|
TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI của Đức Giáo
Hoàng Gioan PhaoLo II
Về ƠN GỌI và SỨ MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế
Bản dịch của GS. Nguyễn Đăng Trúc
Chương IV
NHƯNG NGỪƠI THỢ
TRONG VƯƠN NHO CỦA CHÚA
Nhũng người quản lý tốt
các
ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa
TíNH CÁCH KHÁC BlỆT CỦA
CÁC ƠN GỌl
45.
Theo dụ ngôn của Phúc âm, "người chủ vườn nho"
mời những người thợ đến vườn nho của mình
vào những giờ khác nhau trong ngày: nhiều người đến vào lúc bình minh,
một số vào khoảng chín giờ sáng, số khác nữa đên vào lúc gần trưa và
ba giờ, những kẻ cuối cùng vào khoảng năm giờ chiều (Mt. 20:1 và kế
tiếp). Khi chú giải trang Phúc âm này, Thánh Grêgônô Cả nghĩ rằng
những gìờ khác biệt đó tươhg ứng với những giai đoạn của tuổi đời;
Ngài nói: "Ta có thể áp dụng sự khác biệt của các giờ vào những giai
đoạn của đời sống con người". Theo đó, ban sáng tượng trưng cho tuổi
thiếu thơ. Giờ thứ ba tiếp theo đó có thể tượng trưng cho tuổi thanh
niên: mặt trời vươn lên, có nghĩa là nhiệt huyết của tuổi trẻ tràn
đây. Giờ thứ sáu, là tuổi trung niên: mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu,
là tuổi của sức sống sung mãn. Tuổi bắt đầu già tượng trưng cho giờ
thứ chín, vào tuổi này nghị lực thanh xuân bắt đầu mòn mỏi không khác
hình ảnh mặt trời từ từ ngã về hướng Tây. Giờ thứ mười một chỉ những
người đã cận kề ngày cuôí cùng của cuộc đời mình. Như vầy, những người
thợ được gọi đến vườn nho vào những giờ khác nhau, là hình ảnh giúp ta
hiểu rằng có người được gọi sống cuộc sống hoàn thiện ngay ở tuổi thơ,
có người vào tuổi vị thành mên, người khác vào vào thời kỳ trưởng
thành, và kẻ khác nữa lúc đã về già.
(167)
Chúng ta có thể dùng lời diễn giải của
Thánh Grêgôriô Cả để áp dụng rộng rãi hơn vào tính cách đa dạng, phong
phú của những người có mặt trong Giáo Hội ; mỗi một người và tất cả
mọi người đều được mời gọi để hoạt động cho nước Thiên Chúa tỏ hiện
theo cách thức khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những đoàn sủng
và những chức vụ khác nhau. Sự khác biệt này không phải chỉ dựa vào
tuổi tác, nhưng còn tùy thuộc vào sự khác biệt của phái tính, tài
năng, và tư cách, cũng như liên hệ đến những ơn gọi và hoàn cảnh của
từng người. Tính chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo Hội. linh
động và cụ thể hơn.
TUỔl TRẺ, TRẺ EM VÀ
NGƯỜl LƠN TUỔI
Tuổi trẻ, hy vọng của
Giáo Hộl
46.
