Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

 

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@yahoo.ca

Số 2 , Chúa nhật ngày 29.8.04

TRANG ĐẦU                                                      MỤC LỤC

   Giới thiệu Trang mục Thỉnh cầu & Tri ân                                Chứng nhân Đức Kitô

   Chứng Nhân Đức Kitô                                                   Gs. Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

            Đường Dũng Lạc,

          Lối vươn lên triển dương nét văn hoá Việt              Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

    Một Cảm nghiệm về Đức tin                                                     + Gm. GB. Bùi Tuần

    Bài Giảng của Thánh lễ                                                  Lm. Lê Quang Uy DCCT VN

    Sứ điệp Đức Mẹ La Vang                              + Hồng Y Tgm. Fx. Nguyễn văn Thuận

    Tiếng khóc của thiếu phụ                                                     Ông Phêrô Vũ văn Quý

    Kitô hữu trước thềm thời đại mới                                          + Hồng Y L.J.Suenens

           Huyền Sử của Việt Nam                                                       Gs. Nguyễn Văn Thành

    Cái Lưỡi : Chuyện phiếm của Gã Siêu                                                          Gã Siêu

Giới thiệu Trang mục Thỉnh cầu & Tri ân 

trên website www.chungnhanduckito.net

Kính thưa Quí vị,

Thánh Phaolô đã nói : “ Cho thì có phúc hơn là nhận!“

Câu nói này vừa khuyến khích tinh thần bác ái công giáo, vừa nói lên một thực tại trong cuộc sống. Tuy nhiên, mỗi người phải tùy theo hoàn cảnh của mình mà chu toàn Thánh ý Chúa : đã biết nhận lãnh, thì cũng phải biết cho đi.

Thực vậy, nếu được Chúa trao ban dư thừa, chúng ta cũng phải cho đi vô điều kiện! Ngược lại, nếu gặp khó khăn thử thách, chúng ta cần phải can đảm và khiêm tốn cầu xin cùng Chúa và kêu gọi sự giúp đỡ của mọi người.

Trong phạm vi truyền thông, chúng con sẵn sàng đăng tải trên website những “Lời Thỉnh Cầu” của mọi cá nhân và cộng đoàn. Chúng con tình nguyện bắc một nhịp cầu nối kết, làm trung gian trao đổi những thông tin hai chiều, tạo điều kiện thuận lợi để rồi Dân Chúa khắp nơi có thể liên lạc TRỰC TIẾP với nhau  cho việc trợ giúp ấy.

Chớ gì Ý Chúa luôn được yêu mến và thực hiện.

Ngoài ra, trên website này, chúng con cũng có một trang mục mang tên Tri Ân

Với Trang TRI ÂN này, chúng con chỉ mang một ước nguyện đơn sơ và chân thành : Tạo điều kiện để mọi người bày tỏ tấm lòng của mình đối với Chúa và đối với nhau : Tạ ơn Chúa và cám ơn lẫn nhau.

Quí vị hãy viết những lời cám ơn để gửi đến cho những người đã giúp đỡ mình, hay lên danh sách các vị ân nhân của cộng đoàn mình, chúng con sẽ đăng tải và lưu giữ lâu dài trên “phần đất” này. Đây sẽ là phương tiện để mọi người có thể thực hiện việc " Đắc nhân tâm " với nhau.

Lời cám ơn sẽ có được sức thuyết phục lạ thường, khiến người đã trao ban không nuối tiếc những gì mình đã cho, hơn nữa lại còn muốn cho thêm .

Nguyện xin Thiên chúa trả công bội hậu cho những vị ân nhân của chúng con.

Chúng con rất hân hạnh được phục vụ hết mọi cộng đoàn ( và cá nhân ) có những nhu cầu chính đáng .

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Về Mục Lục


 

CHỨNG NHÂN ÐỨC KITÔ

 Thân tặng Ban Biên tập Bán Nguyệt san Chứng nhân Ðức Kitô nhân ngày ra mắt 15-8-2004

                                    

Vâng, tôi muốn là chứng nhân hăng hái!

Là chứng nhân của chính Ðức Kitô

Tìm hăng say nơi các Thánh Tông Ðồ

Tìm tin cậy như trăm ngàn tử đạo

 

Ðường tôi đi – Ðường lành Mẹ chỉ bảo

Kim chỉ nam - Mẹ cấp giữa phong ba

Ðường trần gian – Ðường  gai góc hằng hà

Tôi tiến tới tâm không hề giao động!

 

Ðường tôi đi là con đường hi vọng

Ðem Tin Mừng gieo rắc khắp nơi nơi

Lời Kitô - Lời hằng sống bởi trời

Tôi tận sức - Rồi an tâm phó thác.

 

Chung quanh tôi những bất công, kiêu bạc

Của loài người tranh chấp với mưu sinh

Người nhìn nhau như quỉ dữ, yêu tinh

Rất  hiếm thấy những  tấm lòng nhân ái!

 

Tôi thâm cảm hữu hình là hữu hoại

Cuộc đời rồi tro bụi với hư vô

Là chứng nhân của chính Ðức Kitô

Tôi  suy niệm  giữ  tâm hồn bình lặng.

 

Như đâu đây tôi vẫn nghe văng vẳng:

“Hỡi con yêu! Hãy tín thác nơi Cha!

Dùng thời gian, chút của cải  ngọc ngà

Mà phục vụ những anh em nghèo khổ!

 

“Một chén cơm đỡ lòng người qua bữa

Manh áo này bớt giá  buốt đêm nay

Là hỡi con! Con đã giúp cho Thày

Ðấng Hằng Sống con muôn đời yêu mến!”

Little Saigon, CA 15-8-2004

Xuân Vũ  TRẦN ÐÌNH NGỌC

Về Mục Lục


 

 

ĐƯỜNG DŨNG LẠC,

LỐI VƯƠN LÊN TRIỂN DƯƠNG NÉT VĂN HÓA VIỆT.

Nhìn qua một vùng đất cỏ mọc chỗ vàng chỗ xờ xạc khô chồi, người bình thường chỉ thấy vẻ tiêu điều cằn cỗi, nhưng một nhà địa chất giỏi sẽ nhìn ra dưới lớp đất tàn lụi kia là cả một vùng mỏ dầu đang cần được khai thác.

Nước mình bây giờ vừa nghèo vừa yếu, nghĩ tới mà tủi. Người bi quan thì chỉ thấy những xộc xệch úa tàn, cứ đà này mà chạy theo Đại Hàn hay chú Tàu, chưa nói tới anh Nhật, cũng da vàng mũi tẹt như mình, thì không biết đến đời thuở nào. Góp phần tái thiết thì cũng phải nghĩ tới chuyện ngửa tay đi xin xỏ. Nhưng nếu chỉ vậy thì tương lai mình cũng tù mù lắm! Đừng ngồi chỉ tay đổ tội cho những thế lực chèn ép dân mình, mà phải xét lại cái chất xám hay cái tinh thần của mình. Người mình giỏi giang thông minh như vậy chả lẽ chưa tìm ra con đường nào phục hưng về cả vật chất lẫn tinh thần! Cảnh huống nghèo hèn căn bản là bởi con mắt nhìn, tức hệ tư tưởng, hình thành ra một con đường để mở tới, nếu không thì chỉ là “gà què ăn quẩn cối xay.” Bên dưới cái vẻ nghèo nàn kia là cả một tiềm năng mà chả lẽ chưa ai biết đường khai thác để ngóc đầu lên được! Tinh anh dân tộc đã đến hồi tích tụ chưa hay nước mình đang đi vào hồi mạt vận?!

BÀI HỌC ĐẠI HÀN: NHỜ KHÁM PHÁ RA MỘT CON ĐƯỜNG

Mảnh đất vàng vọt xơ xác kia là hình ảnh thật về nước Kuwait. Cách đây chẳng bao năm Kuwait được tách ra từ Iraq, là một trong những nước nghèo nhất chẳng ai muốn nhớ tên làm gì. Vậy mà bây giờ là một trong những nước giầu nhất thế giới tính theo lợi tức đầu người nhờ khám phá ra có nhiều mỏ dầu dưới lòng đất và được giúp cách khai đào được. Và các nước Âu Mỹ luôn phải tìm ra “chính nghĩa” mà bảo vệ Kuwait vì cái túi tiền đã trót nằm ở đó.

Đại Hàn là một bài học khác ở ngay Á Đông mình. Bây giờ thì nước này đã nghiễm nhiên trở thành con rồng nhỏ về kinh tế ngóc đầu lên từ vòng đai Thái Bình Dương. Vào khoảng thập niên '70, Đại Hàn vẫn còn ngang cơ với nước mình. Vậy mà bây giờ họ bỏ mình lẽo đẽo lệt đệt bò đàng sau quá xa một cách tội nghiệp. Chả lẽ họ thông minh hơn mình, hay họ biết nắm bắt thời thế và cơ hội mà khai thác được mỏ dầu không phải ở dưới đất mà trong lòng dân tộc họ?

Về phương cách Truyền Giáo, Việt nam mình có thể học được gì nơi bài học Đại Hàn? Một giáo hội Đại Hàn phát triển một cách kỳ lạ khiến cho một đại học ở California đã mở cả một phân khoa về phương pháp truyền giáo Đại Hàn. Chính vì họ đã nhìn thấy một con đường đạt được “dũng lạc” góp phần vào phát triển đất nước. Một bài học dấn thân vào đại cuộc trong dòng sống chung của cả một dân tộc chứ không co rúm lại trong vỏ ốc, từ lớp lãnh đạo hòa mình phục vụ cho đến giáo dân đã nói lên sách lược truyền giáo phải bắt đầu từ một giấc mơ chung, một viễn kiến chung (vision) và một đường lối và phương cách (way) thực hiện.

Nói một cách rộng hơn, ngay trong lãnh vực kinh tế và thương mại, một hãng sở phải nghiên cứu rất kỹ về chiến lược và chiến thuật. Vì đó là thách đố cho thành công hay thất bại. Hình ảnh mà Stephen Covey trong “Bảy Nếp Thành Đạt” so sánh là cả một đoàn người ra sức chặt cây từ sáng tới chiều vất vả mồ hôi nhễ nhãi. Mãi gần tối người điều hành mới ngã ngửa người ra là đã chặt sai khu rừng rồi, tại vì chấm sai bản đồ. Một hình ảnh khác cũng nói lên cái “chiến lược và chiến thuật” này: Làm sao để dọn sạch cả một sườn đồi đầy tuyết phủ để chuẩn bị cho một công trình xây cất? Có nhiều cách lắm. Hò hét đông người lấy xẻng ra mà xúc theo kiểu “lao động vinh quang” kiên trì thế nào cũng xong; có người nghĩ ra cách khác: đào ở chân trước rồi cả sườn tuyết sẽ đổ xuống theo; lại có người thấy một cách khoa học nhanh chóng hơn nhiều: chỉ cần một trái mìn nhỏ cho nổ phía chân là trong nháy mắt cả một sườn đồi đã sẵn sàng cho công tác mới.

Loài người từ cái ngày chui rúc trong hang hốc đã sống trong vùng tăm tối như vậy cả bao triệu năm cho đến một ngày bỗng thấy được phương cách làm ra được lửa, rồi bây giờ là điện. Người Việt mình vốn bám lấy một mảnh đất mà cầy sâu cuốc bẫm theo cùng một phương cách cả mấy ngàn năm mà không sao đủ ăn. Đâu có thể cứ ngồi mà ca tụng tình tự dân tộc như thế mãi được! Bây giờ mới biết tìm ra đường lối mới là cầy bằng máy và phát giác thêm con đường khác "vô thương bất phú" là kinh tế thị trường. Tất cả là ở tầm nhìn và cái thấy, làm nhảy vọt một bước tiến. Chất xám biết làm việc thay cho bắp thịt.

Sau biến cố phong thánh Đại Hàn là một phong trào và một chiến dịch làm nẩy sinh niềm hứng khởi cho toàn thể giáo hội Đại Hàn. Các cơ quan truyền thông cùng một đường hướng, một chính sách. Ông bạn tôi nghe được chuyện này liền mơ mộng ngay: “Mình đã có thánh đường, chén thánh, dầu thánh, giá mình có thêm được cái gọi là 'micro thánh' thì quí quá!” Ý anh bạn này muốn nói về tầm quá quan trọng của truyền thông Công giáo mà mình chưa đầu tư chất xám cho đủ. Đặc biệt về phương tiện liên mạng ngày nay.

Đức Tổng Giám Mục John P. Foley, chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xã Hội trong Hội Nghị Thường Niên của Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ dịp đầu năm 2004 đã nhận xét: “Hầu như mọi người đều biết đến Mẹ Têrêxa và các công việc của Mẹ tại Calcutta và trên thế giới, nhưng rất ít người biết đến công việc của anh em và của hàng triệu người Công Giáo tại Ấn Độ.” Bao nhiêu cuộc xô xát tôn giáo nhiều khi cũng chỉ vì những thiên kiến lệnh lạc do thiếu thông tin.

Vậy mà Đại Hàn đã tạo được niềm hãnh diện mang chất thuyết phục và hấp lực cao độ mà truyền thông là một phương tiện hữu hiệu. Số người gia nhập Công giáo bỗng tăng lên rất cao, vì thấy được Công giáo như một cái gì thu hút, hợp thời, có sức góp phần làm giầu mạnh đất nước từ tinh thần nẩy sinh vật chất. Mỗi giáo dân đã trở thành một nhà truyền giáo, làm Chứng Nhân Đức Kitô là Tin Mừng thật mừng cho dân nước mình, có sức làm bật lên sinh khí mới. Họ đã thành công ở cả sách lược đến phương cách thực hiện. Tất cả đã khởi đầu bằng một cái nhìn và cái thấy, tức một đường lối, một nẻo bước thành đạt hợp thời và hợp cảm quan. Stephen Covey đã gọi là Paradigm.

Thấy và thích rồi thì mới hành động. Thấy đúng thì hành động đúng hoặc ngược lại. Hành động đưa tới kết quả giàu, nghèo, sang, hèn, sướng, khổ... Vậy ra kết quả thế nào là do một tầm nhìn hiện tại làm thành một con đường, một đạo sống, paradigm.

Còn người mình, sau những năm phong thánh, đã xác quyết được phương cách và con đường nào để khai quật được tinh thần theo điều vốn từng tự hào: “Trứng rồng lại nở ra rồng,” hay cứ mặc cảm thua kém nghèo hèn theo một ca dao khác là “liu điu lại nở ra dòng liu điu,” khiến mất tự tín, nên cứ phải chạy theo chủ thuyết này hay sư phụ khác như những con thiêu thân một cách tội nghiệp. Có người thì lại tiếp tục đổ tội và lên án để tránh trách nhiệm! Có người thì cố tìm ra những “chính nghĩa” kích thích tự ái dân tộc mà thực chất là để bảo vệ cái chỗ đứng của mình khỏi lung lay, mặc dù chỗ đứng đây chỉ là một miếng thịt trong một làng xã ở đáy giếng đã lỗi thời với chiếu trên chiếu dưới tiên chỉ thứ chỉ, bất chấp dân mình cứ phải cúi mặt nhục nhằn với thế giới.

