ông xứng đáng với niềm tin tưởng của Chúa ! 

Các vị hữu trách vẫn kêu gọi phải tỏ ra bác ái và xây dựng ngay cả khi nhận định và phê bình.  Nhưng thử hỏi khi giữ im lặng trước muôn vàn bất công, trù dập kẻ yếu thế..., quý vị có tạo nên sự căng thẳng và ngộ nhận trong dân Chúa không ?  Ðó có phải là bác ái không ? Chắc chắn cũng giống như vụ “Nghi Thức Thánh Lễ 2005” và nhiều vụ khác ..., tất cả rồi cũng sẽ “chìm xuồng” luôn mà thôi.  Vị này đổ cho vị kia.  Không ai thấy có trách nhiệm gì cả !  Ðừng ai trông chờ gì !

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống khiêm tốn và can đảm !  Xin giúp chúng con biết thâu ngắn hay phá vỡ những khoảng cách làm chúng con không thể gần nhau.  Chỉ khi nào gần nhau, chúng con mới có thể phục vụ Chúa và nhân loại một cách hữu hiệu. Xin cho chúng con biết từ bỏ mọi sự, nhất là cái tôi hèn nhát của chúng con mà theo Chúa.  Amen.

Lm đỗ lực, op.  22.04.2007


[1] ZENIT.org,  20.04. 2007 

VỀ MỤC LỤC
LÀM THẾ NÀO ĐỐI VỚI NHỮNG THÓI XẤU CỦA CON TRẺ? 

 

Nói láo hoặc ăn cắp vặt: một đứa trẻ nói láo hoặc ăn cắp vặt thường là muốn cố gắng để thực hiện một cái gì. Nếu đứa trẻ cố ý làm một công việc khác thường để chúng ta khám phá ra sự phá luật của nó, chúng ta có thể bảo đảm rằng mục đích của nó là muốn sự chú ý của chúng ta. Tuy nhiên, nếu nó chối từ điều đó, chúng ta có quyền kết luận rằng nó muốn tỏ uy quyền của nó. Đứa trẻ có thể cảm thấy rằng nó có quyền lấy bất cứ cái gì nó muốn bất kể phương cách nào. Hoặc nó có thể cảm thấy một sự thích thú lớn lao trong việc lấy một cái gì mà không bị bắt. Hành động nói láo hoặc ăn cắp là triệu chứng của sự muốn nổi loạn sâu xa bên trong. Dĩ nhiên, những món đồ ăn cắp cần phải được trả lại. Nhưng chúng ta phải coi nhẹ những sự việc đó và đừng để bị gây ấn tượng. Điều đó có lẽ khó cho bố mẹ là những người hay nghĩ rằng họ có bổn phận phải dạy dỗ con cái không được làm như thế. Nhưng tất cả những việc rầy la, mắng chười, hay hình phạt thường không mang lại kết quả. Trái lạ, chúng còn làm tăng thêm sự ước muốn làm ngược lại để tìm quyền lực và để đánh bại bố mẹ. Vì thế, chúng ta không cần phải nói nhiều vì đứa trẻ biết rất rõ ràng rằng nói láo và ăn cắp là sai, nhưng nó vẫn thích làm vì điều đó sinh kết quả cho nó.

Cô bé Hương Lan 5 tuổi, chơi với đứa trẻ bên cạnh nhà đang cỡi xe đạp. Nó nài nĩ bố mẹ mua cho nó một cái xe như vậy, nhưng bố mẹ cắt nghĩa cho nó rằng họ không thể cung cấp cho nó ngay bây giờ. Một ngày kia, bà mẹ khám phá ra chiếc xe của đứa trẻ kia được dấu đằng sau lò sưởi. Bà mẹ rất là thông minh. Bà nghĩ: tốt, mình chờ xem một hai ngày nữa để xem cái gì sẽ xảy ra? Bà nhận thấy cô bé có cái gì bất ổn. Chiếc xe vẫn còn ở đó và bà mẹ không muốn nghĩ ngợi gì. Ngày thứ hai, buổi chiều bà hỏi cô bé: “Tại sao con không lấy chiếc xe của bạn con ra và cỡi đi”. Ngạc nhiên, cô bé trả lời: “Vì nó sẽ thấy và con phải trả lại cho nó. Bấy giờ, ăn cắp thì xem ra không tốt”, nói thế rồi cô bé bộc phát khóc. “Tại sao con không trả lại cho nó. Ít ra cả hai đứa có thể cỡi được cả”. Bà mẹ đã nói chuyện đó với bà mẹ của bạn nó và đã thuyết phục được sự cộng tác của bà kia để vấn đề được giải quyết một cách tốt đẹp. Từ đó, cô bé đã học được bài học của nó.

Vấn đề thật nằm trong sự kiện nầy là cô bé cảm thấy nó có quyền có bất cứ cái gì nó muốn. Nhưng bà mẹ đã giúp nó biết khám phá ra rằng ăn cắp thì không tốt.