Thượng Hội Đồng đã đặc biệt lưu ý đên tuổi trẻ. Và thật vậy, tại nhiều
quốc gia trên thế giới, giới trẻ chiếm một nửa dân số, và thường cũng
là một nửa số của Dân Chúa trong các quốc gia đó. Nhìn vào khía cạnh
này, giới trẻ đã tạo được một sức mạnh phi thường và trở thành một
thách đố lớn lao cho tương lai của Giáo Hội. Vì qua giới trẻ, Giáo Hội
nhìn thấy con đường hướng về tương lai đón chờ mình, và tìm gặp nơi đó
hình ảnh nhắc nhở về chính tuổi thanh xuân đầy phấn khởi do thần khí
Đức Kitô không ngừng làm phong phú đời sống Giáo Hội. Chính trong ý
nghĩa đó Công Đồng đã định nghĩa những người trẻ là "niềm hy vọng của
Giáo Hội".(168)
Trong bức thư gửi thanh thiếu niên nam nứ
thế giới, ngày 31 tháng 3 năm 1985, Ta nói rằng: "Giáo Hội nhìn lớp
người trẻ, đúng hơn, một cách đặc biệt, Giáo Hội nhìn lại tuổi trẻ của
mình trong mỗi người và chung toàn giới trẻ. Việc đó đã thể hiện ngay
từ đầu vào thời các Tông đồ. Nhưng lời của Thánh Gioan trong thư thứ
nhất là một trong những bằng chứng đặc biệt: "Hỡi các bạn trẻ, Cha
viêt cho các bạn, vì các bạn đã
thắng được sự ác. Hỡi thanh thiêú niên nam nữ, Cha viết lời này vì các
con đã biết Chúa Cha..., Cha viết cho các con vì các con là những kẻ
dũng cảm, và Lời Chúa cư ngụ trong các con" (1 Jn. 2:13 và tlếp
theo...). Trong thế hệ chúng ta, vào những ngày cuối cùng của thế
kỷ hai mươi, chính Giáo Hội cũng tự nhìn mình qua hình ảnh giới trẻ.
(169)
Đừng nên nhìn giới trẻ như chỉ là đối tượng
của môí lo âu cho Giáo Hội về phương diện mục vụ: Thực ra, họ là những
"chủ nhân tích cực, tham dự vào công việc truyền bá Phúc âm và canh
tân xã hội;(170)
họ cần được khuyến khích để trở thành như thể' . Tuổi trẻ là thời kỳ
khám phá đặc biệt sâu đậm về "bản ngã" cá biệt và về một "dự án cuộc
đời riêng của mình". Đó là thời kỳ tăng triển phải được thực hiện
trong "khôn ngoan, già dặn và ân sủng trước Thiên Chúa và trước người
đời" (Lk. 2:52).
Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng đã nói
rằng: "Cảm thức của những người trẻ thâu nhận một cách sâu xa những
giá trị của công bằng, bất bạo động và hoà bình. Tâm hồn họ bao dung
tình huynh đệ, thân hữa và đoàn kết. Họ tận tụy hết mình cho những
công cuộc đấu tranh bảo vệ phẩm chất đời sống và bảo vệ thiên nhiên.
Nhưng họ cũng mang nặng những lo âu, ê chề, ưu tư và kinh hoàng của
thê giới, và thêm vào đó những cám dỗ đặc biệt liên quan đến tuổi họ."(171)
Giáo Hội phải làm sống lại tình yêu đặc
biệt mà Chúa Giêsu đã từng tỏ ra cho người thanh niên: "Chúa Giêsu
nhìn anh tỏ dạ yêu thương" (Mk. 10.21). Đó là lý do tại sao Giáo Hội
không ngừng loan báo Chúa Giêsu Kitô, tuyên xưng Phúc âm của Ngài như
câu trả lời duy nhất và thỏa đáng cho những khát vọng căn bản nhất của
người trẻ, như một đề nghị thiết tha kêu gọi từng người tự dấn thân:
"hãy đến theo Ta" (Mk.10.21), một lời đề nghị nói lên sự thông phần
vào tình yêu Cha Con của Chúa Giêsu đôí với Chúa Cha và việc tham gia
vào sứ mệnh Cứu Chuộc nhân loại của Ngài .
Giáo Hội có nhiều điều phải nói với giới
trẻ và giới trẻ có nhiều điều để nói với Giáo Hội. Cuộc đôí thoại song
phương này phải được tiến hành một cách đầy nhiệt tâm, rõ ràng, và can
đảm, để xúc tiến việc gặp gỡ giữa các thế hệ và những cuộc trao đổi
giữa họ với nhau, và sẽ là một nguồn suối trong mát làm phong phú và
trẻ trung cho Giáo Hội và xã hội. Trong sứ điệp gửi giới trẻ, Công
Đồng tuyên bố rằng: Giáo Hội nhìn các bạn với nìêm tin tưởng và yêu
thương... Giáo Hội chính là sự trẻ trung của thế giới... Hãy nhìn Giáo
Hội và các bạn sẽ tìm thầý ở nơi đó khuôn mặt của Đức Kitô."