ĐƯỜNG ĐẠT DŨNG LẠC: MỘT QUI TRÌNH KHOA HỌC TÂM LÝ

Vào thời điểm văn hoá đa dạng, kinh tế toàn cầu, truyền thông liên mạng, nhiều nước Á đông biết lợi dụng được đà trớn mà vươn lên thành những con rồng nhỏ, nhưng nhiều người lại cảm thấy như đang bị mất hút đi vào một đám đông, không còn là mình nữa, mà trở nên nghèo yếu đi một cách tội nghiệp. Mình đang bị biến chất thành dị dạng mà không hiểu tại sao. Cũng là một cơ hội mà có người nắm bắt thâu hóa được mà có người bị tan loãng tiêu biến đi thành rối loạn là tạo sao? Đó là do có một bản lãnh, một bản sắc, một con đường hay không.

Thì đây cũng chính là thời điểm người mình dù ở trong hay ở ngoài nước đều cần tìm ra một con đường, một đạo sống để sống giầu mạnh hơn về cả tinh thần lẫn vật chất; mà theo tinh thần Việt là sống dũng lực như rồng, an lạc như tiên. Đó là Con Đường Dũng Lạc, mang tên một vị thánh tiêu biểu cho Chứng Nhân Đức Kitô trong nếp sống văn hóa Việt nam, có thể góp phần vào đà tiến của nhân loại hiện nay. Đó cũng chính là phương cách nhìn ra "mỏ dầu" và khai thác để sống giầu có hơn. Chỉ khi mình có bản lãnh và bản sắc thì mới có sức thâu hóa, ngược lại thì chỉ thành những con mồi ngon cho người khác lợi dụng rồi lại đi kêu ca đổ tội.

Từ “linh đạo” hay “đường tu đức” đôi khi bị hiểu như một cái gì quá thiêng liêng không ăn uống được, mang nhiều nét khắc khổ khô khan khó nuốt, chỉ để dành cho một số tu sĩ hay những những người đạo đức ngoại hạng! Nhưng dưới cái nhìn theo khoa học tâm lý xã hội ngày nay, đường tu đức chính là “tiến trình văn hóa,” một lối nhìn hình thành một lối sống của một dân tộc, hay tôn giáo, in sâu vào trong dòng máu, làm cho con người sống cho ra người hơn, tốt đẹp sung mãn hơn. Đúng là con đường khai mỏ đạt giàu có, phương cách đạt dũng lạc an nhiên. Lối nghĩ đã thể hiện thành một nếp sống toàn diện, cho mọi người, mọi lãnh vực, chứ không chỉ “thiêng liêng.” Người mình vẫn gọi tiến trình “văn hóa” là “trồng cây đức,” một hình ảnh dễ cảm và thân thương. Vì thế tôi vẫn thích dùng từ “đường tu đức” hơn là từ “linh đạo” mặc dù cùng một nghĩa, vì đi sát vào máu dân mình hơn, như trong ca dao:

Người trồng cây hạnh người chơi

Ta trồng cây đức để đời về sau.

Trong một thế giới đa văn hóa ngày nay, đạo sống hay nếp văn hóa nào không mang lại kết quả sung mãn tiến bộ được thì đương nhiên phải bị đào thải, dù có nhân danh văn hóa dân tộc, hệ tư tưởng hay bất cứ tự hào nhiều năm văn hiến nào, nhiều khi chỉ là cớ làm trì trệ cản đường tiến! Vậy thì nét văn hóa cao đẹp nào của mình cần được giữ lại và phải triển, nét nào lỗi thời cần phải được bỏ đi hoặc cải tiến.

Khi mình nghèo thì dễ phát sinh “nhân đức chịu vậy,” bèn an ủi để tự vệ rằng “nghèo của mà giàu lòng.” Nhưng người ta cũng không quên rằng “phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng đạo tặc” là một kinh nghiệm vẫn còn đúng mãi. Vậy thì danh từ “đường dũng lạc” nghe ra tươi mát hơn, hợp cảm quan thời đại hơn, lại hợp với tâm thức Việt hơn. Con đường này phải có lực làm cho mình vừa giàu của mà vừa giàu lòng mới đúng chứ.

Tiến trình “văn hóa” hay “tu đức,” tức con đường hay phương cách đạt dũng lạc ngày nay đã được khảo sát phân tích theo khoa học đàng hoàng, và được giảng dạy trong các đại học. Con đường đó gồm nhiều bước theo một tiến trình đi liền với nhau, như ở khoa thoa tâm lý trị liệu (therapy). Qui trình phục hồi dũng lạc như thế được nhà tâm lý nổi tiếng nhất của thời đại là Karl Jung gọi là “individuation,” tạm dịch là qui trình đạt vuông tròn viên mãn. Thi hào Rabindranath Tagore gọi là “thực hiện toàn mãn,..” Và Stephen Covey hệ thống hóa thành “Bảy Nếp Thành Đạt Cao” (The Seven Habits of Highly Effective People) với số lượng bán sách chạy cả trên chục triệu cuốn và rất có thế giá nổi tiếng trong các chương trình huấn luyện về tâm lý ngày nay tại Mỹ. Vì thế mà khoa tu đức (spirituality) ở Mỹ bây giờ phát triển khá mạnh vào Tu Đức Thực Tiễn (Applied Spirituality) chứ không phải chỉ có “thiêng liêng,” thành phân khoa như của đại học San Francisco (USF), hay đi vào tâm lý miền sâu như của Trung Tâm Linh Hướng ở Pecos, New Mexico, với những giáo sư nổi tiếng theo hướng tâm lý phân tích của Karl Jung như John Sanford, Morton Kelsey.

TỪ VIỄN KIẾN CỦA NHẠC SƯ NGÔ DUY LINH

Linh mục nhạc sư Ngô Duy Linh đã qua đời và được an táng tại nghĩa trang Avondale ở New Orleans bang Louisiana Hoa Kỳ bên cạnh nhạc sư Hải Linh các đây mấy năm. Nhưng ngài đã để lại nhiều cảm hứng về một viễn kiến.

Từ biến cố phong thánh năm 1988, trong mắt của người nhạc sư có biệt hiệu là Thăng Ca này, một thị kiến đã bật sáng, phương cách và con đường cho người mình có thể mọc cánh vươn lên đây rồi: một đàn chim mà con chim đầu đàn là Dũng Lạc đang bay lên trong “Ngày Vinh Thắng.” Mình là con của chim Tiên mà không biết bay thì cũng lạ thật. Ngài vẫn thường tâm sự: phong thánh một lúc đông đảo như vậy đâu phải để an ủi lớp dân mình thấp cổ bé miệng cho bớt tủi, cũng không phải để hãnh diện hão cho đỡ mặc cảm rằng mình cũng oai vì có nhiều vị thánh tử đạo như ai, nhưng là ân huệ của Hội Thánh để người mình có thể hình thành một con đường, gọi là đường tu đức, là một lối sống làm mọc cánh mà vươn lên được, bay lên theo đàn chim Dũng Lạc, sống thảnh thơi hơn, an nhiên sung mãn vượt khỏi cơn lốc xô bồ lúc bước sang ngàn năm mới.

Linh mục Phạm Văn Tuệ là tổng thư ký của chương trình phong thánh tại Roma cũng một lòng như vậy: “Mọi lễ kính, mọi điều hãnh diện, nếu không là hoa trái của ơn thánh và của sự đổi mới, thì đều là những điều vô tích sự và thật là luống công.”

Đã có thời điểm tôn phong vị thánh trẻ Têrêsa làm tiến sĩ Hội Thánh với lối sống giản đơn đầy chất tình rất cần cho thế giới phức phạp đến rợn người này, thì cũng có thời điểm tìm ra được giải pháp sống an nhiên thanh thản qua con đường Dũng Lạc giữa những rối loạn khi bước vào ngàn năm mới:

Đông qua tiết lại thời xuân tới

Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.

Con đường Dũng Lạc tròn dâng

An nhiên đạo sống chứng nhân anh hùng

ĐƯỜNG DŨNG LẠC, LỐI BAY LÊN

Niềm hãnh diện với thế giới nằm ở chỗ là cả một đạo sống Phúc Âm theo tinh thần Việt đã được công nhận và giới thiệu cho con người thời đại đáp ứng đúng thời điểm. Đây quả là một tin vui gửi thời đại mới.

Niềm hãnh diện này phải như một trào lưu bộc phát, gợi hứng cho những sáng tác thơ văn Công giáo, cho những sáng tác về thánh ca đầy thần khí có sức tác động tập thể dân Chúa cũng như chuyển đạt được sứ điệp Tin Vui đến với anh chị em ngoài Công giáo trong dòng sống chung của người mình hay của sắc dân mình khi sống ở hải ngoại. Chim Thăng Ca Duy Linh đã vang lên tiếng hót gọi đàn, với ý thức rõ ràng về “sức cảm hóa vạn năng của âm nhạc.” Ngài ao ước có nhiều nhạc sĩ cùng gom sức khơi lên nguồn cảm hứng này.

Với tâm huyết bồi đắp cho nét văn hóa và nếp sống đạo đặc sắc của người Việt mà dịp phong thánh là cơ hội quí báu phát triển tinh thần này, năm 1988 linh mục Ngô Duy Linh dấn thân nhận nhiệm vụ trưởng ban thánh ca cho Lễ Phong Thánh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Roma, đưa nét dân nhạc vào phụng vụ với nhóm Phượng Ca Dân Ca Quốc Nhạc của Phương Oanh từ Paris. Bản “Ngày Vinh Thắng” đã đi vào lịch sử Giáo Hội Việt Nam qua biến cố này. Tháng 7 năm 1989, ngài điều hành thánh ca cho Đại Hội Công Giáo Kỳ III tại California với chủ đề Sống Tinh Thần Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Đúng hoài bão của ngài rồi. Chim Thăng Ca đã làm bừng bừng lửa dậy giữa “thủ đô người Việt” ở Cali với Ngày Vinh Thắng. Và nhiều lần ngài đã hết mình chuyển lửa cho Miền Đông Nam Hoa Kỳ trong những dịp tụ họp mừng lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đặc biệt là dịp kỷ niệm 5 năm phong thánh năm 1993 tại Baton Rouge, Louisiana, với những Nhóm Chim Non Dũng Lạc do ngài đào tạo mới ra ràng.

Và từ ngày đó, các bài sáng tác của nhạc sư Ngô Duy Linh đều hướng về một chủ đề mà thôi, kể cả những bài đào tạo các nhóm Chim Non như Đàn Chim Dũng Lạc, Chim Thăng Ca... Khởi đầu là bài “Ngày Vinh Thắng” với những tiếng trống lệnh như tiếng trống đồng vang lên từ động Đông Sơn, bừng lên những bó đuốc từ động Mê Linh, động Hoa Lư, động Lam Sơn. Ai nghe bài này mà chả thấy máu mình sôi lên, mắt mình sáng rực nhìn thấy thị kiến một đàn chim Việt đang bay lên theo cánh chim Tiên suốt dọc dài lịch sử, vượt lên khỏi những bầm dập bi thảm của Việt tộc. Tiếp đến là các bài như Gương Bất Khuất, Tình Yêu Tuyệt Đối, Khúc Sáo Ân Tình, Ngoài Vũ Trụ, Âu Ca Dũng Lạc...

Đây là một thí dụ quảng diễn đường tu đức hay phương cách mọc cánh của Đàn Chim Dũng Lạc, thể hiện Tin Vui Đạo Chúa bằng hình ảnh nét văn hóa Việt:

“Người trẻ thì nghiêng ngả đổ nhào, người già thì rã rời mệt mỏi, nhưng ai tin vào Chúa thì họ sẽ mọc cánh bay cao như chim phượng hoàng, họ đi mà không mỏi, họ chạy mà không mệt” (Isaia 40:31). “Ai tin vào Thầy thì từ lòng họ một dòng sức sống sẽ bừng lên” (Gioan 7:37).

Con chim phượng hoàng nói lên dũng lực của Chúa, cũng như chim bồ câu vốn là hình ảnh Chúa Thánh Thần trong Kinh Thánh. Đúng là chim thần. Trong văn hóa Việt có hình ảnh chim tiên và rồng lửa. Con chim tiên chính là loài chim âu thường bay rợp ở cánh đồng Tương của sông Dương Tử nơi phát xuất tộc Việt, vì thế mà tổ mẫu người mình có tên là Âu Cơ. Như vậy, trong huyết quản dân Việt đã có sẵn một cái gì na ná giống trong tiềm thức cộng thông từ Kinh Thánh một cách thật sửng sốt rồi. Về ý nghĩa biểu tượng, chim âu rất giống chim bồ câu trong hình dáng và tính tình: mắt sáng, nhẹ nhàng, thanh thản, hiền từ, đơn sơ, khôn ngoan, xinh đẹp... nét hùng dũng của rồng, nét an lạc của tiên, giống nét bẩy ơn làm nên đường bay của chim Dũng Lạc. Chẳng lạ gì dân Việt tiếp nhận Tin Vui Đạo Chúa nhanh hơn các nước Á Đông nhiều.

Niềm tin mọc cánh chim âu,

Lòng đầy thần lực tuôn trào suối thiêng.

Đường Dũng Lạc, lối bay lên

Hùng dũng an lạc như tiên như rồng.

Bước theo đạo sống vuông tròn

Mang gươm thập giá khơi dòng tình yêu

Con đường nghiền nát trầu cau

Nên màu đỏ thắm nên màu sắt son.

(bài Âu Ca Dũng Lạc: lời Cao Tường, nhạc Duy Linh)

Cũng trong bài trên, hình ảnh thập giá trong Đạo Chúa được diễn tả qua phong tục trầu cau. Khi bị nhai nát tưởng như đã vất đi thì trầu cau lại trở thành màu đỏ thắm là màu tình yêu son sắt thủy chung. Đây cũng là hình ảnh na ná giống lưỡi gươm đã đâm vào cạnh sườn Chúa Giêsu trên đồi Can-Vê khơi mạch dòng tình mà mỗi ngày trên bàn thờ hy tế, linh mục cầm lấy chén rượu do bao trái nho bị nghiền nát mà thành “của uống thiêng” dòng sức sống tình yêu.

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ TRONG BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT

Nhà văn Quyên Di đã hào hứng diễn tả niềm vui được góp phần vào một vận hội mới: “Biến cố 117 vị tử đạo Việt Nam được tôn phong hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 đã tạo nên niềm xác tín và vui mừng nơi toàn thể cộng đồng dân Chúa Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Đây cũng là nguồn hứng khởi đặc biệt giúp một số anh em đi đến quyết tâm đóng góp vào gia tài chung của dân tộc qua công cuộc khai quật và phát huy tinh thần Việt Nam trong sắc thái Công giáo... khơi dậy và thúc đẩy trào lưu sống và làm chứng Đức Tin Công giáo qua tinh thần Việt Nam. Ước mơ và cũng là quyết tâm tạo nên niềm tin tưởng một cách mãnh liệt vào “lý lịch” Việt Nam và Công giáo của mình, tin tưởng rằng, với “lý lịch” ấy, mình sống cuộc sống một con người cao quí, sung mãn, thâm sâu và có giá trị...”

