Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

Chứng Nhân Đức Kitô

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@yahoo.ca

Số 03, Chúa Nhật ngày 12.9.2004

       TRANG ĐẦU                                   MỤC LỤC

Tưởng Nhớ và Tri ân ĐHY.Fx. Nguyễn Văn Thuận                        Gs. Nguyễn Đăng Trúc

Xáo Trộn                                                                                             + Gm. JB. Bùi Tuần

EPHATA, Hãy mở ra                                                                   Lm. Vĩnh Sang DCCT.VN

Làm thế nào để giúp dân NƯỚC VIỆT tiến bộ                          Lm. Jos. Cao Phương Kỷ

Đi Tìm Đường Tu Đức Việt                                                Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

Người Việt Nam thương Mẹ kính Cha                                 Hoà thượng Thích Minh Châu

Lễ Hội Vu Lan                                                                                Gs. Nguyễn Chính Kết

Nhớ ơn Cha Mẹ                                                            Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Kitô hữu trước thềm thời đại mới                                                 + Hồng Y L.J.Suenens

Con đường LUYỆN VÀNG của Con Rồng Cháu Tiên                     Gs. Nguyễn Văn Thành

Đẹp và Xấu: Chuyện phiếm của Gã Siêu                                                             Gã Siêu

  

Một vài kỷ niệm sống động về Linh mục Fx. Nguyễn Văn Thuận

nhân ngày giỗ 2 năm: 16.9.2004

Như tựa đề bài viết nầy, tôi chỉ mong ghi lại một vài ký ức về linh mục Ph.X. Nguyễn văn Thuận luôn linh động trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Những ngày tháng có nêu lên trong bài có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng chắc chắn sự việc đã xảy ra, nhất là đã thực sự chi phối những bước đi của đới tôi.

Khi đề nghị tôi góp nhặt những bài nói chuyện của Người tại Strasbourg năm 1998 để thực hiện cuốn « Niềm vui sống đạo », Tổng Giám Mục Ph.X.Nguyễn Văn Thuận điện thoại nhắc tôi thế nầy : « Trúc nhớ đề ở đầu sách câu nầy của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II như lời gởi gắm riêng của cha cho người trẻ Việt nam:- Thành công lớn nhất của một cuộc đới là nên thánh -. Hôm nay, khi ngồi viết lại một vài kỷ niệm gặp gỡ linh mục Ph.X. Nguyễn văn Thuận trong đời mình, tôi thâm tín việc nầy : Một người thánh, một cuộc đới đáng gọi là thánh khi ta nghĩ đến người ấy thì tự nhiên ta muốn mình trở nên tốt hơn. Và đó là kinh nghiệm của tôi khi tưởng nhớ về vị linh mục nầy.

Nguyễn Đăng Trúc,Cựu chủng sinh Tiểu chủng viện Phú Xuân và Hoan Thiện Huế Khóa 1959

I- Linh mục giáo sư  tiểu chủng viện Phú Xuân và cha linh hướng

   Tôi vào Tiểu Chủng Viện Phú Xuân khóa 1959. Khóa tôi 53 người, tôi mang số 53  vì năm ấy tôi được miễn thi vào chủng viện, lý do là vào lúc tổ chức thi tuyển, thi tôi bị bịnh thương hàn. Có thể nói khóa của tôi là khóa cuối theo « chế độ cũ của chủng viện ». Chế độ cũ không có nghĩa là xấu, nhưng sau năm ấy (tức là từ khóa 1960) nhân sự điều hành và giảng huấn cũng như sinh hoạt chung của tiểu chủng viện thay đổi, một sự thay đổi mà linh mục Nguyễn Văn Thuận  đóng một vai trò có tính cách quyết định.

Linh mục Thuận đổi đến tiểu chủng viện Phú Xuân thay cho linh mục Nghĩa vào đầu niên khóa 1960-1961. Ngài xuất hiện ra trước mắt tôi lúc đó như một hình ảnh gầy, cao, thẳng, đi nhanh, luôn luôn ăn măc chỉnh tề, sạch sẽ và hay cười. Phòng ngủ của ngài nằm đầu mút tầng lầu cánh trái Tiểu Chủng Viện. Tôi nhớ dường như năm ấy ngài không làm gì nổi bật trong tiểu chủng viện ngoài một sự hiện diện vui vẻ, trẻ trung, một thái độ tôn trọng các linh mục, hoặc là thầy ngài ngày trước hoặc là lớp đàn anh của ngài. Ngài dạy lớp tôi môn pháp văn ; và riêng cá nhân tôi, tôi là một trong những chủng sinh chọn ngài làm cha linh hướng. Nếu còn có một tình cảm nào còn lưu lại trong những lớp pháp văn ấy của ngài, thì đó là một tỉnh cảm an bình, thoải mái trong những ngày tu trì. Mỗi giáo sư đều có một cái gì tích cực để lại trong cuộc sống chúng tôi, và điểm tích cực nơi vị linh mục trẻ nầy là trao cho tôi niềm vui khi học : không một giờ nào của ngài mà chúng tôi không có dịp để nghe chuyện vui và những điều lạc quan trong các câu truyện ngài kể. Riêng về cuộc sống thiêng liêng mà tôi tiếp cận được nơi linh mục linh hướng nầy, thì đó là thái độ cung kính, nghiêm trang khi ngài thi hành các tác vụ thiêng liêng của một linh mục. Đây là yếu tố gây nên chấn động lớn lao hơn cả trong cuộc sống tôn giáo của tôi, khi được sống gần gũi với ngài.

II- Cha Bề trên Thuận

Đối với tôi, tên gọi và hình ảnh nầy luôn sống động trong ký ức của mình.

Qua đến niên khóa 1961-1962, LM Thuận được Đức TGM Huế đặt làm Bề trên tiểu chủng viện. Khi chúng tôi tưụ trường thì các giáo sư lớn tuổi được đi nhận các nhiệm sở trong các họ đạo, chỉ còn lại LM Giacôbê Lê Văn Mẫn, những linh mục trẻ (Lm Giuse Nguyễn Như Tự, Phêrô Đoàn Quang Hàm, Philipphê Trần Văn Hoài, Stêphanô Nguyễn Như Thể, J.B. Etcharren), các thầy giúp xứ (Hồ Văn Quý, Nguyễn Văn Hội, Trần Văn Tuyên) tuần tự được đưa vào dạy chủng viện.

Niên khóa nầy, cha Bề trên Thuận lu bu đủ việc : canh tân cuộc sống tiểu chủng viện, xếp đặt làm sao để hai phần nhân lực của chủng viện bị phân làm đôi luôn liên lạc được với bề trên, và việc quan trọng là khởi công xây tiểu chủng viện Hoan Thiện, mà sơ đồ xây dựng và tài chánh do ngài đảm trách vận động phần chính yếu. Năm ấy cha bề trên mới có 33 tuổi !

Một tài năng tổ chức công việc hiếm có

Có người Chúa cho tài tổ chức nhân sự, đào tạo, giáo dục, kẻ khác là tài giao tế, vận động tài chánh, có người là tài xây cất cơ sở… Còn linh mục Thuận dường như Chúa nhân tăng ơn của Ngài : Trong một năm một linh mục 33 tuổi có thể vừa đặt lại nền móng đào tạo chủng sinh cho kịp những đòi hỏi canh tân của Giáo Hội trong mùa chuẩn bị Công Đồng Vaticanô II, vừa đi đây đi dó ở khắp nơi trên thế giới để vận động tài chánh xây cơ sở Hoan Thiện, vừa đốc suất theo dõi tiến trình xây cất. Tài năng đó quí giá thật, nhưng đối với tôi, quan trọng hơn hết là trong những ngày tháng đa đoan như thế, tác phong một linh mục, một giáo sư, một bề trên chủng viện không vì hoàn cảnh nầy khác mà đi vào tình trạng được xem là « có thể chuẩn chước ».

Nhà giáo dục

Vào mùa mưa, tiểu chủng sinh lại chơi bi. Có chú chơi qua chơi về ăn được cả từng vài trăm viên bi. Tôi cũng không nhớ có phải phòng bán đồ trong chủng viện (do LM Giacôbê Mẫn phụ trách) bán ra hay không, nhưng hiện tượng lạ là vào mùa ấy là bi tràn ngập trong chủng viện. Năm đầu cha Thuận làm bề trên, lớp tôi là lớp lớn nhất trong các lớp nhỏ ở lại với ngài ở Phú Xuân, nên tôi cảm thấy như mình có trách nhiệm và hơi bực vì các chú nhỏ đem bi vào nhà ăn, nhà ngủ, đôi lúc cả trong nhà thờ… ; không những khó chịu vì tiếng động của bi mà thôi mà vì mấy chú còn nói chuyện bất cứ lúc nào với nhau về bi. Tôi hỏi cha Bề trên : sao cha không phạt ? Ngài cười và nói nhỏ với tôi : « Để xem, một tuần nữa thôi chẳng có ma nào chơi bi nữa đâu.  Chuyện gì nhỏ và không quan trọng đừng quá lưu ý mà làm cho lời nhắc nhở việc lớn phải nhàm đi, không ai nghe ! »

Tính tôi lè phè : vào lớp hay vào nhà thờ đợt cuối cùng và thường trễ giờ đó là tôi. Có lẽ ngài đã chịu đựng tôi cũng khá lâu, nhưng cho đến năm tôi học lớp  4è thì tôi mới được chia việc « chấp lệnh », tức là đánh chuông. Tôi cũng không lưu ý tại sao lại được giao việc nầy. Nhưng hai sự kiện sau đây làm tôi suy nghĩ. Có lần tối thứ bảy có chiếu phim ; sáng chủ nhật đáng lý 5 giờ 45  phải đánh chuông thức dậy. Tôi ngủ mê chẳng nghe đồng hồ báo thức. Đến 5 giơ 55 chuông lại  rung đánh thức mọi người, tôi giật mình chạy xuống cột chuông thì thấy cha Bề trên đã đứng đấy. Ngài cười nói với tôi : « Con ngủ ngon quá sức !». Đến cuối năm, tôi cũng không hiểu tại sao các bạn trong lớp tôi giao cho tôi đóng kịch. Tôi có tật hễ đứng dậy phát biểu là chảy mồ hôi tay, chân run lên và đầu óc choáng váng. Thế nhưng sau lần làm kịch nầy, tôi thấy những hiện tượng bịnh hoạn ấy bớt dần. Và hôm nay, quá năm mươi tuổi đầu, khi nhớ lại những việc đã qua thì mới hiểu được rằng, việc chọn mình làm « chấp lệnh », đốc suất mình đóng kịch thì ra tất cả các quyết định là cử chỉ của nhà giáo dục ân cần xây dựng một cách nhẹ nhàng nhân cách con người mình.

Ai ở tiểu chủng viện Phú Xuân hoặc Hoan Thiên hẳn còn nhớ là không mấy khi thấy cha bề trên gặp ai hoặc giải quyết, khuyên răn điều gì sau giờ ngủ trưa . Tò mò, tôi hỏi ngài về việc nầy. Đây là câu trả lời : « Mình ngủ dậy trưa hay cáu lắm, làm sao mà giúp ai được việc gì cho nên  ».

Nếu ai tò mò thì thấy tuần nào cũng thấy cha bề trên Thuận đi lượt một vòng các nhà cầu ở các tầng lầu. Một lần vô tình tôi gặp ngài đang đi dọc các nhà cầu cạnh nhà bếp và nhà chơi ; có lẽ thấy tôi ngạc nhiên, nên ngài gọi tôi đến gần và nói : « Nhà cầu mà sạch sẽ, thì  người ta không nhác đi cầu ; và như vậy các chú sẽ thoải mái đỡ bịnh, học hành khỏi gián đoạn, và tính tình vui vẻ»

Về tóc tai, ăn mặc, cha Thuận không se sua, nhưng luôn luôn chỉnh tề, sạch sẽ. Và không phải chỉ có một vài ngày trong tuần, hay vào dịp nầy dịp khác. Nhưng ngay khi đi nghỉ hè thoải mái chung với chúng tôi, chúng tôi cũng thấy cung cách nghiêm túc của ngài trong cách ăn mặc. Ngài thường nhắc lại cho mỗi chúng tôi : « Mình ăn mặc chỉnh tề là biểu lộ đức bái ái của Chúa, là tỏ lòng kính trọng người khác. Hãy nghĩ rằng nếu người ta chớp bóng quay phim lại cách ăn mặc của mình, nếu mình không xấu hổ gì là tốt. »

Năm 1965, lớp chúng tôi là lớp lớn nhất trong chủng viện.  Không những mỗi đứa chúng tôi được trao trách nhiệm (cứ hai người coi một lớp) làm gám thị các lớp nhỏ, nhưng cả lớp còn được ngài đề nghị tổ chức một cuộc triển lãm về diễn tiến công đồng Vaticanô II cho cả điạ phận Huế đến xem. Làm sao một công việc như thế lại trao cho một nhóm chưa đầy mười thanh niên tuổi từ 17 đến 20 ? Nhưng chúng tôi đã hoàn thành tốt đẹp công việc tổ chức triển lãm nầy trong nhà khách Tiểu chủng Viện Hoan Thiện. Và thành công hơn cả là lòng tự tin, ý thức trách nhiệm và tinh thần cộng tác huynh đệ mà cha bề trên Thuận đã vun trồng nơi chúng tôi.

Trước dây, sau khi có việc « hô điểm » cuối mỗi kỳ họp các cha, và sau khi vào gặp cha bề trên để nghe « tin dữ», chú nào bị « đuổi » ra khỏi chủng viện thì thấy đời mình như « cùi hủi » rồi ; một sự thất bại ê chề trong cuộc đời ; cha mẹ sẽ buồn ; bạn bè e ngại đứng xa xa mà nhìn làm như phút chốc mình trở thành kẻ « tội lỗi ». Chú ấy phải dọn đồ đi về ngay ; nếu nhà xa hay trở ngại chưa đi về được, thì ra nhà khách ở….Nhưng từ ngày cha bề trên Thuận làm bề trên, cựu chủng sinh như được cha bề trên thương riêng, có lúc làm cho kẻ ở lại phải nêu thành câu hỏi. Ngài hay nói câu tiếng Pháp vào dịp nầy. Đi tu « c’est une chance », mà ra đời « c’est  une autre chance ». Mỗi người ra đi được xử đổi một cách « trân trọng »  khác nhau, nhưng không ai rời khỏi chủng viện trong thời bề trên Thuận mà mang một mặc cảm tiêu cực nào. 

Một nhà canh tân

     Từ ngoài nhà khách tiểu chủng viện Hoan Thiện nhìn suốt đến cuối hành lang đầu nhà học, người ta nhận ra bức tượng đen bằng ximăng thật lớn của Thánh Bosco. Hình ảnh ấy không những nhắc nhở một lối giáo dục mới, nhưng là lời mời gọi những linh mục tương lai nên thực thi mục vụ trong tinh thần dấn thân phục vụ làm đầy tớ, ưu tiên cho những người nghèo.

  Chiếc áo bên ngoài và tinh thần phục vụ : Những thay đổi tuần tự nơi cách ăn mặc của chủng sinh : nay được mang dày ; đồ học sinh thường thay cho chiệc áo dài đen quần trắng ; nón  nỉ « hướng đạo » thay dần kiểu nón cối ; học chung với học sinh các trường bên ngoài…Người chủng sinh dưới thời cha bề trên Thuận bên ngoài là một « con người học sinh » như bao nhiêu người khác. Là một người thích hoạt động đoàn thể hướng đạo, ngài cho các lớp được tổ chức sinh hoạt tương tự như những đoàn thể thanh niên khác (khóa chúng tôi vào năm 5è là khóa đầu tiên được sinh hoạt như thế trong chủng viện, năm đầu của thời linh mục Thuận làm bề trên (1961-1962). Sau nầy, có lớp còn được đi dự các khóa hướng đạo bên ngoài ; và ngay trong chủng viện có tổ chức cơ sở hướng đạo.

Việc tiếp nhận người vào chủng viện không nhất thiết bị ràng buộc theo mẫu mực tuyển vào từ nhỏ ; thời bề trên Thuận, những người gọi là « tu muộn » (kỳ thực chẳng muộn gì, nhưng không theo tiến trình cổ điển), nghĩa là bất kỳ vào tuổi nào cũng có thể được tiếp nhận vào chủng viện . Con số nấy càng ngày càng tăng, cộng thêm một số những người đã tu xuất trở lại tu làm linh mục. Những linh mục theo lối đào tạo như thế chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số những linh mục được đào tạo theo kiểu cổ điển.

Vào năm 1966, một năm trước khi ngài nhận chức giám mục, có lần ngài nói với lớp chúng tôi : « Cha có dự án xây rộng thêm bên ngoài nhà khách các chú để mở một xưởng nghề. Các chú mình tương lai phải học một nghề nghiệp để sinh sống, vì xã hội đang biến đổi, Giáo hội cần linh mục có lối sống khác hơn phong cách sống xưa nay ». Đây là một trong những dự án mà ngài đã chia sẻ với chúng tôi và ngài chưa bắt tay thực hiện được vì hoàn cảnh. Nói tóm, bề trên Nguyễn Văn Thuận đã đồng hành với giáo huấn Vaticanô II để đưa kitô giáo vào trong cuộc sống con người cụ thể theo tinh thần canh tân của hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng.

Quan trọng hơn cả : con người cầu nguyện

    Từ ngày Lm Thuận làm bề trên, không sáng nào, không tối nào, chủng sinh không thấy bề trên của mình ở mút đầu ghế bên trái cửa đi vào của nhà nguyện. Ngài quì thẳng người ở đấy trước khi chúng tôi đến nhà nguyện mỗi sáng, đích thân hướng dẫn nguyện gẩm, dâng thánh lễ buỗi sáng mỗi ngày. Nếu tôi nói với bạn là trong suốt 6 năm tôi được ở dưới sự hướng dẫn của ngài, nhưng chưa một lần tôi thấy có một cử chỉ nhỏ nào sơ suất khi ngài dâng thánh lễ hay trong lúc đọc kinh, nguyện gẩm…, chắc bạn thấy thường thôi ; nhưng qua kinh nghiệm riêng của tôi về cuộc sống tôn giáo, tôi thấy đây là dấu chỉ đích thực của một cuộc sống nội tâm sâu dày và kiên trì hiếm có. Vào một dịp lễ trọng, một vị linh mục trong chủng viện, trong lúc ngây ngất đã hát câu cuối lễ « Ite Misa est » thành « Ite eleison », mọi người tham dự thánh lễ không nín cười được và không ai có thể hát trả lời. Tôi quay nhìn lui cha bề trên, khuôn mặt ngài vẩn nghiêm trang. Chỉ một mình cất tiếng hát « Deo gratias » với tất cả lòng cung kính như mọi khi.

Tất cả thư từ ngài gửi cho tôi khi tôi còn tu hay tôi đã xuất tu, ngài luôn nói câu cuối cùng nhắn nhủ : « Chúng ta phó thác mọi sự cho Mẹ Maria của chúng ta ». Ngài tha thiết sùng kính Me, và đặt ngay tượng Mẹ ở giữa trung tâm các tòa nhà chủng viện.

Có lúc tôi hỏi về ý nghĩa kiến trúc chủng viện Hoan Thiện và đặc biệt về nhà nguyện tròn và có hồ nước chung quanh. Ngài giải thích rằng : nhà thờ là nơi gặp gở Chúa, và gặp gở người anh em, nhưng không phải gặp gỡ ào ào theo kiểu thế gian. Những lối xây cất chùa chiền trong văn hóa của dân tộc mình nhắc mình nhớ là phải « bước qua bên kia bờ » để có thể cầu nguyện. Đầu óc tôi cứ vướng vấp về những lời nầy : cầu nguyện quá dễ, mà không dễ chút nào !

III- Một vài kỷ niệm khó quên

     Hè năm 1967, tôi dự định xuất tu, không còn ở trong Giáo Hoàng Học Viện Đà lạt. Ngài vừa nhận chức Giám Mục và đến thăm Đại Học và Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt. Ngài kêu riêng tôi để gặp ngài tại Đại Học. Tôi chỉ nhớ một câu ngài nhắn tôi  khi tôi trao đổi với ngài về quyết định của tôi. Ngài nói : « Tu cũng tốt mà về cũng là một ơn gọi riêng. Nhưng con nhớ điều nầy trong đời mình : điều tệ hại trong cuộc đời không phải phạm tội, nhưng là mất đi ý thức tội lỗi ».