Trẻ con có những thói tật xấu như thế cần sự giúp đỡ và cần sự cảm thông. Đó là một triệu chứng hơn là một căn bệnh. Chúng ta không thể làm gì được bằng phương cách tấn công. Hãy tìm hiểu nguyên nhân chính nằm ở đằng sau đó là cái gì? Nhiều lúc chúng ta có thể tìm ra được những nguyên nhân đó qua những cuộc nói chuyện thân tình và không chính thức. Đó có thể là vào lúc trước khi đi ngủ, bà mẹ và đứa con trong bầu khí thân tình và hạnh phúc, bà mẹ có thể bày ra một trò chơi nho nhỏ và hỏi: “Cái gì con không thích?” Ở đây, bà có thể khám phá ra đứa trẻ đang hậm hực cái gì? Từ đó, bà biết được một số những tin tức và tâm trạng của đứa bé để rồi bà có thể dùng nó làm nền cho hành động của bà chứ không phải cho lời nói. Bà không cần phê bình, cũng không cần cắt nghĩa cái mà nó không thích. Nhưng bà có thể hỏi nó: “Con cảm thấy cái gì có thể làm được cho vấn đề đó?” Đây là một cơ hội để lắng nghe. Nếu đứa trẻ không có gì để nói, bà mẹ có thể tiếp tục trò chơi bằng cách nói ra cái bà không thích, nhưng chỉ nói những thứ không có liên quan gì đến đứa trẻ. Nếu không, nó sẽ làm ngưng cuộc chơi và sẽ trở thành chỉ trích.

Chúng ta phải cẩn thận, không được tra xét vì nó sẽ làm cho đứa trẻ càng chui vào ốc vỏ, đóng cữa lại đối với những cố gắng muốn tìm hiểu. Trò chơi có thể được lập đi lập lại nhiều lần và trở thành phương tiện của sự đối thoại giao tiếp.

Chúng ta không thể mong đợi con trẻ hoàn toàn không có một tật xấu nào. Đây cũng là câu trả lời cho chúng ta nếu chúng ta cảm thấy chán nản vì sau những cố gắng sửa đổi về phía chúng ta, chúng ta vẫn thấy đứa trẻ vẫn tiếp tục như thế. Bấy giờ, chúng ta cũng như đứa trẻ có vẻ như tin rằng nó sẽ không bao giờ chấm dứt được cái thói xấu đó. Nhưng, hãy thử suy nghĩ lại: thật ra, bây giờ nó có còn mút ngón tay hay đái dầm ở vào tuổi học sinh trung học không? Dĩ nhiên là không! Tuy nhiên, sự lạc quan của chúng ta không có gì bảo đảm. Dẫu thế, chúng ta vẫn biết rằng một ngày kia nó sẽ chấm dứt. Đây là một chương trình dài hạn cần được khích lệ bỡi những hoạt động tăng cường cho những khía cạnh tích cực. Chúng ta có thể nói được rằng cuối cùng đứa trẻ cũng sẽ đáp lại. Một khi chúng ta giải thoát chúng ta khỏi sự chán nản, chính niềm tin của chúng ta vào đứa trẻ có thể cung cấp thêm động lực cho con trẻ chúng ta. Nếu chúng ta không quan tâm quá nhiều, nếu chúng ta bình tĩnh hơn một chút, và nếu chúng ta để một ít sự việc trôi đi tốt đẹp, chúng ta sẽ thấy rằng sự căng thẳng không còn và thói xấu trở thành một cái gì không còn quan trọng mấy cho con trẻ cũng như cho cả chúng ta.

lêvănquảng, taiwan.

VỀ MỤC LỤC

“NẮNG SÀI-GÒN, ANH ĐI MÀ CHỢT MÁT...”

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức kitô thân mến,

Mấy hôm nay Sài-gòn nóng như đổ lửa, từng con đường hầm hập như lò bếp nung, ai cũng tìm mọi cách tránh ra đường vào những giờ nắng nóng, nhưng khi có việc phải ra đường, xe cộ vẫn đông đúc, người người vẫn vội vã di chuyển với tốc độ nhanh.

Nhất là vào những giờ cao điểm, mọi nẻo đường như nêm chặt xe cộ, không còn chỗ để len đi. Khổ nhất là tại các ngã tư, trời nắng rát, xe dừng lại chờ đèn tín hiệu, khói cay bay mù mịt, cái nóng càng khủng kinh hơn khi đậu gần những chiếc xe hơi, ống khói xịt ra hơi nóng, quyện với mùi xăng gây buồn nôn, đường chật cứng, không biết len vào đâu để trốn, mà trốn đi đâu bây giờ ?

Vào thời điểm đèn đường bên kia bật vàng, bên này tiếng máy gầm rú, bên này tiếng còi thi nhau bấm để báo hiệu đèn đã xanh, độ nóng tăng lên rất nhanh theo tiếng rồ máy, và tiếng còi như tiếng búa giộng vào óc những người yếu sức. Tiếng còi còn gây đau buốt hơn nữa khi tiếng còi đó lại là còi xe tải, và tiếng gầm của xe tải nhích lên từng đọan đường, đường dưới chân như rung lên, hình như địa ngục đang mở ra !