Quả thật, biến cố phong thánh đã tạo nên niềm hãnh diện và hứng khởi không chỉ riêng cho người Công giáo mà còn cho chung cả dân Việt mình với thế giới nữa. Vì cả một lối sống Việt Nam hài hòa với đức tin Công Giáo hiện thân qua Con Đường Dũng Lạc được thế giới công nhận đề cao như một giải pháp cho thời đại mỗi ngày mỗi bế tắc trong lúc bước vào thiên niên kỷ mới.

Niềm hãnh diện này cần phải được thể hiện, bộc phát thành niềm hứng khởi chung cho tập thể và khơi lên trào lưu cho những sáng tác về văn, thơ, nhạc, và các ngành nghệ thuật mang căn cước Việt, góp phần Công giáo vào gia tài chung của Mẹ Việt Nam và với thế giới.

Trong nhãn quan này, hiện nay một số anh chị em đã góp phần trong gia trang “Chứng Nhân Đức Kitô” (www.chungnhanduckito.net), rất mong được đón nhận những đóng góp suy tư và ý kiến, để cùng hình thành và xiển dương một đạo sống với những nét văn hóa trân quí của dân mình đáp ứng thời điểm.

Một bài truyền thông trong nhà thờ thì chỉ một số người nghe trong một thời gian rất giới hạn. Nay thì phương tiện truyền thông thời mới đưa tín điệp lọt vào từng gia đình, và ở lại làm quen lâu bền trong những gia trang. Nếu đã mong được có một cái "micro thánh" thì nay cũng muốn làm sao cho Tin Vui của Chúa Kitô đến được tới nhiều người qua phương tiện mới nhất là mạng lưới. Và đó cũng là ước mơ của mỗi người Công giáo Việt, hãnh diện trở thành một tông đồ loan truyền Tin Vui làm Chứng Nhân Đức Kitô trong bản sắc văn hóa và tinh thần Việt Nam trong thời đại mới.

Xin mời ghé thăm gia trang CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ:

            www.chungnhanduckito.net

và gia trang CON ĐƯỜNG DŨNG LẠC:

            www.chungnhanduckito.net/dunglac.htm

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường.

Về Mục Lục


MỘT CẢM NGHIỆM VỀ ĐỨC TIN

Mỗi ngày, tôi sống với niềm tin. Càng già, tôi càng cảm thấy niềm tin là cần thiết.

       Niềm tin tự nhiên, như tin vào những người thân; tin vào người giúp việc; tin vào thầy thuốc; tin vào sự chân thành và thông cảm của những người quen xa gần, vv...

       Niềm tin siêu nhiên, như tin vào ơn thiêng đến qua việc cầu nguyện, việc bác ái, việc hy sinh; tin vào tâm tình sám hối khiêm cung; tin sự khát khao những điều tốt lành cho mọi người vẫn là một đóng góp có sức gây nên môi trường đạo đức xã hội.

       Niềm tin mà tôi xác tín là quan trọng nhất cho tôi, chính là tin vào đức tin.

       Đức tin là một nhân đức. Nó không là kết quả của những lý luận. Nó là một ơn do Chúa thương ban.

      Người thương ban ơn đức tin bằng nhiều cách. Mỗi người được ơn đức tin có thể kể lại kinh nghiệm của riêng mình.

      Với mục đích làm chứng cho Chúa, tôi xin phép kể lại kinh nghiệm của riêng tôi. Vài yếu tố sau đây vốn có trong thời tôi còn trẻ, nay càng rõ và mạnh trong thời tôi già yếu.

   Tin là một gặp gỡ và đón nhận.

   Đức tin của tôi không chỉ được cảm nghiệm như một sự tin có Chúa và tin kính Chúa, hoặc tin nhận một hệ thống tín lý và luân lý do Hội Thánh dạy. Tất nhiên đức tin đòi những tin nhận đó.

   Nhưng, khi nói về tin Chúa như một cảm nghiệm về Chúa, tôi thấy lời thánh tông đồ Gioan viết xưa là rất sống động.

   Ngài viết: “Người (Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa) đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,11-12).

   Như vậy, theo cách diễn tả của thánh Gioan, tin Chúa là đón nhận Chúa Giêsu. Đón nhận chính Chúa Giêsu. Đó là việc chủ yếu, mà tôi cảm nghiệm.

   Tôi đón nhận Chúa Giêsu với tất cả con người của tôi, khi tôi tin Người. Tôi cậy trông nơi Người. Tôi hy vọng nơi Người. Tôi tin tưởng vào Người. Tôi yêu mến Người.

   Tôi đón nhận Chúa Giêsu vào mọi cơ năng của tôi. Tôi đón nhận Người vào trái tim tôi, vào trí khôn tôi, vào trí nhớ của tôi, vào ý chí của tôi, vào trí tưởng tượng của tôi. Tôi xin Người ngự vào ý thức của tôi, tiềm thức của tôi, vô thức của tôi.

   Tôi đón nhận Chúa Giêsu với tất cả mọi lời của Người, tất cả đời Người đã sống, tất cả gương Người để lại, tất cả các nẻo đường Người đã đi, tất cả mọi ý muốn của Người về tôi, về Hội Thánh và về kế hoạch cứu độ nhân loại.

   Đón nhận như thế là một gặp gỡ thân mật. Lúc đó, tin không lạnh khô như trong lãnh vực giáo thuyết.

   Kết quả trực tiếp của đức tin như thế là một sự đổi mới con người.

   Tin là đổi mới chính mình.

   Thánh Gioan quả quyết: “Những ai đón nhận Chúa Giêsu, tức là tin vào danh Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12).

   Được quyền trở nên con Thiên Chúa, đó là một sự đổi mới cao quý lạ lùng.

    Sự đổi mới này được tôi cảm nghiệm một cách đơn sơ nhất là ở ba điểm sau đây.

   1/ Cái nhìn được đổi mới.

   Thánh Gioan xác nhận: “Ngôi Lời là ánh sáng thật” (Ga 1,9). Nhờ ánh sáng của Chúa Giêsu, tôi nhìn thấy bậc thang giá trị theo Phúc Âm rất khác bậc thang giá trị theo thế gian. Thí dụ: Theo thế gian, việc từ thiện, ăn chay, cầu nguyện thường được phô ra, để tìm kiếm tiếng khen. Còn theo ánh sáng của Chúa Giêsu, thì làm việc đạo đức kiểu đó tuy được phần thưởng do thế gian, nhưng rất có thể sẽ mất phần thưởng của Cha trên trời (x. Matthêu 6,1-18).

   Một thí dụ nữa: Theo thế gian, người sống thoải mái, đi trên đường đời rộng thênh thang, được kể là người may mắn và hạnh phúc. Còn theo ánh sáng của Chúa Giêsu, thì trái lại (x. Matthêu 7,13-14).

   Đặc biệt là, nhờ ánh sáng đức tin đến từ Đức Kitô, tôi nhận ra mình là kẻ tội lỗi, yếu hèn, kém cỏi, bất xứng với những ơn Chúa thương ban cho tôi.

   Ngoài cái nhìn được đổi mới, người con Chúa còn cảm nghiệm một đổi mới khác nhữa, đó là giới răn mới.

   2/ Giới răn mới.

   Sống đức tin là đón nhận chính Chúa Giêsu, nên tôi cảm nghiệm thấy giới răn quan trọng bậc nhất của đạo chính là yêu thương. Sự cảm nghiệm về bổn phận yêu thương là rất mạnh. Mạnh đến nỗi nó khiến tôi nghĩ rằng: Tin Chúa dù kiên vững đến đâu, nếu thiếu yêu thương con người, thì vẫn không là đón nhận Chúa. Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết, cũng để làm chứng cho tình yêu.

   Thực sự, nếu đức tin không được phiên dịch ra bác ái yêu thương con người, thì đức tin đó dễ trở thành một thứ phản chứng. Nhưng yêu thương nói đây không phải là bất cứ thứ yêu thương nào, mà là thứ yêu thương, như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta.

   Chính nhờ thứ yêu thương đó, mà tôi lại có thêm một cảm nghiệm nữa về đức tin. Đó là một hy vọng mới.

   3/ Một hy vọng mới.

   Hy vọng mới này dựa trên một Tin Mừng lớn lao, do gặp gỡ và đón nhận Chúa. Tin Mừng lớn lao đó là tình thương xót Chúa dành cho những kẻ yếu đuối, bé mọn.

   Lòng thương xót bao la này để ý đến từng việc lành bé nhỏ âm thầm, để thưởng công.

   Lòng thương xót vô cùng này cúi xuống đỡ nâng từng người đau khổ, thất vọng, khi họ tỏ thiện chí.

   Lòng thương xót mênh mông này dịu dàng gọi tên từng người lầm lạc đang đi trong bóng tối, và đời chờ họ trở về.

   Tôi cảm nghiệm sâu sắc về lòng thương xót Chúa luôn hiện diện ở từng giây phút đời tôi, để mỗi giây phút đó có thể mang giá trị đời đời, do tôi biết đặt mình vào lễ tế của thánh giá Chúa. Và như vậy, đức tin đòi hỏi một sự cảnh giác cao độ đối với mọi thứ tà thần vốn thù địch với đức tin.

   Tin là biết cảnh giác với các tà thần.

   Thánh Gioan tông đồ kết thúc lá thư thứ nhất của Ngài bằng câu: “Các con hãy tránh xa các tà thần” (1 Ga 5,21).

   Tà thần được hiểu là những tinh thần cản ngăn việc đón nhận Chúa và sự đổi mới mình ta, dẫn đưa ta xa dần đức tin. Thí dụ: Tinh thần kiêu ngạo tự mãn; tinh thần mê danh vọng, phô trương quyền chức; tinh thần chạy theo tiền bạc; tinh thần lười biếng; tinh thần nguội lạnh; tinh thần hưởng thụ, buông thả theo tự do quá trớn; tinh thần thích sống đời an nhàn, sang trọng; tinh thần ghen tuông ưa chỉ trích, gièm pha; tinh thần giả hình đạo đức; tinh thần tự cao, thiếu nhịn nhục chịu khó vì Chúa.

   Những tinh thần xấu như thế chính là những tà thần.

   Để cảnh giác, ta phải biết nhận ra chúng hiện diện bên ta, biết tránh xa các dịp kết thân với chúng, biết chiến đấu bằng cầu nguyện, hãm mình, hồi tâm.

 Trên đây là chút cảm nghiệm yếu ớt của tôi về đức tin. Nó có tính cách riêng tư. Nhưng hy vọng nó cũng có thể gợi cho mọi người sống đức tin nói lên một cách nào đó về cảm nghiệm đức tin của mình.

  Những cảm nghiệm đó, khi thực lành mạnh, và kèm theo ơn Chúa sẽ có sức làm chứng cho Chúa. Làm chứng một cách nhẹ nhàng tế nhị, nhưng với nhiều thực chất.

  Tình hình xã hội văn hoá sẽ còn nhiều biến chuyển. Những biến chuyển đó sẽ là những thách đố lớn. Ta cần nhiều sáng kiến về cách làm chứng cho Chúa. Theo thiển ý của tôi, những cảm nghiệm sống động của mỗi người chúng ta về đức tin có thể sẽ là những sáng kiến đáng kể. Chúng cũng sẽ đưa lại cho ta niềm an ủi, và sự bình an tren đường phục vụ con người và làm sáng danh Chúa.

+ GB. BÙI TUẦN

   Về Mục Lục


VỀ BÀI GIẢNG THÁNH LỄ

       Quý độc giả Ephata Việt Nam và Chứng Nhân Đức Kitô  thân mến,

       Hôm nay, ngày 8 tháng 8, toàn Giáo Hội mừng kính Thánh Đa-minh, Đấng sáng lập Dòng Đa-minh, còn gọi đúng tên là Dòng các Anh Em Thuyết Giảng ( Ordre des Prêcheurs – OP ). Từ “Thuyết Giảng” gợi những suy nghĩ về nhiệm vụ Ngôn Sứ của mọi Ki-tô hữu, đặc biệt, của hàng Giáo Sĩ.

       Trước đây chúng ta vẫn quen dùng từ “Tiên Tri”, lâu nay chuyển sang dùng từ “Ngôn Sứ”, kể ra thì cũng còn nhiều quan điểm tranh luận khác nhau, chưa nhất trí hoàn toàn chọn cách gọi này hay cách gọi kia. Nhưng nếu tạm gác vấn đề từ ngữ một bên để chỉ lưu tâm đến ý nghĩa của cả hai cách gọi thì thấy thế nào cũng đúng, thế nào cũng hay, phối hợp cả hai càng tốt, càng rõ, càng trọn vẹn.

       Tiên Tri không phải là thầy tướng số, thầy bói đoán mò để gạt gẫm ăn tiền những kẻ nhẹ dạ cả tin. Tiên tri là biết trước những điều thiên hạ chưa biết, hoặc chưa màng nghĩ tới. Làm sao mà biết trước được hậu vận tương lai một cách chính xác nếu như “thiên cơ bất khả lộ” ? Vậy mà Thiên Chúa của chúng ta lại... lộ tất cả cho Dân của Người. Một số người trong Cựu Ước đã được gọi, được chọn để nhận nhiệm vụ nghe Thiên Chúa lộ, rồi về mà lộ cho dân Ít-ra-en. Đến Đức Giê-su Ki-tô thì Người cũng được Chúa Cha sai đến cõi nhân sinh chúng ta để rồi đích thân lộ mọi sự của Chúa Cha cho chúng ta. Tất cả được ghi lại hết trong các Sách Tin Mừng. Chúng ta nghe Tin Mừng, chúng ta giảng Tin Mừng, chúng ta cũng đang là những người làm lộ ra cái Thiên Cơ, bộc bạch cái Thiên Tâm và kêu gọi mọi người sống theo cái Thiên Lương. Như thế, người nhận nhiệm vụ ấy, được sai đi để nói Lời Thiên Chúa ấy, chính là Ngôn Sứ. Vừa nghe, vừa nói, lại vừa sống, mỗi người, là Giáo Sĩ hay Giáo Sĩ, tùy theo cương vị mà được nghe, được nói, và... phải sống những gì mình đã nghe và đã nói.

       Rành rọt như thế rồi thì chúng ta mới giật mình, thấy mình quan trọng quá ! Bản thân chúng tôi là Linh Mục, tức thuộc hàng Giáo Sĩ, lại càng giật mình mà thấy mình còn thiếu sót nhiều lắm trong nhiệm vụ làm Ngôn Sứ đối với đoàn dân Thiên Chúa đã trao phó, đặc biệt là trên Tòa Giảng, trong Bài Giảng Thánh Lễ Chúa Nhật.

       Giáo Hội Việt Nam chúng ta đã từng có rất nhiều vị giảng thuyết lừng danh, và chắc chắn cũng đã có ngàn vạn Giáo Dân đã lắng nghe, đã đón nhận những lời giảng của các vị ấy mà xoay chuyển cuộc đời, mà quả cảm dấn thân sống Tin Mừng ngay trong đời thường, đem lại bao nhiêu công trình âm thầm mà lớn lao của Thiên Chúa giữa lòng xã hội, giữa lòng quê hương.