Năm 1975, tôi bị ở trong trại « cải tạo ». Vợ tôi ở nhà một mình với cháu nhỏ mới sinh được mấy tháng. Ngài đang gặp khó khăn trăm bề khi mới nhận chức TGM phó ở Sàigon. Nhưng Ngài đã nhớ đến tôi như đã nhớ đến trăm ngàn đứa học trò khác của ngài, và nhờ người đem đến cho vợ con tôi 30.000 đồng để mua gạo.

Đầu tháng 9 năm 1998, trước khi đến Strasbourg để nói chuyện với người trẻ Việt Nam tại Âu Châu, ngài nhờ cha Vincent Dollmann, dạy ở Đại chủng Viện Strasbourg, tìm xem còn có ai trong gia đình của vị linh mục trước dây làm cha xứ Phủ Cam, Huế và đã rửa tội cho ngài. Vị linh mục nầy người gốc Alsace, Pháp (mà Strasbourg là thủ phủ). Cha Dollmann tìm khắp các nơi và không còn ai có tên ấy trong vùng. Nhưng khi hỏi đến quê của linh mục nầy, thì người ta tìm được một bà gọi vị linh mục ấy là ông cậu. Bà nầy là phu nhân của ông xã trưởng. Trong buổi nói chuyện với giới trẻ, ngài nhắc đi nhắc lại ơn được làm kitô hữu qua phép rửa tội của ngài 70 năm về trước ; và cho rằng không có một lễ mừng nào vui hơn lễ thất tuần nầy của ngài, vì ngài có dịp đến cám ơn vị linh mục Chúa dùng để ban phép rửa cho ngài ; cám ơn những bước chân anh hùng, máu đào tử đạo của các vị truyền giáo cho Việt nam. Và cũng vào dịp nầy ngài đã viết ra 10 sứ điệp Đức Mẹ LaVang và loan báo với giới trẻ Việt nam về việc Ngài đang tiến hành công việc sáng lập Cộng Đoàn La-Vang.

Tháng 9 năm 1998, TGM Thuận được Phong trào Focolare mời đến Quốc Hội Âu Châu để dự lễ gắn huy chương của cơ quan nầy cho bà Chiara Lubich. Ngài đem theo cha Lê Phú Hải và tôi đến thăm vị đại diện Toà thánh bên cạnh QH Âu châu và tham dự lể gắn huy chương vị sáng lập PT Focolare, một người bạn thân của ngài. Khi chúng tôi đưa ngài ra nhà gare sân bay Entzheim, Ngài chỉ chiếc nhẫn giám mục thật lớn có vẻ quí giá mang ở ngón tay, và hỏi Sr Nguyễn Thị Hường, Cha Lê Phú Hải, cô Lâm Phương Mai và vợ chồng chúng tôi : « Đoán xem cha mua bao nhiêu ? ».  Không ai trả lời liền, nhưng nghĩ bụng chắc cũng trên nghìn mỹ kim.  Ngài không thấy ai trả lời liền nói : « Mới đây cha có dịp đi Israel, thấy ngươì ta bán ngoài lề đường, cha mua nó một mỹ kim, rồi nhờ người khắc trong nhẫn chữ «nada» (hư không, lời của thánh Têrêsa Avila). Ngó cũng được và là kỷ niệm quí ! ».

Thay lời kết 

« Nada !»,  hư vô trở về hư vô với bao chức vụ có tơ vương màu sắc trần thế.

Nhưng nếu nhớ đến linh mục Ph.X. Nguyễn Văn Thuận để giúp nhau nên thánh, thì trên Thiên đàng hẳn người anh Phanxicô Xavie ấy cũng đồng ý và mỉm cưới với anh chị em còn lại của chúng ta.

Gs. Nguyễn Đăng Trúc

VỀ MỤC LỤC


XÁO TRỘN

      Ngày 11 tháng 9 năm 2001, tháp đôi Manhattan tại Trung tâm thương mại bên Hoa Kỳ bị phá.

    Sự kiện khủng khiếp này gây nên nhiều hậu quả đáng buồn. Tôi chỉ cảm được chung chung những nỗi buồn lo ấy.

    Đến khi đọc một cuốn sách tiếng Pháp mới xuất bản, tôi giật mình về một hậu quả không những đáng buồn, mà còn đáng sợ. Sách mang tựa đề: “Đối thoại với thiên thần bổn mạng của tôi”. Tác giả là Henri Tisot. Theo tác giả kể, thì thiên thần bổn mạng của ông đã nói với ông về nhiều vấn đề. Trong đó có biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001.

    Tất nhiên nội dung đối thoại này là chuyện riêng tư. Toà Thánh không có ý kiến gì. Nhưng nếu chúng ta biết, thì cũng không phải một hiểu bi?t dư thừa.

    Ở đây, tôi chỉ xin rút ra đôi chút.

    Trùng hợp.

    Thiên thần bổn mạng của ông Tisot cho ông hay: Một hậu quả quan trọng của biến cố 11 tháng 9 năm 2001 có thể đọc thấy trong Kinh Thánh, quyển Sáng Thế, đoạn 11 câu 9.

    Những con số 11.9 về hai biến cố rất xa nhau lại trùng nhau.

    Tôi mở Sáng Thế, đoạn 11 câu 9, thì đọc thấy những lời Kinh Thánh như sau:

    “Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Baben. Vì tại đó, Đức Chúa đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất. Và cũng tại đó, Đức Chúa đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất” (St 11,9).

    Trước mấy dòng trên đây, Sáng Thế kể lại chuyện người ta thời bấy giờ tập trung ở Sina. Họ đổ công sức, xây một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ý đồ của họ là muốn lưu danh tiếng mình lại lẫy lững đến muôn đời (x. St 11,4).

    Như vậy, theo chỉ dẫn của thiên thần, tháp Baben xưa bị sụp đổ đã gây hậu quả là làm xáo trộn và phân tán. Nay tháp đôi kia bị phá đổ cũng gây nên hậu quả như thế.

    Tôi để ý đến Xáo trộn và thấy đúng. Hiện tượng đó đang xảy ra ở nhiều lãnh vực tại nhiều nơi. Chẳng hạn như:

    Hiện tình:

    Nhiều an ninh bị xáo trộn.

    Nhiều trật tự bị xáo trộn.

    Nhiều sự thực bị xáo trộn.

    Nhiều giá trị bị xáo trộn.

    Nhiều gia đình và cộng đoàn bị xáo trộn.

    Ở đây, tôi chú tâm đến lãnh vực đạo đức. Tôi thấy đó đây đang bắt đầu có những dấu chỉ của sự xáo trộn đạo đức:

    1/ Xáo trộn ở chỗ tìm rập theo thói thế gian hơn tìm thực thi ý Chúa.

    Thánh Phaolô khuyên: “Anh em đừng có rập theo thói đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: Cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).

    Lời khuyên trên đây vốn được một số người tín hữu thực hiện, nhưng cũng đang bị một số tín hữu bỏ ngoài tai. Điều đáng buồn đó đang trở nên bình thường.

    Trong một đất nước mở ra, nhiều trào lưu mới xuất hiện. Những trào lưu mới này vừa có cái tốt, vừa có cái xấu. Cái xấu cái tốt xáo trộn vào nhau. Người sống Phúc Âm thực sự biết phân biệt trong chọn lựa khôn ngoan dưới ánh sáng Phúc Âm. Còn người sống hời hợt hễ thấy người ta sao thì mình cũng muốn vậy, yêu theo thế gian, ghét theo thế gian. Đối với họ, sự rập theo thói thế gian được coi là hợp thời. Đôi khi còn cho là làm sáng danh đạo Chúa, có sức truyền giáo.

    Thứ đạo đức “theo thói thế gian” đang được viết ra trong vài sinh hoạt tôn giáo nặng nề hình thức phô trương, lợi dụng danh Chúa để kiếm lợi cho cái tôi của mình.

    Thực là xáo trộn!

    2/ Xáo trộn ở chỗ chạy theo tiền của hơn tìm đến người nghèo.

    Sách Thánh nói về Chúa Giêsu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18).

    Lời Kinh Thánh trên cũng được áp dụng cho Hội Thánh nói chung và cho các người truyền giáo của Hội Thánh nói riêng.

    Nhiều nơi, nhiều người vẫn sống theo tinh thần Lời Chúa đó. Không để nơi mình ở, và chính bản thân mình trở thành hình ảnh một Hội Thánh giàu có, chạy theo người giàu sang, đang khi người nghèo chỉ được đoái nhìn đến một cách miễn cưỡng, theo công thức.

    Họ sợ cảnh xáo trộn, vì người của Hội Thánh Chúa bị sai khiến bởi tiền bạc, danh vọng.

    Nhưng trên thực tế, những cái mà họ lo xáo trộn như vậy cũng đã xảy ra, nơi này nơi nọ, với một mức độ khác nhau.

    Thực có xáo trộn.

    3/ Xáo trộn ở chỗ làm điều ác nhân danh Chúa.

     Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người rằng: “Sẽ đến giờ, kẻ nào giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa” (Ga 16,2).

    Tôi có cảm tưởng là giờ đó đã đến cho nơi này nơi nọ. Có nơi bị chia rẽ trầm trọng. Bên phá cũng phá nhân danh Thiên Chúa. Họ tưởng việc mình trừ khử bên kia là một việc thờ phượng Chúa.

    Cũng do xáo trộn.

    Xáo trộn ở chỗ cắt nghĩa sai Lời Chúa.

    Xáo trộn ở chỗ hiểu sai thánh ý Chúa.

    Xáo trộn ở chỗ lòng mình không có Thánh Thần của Đức Kitô.

    Xáo trộn ở chỗ mình biết ít mà ảo tưởng mình biết sâu hiểu rộng.

    Xáo trộn ở chỗ họ không có đức tin đích thực.

    Phải chăng đó là tình hình Chúa Giêsu muốn ám chỉ, khi Ngài than thở một lời bi quan: “Khi Con Người trở lại, liệu Ngài còn thấy đức tin trên mặt đất này không?” (Lc 18,8). Tôi nghĩ trên mặt đất sẽ còn nhiều người tin, nhưng niềm tin của họ không là đức tin đích thực.

    Hiểm nguy và hy vọng.

    Cảnh xáo trộn mà tôi sợ nhất chính là cảnh xáo trộn trong lòng con người. Bề ngoài coi như bình an, ổn định. Nhưng bên trong lại đầy dẫy những xáo trộn. Những xáo trộn này giống như  những làn sóng ngầm. Lúc nào đó bất ngờ, chúng sẽ dâng trào thành hỗn loạn.

    Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một bi kịch. Nó chỉ là khởi đầu cho một tình hình. Nhiều xáo trộn sau đó không dính dáng gì đến ngày buồn thảm kia. Nhưng dù phát xuất từ đâu, các thứ xáo trộn đã đang và sẽ không là những cánh nhạn báo tin về một mùa Xuân đang tới. Đừng kể trường hợp chúng ta biết sám hối đón nhận Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, đang tìm chúng ta. Chúa là nguồn bình an. Chính Người là hy vọng cho những ai muốn phấn đấu, vượt qua các thứ xáo trộn, để tìm bình an đích thực.

+ GB. BÙI TUẦN

VỀ MỤC LỤC


      “EPHATA, HÃY MỞ RA !”

       Quý độc giả Ephata Việt Nam và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

       Mấy ngày nay, có dịp đi ra phố, tôi bỗng dưng thấy có một điều kỳ lạ, ấy là các công viên trong thành phố đang tháo dần những hàng rào bao quanh. Việc các hàng rào bao quanh công viên lâu nay đã trở thành quen mắt, cảm giác an toàn qua hình ảnh hàng rào đã là bình thường trong mắt người dân thành phố, nay không còn nữa, cái cảm gíac thiêu thiếu quẩn quanh đâu đây, nhưng cùng với cảm giác thiêu thiếu ấy, một cảm nhận khác lại đến chiếm ngự, cảm nhận sự tự do và thân thiết.

       Bấy lâu nay mình sống, mình đi lại trong thành phố này, thành phố của sự phát triển mãnh liệt, các khoảng trống hẹp dần, các vườn cây mất dần, các công trình nhà cửa chen lấn, các mảng bê-tông cứ cao dần và tầm mắt mình cứ ngắn dần, hẹp dần, và hình như lòng mình cũng hẹp dần. Những hàng rào được tháo đi, cũng vẫn không gian ấy, nhưng vắng cái hàng rào, tầm mắt mình như không bị một vật gì ngăn lại, tự do để phóng tầm, cái cảm nhận tự do từ đâu đó nay trở lại. Hẳn rằng khi tháo bỏ hàng rào, các đơn vị phụ trách và các đơn vị chịu trách nhiệm an ninh sẽ phải làm việc vất vả hơn, lo toan nhiều hơn, và cảnh giác nhiều hơn, nhưng sự tự do và ý nghĩa công viên là của chung mọi người bỗng trở nên mạnh hơn.

       Tôi nghĩ về những ngôi Nhà Thờ của chúng ta. Nhà Thờ của Giáo Hội, nhưng Nhà Thờ Hội Thánh Công Giáo được dựng nên để cho mọi người và một nghĩa nào đó, là của mọi người.

       Nhà Thờ là hình ảnh của Hội Thánh, Nhà Thờ là Hội Thánh bằng gạch bằng đá, Hội Thánh là Nhà Thờ của Thiên Chúa. Hội Thánh Công Giáo là Hội Thánh của mọi người, mở ra cho mọi người, không phân biệt màu da tiếng nói, “muôn dân tộc sẽ vào chầu, trăm chi họ sẽ vào chầu, hưởng Thánh Nhan Chúa Trời”.

       Giữa thành phố này có một ngôi Nhà Thờ là niềm tự hào của người tín hữu Công Giáo: Nhà Thờ Đức Bà Sài-gòn. Ngôi Nhà Thờ được đặt ở một vị trí rất đẹp, vị trí và cao độ tuyệt vời có một không hai của thành phố, vậy mà hai cao ốc, một ở đầu và một ở cuối Nhà Thờ vừa được xây dựng đã phá hỏng rất nhiều cảnh quan của Nhà Thờ, nhưng vẻ đẹp của vị trí và cao độ vẫn là số một. Bao quanh Nhà Thờ là những cung đường tuy có ồn ào và náo nhiệt thật, nhưng lại làm tăng thêm ý nghĩa của một Hội Thánh ở giữa nhân loại, giữa thành phố và giữa dân tộc này. Từng viên gạch xây dựng nên ngôi Nhà Thờ đã được chăm chút bằng chất liệu tuyệt hảo và khi xây người ta đã không tô vữa mặt gạch. Nhờ vậy, từng viên gạch, với từng mạch vữa như nói với mọi người về một cấu trúc sống động của Hội Thánh: “Anh chị em là những Viên Đá sống động xây nên ngôi Đền Thờ Thiên Chúa”.

       Một sứ điệp khác mà ngôi Nhà Thờ chuyên chở đến mọi người, qua hình ảnh một ngôi Nhà Thờ không có hàng rào, không có tường bao che. Hội Thánh không rào mình lại, không dựng tường xa cách với mọi người, không đi tìm sự an toàn ở giữa thế gian, nhúng mình vào giữa thế gian và là dấu chứng ở giữa thế gian “chòng chành giữa muôn chiều đạo lý”, ngôi Nhà Thờ vẫn đứng vững, vẫn soi bóng mình trên nền trời cao vút, vẫn đổ bóng mình trên những ai cần sự chở che.

       Đã có một thời, “đạo quân cái bang” và khách “lữ hành” làm “ô uế” tường chung quanh phía ngoài Nhà Thờ, người ta đã nghĩ đến một cái hàng rào để bảo vệ, để ngăn sự phóng uế, nhưng may thay, những vị có trách nhiệm đã không làm diều ấy, vì nhiều lý do, nhưng tôi vẫn nghĩ: lý do mạnh nhất là Hội Thánh không tự rào mình lại, Hội Thánh không thể ngăn cách với mọi người.

       Tôi đã có dịp lang thang đến Châu Âu và ghé Roma, có thể nói không Đền Thờ nào ở Roma mà lại có hàng rào bao quanh, từ Đền Thờ Thánh Phê-rô, đến Đền Thờ Đức Bà Cả ( Đức Bà xuống tuyết ), từ Đền Thờ La-tê-ra-nô đến Đền Thờ Đức Bà các Thiên Thần, ... không Đền Thờ nào có hàng rào bao quanh ! Đền Thờ Thánh Phê-rô còn có cả một hàng cột bao quanh phía ngoài quảng trường Thánh Phê-rô, hàng cột ấy làm thành hai vòng cung như ôm lấy mọi người, như luôn chờ đón mọi người.

       Không hiểu tại sao tất cả các Nhà Thờ trong thành phố Sài-gòn này, ngoại trừ Nhà Thờ Chính Tòa Đức Bà Sài-gòn, lại đều có hàng rào bao quanh rất kiên cố, và càng không hiểu vì sao các cánh cổng của Nhà Thờ ngoài trừ giờ Lễ đều được khép rất chặt, chỉ có một cánh cổng nhỏ mà đôi khi cũng “cửa đóng then cài”. Nhà Thờ Chính Tòa là Nhà Thờ Mẹ của các Nhà Thờ trong Giáo Phận, Mẹ không có hàng rào tại sao sinh con lại có hàng rào ? Mẹ không đóng cổng tại sao con lại đóng cổng ?

       Chúng ta đang ở giữa cuối Năm Thánh Truyền Giáo, chúng ta đã học thuộc lòng câu “Ra Khơi”, “Hãy ra chỗ sâu thả lưới”, “Đến với mọi người”, “Ra đi mang Tin Mừng đến mọi nơi”,...Chúng ta đã nói với nhau hàng trăm lần lời sai đi của Chúa Ki-tô, nhưng có một thực tại phũ phàng là ta đóng cổng lại, không cho người muốn đến với ta được tự do tìm đến. Cứ thử đặt câu hỏi, có những người đang chán nản thất vọng giữa cuộc đời, họ muốn đi tìm một niềm an ủi, họ biết tìm ở đâu bây giờ ?

       Tôi đã có dịp xem một tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật, tấm ảnh mô tả hình ảnh một người phụ nữ nhà quê, bên cạnh chị là một cái quang gánh, tay chị đeo chiếc nón lá rách có vài miếng vá, khuôn mặt ngời sáng niềm tin. Chị đứng trong tư thế cầu nguyện, chị đang đứng bên ngoài hàng rào Nhà Thờ, mắt chị dõi vào cõi xa xăm ở bên trong hàng rào, tác phẩm được đặt tên là “Nguyện cầu”. Hình như tác giả muốn nói lên Niềm Tin của con người nơi Thiên Chúa, Niềm Tin ấy càng mãnh liệt hơn trong cảnh nghèo của con người và Niềm Tin ấy luôn hướng về Đấng mà con người đặt Niềm Tin.

       Ý nghĩa thật xúc tích, nhưng vị chát vẫn lưu lại trong tôi. Niềm Tin ấy mãnh liệt thật, nhưng người ta “nhốt” Thiên Chúa lại, khiến con người chỉ còn có thể hướng vọng về Thiên Chúa từ xa xa mà thôi, không sao với được tới Ngài, không phải vì Ngài cao xa, nhưng vì người ta ngăn cách Ngài với con người ! Chua chát quá ! Chưa đón được mọi người, đừng nói “đến với mọi người”.

       Có một lần trong quá khứ, Thánh Thần Thiên Chúa đã thổi tung cánh cửa khép chặt vì “sợ người Do Thái”, cái quây quần ấm cúng giữa các Tông Đồ với nhau được phá vỡ, một sự quây quần mới xuất hiện, quây quần quanh Niềm Tin hiệp thông của những con người không rào cản, không rào mình và không rào ai.

       Hôm nay đang cần một tác động như thế, hãy cùng nhau nguyện xin... Ephata, Hãy mở ra !