(172)
Trẻ thơ và Nước Trời
47. Trẻ
thơ là tuyệt đỉnh của tình yêu thương tinh tế và bao dung của Chúa
Giêsu. Ngài dành riêng cho các em phúc lành của Ngài và hơn thế nữa,
Ngài đã hứa Nước Trời cho các em (Mt. 19:13- 15, Mc. 10.14). Đặc biệt,
Chúa đã đê cao vai trò tích cực mà các em đảm nhận trong Nước Chúa.
Các em là biểu tượng hùng hồn, và là hình ảnh sáng chói về luân lý và
tinh thần, những điều kiện thiết yếu để vào Nước Trời và sống một cuộc
đời phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa: "Ta nói thật với các con, nếu
các con không cải hóa để trở nên như những trẻ nhỏ, các con sẽ không
vào được Nước Trời. Ai khiêm nhường như trẻ này sẽ là người lớn nhất
trong Nước Trời" (Mt. 18:3-5, Lk. 9. 48) .
Trẻ thơ nhắc nhở chúng ta rằng sự tăng
triển trong việc truyền giáo của Giáo Hội có nền tảng
sống động không phải nhờ vào các phương tiện hay tài năng
sức lực của con người, nhưng nhờ vào ân sủng tuyệt đối của
Chúa. Đời sống hồn nhiên vô tội và ân sủng của trẻ nhỏ, và
ngay cả những khổ đau người ta bắt chúng phải cam chịu,
nhờ vào thập giá Đức Kitô, trở thành một nguồn suối làm
sung mãn sức sống siêu nhiên cho chính các em, và cho
toàn Giáo Hội. Tất cả chúng ta phải cảm tạ và ý thức sâu
xa về sự kiện này.
Ngoài ra phải nhận rằng ngay ở tuổi này,
những khả năng hành động quí giá đã tnển nở liên quan
đến việc xây dựng Giáo Hội, cũng như nhản-bản-hóa xã
hội. Tất cả những điều Công Đồng xác nhận khi nói đến
ích lợi của con cái trong gia đình là "Giáo Hội tại
gia"; "là phần tử sống động của gia đình, trẻ em theo cách
của mình giúp cha mẹ được thánh hóa."(173) Điều này cũng
có thể lập lại khi nói đến mối tương quan giữa các em và
Giáo Hội địa phương cũng như Giáo Hội hoàn vũ. Thần học
gia và cũng là nhà mô phạm của thế kỷ 15, Jean Gerson
đã nêu lên sự kiện đó như sau: "Trẻ thơ và thanh mên
không phải là một thành phần không đáng kể của Giáo Hội."
(174)
Bậc cao niên và ơn khôn ngoan
48. Đôi với những người già cả, mà thông
thường một cách sai lầm bị xem như là những kẻ vô
dụng, có khi còn được xem là một gánh nặng. Ta nhắc nhở
những người này rằng Giáo Hội đòi hỏi và chờ đợi nơi họ
phải theo đuổi sứ mệnh tông đồ và truyền giáo của họ. Đây
không những là một công tác họ có thể làm và phải làm, mặc
dầu ở vào tuổi này, nhưng chính vì ỏ tuổi đó mà sứ mệnh
của họ mang một hình thái đặc biệt và độc đáo.
Thánh Kinh trình bày cho chúng ta thấy người
cao niên như là biểu tượng của những người khôn
ngoan và kính sợ Thiên Chúa (Sir. 25.4-6). Với ý nghĩa đó,
"ơn huệ" của người già có thể đôí với Giáo Hội và xã
hội là tạo thành những chứng tá của truyền thông đức tin.
(Ps. 44:2, Ex. 12:26-27), bậc thầy khả kính (Sir. 6.
34, 3:11-12) và là người kiến tạo tình bác ái.