       Nhưng ngược lại, cũng thường có, luôn luôn có không ít các Giáo Sĩ không chu toàn trách nhiệm dọn Bàn Tiệc Lời Chúa cho bổn đạo, cũng như về phía Giáo Dân, rất phổ biến tình trạng thờ ơ bàng quan đối với bài giảng Thánh Lễ, hoặc khen chê chỉ ở góc độ giọng nói, cung cách, dáng vẻ của vị giảng thuyết, để rồi sau đó có ai hỏi hôm nay Lời Chúa báo Tin Vui gì cho mình thì ngẩn người ra, không nhớ, không hiểu, không biết gì !

       Dù vậy, chúng tôi thiết nghĩ, và chắc quý độc giả cũng đồng ý, rằng trách nhiệm trước hết và trên hết nằm về phía các Giáo Sĩ chúng tôi. Chân thành như vậy rồi thì mới có cơ may sám hối và đổi đời.

       Bản thân chúng tôi, dạo cuối năm 1998, trong 5 ngày đi Tĩnh Tâm riêng theo đúng Giáo Luật để chuẩn bị được thụ phong Linh Mục trong DCCT, hôm ấy, Chúa Nhật 4 tháng 10, khi đọc Kinh Sách tuần 26 Thường Niên C, thật bất ngờ, chúng tôi choáng váng bàng hoàng trước lời giáo huấn dành cho hàng Linh Mục, lấy từ sách Quy Luật Mục Vụ của Thánh Giáo Hoàng Gregorio Cả. Xin phép trích ra mấy đoạn rất thẳng, rất mạnh, rất bốc lửa, có sức đánh động người đọc. Hơi dài, nhưng xin chịu khó kiên nhẫn đọc:

       “Nhiều khi các vị lãnh đạo không biết lo xa, sợ không được lòng người đời, nên ngại không dám thẳng thắn nói ra sự thật. Họ không nhiệt thành chăm sóc đoàn chiên theo Lời Đấng là Sự Thật, cho đúng với nhiệm vụ Mục Tử, mà chỉ chăn dắt như người làm thuê, vì khi ẩn mình làm thinh thì chẳng khác gì họ xa chạy cao bay khi chó sói đến. Vì thế, Chúa dùng lời Ngôn Sứ mà khiển trách họ rằng: “Bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa”. Người lại còn than phiền: “Các ngươi không lên lỗ hổng mà cũng chẳng xây tường bảo vệ nhà Ít-ra-en, để nó có thể cầm cự trong cuộc chiến đấu vào Ngày của Đức Chúa”. “Lên lỗ hổng” có nghĩa là dùng tiếng nói tự do để bảo vệ đoàn chiên chống lại những thế lực của trần gian này. Và “cầm cự trong cuộc chiến đấu vào Ngày của Đức Chúa” là đương đầu với các thù địch gian ác vì lòng yêu chuộng công lý.

       Quả vậy, đối với người Mục Tử, làm thinh không dám nói sự thật vì sợ hãi, lại chẳng phải là quay lưng chạy trốn hay sao ? ( ... ) Trong Kinh Thánh, đôi khi các Ngôn Sứ được gọi là Thầy Dạy, vì khi cho thấy hiện tại mau qua, các ông tiên báo những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Thiên Chúa dùng Lời mà trách họ đã nhìn thấy những điều sai lạc, bởi vì khi sợ không dám sửa lỗi là họ đã phỉnh phờ những kẻ phạm tội bằng cách hứa hão cho chúng được an toàn. Họ không hề mở mắt cho những người có tội nhìn thấy điều gian ác của mình vì họ đã làm thinh không quở trách chúng ( ... )

       Chúa dùng Ngôn Sứ I-sai-a mà khuyên nhủ: “Cứ kêu lên, đừng kìm hãm, kêu lớn tiếng lên như tù và”.

       Tiến tới chức Linh Mục là nhận nhiệm vụ của người loan tin, tức là lớn tiếng kêu để báo trước rằng vị Thẩm Phán uy hùng sắp ngự đến. Vậy làm Linh Mục mà không biết giảng thì có khác gì người loan tin mà lại câm, liệu người đó sẽ kêu như thế nào ? Vì thế, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các vị Mục Tử đầu tiên dưới hình lưỡi lửa: quả thật, những kẻ Người đã làm cho tâm hồn được đầy tràn, thì tức khắc Người biến họ thành những con người biết nói”.

       Đọc Giờ Kinh Sách hôm ấy xong, hai anh em Phó Tế chúng tôi, anh Nguyễn Minh Đức và tôi, ngồi lặng đi hồi lâu, rồi chỉ còn biết thinh lặng cầu nguyện. Bên ngoài trời đổ mưa rào. Khí trời mát lạnh. Không gian vắng vẻ.

       Căn nhà chúng tôi xin mượn của Dòng Nữ Tử Bác Ai Vinh-sơn để Tĩnh Tâm, tương lai sẽ dành để các chị nuôi những cụ già bệnh tật neo đơ, vị trí ở đây hoàn toàn cô lập, chung quanh chỉ có cỏ cây xanh mướt, không một bóng người lai vãng, đến bữa chỉ có hai chị đệ tử trẻ mang cơm nước vào rồi lại dọn đi. Vậy mà, chúng tôi thấy như đâu đó, ở gần ngay bên cạnh là những người nghèo, những người bị bỏ rơi, và ở xa xa hơn nữa, ngoài chợ, ngoài đường, ngoài cuộc đời, vẫn đang có bao người, Ki-tô hữu có, chưa Ki-tô hữu có, ngong ngóng chờ đợi chúng tôi.

       Chờ đợi những gì vậy ? Chắc không phải là những cái có sẵn ê hề ngoài chợ, ngoài đường, ngoài cuộc đời, mà là những cái từ Thiên Chúa gửi đến cho họ qua chúng tôi, những người có ơn gọi nghe và nói, chứ không phải là những người câm...

       Hôm sau, chúng tôi lên đường đi nhận sứ vụ Linh Mục...

         Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, Chúa Nhật 8.8.2004

Về Mục Lục


 

Sứ điệp Đức Mẹ La Vang ( tiếp theo )

Sứ điệp gồm 10 điểm:

 * 5 điểm thánh hoá bản thân.

 * 5 điểm phục vụ Giáo hội và Xã hội.

  6- Xây dựng Hội thánh.

  7- Thánh hoá gia đình.

  8- Đoàn kết hiệp nhất.

  9- Loan báo Tin Mừng.

10- Chứng nhân Hy-vọng.

6. Xây dựng Giáo hội

Đức Mẹ nhắn nhủ ông bà chúng ta tại La-vang "Hãy xây dựng một Thánh đường". Thánh đường ở đây có nghĩa là Giáo hội. Chúa Giê su cũng bảo Thánh Phanxicô Assisi: "Hãy đi xây dựng Thánh đường".

Mẹ là Mẹ của Giáo hội, vì Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu Kitô, là đầu mà Giáo hội là chi thể. Mẹ đã được Chúa Giêsu trên Thánh-giá phó thác để lo lắng cho môn đệ của Ngài.

Khi con cái Việt Nam, vì đức tin vào con Mẹ mà gặp phải cảnh khốn đốn, Mẹ đã đến ủi an. Mẹ đã làm cho La-vang thành nơi tụ họp những người con của Giáo hội Việt Nam, tụ họp để tui luyện lại cuộc sống đức tin, thực thi các ơn ích của Phép Rửa tội, nhắc nhở nhau bổn phận làm nên giáo hội, canh tân cuộc sống cộng đồng, phục vụ người nghèo khổ.

Hãy trở nên "những viên gạch sống động" của một giáo hội luôn tin tưởng vào Đức Kitô và được thúc đẩy bởi ân sủng nơi Mẹ Maria và thánh cả Phê-rô, một giáo hội luôn cầu nguyện và tìm kiếm những dấu chỉ của thời đại và ưu tiên phục vụ người nghèo khổ.

 Hội thánh

- Một thân thể : Hội thánh; Một lãnh tụ: Đức Thánh cha; Một nguyện vọng : mọi người nên một.

- "Phêrô, con là đá, Ta xây Hội thánh ta trên đá nầy , và cửa hoả ngục mở tung không thắng nổi!" Hai mươi thế kỷ qua, bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu biến động, nội công ngoại kích, lắm giai đoạn đến mức tuyệt vọng, nhưng "Hội thánh Chúa" không phải hội của loài người.

- Đừng ngạc nhiên khi người ta phá Hội thánh, vì đó là nhiệm thể Chúa Kitô; họ tiếp tục giết Chúa Kitô; không gìết Chúa Kitô được nữa, người ta phá Hội thánh.

- Nhiều người chê cách tổ chức của Giáo triều La mã.

Tôi đồng ý rằng Giáo triều La mã không trọn lành, nhưng tôi xin họ xem thử chính nước họ có hoàn hảo hơn không? Hơn thế, còn phải phân biệt, giáo triều là một cơ quan, không phải là Hội thánh.

- Có người hễ nghe nói đến Hội thánh là chỉ trích giáo triều ù lì, nhà thờ tốn tiền, nghi thức rườm rà... Hội thánh đâu phải giáo triều, nhà thờ, nghi thức, hiểu như thế là sai lạc quá! Hội thánh là toàn thể dân Chúa  đang tiến về Nước Trời.

- Đừng nói Hội thánh đã canh tân rồi, phải nói Hội thánh liên lĩ canh tân.

- Hội thánh được sinh ra trên Thánh giá, Hội thánh lớn lên bằng tiếp tục thương khó Chúa Giêsu đến tận thế. Con lầm lạc, nếu tin vào tiền bạc, ngoại giáo, quyền thế, vận động...

- Có thứ công giáo vụ lợi, có thứ công giáo lý lịch, có thứ công giáo xu thời, có thứ công giáo danh dự. Chúa chỉ chấp nhận hạng "Công giáo trăm phần trăm", "Công giáo vô điều kiện", "họ đã bỏ mọi sự và theo Người".

- Trong Hội thánh mọi người được mời gọi và có bổn phận nên thánh. Nếu con không sống thánh thiện, con đừng lên mặt canh tân Hội thánh. "Không ai có Thánh Thần mà chống lại Đức Kitô.

- Hội thánh của gìới trẻ, Hội thánh của giới già, Hội thánh của trí thức, Hội thánh của lao động. Hội thánh của người nghèo, Hội thánh của người giàu, Hội thánh của da vàng, Hội thánh của da đen. Hội thánh của phụ nữ. Hội thánh của nam giới, Hội thánh của tất cả, Hội thánh chấp thuận tất cả, Hội thánh không kỳ thị ai. Kỳ thị và chia rẽ không có chỗ trong Hội thánh .

(Đường Hy vọng, trích chương 12 - Hội thánh)

7. Thánh hoá gia đình

Ông bà ta cầu nguyện :

"Lại xin Đức Mẹ xuống ơn

Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn.

Xin cho nước trị dân an".

Mẹ có một gia đình, gọi là gia đình thánh, vì ở nơi tổ ấm Nazareth thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu đã biến khung cảnh sống của mình làm nơi cư ngụ của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.

Ba mươi giáo dân, nam nữ già trẻ, cũng hy sinh mạng sống trên nền nhà thờ La-vang, là chứng nhân cuộc sống gia đình thánh thiện của ông bà ta.

Ngày nay khủng hoảng gia đình không phải là việc của nước nào, xứ nào khác, nhưng đi vào xã hội Việt Nam chúng ta.

Gia đình là thách đố lớn lao nhất của thời đại chúng ta. Chúng ta hãy biến gia đình trở nên mái ấm của nguyện cầu và tình thương ở đó Mẹ Maria là mẫu mực và là kẻ trung gian. Gia đình chúng ta phải là cái nôi sự sống và tình yêu được nuôi dưỡng, thăng tiến và ấp ủ.

"Xin cho nước trị dân an".

Tổ quốc là đại gia đình. Bốn chữ "nước trị dân an" diễn tả quá đầy đủ. Nếu không có chính phủ tốt, không phát triển, không có công bình thì làm sao dân an được!

Mẹ La-vang, Mẹ đã đưa Chúa Kitô, con Mẹ, vào dân nước chúng ta. Noi gương Mẹ, mỗi một Kitô hữu tận tâm yêu thương đồng bào mình, phát triển văn hoá dân tộc, đóng góp sức lực của mình dấn thân phục vụ công ích để thăng tiến cuộc sống người dân, tạo phú cường, thịnh vượng, và an vui cho cộng đồng xứ sở.

Nhiều lần Đức Thánh Cha quả quyết: "Người công giáo Việt Nam là những công dân tốt, chung sức xây dựng tổ quốc". Đức Hồng y R. Etchegaray giảng: "Anh chị em hãy hãnh diện làm người công giáo, làm người Việt Nam".

Gia đình, tế bào của Hội thánh

- Đôi bạn đối với nhau, cũng như đối với con cái, sống tất cả tình yêu của Chúa Giêsu đối với mọi người.

- Tình yêu hôn nhân có sức rút từ quả tim con người tất cả can đảm, tin tưởng và quảng đại.

- Đòi hỏi biến đổi mà không yêu thương làm cho bạn mình bất mãn - Yêu thương mà không đòi hỏi bìến đổi: hạ giá bạn mình.

- Tình yêu không mù quáng: Thấy yếu đuối của người yêu và cố gắng gánh vác. Thấy khả năng của người yêu và tế nhị khơi dậy.

- Con hãy tin rằng: đời sống gia đình công giáo là một "lối tu đức" riêng biệt.

- Gia đình là tế bào của Hội thánh, nói cách khác, là một Hội thánh cở nhỏ (Ecclesiuncula) ở đó Chúa Giêsu hiện diện, sinh sống, chết, phục sinh cách mầu nhiệm trong các chi thể.

(Đường Hy vọng, trích chương 19 - Gia đình)

Phát triển

- Phát triển không phải là chỉ cho ăn, cho mặc, cũng không phải chỉ phát cày, phát cuốc, đào giếng, đào mương.

Phát triển là thăng tiến con người toàn diện, là làm cho họ sống "xứng người hơn".

- Món quà tuyệt hảo mà con có thể tặng người giúp việc con không phải là chiếc áo đẹp, đôi giày tốt, cái đồng hồ quí, nhưng là Tình người, tình anh em mà con âm thầm tặng họ qua các cử chỉ nhỏ nhặt suốt ngày.

- Đại hoạ không chỉ là đói khát, khốn khó của các dân tộc nghèo khó. Đại hoạ chính là sự vô ý thức của các dân tộc nô lệ và bóc lột.

(Đường Hy vọng, trích chương 25 - Phát triển)

Dấn thân

- Mức độ dấn thân: "Thí mạng" như Chúa Giêsu.

- Con đừng nghĩ dấn thân là lao mình vào những hoạt động hăng say náo nhiệt. Con hãy hiểu nghĩa dấn thân sâu hơn. "Theo gương Chúa, yêu thương đến mức độ quên mình hoàn toàn vì người khác, để hiệp nhất với kẻ khác, hầu họ được phong phú và công việc Chúa nơi họ được thành công.

- Con có phải là hạng người công giáo ngoan đạo, sống quanh quẩn phòng thánh và con đã hoá nên "nửa thần, nửa thánh, nửa người" không?

Hãy theo Chúa Giêsu: Thiên Chúa thật và người thật đến với trần gian.