 Lm. VĨNH SANG, DCCT

VỀ MỤC LỤC


Lời Ngỏ:

Truyền thông Chứng Nhân Đức Kitô rất hân hạnh được sự cộng tác của Lm. Joseph Cao Phương Kỷ trong Trang mục: "Hội Nhập Văn Hóa". Linh mục Kỷ đã từng là giáo sư đại chủng viện bên Việt nam trước kia cũng như tại Hoa Kỳ. Tác phẩm Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo của Linh mục Kỷ vừa được hoàn tất đã như một gợi ý rất quan trọng trong việc cải tiến giáo trình đào tạo trong chủng viện và đối thoại tôn giáo trong tiến trình Truyền Giáo. Chúng con xin ghi ơn Linh mục dù trong tuổi nghỉ hưu vẫn cố gắng đem hết tâm huyết để phục vụ Giáo hội và Quê hương, chúng con sẽ hân hạnh giới thiệu về tác phẩm này trong những ngày sắp tới.

(Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường, Linh hướng Truyền thông Chứng Nhân Đức Kitô)

CHIA SẺ, ĐÀM ĐẠO

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIÚP DÂN NƯỚC VIỆT TIẾN BỘ

Ưu tư và cũng là thắc mắc nhất hiện nay, đặc biệt đối với giới trẻ Việt Nam có cơ hội tốt được học hành thành tài ở ngoại quốc, nhưng vẫn không quên tìm về nguồn gốc Quê Hương, Dân Tộc, đó là câu hỏi đặt ra cho quí vị phụ huynh: Tại sao người Việt có trí óc thông minh, kiên nhẫn chịu đưng gian khổ, chăm chỉ làm việc.. nhưng đời sống gia đình, xã hội, kinh tế, chính trị không được tiến bộ như các nước láng giềng? Rất nhiều câu vấn nạn đặt ra, nhưng ai cũng cảm thấy lúng túng khi tìm câu trả lời cho thỏa đáng! Sau đây, xin nêu ra một vài nguyên cớ để bàn luận , trao đổi và bổ túc, hy vọng có thể giúp san bằng những trở ngại cản đường tiến hóa của một nòi giống đã từng có một dĩ vãng oai hùng. I/. Những nguyên cớ TIÊU CỰC, cản trở bước tiến của Dân Việt. II/. Những Động Lực nào khiến các quốc gia Âu-Á-Mỹ tiến bộ ? III/. Cần Tinh Thần Khai Phóng, Cởi Mở, Đổi Mới .. để giúp Việt Nam tiến bộ.

I. NHỮNG NGUYÊN CỚ TIÊU CỰC CẢN BƯỚC TIẾN CỦA DÂN VIỆT.

   1. Ngày nay, Khoa Khảo Cổ và Văn Hóa Học, Ngôn Ngữ Học đã soi sáng một phần nào vào một dĩ vãng xa xăm của Người Việt cổ, xuất hiện trong khu vực Sông Hồng. Những thành quả đáng khích lệ như : nơi phát hiện nền văn hóa Lúa Nước, và sản xuất Trống Đồng, và các Huyền Thoại biểu tượng cho các Triết Lý như Âm-Dương, Phồn Thực( fertility, sinh sản), Ngũ Hành, Tam Tài và Theo giả thuyết của các nhà Khảo cổ, thì dân Lạc Việt( tức Việt cổ) đã khởi phát nền Văn Minh Nông Nghiệp (trước văn minh Hoa-Bắc, Hoa Hán, chuyên về chăn nuôi, và trồng lúa mạch). Chính nền Văn Hóa Nông Nghiệp, LÚA-NƯỚC này đã hun đúc nên Não Trạng, hay “Tâm Thức Văn Hóa Nông nghiệp”( Mentalité culturelle) của người dân Việt, nghĩa là phản ánh lên nếp sinh hoạt cá nhân, gia đình, xã hội, kinh tế, và tư duy biểu tượng (symbolic thinking) như các hình vẽ trên Trống Đồng Đông Sơn, các huyền thoại : Âu Cơ- Lạc Long Quân,(Tiên-Rồng), Sơn Tinh- Thuỷ- Tinh, Truyện Trầu Cau..

    2. Từ nông nghiệp Lúa-Nước, người nông phu luôn theo Thời Tiết vận chuyển, tuần hoàn của các hiện tượng thiên nhiên lưỡng phân , từng cặp đắp đổi nhau như :nắng/ mưa, nóng /lạnh, ngày/ đêm.. để trồng lúa nước, để gặt hái . Nhiều câu cadao, tục ngữ truyền khẩu diễn tả cảnh sinh hoạt của gia đình nông dân . Cũng từ những kinh nghiệm trồng lúa ốnước đã nẩy sinh những tư duy biểu tượng, đặc biệt là Triết lý ÂM-DƯƠNG Lưõng-Hợp. Dùng những gạch vẽ rất đơn giản: gạch liền(—-) chỉ Dương, Nam, giống đực ; gạch đứt   ( — —) chỉ Âm, Nữ, giống cái. Cách phối hợp những cặp Âm-Dương.. đã tạo nên hình Thái Cực Đồ, Hà Đồ, Lạc Thư , Ngũ Hành..( xin coi: “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo”, trang 474-483). Theo các học giả nghiên cứu về Văn Hóa Việt nam, thì Triết Lý Âm-Dương đã thấm nhuần vào “não trạng”, ảnh hưởng vào tâm tình, vào mọi nề nếp sinh hoạt của dân Việt, mãi cho đến ngày nay, từ đời sống vật chất đến sinh hoạt tinh thần, luân lý, tính tình. Căn bản của Triết Lý Âm-Dương là sự vận chuyển , biến đổi, nhưng vẫn giữ một thế Quân Bình, Hòa Hiệp giữa Âm và Dương, chỉ Lưỡng Hợp, Đắp Đổi , nhưng không xung khắc, mâu thuẫn, tiêu diệt lẫn nhau. Do đó, trong cách “tiếp nhân xử thế” người Việt thường tránh va chạm , xung đột: “chín bỏ làm mười”, hay” “một câu nhịn, chín câu lành”, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, “Dĩ Hòa vi quí”! Trong lịch sử chống Bắc phương, dầu đại thắng quân Trung Quốc, nhưng các vua Việt vẫn sai Sứ đi cầu hòa, cầu phong, để tránh trả thù. Triết lý Âm-Dương, tuy có “ĐỘNG” có vận chuyển, nhưng theo chu kỳ vận chuyển của VÒNG TRÒN: hết ngày đến đêm, hết đêm đến ngày: “sau cơn mưa, trời lại nắng”, “Bĩ cực, Thái lai”, “Ai giầu ba họ, ai khó ba đời”.. Bởi vậy, não trạng của dân Việt là kiên nhẫn, chịu gian khổ để “chờ THỜI ”(chữ THÌ , THỜI Vụ rất quan trọng trong nghề trồng Lúa- Nước). “Não Trạng Vòng Tròn”, tức là quanh đi quẩn lại, chạy vòng vo, chỉ “lập lại” cái cũ, chứ không sáng tạo điều mới lạ. Đây là một lý do cắt nghĩa tại sao trong mấy ngàn năm, người nông dân Việt không cải tiến được nông cụ và kỹ thuật canh tác để tăng năng xuất. Về phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, giới lãnh đạo Việt Nam, luôn chống lại những cải cách để theo nhịp tiến bộ của văn minh thế giới. Não Trạng thủ cựu được đúc kết trong câu ca dao:” ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” hay chính sách ngoại giao lỗi thời như “bế quan tỏa cảng”, khiến nước ta bị ngoại xâm

    3. Vì não trạng “lưỡng hợp”, không phê bình, không chọn lọc, đào thải, không ưa chống đối, tránh cạnh tranh, nên nhân cách của con người không được mạnh mẽ, thiếu tinh thần độc lập, cá tính, nhân vị (personality) bị xóa bỏ để hòa hợp với cộng đồng. Cũng vì cá nhân bị cộng đồng đè nén, chèn ép, nhất là đối với thành phần”thấp cổ bé miệng” như giới phụ nử, lê dân, nên đã phát hiện một loại văn châm biếm, chế riễu giới thống trị, để bộc lộ nỗi uất ức, bất mãn . Óc gia tộc, óc bộ lạc, óc địa phương, khó chấp nhận những bộ lạc khác, và không phục tùng luật lệ chung của quốc gia:”phép vua, thua lệ làng”. Vì không chấp nhận đối phương, không tìm hiểu những điều mới lạ để tìm cách làm quen, thân thiện, thỏa thuận để “dung hòa”(compromise) quyền lợi, nên trên bình diện “Nước” hay Quốc gia, luôn xẩy ra những sát phạt giữa các bộ lạc( Việt Nam hiện có hơn 50 thành phần dân tộc (bộ lạc) với 7 ngữ hệ). Cũng vì quốc gia luôn chia rẽ, ( đời Đinh Bộ Lĩnh có 12 sứ quân) nên mới phải đặt ra nhiều ca dao để kêu gọi sự đoàn kết như:

 ” Bầu ơi, thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

“ Nhiễu điền phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”

“ Khôn ngoan đá đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ, chớ hoài đá nhau”

II. ĐỘNG LỰC NÀO KHIẾN CÁC QUỐC GIA ÂU-MỸ TIẾN BỘ?

Ngày nay, trên bình diện quốc tế, một cách khách quan, mọi người đã nhìn nhận : nền văn minh, văn hóa công nghiệp dựa trên những khám phá về Khoa Học, Kĩ thuật của các Quốc gia Âu-Mỹ, là do Tinh Thần và Tâm Thức Văn Hóa của Thiên Chúa Giáo.( Những nước Á châu như Nhật Bản, Đại Hàn, Tân gia baà cũng đã noi theo con đường tiến bộ của các nước Âu-Mỹ. Sau đây, thử tìm hiểu những Nguyên Lý nào của Thiên Chúa Giáo đã tạo nên Tinh Thần Tiến Bộ cho thế giới ngày nay.

    1/ Bản Sắc của Thiên Chúa Giáo(Christianity), bắt nguồn từ Do Thái Giáo, đặc biệt từ Sách Kinh Thánh( Cựu Ước và Tân Ước). Theo Lịch Sử dân Do Thái thì các Vị Tổ Phụ như Abraham, Giacóp.. là dân Du Mục. Não trạng Tâm thức , cách lý luận, cách ứng xử, tiếp cận với Thiên Nhiên, với môi trường sinh thái của dân Du Mục khác với não trạng của dân nông nghiệp Lúa Nước. Dân du mục thiên về Phân Tích, chọn lọc, đào thải hơn là Tổng hợp. Vì nhu cầu cần tìm thức ăn cho đoàn vật như đồng cỏ, nên họ phải lưu động luôn, phải chiến đấu chống thú dữ, và các bộ lạc khác để chiếm đất đai. Ngoài ra, OÔc du mục cũng giỏi về thương mại, trao đổi hàng hóa với các lân bang để tìm thị trường mới. Não trạng chọn lọc, cạnh tranh, chiến đấu với các nghịch cảnh, đã tạo nên óc “Biện Chứng” (Dialectic), vàTiến Bộ (Progress).

    2/ Ý Niệm “NGÔI VỊ”, tự lập, cũng được đề cao. Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo là “Đạo Mạc Khải”( Revelation), nghĩa là Niềm Tin rằng: những giáo thuyết trong ĐẠO là do Một Ngôi Vị Chúa Tể biểu lộ, phán dạy cho nhân loại. Ngài KHÁC với các loài thụ tạo, Ngài hiện hữu từ trước vô cùng, trước khi loài người và vũ trụ xuất hiện. NGÀI là Thuần Thần, Siêu Việt , Vĩnh Cửu, vượt không-thời gian. Con người được Ngài tạo dựng là một Nhân vị có ý chí tự do. Do đó, Kinh Thánh viết:”Con Người là Hình Ảnh Thiên Chúa” . Con người được cộng tác với Đấng Tạo Hóa để khai triển vũ trụ thêm tốt đẹp. Bởi vậy, mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội.. đều có mục đích là phục vụ con người. Không được lạm dụng con người như một công cụ để sản xuất, để bóc lột sức lao động. Chính quan niệm về Nhân vị cao quí của con người, đã làm nền tảng cho các Học Thuyết Xã Hội của Thiên Chúa Giáo.

   3/ Trong Sách PHÚC ÂM, về phương diện xã hội, Chúa Cứu Thế nhấn mạnh đến việc chăm sóc giai cấp bị áp bức như giới phụ nữ, giới nô lệ.. Đối với của cải vật chất, Ngài coi những người giầu có chỉ là người “quản lý tài sản”, nghĩa là việc kiếm ra tiền bạc một cách hợp lẽ công bằng là điều tốt, nhưng phải dùng của cải làm phương tiện để thực hành công cuộc Phước Thiện, giúp đỡ người thiếu thốn( coi: Luca 16: 9). Do đó, thời Giáo Hội sơ khai, các Vị Tông Đồ đã tổ chức những cộng đồng tín hữu đặt căn bản trên Tình Bác AÔi, Huynh Đệ, chia sẻ tài sản(Coi: Tông Đồ Công Vụ: Đoạn 2: 42-47). Theo tryuền thống Thiên Chúa Giáo, những quốc gia mở mang, giầu có như Hoa Kỳ, Đức, Pháp.. đã thành lập những Hội Từ Thiện (Charities), Hội Thiệạn Nguyện , để cứu trợ những nước nghèo, để đón tiếp và định cư những người tị nạn. Quan niệm”dùng tiền bạc để mua Nước Thiên Đàng,” ( “tiền bạc chỉ là đầy tớ tốt(phương tiện), nhưng là ông chủ xấu(mục đích)”), đã là động lực khởi xướng việc mở mang kinh tế, tăng gia lợi tức để có nhiều tiền, “ giầu phương tiện”, giúp đỡ người nghèo , vì càng làm việc Từ Thiện nhiều, thì càng thêm Công Phúc trước Thánh Nhan Chúa.

Trong cách đối xử với tha nhân, cần phải tôn trọng sự Thành Tín, không phản bội. Đặc biệt đối Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, con người phải tuyệt đối Trung Tín : một là theo Chúa, hai là chống lại Chúa, không thể chấp nhận lập trường “trung lập”,”nửa chừng” như Lời Chúa dạy:”Không tôi tá nào có thể hầu hạ hai chủ, vì hoặc là ghét chủ này, hay mến chủ kia, hoặc là kính phục chủ này, khinh dể chủ kia, anh em không thể làm tôi Thiên Chúa và Thần Tài(Mammon, coi Tiền Bạc là chúa, là chủ) được”(Luca, 16:13).( “Trung thần bất sự nhị quân”.)

    4/ Biểu tượng CÂY THÁNH GÍA là hình ảnh nền tảng đã in sâu trong Tâm Thức , Tiềm Thức của Văn Minh Thiên Chúa Giáo. Ngày nay, Cây Thánh Giá đã được mọi người đeo mang trên thân mình, dựng cao chót vót trên tháp các Thánh Đường nguy nga hay cắm dựng tràn lan trên các nấm mồ trong Đất Thánh (Nghĩa trang). Cây Thánh Giá biểu dương cho ý nghĩa gì?- Cây Thánh Giá biểu dương sự Chết, và Sự Sống Lại của Chúa Cứu Thế . Nét ngang chỉ sự “nằm xuống”, chịu khổ nạn, chịu chết; nét dọc chỉ sự Sống Lại, Phục Sinh Vinh Hiển. Hình ảnh Cây Thánh Giá luôn ám chỉ hai Biến Cố , nối tiếp nhau, nhưng là hai động tác , khác nhau, để làm thành “Một Thánh Giá”: Từ cái Chết đau thương biến thành Vinh Hiển, Khải Hoàn, (từ “tiêu cực”dấu trừ (minus), trở nên nét”tích cực”dấu cộng(plus).)

    5/ Hình Ảnh Cây Thánh Giá, biểu tượng cho sự CHẾT-SỐNG đã ăn sâu vào tiềm thức con người, tạo nên Tinh Thần Biện Chứng( Dialectic), vừa quả cảm chiến đấu với mọi nguy hiểm của nghịch cảnh, vừa phát triển nâng cao đời sống con người và tô điểm cho vũ trụ thêm xinh đẹp. Do đó, CÂY THÁNH GIÁ, chính là Đông lực Tiến Bộ của nền Văn Hóa, Văn Minh Âu-Mỹ: chấp nhận Hy Sinh, Canh Tân, Biến Đổi ( Metanoia) những cái lỗi thời, lạc hậu, để tiến lên những cái Tốt Đẹp hơn. “Chết” ở đây(theo nghĩa “Đại Tử”) nghĩa là diệt trừ bản tính ích kĩ, tư lợi để vươn lên con người mới vị tha, nhân ái.

    6/ Biểu tượng Cây Thánh Giá:Chết-Sống Lại cũng được các triết gia suy tư và hệ thống hóa thành những khuôn mẫu chỉ đạo cho tư tưởng tiến bộ Âu-Mỹ, đặc biệt là triết học “Biến Chứng Pháp“(Dialectic) của Hegel(1770-1831). Như Lịch Sử thế giới minh chứng: Văn Minh Thiên Chúa Giáo đã tiếp thu hai nền văn hóa, văn minh Hy Lạp và La Mã. Các triết gia, và thần học gia nổi tiếng như Thánh Augustinô, Thánh Toma, và các Giáo Phụ đã dùng phương pháp Luận Lý học(Tamốđoạn-luận, Luật Mâu Thuẫn..), và các phạm trù trong Triết Lý Hy Lạp của Plato, Aristotle.. rồi sửa đổi cho thích hợp với Giáo Lý, với Thần Học Kinh Viện. Theo triết gia Hegel, chính Tinh Thần( Geist, Spirit,Esprit), mới là Chủ Thể Suy Tư( Le Sujet Pensant, Cogito, ergo Sum) mới có Thực Thể(Etre en Soi).

    7/ Trong Lịch sử tiến bộ của nhân loại, thì quá trình tiến triển của Tinh Thần diễn ra như thế nào? theo đường hướng nào? Hegel gọi cách vận hành đó là “Dialectic” , Biện Chứng vì gồm có ba thời kỳ, ba khoảnh khắc đối đáp nhau: giai đoạn A: Hiện Đề( Thesis) tức là hiện trạng của sự vật.; giai đoạn hai B: Phản Đề(Anti-thesis) , tức là những lý lẽ, những hiện tượng đối chọi lại các lý luận của Hiện Đề, hoặc phản kháng, bác bỏ hay bổ túc cho nhau, nhưng không hoàn toàn tiêu diệt nhau, để cùng đi đến giai đoạn C: Hợp Đề(Synthesis), chọn lọc những lý lẽ tốt nhất rút lấy trong Hiện Đề và Phản Đề để hợp thành một kết luận tiến bộ hơn hai luận đề kia. Do đó, Hợp Đề là tiến bộ hơn cả, nhưng không phải chỉ ngừng lại đó mà thôi. Muốn tiến bộ hơn nữa, theo đà phát triển của Tinh Thần, thì phải biến Hợp Đề thành một “Hiện Đề”mới, lại cần một “Phản Đề”mới nữa , để đi đến một Hợp Đề mới hơn nửa và cứ thế mãi. Đó là Tinh Thần Dân Chủ, Tự Do, Tiến bộ mà ta thấy hàng ngày diễn ra tại các quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ, trên Truyền Thanh, Báo Chí, Truyền Hình, và trong các lãnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, mỹ thuật, thể thao(như khẩu hiệu Citius! Altius! Fortius! Nhanh hơn, Cao hơn, Mạnh hơn, do Linh Mục Henri Didon,O.P , đặt ra cho Thế Vận Hội Paris ,7/3/1891)

III. CẦN TINH THẦN KHAI PHÓNG, CỞI MỞ, ĐỔI MỚI ĐỂ TIẾN BỘ

Vấn đề khẩn thiết nhất hiện nay cho mọi công dân Nước Việt là làm cách nào giúp cho Quê Hương Tiến Bộ về Tinh Thần và Vật Chất. Quan niệm Khai Phóng, Đổi Mới không có nghĩa là phải xóa bỏ hoàn toàn quá khứ , nhưng là thanh lọc những yếu tố lạc hậu, thủ cựu, lỗi thời, và chỉ giữ lại những tinh hoa, đồng thời cởi mở tâm trí đón nhận những gì tiến bộ của thế giới. Có thể tóm lược vào hai điều kiện trọng yếu cho việc canh tân tiến bộ:

    1/ Đón nhận Tinh thần Canh Tân Quyết Liệt:” CHẾT-SỐNG LẠI của Cây THÁNH GIÁ”, theo đường thẳng tiến bộ, chứ không theo đường “Vòng Tròn” quanh quẩn. Văn Hóa dân Việt cũng đã thấm nhuần tinh thần “Chết-Sống” này, đặc biệt từ giây phút đêm Giao Thừa chuyển sang Ngày Tết Nguyên Đán, tức là lúc “Tống Cựu, Nghinh Tân”, như câu châm ngôn:

“ Nhật Tân, Nhật Tân, hựu Nhật Tân”( Ngày Mới, Ngày Mới, lại Ngày Mới)

Nhưng cần noi gương “Cây Thánh Gia”Ô, thực thi “Tinh Thần :Chết-Sống” mỗi ngày một cách mạnh mẽ hơn , cần đoạn tuyệt với những gì hủ lậu của thời phong kiến, độc tài, óc bộ lạc, hận thù, ganh tị”bế quan tỏa cảng”, để mở rộng Tâm Hồn đón nhận những tiến bộ từ bên ngoài, hầu bồi bổ, tô điểm cho nền Văn Hóa dân Việt thêm rực rỡ.