Ngày nay việc gia tăng con số những người
lớn tuổi trong nhiều quốc gia trên thế giới, và tình
trạng về hưu sớm tạo nhiều cơ hội cho công tác tông đồ
của những người lớn tuổi. Đó là một công việc phải chu toàn
với nhiều can đảm, phải biết quyết tầm vượt qua cơn cám
dỗ muốn thu mình lại, luyến tiếc một dĩ vãng không còn
trở lại nữa, và từ chối dấn thân vào thực tại vì những khó
khăn gặp phải trong một thế giới không ngừng đổi mới.
Ngược lại, luôn luôn cần phải ý thức rõ ràng vai trò mình
trong Giáo Hội và xã hội, bởi vì vai trò này không bị
ngưng trệ bởi tuổi đời, trái lại, chỉ là những hình thức mới. Thánh
Vịnh ca tụng rằng: "Trong tuổi già, họ còn sinh hoa
trái, họ còn đầy nhựa sông và sức trai trẻ, tuyên xưng
đức công chính của Thiên Chúa" (Ps. 92:15-16). Ta nhắc lại
điều Ta đã nói trong ngày Ngân Khánh của các bậc thượng
thọ: "Đi vào thời kỳ thứ ba của cuộc đời phải được xem
là một đặc ân: không những bởi vì không phải ai cũng may
mắn sống đến tuổi này, nhưng nhất là vì đây là thời kỳ
mà con người có thể nhìn lại quá khứ một cách cụ thể và rõ
ràng, hiểu biết nhiều hơn và sống mãnh liệt hơn mầu nhiệm
phục sinh, trở thành một mẫu mực sống trong Giáo Hội
cho toàn thể Dân Chúa... Mặc dầu phải đương đầu với
nhiều vấn đề phức tạp, phải chứng kiến sự suy nhược dần dần
của thể xác, những thiếu sót của các tổ chức xã hội,
những trì trệ của luật lệ lỗi thời, những thái độ thiếu
thông cảm của một xã hội ích kỷ, vẫn không được nghĩ rằng mình
đang đứng ra ngoài lề cuộc sống của Giáo Hội, là những
thành phần thụ động của một thế giới quá biên động, nhưng
là những chi thể tích cực sinh hoạt của một giai đoạn
phong phú của đời sống con người về phương diện nhân loại
cũng như về mặt siêu nhiên. Tuổi già vần còn có sứ mệnh
phải hoàn thành, còn có nghĩa vụ phải đóng góp. Theo Thánh ý
của Chúa, mỗi người là một cuộc sống luôn tiếp nôl,
từ ánh loé đầu tiên của cuộc đời mình cho đến hơi thở cuôí
cùng." (175)
NỨ GlỚl VÀ NAM GlỚl
49. Các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã lưu
tâm đặt biệt đến tình trạng vai trò của phụ nữ,
trong một ý hướng song phương: Các Ngài nhìn nhận và thêm một
lần nữa kêu gọi mỗi người nhìn nhận sự đóng góp cần
thiết của nữ giới trong công cuộc xây dựng Giáo Hội và
phát triển xã hội. Ngoài ra, Giáo Hội còn cố tâm khai
triển một cuộc phân tích qui mô hơn về việc tham gia của
phụ nữ vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.
Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan XXIII, vị
Giáo Hoàng đã nhìn nhận việc nữ giới đã ý thức về
chính nhân phẩm của mình, và việc gia nhầp của nhiều phụ nứ
vào đời sống xã hội như một dấu chứng của thời đại.
(176)
Trước những hình thức hết sức đa dạng về tình trạng kỳ
thị và cho ra ngoài lề mà phụ nữ phải cam chịu, chỉ vì họ
là nữ giới, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã quả quyết
nhiều lần và mạnh mê cần phải cấp thời bảo vệ và thăng
tiến phẩm giá và sự bình đẳng của nữ giới đối với nam
giới.