Đường phố nhếch nhác làm tăng thêm ô nhiễm của môi trường, có nhiều đoạn đường tu sửa không biết bao giờ mới xong, có đường giải tỏa làm mới hai năm rồi chưa động nay, những đoạn kênh con nước vẫn cứ đen, đường vẫn bị rào, cứ đi một quảng lại môt lần nhích từng bước qua đoạn ”thắt cổ chai”. Chẳng ai có thể nói được ngày hoàn thành của nó, hình như những người có trách nhiệm như muốn thử sức chịu đựng của người dân thành phố này.

Ta thán cũng vậy, chỉ làm cho chính mình mệt mỏi hơn. Nhưng cũng phải trách lại những cư dân của thành phố này, biết cần lắm những mảng xanh trên đường phố, nhưng mấy ai chăm bón, mấy ai làm cho thêm những khoảng xanh hiếm họi nơi này ? Người ta chặt phá cây vô tội vạ, người treo đủ thứ những cái “làm ăn” của người ta trên những cành cây non nớt èo uột, người tìm cách làm cho cây chết vì cái cây “mắc dịch” kia trồng ngay trước cửa nhà .

Biết rằng những khoảng xanh rất cần để làm giảm nhiệt độ thành phố, nhưng những ngôi nhà bê-tông cứ mọc lên, thỏa mãn sức đầu tư tận dụng của con người, nhưng để lại cho thành phố những mảng bê-tông vô hồn quái ác, như những cuc gạch nung hầm thành phố này cho nhừ tử hơn.

Sao không bảo nhau, ít là, hãy trả lại cho thành phố những mảnh vườn trên nóc các ngôi nhà cao tầng, trả lại một chút thiên nhiên, cho dù đó là thiên nhiên được tái tạo để bù đắp, như thế có phải đỡ nghiệt ngã với nhau hơn. Sao không bảo nhau hãy có những dàn dây leo quanh các cửa sổ trên các ngôi nhà, như những bàn tay vươn ra để kết giao với thiên nhiên, với ra thiên nhiên và kéo thiên nhiên vào thân thiện với mình hơn. Sao không bảo nhau, khó khăn đến mấy, hãy cố gắng mỗi nhà ít là có một cây xanh, có những loài cây không đòi nhiều đất, có những loài cây nếu chỉ để cho xanh thì sẵn lòng làm xanh một khoảng lớn mà đất thì chẳng cần bao nhiêu.

Đọc báo thấy Singapore, xứ sở của cây xanh, mật độ xanh thuộc loại hàng đầu của thế giới, nhưng người ta vẫn còn muốn phủ xanh nhiều hơn nữa, người ta đang nghiên cứu các loài cây leo, lọai cây có thể bám leo trên tường mà không làm hỏng tường, có cây leo, diện tích xanh tăng lên nữa, chất lượng cuộc sống lại càng được nâng cao. Chính phủ sẵn sàng đầu tư những nghiên cứu để làm tăng chất lượng sống.

Đọc báo thấy ở Paris, người ta có ngày lịch sự, tất cả xe cộ ra đường ngày hôm đó, không xe nào bấm còi, mỗi người sẽ cố gắng kìm hãm sự nóng giận, mỗi người sẽ cố gắng nở nụ cười để cuộc sống dễ chịu và thân thiên hơn. Sao mình không làm được như vậy nhỉ ?

Bao nhiêu người đã đi nước ngoài, bao nhiêu người đã đi du học ở nước ngoài, khi trở về, sao không cố gắng nói với nhau một lời, sao không cố gắng làm một cái gì đó để cải thiện hơn cuộc sống này ? Những điều hay của người ta nên bắt chước lắm chứ, đâu cần gì phải bắt chước kiểu tóc kiểu quần ? Đâu cần gì phải bắt chước kiểu phù phiếm sa hoa ?

Và cả cái sân Nhà Thờ nữa, xin hãy phủ xanh cái sân cứng cỏi vô hồn đã được xây dựng để thỏa mãn sự “hoành tráng”, để thỏa mãn những cuộc tập họp đông đảo. Cứ phải tập họp đông đảo mới là sống Đạo sao ? Cái cần là sự thân thiện đầy yêu thương toát ra từ những gì mà Nhà Thờ đang sở đắc, gương mặt của Nhà Thờ phải càng ngày càng đễ thương và khiêm tốn hơn trong xã hội hôm nay. Ước gì... đến một ngày... sẽ như Ngô Thụy Miên hát... “Nắng Sài-gòn anh đi mà chợt mát...”

Những mầm xanh là biểu tượng của Sự Sống. Thiên Chúa đã ban Sự Sống cho nhân loại, Thiên Chúa lại còn phục hồi Sự Sống cho nhân loại, Thiên Chúa còn làm cho Sự Sống của nhân loại được trở nên vĩnh hằng trong Thiên Chúa. Đức Ki-tô đã mang Sự Sống Vĩnh Cửu đến cho chúng ta, hãy sống mầu nhiệm Phục Sinh một cách giản đơn và rất đỗi đời thường như vậy.

Tôn vinh Chúa và Mẹ Ma-ri-a...

