|
Những
số báo đã phát hành MỤC LỤC
|
NGƯỜI CÔNG GÍAO PHẢl
YÊU MẾN TỔ QUỐC Vatican 2 |
|
TÂM TÌNH HAI THÁNH TÔNG
ĐỒ TRONG ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II + Gm. GB. Bùi Tuần |
|
“Hãy kính trọng người
khác” Gs. Ngô Nhân Dụng (Tôn giáo bạn) |
|
ĐỨC GIÁO HOÀNG của DÂN
CHÚNG (The People’s Pope) Lm. Jos. Cao Phương Kỷ |
|
Đức Gioan-Phaolô II Gs. Trần Ngọc Báu |
|
TOTUS
TUUS! Kính nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II Lm. Vũ Xuân Hạnh |
|
Những THÁCH ĐỐ Nhà văn Trần Phong Vũ |
|
|
|
Dấu Ấn Tình Yêu Lm. Dũng Lac Trần Cao Tường |
|
Bên cầu biên giới
Nhà Văn Quyên Di |
|
Cuộc phỏng vấn đài BBC Ngày Chúa
nhật 3.4.2005
Gs. Nguyễn đăng Trúc |
|
Thánh Cười Sv. Ngô văn Thích |
|
Khóc Chuyện phiếm của Gã Siêu |
|
NGƯỜI CÔNG GÍAO PHẢl YÊU MẾN TỔ QUỐC
VÀ TRUNG THÀNH CHU TOÀN MỌl NGHĨA VỤ
CÔNG DÂN
Môi trường hoạt động tông đổ mở rộng bao
la trên bình diện quốc gia và quôc tế, trong đó, hơn ai hêt, giáo dân
là những người nắm giữ và phân phát sự khôn ngoan Ki-tô giáo. Tận tâm
đối với quốc gia và trung thành chu toàn nghĩa vụ công dân, người Công
giáo cảm thấy bó buộc phải cổ võ cho công ích thực sự, và họ phải làm
sao cho ý kiến của họ ảnh hưởng tới chính quyền, để quyền hành được
thực thi cách chính đáng và để luật lệ đáp ứng những đòi hỏi của luân
lý và công ích. Những người Công giáo có khả năng làm chính trị và đã
được huấn luyện đầy đủ về đức tin và giáo lý đừng từ chôí tham gia
việc nước, bởi vì nhờ thi hành nhiệm vụ cách tôt đẹp, họ có thể đóng
góp vào công ích và dổng thời mở dường cho Tin Mừng.
Người Công giáo phải tìm cách cộng tác
với tất cả mọi người thiện chí để cổ động cho bất cứ những gì là chân
thật, công bằng, thánh thiện và đáng yêu quý (x. Pl 4,8). Người Công
giáo hãy đôí thoại với họ, hãy đến với họ cách khôn ngoan và tế nhị,
hãy tìm cách kiện toàn những cơ cấu xã hội và quốc gia theo tính thần
Tin Mừng.
Trong các dấu chỉ của thời đại chúng ta,
phải đặc biệt chú ý tới ý thức ngày một tăng và không thể tránh được
về sự liên đới giữa các dân tộc, mà nhiệm vụ của hoạt động tông đồ
giáo dân là phải lo lắng phát triển, và biến nó thành một tâm tình
chân thành và thiết thực về tình huynh đệ. Hơn nữa, giáo dân còn phải
ý thức về lãnh vực quốc tế và về những vấn đề cũng như những giải pháp
trên lí thuyết hay trong thực hành đang được để ra, nhất là về những
vấn đề liên quan tới các dân tộc đang nỗ lực phát triển.
Tất cả những ai làm việc Ở các nưởc khác
hay đang trợ giúp những nước ấy phải nhớ rằng những mốì bang giao giữa
các dân tộc phải là cuộc trao đổi huynh đệ đích thực, trong đó, cả hai
bên cùng cho và cùng nhận. Còn những ai xuất ngoại để lo công việc hay
để giải trí phải nhớ rằng, dù Ở đâu, họ cũng vẫn là sứ giả lưu động
của Đức Ki-tô và họ phải sống đúng danh xưng đó.
(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của
Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 14).
VỀ MỤC LUC
|
|
TÂM TÌNH HAI THÁNH TÔNG ĐỒ TRONG ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
Từ lúc Đức Gioan Phaolô II vừa tạ thế
đến bây giờ, Việt Nam có một cái gì rất mới. Mọi tầng lớp xã hội, mọi
địa phương đều được nghe nói về Ngài, đều được xem thấy Ngài, qua các
phương tiện truyền thông.
Hôm nay, tôi nói về Ngài, như một nhân
chứng về Ngài.
Như một nhân chứng, vì tôi đã gặp Ngài
nhiều lần.
Điều tôi muốn làm chứng về Đức Gioan
Phaolô II hôm nay là: Tâm tình của Ngài rất giống tâm tình của hai
thánh tông đồ, Gioan và Phaolô.
Tâm tình tạ ơn
Khi tôi trình với Ngài tình hình giáo
phận, như việc giữ đạo và truyền đạo trong mọi hoàn cảnh dù thuận lợi
hay không thuận lợi, Ngài luôn đón nhận bằng lời: Tạ ơn Chúa.
Lời Ngài tạ ơn Chúa là một gợi ý sâu.
Tôi được gợi ý nhớ lại tâm tình hai
thánh tông đồ mà Ngài mang tên. Cả hai đấng ấy đều luôn coi việc tạ ơn
Chúa là một việc quan trọng trong bổn phận được làm con Thiên Chúa, và
làm tông đồ Chúa.
Đôi khi, tôi trình với Đức Thánh Cha vài
chi tiết rất nhỏ. Như trong việc gieo trồng hạt giống Tin Mừng, tôi đã
được giúp đỡ bởi nhiều người ngoài công giáo, Ngài càng tỏ ra vui mừng
trong lời tạ ơn Chúa.
Vẻ vui mừng đó gợi ý thêm cho tôi về
việc phải mở rộng cái nhìn của tôi, để nhận ra việc Chúa làm trong các
tâm hồn.
Lời tạ ơn Chúa của Ngài cũng nhắc cho
tôi là: Hãy biết tạ ơn Chúa dù gặp khó. Nghĩa là dù trong hoàn cảnh
nào, tôi vẫn cứ phải là người gieo trồng, vẫn cứ phải là người ra khơi
truyền giáo, vẫn cứ phải là người làm chứng cho Thiên Chúa Tình Yêu,
vẫn cứ phải là người được sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo
khó.
Gặp khó mà biết kiên trì và xin ơn khôn
ngoan của Chúa Thánh Thần, đó là điều rất phải tạ ơn Chúa.
Bên cạnh tâm tình tạ ơn, tôi thấy Đức
Gioan Phaolô II hay tỏ lộ một tâm tình khác. Đó là lo âu.
Tâm tình lo âu
Trong trao đổi, tôi không giấu Ngài
những lo âu của tôi. Nghe vậy, Ngài tỏ vẻ đồng cảm với tôi. Hơn nữa,
Ngài còn cho thấy Ngài mang nặng nhiều lo âu hơn tôi nhiều.
Lo âu của Ngài là: Những thành công hôm
nay chưa chắc sẽ tồn tại mãi. Thánh Phaolô đã thiết lập nhiều giáo
đoàn phồn thịnh. Nhưng liền sau đó đã bị suy thoái. Thánh Gioan cũng
đã chứng kiến bầu khí sốt sắng ban đầu của 7 giáo đoàn Tiểu Á. Nhưng
về cuối đời, Ngài đã thấy những giáo đoàn đó sa sút. Vì thế, những
người đứng đầu các cộng đoàn cần khiêm tốn tỉnh thức và cầu nguyện.
Về lo âu, Đức Gioan Phaolô II có một cái
nhìn xa và sâu rộng. Như não trạng tự do quá trớn, phong trào hưởng
thụ, phong trào dửng dưng tôn giáo, phong trào tục hoá, phong trào
luân lý đồi truỵ tràn lan, phong trào tôn giáo cực đoan quá khích.
Cảm được phần nào những lo âu của Đức
Thánh Cha, tôi rất mến thương Ngài. Tôi nghĩ những lo âu Ngài tỏ lộ ra
chưa phải là tất cả. Còn có nhiều lo âu khác, mà Ngài chỉ để trong
lòng mà suy gẫm và cầu nguyện, như Đức Mẹ xưa.