    2/ Từ bao ngàn năm nay, dân Việt đã tìm ra cây Lúa-Nước, và sinh sống về nghề NÔNG. Từ hoàn cảnh địa lý, môi sinh đóÔ, cũng đã suy tư ra những Triết lý Aạm-Dương Hòa- Hợp, tạo nên nếp sống hiền hòa, an vui. Nhưng ngày nay, dân số ngày càng đông (hơn 80 triệu), mà đất đai canh tác càng nhỏ lại vì phải chia cho nhiều con cháu. Bởi vậy, nếu còn chủ trương“Canh nông vi bản”, thì quốc gia không thể nào trở nên giàu có được( muốn mua một xe hơi, phải bán bao nhiêu tấn lúa gạo?) . Tài nguyên thiên nhiên không dồi dào, nên cần phải chuyển đổi sang kỹ nghệ, thương mại, ngư nghiệp, du lịch, là những nghề nghiệp cần tận dụng trí óc thông minh, và tài năng cần mẫn làm việc của một dân số khá đông nhân công, lao động. Nếu người dân Việt được đào luyện một tinh thần khoa học, óc phân tích, óc Biện Chứng, đồng thời sửa đổi lại cơ cấu công quyền, thiết lập những thể chế chính trị, xã hội tôn trọng Nhân Quyền, Tự Do, Dân Chủ, thì trong một tương lai rất gần, Dân Nước Việt sẽ trở nên hùng cường . Bao giờ nguyện vọng đó mới thành sự Thật, là còn tuỳ thuộc ở Thiện Tâm, Thiện Chí của mỗi người dân Việt. Đó không phải là “ảo tưởng”, nhưng là Lý Tưởng có thể thực hiện được như sẽ chứng minh dưới đây:

   3/ Tinh Thần cầu tiến, canh tân, quyết liệt: CHẾT-SỐNG, biểu tượng bằng CÂY THÁNH GIÁ, ỳ đã được một Cộng Đồng dân Việt thực hiện trong đời sống và đã đóng góp cho sự tiến bộ của dân nước, từ hơn bốn trăm năm nay. Đây không phải là chủ quan, nhưng là sự thật lịch sử, khách quan, do người ngoại quốc nhận định. Ngày nay, trên khắp thế giới, và cả trong nước, những Cộng Đồng Thiên Chúa Giáo- Công Giáo Việt Nam vẫn được nhiều người kính nể. Số Tín hữu chỉ chiếm 10% dân số, nhưng là một Cộng Đồng nhiệt tâm, nhiệt thành với tổ quốc, và đã công hiến cho dân tộc nhiều nhân vật tài ba lỗi lạc , nhiều thành quả về Văn hóa, Xã hội:

- Về lòng Trung Thành với Niềm Tin, không thấy ai dám hy sinh mạng sống, trừ một số rất đông các Tín Hữu đã chịu “Tử vì Đạo”. Vua Bảo Đại, vị Hoàng Đế cuối cùng của triều Nguyễn, cũng đã chiêm bái “Cây Thánh Giá” mà chính các vị tiên đế đãra lệnh chà đạp,”quá khóa”(bước qua).

-Về mặt canh tân xứ sở cho kịp với trào lưu tiến hóa của nhân loại, lịch sử Việt Nam cận đại đã thán phục những bản điều trần của nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ ..

- Về mặt xã hội, từ thiện, cứu giúp những đồng hương bịnh cùi, tàng tật, mồạ côi, người ta không thể quên được những hình dáng dịu hiền, đầy tâm tình yêu thương của các “Dì Phước Dòng Mến Thánh Giá”( được thành lập từ ngày Lễ Tro 26/02/ năm 1670).

- Về mặt Văn Hóa, Giáo dục, các vị Giáo sĩ ngoại quốc hợp tác với các trí thức tín hữu để sáng tác ra chữ ”Quốc Ngữ”, một văn tự thông dụng giúp việc truyền bá học vấn dễ dàng, và giảm bớt được hơn 90% người “mù chữ”. Tuy là một thiểu số, nhưng vì nhiệt tâm với việc mở mang khai trí cho dân chúng, Hội Thánh Công Giáo Việt Nam đã mở nhiều trường tư thục: từ cấp mẫu giáo, tiểu học, trung học , và hai Đại Học, miễn phí hoặc học phí thấp để nâng cao trình độ học vấn cho dân chúng.

- Về mặt chính trị, người công dân tín hữu đã chủ động trong hai cuộc di cư lớn, năm1954, 1975, trong việc cải cách ruộng đất và mở mang dinh điền, định cư cho gần một triệu đồng hương năm 1954, và cổ động cho các nước bảo trợ cho bà con tị nạn, năm 1975. Dầu là thiểu số 10%, nhưng cũng đã có hai vị tín hữu đắc cử chức Tổng thống trong hai nền Cộng Hòa.

- Nói tóm lại, muốn cho Nước ta Tiến Bộ, cần phối hợp hai đường lối suy luận: Hòa Hợp, Quân Bình, và Biện Chứng, Tiến Bộ, làm sao tạo cho đời sống con người vừa Quân Bình, đồng thời luôn Canh Tân, theo Đường Thẳng Tiến Bộ

Lm. Joseph Cao Phương Kỷ

VỀ MỤC LỤC


ĐI TÌM ĐƯỜNG TU ĐỨC VIỆT

     Văn minh Âu Mỹ bây giờ đang làm lóa mắt thiên hạ. Đồng đô la "đỉnh cao trí tuệ" loài người, đang sáng rực trong túi ngay cả những Việt Kiều về nước. Cái gì Âu Mỹ xem ra cũng hơn mình! Thậm chí cả các thánh trong Giáo Hội Công Giáo!

     Đường Linh Thao của thánh I Nhã người Tây Ban Nha đã biến đổi bao tâm hồn. Đường siêu  nhiệm của thánh Gioan Thánh Giá và Thánh Têrêsa, dẫn nhiều người vào nếm mật ngọt của Đấng Vô Hình là Người Tình có chân dung. Rồi cũng từ những đường tu đức này mà phát khởi ra phong trào Học Hội Ki-Tô (Cursillo) với đầy màu sắc và tính chất Tây Ban Nha. Đơn sơ nhỏ bé như thánh Têrêsa Hài Đồng người Pháp cũng để lại những cuốn sách như Một Tâm Hồn, tác động nhiều người bước theo! Thánh Phan- Sinh người Ý thì khỏi nói. Nào là trở thành lời kêu gọi hòa bình với kinh cầu hòa bình. Các tôn giáo lớn trên thế giới đã từng cùng với Đức Thánh Cha tụ về Assisi để nhìn rõ những con bồ câu vẫn còn đậu trên tượng thánh nhân. Rồi đường hướng của ngài  cũng đã gợi hứng cho nhân loại tìm về hòa đồng vũ trụ nhất thể như trong phim nổi tiếng "Anh Mặt Trời, Em Mặt Trăng". Thậm chí cả thánh Mỹ Đen Mặc Tín Porres cũng được dân ta khấn khứa rất ư là thiêng. Chưa kể thánh Antôn của xứ Bồ Đào Nha và thánh Vinh Sơn cũng của Tây Ban Nha, là những "chuyên viên" làm phép lạ. Mất chìa khóa mà khấn với thánh Antôn là tìm thấy liền. Trời đang hạn hán mà khấn với thánh Vinh Sơn là có mưa. Làm ăn xập xệ mà khấn với thánh Mặc-Tín là có mòi khấm khá ra mặt.

     Còn người mình chả có gì ra hồn. Thậm chí Các Thánh nước mình cũng được phong thánh đấy, nhưng có lẽ là những thánh "hạng nhì", có vẻ "giổm" lắm, vì chả để lại sách vở gì cả, chả có tư tưởng đường hướng nào rõ rệt cả, có chăng là mấy miếng xương được chuyền tay như là bằng chứng ta cũng quen lớn! Hình như ít người khấn với thánh "Ta", vì không thiêng bằng thánh "Tây". Và vì thế cũng ít nghe về phép lạ lắm.

     Người yếu bóng vía thì nghĩ quẩn rằng Giáo Hội phong thánh cho một loạt các đấng đông đảo tới 117 vị vào ngày 19.6.1988 là để an ủi dân mình. Cho đỡ tủi ấy mà. Vì dân mình ăn đòn nhiều quá. Dân khác đòn mình và mình tự đòn nhau chí chóe. Cũng lễ lạc cờ xí tưng bừng. Phim ảnh, kỷ yếu xôm tụ ra phết. Rồi sau đó mọi sự được cho vào góc nhà làm "kỹ nghệ đông lạnh". Chắc các thánh nhà mình phải tủi lắm!

VIỆT NAM CÓ GÌ LẠ ĐÂU !

     Sơn Nam trong cuốn "Người Việt có dân tộc tính không?" đã dí dỏm nói lên cái thái độ tự đắc của người Âu Mỹ: "nhiều nhà khảo cổ Tây Phương nghiên cứu kỹ lưỡng để xem người Việt có gì đặc sắc so với người Ai Cập, người Tàu, người Ấn Độ, căn cứ vào di tích, vào những gì mà ngày nay còn chụp ảnh được, đào xới được, đọc được... Dưới mắt người Tây Phương, rõ ràng người Việt Nam chẳng có gì đáng kể, về hình thức. Người Nhựt, người Tàu, người Ấn Độ, người thiểu số cao nguyên, bộ lạc ăn lông ở lỗ ngoài hải đảo Thái Bình Dương đáng chú ý hơn. Ở giải đất Đông Dương thì quyền ưu tiên dành cho Đế Thiên Đế Thích, nghệ thuật Chiêm Thành, hoặc cánh đồng rải rác những cái chum bằng đá ở Lào. Việt Nam thuộc vào hàng thứ yếu..."(trang 9-10). "Trong việc sưu tầm văn hóa, người Pháp đã tặng cho người Việt vài lời khen an ủi: sọ người ở Hòa Bình, trống đồng Thanh Hóa, lăng tẩm Huế, tượng nhà sư Minh Hạnh. Trước khi rút lui, người Pháp phát giác thêm những di tích ở đồng bằng Hậu Giang về nước Phù Nam, tại thương cảng Óc Eo (núi Ba The, An Giang)" (trang 12)

    Nguyễn Thùy và Trần Minh Xuân trong cuốn "Tinh Thần Việt Nam" còn nhận xét chua xót hơn: "Tất cả mọi công trình biên khảo về nguồn gồc dân tộc Việt Nam hầu như cố tình bỏ qua cái thắc mắc: tại sao dân tộc Việt Nam với một nền văn hóa bốn ngàn năm rực rỡ, anh hùng, lại không xây dựng được cho mình một ý thức hệ vững chãi, rõ ràng?" (trang 94).

    Số mệnh của Việt Tộc vẫn có cái dáng dấp bi thảm trầm luân qua bao thế kỷ. Nhưng có điều lạ là cái sức sống đó dai dẳng kiên trì lắm. Nó có cái gì không ai hiểu nổi. Người Tàu đô hộ cả ngàn năm mà không đồng hóa nổi. Các cuộc bách hại khủng khiếp kéo dài cả ba trăm năm mà không tiêu diệt nổi cái "Gia Tô Tả Đạo". Những đọa đầy khốn khổ nhất không làm cho mất vẻ an nhiên. Như vậy chắc phải có cái gì lạ mà chưa ai khám phá ra.

VẪN ĐƯỢC NHƯ THƯỜNG !

    Cuộc sống hằng ngày đôi khi thật nản. Ngày nào cũng bằng ấy công việc. Phải hối hả làm cho xong như một cái máy. Hình như xã hội này đang tạo sẵn một cái hộp nhốt tôi vào đó. Tầm mắt không vượt qua bốn bức tường vây hãm, và những đống thư từ do các văn phòng khác nhau cứ tiếp tục "oanh tạc" từng phút. Muốn thoát ra khỏi mà không ai cho phép! Và hậu quả là nhức đầu, chóng mặt, căng mạch máu, long thần kinh. Rồi thuốc Advil, Tylenol trở nên bạn thân giúp cho được thăng bằng. Quá một chút là lại phải gọi số cứu cấp 911. Và xe cứu thương hú còi hối hả. Chết cũng chết vội vã như những con người văn minh ở khu vực Manhattan New York đi kiếm tiền phải chạy nhanh cho kịp xe điện ngầm: mỗi người một cái cặp Samsonite, mỗi người một suy tính chộp giật cho lợi tức gia tăng. Không còn giờ ngó nhau. Không còn sức nhìn lên bầu trời cao vợi, vì hai bên đường những ngôi nhà "gãi trời" đã bưng mắt giống như hai tấm che mắt những con ngựa kéo xe thổ mộ trên đường Lê Văn Duyệt thuở nào. Phía trên thì khói các nhà máy dầy đặc đen sì ngột ngạt thay cho mây trời thênh thang.

     Ôi văn minh con người thừa thắng xông lên trên đỉnh cao trí tuệ theo đà tiến hoá tất yếu của lịch sử! Phải cần triệu triệu năm khỉ đột tiến hóa thành người. Vậy mà ở cuối thế kỷ 20, con người thèm chảy cả nước miếng nhìn lên cành cây thấy chim trời ca hót líu lo thảnh thơi, trông xuống dòng sông thấy cá nước bơi lội tung tăng tươi tỉnh. Có cái gì bất ổn nơi văn minh loài người sao? Có cái gì bất bình thường sao? Trong tim mỗi người hình như đang cảm thấy một sự chao động mất thăng bằng thì phải?

     Những ngày đầu năm 1993, tờ The Times-Picayune ở Louisiana phiếm luận một đề tài thật buồn cười: có được xin nghỉ làm một ngày vì bệnh căng thẳng không? Vì thường chủ hãng chỉ bất dĩ phải đồng ý khi nhân viên gọi vào sở xin nghỉ vì đau bụng quá cỡ, vì cảm lạnh, có sự nhăn nhó hay cơn ho sù sụ làm chứng. Chứ bệnh căng thẳng thì có gì đo được đâu. Ấy vậy mà cái bệnh này đang thịnh hành mới chết.

     Sống trong một xã hội mà cái gì xem ra cũng mất thăng bằng, mà có được sự bình thường thì thật là quí. Mấy người bạn lâu ngày gặp lại nhau liền hỏi bạn có khoẻ không? Và câu trả lời đắc ý nhất là : tôi vẫn bình thường, vẫn thăng bằng, vẫn bình an. Như vậy giữ được sự bình thường, thăng bằng, bình an, chẳng phải là một điều lạ đáng ao ước lắm sao!

    Trái đất và vũ trụ đang "vẫn như thường" đấy. Nghĩa là đang giữ được thăng bằng, đang bình thường. Thử tưởng tượng một vài chuyện bất thường xảy ra: nếu trái đất quay chậm lại 10 lần, thì sức nóng sẽ tăng lên 10 lần. Nếu mặt trời gần lại mặt đất thì mọi cây cỏ sinh vật trên trái đất bị thiêu rụi liền. Và nếu nó dở chứng bò xa ra một tí thôi thì cũng đủ làm cho mọi người chết rét hết. Và nếu mặt trăng chỉ cần hứng bậy tiến gần vào trái đất khoảng 50 ngàn dặm, thì nước sẽ bị hút dâng lên ngập trái đất mỗi ngày hai lần.

    Người Tây chỉ thích tìm cái mới lạ, nên bỏ quên cái lạ nhất là cái bình thường. Bạn đang có thể thở ra hít vào từng giây phút, từ bao nhiêu năm nay. Các cơ năng trong thân thể vẫn ngày đêm làm việc để bạn sống. Quan sát một cành lá, một bông hoa: một sức sống mầu nhiệm đang luân lưu trong vũ trụ. Tất cả chẳng phải là những phép lạ sao?

   Vũ trụ có một nhịp sống. Đi vào nhịp sống này thì thăng bằng, vẫn như thường. Còn không thì "chạm điện", "mát dây".

TỪ MỘT KINH NGHIỆM ĐI TÌM

    Sau nhiều ngày cảm thấy mất thăng bằng, ngày 1 tháng 5 năm 1990, tôi đã bắt đầu cuộc hành trình nửa tháng đi vào một trung tâm tịnh niệm trong sa mạc Arizona để hy vọng tìm lại thăng bằng của cuộc sống. Ngồi trên máy bay hãng Delta, trong lúc rỗi rãi, tôi đọc lại cuốn Hành Trình Về Phương Đông, nguyên tác của Spalding, bản dịch của Nguyên Phong. Tình cờ một câu ngắn làm tôi giật mình: "các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả, hoặc in tên trên điện thoại niên giám... Phải chăng ông thất vọng vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm linh?"

    Đọc "Những Lá Thư Viết Từ Sa Mạc" của thầy tiểu đệ Carlo Carretto, ai mà chả mê cái kinh nghiệm tâm linh của thầy. Đó là kinh nghiệm về cõi trống diệu vợi của sa mạc. Thầy kể chuyện chính thầy đã từng làm chủ tịch phong trào giới trẻ Công Giáo toàn nước Ý thời Đức Giáo Hoàng Piô XII với biết bao sinh hoạt và chương trình tưởng có thể thay đổi bộ mặt thế giới. Nhưng trong thâm tâm thầy vẫn thấy có cái gì hụt hẫng, bất ổn. Sau nhiều ngày vật lộn với chính mình thì đùng một cái, thầy bị Chúa quật ngã. Chúa đã gọi thầy bõ cõi "đầy đặc" để đi tìm cõi trống nơi sa mạc.

    Tìm vào cõi trống để chính lòng mình cũng rộng mở, xả trống mọi bụi bặm phù du mà hòa vào một thực tại lớn hơn, hòa vào một sức sống bao la hơn, hòa vào một nhịp sống của vũ trụ. Trong cõi trống bao la này, con người không cần phải suy về hay nghĩ về Đấng Huyền Nhiệm nữa, mà như đang cảm thấy Người, chạm đến tay Người. Và như một mâu thuẫn không giải thích nổi, là trong cái tĩnh lặng và trống không hầu như tuyệt đối này, một cảm nghiệm toàn mãn đầy tròn bao phủ. Thật lạ.

    Nhưng rồi sau nửa tháng "chờn vờn với Đấng Vô Hình" trong sa mạc Arizona, tôi lại phải trở về cuộc sống bình thường. Liệu tôi có thể tìm lại những giây phút "hút hồn" như trong sa mạc, hay lại bị ném vào vòng xoáy giông bão để bị mất hút đi một cách tội nghiệp?

    Đứng đợi máy bay ở phi trường Tucson, trong lúc đang lẩn vẩn bởi ý nghĩ trên, tôi để ý quan sát một người đánh giầy. Đó là một bà Mĩ trắng trung tuổi, rất vui vẻ tươi tỉnh với từng động tác đánh giầy. Vì thường tôi vẫn thấy những người đánh giầy ở phi trường New Orleans là những người "bất đắc dĩ" vì mặc cảm với cái nghề thấp kém trong bậc thang xã hội. Ngay cái kiểu khách hàng ngồi chễm chệ ở trên ghế cao mà phải đứng ở dưới cúi mình để lau chùi thì cũng đủ cảm thấy bất ổn, rồi sinh cau có, mặt mũi ủ dột như bánh bao chiều chứ làm sao tươi nổi!