Lm. VĨNH SANG, DCCT, thứ tư 17.4.2007

VỀ MỤC LỤC
 TỘI: THỰC THỂ và HẬU QỦA

                        

Hỏi: Xin cha giải thích rõ tội là gì, thực sự có tội đối với Chúa là Đấng giầu tình thương, quá nhân từ hay không?

Trả Lời:

Thực trạng của thế giới ngày nay cho thấy quá nhiều người đã mất hết ý thức về tội, về sự xấu, sự dữ (evils). Vì thế người ta đã cho phép mình làm những việc mà thực chất là sai trái về mặt đạo đức, luân lý, Thí dụ, người ta lấy lý do tôn trọng quyền quyết định của phụ nữ (pro-choice) mà cho phép hay ủng hộ phá thai, ngay cả trường hợp bào thai đã lớn, 5, 6 tháng trong lòng me (partial abortion) ; cũng như không biết hổ thẹn khi hai người cùng phái (same sex) dẫn nhau ra toà làm hôn thú và hôn nhau trước ống kính của TV, baó chí..! Bọn tài phiệt khắp nơi mặc sức tiến hành mọi thủ đoạn gian manh, quỷ quyệt để vơ vét của cải, làm giầu bất chấp lương tri và mọi ý thức đạo đức, công bằng….. Cũng vì tham tiền, coi nhẹ lương tâm và đạo lý, mà rất nhiều người đã và đang đầu tư khai thác kỹ nghệ cờ bạc, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, kể cả mãi dâm con nít (child prostitution) rất đáng ghê tởm và phải lên án. Chưa kể những đàn ông đã ngoài 70, 80 còn bỏ hoặc ly dị vợ già để về ViệtNam cưới hay lưà gạt các cô gái trẻ đáng tuổi con cháu mình, mặc cho dư luận chê cười phỉ nhổ !

Mặt khác, lại có những người quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là tình thương, giầu lòng từ bi, khoan dung nên Ngài không để ý hay không chấp điều gọi là “tội lỗi” của con người ! Có chăng chỉ có những nhà đạo đức, luân lý và đặc biệt các tôn giáo đã quá đặt nặng vấn đề tội để đe dọa và làm mất “tự do” của con người mà thôi !

Chúng ta phải nghĩ thế nào cho đúng trước thực trạng này ?

Là người tín hữu, trước hết , chúng ta phải dựa vào những giáo huấn của Giáo Hội và nhất là lời Chúa trong Kinh Thánh để hướng dẫn lương tâm và hành động của chúng ta trong vấn đề rất quan trọng này.

I- Nguồn gốc của tội : Thánh Phaolô đã nói rõ nguyên nhân của tội như sau : 

Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn đến mọi người, bởi vì một người đã phạm tội.” ( Rm 5:12)

Đây chính là tội của nguyên tổ loài người mà “ mặc khải đã cho chúng ta niềm tin chắc chắn là toàn thể lịch sử nhân loại đã được đánh dấu bằng lỗi nguyên thủy do tổ phụ loài người đã tự do mắc phạm. ( x SGLGHCG, số 390)

Giáo Hội định nghĩa tội là “ sự xúc phạm chống lại Thiên Chúa, nên chỉ một mình Ngài có thể tha tội” ( Sđd,số 431).

Ngoài tội của Nguyên Tổ nói trên , con người còn tự do phạm biết bao tội của riêng mình nữa .Thực tế này đã được Thánh Gio-an nói rõ như sau :

Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội : chúng ta tự lừa dối mình. Và sự thật không ở trong chúng ta, Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.” ( 1Ga 1:8-9)

Tác giả Thánh Vịnh 51 cũng nhìn nhận tội lỗi của mình như sau: 

“Vâng con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa… ..( Tv 51: 5-6)

Hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu cũng đã hứa sai Chúa Thánh Thần đến để chính minh thế gian có tội:

“ Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi,về sự công chính và việc xét xử.” ( Ga 16:8).

Như vậy, chúng ta không còn gì phải nghi ngờ, thắc mắc về thực thể tội lỗi của nhân loại trong trần gian này. Nghiã là không phải các tôn giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng đã hùa hoạ con người về thực trạng này để đòi hỏi phải xa tránh hoặc sửa đổi. Ngược lại, đây là một vấn đề rất nghiêm trọng có liên hệ trực tiếp đến sự cưú rỗi nhân loại mà Chúa Kitô đã phải trả giá đắt bằng chính mạng sống của mình trên thập giá xưa kia . Nói khác đi, chính tội lỗi nhân loại đã đóng đanh Chúa Giêsu vào thập giá khiến Ngài đã phải chết để cưú chuộc cho con người, như Thánh Phaolô đã nói rõ: “ Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh.” ( 1 Cor 15 :3).

Vì thế, thật cần thiết phải ý thức sâu xa về nguy hại của tội lỗi và quyết tâm xa tránh sự dữ này nếu ai muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để được sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa.

 Thiên Chúa là tình thường và tha thứ. Đúng, Nhưng đố ai tìm được ở đâu Chúa đã nói : các con đừng lo lắng, bận tâm gì về những việc mình làm bây giờ. Cứ vui chơi thoả thích bao nhiêu tùy ý rồi mai sau Cha sẽ cho tất cả vào Thiên Đàng hưởng phúc trường sinh vì Cha là tình thương vô biên..”!