Tuy nhiên, được tiếp xúc với Đức Gioan
Phaolô II, tôi thấy lo âu không phải là kết thúc, nhưng mọi vấn đề đều
được Ngài kết thúc bằng hy vọng.
Tâm tình hy vọng
Ngài luôn hy vọng: Tình hình sẽ khả quan
hơn, nếu nếp sống đạo trở về gắn bó với Đức Kitô. Trở về gắn bó với
Đức Kitô, đó cũng là hy vọng tha thiết và căn bản của hai thánh tông
đồ Gioan và Phaolô.
Nhưng không phải một Đức Kitô khác ngoài
Phúc Âm, mà là một Đức Kitô được thuật lại trong Phúc Âm. Một Đức Kitô
luôn sống vâng phục thánh ý Chúa Cha. Một Đức Kitô coi điều răn yêu
thương nhau là căn bản.
Có lần, tôi đã trình với Đức Thánh Cha
thế này: "Mùa Xuân thiêng liêng sẽ đến với Hội Thánh toàn cầu từ những
Hội Thánh địa phương xa xôi, nhỏ bé, túng nghèo. Vì họ dễ gắn bó với
Chúa Giêsu".
Nghe nói thế, Ngài trả lời: Đức Cha nói
đúng. Tôi cũng nghĩ vậy.
Riêng tôi, lại nghĩ thêm rằng: Những Hội
Thánh nghèo, xa xôi, bé nhỏ đó cũng thường có lòng sùng kính Đức Mẹ.
Nhờ Đức Mẹ, mà họ đi về với Đức Kitô. Đó cũng là tâm tình của thánh
Gioan.
Ba tâm tình trên đây,
tức tạ ơn
lo âu
hy vọng
là những dòng tâm tình chảy vào hồn tôi
rất mạnh từ Đức Gioan Phaolô II. Đó cũng là tâm tình của hai thánh
tông đồ Gioan và Phaolô. Đó cũng chính là tâm tình rất cần cho mọi
người tín hữu chúng ta.
Khi cầu cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô
II đã qua đời, chúng ta xin Chúa cũng chia sẻ sang chúng ta 3 tâm tình
trên đây. Đó là tâm tình của hai thánh tông đồ. Đó là tâm tình của Đức
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Thiết tưởng, đây là một cách báo hiếu
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II một cách thiết thực nhất.
Và như vậy, Ngài qua đời, nhưng tinh
thần của Ngài sẽ không qua đi. Tinh thần của Ngài sẽ sống mãi trong
chúng ta.
+ Gm. GB. Bùi Tuần
VỀ MỤC LUC |
|
“Hãy
kính trọng người khác”
NGUOI VIET ONLINE Friday April 8, 2005
Bình Luận
Từ lúc nghe tin Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô Đệ Nhị qua đời ở Rome, tại Ba Lan mỗi đêm nhiều gia đình thắp
nến đặt trên thành cửa sổ. Hàng ngàn ngọn nến, hàng triệu ngọn nến,
tỏa ánh sáng leo lét trong đêm, như những giọt nước mắt của hàng triệu
đồng bào của vị giáo hoàng sinh ra ở giáo xứ Wadowice, được cha mẹ đặt
tên là Karol Wojtyla và đã làm Tổng Giám Mục ở Giáo Phận Krakow, Ba
Lan, gần 20 năm.
Lần trước dân Ba Lan tự động thắp nến
hàng đêm, cũng gây nên một phong trào như vậy là vào năm 1981. Lúc đó
họ muốn bày tỏ một nỗi buồn chung, cái tang lớn của đất nước, sau khi
chính phủ cộng sản tuyên bố thiết quân luật và đàn áp phong trào Công
Đoàn Đoàn Kết. Lần này, Đức Giáo Hoàng qua đời là một cái tang chung
của nhân loại.
Ngày hôm qua, di chúc của Đức Giáo Hoàng
được công bố. Bản di chúc viết nhiều lần vào những mùa suy ngẫm trước
Lễ Phục Sinh, bắt đầu từ năm 1979. Lúc đó ngài mới 59 tuổi, gần nửa
năm sau khi đăng quang. Phần chót của di chúc viết ngày 17 Tháng Ba
năm 2000; trong đoạn thứ 5 ngài bày tỏ tình thương yêu và biết ơn đối
với các giáo hữu, cả những người thuộc những giáo hội Thiên Chúa Giáo
khác, đặc biệt, với cả những người không theo Thiên Chúa Giáo mà ngài
đã gặp. Đến đoạn thứ 6 là đoạn sau cùng, Đức Giáo Hoàng viết: “Những
ngày cuối cùng của đời tôi đang tới gần khiến tôi trở lại với kỷ niệm
những ngày đầu tiên, trở về với cha mẹ tôi, anh tôi, chị tôi (tôi
không bao giờ gặp vì chị đã qua đời trước khi tôi sinh ra), nhớ lại
giáo xứ Wadowice, nơi tôi được rửa tội, nhớ thành phố mà tôi thương
yêu, các bạn bè, từ trường tiểu học, trung học tới đại học, cho tới
thời bị (Ðức Quốc Xã) chiếm đóng lúc đó tôi là một công nhân, nhớ
tới... nhớ tới tất cả các nơi... tới Krakow và Rome... tới những người
mà Chúa đã trao vào tay tôi theo cách riêng của Ngài. Tôi chỉ muốn nói
với tất cả một lời này: Xin Chúa thưởng công bội hậu quý vị.”
Những hồi tưởng đầu tiên của Đức Giáo
Hoàng là trở về với cha mẹ, gia đình, quê quán, cho ta thấy tấm lòng
của ngài không bao giờ rời xa quê hương. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã
lãnh đạo một tỷ tín đồ Giáo Hội Công Giáo La Mã trong hơn một phần tư
thế kỷ nhưng ngài sẽ được nhớ tới nhất trong lịch sử loài người vì đã
góp công vào việc giải thể chế độ cộng sản ở Âu Châu, giúp hàng trăm
triệu người được sống tự do từ 15 năm nay. Và sự nghiệp đó gắn liền
với tình yêu quê hương của ngài, mối liên hệ của ngài với con người và
xứ sở Ba Lan. Ngài kết hợp với đất nước Ba Lan làm một, nhờ thế tạo mà
nên sức mạnh thay đổi thế giới.
Chuyến về thăm quê hương của ngài làm
rung chuyển các nước Đông Âu đang sống dưới chế độ cộng sản. Từ thế kỷ
19 đã có những thi sĩ Ba Lan tiên đoán sẽ có ngày một người gốc Tư Lạp
Phu (Slave) lên ngôi giáo hoàng. Năm 1979, trước mắt hàng triệu người
Ba Lan, những lời tiên tri đó đã thành sự thật, và mang lại thêm cho
họ một tinh thần dũng mãnh. Sau Thánh Lễ ở Warszawa, Đức Giáo Hoàng đã
cầu nguyện Thượng Đế xin “thay đổi bộ mặt của trái đất, của trái đất
này.” Và ngài khuyến cáo dân Ba Lan: “Đừng khiếp sợ!” Lời khuyên đó
vang dội khắp nơi, nhất là cho những người đang sống trong nỗi khiếp
sợ mà chế độ cộng sản ngoại lai đặt lên với guồng máy công an mật vụ:
“Đừng khiếp sợ! Các bạn có thể làm được nhiều hơn nữa! Hãy hành động,
dũng cảm và hòa bình!” Và sau đó dân Ba Lan đã hành động. Người ta
thường kể chuyện khi Stalin được nghe về ảnh hưởng của vị giáo hoàng ở
La Mã, ông đã đặt câu hỏi: “Thế ông Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn?”
Nếu còn sống, Stalin chắc sẽ thấy câu trả lời, khi chế độ cộng sản sụp
đổ.