    Thấy thái độ và cử chỉ lạ thường của người đàn bà, tôi bèn "liều mạng" lên ghế ngồi cho bà ta đánh giầy, vì thực ra đôi giầy của tôi đã đầy bụi sau nửa tháng quần trong sa mạc, và tôi cũng có ý lợi dụng cơ hội để tìm hiểu về bà ta.

    Mà đúng thật. Cái điệu quẹt xi và đánh bóng thật nhịp nhàng khoan thai như một khúc vũ. Chỉ sau mấy phút là tôi đã gạ chuyện liền. Được vặn "trúng đài", bà ta thao thao kể về đời sống của bà, trước đây là một dân ăn chơi, thưa mứa tiền bạc của con nhà giầu, rồi cũng bị hút vào cái vòng xoáy của xã hội "văn minh", rồi tối ngày sáng đêm phải thi hành cho đúng chỉ thị của cái đà xã hội ra lệnh cho hợp tiêu chuẩn, không thể cưỡng lại được. Riết rồi thấy cuộc sống mệt mỏi buồn nôn như một tên nô lệ "không người lái"! "Tình cờ một ngày kia tôi đã được một người bạn chỉ cho tôi con đường vào sa mạc Arizona này. Trong cõi trống bao la, tôi đã khám phá ra cách giải thoát chính mình. Tự nhiên tôi xả buông mọi thứ lỉnh kỉnh xưa nay vốn trói buộc tôi, để hòa vào một sức sống lớn hơn trong cõi trống huyền nhiệm bao la của sa mạc. Tôi thấy rõ tất cả chỉ có một sức sống, vũ trụ, cỏ cây, súc vật, con người. Mọi công việc lớn nhỏ, mọi động tác đều phát khởi và hướng về một nguồn sức sống mà thôi. Tôi đã khám phá ra tôi có thể biến cả cái nghề đánh giầy vốn hèn này thành một khúc luân vũ cuộc đời. Vũ trụ chỉ có một sức sống và một nhịp vũ. Xả trống cái tiểu ngã to vo mà hòa vào được điệu nhịp múa này thì thật tuyệt. Cuộc sống tôi bây giờ là một khúc vũ. Tất cả là một tác phẩm tuyệt vời. Tôi đang sáng tác mỗi giây phút đó, thấy chưa".

LỐI SỐNG VIỆT NAM

    Mỗi dân tộc đều có cái "máu" đặc sắc khác nhau. Người Đức, người Nhật có máu ta đây, thích đè bẹp lân bang để tỏ ra chủng tộc mình trổi vượt. Ngay bây giờ mà nhóm Tân Quốc Xã vẫn khơi khơi đập đánh dân tị nạn ở Đức, máu me tùm lum. Mặc dù cái máu đó giúp cho hai dân này tiến bộ về khoa học thực. Nhưng tiến bộ như vậy để làm gì? Thần Thủy Hoàng để lại Vạn Lí Trường Thành do biết bao nhân mạng để xây cất. Bao đền đài lăng tẩm đã là kết quả của biết bao xương máu.

    Mỗi nền văn hóa có những quan niệm và tiêu chuẩn để đo giá trị khác nhau. Văn minh Hy Lạp thích đo bằng đầu óc triết lí. Văn minh Ai Cập chuộng sức mạnh tâm linh. Văn minh Âu Mỹ thích tìm tòi sự lạ, thích đề cao hiệu năng sản xuất, tôn thờ vật chất. Hết định nghĩa người là con vật biết suy tư đến người là con vật kinh tế. Chẳng biết đâu là văn minh, đâu là man rợ. Cứ thấy cái cảnh người Âu Mỹ giết bào thai đã có tay chân phèo phổi một cách ngon lành mà lại do luật pháp bảo vệ, đang khi ai trót dại động tới mấy con chó là bị hội bảo vệ súc vật lôi ra tòa liền. Người ta tự hỏi nền văn minh đang đưa con người tới đâu? Chỉ biết xã hội Âu Mỹ đang trả giá cho văn minh này: bác sĩ thần kinh không bao giờ thất nghiệp, thuốc nhức đầu bán chạy hơn tôm tươi. Con người mệt mỏi, rã rời, khắc khoải...

    Suy nghiệm về thân phận Việt Nam, tôi vẫn thường tự hỏi nếu người mình có cái gì gọi là đặc sắc, thì cái đặc sắc đó chính lại cái không có gì, chẳng để lại gì đồ sộ nguy ngay. Cái đặc sắc chính là điều biết sống cái bình thường, chính là cái biết tìm an nhiên tự tại trong bất cứ hoàn cảnh nào. Người Việt vốn tin vào sự sung túc của cuộc đời, và dai dẳng bám vào sức sống đó, qua những bình lặng hằng ngày, qua những trầm bổng đắng cay ngọt bùi, mà khám phá ra cái lạ thường trong những tầm thường. Người Việt luôn biết dung hòa và hóa giải mọi đối nghịch để tìm ra nét hài hòa và thăng bằng để làm nên đạo sống an nhiên tự tại. Sống như vậy gọi là phong lưu: hòa được vào dòng sinh khí vẫn đang thổi hơi sức sống và dòng nước suối nguồn cuộc đời vẫn đang luân lưu chảy. Đời sống không phải là những phép lạ là gì? Trong nghịch cảnh và nhà tù khổ cực, thánh thi sĩ Dũng Lạc đã viết thư cho bạn với niềm vui an nhiên:

     Đông qua tiết lại thời xuân tới.

     Hình như cái đạo sống của Việt Tộc và của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam có cái gì na ná giống một phần cái đạo sống Ki-Tô mà thánh Phaolô đã trình bày: "Người Do Thái thì thích sự lạ, người Hy Lạp thì thích tư tưởng khôn ngoan... Còn tôi, tôi chỉ rao giảng Đức Kitô bị đóng đinh trên Thập Giá, là cớ vấp phạm cho người Do Thái và là sự ngu đần đối với người Hy Lạp. Nhưng đối với những ai được gọi, dù Do Thái hay Hy Lạp, thì Đức Ki-Tô là sức mạnh và khôn ngoan của Thiên Chúa" (1Cor 1:23-24)

     Linh Mục dòng Tên người Ý có tên Việt là Đỗ Minh Trí (phiên âm bởi tên chính là Dominici), người đã nhận Việt Nam là quê hương của mình, đã có một nhận xét rất đặc sắc về tâm hồn Việt Nam: "Cuộc sống con người là một sự cân bằng giữa sức khoẻ và bệnh tật, niềm vui và đau khổ, giữa lao động và nghỉ ngơi, giàu có và nghèo nàn.. . Khi sự cân bằng đó mất đi bởi vi một yếu tố trở nên lấn lướt hơn so với yếu tố kia, con người sẽ bị khủng hoảng. Cuộc sống của cả một dân tộc trở nên phong phú và có nhân tính nếu như cái dáng dấp bi thảm của khổ đau quân bình với cái hình dạng của niềm hân hoan và hạnh phúc..."

    "Tôi nhớ vào năm 1979 ở Kuku, các bác sĩ người Pháp đã rất kinh ngạc vì số lượng rất thấp của những căn bệnh tối loạn tâm trí giữa một số lượng đông đảo người tị nạn đang sống trong một tình cảnh bi đát. Tôi tin rằng sở dĩ có được điều này là do tâm tính vui vẻ và thơ thới của Người Việt... Chính ngay điều đó chứng tỏ được rằng sự thông minh của người Việt đã biết cách tạo dựng nên những điều kiện lý tưởng để cho cuộc sống của họ, dù rằng đôi khi cay đắng và bi thảm, trở nên có nhân tính".

    "Nhân tính, đó mới là phẩm chất mà theo tôi, tâm hồn người Việt Nam có thể tóm gọn vào hai chữ đó. Người Việt Nam có rất nhiều nhân tính. Họ không khao khát một sự thánh thiện cao siêu, một nếp sống hào hùng hay những khám phá phi thường. Lý tưởng của họ là một nếp sống an nhàn, tràn đầy niềm vui đơn sơ và bình dị của con người."

     "Chính cái nhân tính đó đã làm cho người ngoại quốc rất ưu ái và gắn bó rát chặt chẽ với dân tộc Việt Nam. Nhất là người Tây phương rất cần đến cái nhân tính đó của người Việt Nam, là vị họ đã biến đổi cuộc sống thành một cuộc chạy đua điên cuồng trong lãnh vực tiến bộ khoa học kỹ thuật, một sự tiến bộ đã làm cho cuộc sống nhân loại khổ sở biết chừng nào!" (Việt Nam Quê Hương Tôi, trang 26-28)

LINH ĐẠO DŨNG LẠC

    Một điều lạ mà ít người lấy làm lạ, là sau biến cố phong thánh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, không thấy mấy ai đề cập tới một nền tu đức. Phong thánh đâu phải để an ủi một dân tộc nhiều khổ đau cho đỡ tủi. Cũng đâu phải để chụp hình kỷ niệm để lấy le với bàng dân thiên hạ.

    Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Giáo Hội đã tuyên phong 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam. Tất cả đều là những vị sống cuộc sống bình thường trong các bậc sống khác nhau. Điều đáng chú ý là đa số thuộc thành phần giáo dân. Chắc chắn Giáo Hội phải có chủ ý gì?

   Câu trả lời được tìm thấy thật rõ trong tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân công bố ngày 30 tháng 12 năm 1988, chỉ sau biến cố phong thánh mấy tháng. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã xác định:

   "Ở đây cần phải nhắc lại việc tôn phong chân phúc hay hiển thánh cho các tín hữu. Toàn dân Thiên Chúa, nhất là các tín hữu giáo dân có thể tìm ở họ, những vị mô phạm mới của các nhân đức anh hùng, được thực hiên trong những hoàn cảnh thông thường hằng ngày. Các Giáo Hội địa phương, nhất là các giáo hội trẻ trung phải lưu ý tìm xem trong con cái mình, những giáo dân nam nữ giữa những cánh đồng như thế (cảnh sống thường nhật ở trần thế và bậc sốgn vợ chồng) đã sống chứng nhân thánh thiện và có thể trở nên gương mẫu cho người khác, để đề nghị phong thánh" (#17).

   Như vậy việc phong thánh có chủ đích rõ rệt là nêu lên những cái mẫu sống đáp ứng thời đại, đưa ra những tiêu chuẩn thường là ngược với trào lưu xuống dốc của nếp sống hiện tại. Đó mới là tiêu chuẩn để đo nền văn minh, vì đó là mẫu sống đem lại cho con người nếp sống hạnh phúc thật. Khi phong thánh các vị Tử Đạo, Giáo Hội không chỉ nhằm vào tác động bị chém đầu đổ máu, mà còn đề cao cả một nếp sống.

   Đang khi nếp sống của con người ngày nay càng ngày càng trở nên phức tạp, hạnh phúc ngày càng vuột xa khỏi tầm tay, thì Giáo Hội đưa ra một lối sống đơn giản ai cũng có thể tìm thấy trong tầm tay trong cuộc sống hằng ngày, để biến những gì tầm thường nhất trở nên những phép lạ, trở nên niềm an vui hạnh phúc. Đó phải là đường tu đức hợp thời nhất.

   Lối sống này đi trong truyền thống Việt, vượt khỏi màn lưới nhốt giam con người để vươn lên thảnh thơi như chim trời cá nước. Đó cũng chính là lối sống mà Chúa Giêsu đã diễn đạt trong bản Hiến Chương Nước Trời trên Đồi Bát Phúc. Những điều mà Chúa xác định là đem lại hạnh phúc thật thì quá ngược với quan niệm người đời!

    Làm thế nào để có thể sống Việt, vượt thoát mọc cánh bay lên được? Kinh Thánh đã xác quyết:

   "Những ai tin cậy vào Thiên Chúa, thì sẽ được Canh Tân mang sinh lực mới. Họ sẽ mọc cánh Như Chim Phượng Hoàng Bay Cao. Họ chạy mà không mỏi, họ đi mà không mệt" (Isaia 40:31).

   Nhìn bức ảnh Thánh Dũng Lạc và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ai cũng nhận ra ngay đây là đoàn phượng rồng đang tung cánh bay lên trong Ngày Vinh Thắng.

   Mỗi người đều được Chúa dựng nên cách lạ lùng với một tiềm năng kho tàng tinh thần vô hạn, có sức vươn cao như Tiên Rồng. Người mở mắt khám phá ra và khơi nguồn được thì sống cuộc đời hùng dũng như Rồng và an lạc như Tiên. Người u mê thì vẫn tiếp tục chôn vùi và sống đời tẹp nhẹp, buồn nản, nghèo hèn.

   Thánh Dũng Lạc và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã dùng những bí quyết bửu bối nào để khám phá và khai quật được kho tàng mỏ kim cương đã được chôn giấu trong lòng mình và trong lòng dân tộc?

   Cách thức khai quật kho tàng, cách thức sống theo điệu vũ này, được gọi là Đường Tu Đức. Thánh Dũng Lạc và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã luyện những chiêu thức đạt đức rất đơn sơ như con đường bình lặng của Mẹ Maria , trong rung cảm của con tim Việt và đi trong truyền thống gia tài của Mẹ Tiên Bố Rồng để lại mà con cháu ai ai cũng có thể tu luyện được. Đường tu đức này đã được cả thế giới Công Giáo xác nhận ngày 19.6.1988 là con đường hợp thời nhất, đáp ứng đúng thời điểm.

   Người Việt Công Giáo muốn mọc cánh vươn lên để sống đời Ki-tô tròn đầy, liệu đã muốn tìm về đường tu luyện trong bản sắc của mình chưa?

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

 Xin mời thăm gia trang: www.chungnhanduckito.net/dunglac.htm

VỀ MỤC LỤC


NGƯỜI VIỆT NAM THƯƠNG MẸ KÍNH CHA

        I. QUA CA DAO TỤC NGỮ

       Mùa Vu Lan đối với người Việt Nam, nhất là người Phật Tử, là một mùa báo hiếu, một mùa mà các người con, nhớ đến công ơn sanh thành của mẹ cha và muốn làm một cái gì tốt đẹp để đền đáp công ơn dưỡng dục của mẹ cha. Nhớ ơn cha mẹ và báo hiếu là những cảm giác, những suy tư, những việc làm đã in sâu đậm trong lòng người Việt Nam, và đã được thể hiện linh động và triền miên, ngang qua các câu ca dao và tục ngữ mà chúng ta đã tìm thấy, tràn ngập trong các thôn quê vườn xóm.

        Đâu đâu cũng được đề cao công cha như núi cao, nghĩa mẹ như biển cả:

Công cha nghĩa mẹ cao vời,

Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.

Nên người con phải xót xa,

Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.

Đội ơn chín chữ cù lao,Sanh thành kể mấy non cao cho vừa.

Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ Hiếu, mới là đạo con.

Tu đâu cho bằng tu nhà,

         Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Mẹ già ở tấm lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

Công cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ song thân.

        Lòng thương cha mến mẹ của người Việt Nam thường hay gắn liền với các hiện tượng thiên nhiên, nên chúng ta không lấy làm lạ nhiều câu ca dao đã dùng mặt trăng mặt trời để nói lên lòng thương cha mến mẹ:

Đêm khuya trăng rụng xuống cầu,

Cảm thương cha mẹ, giãi dầu ruột đau.

Biển Đông còn lúc đầy vơi,

Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng.

        Cha mẹ đã săn sóc cho con từng miếng cơm manh áo, thời những người con khi cha mẹ về già cũng phải sáng viếng tối thăm, tìm của ngon vật lạ phụng dưỡng cha mẹ:

Ai về tôi gửi buồng cau,

Buồng trước kính me, buồng sau kính thầy.

Ai về tôi gửi đôi giầy,

Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

Muốn cho gần mẹ gần cha

Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền.

  Thỉnh thoảng, chúng ta chứng kiến cảnh người con gái không chịu đi lấy chồng, vì không muốn xa cha mẹ:

Ơn hoài thai, to như bể !

Công dưỡng dục, lớn tợ sông !

Em nguyện ở vậy không chồng,

Lo nuôi cha mẹ hết lòng làm con.

Người con gái đi lấy chồng xa cũng bị trách:

        

Chim đa đa đậu nhánh đa đa,

Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa.

Mai sau cha yếu, mẹ già.

Bát cơm đôi đũa, kỹ trà ai dâng ?

        Nhưng mình có hiếu với cha mẹ, thời con cháu mình sẽ có hiếu với mình. Đây là luật dáp ứng thường tình, nhưng không vì vậy mà giảm bớt tình của lòng thương mẹ kính cha của người Việt Nam:

         Nếu mình hiếu với mẹ cha

Chắc con cũng hiếu với ta khác gì.

Nếu mình ăn ở vô nghì

Đừng mong con hiếu làm gì uổng công.

Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận

Ngỗ nghịch nào con có khác chi !

Xem thử trước thềm mưa xối nước

Giọt sau giọt trước chẳng sai gì.

Ở đời ai cũng có lần,

Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành.

Người xưa khó nhọc nuôi mình

Khác chi mình dã hết tình nuôi con.

        Nhưng người con cũng biết cha mẹ thương con không phải giống nhau, cha có lòng thương của người cha, mẹ có lòng thương của mẹ, nên người con cũng biết phân biệt: “Me dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn”. Hoặc: Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ, lót lá mà nằm.

        Trong câu ca dao này, chúng ta đã nhận thấy sự phân biệt của người con về cảm tình đối với cha khác, đối với mẹ khác. Nếu như cha có mất đi, thì đã có bà mẹ săn sóc cho con, cho con ăn cơm ăn cá đầy đủ. Nhưng chẳng may mẹ mất đi người con mới thật khốn khổ, phải đi lót lá mà nằm. Và vì vậy, nên chúng ta không có lạ gì, khi người con gần mẹ hơn cha, thương mẹ hơn thương cha. Chúng ta được đọc rất nhiều câu ca dao và bài thơ tán dương lòng mẹ thương con, lòng con nhớ mẹ:

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

Ai rằng công mẹ như non,

Thật ra công mẹ lại càng lớn hơn.

 Lòng mẹ như bát nước đầy,

Mai này khôn lớn, ơn này tính sao.

Nhớ ơn chín chữ cù lao,

Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

Con ho lòng mẹ tan tành,

Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.

Nuôi con chẳng quản chi thân,

Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

Mẹ ngoảnh đi, con dại, mẹ ngoảnh lại, con khôn.

        

Mẹ giàu con có,

mẹ khó con không.

Mẹ già như chuối ba hương,

Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Bồng cho con bú một hồi,

Mẹ đã hết sữa, con vòi con la.

Nuôi con buôn bán tảo tần,

Chỉ mong con lớn nên thân với đời.

Những khi trái nắng trở trời,

Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.

Trọn đời vất vả triền miên,

Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con.

         Vì lòng thương mẹ dạt dào, nhớ công ơn bú mớm, sinh thành, nuôi nấng, nên người con luôn tưởng đến mẹ:

Giữa đêm ra đứng giữa trời,

Cầm tờ giấy bạch chờ lời mẹ răn.

Trải bao gian khổ không sờn,

Muôn đời con vẫn nhớ ơn mẹ hiền.

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

        Đối với công ơn trời biển của mẹ, các người con luôn luôn tìm cách báo đáp ơn sâu nghĩa nặng và làm tất cả những gì có thể làm được để đền ơn mẹ:

         Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

Đói lòng ăn đọt chà là,

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

Đói lòng ăn trái ổi non,

Nhịn cơm nụôi mẹ, cho tròn nghĩa xưa.

Vô Chùa thấy Phật muốn tu,

Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.

Nuôi con chẳng quản chi thân,

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.

Biết lấy gì đền nghĩa khó khăn,

Lên non xắn đá, xây lăng phụng thờ.

            

Đây bát cơm đầy nặng ước mong,

Mẹ ôi, đây ngọc với đây lòng,

Đây tình con nặng trong tha thiết,

Ơn nghĩa sanh thành, chưa trả xong.

Dấn mình gánh nước làm thuê,

Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân.

Mẹ già ở túp lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

           

Ai không làm tròn bổn phận người con đối với mẹ, thì được nghe lời trách móc:

Đi đâu bỏ mẹ ở nhà,

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng ?