Xin con hãy "nhập tịch" làm người lại.

- Chúng ta dùng danh từ phân biệt đạo và đời, hồn và xác, nhưng các yếu tố ấy không thể tách rời nhau được, nó bó kết lẫn nhau trong lòng Con Chúa: Chỉ có một cuộc sống; chỉ có một lịch sử; đạo, đời, hồn, xác đều liên hệ mật thiết.

(Đường Hy vọng, trích chương 26 - Dấn thân)

8. Đoàn kết và hiệp nhất

Hãy sống chúc ngôn của Chúa Kitô: "Xin cho họ nên một" bằng cách cổ võ công lý, hoà bình và phát triển để xây dựng một xã hội nhân đạo hơn, bằng cách kiên trì và thành tâm theo đuổi việc đối thoại giữa các tôn giáo".

Đoàn kết và hiệp nhất đòi hỏi hy sinh, quên mình, nâng tâm hồn mình lên để yêu nhiều hơn nữa, thật sự tha thứ, biết ơn và quảng đại. Chúa Giêsu đã dạy rằng "khi Con người bị treo lên thì mọi người được kéo lên cùng Ngài". Cơn thử thách của giáo hội, xã hội Việt Nam hôm nay đang bách hại tâm hồn con cái Việt Nam đó là hận thù chia rẽ. Chúng ta lắng nghe Sứ-điệp đoàn kết hiệp nhất của Đức Mẹ La-vang, Mẹ đã qui tụ mọi người lương giáo về nơi rừng núi ấy, để kiến tạo lại quê hương và canh tân giáo hội. Gương đoàn kết của người xưa là tấm bia không bao giờ mòn: Bô lão các làng lân cận, dâng hiến đất đai để xây đền thờ Bà bên Đạo.

"Dập dìu kẻ tới người lui,

Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương".

Bác ái, đồng phục của người Kitô hữu

- Sống huynh đệ rất đẹp, Chúa bảo: "Đâu có hai hay ba người hiệp nhau vì danh Thầy, có Thầy ở đó", Chúa biết khó nên Ngài đòi con số tối thiểu, Ngài không đòi hơn "hai hay ba".

- Chúa chỉ bắt các Tông đồ mang một đồng phục rẻ tiền mà khó kiếm: "Người ta sẽ lấy dấu nầy  mà biết các con là môn đệ Thầy : Các con thương yêu nhau".

- Đâu có tình yêu thương, ở đó có Thiên Chúa; đâu có thù ghét ở đó có hoả ngục.

- Lấy lý do giúp đỡ, khuyên bảo anh em, con dò chuyện bên nầy, đem nói bên kia, đó là "Bác ái tình báo".

- Con chủ trương phải đối thoai, nhưng con không chấp nhận ai nói trái ý con. Đó là "đối thoại có chương trình và giới hạn" hay nói đúng hơn: hai người độc thoại.

- Con không thiếu khuyết điểm. Sao con tức tối và tấn công khuyết điểm của anh em?

- Con phải nói được cách thành thực rằng: "Tôi không xem ai là kẻ nghịch của tôi, kể cả những người căm thù tôi nhất, những người bắt bớ tôi, thề không đội trời chung với tôi. Tôi luôn xem họ là anh em tôi".

- "Nhà Cha ta có nhiều chỗ ở" , Lời Chúa rất là thấm thía! Con hãy đối xử với mọi người khác nhau, kính trọng từng tâm hồn. Đừng xem con người như một con số, một khối lượng, cộng là ra đáp số!

- Đừng đê hèn nói xấu người vắng mặt. Hãy nói như lời con được ghi âm, hành động cử chỉ con như được chụp hình.

(Đường Hy vọng, trích chương 31 - Bác ái)

9. Sứ điệp Tin Mừng

Ông bà ta đã sống và mang đức tin vào trong văn hoá Việt Nam, khắp các thôn xóm hẻo lánh. Chúng ta hãy tiếp tục xây dựng Văn hoá của Sự sống, Văn hoá của Tình thương, Văn hoá của quyền Con người.

"Xin cho nước trị dân an,

Nơi nơi nghe tiếng Phúc-âm giảng truyền".

Mẹ đã dẫn lối những vị truyền giáo đến với cha ông chúng ta. Mẹ đã hiện diện trong những lời cầu xin của những thầy giảng, những cộng đồng Kitô hữu Việt Nam đầu tiên, Mẹ thúc đẩy nhiều thanh niên, thiếu nữ qua nhiều thế hệ hiến thân vì Phúc-âm...

Vào năm 1961, Bề trên Giáo phận Huế đã dành khoảng đất bên trái đền thờ La-vang để khởi công xây dựng Trung tâm Truyền giáo Mẹ La-vang. Và chương trình gửi các nữ tu Việt Nam truyền giáo qua quốc gia Lào cũng đã bắt đầu thực hiện lúc ấy.

"Hôm nay, chúng ta phải hoàn thành sứ-mệnh đem Tin Mừng đến cho thế giới. Chúng ta phải cam kết sống vai trò chứng tá tình yêu của Đức Kitô, cộng tác với tất cả anh chị em chúng ta để biến đổi xã hội xứng đáng với phẩm giá con người".

Đời sống trần gian với ngọn lửa đức tin

- Xem hành động của con, phản ứng của con, đã biết đức tin của con sống động hay là "đức tin nhãn hiệu".

- Sự cứu rỗi nhân loại không phải là một "tổ chức", mà là một "mầu nhiệm", mầu nhiệm Chúa Giêsu chịu chết sống lại.

- Tông đồ là thánh hoá môi trường bằng môi trường: lao động là tông đồ của lao động, học sinh là tông đồ của học sinh, bộ đội là tông đồ của bộ đội...

- Thời đại mới, nhu cầu mới, phương pháp mới.

"Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế"  và Ngài ban cho Hội thánh lễ Hiện xuống mới.

- Các thánh không ai giống ai, tinh tú trên trời, không có cái nào giống cái nào. Nhưng các thánh đều giống nhau một điểm: Các ngài dìễn tả lại cuộc đời Chúa Giêsu.

- Lãnh nhận một trách nhiệm tông đồ là sẵn sàng chấp nhận chịu "tử đạo" bởi mọi người, ở mọi nơi, bằng mọi cách, với tất cả yêu thương và bền chí như Phêrô và Gioan "Họ từ hội đường ra về vui vẻ vì đã được xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Chúa".

- Kẻ thù khốc hại nhất của đời tông đồ con không phải là kẻ ngoại thù: chính bản thân con có thể thành tên gián điệp làm việc cho cả hai bên: Thiên Chúa và ma quỷ.

- Thời đại giáo dân - bao lâu chưa động viên được toàn lực Dân Chúa ý thức và hành động, các từng lớp xã hội nầy chưa thể thấm nhuần Phúc âm được. Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta: Tông đồ Giáo dân!

- Không có linh mục nào không xuất thân từ chủng viện, không có tông đồ giáo dân nào không xuất thân từ khoá huấn luyện, con hãy xác tín điều đó!

- Đường lối của tông đồ thời đại ta:

* Ở giữa trần gian

* Không do trần gian

* Nhưng cho trần gian

* Với phương tiện của trần gian

(Đường Hy vọng, trích chương 13 - Đức tin)

10. Chứng nhân hy vọng

Phép lạ La-vang, là cảnh hoang vu, rừng núi nay trở thành nhà tinh thần của những Kitô hữu Việt Nam: Chúng ta quay về đó để hâm nóng lòng nhiệt thành sống đạo, đi đến để cầu nguyện, nhớ đến để tin tưởng, hy vọng và lên đường phục vụ quê hưong và giáo hội.

Chúng ta tuyên xưng với mọi người Sứ-điệp Hy-vọng của Mẹ La-vang.

"Hãy tin tưởng vào Mẹ, hãy chịu đựng thử thách trong hoan hỷ vì Mẹ đã nhận lời con. Từ nay ai đến chốn nầy kêu cầu Mẹ sẽ được toại nguyện".

Thời đại nầy gặp một thách đố lớn nhất: Hy vọng - Nhiều người không biết hy vọng vào đâu, họ không biết sau cuộc đời nầy họ sẽ thế nào? Mặc dù hưởng thụ bao lạc thú, đầy ắp tiền của họ không hy vọng. Số người tự tử ở các nước phát triển rất cao.

Con phải trả lời được cho mọi người về niềm hy vọng trong con

- Người công giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muốn sống giữa thối nát và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng.

- Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là Mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi.

- Trên Thánh giá, Chúa nghèo lắm! Con chỉ xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh một điều: Yêu thương, đau khổ và luôn luôn hy vọng.

- Có hạng "Công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.

- Có hạng người "Công giáo thụ động", "trốn tránh vô trách nhiệm".

Họ chỉ biết "nhìn lên" để  kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẻ, gánh vác.

Niềm hy vọng đang ở giữa họ mà họ không hay!

- Làm một cuộc cách mạng: Đừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh các việc thiêng liêng. Đẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường.

- Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.

Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp.

Sống mỗi phùt cho tốt, đời sẽ thánh.

Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.

Đơi hy vọng do mỗi phút hy vọng.

(Đường Hy vọng, trích chương 36 - Hy vọng)

 

Cầu nguyện cùng Đức Mẹ La-Vang

 (như ông bà ta ngày xưa)

Lạy ơn Đức Mẹ La-vang

Xin nghe con mọn thở than mấy lời,

Mẹ là Mẹ thật Chúa Trời

Mà Mẹ cũng thật Mẹ loài người ta

Cúi xin xuống phước hà sa

Đoái xem con cái thiết tha khẩn cầu.

Nầy con quỳ gối cúi đầu

Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền:

Cho con một dạ kính tin

Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay;

Rày con dâng tấm lòng nầy

Một niềm mến Mẹ từ nầy về sau;

Lòng con rầy chỉ ước ao

Chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn.

Lại xin Đức Mẹ xuống ơn

Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn;

Xin cho nước trị dân an

Nơi nơi nghe tiếng Phúc âm giảng truyền;

Những người nghèo khổ tật nguyền

Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui.

Dập dìu kẻ tới người lui

Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương.

Nay con từ biệt thánh đường

Thân tuy cách đó, dạ thường mến đây.

Chốn nầy, ngày nầy, hội nầy

Lòng nầy ghi tạc dám phai đá vàng.

Lạy ơn Đức Mẹ La-vang

Xin nghe con mọn thở than mấy lời.

                                          A-men

                       Hồng Y F.X. Nguyễn Văn Thuận

Về Mục Lục


TIẾNG KHÓC CỦA THIẾU PHỤ

 Buổi sáng, trời mát dịu và nắng nhẹ ươm vàng sau cơn mưa đêm trước. Khi đang mải mê đọc bài báo trong cột “thời sự và suy nghĩ” trên tờ nhật báo nổi tiếng của thành phố, bỗng tôi nghe tiếng khóc của một thiếu phụ. Âm vang của nó nghe nhức nhối, ai oán và tức tưởi. Âm thanh khác lạ! Không phải của người quen trong xóm bởi nơi đây, đôi khi cũng có những trận ẩu đả rồi lôi kéo nhau ra đường chửi rủa của một vài câp vợ chồng thường ghen tuông.

Tiếng khóc thúc giục tôi vội bỏ tờ báo xuống, đứng lên liệu xem việc gì xảy ra vào một buổi sáng đẹp trời như thế này. Người thiếu phụ còn rất trẻ vừa khóc vừa phân trần với mấy đứa trẻ nơi căn nhà mà ai ai trong xóm cũng đều ngán ngẩm bởi vì những “thành tích” đã xảy ra nơi căn hộ “nổi đình nổi đám” ấy. Chị ta khẳng định là mấy đứa cháu trong cơ ngơi này đã dàn cảnh rồi lấy đi của chị ta số vốn cỏn con mà chị dùng để mua “ve chai” kiếm cơm hằng ngày.

Thế nhưng vì chị ta không bắt “tận tay day tận mặt” nên chẳng ai trong căn nhà ấy cho rằng điều chị nói là đúng. Do đó, tôi cũng cảm thông được sự việc, mời chị lại gần nhà rồi nhỏ nhẹ với mấy cháu nhỏ: ”Các cháu không thấy chị ta khóc lóc thảm thiết khi bị mất một khoản tiền mua “ve chai” rất nhỏ ấy sao! Thôi thì cháu nào lỡ lấy thì cũng nên trả lại cho chị đi, chú sẽ thưởng món khác vậy.” Vừa nói xong, người đàn bà là bà nội của các cháu lên tiếng sang sảng biện minh và còn đả kích không khoan nhượng:       

“Tôi đã lục tung quần áo của chúng rồi nhưng chớ thấy đồng bạc nào. Chị ăn nói hồ đồ, vu khống chúng lộ liễu đấy. Thật oan sai cho chúng”. Tôi quá hiểu những uẩn khúc trong gia đình có một không hai trong con hẻm này nên cũng khẳng khái đối chất: “Chúng đâu dễ dàng để cho dì phát hiện ra! Nhưng tôi tin rằng chị này nói thực lòng vì nước mắt của chị ta không phải là diễn kịch, đóng tuồng, khi mà chị ta đã chưa đủ kinh nghiệm đối đầu với những ma mánh của con hẻm này”. Rồi tôi quay sang chị vỗ về:

“Thôi chị cũng không nên quá đau khổ để rồi uất ức chỉ vì những đứa bé quá nghịch ngợm, vô giáo dục ấy”. Nhưng chị ta vẫn thổn thức hơn khi sẽ phải nói sao đây với chồng để không bị một trận đòn nhử tử vì sự lóng ngóng ngu muội của chị. Đến lúc này, tôi chợt nhớ lời Chúa vang rền bên tai: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Tôi vội mời chị vào nhà và an ủi chị đôi chút: “Âu cũng là kinh nghiệm sống khi mới bươn chải vào miền đất lạ lẫm này”.

Với tôi, những người hành nghề mua “đồng nát” đa số từ miền Bắc vào và chỉ nghe giọng nói “đặc sệt bắc kỳ rốn” cũng đủ để khẳng định rằng chị ta bị những đứa “nhãi ranh” này đánh một quả lừa thật ngoạn mục. Càng nghĩ càng thấy thương tâm hơn và rồi Lời Chúa:”Chính anh em hãy cho họ ăn” đã khiến tôi móc tiền gửi chị chút đỉnh xoay sở trong những lúc nhỡ nhàng. Liền đó, một vài người trong hẻm dã chứng kiến từ đầu cũng đồng cảm và không ngần ngại chia sẻ với chị chút ít để vực chị dậy. Trước những khoản tiền nho nhỏ bất ngờ nhưng đầy lòng trắc ẩn, chị cũng bớt đi nức nở và còn hứa với tôi sẽ cố gắng hoàn trả lại khi cuộc sống cho phép. Thế rồi chị nín thinh và dẫn chiếc xe đạp cũ mèm ra đi với ánh nhìn cảm ơn và chân thành như chị dâ hứa.

Tôi vừa mong chị gặp may vừa chua xót với những suy tư còn đọng lại. Quá khứ và hiện tại cứ xoáy buốt đến nỗi hoàn cảnh trong quá khứ như hiện rõ nơi đây. Tôi đọc lại đoạn kinh thánh theo thánh Luca. “. . . Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Đức Giêsu thưa Người rằng: “Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng”.