Nhà văn Ba Lan Henryk Wozniakowski viết:
“Các người viết tiểu sử thường nói thiên tài của Stalin là ông có thể
nhìn thấy trong các người chung quanh ông những điểm yếu nhất, xấu
nhất, hèn hạ và độc ác nhất, rồi tìm cách thao túng những mặt xấu nhất
của con người. Thiên tài của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nằm ở cực
điểm đối nghịch. Ngài có khả năng khơi dậy trong mỗi con người những
đức tính, cái ý muốn làm điều thiện, muốn tìm sự thật, nhiều khi đang
bị vùi lấp.” Nhà văn nhìn thấy cuộc nổi dậy của phong trào Đoàn Kết
trong những năm 1981, 1982 chính là do tấm lòng muốn được sống trong
sự thật và trong công lý, tích lũy trong lòng người Ba Lan từ bao năm,
bất chợt bùng lên cùng một lúc trong trái tim mọi người sau chuyến
viếng thăm của vị Giáo Hoàng Tư Lạp Phu đầu tiên trong lịch sử.
Một nhà văn Ba Lan khác, Stefan Chwin,
kể lại lần đầu tiên ông thấy Đức Giáo Hoàng là năm 1987, ngài cử hành
Thánh Lễ ở sân bay cũ thành phố Gdansk, nơi phát xuất phong trào Đoàn
Kết. Chế độ cộng sản vẫn còn đó, vững vàng, Công Đoàn Đoàn Kết bị đặt
ra ngoài vòng pháp luật. Stefan Chwin trông thấy trong đám người dự
lễ, hàng triệu người, những lá cờ mang tên Slodarnos phất lên. Rồi đến
quốc kỳ của những nước Tiệp Khắc, Lithuania, Ukraina, những nước cũng
sống trong chế độ cộng sản do Nga Xô đặt lên. Những người mang các lá
cờ đó chứng tỏ họ “không khiếp sợ!” Sau buổi lễ, giáo dân kéo về phía
thành phố, đi qua những hàng xe thiết giáp của công an đứng chờ can
thiệp. Nhà văn nhận xét, “Chương trình cải tổ của Công Đoàn Đoàn Kết
chắc không xuất hiện được, nếu không có những lời giảng của Đức Giáo
Hoàng về vai trò của xã hội công dân.”
Henryk Wozniakowski cho rằng sự giải
phóng các sức mạnh quần chúng làm lung lay chế độ cộng sản thực ra
không phải là chủ ý của Đức Giáo Hoàng. Ngài không là một nhà chính
trị, không muốn làm chính trị. Biến cố đó chỉ là một hậu quả do cá
tính con người của Karol Wojtyla tạo ra. Đó là cách ngài nhìn về nhân
loại, là con người sinh ra phải có phẩm giá và xứng đáng được yêu
thương. Những lời dạy của Đức Giáo Hoàng và sứ mạng ngài theo đuổi là
Tình Yêu và Phẩm Giá Con Người. Ông viết: “Di sản Đức Giáo Hoàng để
lại cho tất cả mọi người, không cứ người Thiên Chúa Giáo, là: Nếu bạn
muốn tự thay đổi và thay đổi thế giới, hãy kính trọng người khác, hãy
cố yêu thương họ và bày tỏ niềm tin của bạn bằng hành động.” Ngay sau
khi chế độ cộng sản sụp đổ ở quê hương ngài, Đức Giáo Hoàng đã lên
tiếng cảnh cáo cả thế giới về mối đe dọa của khuynh hướng duy vật do
xã hội tiêu thụ mà kinh tế tư bản tạo ra.
Stefan Chwin cũng nhìn thấy nơi Đức Giáo
Hoàng những thái độ và cử chỉ không câu nệ vào nghi lễ, đó là điều lôi
cuốn người Ba Lan nhất. “Ngài lôi cuốn họ vì ngài bơi lội, ngài trượt
tuyết, hay khi ngài cúi xuống hôn mảnh đất quê hương lúc trở về. Rõ
ràng nhất, là họ thấy ngài tỏ ra kính trọng những người khác ở khắp
nơi trên trái đất.” Ngay cả một người vô thần như ông Vaclav Havel,
Tổng Thống Cộng Hòa Tiệp, cũng có thể chia sẻ nhiều điều chung với Đức
Giáo Hoàng. Ngài đã lên tiếng xin lỗi về những nhầm lẫn trong quá khứ,
đối với người Do Thái, về các cuộc thập tự chinh, vân vân. Ngài là vị
giáo hoàng đầu tiên bước vào một thánh đường Hồi Giáo, Umayyad. Stefan
Chwin mô tả Giáo Hoàng Gioan Phaolô II như “Một nhà lãnh đạo tôn giáo
mà không dạy lòng thù hận vì tôn giáo, một người không muốn tranh chấp
với ai, một người không trừ bỏ ai mà không lắng nghe.”
Mời quý vị đọc và suy ngẫm những nhận
xét về Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II của hai nhà văn xứ Ba Lan,
trong ngày tang lễ. Họ nhìn ngài trước hết như một con người, như một
con người bình thường luôn luôn vươn tới điều thiện và từ đó khơi dậy
được tấm lòng thiện nơi người khác, kể cả những người không cùng tôn
giáo. Ngài chứng minh rằng chỉ tấm lòng thiện mới tạo ra được lòng
thiện nơi mọi người khác. Được sống cùng thời với những con người đáng
yêu đáng kính như vậy, được nhìn ngẫm một tấm gương trước mắt, đó là
một điều may mắn cho tất cả chúng ta.
Gs. NGÔ NHÂN DỤNG
VỀ MỤC LUC |
|
ĐỨC GIÁO
HOÀNG của DÂN CHÚNG (The People’s Pope)
THẾ
GIỚI THƯƠNG NHỚ MỘT VỊ LÃNH ĐẠO NHÂN ÁI
Đối với người theo Thiên Chúa Giáo, đặc
biệt hơn một tỷ người Công Giáo hằng năm vẫn coi Tuần Thánh( Kỷ Niệm
Chúa chịu Chết và Sống Lại) là quan trọng hơn mọi nghi lễ trong năm.
Khách hành hương tuốn về Thủ Đô Roma để tham dự các buổi Lễ do Đức
Giáo Hoàng chủ sự. Nhưng năm nay, Ngài lâm trọng bệnh, không tham dự
được, một mình, “ôm thánh giá”, nhìn hình ảnh chiếu trên màn ảnh, để
thông công chặng”Đường Thánh Giá” tại Colesium. Đây là dấu hiệu báo
trước chặng Đường đời cuối cùng Ngài sắp qua, và một biến cố lớn lao
xẩy đến cho toàn thể nhân loại: Đức Thánh Cha thăng hà: Ngài được Chúa
gọi về, hưởng Hạnh Phước Trường Sinh cùng với Chúa Phục Sinh. Các
phóng viên TV, ước đoán con số 5 triệu người , gồm 2 triệu người đồng
hương đến từ Ba Lan, để dự Lễ An Táng. Dân chúng kiên nhẫn xếp hàng
chờ đợi từ 10-12 giờ, dưới trời khuya lạnh, đói khát, các thanh niên
mang balô, nằm vỉa hè, để được bái chào vĩnh biệt.
Các đài Truyền Hình FOX, CNN, ABC, NBC,
CBS..tiếp tục theo dõi, và thông tin từng biến chuyển về tình trạng
sức khoẻ, vào lúc Ngài tạ thế, và phản ứng của dân chúng tấp nập, lũ
lượt tuốn về Công Trường Thánh Phêrô, để cầu nguyện, viếng Xác, tỏ
lòng cảm mến tri ân, và tiễn đưa Ngài đến nơi an nghỉ nơi Hầm Mộ của
Vị Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII
Các đài TV liên tục truyền hình về
những lời tuyên dương công trạng của Đức Giáo Hoàng, đặc biệt đối với
nhân loại như: chống chiến tranh, độc tài, khủng bố, phá thai, vi phạm
Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, chống nghèo đói, bệnh tật, AID .
Ngoài những lời tuyên bố của các vị
lãnh đạo, các chính khách quốc tế, các phóng viên TV cũng tìm hiểu, và
phỏng vấn các giới lãnh đạo trong Giáo Hội Công giáo để được biết thêm
về những sinh hoạt lễ nghi, phụng vụ, mục vụ, cách thức bầu cử vị Giáo
Hoàng mới, và về “Kho Tàng Nghệ Thuật” của Vatican như : kiến trúc,
hội họa, thánh nhạc.