Nếu đó là công việc của mỗi người trong
Giáo Hội cũng như trong xã hội, thì đặc biệt đó hẳn là
công việc của chính phụ nứ. Họ phải tự cảm thấy cần dấn thân
như những kẻ đấu tranh hàng đầu. Còn có nhiều cố gắng
phải thực hiện, ở trong nhiều nơi trên thế giới và trong
nhiều môi trường sống khác nhau, để nảo trạng bất công và
tàn tệ xem thân phận con người như một đồ vật, một món
hàng, một dụng cụ phục vụ cho lợi ích vị kỷ, cho việc tìm
kiếm khoái lạc, mà phụ nữ là nạn nhân. Do đó, việc nhìn
nhận phẩm giá con người của phụ nứ một cách chân thành và
rõ rệt là bước đầu phải thể hiện để cổ xúy việc tham
dự đầy đủ của nữ giới vào đời sống của Giáo Hội, cũng như
cuộc sống xâ hội và công cộng. Cần phải có một sự đáp
ứng dứt khoát hơn cho lời hiệu triệu mà Ta đã kêu gọi
trong Tông Huấn Familiaris consortio liên quan đến quá
nhiều hình thức kỳ thị mà phụ nữ là nạn nhân: "Ta yêu cầu tất
cả mọi người phải dấn thân vào một công tác mục vụ đặc
biệt mạnh mẽ hơn và sắc bén hơn để những kỳ thị đó dứt
khoát phải được xóa bỏ, và đi đến việc chân nhận đầy đủ
hình ảnh của Thiên Chúa sáng chói ra trong toàn thể nhân loại
không phân biệt một ai". (177)
Trong dòng tư tưởng đó,
những Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quả quyết: "Trong sự
biểu lộ sứ mệnh của mình, Giáo Hội phải chống lại một cách
mạnh mẽ tất cả các hình thái kỳ thị và lạm dụng mà phụ
nữ là nạn nhân". (178) Và các Ngài còn nói: "Phẩm giá
phụ nữ, từng bị tổn thương nặng nề trong dư luận quần chúng
phải được phục hồi, nhờ vào việc tôn trọng cụ thể các
quyền về nhân phẩm con người và nhờ vào việc thực thi
giáo lý của Giáo Hội". (179)
Còn điểm liên quan đặc biệt đến việc tham
dự tích cực và có trách nhiệm vào đời sống và sứ mạng
của Giáo Hội, thì cần lưu ý là Công Đồng Vaticanô II đã
nói rất rõ trong lời mời gọi sau: "Ngày nay, phụ nữ càng
ngày càng dự phần một cách tích cực vào trong tất cả cuộc
sống xã hội, cũng vì thế sự nới rộng việc tham gia của phụ nữ
vào các lãnh vực khác nhau trong công cuộc tông đồ của
Giáo Hội lại rất quan trọng."
(180)
Trong thời kỳ hậu Cộng Đồng này, người ta
cũng nhận thức nhiều hơn và sâu xa hơn những tài năng
và trách nhiệm riêng của phụ nữ, cũng như ơn gọi đặc
biệt của họ, sự nhận thức đó được khởi hứng đặc biệt từ
Phưc âm và lịch sử Giáo Hội. Thật thế, đôi với những
ai tin vào Phúc âm, nghĩa là lời nói và gương mẫu của Chúa
Giêsu Kitô, vẫn là chốt điểm cần thiết và quyết định.
Hơn lúc nào hết trong lịch sử, những điều này cần được
phong phú và canh tân hơn.
Dầu không được gọi tham dự chức vụ của Mười
Hai Tông Đồ, do đó không ở trong chức linh mục thừa
tác, nhìêu phụ nữ đã theo Chúa Giêsu trong sứ mạng của
Ngài và giúp đỡ các Tông Đồ (Lk. 8.2-3); các bà đã hiện
diện bên Thánh Giá (Lk. 23?49) ; các bà đã tham dự trong
cuộc an táng Chúa Giêsu (Lk. 23. 55) và sáng Phục Sinh các bà
nhận và truyền tin Chúa Sống lại (Lk. 24:l-10); các bà cầu
nguyện với các Tông Đồ tại phòng Tiệc Ly để đón chờ Thánh
Linh (Acts. 1:14).