Và hiện tại nơi tôi đang sống đây có khác chi đâu. Hoang vắng nền văn minh tình thương. Hoang vắng lương tâm con người đích thực. Đúng như ĐTC Gioan Phalô II dậy dỗ trong chuyến thăm Thụy Sỹ mới đây:”. . . Nguồn mạch đích thực làm cho con người trở nên cao cả là “chính phẩm giá không thể phá bỏ của con người”. Ấy thế mà khi mở lại trang báo mới sáng nay, tôi giật mình với nhửng câu chữ nổi da gà, rợn tóc gáy: “Cho đến nay, nhiều kẻ phạm tội tham nhũng, đục khoét công quĩ, làm giầu bất chính mà vẫn sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, ấm thân phì gia, giũa lúc nước còn nghèo, dân còn khổ thì cái bất công, nghịch lý này càng thêm nguy nan trầm trọng, càng gây bất bình trong nhân dân”(Trần Quốc Khải).

Rõ ràng, với nhận định chân thật và nhức nhối như trên thì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng tình thương yêu, “phẩm giá không thể phá bỏ của con người”. Cũng như trước kia, khi thấy đám dân này đang trong tình trạng đói lả, Chúa Giêsu không thể nào làm ngơ. “Bấy giờ Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng”.

Quả thật vậy, chính Chúa Giêsu là Đấng làm cho con người được no thỏa, được tràn đầy viên mãn. Người không chỉ giải quyết cái đói về phần tâm linh: ”Người nói với họ về Nước Thiên Chúa” mà còn lo cho họ về mặt thể lý: ”Chữa lành những ai được chữa lành” và “Mọi người đều ăn và ai nấy đều no nê”. Trước tình người, tình yêu thương vô bờ bến của Chúa và trước hoàn cảnh sống hoang vắng hiện tại, tôi tha thiết hơn bao giờ hết mỗi người trong từng cộng đòan nơi mình sinh hoạt biết “lắng nghe” Lời Chúa hối thúc dậy bảo để có thể trở thành “tấm bánh bẻ ra” và được trao ban cho anh chị em mình một khi dám bức ra khỏi cái tôi ích kỷ hẹp hòi, cái tôi tham quyền cố vị, cái tôi vô tâm giữa lúc nước còn nghèo, dân còn khổ, tha nhân còn bị chà đạp và người đau ốm còn bị lãng quên.

Xin mượn lời chia sẻ chân thành và thực tế của ông Mahatma Gandhi với các vị thừa sai khi họ sang Ấn Độ rao giảng Tin Mừng để khát khao nói lên tâm nguyện trong cuộc sống thực tại như sau:

“Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình lan tỏa. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn ngửi được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ tỏa hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó”. Hơn thế nữa, tôi xin dâng lên Chúa lời cầu nguyện của cố ĐHY John Henry Newman mà Mẹ Têrêsa thành Calcutta vẫn từng tha thiết cầu khẩn:

“Lạy Chúa, con xin chúc tụng Chúa bằng phương cách mà Chúa ưa thích nhất là làm gương sáng cho những người chung quanh.

Xin Chúa giúp con rao giảng về Chúa không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm, bằng sức mạnh thu hút bởi ảnh hưởng dễ thương của những gì con làm, bởi chứng cớ trọn vẹn nhất của tình yêu mà tâm hồn con luôn hướng đến Ngài. Amen.”

          Vũ văn Quí, peterquivu@hcm.fpt.vn

Về Mục Lục


 

Kitô Hữu Trước Thềm Thời Đại Mới

Kitô hữu là môn đệ

Chúa Giêsu-Kitô

 Chương I

 Chúa Giêsu Kitô chất vấn Kitô hữu

 

“Đức tin, không phải chỉ hướng mắt về

Chúa để chiêm ngắm ngài;

mà còn phải nhìn trái đất nhưng với

con mắt của Đức Kitô”

M. Quoist

1. Đối với anh (chị, em), ta là ai?

           Một ngày kia, đang bước đi với các môn đệ Chúa Giêsu hỏi đột ngột: “Đối với các anh, Thầy là ai?” (Mt. 16, 15). Mỗi một thời đại, Chúa chất vấn lại những người theo Ngài cùng một câu hỏi đó. Câu trả lời của Kitô hữu hôm nay thiết định lý lịch của họ và từ đó chi phối hành động của họ.

             Lúc nầy là lúc mà Kitô hữu được mời gọi để làm nhân chứng cho Phúc-âm trong một thế giới ngày càng xa dần Kitô giáo, do đó cần phải nêu lên rõ ràng câu Thầy hỏi các môn đệ đầu tiên của Ngài, và cũng hỏi mỗi người chúng ta.

          Thật thế, phẩm chất nếp sống đạo của chúng ta tùy thuộc vào lòng tin của mình vào Ngài: chúng ta kết hợp mật thiết với Ngài, đó là bảo đảm chắc chắn nhất cho tương lai Giáo-hội. Chúa chúng ta không đòi hỏi người của Ngài phải chiếm đa số trên thế giới, nhưng phải trở nên men trong bột, muối đất, ánh sáng thắp cao trên trụ đèn.

         Quá nhiều Kitô hữu, được rửa tội và thêm sức lúc còn bé, nhưng lớn lên không chứng thực nguồn phong phú của bí tích nằm sẵn nơi mình; sở dĩ có tình trạng nầy vì họ chưa từng gặp gỡ thật sự Chúa Giêsu-Kitô, chưa khám phá khuôn mặt, lời nói, những đòi hỏi của Ngài và chưa từng liên kết với Ngài bằng một mối liên lạc thâm tình.

           Mỗi một thế hệ, Thầy lại hỏi các người của mình câu hỏi trực tiếp và có giá trị sinh tử ấy.  Không thể nào cứ lẩn tránh trả lời qua những ý tưởng tổng quát mơ hồ, để rồi nói với Ngài là mình xem Ngài như một bậc thầy tư tưởng, một mẫu mực đáng bắt chước, một đại tiên tri, ngay cả là một vị cao cả nhất trong mọi thời đại. 

          Câu chất vấn quyết định nầy đi sâu vào tâm hồn chúng ta, như một mũi gươm sắc, không tránh né chỗ nào được. Là Kitô hữu thật sự hay không tùy thuộc vào câu trả lời của chúng ta.

           Vì Kitô giáo trước hết không phải là một chủ thuyết (= un isme), một nếp sinh hoạt nào đó: nhưng thiết yếu nó là một sự liên kết linh động với Đức Kitô phục sinh, nối liền chúng ta trọn đời trọn kiếp với Ngài. Nhưng Đức Giêsu-Kitô không phải chỉ là người làm linh hoạt cuộc sống riêng tư của Kitô hữu; Ngài còn là Đấng dạy chúng ta phải mang danh Ngài và Phúc-âm Ngài vào giữa lòng thế giới.

            Phải vâng phục lệnh truyền nầy, đó là đi vào thế giới, chèo thuyền ra giữa biển khơi. Chúng ta chỉ thực sự thấm nhập Phúc-âm khi đến lượt mình, chúng ta trở thành người rao truyền Phúc-âm thật xa hoặc ngay nơi thềm nhà mình.

           Ta không chiếm hữu một Kitô giáo như một của riêng, nhưng sống Kitô giáo là chiếu dọi tôn giáo ấy chung quanh mình. Ôi, ước chi Kitô hữu đã từng tiếp nhận Kitô giáo từ gia sản ngàn đời của mình, biết ý thức thật sự về cơn túng quẫn cùng cực trong cuộc sống tinh thần của thế giới ngày nay; và đi vào thế giới ấy, dùng lời nói và hành động của mình để giúp mọi người nhận ra rằng Chúa Giêsu-Kitô mang nơi Ngài bí quyết tối hậu về mối tình huynh đệ nhân loại chân thật, mà nhân loại đang tìm mà chưa gặp.

            Tôi xin được trích ra đây mấy dòng chữ ngắn gọn nhưng súc tích của Đức Thượng-phụ Athénagoras, trước đây làm Giáo-chủ Chính thống giáo; Ngài chia sẻ nỗi đau khổ của tâm hồn mình như sau:

           “Tôi thấy dường như người ta không còn biết Kitô giáo là gì nữa. Đối với tôi, tôi đã khám phá ra tôn giáo nầy khi tuổi đã trưởng thành, suy tư kỹ càng, sau thời gian tìm hiểu chu đáo về học thuyết vô thần; cuộc khám phá ra Kitô giáo đó quả là một điều kỳ diệu ngày càng tăng.

                   Nhưng thiên hạ thường không mấy quan tâm vì người ta ngỡ là mình biết rồi, kỳ thực họ chả biết tí gì. Họ lẫn lộn Thiên Chúa, vị tối cao hay quấy rầy nầy, với một thứ nền móng nào đó cho một trật tự xã hội và đạo đức đã lỗi thời. Theo họ nghĩ, Kitô giáo là một thứ chủ nghĩa nhân đạo mặc lấy màu sắc, tình cảm tôn giáo.

                     Tệ hại hơn cả, nhiều Kitô hữu, được khai sinh nơi Giáo-hội, nhưng không biết gì về tôn giáo của mình hơn những ngộ nhận ấy, và chán nản làm người Kitô hữu”.

 2. Tại sao anh (chị em) làm Kitô hữu?

 Câu trả lời : Vì Chúa Kitô đã gặp tôi. 

          Không phải tôi đã từng có sáng kiến để gặp Ngài, nhưng sáng kiến nầy là do Ngài. Ngay khi chịu phép rửa, tôi đâu có biết gì, thế mà Ngài đã chiếm hữu tôi, một cách mầu nhiệm. Thế rồi cuộc sống của Ngài dần dần triển nở trong tôi qua các phép bí tích tôi tiếp nhận, đặc biệt là Thánh thể mỗi ngày.

          Từng đợt một, Ngài dẫn tôi đến Chức Tư -tế trọn đầy, cho tôi biết Ngài đầy đủ hơn qua Lời Ngài nói trong tôi, qua Phúc-âm tôi đọc đi đọc lại, suy ngắm và được thực hiện nơi những người chung quanh tôi, qua đời sống các thánh đã từng được Ngài uốn nắn nên.

           Về phần tôi, tôi hoàn toàn tự do, và chỉ biết khiêm tốn chân nhận những thiếu sót trong việc đáp trả ơn phúc Ngài gửi đến, cũng như cảm phục tình yêu liên lỉ của Đấng Cứu-độ, bất chấp những bất cập, khốn cùng của tôi.

            Tình yêu trung kiên Chúa đối với tôi, tôi đã cảm nhận một cách thiết thực qua một số biến cố xảy ra trong đời tôi. Đặc biệt là qua những sự tình cờ mà người ta thường nói là không lường được của Chúa Quan-phòng. Nhiều lần tôi đã kinh nghiệm được những biến cố như thế: một cuộc gặp gỡ, một sự trùng hợp, một sự hiện diện ân cần, hướng dẫn, thu xếp chương trình của Chúa. 

          Việc gặp gỡ Chúa Kitô Phục sinh đang linh hoạt trong những Kitô hữu chân thành và thâm tín cũng rất quan trọng. Không có gì quí cho bằng “lớp giáo lý” xuyên qua gương lành mình học được nơi người chung quanh. Những Kitô hữu đạo hạnh ấy đã dạy tôi biết mình thật sự thấm nhập giáo lý khi, đến phiên mình, mình biết chiếu sáng Đức Kitô ra giữa lòng thế giới; và lối sống đạo như vậy là tác động truyền giáo hữu hiệu nhất! 

          Tất cả những điều trên đây nằm trong lãnh vực kinh nghiệm sống thiết thực, cá nhân. Còn về mặt “học hỏi để hiểu biết về Đức tin”, mà tôi đã dành một phần quan trọng trong cuộc sống mình để trau giồi, tôi có thể nói đơn sơ như Newman rằng “một ngàn điều khó không làm nên nổi một điểm hoài nghi”.

           Thế giới vừa tối vừa sáng. Tôi biết các quyền lực của sự ác không phải là chuyện huyền hoặc, nhưng bóng tối không cản nổi việc ta tin vào mặt trời, vào ánh sáng và sự ấm áp của nó. Thiên Chúa vừa là chân lý vừa là tình yêu, Ngài luôn là mặt trời của cuộc đời chúng ta, và chính Chúa Giêsu đã cho tôi biết điều đó. 

            Trở lại câu chất vấn từ ban đầu: Tại sao anh (chị em) là Kitô hữu? Nay đã qua tuổi tám mươi, phần tôi, tôi trả lời thế nầy: Vì Chúa Giêsu-Kitô đã chiếm hữu từ lúc tôi vào đời, và Ngài là đường, là sự thật và là sự sống cho tôi và ở trong tôi. Tôi muốn ca ngợi Ngài bằng bài ca tụng Magnificat của Mẹ Maria.

 3. Tại sao anh (chị em) làm người Công-giáo?

           Tạp chí The Tablet, ở Luân-đôn trước đây đã phát hành một loạt bài của những người thuộc các truyền thống Kitô giáo chính yếu (Công-giáo Chính-thống giáo - Tin-lành) - được ban biên tập báo ấy mời làm chứng nhân để nói về lý do gia nhập tôn giáo riêng của mỗi người. Câu trả lời của tôi hôm qua vẫn là câu trả lời lúc nầy. 

            Khi người ta đặt ra cho tôi câu hỏi: “Tại sao ngài làm người Công-giáo?”, tôi trả lời bằng cách nêu lên câu nói của Étienne de la Boétie, trả lời về chất vấn tại sao ông lại mến người bạn là Montaigne; câu nói gẫy gọn như sau: “vì ông ấy, và vì tôi”.

           Nội dung đó ăn khớp với điều tôi cảm nhận đối với Giáo-hội Công-giáo; Giáo-hội ấy hôm qua, hôm nay vẫn là Mẹ tôi; tôi yêu mến Giáohội ấy, vì Giáo-hội ấy, và vì tôi.

          Tôi có thể dừng lại nơi câu trả lời ấy; nhưng vì phải giải thích, nên tôi sẽ cố diễn tả dần hồi, bắt đầu từ kinh nghiệm thiết thân từ ngày xa xưa lúc tôi mới sanh ra. Làm sao để nói lên được hết một cách gẫy gọn in a nutshell? Chúng ta cố thử xem.

           Trước hết tôi muốn nói là tôi yêu Giáo-hội Công-giáo vì đó là Giáo-hội ban phép rửa tội cho tôi: tôi cám ơn cha mẹ tôi đã cho tôi chịu phép rửa ngay từ bước đầu đời tôi, giúp tôi tiếp nhận tình yêu ân cần và đi bước trước của Thiên Chúa. 