Nhờ những cuộc phóng sự truyền hình
trực tiếp với các nhân chứng, và cộng sự viên của Đức Giáo Hoàng, nên
khán giả khắp năm châu được am tường và khâm phục đời sống của Ngài
đã được Thiên Chúa an bài xếp đặt, để chu toàn trách nhiệm dẫn dắt
đoàn chiên của Chúa. Thật vậy, từ khi còn nhỏ tuổi, cậu Karol Jozef
Wojtyla đã sống trong chế độ Phát xít, Nazi, và đã chứng kiến cuộc tàn
sát người Do thái. Trong gông cùm của chế độ độc tài cộng sản do Liên
Sô kiểm soát, dân chúng Ba Lan mất quyền Tự do Tôn giáo, tự do ngôn
luận, giáo dục. Thanh niên Karol đã viết kịch , làm diễn viên, và tổ
chức những buổi trình diễn “chui”, để phản đối chế độ độc tài. Trong
thời gian này, cậu đã nghe tiếng Chúa gọi để hiến thân phụng sự Giáo
hội và dân tộc Ba lan. Cậu đã gia nhập bí mật vô Chủng Viện để học
tập, và chịu chức Linh Mục(1/11/1946). Sau này, cậu tìm cơ hội đi du
học Roma, Pháp, rồi trở vể Balan, làm giáo sư , và tuyên uý cho sinh
viên Đại Học. Cha Karol thích nghiên cứu về đời sống Chiêm niệm của
Thánh Gioan Thánh Giá. Thông thạo ngoại ngữ, nên khi làm Giáo Hoàng,
Ngài đã có thể trực tiếp giao thiệp, đối thoại, để gây cảm tình với
nhiều dân tộc. Thiên Chúa đã an bài sửa soạn, để dần dần chọn Ngài làm
Giám Mục ngày 28/9/1958. Ngài tham dự Công Đồng Vaticano II, quen thân
với Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, giảng thuyết cho giáo triều Roma, và
Ngài đã kế vị Đức Hồng Y Giáo Chủ Balan Wysziynski, Tổng Giám Mục Địa
Phận Krakow ngày 30/12/ 1963 . Ngài được thăng Hồng Y Giáo Chủ Ba Lan
năm 1967, lúc 47 tuổi; và lên làm Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, ngày
16/ tháng 10, năm 1978.
Sau đây, xin tóm lược những cảm tưởng,
và phản ứng của mọi tầng lớp dân chúng về cuộc đời và di sản tinh thần
của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao LôII, lưu lại cho thế giới. Xin phân
chia ra các loại phản ứng khác nhau, để độc giả dễ nhận định, nhưng
không có ý xếp đặt thứ tự các giá trị. Thật ra, các đặc tính hay
đường lối của vị Lãnh Đạo Tinh Thần , phong phú, đa dạng, để có thể
đối phó với mọi hoàn cảnh, mọi biến chuyển trong xã hội.
1/. BẢO VỆ SỰ
SỐNG. Đối với Ngài, sự Sống là một An Huệ vô giá Chúa
ban cho nhân loại. Do đó, cần phải bảo vệ, và đặt giá trị sự sống làm
tiêu chuẩn để phán xét mọi hành vi luân lý. Ngài đã khởi xướng khẩu
hiệu “Văn Hóa Sự Sống” để chống lại “Văn hóa Sự Chết” của thế giới vật
chất, vô thần. Bởi vậy, Ngài chống chiến tranh, khủng bố, bạo lực;
chống phá thai, án tử hình. Khoa học, y khoa phải phục vụ con người,
không được giết bào thai con người làm vật thí nghiệm.Trong những ngày
cuối đời, dầu bệnh tật nguy kịch, Ngài vẫn phấn đấu, cố gắng nhẫn
nại, chịu đựng đau khổ trong những giây phút cuối cùng, để sống với
đoàn chiên đông đảo đang tụ tập dưới cửa sổ.
2/. NHÂN PHẨM,
NHÂN QUYỀN, TỰ DO. Trong Tang Lễ: 138 nước tham dự, 200
các vị Quốc trưởng, Lãnh đạo các quốc gia, 3500 các phóng viên, nhà
báo, và hơn 4 triệu khách hành hương..và hàng tỷ người theo dõi các
màn ảnh Truyền Hình vòng quanh Thế giới, vì mọi người đều ca tụng Ngài
là một Chiến sĩ quả cảm suốt đời tranh đầu cho Tự Do, Nhân Quyền. Ngài
đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lật đổ chế độ độc tài phát
xít, mácxít. Quê Hương Ba lan, và thế giới Tự do khóc thương, vì Ngài
đã bị bắn trọng thương, đã hy sinh tính mạng cho dân tộc Ba Lan và
nhân loại được hưởng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền.
3/. CHỐNG NGHÈO
ĐÓI, BỆNH TẬT, BẤT CÔNG XÃ HỘI. Mọi người vẫn còn nhớ:
trong những chuyến viếng thăm mục vụ như tại các nước Nam Mỹ, Phi
Châu, và Manila, Ngài thường ngừng xe, ghé thăm những túp lều lụp xụp
bên vệ đường. Ngài yêu cầu các nước giầu giảm nợ cho các nước nghèo.
Ngài ngưỡng mộ lòng bác ái của Mẹ Chân Phước Têrêsa Calcutta và các nữ
tu săn sóc các bệnh nhân AIDS. Vào năm 1983, khi người ta còn ghê sợ
bệnh AIDS, Ngài đã ẵm bế em Brenda, mắc bệnh Aids, tại San Francisco.
4/. TẤM LÒNG
KHOAN DUNG, CỞI MỞ VỚI CÁC TÔN GIÁO. Ngài là vị Giáo Hoàng
thứ nhất viếng thăm Đền Thờ Do Thái tại Roma. Ngài chống việc”bài –Do
“ của Nazi. Ngài xin lỗi những sai lầm trong quá khứ đối với Anh Em
cùng tin Chúa Cứu Thế như Chính thống, Tin Lành. Ngài ủng hộ Phong
Trào Đại Kết. Ngài viếng thăm các Đền thờ Hồi Giáo, tiếp kiến các Vị
Sư Phật Giáo như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi thăm viếng mục vụ tại An Độ,
Ngài viết tông huấn ” Giáo Hội tại Á Châu”để chủ chương việc “Đối
Thoại với các Tôn Giáo”. Dầu có nhiều điểm khác biệt, nhưng với tâm
tình cởi mở, khoan dung, tin đồ các tôn giáo cần chân thành tìm hiểu
những giá trị và tôn trọng lẫn nhau. Ngoài ra, nhờ năng khiếu đặc biệt
về ngoại ngữ, nhờ tài hùng biện, và giao tiếp, truyền
đạt(Communicator), Ngài dễ thông cảm với mọi người, mọi nền văn hóa
khác nhau. Ngài thích tìm hiểu sắc thái riêng biệt của các dân tộc
(Phi Châu, Á Châu) và áp dụng những điều thiện hảo vào Thiên Chúa
Giáo.
5/. YÊU MẾN
GIỚI TRẺ, NGƯỜI TRẺ QUÍ MÊN NGÀI. Đi đến đâu, Ngài luôn
tuyên bố: “Giới trẻ là tương lai của Hội Thánh”. Một câu truyện cảm
động được các đài Truyền Hình chiếu lại nhiều lần: Một thiếu phụ người
Ý hiện đang mang thai được 8 tháng, đã được bà mẹ chỉ cho cô biết, qua
các hình chụp, về biến cố năm 1981: Lúc cô mới được một tuổi, Đức
Thán Cha đã cầm nâng cô lên cao, khi Ngài đang nói truyện với dân
chúng ở Quảng Trường Thánh Phêrô, bỗng nhiên, tên Ali Agca chĩa súng
bắn Ngài 3 phát đạn; Ngài chỉ bị trọng thương ở bụng, nhưng không
trúng đầu, trúng ngực. Về sau, chính Ali Agca đã giải thích, vì muốn
tránh không bắn chết cô bé, nên đã nhắm trật. Nghe tin Đức Thánh Cha
đau nặng, cô trở lại viếng thăm Quảng Trường, và kể lại kỷ niệm xưa:
cô như người “đỡ đạn” mà Ngài khỏi bị bắn tử thương. Phần Đức Thánh
Cha, Ngài đã coi việc thoát chết, còn sống sót là do “Ơn Lạ của Đức
Me” cứu chữa Ngài. Ali Agca đã bắn , đúng ngày 15/ tháng 5/ 1981, cũng
là ngày Kỉ niệm Mẹ hiện ra tại Fatima, ngày 15/ 5/1917. Nữ tu Lucia
qua đời ngày 13/2/05, hưởng thọ 97 cho biết: Chị và (hai em Francisco,
Jacinta đã chết) đã được Đức Mẹ hiện ra tại Fatima năm 1917. Bí mật
Fatima thứ ba đã được giải mật : chính Đức Mẹ đã nói tiên tri về “
một Người mặc áo trắng sẽ bị bắn”, và được cứu sống. Do đó, khi bình
phục, Đức Thánh Cha đã đến Fatima và tặng cho vòng “Triều thiên của
Đức Mẹ” viên đạn đã bắn Ngài, để tỏ lòng Tri An, nhờ Ơn Mẹ đã cứu
sống.