        Vì người con hiểu được tình thương của mẹ đối với con, những công lao mẹ đã trải qua để nuôi con cho khôn lớn, nhất là những hy sinh lo lắng của mẹ chìu chuộng con, săn sóc con, chịu cực chịu khổ vì con, nếu chẳng may người mẹ đã qua đời không còn nữa, thời người con đau khổ xót thương là chừng nào. Nhiều bài thơ đã nói lên nỗi lòng của người con mất mẹ. Sau đay là một nỗi lòng của một thiếu nữ mất mẹ:

Năm xưa tôi còn nhỏ,

Mẹ tôi đã qua đời,

Lần đầu tiên tôi hiểu

Thân phận kẻ mồ côi.

Quanh tôi ai cũng khóc,

Im lặng tôi sầu thôi,

Để dòng nước mắt chảy,

Là bớt khổ đi rồi...

Độ nhỏ tôi không tin,

Người thân tôi sẽ mất.

Hôm ấy tôi sững sờ

Và nghi ngờ trời đất.

Từ nay tôi hết thấy

Trên trán mẹ hôn con

Những khi con phải đòn

Đau lòng mẹ la lẫy.

Kìa nhà ai sung sướng

Mẹ con vỗ về nhau

Tìm mẹ, con không có

Khi buồn biết trốn đâu ?

Hoàng hôn phủ trên mộ,

Chuông Chùa lạnh rơi rơi,

Tôi thấy tôi mất mẹ,

Mất cả một bầu trời...

         Dầu cho người con thương không bằng thương mẹ, nhưng chẳng phải như vậy mà người con quên công ơn của người cha, vì vai trò của người cha rất là đặc biệt trong gia đình:

Con có cha như nhà có nóc,

Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

Còn cha gót đỏ như son,

Một mai cha mất, gót con đen xì.

Khôn ngoan như ấm ông cha,

Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ,

Đạo làm con chớ hững hờ,

Phải đem kính hiếu mà thờ từ nghiêm.

       Hình ảnh người cha tuy đã già rồi vẫn phải nuôi con, cũng để lại trong tâm trí người con một nỗi biết ơn vô hạn:

Cha tôi tuy đã già rồi,

Nhưng còn làm lụng để nuôi cả nhà,

Sớm hôm vừa gáy tiếng gà,

Cha tôi đã dạy để ra đi làm.

       Khi mẹ đã mất rồi, người cha đóng vai gà trống nuôi con, lo cho con uống sữa:

Nghiêng bình mở hộp nút ra,

Con ơi, con bú cho cha yên lòng.

       Tuy vậy, vai trò giáo dục trong gia đình, người cha đặt nặng hơn, và giáo dục thường hay nghiêm khắc, và như vậy ảnh hưởng tốt đẹp cho người con. Khi được một người cha nghiêm minh dạy bảo, có tác dụng hơn người mẹ nhiều: “Mẹ đánh một trăm, không bằng cha ngăm một tiếng”.

 II. QUA TRUYỆN KÝ:

        Vai trò giáo dục của người cha lại càng nổi bật hơn trong câu truyện của Nguyễn Trãi được cha là Nguyễn Phi Khanh khuyên bảo. Nhờ vậy, ông trở thành một nhà ái quốc văn võ kiêm toàn, phò Lê Lợi đánh đuổi quân Minh và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Ông Phi Khanh thân sinh của Nguyễn Trãi, vì phò Hồ Quý Ly chống lại quân Minh, nên khi Hồ Quý Ly thất trận bị bắt, Phi Khanh cũng bị bắt theo và áp giải đi Nam Kinh chịu tù đày. Hai con trai của ông là Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Hùng cũng đi tiễn đưa cha lên đến ải Nam Quan. Bấy giờ Phi Khanh đã biết mình già yếu, nước mất nhà tan, lại bị tù đày, chắc sống cũng không bao lâu. Thấy hai con lẽo đẽo theo sau từ xa, thương cha đều khóc đỏ ngầu cả hai con mắt.

        Phi Khanh biết Nguyễn Trãi có chí lớn, có khả năng làm nên đại sự sau này, nên khuyên Nguyễn Trãi như sau: “Ta già rồi, chết cũng không còn hối hận nữa. Duy bình sinh, ta rất ưa thích sơn thủy núi Bái Vọng ở chốn cố hương. Vậy để một mình em con đi theo ta, hễ ta có chết thì nó nhặt lấy xương đem về chôn ở núi ấy là đủ rồi; còn con, ta khuyên con nên trở về. Lâu nay xem thiên văn, ta biết sau đây hơn mười năm, tất có một vị chân chúa nổi lên ở phương Tây, con là người có học có tài, bây giờ nên đi theo vị chân chúa ấy để rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới chính là đại hiếu. Lọ là phải cứ đi theo cha, khóc thút thít như đàn bà ấy mới là hiếu hay sao ?”

        Nhớ lời khuyên của cha là Phi Khanh, Nguyễn Trãi trở về, sau tìm Lê Lợi phò giúp, đánh đuổi đươc quân Minh, giành lại độc lập tự do cho xứ sở, vừa trả thù được cho cha. Người cha đã đóng đúng vai trò giáo dục của mình là giáo dục con cái trở thành những người công dân giúp nước lợi dân ( x. Nguyễn Trãi, Trúc Khê, Tao Đàn, tr 15 ).

        Ngang qua các câu ca dao, các câu cách ngôn, các mẫu chuyện, chúng ta dã thấy lòng người Việt Nam đối với cha mẹ như thế nào, lòng thương cha mến mẹ của người Việt Nam đã được truyền thống dân tộc Việt Nam hun đúc, tác thành, ăn sâu vào tâm khảm của người Việt Nam. Ngoài ra, người Phật Tử Việt Nam lại được đạo Phật dạy thêm nhiều về chữ hiếu soi sáng thêm nghĩa vụ làm cha mẹ, nghĩa vụ làm con, và nhờ vậy chữ Hiếu lại càng ảnh hưởng sâu đậm vào người Phật Tử Việt nam, vào tâm tư hành động của người Việt Nam.

Tâm Hiếu là tâm Phật,

Hạnh Hiếu là hạnh Phật.

Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU

(theo Ephata 182) 

VỀ MỤC LỤC


 

LỄ HỘI VU LAN

  Nguồn gốc lịch sử của lễ hội Vu Lan

Vu Lan hay Vu Lan Bồn là phiên âm từ tiếng Phạn Ullambana, dịch sang tiếng Hán Việt là Giải Đảo Huyền, nghĩa là cởi trói cho người bị treo ngược. Đảo Huyền là hình phạt đau khổ nhất cho loài ngạ quỉ (quỉ đói). Người bị treo ngược không hề được ăn uống nên bị đói khát giày vò suốt ngày rất đau khổ. Vì thế, Ullambana hay Giải Đảo Huyền có nghĩa cứu vớt những vong hồn đang phải chịu những hình phạt đau đớn vì nghiệp chướng do mình gây nên khi còn ở trần gian. Vì thế, lễ Vu Lan còn gọi là lễ Xá Tội Vong Nhân.

Tương truyền, lễ Vu Lan có nguồn gốc từ Đức Phật, khi Ngài chỉ cho đệ tử của Ngài là Mục Kiền Liên (Maudgalyayana) cách cứu mẹ mình khỏi hình phạt của kiếp ngạ quỉ. Về sau, các Phật tử cũng áp dụng phương cách đó để cứu những vong hồn thân nhân của mình.

Kinh Vu Lan (Ullambanapatra-sutra) chép rằng:

Mục Kiền Liên, một trong những vị đại đệ tử của Phật, nổi tiếng nhất về lòng hiếu thảo và về thần thông, sau khi chứng quả La Hán, bèn nhớ đến công ơn cha mẹ và muốn báo đền. Nhờ có đạo nhãn, ông thấy mẹ mình đang bị đọa làm loài ngạ quỉ, thân thể ốm gầy, da bọc xương, bụng lớn đầu to, đói khát suốt năm không được ăn uống. Thương xót quá, ông bèn vận thần thông, bưng chén cơm đang ăn đến chỗ mẹ ở để dâng mẹ. Bà mẹ vì quá đói khát, nên khi được cơm, lòng tham nổi lên, sợ người cướp giật, lấy tay trái che giấu chén cơm, còn tay mặt bốc ăn. Bởi lòng tham độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên, nên vừa đưa cơm vào miệng, thì cơm hóa thành lửa, bà chẳng ăn được chút nào.

Mục Kiền Liên hết sức đau khổ, khóc lóc thảm thiết. Ông trở về bạch Phật, thuật lại câu chuyện và cầu Phật chỉ dạy phương pháp cứu độ thân mẫu. Phật dạy rằng:

«Này Mục Kiền Liên, mẹ của ông do lòng tham lam độc ác đã tạo ra tội lỗi nặng nề trong nhiều kiếp, nay sinh trong ác đạo làm loài ngạ quỉ, nên không thể một mình ông cứu độ được. Dẫu lòng hiếu thảo của ông vô cùng lớn lao cũng không sao chuyển được hoàn cảnh, chẳng khác gì chiếc thuyền con, không thể chở được tảng đá lớn. Vậy ông phải nhờ oai thần của chúng tăng trong mười phương, «thập phương chúng hội» đức lớn như biển, mới cứu độ mẹ ông được giải thoát. Ta sẽ chỉ cho ông phương pháp cứu độ mẹ ông.

«Này Mục Kiền Liên, ngày rằm tháng bảy là ngày tự tứ (1) của chư tăng khắp nơi, sau ba tháng an cư kiết hạ (2), các chư tăng tiến bộ rất nhiều trên đường tu học. Nhân ngày ấy, ông hãy làm lễ Vu Lan Bồn để báo hiếu cho mẹ ông.

«Ông hãy sắm sửa đủ các món ăn chay, năm thứ trái cây, cùng hương dầu đèn nến, giường chõng chiếu chăn, mùng mền quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay … Tóm lại, là đủ bốn món cúng dường quí báu trên đời. Rồi ông phải thân hành đi rước các vị đại đức trong mười phương, hoặc những vị thiền định trong núi rừng chứng được bốn quả thánh, hoặc các vị bồ tát thị hiện làm thầy tỳ kheo … Ông phải thành tâm kính lễ trai tăng cúng dường và thỉnh cầu chư tăng chú nguyện (3) cho vong linh mẹ ông được thoát khổ. Nhờ công đức chí thành chú nguyện, vong linh mẹ ông sẽ được siêu thoát. Cũng như tảng đá dù nặng trăm cân, nhưng có nhiều người khiêng thì dời đi đâu cũng được».

Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng bảy làm lễ Vu Lan, sắm đủ các vật liệu, rước chư tăng đến cúng dường, nên vong mẫu của ông thoát khỏi kiếp ngạ quỷ sinh về cảnh giới lành. Sau đó, Mục Kiền Liên hỏi Phật xem những Phật tử khác muốn cứu độ cha mẹ mình có thể dùng phương pháp đó không. Phật trả lời:

«Quí lắm! này Mục Kiền Liên, đời sau, nếu có ai vì lòng hiếu thảo muốn đền đáp công ơn cha mẹ hiện tại hay quá khứ, thì cứ ngày rằm tháng bảy làm lễ Vu Lan này để cúng dường trai tăng. Nhờ công đức của chư tăng chú nguyện, cha mẹ hiện tại được tăng phúc thọ, khỏi những điều tai họa khổ não, còn cha mẹ bảy đời trước thì khỏi bị khổ ngạ quỉ, được sinh trong cõi Nhân hay Thiên, hưởng phúc vui vẻ không cùng».

Từ đó về sau, cứ đến ngày rằm tháng bảy, các hàng Phật tử chí hiếu đều làm lễ Vu Lan để đền đáp công ơn cha mẹ dẫu còn sống hay đã mất. Ngoài ra, họ còn tưởng nhớ và chú nguyện cho cửu huyền thất tổ, các ân nhân, thân nhân, bạn bè, những người quen biết đã quá cố sớm được vãng sinh nơi Phật Quốc.

Phật giáo chân truyền dạy như thế. Nhưng tín ngưỡng nhân gian có pha trộn nhiều điều khác. Chẳng hạn, do ảnh hưởng của Đạo giáo, quần chúng cho rằng ngày ấy, ở âm phủ, quỉ sứ mở cửa địa ngục cho các vong hồn bay về dương thế để tha hồ ăn hưởng, rồi sau đó lại phải bay về âm phủ. Vì thế, họ nảy sinh lòng thương xót đối với các vong hồn. Dần dà tục cúng cô hồn tháng bảy trở thành một tập tục dân gian.

Mô tả lễ hội Vu Lan

Đầu tháng 7 âm lịch, Phật tử cũng như nhiều người ngoài Phật giáo, bắt đầu tưởng nhớ tới tổ tiên, cha mẹ, những người thân quen đã khuất bóng, một cách đặc biệt hơn bình thường. Nhiều người ăn chay, niệm Phật, làm phúc, đến chùa nghe thuyết pháp. Để chuẩn bị cụ thể hơn, người ta để dành tiền, quần áo, thực phẩm, thuốc men để cúng dường (= kính biếu) chư tăng ni vào ngày lễ, đồng thời để mua những đồ cúng tổ tiên trên bàn thờ suốt hai tuần cuối tháng 7.

Từ ngày áp lễ (ngày 14-7), bầu khí ở các chùa chiền đã bắt đầu nhộn nhịp tưng bừng hẳn lên. Nhiều Phật tử đã đến chùa để đảnh lễ Phật và cầu nguyện. Chung quanh chùa, người ta bày bán la liệt nhang hương, kinh Phật (nhất là kinh Vu Lan), các lồng chim (để phóng sinh), v.v… Bầu khí lễ lạc ở các chùa càng lúc càng làm cho tâm hồn người Phật tử lâng lâng, sốt sắng, như tiếp xúc được với thế giới vô hình.

Ngày rằm, chùa càng lúc càng đông người. Tới khoảng 11 giờ trưa, chùa đầy người: lễ Vu Lan bắt đầu cử hành. Ngoài sân cũng như trong chùa, các trường phương bảo cái (= cờ Phật giáo dạng phướn có lọng che) rải rác khắp nơi. Các cột trong chùa cũng treo cờ. Bàn thờ Phật, bàn thờ các Tổ đèn nến sáng chưng, hoa quả, nhang khói nghi ngút.

Một hồi trống bát nhã nổi lên báo hiệu lễ Vu Lan bắt đầu, mọi người im lặng. Trong chùa, ngoài các Phật tử đứng đối diện với tượng Phật ở chính điện, còn có nhiều tăng ni bận lễ phục trang trọng được mời ngồi trên ghế trước mặt các Phật tử. Vị sư trụ trì đứng ra nói vài lời khai lễ, rồi mời một vị thượng tọa trong số các tăng ni có mặt tại đó khai pháp. Vị này giảng ý nghĩa của lễ Vu Lan. Sau thời pháp là thời kinh: mọi người đều cùng nhau tụng kinh Vu Lan – nói về công ơn cha mẹ và bổn phận phải hiếu thảo đối với cha mẹ – một cách nhịp nhàng theo nhịp mõ.

Tụng kinh Vu Lan xong, các tăng ni được mời sang phòng Thọ Trai ăn một bữa cơm chay. Bất kỳ ai có mặt tại đó, dù không phải là Phật tử, nếu muốn, đều có thể cùng dùng bữa với các tăng ni (4). Sau lễ thọ trai, là nghi thức cúng dường còn gọi là lễ Tạ Pháp cũng tại phòng đó. Các tăng ni được các Phật tử cúng dường mỗi người một gói. Trong gói đó có thể là quần áo, mùng mền, thuốc men, thực phẩm, tiền bạc, hay những đồ vật thường dùng. Sau khi vị thượng tọa đại diện cho các tăng ni được cúng dường cám ơn các Phật tử, lễ Vu Lan chấm dứt. Tất cả mọi người ra về trong bầu khí tưng bừng vui vẻ. Buổi lễ kéo dài từ 11g00 đến 12g30 hay tới 1g00 trưa.

Những tăng ni được cúng dường thường là những vị có uy tín, được các Phật tử yêu mến, ở những vùng chung quanh, cũng có khi ở những tỉnh xa được mời tới. Những quà tặng đó là do các Phật tử tùy lòng hảo tâm đóng góp. Ý nghĩa của việc cúng dường là để tỏ lòng biết ơn đối với Tam Bảo (Phật–Pháp–Tăng) mà các vị là đại diện. Tại các chùa lớn, số các tăng ni được mời có thể lên tới hàng trăm. Tại các chùa nhỏ, có thể khoảng 20, 30 vị.

Sau lễ, các Phật tử đi vãng cảnh chùa, hết chùa này tới chùa khác. Họ có thể đi theo đoàn thể do chùa tổ chức để tham quan các cảnh chùa ở xa. Đó vừa là một cuộc hành hương, cầu nguyện, vừa là một cuộc giải trí mang tính cách hội hè.

Kể từ ngày rằm tháng 7 cho đến cuối tháng, các Phật tử ngày nào cũng đọc kinh Vu Lan tại bàn thờ gia đình hay tại chùa, đồng thời ăn chay niệm Phật, làm phúc bố thí, để tưởng nhớ, chú nguyện, và hồi hướng công đức cho cha mẹ ông bà và tất cả những người quá cố khác, kể cả những vong linh mồ côi vất vưởng đó đây (gọi là cô hồn). Trong nửa tháng này, bàn thờ Phật trong nhà lúc nào cũng trưng bày nhang đèn, bông hoa và ngũ quả (5 loại trái cây). Theo phong tục, gia chủ tùy nghi chọn riêng một ngày nào đó trong nửa tháng này để làm lễ cúng cô hồn ở phía trước nhà. Cúng xong, họ thường tung gạo, muối, trái cây, bánh kẹo, tiền bạc … – vừa được dùng làm lễ vật để cúng – ra bốn phương với ý nghĩa để các cô hồn hưởng dụng.

Phần ghi chú

(1) Ngày Tự Tứ: Ngày chư tăng phê bình sửa lỗi cho nhau.

(2) An Cư Kiết Hạ: Thời gian (ba tháng) Phật qui định chư tăng ở mỗi địa phương phải hội về một nơi thuận tiện để chuyên tu mỗi năm, từ 16-4 đến 15-7 âm lịch.

(3) Chú nguyện: Chú = chú ý, tập trung tư tưởng hay năng lực tinh thần vào việc gì; Nguyện = cầu mong, ước muốn. Chú nguyện là tập trung hết năng lực tinh thần của mình để ước muốn điều gì.

 Chú nguyện khác với cầu nguyện ở chỗ: chú nguyện là dùng chính sức mạnh tinh thần của mình để thực hiện hay đạt được điều mình muốn; còn cầu nguyện là xin Thiên Chúa hay thần linh thực hiện điều mong ước ấy.

(4) Đây là một đặc điểm rất hay của Phật giáo: vào những ngày mùng 1 và ngày rằm mỗi tháng, mọi người tới tham dự các lễ hội – dù không phải là Phật tử – đều có thể dùng cơm chay trong chùa trước khi ra về. Đây là một điều gây rất nhiều thiện cảm nơi người dân, khuyến khích cả những người ngoài tôn giáo đến dự các lễ hội, nhờ đó họ được nghe những điều hay lẽ phải trong Phật giáo, và giáo lý của Phật ảnh hưởng trên đời sống họ.

Gs.Nguyễn Chính Kết

VỀ MỤC LỤC


 NHỚ ƠN CHA MẸ

Thân, tâm con có  hôm  nay

Nhờ   ơn  Cha Mẹ những ngày xa xưa.

 Lễ Vu Lan nhớ ơn Cha Mẹ

Bao công lao dưỡng dục sinh thành

Vì ai nên mới có mình ?

Trông nom, bú mớm hết tình với ta !

 

Thuở còn nhỏ cho ta đi học

Mong sau này ta được thành nhân

  Làm vinh Quốc tổ, quốc dân

Làm vinh dòng giống con dân Lạc Hồng.

 

Khi khôn lớn gả  chồng,  dựng vợ

Lo cho ta như đũa có đôi

Gia đình nề nếp,  mai rồi

Sinh con đẻ cháu đời dời truyền lưu.

 

Lúc về hưu người già khó tánh

Ta lựa lời hợp cảnh, hợp tình

Gửi thưa lễ phép phân minh

Sao cho xứng với tâm tình đạo con.

 

Chớ bao giờ dùng lời hỗn láo

Cũng chẳng nên cao ngạo ta đây

Dù ta tiếng Mỹ, tiếng Tây

Dù danh phận lớn ông này, bà kia.