Theo dấu chân của Phúc âm, Giáo Hội ngay từ
thời khai nguyên đã vượt ra ngoài tập tục văn
hoá đương thời và mời gọi phụ nứ vào những công tác liên
quan đên việc rao giảng Phúc âm. Trong các thư của Ngài,
Thánh Phaolô nêu tên một sổ các bà tuỳ vào các chức vụ
đặc biệt của mỗi người trong công cuộc phục vụ bên trong các
cộng đoàn Giáo Hội đầu tiên (Rom. 16.1-15, Pt.
4:2-3, Col. 4:15, 1 Cor.11:5, 1 Tm. 5.16). Đức Giáo Hoàng Phaolô
VI đã nói: "Nếu việc làm chứng của các Tông Đồ thành lập ra
Giáo Hội, thì việc làm chứng của phụ nữ đã đóng gúp rất
nhiều trong việc nuôi dưỡng Đức Tin của các cộng đoàn
Kítô hữu đầu tiên." (181)
Cũng như thời khai nguyên và trong tiến
trình phát triển Giáo Hội, dĩ nhiên với những khác
biệt về hình thức và cách thế đã luôn có những phụ nữ đảm
trách những vai trò lắm lúc quyết định và hoàn thành những
công tác có giá trị lớn lao cho Giáo Hội. Đó là cả một
sinh hoạt rộng lớn, thường rất khiêm tốn và kín đáo, nhưng
không kém phần quyết định trong việc phát huy và
thánh hóa của Giáo Hội. Lịch sử đó còn cần phải theo đuổi, hơn
thế nữa cần phải phổ biên và tăng gia thêm, song song
với việc nhận thức về nhân phẩm của nữ giới và ơn gọi của
họ một cách rộng rãi và bao quát, đồng thời xúc tiên
nhanh chóng một "đường lối mới rao giảng Phúc âm" và một
"hình thức nhân bản" rộng rãi hơn trong eác tương quan
xã hội.
Tổng hơp các chỉ thị của Công Đồng Vaticanô
II phản ảnh sứ điệp Phúc âm, cũng như lịch sử Giáo
Hội, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nêu lên "lời khuyên
cáo" rõ rệt này: "Bằng chính cuộc sông và bởi sứ mạng
của mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả các ơn huệ của
phái nam cũng như phái nữ, và khai triển áp dụng các ơn
huệ đó." (182) Tiêp theo: "Thượng Hội Đồng này tuyên bố rằng
Giáo Hội buộc phải nhìn nhận và xử dụng tất cả các ơn huệ
kinh nghiệm và khả năng này của nam cũng như nữ để sứ
mạng của Giáo Hội được hữu hiệu hơn (Thánh bộ Giáo
Lý Đức Tin, Giáo Huấn về sự tự do công giáo và sự giải
phóng,72". (183)
chú thích
167- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng về Phúc
âm I,
168- Vaticanô II, Tuyên ngôn về Giáo dục
Kytô giáo Gravissimum Educationis,
2
169- Gioan-Phaolô II - Tông thư gửi tất cả
những người trẻ trên thế giới, dịp "Năm Quốc tế giới
trẻ", 15, AAS 77 (1985), 620-621.
170- Propositio, 53 171- Propositio, 51
172- Vatican II Nuntii "Gửi các bạn trẻ"
(8-12-1965): AAS 58 (1966) 18.
173- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium et
Spes, 48
174- Jean Gerson - De Parvulis ad
Christum trahendis: Toàn tập. Desclée - Paris- 1973, IX- 669.
175- Gioan-Phaolô II - Diễn văn đọc trước
các nhóm người già của các địa phận Ý (23-3-1984),
Insegnament VII, 1 (1984) 744
176- Xem Gioan XXIII - Thông điệp Pacem in Terris: AAS 55 (1963), 267-268.
177- Gioan-Phaolô II - Tông huấn
Familiaris Consortio, 24: AAS 74 (1982) 109-110.
178- Propositio, 46 179- Propositio 47
180- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam
Actuositatem, 9
181- Phaolô VI- Diễn văn đọc trước ủy ban
lo cho Năm Quốc tế Phụ nữ (18-4-1975): AAS 67 (/975)
266.
182- Propositio 46 183- Propositio 47
còn tiếp
|