Hai năm một lần, Ngài đến mỗi quốc gia
khác nhau để mở “Đại Hội Giới Trẻ Thế giới”. Ngài hát, múa, kể truyện
vui cho giới trẻ. Ngày thích nghe nhạc “Jazz”. Và đặc biệt , Ngài là
nguồn “Cảm hứng”(inspiration) cho nhiều người trẻ đang theo học trong
Chủng Viện, để dấn thân phụng sự Chúa. Trong Thánh Lễ An Táng, giới
trẻ luôn vỗ tay ca ngợi công đức của Ngài.
6/. NHẪN NẠI
CHỊU ĐỰNG ĐAU KHỔ. Ngài luôn luôn lậi đi lập lại “điệp
khúc”: Các con đừng sợ”( Do not be afraid) hãy can đảm vui lòng chấp
nhận mọi nghịch cảnh. Thật vậy, người ta thấy Ngài lúc nào cũng tươi
vui, lanh lợi, hoạt bát, dầu cuộc đời đã trải qua nhiều nỗi gian
truân. Bà Thân mẫu mất sớm. Mồ côi mẹ, nên Ngài đã chạy đến nương náu
nơi tình Mẫu tử của Mẹ Maria. Học hành, làm thợ, chui lủi trong sự cấm
cách, bắt bớ. Trước khi tạ thế, Ngài đã mắc bệnh Parkinson trong chín
năm, bị gẫy xương hông, và bị mổ khí quản,v.v.Ngài cũng đã từ chối
không đi bệnh viện, chịu nằm ở nhà, để chết giữa con chiên bổn đạo
đang tuôn đến viếng thăm, cầu nguyện cho Ngài. Ngài hiến dâng sự đau
khổ, kết hiệp với Chúa để tham dự vào công cuộc Cứu Độ.
7/. SỐNG NỘI
TÂM, SỐNG THẦN BÍ, KẾT HIỆP VỚI CHÚA, và YÊU MẾN MẸ MARIA.
Ngài có tâm hồn thi nhân, và thích đời sống chiêm niệm(
Contemplative). Ngài ước muốn gia nhập Dòng Carmêlô( Carmelite), vì
Ngài thích những tác phẩm về Thần Bí(Mysticis) của Thánh Gioan Thánh
Giá, Thánh Nữ Têrêsa Avila, và Thánh Nữ Terêsa Hài Đồng. Để tóm lược
đường hướng tu đức, vào năm 2000, Ngài đã ban Thông Điệp về “Phép
Thánh Thể”( Ecclesia de Eucharistia), và 2004 ban Tông Huấn”Xin Ngài ở
lại với chúng con”( Mane nobiscum), đặt năm 2004-2005 là Năm Thánh
Thể. Vì lòng kính mến Đức Mẹ Maria, Ngài luôn lần Chuỗi Mân Côi, khi
đi dạo trong vườn. Ngài đặt thêm ”Mầu Nhiệm Năm Sự Sáng”, và đặt Bức
Anh Đức Mẹ bế Chúa Giêsu, tại Quảng Trường Thánh Phêrô.
Trong các cuộc Viếng Thăm Mục Vụ, trước
hàng vạn, hàng triệu dân chúng tham dự Thánh Lễ, ai nấy đều nhận thấy
nét mặt đăm chiêu, sốt sáng, như đang giao cảm với thế giới thánh
thiêng. Những bài Giảng giảng đầy vẻ thuyết phục, tự tín, giọng nói
hùng hồn, chan hòa một niềm Tin - Yêu.
“CÁC CON HÃY
THEO THÀY” (FOLLOW ME). Để tạm kết thúc những dòng suy
tưởng về đời sống thánh thiện, dâng hiến của Đức Thánh Cha Gioan
Phaulô II, xin mượn một số ý tưởng của Đức Hồng Y Ratzinger, Chủ Tế và
Giảng Thuyết trong Thánh Lễ An Táng, trước một cử tọa gồm 200 nhà Lãnh
Đạo các nước trên thế giới, và 2 tỷ khán thính giả khắp năm châu. Đức
Hồng Y, niên trưởng, vừa là bạn thân tín của Đức Thánh Cha, vừa là Bộ
Trưởng Thánh Bộ Đức Tin trong nhiều năm. Do đó, Đức Hồng Y là người
am hiểu Tâm Tư, Đường Hướng Lãnh Đạo Hội Thánh của Đức Cố Giáo Hoàng
Gioan PhaoLô II hơn ai hết. Ngài đã trích Lời Chúa Giêsu nói với môn
đệ:”Hãy Theo Thầy” làm nguyên tắc và kim chỉ nam cho đời sống của Đức
Cố Giáo Hoàng. Thật vậy, “Tình Yêu Thương của Thầy Chí Thánh là Gương
Mẫu cho các môn đệ noi theo. Và trong mọi hoàn cảnh, từ nhỏ cho đến
khi lìa đời, Đức Cố Giaó Hoàng Gioan Phao Lô II, đã ứng dụng triệt để
Lời Chúa dạy cho dời sống.
Sau 26 năm Lãnh Đạo Hội Thánh Chúa, nay
Ngài đã được Chúa gọi về với Chúa. Một trang sử huy hoàng, đã lật
qua. Nhưng Hội Thánh Chúa vẫn còn phải tiếp tục tồn tại, hoạt động cho
đến ngày Tận Thế. Hội Thánh còn phải gặp nhiều khó khăn, còn phải
chiến thắng tội ác, để mở mang NƯỚC CHÚA nơi trần gian. Chúng ta hãy
cầu nguyện để Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, để các Vị Hồng
Ychọn lựa một Vị CHỦ CHĂN mới, sẵn sàng hiến thân
”THEO THẦY CHÍ THÁNH”
Viết xong ngày 9/tháng4/2005
Lm. Jos. Cao Phương Kỷ
VỀ MỤC LUC |
|
Đức Gioan-Phaolô II
LTS: Đây là một bài
tác giả viết xong tại Fribourg ngày 25.04.1999 và đã đăng trên nguyệt
san Mục Vụ (Thụy Sĩ) tháng 5 năm 1999 trong loạt bài viết về 20 nhân
vật hàng đầu trong thế kỷ 20 trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba của
nhân loại. Bài viết về Đức Gioan-Phaolô 2 này có nêu lên một nét đặc
biệt đối với người công giáo việt nam (nhất là những người công giáo
tự nhận mình là người yêu nước) là vị Giáo Hoàng người Ba Lan này đã
làm chứng bằng chính cuộc sống của mình rằng bổn phận của người
kitô-hữu là tận tình yêu nước mình. Và từ sự cảm nghiệm sâu xa tình tự
dân tộc ấy, Ngài dẫn đến sự cảm thông thiết thân và chân thật với toàn
thể nhân loại cùng có những tình tự như mình. Tất cả đều được xây dựng
trên Niềm Tin nơi Thiên Chúa là Cha và mọi người đều là anh em ruột
thịt với nhau.
Quả vậy, tình yêu
Quê Hương, chính là tình yêu người, yêu ông bà cha mẹ tổ tiên mình,
yêu đồng hương đồng bào mình, và sự kính trọng những giá trị và những
quyền làm người của dân mình. Với tư cách là con dân đất nước, Đức
Gioan-Phaolô 2 đã tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền của người dân Ba
Lan. Từ đó, mọi người và mọi dân tộc cảm nhận được sự trung thực của
lòng Ngài khi Ngài cực lực tranh đấu cho nhân quyền của mọi người dân
trên thế giới, trong đó có quyền được sống tự do theo niềm tin tôn
giáo của mình trong sự kính trọng mọi tôn giáo anh em.