Ngược lại, chúng ta đọc thấy lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa Giêsu

“ Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã. Nếu tay hoặc chân ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã thì hãy chặt mà ném đi; Thà cụt tay chân mà được vào cõi sống còn hơn có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời..” (Mt 18:7-8)

 Như vậy, có thực thể (entity) tội lỗi và nguy cơ phạm tội trong trần gian này đe doa nghiêm trọng cho những ai muốn được sống hạnh phúc vĩnh cữu trong Nước Thiên Chúa.

 

II- Phân loại tội:

Tội tổ tông (orginal sin) liên quan đến sự sa ngã của Nguyên Tổ loài người như ta đọc thấy trong Sáng Thế Ký 3, và được giải thích trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. (x. SGLGHCG, số 387- 390)

Tội cá nhân (personal sins): tức mọi tôi người ta đã phạm khi sử dụng ý chí tự do (free will) và cũng vì bản chất yêú đuối khi sống trong những hoàn cảnh dễ sa ngã bởi gương xấu và cám dỗ của ma quỉ. Các tội cá nhân này có hai mức nặng và nhẹ, và bao gồm tất cả những gì con người lỗi phạm trong tư tưởng, lời nói và hành động nghịch với tình thương và sự thiện hảo của Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối.

Cụ thể : 

a- về mặt cá nhân : đó là những tội nghịch các giới răn của Chúa về yêu thương, công bằng và thánh thiện như trộm cắp, cờ bạc, lường gạt, gian tham, thù oán, vu cáo, nói xấu, giết người, ngoại tình, dâm ô v,v 

b- về mặt tập thể hay xã hội, Giáo Hội, quốc gia, quốc tế : đó là tội buôn thần bán thánh ( simonia) và chạy theo thế quyền để mưu danh lợi, chức quyền... Đó là những bất công xã hội, tạo gương xấu hay dung dưỡng cho những sự dữ hoành hành. Cụ thể như phân chia gia cấp để cai trị và hưởng thụ, bóc lột người khác, cho phép mở sòng bạc, buôn bán phim ảnh khiêu dâm, mãi dâm, buôn bán phụ nữ như tệ trạng “hôn nhân ngoại quốc” đang ồn ào diễn ra ở ViệtNam nghèo đói hiện nay. Đó là tội của các tập đoàn tài phiệt cấu kết với giới cầm quyền để thao túng mọi hoạt động kính tế, doanh nghiệp và thương mại để vơ vết của cải, bất chấp hậu quả nghèo đói cùng khổ của biết bao người lao động, công nhân ở khắp nơi.

Đặc biệt, đó là tội của các quốc gia giầu có nhưng không muốn chia sẻ và giúp các nuớc nghèo vươn lên thoát khỏi thảm cảnh nghèo nàn, lạc hâu.

Đó cũng là tội rất lớn của nước lớn, nước mạnh tự cho mình quyền võ trang, quyền có võ khí giết người hàng loạt nhưng lại nhân danh công lý một chiêù, đạo đức giả hiệu để ngăn cấm các quốc gia khác không được võ trang, dù để tự vệ ! Đó là tội xâm lăng nước khác, thách đố luơng tâm nhân loại về quyền sống chân chính của con người, dù không cùng chung ý thức hệ. Sau hết, đó là tội dửng dưng, làm ngơ của cộng đồng thế giới trước sự hoành hành của những chế độ độc tài, tàn bạo, trước nạn nghèo đói, bị bách hại và diệt chủng (genocide) như đang diễn ra hiện nay ở Darfur, nước Sudan, Phi Châu.

Tóm lại, tội lỗi là thực tế không ai chối cãi được trong đời sống cá nhân và cộng đồng.

Sự dữ này đang xô nhanh con người xuống hố tự tiêu diệt vì quá nhiều người đã mất hết ý thức về ác tính và hậu quả khốc hại của nó.

Trong niềm tin có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, thì tội là cản trở duy nhất cho con người muốn sống tình thân và hạnh phúc với Chúa ngay trong cuộc sống này trước khi được ng Nhan Thánh Ngài trong cõi vĩnh hằng.

Thiên Chúa giầu tình thương và tha thứ. Nhưng Chúa chê ghét mọi tội lỗi vì nó đi ngược với bản chất thiện hảo của Người. 

Tuy nhiên, Chúa lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn sám hối và muốn xin tha thứ, vì lòng nhân hậu của Người vẫn lớn hơn mọi tội lỗi của con người.

Nhưng chúng ta phải tránh hai cực đoan này: 

Một là ỷ lại hay cố tình lợi dụng tình thương, tha thứ của Chúa để cứ phạm tội, cứ làm sự dữ rồi mong được tha thứ. Ai có thái độ này, hãy nghe lời Chúa cảnh cáo sau đây: 

“Ta biết việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh Nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3: 15-16)

Hai là quá thất vọng hoặc khước từ hoàn toàn tình thương của Chúa để không còn muốn xin tha thứ nữa.