 

Nên khuya sớm thần hôn định tỉnh

Ðạo làm con phải nhớ luôn luôn

Núi Thái Sơn - Nước trong nguồn

Làm con Ðạo Hiếu phải cho vuông tròn.

 

Little Saigon, Lễ Vu Lan

Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

(Trích NHƯ ÁNG MÂY TRÔI)

             

GRATITUDE TOWARD OUR PARENTS

 

We want to show our gratitude toward our parents

on the occasion of Vu Lan ceremony,

They did so much things for us:

giving birth, feeding and teaching.

Thanks to them, we are present in this world,

They also took care of us very carefully.

 

When we were young,

 they sent us to school,

They expected us to become good people,

And become good citizens

who made our ancestors, countrymen and nation proud.

 

When we were growing up,

they were worried about our marriage.

Once we find our soul-mates,

matched like a couple of chopsticks,

we’ll start our families.

Soon there will follow grandchildren,

 great grandchildren

down through the generations.

 

When our parents retire,

that’s the time they get older.

They become fastidious some times,

Therefore, we need to choose our words carefully

 and with courtesy.

In order to fulfill our duty as children.

 

Do not use any rude words,

or arrogance with our parents;

Though we’re able to speak English

or French fluently,

And have a high position in the society,

We need to speak humbly

and politely with our parents.

 

Moreover, we should visit  our parents very often,

We always need to remember

to accomplish our duty

toward  our beloved parents.

Their merit is incomparable.

 Little Saigon, Vu Lan Ceremony

Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

 

      VỀ MỤC LỤC                                   


 Kitô Hữu trước thềm Thời đại mới

Chương I

Chúa Giêsu Kitô chất vấn Kitô hữu ( tiếp theo)

      4-     Thế giới chất vấn Kitô hữu

     Trước đây, Kitô giáo sinh hoạt ở giữa các dân tộc có truyền thống Kitô giáo lâu đời, một phần lớn nhờ vào khung cảnh gia đình, vào bối cảnh xã hội chung quanh, vào các giá trị Kitô giáo được mọi người nhìn nhận như một chuẩn mực, ít nhất là trên nguyên tắc.

     Ngày nay, truyền thống tự động như thế không còn linh hoạt nữa: người ta làm người Kitô hữu không phải vì thừa hưởng gia sản Kitô giáo của cha ông.

     Các bạn trẻ muốn tự mình quyết định lấy các giá trị cuộc sống mình, và vất bỏ hoặc bị chi phối đây đó để muốn vất bỏ những gì thuộc truyền thống gia đình, xã hội, Giáo hội. Những thách đố thời đại mới ấy chất vấn chúng ta. 

     Khi nói đến một “Kitô hữu”, ngày nay chúng ta muốn nói đến ai đây? Có phải là những kẻ chỉ mang danh Kitô hữu? Họ thực sự có tin không?  Tin với niềm tin thâm sâu, dấn thân, và chính đáng không? Đức cha Riobé hông ngại viết như sau:

     “Có ít người hành đạo chuyên cần, nhưng vấn đề thực sự là có được bao nhiêu người tin và họ làm gì để chứng minh đức tin của họ đáng cho kẻ khác tin”.

     Chúng ta phải nêu lên thật rõ cốt lõi, hay chính cái hồn của sứ điệp Kitô giáo. Chúng ta đã từng nỗ lực “ban bí tích” (sacramentaliser) cho dân Chúa càng nhiều càng tốt, nhưng chúng ta đã không “Phúc-âm-hóa” (évangéliser) dân ấy một cách đầy đủ. Đó là hoàn cảnh thực sự hiện nay.

     Kitô hữu phải ý thức một cách thành thực và thâm tín hơn về đức tin của mình. Phải giúp cho nhiều người trong họ biết vượt qua một nếp sống Kitô giáo vì nhu cầu, tập tục xã hội để sống một cuộc sống Kitô hữu toàn diện, biết cân nhắc chọn lựa kỹ càng, dựa vào một sự gia nhập theo quyết định của mỗi cá nhân.

     Giáo-hội ngày mai sẽ gồm những Kitô hữu biết chiến đấu với xã hội chung quanh để đi đến một sự chấp nhận đức tin theo thâm tín của chính mỗi người, rõ ràng, công khai và trách nhiệm. Đó là Giáo-hội của ngày mai.

     Đây là gút thắt của vấn đề: ngày nay làm thế nào để Kitô hóa từng khối người có danh là Kitô hữu mà thôi, để họ sống đức tin Kitô giáo thực sự?  Một giáo hội chỉ có người “giữ đạo” mà thôi chưa đủ: cần phải có một giáo hội “tuyên xưng đức tin”. Chúng ta cần làm chứng cho đức tin của chúng ta và phải sống đức tin ấy.

      Kitô giáo ư? Đó là Đức Giêsu-Kitô, hiện diện trong chúng ta và phải tỏa rạng ra xuyên qua chúng ta. Kitô giáo trước hết không phải là một bộ lý thuyết, một luật sống nào đó, nhưng trước hết là một giao ước sống với Thiên Chúa. 

      Một tác giả Chính-thống giáo, linh mục Alexandre Men, đã chịu tử đạo, nhấn mạnh đến khía cạnh sinh động đó qua mấy hàng chữ nầy:

     “Người ta nói rất đúng thế nầy: Đức Kitô đã không để lại cho chúng ta một hàng chữ viết nào cả như Platon với những đối thoại của ông. Ngài cũng không trao lại cho chúng ta một bản điều luật nào như Maisen. Ngài không đọc cho người ta viết ra cuốn kinh Coran như Mahomet. Ngài không lập ra một lối tu hành như Đức Phật. Nhưng Ngài đã nói: “Ta ở với các ngươi cho đến ngày tận thế”. Chính đây là kinh nghiệm sâu xa nhất của Kitô giáo”

       5- Kitô hữu trong trần thế nhưng không thuộc về trần thế

    Mỗi Kitô hữu phải sống hai ơn gọi: là con của Chúa, họ được gọi để mến yêu Chúa, phụng sự Chúa, làm cho kẻ khác yêu Chúa, và đồng thời là con của con người, họ phải đáp ứng mọi đòi hỏi của tình liên đới chân thật với nhân loại. Chúng ta phải sống cùng một lúc giới răn thứ nhất và giới răn thứ hai; nhưng không đảo lộn trật tự các ưu tiên. Chúng ta phải tôn trọng hai nghĩa vụ nầy; một đối với Chúa, và một đối với con người.

     Các bản văn mục vụ ngày nay không ngừng nhấn mạnh đến bổn phận của chúng ta trong việc hiện diện giữa đời. Nhưng vì nhấn mạnh một chiều, mà nay cần phải có một sự quân bình và bổ sung. Mỗi một thời nêu lên những điểm mạnh phản ứng lại những thiếu sót và sai trái của thời đi trước. Nhưng lâu lâu ta cần tạo sự cân bằng, ý thức những chân lý bổ túc.

     Như nhịp triều lên xuống điều hòa của đại dương, ngày nay cần ý thức sự cân bằng cần phải phục hồi trong nhịp sống của Giáo hội để nhấn mạnh đến sự kiện nầy: Kitô hữu không phải chỉ cần hiện diện giữa trần thế mà thôi, nhưng họ cũng còn phải đủ sức chống lại trần thế, chống lại một thứ thế gian nào đó mà Chúa Giêsu không cầu nguyện cho thứ ấy.

      Chúng ta biết đến những lời Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha cho các môn đệ Ngài trong bữa tiệc ly:

Con cầu nguyện cho họ;

Con không cầu nguyện cho thế gian

Con đã ban cho họ lời của Cha

Và thế gian đã ghét họ.

Vì họ không thuộc về thế gian,

Cũng như con đây không thuộc về thế gian.

(Gioan 17, 9 và 11).

     Việc chống lại thế gian ấy cũng là một phần của Phúc-âm. Chúa Giêsu đã không hề dấu môn đệ là họ sẽ là những dấu chỉ mâu thuẫn, như chính Ngài đã từng như thế; nhưng Ngài hứa ban cho họ một sự an bình bên trong uy dũng hơn là hận thù chắc chắn sẽ đón chờ họ.

    Chúa Giêsu không bao giờ nói đừng nên có kẻ thù. Ngài chỉ nói... là phải yêu kẻ thù. Khác đấy chứ, và đâu phải dễ!

    Cám dỗ của Kitô hữu hôm nay là dễ dàng chấp nhận các tiêu chuẩn phán đoán và mẫu mực giá trị của môi trường chung quanh đang chi phối họ. Nhưng, mãi hút khí ô nhiễm, độc hại vô cùng!  Kitô giáo thời khởi thủy đã từng biết đứng cách biệt với lối định giá đạo đức của xã hội đương thời.

    Kitô hữu ngày nay và Kitô hữu tương lai vẫn luôn phải chu toàn trách nhiệm sống trung thành với hai nghĩa vụ đối với Thiên Chúa và đối với con người, trong ánh sáng của Chúa.

Hồng Y LJ.SUENENS ( còn tiếp )

VỀ MỤC LỤC 


Huyền Sử của Việt Nam:

Con đường LUYỆN VÀNG của Con Rồng Cháu Tiên

 

Chương Một :

Nguồn gốc Rồng Tiên ( Tiếp theo )

Phần HAI : Bốn NHU CẦU sinh hoạt và Ba chiều kích làm người của chúng ta

      Dựa vào kỹ thuật « Sáu chiếc mũ » của Ed. de BONO, mỗi người có thể phát hiện trong những câu chuyện huyền sử, những hướng đi, những ý nghĩa độc đáo cho cuộc sống làm người.  Điều cốt yếu cần ghi nhận trong cách làm nầy, là chúng ta tạo ra những cơ hội, để chia sẻ với người khác những khám phá riêng tư của mình. Và đồng thời, chúng ta lắng nghe kẻ khác một cách cẩn trọng  – nhất là những ai thuộc giới trẻ - khuyến khích và kêu mời họ diễn tả ý kiến của mình, cho phép họ nói về bản thân, quê hương và anh chị em đồng bào, một cách chân thành  và cởi mở. Trong lòng đất nước, mỗi người trong chúng ta – bất kể là ai, thuộc thành phần nào - đều là một Thánh Gióng, hay là một Phù Đổng Thiên vương. Trước ba tuổi, chúng ta chỉ là một đứa bé khuyết tật, không biết đi, không biết nói. Nhờ bà con họ hàng cho ăn, cho mặc, cho ngựa, cho gươm, Thánh Gióng ba tuổi  trở thành một chiến sĩ 30 tuổi, có khả năng lên đường, dẹp tan giặc Ân, đem lại thanh bình cho quê hương và xứ sở. Sau cuộc chiến thắng, Thánh Gióng, 30 tuổi, đã trở thành một thần linh của Đất Nước có tầm cỡ 3.000 tuổi và có khả năng tự mình bay lên trời, trở về với Mẹ Au Cơ. Câu chuyên về Thánh Gióng được trình bày như vậy không phải là hoàn toàn hoang tưởng và bịa đặt. Trái lại, qua cách nói đầy hình tượng ấy, Tổ Tiên muốn gây ý thức rang :  trong tâm hồn của mỗi người, có một Thánh Gióng nho nhỏ đang còn nằm ngủ, chờ đợi chúng ta đánh thức dậy, cho ăn, cho mặc  -  về mặt vật chất cũng như tinh thần – để có thể đứng dậy, lên đường, nghe theo tiếng gọi của quê hương.

      Thay vì đồng hóa với Thánh Gióng, chúng ta có thể đội chiếc mũ ĐEN lên đầu, để thấy mình mang da thịt và tâm hồn của Mỵ Châu. Trong một phút giây điên dại và mất tỉnh thức, chúng ta đã tạo ra cơ hội, để cho ngoai bang phương Bắc đánh cắp chiếc nõ thần bảo quốc mà Tổ Tiên đã trối trăng lại, từ bao nhiêu đời. Câu chuyện « Sơn Tinh và Thủy Tinh » cũng có một ý nghĩa tương tự : chính chúng ta đã tạo nên những tai ương hoạn nạn cho đất nước của chúng ta. Chúng ta làm «  gà một nhà bôi mặt đá nhau ». Ngược lại, nếu Sơn và Thủy biết chấp nhận và nhìn nhận  nhau, họ có dư thừa mọi tài năng,  khả dĩ làm cho Nước Non vui hưởng  thanh bình và Núi Sông trở nên thịnh vượng.

      Trong khuôn khổ của bài chia sẻ nầy, thay vì trình bày quá nhiều chi tiết, tôi chỉ mạo muội khảo sát hai vấn đề thiết yếu được nêu ra trong câu  chuyện huyền sử về nguồn gốc Rồng Tiên của người Việt Nam.

      Thứ nhất, đâu là vấn đề muôn thuở , người Việt Nam phải đương đầu, nhận diện  qua các thời đại khác nhau ?

        Thứ hai, Tổ Tiên đề nghị cho chúng ta những phương hướng hóa giải như thế nào ?

      Tất cả cốt lõi của vấn đề và phương cách giải quyết được thu tóm trong câu nói trao đổi giữa Lạc Long Quân và Bà Au Cơ như sau  :

      « Ta thuộc giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khác nhau, người thích ở cạn, người ưa ở nước, tính tình đôi bên khác nhau…không cùng ở chung với nhau một nơi lâu được. Bây giờ một nửa các con theo tôi về Thủy phủ, còn một nửa thì ở lại với mẹ. Tuy đôi bên, kẻ ở rừng, người ở biển, song đến khi có việc gì, thì tin cho nhau, không được bỏ nhau ».

*   *   *

     Sứ điệp nầy chuyển tải ở bên trong rất nhiều hình tượng, cô động lại với nhau và chồng chéo lên nhau,thậm chí mang nhiều chi tiết mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên, khi dùng kỹ thuật « Sáu chiếc mũ », để nghiên cứu, khảo sát và nghiền ngẫm sứ điệp ấy, chúng ta có thể khám phá ít nhất ba tầng lớp ý nghĩa sau đây :

     Tầng thứ nhất, KHÁC BIỆT là nét đặc trưng nổi bật nhất của người Việt Nam. Hẳn thực, khi  người Việt Nam có dịp chung sống với một người khác, điều đầu tiên được họ khẳng định một cách nhanh chóng và quyết liệt, trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi, là : Tôi khác bạn, bạn khác tôi. Chính nhờ tư cách đặc biệt nầy, người Việt Nam đã có khả năng xua đuổi quân Hán, quân Tống, quân Nguyên, quân Minh và quân Thanh ra khỏi đất nước của mình. Thêm vào đó, sau một ngàn năm bị ngoại bang đô hộ, chúng ta vẫn duy trì tiếng nói, y phục, phong tục và văn hóa độc đáo của mình.Khi khẳng định nét khác biệt như vậy, người Việt Nam khẳng định chính bản sắc hay là chân tướng của mình.

      Tầng thứ hai, chính nét KHÁC BIỆT ấy cũng là đầu dây mối nhợ phát sinh mọi xung đột và hận thù, chia rẽ và chiến tranh, trong lòng quê hương đất nước. Chính vì nét khác biệt ấy, đã bao nhiêu lần, chúng ta không chấp nhận ngồi lại với nhau. Thay vào đó, chúng ta đã tạo nên những con sông Nhật Lệ, những vĩ tuyến 17, trong quả tim của chúng ta.

       Tầng thứ ba, khi nào người Việt Nam thấy được nét KHÁC BIỆT ấy là một THÁCH ĐỐ kỳ hùng, một TÀI NGUYÊN  phong phú và một CƠ MAY diệu vợi, họ có thể thực hiện những kỳ công trọng đại cho đất nước và anh chị em đồng bào. Lúc bấy giờ, họ sẽ trở nên như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi…có kha năng « biến không thành có, chuyển luân Rác nuôi sống những cánh đồng, giữa sa mạc làm tuôn chảy dòng sông, trong chết chốc vun trồng hạt mần sống ». Nói khác đi, NHỜ khác biệt, chúng ta có thể bổ túc, kiện toàn cho nhau. Làm phong phú cho nhau. Sinh thành nhau. Chúng ta trở thành « NHẤT TÂM », theo lối nói của Nguyễn Trãi, nghĩa là mang trong mình một quả tim có khả năng tác động cơ hồ  trăm quả tim. Và một trăm quả tim kết hợp nhau lại làm nên một quả tim duy nhất.

        Để thu gặt những thành quả ấy, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải hội nhập một cách nhuần nhuyển ba bài học trên đây, trong bốn sinh hoạt khác nhau của đời sống tâm lý :

- Sinh hoạt thứ nhất là Hành Đông thực tiển : chấp nhận sự khác biệt giữa ta và người là một thực thể tất yếu. Từ đó, chúng ta cho phép kẻ khác có quyền khác chúng ta, thay vì đàn áp, thanh trừng, loại thải…thậm chí kẻ khác đó đang là một trẻ em hay là con cái của chúng ta.

- Sinh hoạt thứ hai là phát huy một lối nhìn tích cực về người anh chị em đồng hương, đồng bào. Dù với bất cứ nét khác biệt nào, trong lãnh vực chính trị cũng như tôn giáo, họ có quyền được chúng ta lắng nghe, tìm hiểu và tôn trọng. Vì một lý do nào đó, họ có thể sai lầm, vi phạm những hành vi bán nước hại dân. Nhưng chúng ta không có quyền truất phế phẩm giá làm người của họ. Nói theo ngôn ngữ của tổ tiên và cha ông chúng ta, họ vẫn « mang dòng máu RỒNG TIÊN trong huyết quản ».

- Sinh hoạt thứ ba là tìm mọi cách sẵn có trong tầm tay, để hóa giải và chuyển biến những xúc động đau buồn và tiêu cực, đang thúc ép, cưỡng chế chúng ta  dấn bước vào con đường bạo động, hận thù, chia rẽ và chiến tranh.

- Sinh hoạt thứ tư là học tập, tôi luyện những quan hệ hài hòa, lúc tiếp xúc và trao đổi. Chúng ta chọn lựa con đường giáo dục và đối thoại, thay vì thanh trừng, đe dọa, đàn áp, thủ tiêu và ám sát, khi có người không đồng ý với chúng ta. Con đường giáo dục và đối thoại nầy phải bắt đầu được sử dụng trong khuôn khổ gia đình, giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, mới có thể trở nên một phương thức hành động hữu hiệu trong địa hạt xã hội, chính trị và phục vụ đất nước. Nói tóm lại, trong lòng dất nước và quê hương, không có kẻ thắng người thua. Không có chủ ông và người nô lệ. Chúng ta là anh chị em. Khi hai người Việt Nam hợp tác với nhau, họ có khả năng làm nên Đại dương bao la và Bầu Trời cao cả.

      Đó là bốn con đường thể hiện bản sắc « Làm con Rồng cháu Tiên » của chúng ta. Không làm và sống như vậy, chúng ta chỉ là con nộm đa ngôn, hay là con  vẹt lặp lại lời nói của người khác, mà không biết mình đang nói gì, không ý thức mình là ai.

*   *   *

      Xuyên qua tất cả những phân tích và nhận định trên đây, khi chúng ta nhắc lại hay nhớ lại nguồn gốc Rồng Tiên của chúng ta, chúng ta không chỉ làm công việc hồi tưởng một quá khứ xa xưa mà thôi. Chúng ta còn có bổn phận trở về với chính mình, bằng cách chuyển biến sứ điệp của Tổ Tiên thành hiện thực hay là thực tế « ở đây và bây giờ », trong chính con người xương máu của chúng ta.

      Nói theo ngôn ngữ của tác giả E. BERNE, chúng ta đang thể hiện ba chiều kích kết tạo nên bản sắc của con người chúng ta:

      Thứ nhất là chiều dọc : Mỗi người trong chúng ta vừa là đứa con đang thừa kế từ Tổ Tiên một gia tài phong phú. Đó là một giang sơn gấm vóc chạy dài tư Ai Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Đồng thời, chúng ta cũng là người cha mẹ, có bổn phận trối trăn lại cho các thế hệ sau này, một quê hương toàn vẹn và một nền văn hóa đặt nền móng trên Tình Thương, Thứ Tha và Lòng Bao dung. Không nhớ kẻ trồng cây, lúc ăn quả, và không tiếp tục mở mang những vườn cây mới, liệu chúng ta còn là những người có tinh thần trách nhiệm không ?