Rất nhiều người,
thiện cảm với Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng có mà ác cảm hoặc chống
đối cũng có, thường nghĩ như thật rằng: "Vatican là một ổ gián điệp
thế giới, đã từng ngấm ngầm cấu kết với đế quốc Mỹ để 'chống cộng' đến
kỳ cùng. Và cộng sản mà có sụm ba chè là cũng nhờ có bàn tay lông lá
của Mỹ và nhất là mật vụ của Vatican nhúng vào". Đúng hay sai là một
chuyện, nhưng quan điểm của vị giáo chủ Vatican thì hoàn toàn khác.
Thực vậy, 3 tháng sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Đức Gioan-Phaolô 2
tuyên bố vào ngày 21/02/1990 trong khi tiếp đoàn người hành hương tại
Vatican: "Chính Thiên Chúa đã thắng ở Phương Đông". Những người biết
rõ bụng dạ của vị giáo chủ này đều hiểu rằng Đức Gioan-Phaolô 2 nói
Thiên Chúa là "Thiên Chúa của Lòng Tin" của Ngài và của Giáo Hội, chớ
không phải ám chỉ lếu láo rằng Thiên Chúa đây là "tay chân bộ hạ" của
Ngài hay "đám cao bồi đặc vụ của Mỹ" đâu!
Ngược đời ở chỗ là
Lòng Tin cho thấy có bàn tay Thiên Chúa trong những biến cố xảy ra
trong trần thế, nơi con người và xã hội loài người, do bởi chính con
người chủ động làm ra. Trong quyển "Bước vào ngưỡng cửa hy vọng" xuất
bản năm 1994, Đức Gioan-Phaolô 2 giải thích nguyên do trước mắt, có
thể kiểm chứng được, của sự tan rã của chế độ cộng sản Liên Xô: "Chính
hệ thống cộng sản đã, một cách nào đó, tự nó làm cho nó sụp đổ. Sự sụp
đổ của nó là hậu quả của những hành động sai lầm và quá khích của nó.
Muốn chữa bệnh, nó lại nguy hại hơn chính con bệnh. Trở thành một đe
dọa hùng hậu và một thách đố ghê gớm (đối với xã hội), nó lại không
thành công cải tạo thật sự xã hội. Cộng sản tự suy sụp, do bởi nội lực
của nó yếu kém."
Không "chống cộng" và
không "dương uy"
Tuy vậy, nhiều
người vẫn còn nghĩ rằng Đức Gioan-Phaolô 2 có đóng một vai trò trực
tiếp và quan trọng trong vụ này. Họ cho rằng Ngài phải là một người
tài trí xuất chúng, đầy mưu lược, "chống cộng cùng mình", bởi vì Ngài
là giáo chủ một tôn giáo không đội trời chung với cộng sản và nhất là
vì Ngài đến từ một đất nước mà người công giáo có tiếng là thành phần
chống cộng lì nhất thế giới. Không, không hoàn toàn như vậy đâu! Ngài
và Giáo Hội Công Giáo ngày nay nhất định không "chống cộng" theo cái
nghĩa phe đảng, bè phái, cục bộ, giáo điều, bất bao dung, điên rồ, cố
chấp trong thái độ "không đội trời chung", và càng không theo cái
nghĩa "tay sai", "vụ lợi" hay "bán linh hồn" cho ai cả!
Thực ra, trước đây
cũng như bây giờ, Ngài cùng với dân Ngài chỉ đấu tranh cho Ba Lan có
được quyền tự quyết dân tộc, những quyền tự do căn bản của con người,
quyền tự do tôn giáo, quyền tự do lương tâm và quyền tự do chính trị,
nói cách khác là được "quyền làm người", như Ngài đã nhắc đến khi ngỏ
lời trước cổng đường Brandeburg (Bá Linh) ngày 23/06/1996 kêu gọi khẩn
thiết nhân dân Đức và Âu Châu nhớ đến các dân tộc đang còn bị thống
trị hoặc áp bức. Cuộc đời Ngài là một bằng chứng hùng hồn rằng Ngài
chẳng chống ai cả, vì nếu đã chống, thì phải chống luôn cả tư bản tài
phiệt và vô số các chủ nghĩa và tôn giáo khác chăng. Đúng hơn, Ngài
chỉ tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền, trong đó có quyền được tìm
đến với Thiên Chúa của lòng mình. Nhưng hơn ai hết, Ngài tin rằng: mưu
sự tại nhân, thành sự tại thiên!
Hơn nữa, nhiều
người công giáo Việt Nam lấy làm hãnh diện, đắc chí -- cũng như một
vài người phật giáo Việt Nam lấy làm nghi ngại -- cho rằng Đức
Gioan-Phaolô 2 chủ trương đường lối phô trương lực lượng của một "Giáo
Hội khải hoàn", khi thấy Ngài bôn ba khắp thế giới giao du với các
đấng bậc vị vọng, xuất hiện cùng khắp giữa hằng triệu người tiếp đón
hoan hô Ngài, hoặc nghe Ngài tuyên bố một câu xanh dờn, chắc nịch
"Thiên Chúa đã thắng ở Phương Đông".
Thực ra, hơn ai
hết, Đức Gioan-Phaolô 2 dư biết Giáo Hội của Ngài có vấp phạm lỗi lầm,
yếu đuối, mỏng dòn và bất lực đến mức nào trước mọi thứ đe dọa của
trần thế. Vào ngày lễ nhậm chức giáo hoàng 22/10/1978, trước đám đông
tín hữu tham dự tại quảng trường Thánh Phêrô và trước ống kính của 43
đài truyền hình thế giới, Đức tân giáo chủ Gioan-Phaolô 2 cất tiếng
dũng cảm mời gọi mọi người giữ vững lòng tin: "Đừng sợ! Hãy mở rộng
mọi cánh cửa đón nhận Đức Kytô. Đừng sợ!"
Với cái nhìn lịch
sử, người tây phương hiểu ngay rằng "đừng sợ" ngụ ý xác nhận là người
kytô-giáo "đã sợ", "có sợ", vì hoặc bị khủng bố, bách hại, đàn áp,
hoặc bị rẻ rúng như một nhóm người thiểu số, hoặc bị kỳ thị và loại ra
ngoài lề xã hội, không những ở các nước cộng sản là nơi mà Đức
Gioan-Phaolô 2 đã có kinh nghiệm trực tiếp, mà ở khắp đó đây trên thế
giới; và không những chỉ ở thế kỷ 20 là giai đoạn mạt vận nhất của
Giáo Hội La Mã, mà kể từ thế kỷ 16, lúc bắt đầu thời kỳ Phục Hưng của
Âu Châu và phong trào ly khai của người anh em thệ phản (Tin Lành).
Nghe lời kêu gọi "đừng sợ", đa số người tây phương cho rằng vị tân
giáo chủ đã gióng lên một tiếng chuông trong sa mạc, một tiếng kêu
thất thanh của một người không còn lối thoát nào khác ngoài lòng tin
"mù quáng" vào Đức Kytô của Giáo Hội Ngài.
Như vậy, trong thế
kỷ 20, không thiếu những vị giáo chủ La Mã lỗi lạc về nhiều mặt, giỏi
về chính trị và ngoại giao như Đức Piô 12, chân tu và đạo đức như Đức
Gioan 23, hay có đường lối cởi mở và canh tân Giáo Hội trước những vấn
đề thế giới như Đức Phaolô 6. Tại sao các cơ quan truyền thông quốc tế
lại theo dõi sát hơn những hành tung của Đức Gioan-Phaolô 2 và hay
tường thuật cũng như bình luận (có khi rất gay gắt) về những lời tuyên
bố hoặc chỉ giáo của Ngài? Cái gì thật sự đặc sắc nơi Đức Gioan-Phaolô
2 khiến cho thế giới loài người phải nể nang và chú ý hơn những vị
tiền nhiệm của Ngài trong thế kỷ 20?