Đây chính là tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã nói rõ là không thể tha thứ được. ( X. Mt 12 :32; Mc 3: 29; SGLGHCG, số 1864)

Ước mong mọi người chúng ta ý thức sâu xa về thực thể tội lỗi này và cố gắng xa tránh để được sống với Chúa là cội nguồn mọi hạnh phúc, vui sướng vĩnh cữu. 

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

VỀ MỤC LỤC
ĐẠI NGHĨA

 

Nguyên Tác IN STEP WITH GOD LM Vincent Travers, OP

 HƯƠNG VĨNH chuyển ngữ

ĐẠI NGHĨA

Để khuyên bảo những Kitô hữu vào buổi ban đầu, Thánh Phao-lồ đã nói: “Nếu ta cùng chết với Người, ta cũng sẽ sống cùng Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người.” (2Tm, 2, 11-12). Thánh Phao-lồ đã nói như thế, do kinh nghiệm bản thân. Ngài đã chịu đựng nhiều gian khổ trước khi làm nên những việc lớn lao. 

Như người ta thường nói: “Một con tim nhút nhát không thể nào chinh phục được quả tim vàng.” Kitô giáo không phải là một tôn giáo dành cho những con tim nhút nhát. Chúng ta phải chịu đựng nhiều hy sinh gian khổ trong cuộc đời thường, đầy chông gai thử thách, trước khi có thể vào Nước Thiên Chúa.  

Đó là định luật của cuộc sống, vừa khắt khe vừa hùng tráng. Không thể có triều thiên mà không có thánh giá, không thể có chiến thắng mà không đổ mồ hôi, máu và nước mắt. Không thể có Chúa nhật Phục Sinh mà không có Thứ Sáu Tuần Thánh, không thể có sống lại nếu không có chết đi.

Đại nghĩa 

Tôi thiết tưởng “đại nghĩa” phải là sứ điệp cốt lõi cần được trao ban cho giới trẻ ngày nay. Dorothy Day, khi còn thiếu nữ, là một người mẹ có con nhưng không có chồng và là đảng viên Đảng Cộng Sản, nhưng hiện tại là một ứng viên để được phong thánh trong Giáo Hội Công Giáo. Có lần chị đã nói là giới trẻ phải hy sinh mạng sống mình vì đại nghĩa. Chị hoàn toàn có lý.

Chúng ta phải công bố một cách cương quyết là sự đại nghĩa” có thể có được trong cuộc đời thường của Kitô hữu. Nhiều việc lớn lao cần được thực thi và ai sẽ thực thi, nếu giới trẻ không được chuẩn bị để đứng lên nhận lãnh trách nhiệm. Nếu tôi không công bố là Kitô hữu phải can đảm để trở thành anh hùng trong cuộc đời thường thì tôi không làm tròn nhiệm vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu.  

Do đó, tôi xin trình bày dưới đây ba gương chứng nhân về sự “đại nghĩa” được lấy từ cuộc đời thường của những người tầm thường như bạn và tôi. 

Ba câu chuyện

Trước hết là câu chuyện về một nhóm người sinh sống ở thành phố Sitka, Alaska mà đa số là tín hữu Công giáo. Một bênh viện mới được xây cất cho cư dân ở đó và ngay khi thành lập, bệnh viện đã bắt đầu thực hiện dịch vụ phá thai. Những nhân viên cao cấp của bệnh viện đồng ý, vì đối với họ không thành vấn đề. Các bác sĩ trẻ tuổi và giới y tá cũng đồng ý, vì đối với họ cũng không thành vấn đề.

Tuy nhiên, nhân viên phụ trách vệ sinh đã phản đối. Họ cho biết sẽ không lau chùi sạch sẽ sau khi dịch vụ phá thai được thi hành và họ rút lui khỏi phần vụ đó. Họ là những người Phi-luật-tân và bị cho nghỉ việc. Họ đã đứng lên tranh đấu đối với việc làm vô luân như thế, cho dù phải nhận lãnh hậu quả trầm trọng.

Sự thải hồi nầy đã gây nên một làn sóng chống đối dữ dội và kết quả là nhân viên phụ trách vệ sinh được phục hồi và bệnh viện phải thay đổi chính sách về việc phá thai. Việc đứng lên chống đối bởi nhân viên phụ trách vệ sinh trong bệnh viện đó đã thể hiện “đại nghĩa” trong cuộc đời thường và khiến chúng ta kính trọng cùng ngưỡng mộ họ hoàn toàn. 

Câu chuyện thứ hai tôi muốn chia sẻ với quí bạn về hai người kết hôn và sau đó một hai năm, một trong hai người phối ngẫu bị một tai nạn thảm thương. Đó là những người mà tôi quen biết. Trong trường hợp nầy, chính người chồng bị tàn phế. Bà vợ của anh chăm sóc anh từ năm nầy qua năm khác, không bao giờ có thể sắp đặt cuộc sống cho mình, vì bận săn sóc cho chồng với một tình yêu tận tụy và không bao giờ ngừng nghỉ, ngày cũng như đêm, theo kim đồng hồ.

Chị đã giữ lời hứa trong ngày kết hôn: “Em sẽ yêu anh trong khi đau yếu cũng như lúc khỏe mạnh cho đến ngày nhắm mắt” và chị không lỗi lời thề. Những gì chị làm thật anh hùng cao cả, đúng là “đại nghĩa”. 