           Giáo hội ấy, tôi cũng mến yêu vì đã nuôi dưỡng tôi lớn lên từng bước, chỉ dạy cho tôi biết Chúa Giêsu-Kitô, trong những trang Phúc-âm và qua đời sống của những người chung quanh tôi.  Cha tôi mất từ lúc tôi được bốn tuổi: tôi ý thức rất sớm rằng cuộc sống trần thế hết sức ngắn ngủi và cuối cùng chỉ có đời đời mới quan trọng, cần phải chuẩn bị và nói cho kẻ khác biết điều đó. Tôi ở nhà nhiều giờ, ra vườn leo lên một bức tường thấp để không ai trông thấy rồi bày ra những bài giảng mà đầu óc non nớt tôi nghĩ là chắc chắn canh cải được thế giới! Và nỗi bận tâm của tôi chỉ có thế. Từ đó nảy sinh ơn gọi làm linh mục nơi tôi. Giáo hội ấy, ngay từ tuổi thơ của tôi, đã nuôi dưỡng tôi mỗi sáng bằng Thánh-thể, mà dần hồi tôi khám phá được ý nghĩa và tầm quan trọng của bí tích ấy.

            Cũng chính Giáo-hội nầy đã giúp tôi hiểu một cách sâu xa về mầu nhiệm của Mẹ Maria, mầu nhiệm ấy không có ý nghĩa nào khác, hôm qua cũng như hôm nay, là dẫn ta đến với Chúa Giêsu. Giáo-hội nầy đã đưa cuộc đời tôi thấm nhập câu thiên-thần nói với Giuse: “Người đừng ngại đón nhận Maria, Đấng sinh ra trong lòng cô ấy là do từ Chúa Thánh-thần”.

          Tiếp đó, ngay từ bên trong cuộc sống Giáo-hội nầy, tôi đã tuần tự khám phá và cảm nghiệm được Chúa Thánh-thần. Tôi đã sống những biến cố “tình cờ” và những kinh nghiệm cho phép tôi sờ đụng được Ngài đang hiện diện ẩn kín và đang hành động trong đời tôi.

          Khi trở thành giám mục, tôi đã chọn ngay tước hiệu: “In Spiritu Sancto” (trong Chúa Thánh thần), và sự việc đó xảy ra năm 1945, in tempore non suspecto[2] , lúc mà không có ai trong Giáo-hội Công-giáo nói đến Phong-trào Canh-tân Thánh linh. 

          Và chính nhờ ánh sáng Chúa Thánh-thần, tôi đọc và hiểu đoạn kinh Tin-kính: “Tôi tin Giáo-hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.  Tính cách duy nhất và phổ quát nầy tôi càng ngày càng hiểu được là một đặc tính duy nhất “đa nguyên”, một sự duy nhất nền tảng thiết yếu nhưng mở ra trong muôn ngàn hình thái đa biệt trên nhiều lãnh vực khác nhau.

           Những cuộc gặp gỡ với các vị đi trước như Hồng-y Mercier, Dom Lambert Beauduin, cha Lebbe mở lối cho tôi hiểu rằng Giáo-hội Công giáo không phải là la-tinh, Âu châu nhưng cũng là Đông phương ở phương Đông, Phi châu ở Châu phi...Những khám phá ấy quan trọng vô cùng đối với tôi, giúp tôi mến yêu Giáo hội mà tôi tuyên xưng là “duy nhất” trong mối tình cao cả của Thiên Chúa đang ôm ẵm toàn thể thế giới.

           Và tôi cũng hân hoan đọc trong kinh Tin kính:“Tôi tin Giáo-hội thánh thiện”. Tôi ý thức rất sớm là khi nói đến “Mẹ thánh Giáo-hội”, không phải là nói đến sự thánh thiện của những con người khốn cùng như chúng ta đây, nhưng là sự thánh thiện của Chúa Thánh-thần đang thấm nhập Giáo-hội bằng ơn phúc của Ngài và bằng các bí tích.

           Một người bạn Hoa Kỳ đã kể cho tôi rằng ông ta đã tìm kiếm thật lâu để xem mình nên gia nhập Giáo-hội nào. Ông ta muốn tìm cho ra một Giáo-hội gồm toàn các người thánh thiện. Ông tìm nhiều năm và gõ nhiều cửa. Nhưng rồi một ngày nọ một người bạn cười nói với ông: “Charlie ơi, thôi ngừng đi tìm Giáo-hội gồm toàn người thánh đi! Trước hết vì điều đó không có. Thứ đến vì nếu mầy đi vào được đó, thì hỏng chuyện, Giáo-hội ấy sẽ hết còn là một Giáo-hội toàn người thánh”. Và ông ấy đã hiểu!

           Sự thánh thiện, tôi sờ đụng được qua những cuộc gặp gỡ với những con người có cuộc sống siêu nhiên cao độ, được người ta biết đến hoặc sống âm thầm. Những con người nầy đã cống hiến cho tôi hình ảnh Kitô giáo sinh động và thâm sâu, cũng như đời sống siêu nhiên và thần bí chân thật.  Nhờ vậy mà phân biệt được đâu là những đoàn sủng thật sự và đâu là đạo đức ngụy tạo.

           Sự thánh thiện mà tôi cảm nhận nơi Giáohội không phải chỉ phát lộ nơi cuộc sống trần thế nầy, mà cũng còn tiếp cận được trong mối hiệp thông với các thánh trên trời. Tôi thấy các ngài gần gũi với tôi.

            Một lần kia, tôi hân hạnh đọc một bài phỏng vấn ông Emilio Castro, một tín đồ giáo phái Méthodiste lúc ấy làm tổng thư ký của Hội-đồng Đại-kết các Giáo-hội ở Genève. Ông tâm sự với người ký giả là ông đã học được nhiều điều hay qua lối suy nghĩ của các Giáo-hội Phi châu về tổ tiên: “Các suy tư ấy giúp chúng ta nghĩ lại quan niệm của mình về sự hiệp thông giữa các thánh”.

          Hiệp thông với các thánh trên trời cũng là một phần trong cuộc sống siêu nhiên của tôi: tôi tin họ hiện diện cạnh tôi, và hân hoan chờ đợi để gặp họ trên trời... ngày mai. Và đã sống quá tuổi tám mươi như tôi, thì ngày mai ấy không còn xa! 

           Tôi cám ơn Giáo-hội tôi đã dạy cho tôi biết rằng chết là một bước vượt qua, và đó là lời cuối của cuộc sống nầy. Người ta thường nói: “cuộc sống là một câu nói mà ý nghĩa chỉ có thể hiểu được khi lời cuối được nói ra”. Tôi sung sướng chờ đợi để khám phá ý nghĩa nầy.

            Lời tuyên xưng đức tin của tôi chấm dứt với mấy chữ nầy: tôi tin Giáo-hội tông truyền. Lời tuyên xưng ấy biểu lộ sức mạnh và nỗi vui khi biết mình đang hiệp thông với tất cả các giám mục trên thế giới; các giám mục là hiện thân của truyền thống các tông đồ, bảo chứng truyền thống chân thật ấy và bảo đảm sự hiệp thông Thánh-thể chân thật. Vì nếu Giáo-hội cử hành Bí tích Thánh thể, thì chính Bí-tích Thánh-thể làm nên Giáo-hội và đính kết mối hiệp thông giữa các Giám-mục với nhau và với vị Giám-mục có trách vụ cũng cố anh em mình trong đức tin, là người canh giữ và bảo đảm sự hiệp nhất của cộng đoàn các Giám-mục. Đó là tất cả những gì linh hoạt trong tôi, mỗi ngày, khi tôi bước lên bàn thờ; nơi ấy, tôi mở lời cầu xin Thiên Chúa sau khi truyền phép Thánh thể:

          “Xin cho chúng con được bổ dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô, cũng được tràn đầy Chúa Thánh Thần, hầu trở nên một thân thể duy nhất”.

           Khi đọc lên lời kinh đại kết hằng ngày nầy, tôi giang tay rộng ra như ôm ẵm tất cả anh em của tôi. Và đồng thời tôi cũng thú nhận nỗi bất cập thật sự của mình để khẩn thiết cầu xin Chúa:

          “Xin Chúa đừng nhìn đến tội lỗi chúng con, nhưng xin hãy nhìn đến đức tin của Giáo-hội Chúa”.

                Tôi đã thực sự sống mối hiệp thông nầy với tất cả các Giám mục thế giới, đặc biệt với các vị Giáo-hoàng mà tôi có dịp gần gũi: Đức Piô XII, Đức Gioan XXIII, Đức Phaolô VI, Đức Gioan-Phaolô I và Đức Gioan-Phaolô II hôm nay, là vị đi khắp nơi trên thế giới, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, để nói cho thế giới về Đấng Cứu-độ duy nhất và chân thật. Kinh nghiệm ấy cũng là một nét riêng của đời tôi và thôi thúc tôi trung thành và biết ơn.

              Khi viết lên tất cả dòng chữ nầy, tôi muốn đúc kết câu trả lời của tôi bằng một hình ảnh, đó là hình ảnh mặt trời.

             Muốn tin vào mặt trời không nhất thiết phải đi vòng quanh thế giới mới nhận ra tác động chiếu sáng và sưởi ấm của nó. Chỉ cần để cho mặt trời chiếu dọi trên mình, ngay tại nơi mình cư ngụ.  Một khi tôi nhận được một tia nắng đổ trên mặt tôi, tôi buộc phải tin vào mặt trời đang chiếu sáng tôi. Và tôi cũng không cần phải loay hoay thắc mắc hoài về tác dụng của mặt trời ở các vùng khí hậu hay kinh tuyến khác. Tôi tin vào mặt trời Thiên Chúa, Thiên Chúa Ba ngôi, Thiên Chúa Cha Đức Giêsu-Kitô. Mặt trời ấy đã chiếu sáng và mãi chiếu sáng tôi trên bầu trời của Giáo-hội Công-giáo, tông truyền và Rô-ma. 

            Tôi mơ có ngày sự hiệp nhất sẽ xuất hiện tỏ tường. Trong lúc chờ đợi, tôi biết là người ta đang nỗ lực tiến đến hiệp nhất bằng nhiều cách khác nhau. Khi băng đá còn phủ mặt biển, thì việc làm thiết yếu của các nhà thần học - là những người đập vỡ băng đá - là tìm kiếm khối nước lưu chuyển ở bên dưới, đang bị từng khối lớp diễn tả khác nhau, đôi lúc quá dày cứng phân cách. Tuy thế, còn có chỗ cho những cuộc gặp gỡ giữa những người Kitô hữu hiệp lời cầu xin Chúa Thánh Thần tuôn đổ sức nóng của mặt trời để làm tan khối băng giá trong lòng chúng ta.

           Tất cả chúng ta đều phải để cho Chúa Giêsu-Kitô “Kitô hóa”, phải để “Chúa Thánh Thần thánh hóa chúng ta hầu vinh danh Chúa Cha”. Con đường của chúng ta phải đi còn dài, nhưng chúng ta phải dám tin vào mặt trời ngay bây giờ dù chúng ta có ở trong sương mù dày đặc hay trong đêm tối. Còn tôi, tôi tin vào những buổi bình minh ở Bắc cực nơi xa ánh mặt trời, và tôi biết rằng bình minh khởi đầu vào lúc nửa đêm.

( còn tiếp )

 Hồng Y LJ SUENENS

Về Mục Lục


 

 

 

Huyền Sử của Việt Nam:

Con đường LUYỆN VÀNG của Con Rồng Cháu Tiên

 

Chương Một :

Nguồn gốc Rồng Tiên

 

Con thân thương, hỡi con cháu Lạc Hồng,

Làn da con màu vàng đồng lúa chín,

Mái tóc con nhắc lại những dòng sông :

Sông Hồng, Sông Hương, Cửu Long cuồn cuộn,

Mang phù sa nuôi sống những mầm non,

Chuyên chở nước tưới mát những cánh đồng.

 

Quên sao được : Bàn tay con huyền nhiệm,

Tay Bà Trưng, Bà Triệu cứu Non Sông,

Tay sáng tạo bao chiến công xán lạn,

Tay Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…

Tay oanh liệt của cháu chắt Vua Hùng,

Mang dòng máu Rồng Tiên trong huyết quản.

 

Con thân thương, hỡi con cháu Lạc Hồng,

Hãy đứng thẳng, cho lòng người cường tráng,

Giữa dòng đời, ôm mãi vững niềm tin,

Đường con đi, hy vọng ở đáy lòng.

 

Trong đêm tối, ánh mắt tràn ánh sáng,

Người phản bội, mở rộng lòng tha thứ,

Dù té ngã, vẫn bước trọn con đường,

Giờ truân chiên, nở nụ cười tỏa rạng.

 

Con trọng đại, vì con là tất cả :

Là mảnh đất mầu mỡ của Quê Hương,

Một khu vườn ươm lại giống Tình Thương,

Xây Non Sông, làm tươi đẹp khóm phường.

 

Con bồi đắp cho ngày mai, tuổi trẻ,

Trồng rừng xanh phủ hết đất tang thương,

Cưu mang Trời, chiếu rạng vùng tăm tối,

Hạt Tình Người gieo vãi khắp mười phương.

 Bài chia sẻ của tôi có mục đích khai sáng một số vấn đề cụ thể như sau :

      Xuyên qua những câu chuyện huyền sử về “nguồn gốc Rồng Tiên” của người Việt Nam,Tổ Tiên muốn nhắn lại cho chúng ta và con cháu sau này những điều gì quan trọng ? Sứ điệp của các vị bao gồm những nội dung  như thế nào ? Giá trị của các sứ điệp ấy,trong những điều kiện sinh sống của chúng ta ngày hôm nay, còn mang tính hiện thực và thời sự nữa hay không? Hay đó chỉ là những chiếc áo đã lỗi thời, cũ kỹ, không còn thích hợp với con nguời có tinh thần khoa học, thuộc thời đại Nghìn Năm  Thứ Ba ?

      Để tháo mở một phần nào bao nhiêu vấn nạn ấy, chúng ta sẽ lần lượt khảo sát hai loại trọng điểm sau đây :

     Trong phần Một, với kỹ thuật “Sáu chiếc Mũ” của tác giả Ed. De Bono, chúng ta sẽ khám phá sáu tầng lớp ý nghĩa khác nhau của mỗi câu chuyện huyền sử.

    Trong phần Hai, xuyên qua những thành quả được phát hiện, chúng ta sẽ ý thức được rằng: mỗi câu chuyện huyền sử có mục đích đáp ứng và thỏa mãn bốn nhu cầu làm người có mặt trong bản thân của chúng ta. Đồng thời, những kết quả ấy cũng  làm nổi bật ba chiều kích trọng yếu có mặt trong bản sắc làm người của chúng ta.