Nói chung, nét độc
đáo nhất nơi vị giáo chủ này chính là, cùng với vai trò lãnh đạo Giáo
Hội La Mã, Đức Gioan-Phaolô 2 được coi là một con người dám đứng giữa
lòng xã hội loài người để có những hành động thách đố quan trọng đối
với lịch sử. Phân tích ra, người ta thấy được 4 đặc điểm nơi Ngài. Thứ
nhất, đang là một vị Giáo Hoàng La Mã, Đức Gioan Phaolô 2 vẫn sống
trung thực với tình tự của một người con đất nước Ba Lan, một người
yêu nước yêu dân, không chối bỏ nguồn gốc dân tộc và văn hóa Ba Lan
của mình. Thứ hai, Ngài đi khắp thế giới làm nhiệm vụ "chủ chăn" với
tất cả lòng nhiệt thành, xác tín và đức độ cao trong lãnh vực tôn giáo
cũng như trong những vấn đề có liên hệ đến chính trị thế giới. Thứ ba,
với thái độ thách đố lịch sử, Ngài có một tầm ảnh hưởng trên cục diện
thế giới trong những vấn đề thiết thân nhất với con người thời đại!
Và, nếu được phép kết luận, thì có thể nói được rằng Đức Gioan-Phaolô
2 là người bạn đáng tin cậy của mọi tôn giáo.
Tiếp tục sống đức tin
giữa lòng dân tộc
Karol Wojtyla, trở
thành Đức Gioan-Phaolô 2 năm 1978, sinh ngày 18/05/1920 trong một gia
đình công giáo mà người cha là quân nhân, tại một thành phố nhỏ ở miền
nam nước Ba Lan tên là Wadowice, cách đó hai năm vẫn còn bị đế quốc Áo
thôn tính và bấy giờ được cùng với cả nước phục hồi độc lập và thống
nhất sau 150 năm bị ngoại bang đô hộ. Theo học ở Cracovie, rồi vừa
làm thợ trong hãng biến chế hóa học Solvay để khỏi bị Đức Quốc Xã bắt
đi đày và vừa chuẩn bị "chui" để làm linh mục, Ngài chịu chức năm 1946
tại Cracovie.
Sau khi tốt nghiệp
tiến sĩ triết học và luân lý ở Đại học Angelicum tại Roma, Ngài trở về
Ba Lan làm mục vụ tại xứ đạo và cho giới sinh viên, rồi dạy môn luân
lý tại Cracovie và đại học công giáo Lublin. Làm giám mục phó năm
1958, Ngài được phong Tổng giám mục Cracovie năm 1963 và trở thành
Hồng Y năm 1967, tức lúc mới 47 tuổi. Ngày 16/10/1978, Ngài Karol
Wojtyla trở thành Đức Gioan-Phaolô 2, kẻ kế vị thứ 263 Thánh Phêrô tại
La Mã, lúc Ngài 58 tuổi, trước sự bàng hoàng sững sốt của mọi người
trên thế giới: Giáo Hội La Mã nay có một vị Giáo Hoàng người Ba Lan!
Kể từ đó, trong hơn 20 năm làm Giáo Hoàng -- nhiệm kỳ giáo chủ dài
nhất của thế kỷ --, Ngài tận tụy xả thân cho 3 nơi mà Ngài gắn bó
thiết thân: đó là Vatican, nước Ba Lan, và thế giới loài người.
Hồi còn làm mục vụ
tại quê nhà, Ngài không chủ trương triệt để đối đầu với chế độ cộng
sản và, ngược lại, cũng không chủ trương làm "giáo hội thầm lặng". Vì
lòng chân thật yêu nước, yêu Giáo Hội, và vì quyền lợi đất nước và dân
tộc, Ngài luôn đứng ở tư thế "đấu tranh tư tưởng" với Nhà nước cộng
sản Ba Lan, đấu tranh một cách ôn hòa và bền bỉ cho nhân quyền và
quyền tự do tôn giáo, đấu tranh một cách bất bạo động trong tâm tư và
hành động, chỉ dùng lời lẽ từ tốn biện bạch phải trái phân minh để cải
hóa người đối lập, kẻ cầm quyền.
Từ khi làm Giáo
Hoàng, Ngài càng sử dụng nhiều hơn đến quyền tự do phát biểu trong
những vấn đề dân quyền, nhân quyền, và là người lên tiếng bênh vực
mạnh mẽ cho Hiệp Định Helsinki ký kết giữa Tổ Chức An Ninh và Hợp Tác
Âu Châu OSCE với khối Liên Xô và Đông Âu năm 1975. Đi ngược lại với
thói quen của giáo triều, Ngài chủ trương Vatican phải làm "mục vụ"
hơn là làm "ngoại giao", nghĩa là khi cần thì phải dám nói thật, nói
thẳng để bảo vệ con người, bất chấp những thủ tục ngoại giao thường
lệ. Do đó, Ngài không ngớt nhắc nhở rằng "an ninh và hợp tác" sẽ vô
hiệu nếu không đi kèm với nhân quyền, trong đó có quyền tự do tư
tưởng, ngôn luận và tôn giáo. Ngài gián tiếp nâng đỡ tinh thần những
kẻ đối lập với cộng sản, và đi cùng khắp thế giới vận động cho nhân
quyền được tôn trọng. Như để trả lời Stalin khi ông hỏi kháy rằng
"Vatican có bao nhiêu sư đoàn?", Đức Gioan-Phaolô 2 muốn chứng minh
rằng sức mạnh của Giáo Hội La Mã chính là sức mạnh của lẽ phải vậy!
Trong 3 lần viếng
thăm mục vụ Ba Lan vào năm 1979, 1983 và 1987, Đức Gioan-Phaolô 2 đã
mạnh dạn và can đảm nói lên những lời lẽ đanh thép bênh vực cho nhân
quyền, để gây phấn chấn tinh thần cho nhân dân Ba Lan và để răn đe các
lãnh tụ cộng sản. Chính qua sự nâng đỡ tinh thần của Ngài đối với Lech
Walesa trong suốt 500 ngày Công Đoàn Đoàn Kết của ông được phép hoạt
động, kể từ mùa hè 1980, mà Ngài nâng cao khí thế những nhóm người đối
lập ở các nước Đông Âu và nhắn gởi đến Liên Xô quyết tâm của Ngài đấu
tranh cho quyền dân tộc tự quyết và nhân quyền.
Cung cách hành động
của Ngài làm cho người ta hiểu rằng Ngài vẫn là một người Ba Lan, tiếp
nối truyền thống đấu tranh cho tự do của dân tộc Ba Lan là một dân tộc
đã từng chịu gian khổ hằng thế kỷ chống lại áp bức của ngoại bang để
bảo vệ tình tự dân tộc, văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc Ba Lan và chủ
quyền đất nước. Hành động của Ngài cũng là hành động của một người
công giáo yêu nước Ba Lan, tiếp nối truyền thống ngàn năm của Giáo Hội
Ba Lan luôn đứng về phía nhân dân Ba Lan để bênh vực quyền lợi của họ
và góp phần xây dựng đất nước.
Trong chuyến viếng
thăm mục vụ đầu tiên Ba Lan năm 1979, Đức Gioan-Phaolô 2 gặp mặt Tổng
bí thư Đảng Edward Gierek để trao đổi thẳng quan điểm với ông ta về
chuyện đất nước. Sau khi xác nhận Ba Lan là tài sản chung của tất cả
nhân dân Ba Lan và không ai được độc quyền yêu nước, Đức Gioan Phaolô
2 nói với ông ta đại khái rằng: "Tài sản chung này cũng là của tôi, và
tôi vẫn tiếp tục coi là thế, tự cảm thấy có liên can sâu đậm với đất
nước này, cũng có quyền can dự vào, như thể tôi vẫn đang sống tại quê
hương này và là công dân của đất nước này. Và cũng với thái độ này,
còn mạnh mẽ hơn vì phải xa cách quê hương, tôi sẽ tiếp tục thấy có
liên can đến tất cả những gì có thể đe dọa Ba Lan, làm phương hại hay
làm ô danh đất nước này" (Jean Offredo, Jean-Paul II, Paris 1998,
tr.38).