Khác thường 

Câu chuyện thứ ba đã xảy ra hơn năm mươi năm rồi, trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là câu chuyện về một người phản chiến vì lương tâm. Anh là một thanh niên đã sống một cuộc sống cuồng loạn trong một trang trại. Cuối cùng anh đã lập gia đình và ổn định cuộc sống. Vào thời điểm đó, anh được hoán cải và bắt đầu thay đổi cuộc sống. 

Mấy năm sau đó, nói chính xác hơn là vào năm 1942, anh nhận được lệnh gọi nhập ngũ qua bưu điện. Anh phải đi khám sức khỏe để tòng quân. Sau khi khám sức khỏe, anh trở về nhà. Anh nhận thấy chiến tranh là một hành động vô luân và thật là sai lầm khi phải cầm súng. Anh đi gặp một vị linh mục để xin ý kiến và ngài cho biết đó là bổn phận phải chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Anh cảm thấy không thỏa mãn với lời khuyên bảo đó. 

Anh đến gặp Đức Giám Mục và ngài cũng nói như vị linh mục vậy. Đức Cha cho biết đó là một cuộc chiến tranh để bảo vệ tổ quốc, chống lại một chính thể độc tài vô thần, nên anh có bổn phận phải gia nhập quân ngũ. Lời khuyên bảo đó cũng không có sức thuyết phục anh.

Anh vẫn tin tưởng chiến tranh là điều không chính đáng, không thể biện minh được. Vì thế thật sai lầm đối với anh là một Kitô hữu phải đi đánh giặc. Vợ anh và nhiều bạn hữu của anh cũng khuyên nhủ anh nên hợp tác với chính quyền. 

Sau cùng, anh nhận được lệnh của quân đội buộc anh phải trình diện nhập ngũ. Anh quyết định thông báo cho biết là anh không tuân lệnh. Do đó anh bị bắt, bị xét xử theo quân luật, bị kết tội mưu phản và và nhận lãnh bản án tử hình.  

Chính Phủ Đức Quốc Xã đã thi hành bản án ngày 9 tháng 8 năm 1943 tại Bá-linh. Anh là người Áo, với danh xưng là Franz Yeagersteter. Không giống như vị linh mục và giám mục đã khuyên bảo, anh xác tín việc tham gia vào cuộc chiến của Hitler là điều vô luân và anh đã chết vì niềm tin của mình.

Khi đọc câu chuyện nầy, có thể bạn không thích người đó vì anh không chiến đấu cho một cuộc chiến chính đáng, và đó cũng là cuộc chiến chính đáng đối với Đức Quốc Xã. Mọi cuộc chiến được xem là chính đáng vì lý do luân lý, đối với những người chiến đấu cho những cuộc chiến đó. Họ đã chiến đấu ở nước Áo để bảo vệ Kitô giáo, chống lại chế độ Công Sản vô thần của Nga Sô Viết. Đó là điều chính quyền tuyên truyền cho dân chúng và nhiều người đã tin theo.

Nhưng thử nói lại điều đó cho những nạn nhân các lò hỏa thiêu của Đức Quốc Xã và những người đã mất tất cả trong Đệ Nhị Thế Chiến, chắc chắn không lọt tai chút nào. Sự đứng lên chống lại cuộc chiến đó của Franz Yeagersteter khiến chúng ta ngày nay ca tụng anh là người anh hùng cao cả. Ngày anh lên đoạn đầu đài, anh đã viết một lá thư trần tình cho biết tại sao anh đã hành động như thế.  

Anh viết: “Tôi tin tưởng đó là điều Chúa đã kêu gọi tôi làm và tôi đã dâng hiến cuộc đời của tôi như một hy lễ đền tội cho Đức Quốc Xã. Tôi ngước mắt nhìn trời là nơi tôi sẽ tới và rồi từ đó tôi sẽ  nhìn xem các con tôi trong tương lai và được biết chúng sẽ hỉểu tại sao cha chúng đã làm điều đó.

Đó là đức tính anh hùng cao cả chắc chắn được nói lại cho chúng ta một cách hùng hồn nhất. Đó là anh hùng tính mà chúng ta được kêu gọi để sống như Kitô hữu trong cuộc đời thường của chúng ta.

Những việc lớn lao cần phải thực hiện

Không có chỗ để thỏa hiệp ở đây. “Đại nghĩa” là việc có thể thực hiện được trong cuộc đời thường. Một người có thể giữ ngày Sabbat cho dẫu không ai tuân giữ hết, hoặc xem lễ Chúa nhật cho dẫu bạn bè từ khước. Người ta có thể sống quảng đại, quan tâm và vị tha đối với người khác, hoặc thảo kính và phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già.

Người ta có thể không làm chứng gian, không nói dối, trộm cắp hay ngoại tình. Người ta có thể không bị lãng phí bởi nếp sống tiêu thụ và giới trẻ có thể khước từ việc nghiện ngập, xì ke, ma túy và dấn thân vào những tương giao đặt cơ sở trên những nguyên tắc luân lý vững chắc.  