      Thứ hai là chiều ngang : Chúng ta tất cả đều là anh chị em cùng sinh ra từ một cha và một mẹ, là Lạc Long Quân và Bà Au Cơ. Cho nên “Đồng Hành và Chia sẻ” là con đường tất yếu, chúng ta cần xây đắp và can đảm dấn bước mỗi ngày, cùng với anh chị em đồng bào trên khắp mọi nẻo đường của quê hương.

      Thứ ba là chiều sâu của nội tâm : Hai chất liệu kết tạo nên tâm hồn của người Việt Nam, theo truyền thống Rồng Tiên, là Trọng Đại, Cao Cả như Bầu Trời của Bà Au Cơ, và Bao Dung, Cởi Mở, Đón Nhận mọi người trong lòng Đại Dương bao la giống như Lạc Long Quân. Hơn ai hết, chính Nguyễn Trãi đã nhận thức được chiều sâu nầy, trong lời dạy sau đây:

      “Mở rộng cửa NHÂN, mời khách đến,

      Vun trồng cây ĐỨC, nuôi con ăn”.

     Trong tinh thần và ý nghĩa ấy, chúng ta hãy lắng nghe một cách cẩn trọng và đón nhận làm của mình những lời trăn trối sau đây của Tổ Tiên và Cha Ông chúng ta:

       Con hãy lấy Hạnh của Đất mà sống : Bị người người khạc nhổ, nhưng vẫn kết sinh hoa lợi, cho người người ấm no.

       Con hãy lấy Hạnh của Nước mà sống : Chấp nhận mang vào mình vết nhơ của bao nhiêu bàn tay, để đem về tẩy luyện trong lòng Biển Mặn.

      Con hãy lấy Hạnh của Khí mà sống : Đi vào bên trong lòng mỗi người, để mang dưỡng sinh cho từng tế bào, từng hạt máu, không quên sót một ai.

     Con hãy lấy Hạnh của Trời mà sống : Ở trên cao thật cao. Nhưng đồng thời, ở dưới thấp thật thấp. Không có Trời, Con không có chi hết. Nhưng Trời cũng không có chi hết. Trống Không.

     Con hãy lấy Hạnh của Lửa mà sống : Ai ấm áp cho bằng Lửa ? Nhưng ai khinh thường Lửa, tự khắc người ấy rước họa vào mình. Lửa không phải là Trời. Nhưng Lửa thay thế Trời, khi Con ở trong đêm tối, và trải qua những ngày đông lạnh lẽo.

    Con hãy lấy Hạnh của Đêm mà sống : Nhờ Đêm, một ngày mới bắt đầu trở lại, sau khi nhọc lụy được giấc mơ ủi an, ấp ủ và chuyển hóa. Nhờ Đêm, mắt Con mới thấy được rằng : Tên Con đã được viết sẵn, bằng ánh sao lấp lánh, giữa Đại Dương Ngân Hà của Vũ Trụ.

Gs. Nguyễn Văn Thành ( còn tiếp )

VỀ MỤC LỤC


ĐẸP VÀ XẤU

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

Có những đêm không ngủ, nằm vắt chân lên trán mà suy gẫm chuyện đời, gã nhận thấy :

   - Cục diện thế giới đôi khi chỉ là trò chơi của trẻ nít, cũng kéo bè kéo cánh mà… uỵch nhau. Còn thói đời nhiều lúc chỉ là một cái vòng lẩn quẩn, đi từ thái cực này đến thái cực khác.

     Thực vậy, hồi mới giải phóng, nhà nước đa cấm tiệt đua ngựa và xổ số vì cho đó là một thứ cờ bạc trá hình, cấm tiệt khiêu vũ hay nhảy đầm vì cho đó là đồi trụy, cấm tiệt thi hoa hậu vì cho đó là lạm dụng thân xác phụ nữ…

     Thế nhưng, cùng với thời gian và nhất là cùng với chính sách cởi mở, những cái bị “cấm tiệt” trên kia lại được phục hồi, và bành trướng một cách mạnh mẽ như nấm mọc sau cơn mưa, đồng thới được khoác vào một danh nghĩa mới để “chiềng làng”.

     Xổ số là để kiến thiết là để  xây dựng quốc gia, nên tỉnh nào cũng tranh thủ để mở, rồi xuất hiện thêm loại vé số “cào” như một thứ mì ăn liền, chỉ cần cào ra là liền biết có trúng hay không. Ấy là chưa kể đến nạn số đề, số đuôi ăn theo và tràn nan khắp nơi khắp chốn.

      Khiêu vũ được gọi là múa đôi, dù có cọ quẹt thì cũng là một hình thức nghệ thuật.

     Sau cùng, thi hoa hậu được mệnh danh là một hoạt động văn hóa, nhằm nâng cao cái “gu” thẩm mỹ của quảng đại quần chúng. Vì thế, từ hoa hậu của báo Tiền Phong, gã ghi nhận rất nhiều thứ hoa hậu khác nữa, chẳng hạn như hoa hậu các tỉnh, hoa hậu áo tắm, hoa hậu áo dài, rồi nữ sinh duyên dáng, bà mẹ thanh lịch…

     Vậy thế nào là hoa hậu và người ta đi tìm sự gì qua những cuộc thi hoa hậu ?

     Trong một cuộc trình diễn văn nghệ tại viện Đại học Công giáo ở Đàlạt hồi trước năm 1975, có màn chọn hoa hậu.

     Một số nữ sinh viên bước lên sân khấu. Người dẫn chương trình bèn hỏi ý kiến cha viện trưởng :

     - Theo ý kiến riêng thì cha bàu ai làm hoa hậu ?

     Bị chộp bất ngờ, cha viện trưởng đỏ mặt tía tai, thế nhưng sau cơn  bối rối trong giây lát, cha viện trưởng đã ung dung tuyên bố :

     - Tôi chọn cô này.

     - Tại sao ?

     - Theo tôi nghĩ thì hoa là bông, hậu là sau. Cô này đúng là hoa hậu, vì có một bông hồng được thêu vào vạt sau áo dài của mình.

     Cả hội trưởng đều nhiệt liệt vỗ tay không phải để tán thương câu định nghĩa “chày cối” của cha viện trưởng, nhưng để khen ngợi sự nhanh trí của cha trong một tình huống tế nhị và rất… khó nói.

     Theo sách vở, hoa hậu là người con gái được về nhất trong cuộc thi sắc đẹp, chẳng hạn : hoa hậu thế giới, hoa hậu Châu Á, hoa hậu Việt Nam…

     Trong những cuộc thi này, người ta đi tìm một cái đẹp khách quan. Vì thế, người ta phải công bố số đo vòng một , vòng hai, vòng ba, chiều cao và trọng lượng. Còn thí sinh thì  ít ra cũng phải một lần lên sân khấu trong bộ áo tắm để cho thiên hạ… chiêm ngưỡng.

     Người ta còn treo những giải thưởng khuyết khích cho những “miss” nào có nụ cười duyên, có mái tóc đẹp, có cặp giò thon và có tấm ảnh bắt mắt.

      Để sửa sang và chỉnh đốn cho cái hình dong bên ngoài này, người ta đã tốn không biết bao nhiêu công sức và tiền bạc. Đây quả là một nghệ thuật xứng đáng với đồng tiền bát gạo.

     Trước hết, giới thày thuốc đã nhảy vào vòng chiến. Với lưỡi dao giải phẫu, các vị đã cắt chỗ này xẻ chỗ kia và bơm chỗ nọ theo nhu cầu thẩm mỹ và theo sự đòi hỏi của khách hàng.

     Thế nhưng, chuyện đời nhiều lúc oái ăm, những người muốn làm đẹp chẳng may gặp phải những ông lang băm, những vị thày thuốc dổm, thì chẳng những tiền mất tật mang, mà hơn thế nữa cái sắc đẹp ít ỏi của mình lại sớm tàn phai, ấy là chưa kể tới những bệnh tật và đau đớn như hậu quả tất nhiên của sự trục trặc này.

     Chẳng hạn như bị rò rỉ chất silicom, được dùng để độn cho bộ ngực thêm phần gồ ghề và nhức nhối hay vì tác dụng của kem mà làm cho khuôn mặt bị nám đen…

     Người ta thường bảo :

     - Nhân sao vật vậy.

     Thế nhưng, trong lãnh vực làm đẹp thì lại không phải vậy.

     Nơi loài vật, con đực thường hay làm đẹp và làm dỏm để lấy le và lấy điểm với con cái. Vì thế trong tiếng Pháp, danh từ ‘’Coquetterie’’ có nghĩa là sự làm dáng, bắt nguồn từ chữ ‘’coq’’ có nghĩa là anh gà trống!

     Nơi loài người thì khác, đờn bà con gái vốn được coi là phái đẹp, và nghệ thuật làm đẹp vốn là nghề của quí nường. Thậm chí có kẻ đã tuyên bố một cách hung hăng con bọ xít như sau :

   - Là đờn bà con gái, mà nêu không biết làm đỏm mí lại ăn quà vặt thì hỏng còn là đờn bà con gái nữa.

     Xét về những nơi những chốn được làm đẹp, gã nhận thấy rằng :

     - Hễ hở ra chỗ nào thì quí nường liền vội trang điểm chỗ ấy liền tù tì.

     Từ cái răng cái tóc là góc con người, đến cái môi cái miệng để mà mần duyên thậm chí đến cả cái móng chân móng tay đều được quí nường trau chuốt một cách tỉ mỉ và kỹ lưỡng.

     Chỉ có các nhà chế tạo mỹ phẩm là hốt bạc. Nguyên dầu gội đầu mà thôi thi cũng đã có biết bao nhiêu thứ, đến quỉ thần cũng không nhớ nổi. Nếu có dịp, gã sẽ phệu ra một bài về nghệ thuật làm đẹp của quí nường.

     Chỉ tội nghiệp cho cánh đờn ông con giai như gã có khi phải ngồi chờ cả giờ cho cô em gái bé bỏng trang điểm, hay anh chàng gà tồ bị người yêu nhõng nhẽo cho trễ hẹn vài tiếng đồng hồ chỉ vì những việc lỉnh kỉnh ấy, thì cũng chỉ là…chuyện thường ngày ở huyện.

     Chớ có dại mồm dại miệng mà thở dài thở vắn, mặt xệ xuống như bánh bao chiều, hay đùng đùng tức tối như ‘’tặc dăng’’ nổi giận. Hãy tự an ủi lấy mình :

     - Đây là một dịp thuận tiện để ta tập đức kiên nhẫn, luyện nội công cho mạnh. Ai bền đỗ tới cùng thì sẽ được cứu thoát.

     Thế nhưng, cái đẹp khách quan, cái đẹp có cân đo đong điếm này thì lại rất hiếm và kéo dài chẳng được bao lâu, vì có tuổi trẻ nào mà lại không già, có sắc đẹp nào mà không bị tàn phai.

     Hay như dân Đức vốn thường bảo :

     - Phàm trên cõi đời này có ba thứ phù du hơn hết : đó là tiếng dội, mống trời và nữ sắc.

     Vì thế, khi nói đến cái đẹp, chúng ta thường hiểu là cái đẹp chủ quan, cái đẹp ‘’hợp nhãn’’ với mình.

     Đúng vậy, Voltaire đã tự hỏi :

     - Thế nào là đẹp ?

     Và ông đã mày mò đưa ra một câu trả lời bất hủ và hóm hỉnh. Ông nói :

     - Đẹp chính là con cóc cái dưới mắt con cóc đực.

     Thực vậy, một khi tình yêu đã thâm vào hai bên đã ‘’chịu đèn’’ mí nhau, thì cái nhìn chủ quan sẽ tô hồng mọi sự :

     - Yêu nhau trăm sự chẳng nề,

       Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

   Thậm chí ngay cả đến những chỗ khuyết điểm, người ta vưỡn cứ thấy tuyệt vời :

   - Yêu nhau củ ấu cũng tròn,

     Trái bồ hòn cũng ngọt.

   Ngay cả đến những chỗ xấu, người ta vưỡn cứ thấy đẹp tuốt   luốt :

      - Mũi nàng những tám gánh lông

        Chồng thương chồng bảo râu rồng trời cho.

     - Đêm nằm thì ngáy o o

       Chồng thương chồng bảo gáy cho vui nhà.

     - Đi chợ mất tám tiền quà

       Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm.

   Vì thế, có những cô nường xét về ngoại hình, với cái nhìn khách quan, thì sẽ bị xếp vào hàng thị Nở trong Chí phèo của Nam Cao, hay Chung vô Diệm trong kiếm hiệp của Kim Dung, nghĩa là dưới điểm trung bình xa lắc xa lơ, thế mà vẫn đắt giá, vớ được những ông chồng ngon lành cả về thể xác xác lẫn tinh thần, cả về tiền bạc lẫn địa vị, khiến cho thiên hạ phát thèm, nằm mơ cũng chẳng được, chỉ vì những cô nường này có được những nét duyên… thầm.

     Còn khi tình yêu đã chắp cánh bay đi, thì cô nường xinh đẹp thưở ban đầu liền trở thành ‘’cái con mụ nọ”, “cái con mẹ kia”, để rồi anh chồng đi lang thang tìm kiếm của lạ, theo kiểu :

     - Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.

     Hoặc :

     - Vợ là địch,

        Bồ bịch mới thật là ta.

        Khi chiến sự xảy ra,

        Ta buộc về với địch,

        Nằm trong lòng địch,

        Ta vẫn nhớ đến ta.

     Khi không còn say men tình yêu nữa, thì cái ngày xưa người ta bảo là “cho vui nhà”, thì bây giờ lại trở thành nguyên nhân gây nên đổ vỡ. Người ta lôi nhau ra ba tòa quan lớn để ly dị chỉ vì ông chồng hay bà vợ có tật…”kéo gỗ” mỗi khi nằm ngủ.

     Hay như tục ngữ đã diễn tả :

     - Còn duyên anh cưới ba heo,

       Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi.

     Xem như vậy, cái đẹp khách quan cũng như chủ quan đều khó lòng đứng vững với thời gian. Vì thế, đờn ông con giai và nhất là đờn bà con gái cần phải tìm kiếm cho mình một cái đẹp vượt thời gian, một cái đẹp tự bên trong, xuất phát bởi những nhân đức, chứ không phải là cái đẹp hời hợt bên ngoài, dù có mặn mòi đến đâu chăng nữa cũng không thể đi xa hơn…làn da!

     Chính những nhân đức mới tạo nên cho chúng ta một cái đẹp vượt thời gian, một nét duyên thầm làm cho người khác phải cảm phục và say đắm.

     Các cụ ta ngày xưa đã sớm nhận ra nét duyên ngầm vượt thời gian này, nên đã bảo :

     - Cái nết đánh cái đẹp.

     Hay như một câu tục ngữ khác đã nói :

     - Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,

       Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người.

     Sách  “Cổ học tinh hoa” có kể lại một mẩu chuyện như thế này.

     Dương Chu sang nước Tống, đến trọ ở một nhà kia. Chủ nhà trọ có hai người thiếp. Một người đẹp và một người xấu. Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quí mến người thiếp xấu mà khinh chê người thiếp đẹp.

     Lấy làm lạ, Dương Chu bèn dò hỏi một đứa nhỏ trong nhà trọ. Nó trả lời :

     - Người thiếp đẹp tự tôn là đẹp nên mất đẹp, tôi chẳng biết cái đẹp của nàng nữa. Còn người thiếp xấu tự biết là xấu, nên quên xấu, tôi chẳng biết cái xấu của nàng nữa.

     Bấy giờ Dương Chu gọi đám học trò lại và bảo :

     - Các con hãy nhớ lấy câu ấy. Kẻ giỏi mà bỏ được cái thói tự cho mình là giỏi, thì đi đến đâu cũng được mọi người tôn trọng và yêu mến.

     Kể lại câu chuyện này, tác giả sách “Cổ học tinh hoa” đã góp thêm lời bàn của mình như sau :

     - Đờn bà đẹp mà tự cao tự đắc, người ngoài chỉ thấy cái bộ khoe khoang đáng ghét, chứ không còn thấy vẻ đẹp đáng yêu nữa. Trái lại, đờn bà xấu, tự thẹn mình là xấu, thì người ngoài chỉ thấy cái nét dịu dàng đáng thương, chứ không còn thấy cái xấu xí đáng ghét của nàng nữa. Người đẹp mà bị khinh, còn kẻ xấu mà được quí là như thế đó.

     Cũng từ câu chuyện trên, gã nhớ lại một câu tục ngữ :

     - Người xấu duyên lặn vào trong,

       Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài.

     Phàm cái gì đã bong ra ngoài thì khó mà bền. Còn cái gì đã thấm vào trong thì càng lâu lại càng thắm.

     Viết tới đây, thì hình ảnh mẹ Têrêxa thành Calcutta bỗng tỏa sáng trước mặt gã. Mẹ Têrêxa đứng bên vương phi Diana, quả là hai thái cực trái ngược nhau.

     Vương phi Diana là một cô gái cao ráo, đẹp đẽ. Gã chỉ nói đến cái “hình dong bên ngoài”, chứ chả dám đá động tới những khía cạnh khác, chẳng hạn như : địa vị xã hội, tình cảm cá nhân…

     Trong khi đó, mẹ Têrêxa chỉ là một bà lão không hơn không kém. Thân hình thì thấp bé, họa chăng có cao hơn ông Giakêu được một tí xíu. Còn mặt mũi thì nhăn nheo, mang nặng dấu ấn của thời gian. Áo quần thì thùng tha thùng thình…

     Thế mà lúc còn sống, mẹ đã được biết bao nhiêu người quí mến và khi nằm xuống, mẹ đã được biết bao nhiêu người thương tiếc. Sở dĩ như vậy cũng chỉ vì cái đức của mẹ.

     Phải, cái đức của mẹ chính là nét duyên thầm thu hút mọi người và làm cho cả và thế giới phải khẩu phục tâm phục mẹ hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

     Hình như có một câu danh ngôn, đại khái khuyên chúng ta như thế này :

     - Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người đều vui mừng hớn hở, còn con lại cất tiếng khóc. Con hãy sống thế nào, để khi con nhắm mắt buông tay, mọi người sẽ khóc thương, còn con sẽ vui mừng hớn hở.

     Nét duyên thầm vượt thời gian này ai cũng có thể thực hiện được mà chẳng tốn đồng xu cắc bạc để chạy ra cửa tiệm, lôi về đủ thứ mỹ phẩm lỉnh kỉnh. Đúng thế, ai cũng có thể và phải làm được miễn là biết kiên nhẫn và cố gắng.

     Để kết luận, tôi xin kể lại mẩu chuyện về một người vợ xấu.

     Nguyễn Thị là vợ của Hứa doãn, nhan sắc thuộc loại ma chê quỉ hờn.

     Khi cưới về, thấy nàng xấu quá, Hứa doãn muốn bỏ đi bèn nói :

     - Đờn bà có tứ đức : công, dung, ngôn, hạnh. Nàng được mấy ?

     Nguyễn Thị liền thưa :

     - Thiếp chỉ kém có dung mà thôi.

     Rồi nàng hỏi lại :

     - Kẻ sĩ có bách hạnh, chàng được mấy ?

     Hứa doãn đáp :

     - Ta có đủ cả.

     Nguyễn Thị nói :

     - Trong bách hạnh thì đức là đầu. Chàng là kẻ hiếu sắc chứ không hiếu đức, sao lại bảo là có đủ cả bách hạnh được ?

     Nghe vậy, Hứa Doãn lấy làm xấu hổ và từ đó luôn yêu thương kính trọng vợ mình.

     Thái độ của Hứa Doãn có lẽ chưa đủ để đánh thức những kẻ háo sắc hôm nay. Bởi vì rất nhiều người vẫn cắm đầu cắm cổ chạy theo cái đẹp bên ngoài mà quên cái đẹp bên trong.

     Và mỗi lần đọc trên báo thấy những mẫu quảng cáo tìm người :

     - Cần tuyển nữ nhân viên có ngoại hình đẹp.

     Gã lại ngậm ngùi cho thói đời và xót xa cho những  cô “em-gái-trời-bắt-xấu”.

Thế rồi, gã bèn thở dài thườn thượt và mặt lại cứ dài thoòng ra như…mặt ngựa.

Gã Siêu

VỀ MỤC LỤC

Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực chắp cánh cho GHVN bay lên

 

 

 

*************