                                                                          *

                                                                        *   *

 Phần MỘT : Sáu tầng lớp ý nghĩa của Huyền sử

     Để tránh những ngộ nhận và sai lầm, trong cách sử dụng từ ngữ, tôi xin đưa ra một số phân biệt quan trọng sau đây :

- Thứ nhất, Huyền sử không phải là lịch sử. Khi tôi chép lịch sử của một dân tộc hay xứ sở, tôi ghi lại những sự kiện và biến cố, một cách khách quan và xác thực được chừng nào hay chừng ấy. Những sự kiện và biến cố ấy được chính tôi chứng kiến, mục kích trực tiếp. Hay là tôi đã tham khảo và trích dẫn những tài liệu có giá trị, được các nhà chép sử khác công nhận. Tuy nhiên, với bao nhiêu nỗ lực có tính khoa học ấy, tôi còn phải thú nhận rằng : không bao giờ và không có chi là hoàn toàn khách quan một trăm phần trăm.  Khi sao chép, ghi nhận một sự kiện, tôi đã làm công việc chọn lựa, chắt lọc, cân nhắc, nghĩa là tôi đã vận dụng bao nhiêu ý kiến và lập trường chủ quan của tôi. Sau khi ghi nhận những sự kiện, tôi còn phải “thuyên giải”, nghĩa là xếp đặt lại, tìm ra ý nghĩa và xác định phương hướng hành động. Riêng trong hoàn cảnh Việt Nam, công việc chép sử chỉ mới khai sinh ở dưới Triều Lý (1010-1225), được kiện toàn ở dưới Triều Trần (1225-1400), và tương đối hoàn chỉnh ở dưới triều Lê (1418-1527). Tuy nhiên, vì chiến tranh xảy ra liên miên, nhiều tài liệu lịch sử đã bị tiêu hủy, đốt cháy và thất lạc. Từ Triều Lý trở lên về trước, trong vòng gần bốn ngàn năm , lịch sử của đất nước tuyệt đối không được ghi chép thành văn bản. Thay vào đó, chúng ta có những lời truyền tụng, những di tích và những hiện vật như cung tên, khí giới, trống đồng, đồ gốm… Những phương tiện nầy cho phép các sử gia thiết lập một số điểm mốc quan trọng, khả dĩ đánh dấu những giai đoạn phát triển của dân tộc Việt Nam từ thời Hồng Bàng (2879-258 trước tây lịch) cho đến ngày hôm nay.

- Khác với lịch sử, như chúng ta vừa trình bày ý nghĩa, Huyền sử bao gồm nhiều câu chuyện vừa thực vừa mơ, “bàn về” nguồn gốc của Đất Nước và Dân tộc, do tổ tiên và cha ông chúng ta thừa kế từ đời trước và truyền lại cho các đời sau, qua bao nhiêu tầng lớp thế hệ nối đuôi nhau. Tác giả Trần Thế Pháp là người đầu tiên, vào cuối thế kỷ 14, dưới thời Trần Ngệ Tông làm thượng Hoàng, đã lượm lặt, sưu tầm những câu chuyện ấy và chép lại thành văn bản, với tựa đề “Lĩnh Nam Chích Quái”. Tác phẩm nầy, gần 100 năm sau, vào cuối thế kỷ 15, chung quanh thời điểm là năm 1492, đã được tác giả Vũ Quỳnh  sắp xếp lại, thay đổi thứ tự và lập thành một văn bản mới. Phải đợi đến năm 1973, chúng ta mới có được một tác phẩm bằng quốc ngữ, do “Tiếng Đông Phương” xuất bản tại Sài gòn và “Sống Mới” phát hành. Sách dày 665 trang, mang tựa đề là “ Việt Nam Văn Học Toàn Thư, thần thoại, cỗ tích”. Tác giả là Hoàng Trọng Miên đã sưu tầm, bổ túc bằng cách thêm vào nhiều câu chuyện của các dân tộc thiểu số.

- Thông thường, khi nói đến nguồn gốc “Rồng-Tiên” của người Việt Nam, rất nhiều tác giả chỉ đề cập đến câu chuyện “Lạc Long Quân thuộc giống Rồng kết hôn với Bà Au Cơ thuộc giống Tiên. Từ liên hệ vợ chồng nầy, một trăm đứa con được sinh ra cùng một lúc, trong cùng một bọc trứng. Cho nên bây giờ, chúng ta gọi nhau là ĐỒNG BÀO, có nghĩa là anh chị em cùng chia sẻ với nhau một bào thai”.Vì vô tình hay hữu ý, khi quá nhấn mạnh câu chuyện nầy, các tác giả ấy đã bỏ quên vai trò và ý nghĩa của nhiều câu chuyện khác không kém phần quan trọng, như :

* Ba công trình vĩ đại của Lạc Long Quân là diệt tan Ngư tinh, Mộc tinh và Hồ tinh,

* Thánh Gióng đi đánh giặc An, lúc lên ba tuổi,

*  Bánh dày và bánh chưng của Lang Liệu,

*  Cuộc tranh chấp sống mái giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh,

*  Thần Kim Qui giúp Vua An Dương Vương xây dựng Thành Cổ Loa,

*  Trọng Thủy lấy Mỵ Châu làm vợ và cướp mất chiếc nỏ thần bảo quốc đem về Tàu.

- Cũng vì lý do thiếu khả năng phân biệt một cách rõ ràng giữa lịch sử và huyền sử, nhiều cuộc trao đổi giữa chúng ta, chung quanh vấn đề Huyền sử, đã dễ dàng thoái hóa thành những vụ tranh chấp, xung đột, mang đầy tính chất bạo động và nhị nguyên như :

* Tôi đúng-kẻ khác sai,

* Tôi có lý-kẻ khác vô lý,

* Tôi hơn-kẻ khác thua,

* Tôi có óc khoa học-kẻ khác vô học.

     Và khi tinh thần nhị nguyên đã khống chế tâm tư và cuộc đời, với những nhu cầu phân biệt trắng-đen rõ rệt, bạn-thù quang minh, chúng ta trở nên mù quáng. Vô minh tràn ngập mọi hang cùng ngõ hẻm của tâm hồn. Đôi mắt chúng ta không còn có đầy đủ ánh sáng, để nhận ra khuôn mặt thân thương của người anh chị em. Dòng máu luân chuyển trong cơ thể của họ, phải chăng cũng là dòng máu Rồng Tiên đang đập nhịp trong quả tim của chúng ta?

      Thế mà trong lịch sử của nước nhà, cứ mỗi lan một triều đại mới lên nắm chính quyền, lại xãy ra quang cảnh thanh trừng, đổ máu, thịt nát, xương rơi, nồi da xáo thịt. Đã một thời, Trần Thủ Độ, vị công thần khai nguyên Nhà Trần,  đào hầm, gài bẫy, chôn sống nhiều con cháu của Nhà Lý. Vào cuối đời Trần, Hồ quí Ly lại tìm cách tận diệt những viên chức trung tín với Nhà Trần. Nhà Nguyễn, sau khi đánh thắng Tây Sơn, đã đào mồ, quật mã, mạ lị hài cốt của tổ tiên họ. Vào năm 1945, nhiều chí sĩ như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi cũng đã bị thủ tiêu, khi chưa có án lệnh, vì bị chụp mũ là Việt gian, bán Nước, theo Tây.

      Cho đến bao giờ, người Việt Nam, trong cũng như ngoài Nước, mới có khả năng lắng nghe sứ điệp của Tổ Tiên và Cha Ông ? Qua các câu chuyện huyền sử, phải chăng các vị hôm nay vẫn đang còn nhắn nhủ chúng ta rằng : hai người Việt Nam có thể khác nhau như Trời và Biển, như Rồng và Tiên. Vâng chúng ta đang bộc lộ những sắc thái khác nhau, trên nhiều phương diện. Nhưng khác mà không khai trừ, loại thải nhau. Khác, mới có thể bổ túc, kiện toàn cho nhau, cùng nhau làm nên những kỳ công trọng đại cho quê hương và anh chị em đồng bào, giống như Lạc Long Quân đã làm, cách đây hơn bốn ngàn năm về trước.

      Có người đòi hỏi những sự kiện cụ thể, khách quan trong các câu chuyện huyền sử ? Chúng ta chỉ cần can đảm nhìn mình, nhìn cuộc sống hai bên cạnh , chúng ta sẽ khám phá một cách dễ dàng: những hiện tượng xung đột giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh không phải là những câu chuyện hoang tưởng, bịa đặt.. Nhưng đó là những hiện thực hoàn toàn khách quan, đang xãy ra hôm nay, ở đây và bây giờ, trước mắt chứng kiến của chúng ta. Ngay cả trong tâm hồn và cuộc đời của chúng ta.

      Câu nói của Thần Kim Qui, trả lời cho Vua An Dương Vương : “Kẻ thù đang ngồi ở sau lưng Nhà Vua” còn mang rất nhiều tính thời sự, trong hoàn cảnh của Đất Nước, ngày hôm nay.

      Nói tóm lại, con đường tư duy độc lộ chỉ dẫn đưa chúng ta đến một ngõ cụt : đó là tình trạng bạo động hận thu, kỳ thị chiến tranh, chết chóc và lầm than. Thay vào đó, tác giả Ed. De BONO đề nghị chúng ta học hỏi và tôi luyện một lối nhìn đa năng đa diện, mang tên là “kỹ thuật SÁU CHIẾC MŨ”. Mỗi lần nói về mình, về người khác, hay là cùng nhau khảo sát một vấn đề – chẳng hạn như tìm hiểu ý nghĩa của Nguồn gốc Rồng Tiên - chúng ta hãy lần lượt đội lên đầu sáu chiếc mũ Trắng, Đen, Vàng, Đỏ, Xanh da trời và Xanh lá cây.

      Với chiếc mũ màu trắng, chúng ta làm công việc ghi nhận sự kiện cụ thể và khách quan, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Chúng ta nghe làm sao, chúng ta nói lại y nguyên, không thêm không bớt. Chúng ta thấy gì, chúng ta trình bày lại, một cách trung thực, cơ hồ tấm gương soi phản ảnh  tất cả những gì đang xảy ra ở đằng trước.

      Với chiếc mũ màu đen, chúng ta rút ra một cách có ý thức những sự kiện, mà chúng ta đánh giá là tiêu cực, có những hạn chế rõ rệt. Tuy nhiên, chúng ta phải có can đảm nêu lên những lý do giải thích thể thức đánh giá của chúng ta. Sau đó, chúng ta lắng nghe và cho phép kẻ khác phát biểu, biện hộ, nêu lên những thắc mắc của mình.

      Với chiếc mũ màu vàng mặt trời, chúng ta cố gắng phát hiện những khía cạnh tích cực, năng động…- nếu tìm, thế nào cũng có - trong bao nhiêu ý kiến mà chúng ta vừa phê bình và đánh giá.

     Với chiếc mũ màu đỏ, chúng ta diễn tả những xúc động hoàn toàn chủ quan của mình, như buồn, lo, tức giận, sợ hải. Vì đây là những phản ứng hoàn toàn chủ quan, chúng ta hãy dùng sứ điệp ngôi thứ nhất TÔI, để phát biểu và đảm nhận ý kiến của mình, một cách chân thành và sáng suốt. Không ném đá giau tay. Không vơ đũa cả nắm. Không giận cá chém thớt. Chúng ta bộc lộ nhu cầu và nguyện vọng của mình. Đồng thời chúng ta cho phép kẻ khác từ chối, không thỏa mãn chúng ta, vì đó cũng là quyền lợi riêng tư của họ.

      Với chiếc mũ màu xanh da trời, chúng ta đúc kết, rút ra ý nghĩa từ những sự kiện,  mà chúng ta đã thu lượm , với bốn chiếc mũ trước đây. Giai đoạn nầy mang tên là THUYÊN GIẢI, bao gồm ba công việc khác nhau nhưng bổ túc cho nhau. Thứ nhất là tóm lược quá khứ, rút ra những kết luận, sau khi đề xuất và kiểm chứng một cách nghiêm chỉnh những giả thuyết hay là những hướng đi giả định. Công việc thứ hai là xác định những công việc cần thực hiện, trong hiện tại. Thứ ba là dự phóng, tiên liệu hay là chuẩn bị con đường cho tương lai.

      Khi nhiều ý nghĩa được đề xuất cùng một lúc, chúng ta phải xếp đặt thành thứ tự ưu tiên. Và chương trình nào quan trọng nhất, phải được chúng ta giải quyết và thực hiện, truớc tất cả mọi dự phóng khác được đề xuất, nhưng hiện thời, đó chưa phải là những điều cấp thiết và khẩn trương.

      Nói tóm lại, chiếc mũ xanh da trời  kêu mời, thúc giục chúng ta đi lên, mở rộng tầm nhìn, đúng như câu thơ của Thi sĩ Trụ Vũ đã diễn tả :

           “Bởi vì mắt thấy trời xanh,

             “Cho nên mắt cũng long lanh màu trời.

             “Bởi vì mắt thấy bể khơi,

             “Cho nên mắt cũng xa vời đại dương”.

      Sau cùng, với chiếc mũ màu xanh lá cây, chúng ta bắt tay vào việc, “làm nên mùa xuân” trong lòng đất nước, thực hiện những gì đã được đề xuất, thay vì chỉ hô hào, tuyên truyền láo khoét. Hơn ai hết, chính Nguyễn Trãi đã yêu cầu chúng ta, cách đây hơn năm thế kỷ :

             “Lấy Đại Nghĩa mà thắng hung tàn,

             “Lấy Chí Nhân mà thay cường bạo”.

      Nếu mỗi người trong chúng ta, ai ai cũng có khả năng sử dụng sáu chiếc mũ, để nhìn lại, ngẫm lại nguồn gốc RỒNG TIÊN của mình và dạy lại cho con cái biết làm như chúng ta, tôi chăc chắn rằng : bản thân chúng ta ĐÃ và SẼ viết được những trang sử kỳ hùng cho quê hương và anh chị em đồng bào, giống như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng

( Còn tiếp )

Gs.Nguyễn Văn Thành

Về Mục Lục


   CÁI LƯỠI

    Chuyện phiếm của Gã Siêu.

    Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :

     - Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.

     Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.

     Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :

     - Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

     Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :

     - Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình sinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !

     Hay :

     - Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.

     Và như chúng ta đã thấy :

     - Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một  nhịp cầu cảm thông.

     Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :

     - Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.

     Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.

     Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.

     Do đó Kinh thánh đã bảo :

     - Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.

     Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :

     - Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.

     Trước hết là trong lãnh vực gia đình.

     Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.

     Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.

     Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.

     Đứa bé chạy tới và nói :

     - Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.

     Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.

     Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.

     Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.

     Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.

     Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ  nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :

   - Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.

     Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :

     - Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.

     Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.

     Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :

     - Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…

     Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng,  đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !

     Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !

     Bởi đó, tục ngữ đã dậy :

     - Chồng giận thì vợ làm lành

       Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.

     - Chồng giận thì vợ bớt lời

     Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.

     Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.

     - Bên thẳng thì bên phải chùng

       Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.

     - Bên giận thì bên phải lùi

       Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.

     Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :

     - Một sự nhịn là chín sự lành.

     Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :

     - Lời nói chẳng mất tiền mua

       Liệu lời mà  nói cho vừa lòng nhau.

     Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.

     Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :

     - Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

     Hay như ca dao đã diễn tả :

     - Ở sao cho vừa lòng người

       Ở rộng người cười ở hẹp người chê

       Cao chê ngỏng, thấp chê lùn

       Béo chê béo trục béo tròn

       Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.

     Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.

     Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những  giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.

     Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.

     Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.

     Sau cùng là trên bình diện cá nhân.

     Như chúng ta đã biết :

     - Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.

     Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người  và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.

     Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy,  thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.

     Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

     Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người,  như một câu danh ngôn đã bảo :

     - Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự,  còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.

     Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.

     Như thế, nếu không biết sử  dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.

     Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.

     Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.

     Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp  núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.

     Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.

     Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau:

     - Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.

     Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.

     Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.

     Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :

     - Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.

    Gã Siêu

      www.chungnhanduckito.net/doithuong.htm

    Về Mục Lục

  TRANG ĐẦU

Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực chắp cánh cho GHVN bay lên