Người ta có thể đương đầu với những trào lưu thế tục, cho dẫu phải đứng lên một mình, hơn là chạy theo quần chúng. Bạn có thể ngẩng đầu lên cao trong khi những người chung quanh cúi thấp đầu xuống. Người ta có thể sống cũng như mọi người nhưng lại khác biệt mọi người, tức là “hòa nhi bất đồng”. Người ta có thể đi con đường hẹp, ít người đi và có thể trở thành một nhà lãnh đạo hơn là người theo bén gót.

Người ta có thể sống và chết cho một lý tưởng cao đẹp, như sống cho Chúa Kitô trong một bối cảnh trần tục. Khi chúng ta vấp ngã, và điều đó thường xuyên xảy ra, chúng ta có thể chỗi dậy, với ơn Chúa phù trợ, bằng lời cầu nguyện hằng ngày để tiếp tục đoạn đường kế tiếp.

Tuy nhiên những điều đó sẽ không xảy đến, nếu chúng ta không chấp nhận cho mình một kỷ cương và sức mạnh nội tâm, cũng như có ý muốn chấp nhận gian khổ để được dẫn tới Vương Quốc của Chúa.

Lời khen tặng cao đẹp nhất 

Trước khi chấm dứt, tôi tưởng đây là dịp tốt nhất để nêu lên một vài câu hỏi gợi ý. Gần đây bạn có bị bắt bớ vì niềm tin của bạn không? Bạn có bị người khác hạ thấp xuống, làm cho ngã quỵ và kể bạn là kẻ điên rồ vì đức tin Kitô giáo không? Nếu có, đó là một dấu hiệu tốt.

Bạn có cam chịu đắng cay để bảo tồn sự liêm chính của mình không? Nếu có, tốt lắm! George Bernard Shaw có lần đã nói: lời khen tặng cao đẹp nhất đối với một tác giả là đốt cháy tác phẩm của họ. Ông ta thật có lý. Người ta không tấn công một người vô tích sự, tầm thường và rõ ràng không ra gì.

Bị bắt bớ, chế nhạo hay cười chê vì đức tin của mình là lời khen tặng cao đẹp nhất, bởi vì đó là chứng cớ người ta đã “đứng lên vì một điều gì”. Đối lại với việc đứng lên vì một điều gì là không đứng lên vì điều gì hết. Và người không đứng lên vì điều gì hết, buồn thay, đó là người sẽ gục ngã vì bất cứ điều gì. 

Đôi khi chúng ta tưởng Phúc Âm là một tập hợp những ý niệm không thể thực hiện được. Thật ra lý tưởng của Phúc Âm có thể thực hiện được “ngay bây giờ và ở nơi đây”, bởi những người tầm thường như bạn và tôi, bởi vì Chúa không truyền dạy cho ta những gì không thể làm được. Chúa chỉ truyền dạy những gì chúng ta có thể làm được mà thôi.

VỀ MỤC LỤC
Bạn Đã Được Cứu Độ Chưa?

 

27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.30 Tôi và Chúa Cha là một." (Ga 10:27-30)

 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Phục Sinh này nhắc làm tôi nhớ lại một cuộc đối thoại ngắn giữa một người bạn Tin Lành làm cùng sở với tôi về Ơn Cứu Độ.

Một ngày kia có một cô bé vừa tốt nghiệp Đại Học đến làm chung sở với tôi. Tình cờ cô biết tôi là người Công Giáo nên tò mò bắt chuyện.  Cô hỏi tôi bằng tiếng Anh “Are you saved?” tạm dịch là “Chú đã được cứu độ chưa?”  Cô cho tôi biết rằng trước kia cô là người Công Giáo, nhưng bây giờ cô là “Christian” và cô chắc chắn rằng cô được rỗi vì cô đã tin vào Đức Kitô và đã chấp nhận Người là Cứu Chúa của cá nhân cô bởi Người đã hứa với tất  cả những ai tin vào Người là: “Tôi sẽ ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng bị diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi.” (Ga 10:28).  Rồi cô nhìn tôi cách đắc thắng và nói: “Chú thấy không, đâu cần phải xưng tội, rước lễ, thờ bà Maria, xin các thánh, và làm đủ mọi thứ việc lành như đạo Công Giáo dạy, mà vẫn chưa chắc đã được rỗi, trong khi đó theo đạo của cháu, chỉ cần tin Chúa thôi!  Đạo Công Giáo bày đặt ra đủ thứ ngoài Thánh Kinh để làm tiền và nô lệ hóa giáo dân, còn đạo Tin Lành chỉ dựa vào Thánh Kinh, và Thánh Kinh nói rõ rằng chúng ta chắc chắn được rỗi nếu chúng ta tin vào Ðức Kitô (Ga 10:28). Dù phạm tội và bị xa lìa Thiên Chúa (Rom 3:23), nhưng chúng ta vẫn biết chắc là mình sẽ lên Thiên Ðàng, vì Thiên Chúa thương yêu chúng ta (Ga 3:16) và Chúa Giêsu đã chết thay cho chúng ta (Rom 5:8). Bằng cách ăn năn tội lỗi và nhận Ðức Kitô vào tâm hồn