Nói về Ba Lan tại
Đại Hội Đồng UNESCO ở Paris năm 1980, Đức Gioan-Phaolô 2 xác nhận:
"Tôi là người con của một dân tộc đã trải qua những kinh nghiệm to lớn
nhất lịch sử, một dân tộc đã bị các nước lân bang kêu án tử nhiều lần,
nhưng đã sống sót và vẫn giữ được bản thân mình. Dân tộc này đã giữ
gìn được bản sắc của mình, và đã bảo tồn được chủ quyền đất nước của
mình cho dù bị ngoại bang chia cắt và chiếm đóng, không phải nhờ vào
quân lực của mình mà chính là nhờ vào nền văn hóa của mình. Nền văn
hóa này đã tỏ ra, khi cần, là một sức mạnh lớn hơn là bất luận những
lực lượng nào khác. Văn hóa, chính là ngôn ngữ, lịch sử, nghệ thuật,
văn chương, dĩ nhiên, mà còn sâu rộng hơn nữa là những gốc rễ, cội
nguồn và dự phóng khai sáng của một dân tộc đã được hun đúc qua nhiều
thế hệ; văn hóa còn là ý niệm về tổ quốc và dân tộc và cách thế bảo vệ
nó (...). Giáo Hội có mặt ở đó để giúp chẳng những giữ gìn mà còn
truyền đạt (truyền thống dân tộc ấy).
"Sức mạnh của Giáo
Hội Công Giáo Ba Lan chính là đã giữ vai trò kẻ giữ gìn và bảo đảm cho
lương tri dân tộc, cho văn hóa Ba Lan, cho cái 'bản sắc Ba Lan' được
tồn tại. Là đứng sát cánh với nhân dân chống lại những quyền lực ngoại
bang thống trị đất nước, và cũng chống lại những người Ba Lan chơi cái
trò 'hợp tác với ngoại bang', đặc biệt là trong giới quí tộc và tài
phiệt gộc. Chính nhờ Giáo Hội Ba Lan đã bám rễ sâu vào lòng dân tộc,
đã tham gia vào các cuộc tranh đấu giải phóng đất nước, đã hy sinh to
lớn và âm thầm trong đấu tranh, mà Giáo Hội đã trở thành 'tiếng nói
của những kẻ không có tiếng nói, nhất là từ thế kỷ 19 đến nay" (Sd,
tr.36-37).
Trước sức đe dọa
khẩn trương của Liên Xô can thiệp quân sự vào Ba Lan và từ khi nổ ra
vụ nhà nước Ba Lan ban hành thiết quân luật và đàn áp phong trào
nghiệp đoàn tự do ở Ba Lan vào cuối năm 1981, Đức Gioan-Phaolô 2 tỏ ra
vô cùng xúc động, lo âu và buồn phiền ra mặt. Từ Vatican, Ngài can
thiệp mạnh mẽ bằng điệp văn riêng cũng như chính thức gởi đến các nhà
lãnh đạo Đông Tây để yêu cầu chớ có dùng bạo lực đối với nhân dân Ba
Lan và chớ có can thiệp vũ trang vào đất nước Ba Lan. Ngài thường tha
thiết nhắc nhở đến Ba Lan trong các giờ nguyện "truyền tin" Angelus,
trong các buổi yết kiến Ngài, rằng: "Không được làm đổ máu người dân
Ba Lan. Máu này đã đổ ra khá nhiều rồi, đặc biệt là trong trận Thế
chiến thứ 2. Phải làm tất cả để xây dựng tương lai đất nước Ba Lan
trong hòa bình" (Sd, tr.42). Âu cũng vì đó mà Ngài bị mưu sát ngày
13.05.1981 tại quảng trường Thánh Phêrô do bởi Ali Agça, được coi là
một bàn tay bí hiểm của mật vụ Bulgaria và KGB Liên Xô.
Trên đường «hành
hương» gặp gỡ mọi dân tộc
Đức Gioan-Phaolô 2
không chủ trương ngồi yên vị ở ngai giáo hoàng, mà phải đi đến gặp gỡ
mọi người và mọi dân tộc trên khắp nẻo đường thế giới. Người ta quen
gọi Ngài là kẻ "du hành địa cầu". Ngài coi đó là cuộc "hành hương" về
đất thánh, nay đã trở thành toàn thể địa cầu! Trong nhiệm kỳ 20 năm
giáo chủ, Ngài đã làm 80 cuộc hành trình đến viếng thăm 114 quốc gia
(trong đó có những quốc gia được thăm viếng nhiều lần) và các tổ chức
quốc tế, chưa kể khoảng 150 lần đi thăm nhiều nơi tại nước Ý và giáo
phận Roma của Ngài. Tính ra Ngài đã đi 30 lần vòng quanh quả địa cầu,
một đoạn đường dài gấp 3 lần khoảng cách giữa trái đất và mặt trăng,
và đã vắng mặt tại Vatican tổng cộng gần hai năm trời! Ngày nay, cả
thế giới là quê hương của Ngài. Đến đâu, Ngài cũng kính cẩn quì xuống
hôn lên mảnh đất chôn nhau cắt rốn của loài người và cũng là của Ngài,
mảnh đất đã trở nên linh thiêng vì có bàn tay kỳ diệu của con người
tác tạo, bồi dưỡng và đổi mới tất cả, và vì chính Thiên Chúa cũng đã
chọn nơi này làm "quê hương" của Người!
Mục tiêu thứ nhất: Đức
Gioan-Phaolô 2 tìm đến gặp gỡ đám đông, như Đức Kitô 2000 năm về
trước. Đó là dịp để Ngài nói lên những điều Ngài xác tín với người
kytô-giáo và với mọi người thiện tâm trên thế giới, để nâng đỡ và
khích lệ họ chu toàn bổn phận làm người và làm con cái Cha trên trời,
để công khai yêu cầu mọi người và mọi nhà cầm quyền hãy tôn trọng con
người và quyền làm người, để kêu gọi mọi người giữ gìn sự hòa hợp bằng
đường lối đối thoại và tìm sự đồng thuận, để nhắn nhủ một cách đặc
biệt về một vài điều phù hợp với địa phương Ngài đến, hoặc để can
thiệp cho quyền lợi của kẻ yếu.
Chẳng hạn, sau khi
chế độ cộng sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đức Gioan-Phaolô 2 rất lấy
làm lo lắng trước cao trào tự do cạnh tranh và bóc lột nhau, coi đồng
tiền là vua, làm giàu phi nghĩa, gây ra tình trạng phân hóa xã hội,
bần cùng hóa một tầng lớp đông đảo nhân dân yếu kém tại những nước
này. Ngài cũng lo ngại trước sự lớn mạnh của bọn làm ăn phi pháp
ma-fia, của tinh thần quốc gia cực đoan, của chủ trương kỳ thị và bài
ngoại. Vì thế, năm 1997, Đức Gioan-Phaolô 2 làm thêm một chuyến viếng
thăm mục vụ Ba Lan để mạnh mẽ lên án những tệ đoan của xã hội chạy
theo kim tiền và tiêu thụ, chà đạp nhân quyền, nhân phẩm và những giá
trị văn hóa truyền thống, chỉ biết đề cao quyền lợi cá nhân đến mức
làm hại cho công ích. Ngài lớn tiếng cảnh cáo rằng tiến bộ của loài
người không phải là thay thế búa lưỡi liềm bằng việc thờ "bò vàng".
Đến thăm Mễ Tây Cơ sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Ngài tuyên bố
rằng cộng sản thất bại không có nghĩa là tư bản đã thắng!
Mục tiêu thứ hai: Đức Gioan-Phaolô
2 bôn ba đó đây để gặp trực tiếp những nhà lãnh đạo thế giới và những
cơ quan có thẩm quyền quốc tế để tiếp tục bênh vực cho con người. Dĩ
nhiên, trong lãnh vực chính trị, Đức Gioan-Phaolô 2 không lên mặt dạy
đời ai, cũng không dở trò ngoại giao siêu đẳng, mà chủ yếu là xác nhận
quan điểm Phúc Âm đối với giá trị làm người và nhắc nhở các nhà hữu
trách về tầm quan trọng của những giá trị ấy trong đời sống quốc gia
và quốc tế.
Chẳng hạn, năm
1983, Ngài nói thẳng với nhà độc tài Jean-Claude Duvalier của Haiti,
khi đến thăm đất nước này: "Cần phải có những sự thay đổi ở đây!".
Chẳng bao lâu sau đó, Duvalier bị đào thải! Hoặc ở Phi Luật Tân năm
1981, trong một bài diễn văn đọc tại thủ đô Manilla trước mặt Tổng
thống Marcos, Ngài nói rằng, đối với Giáo Hội, việc bảo vệ nhân phẩm
của người nghèo không phải là một đòn chiến thuật để lôi kéo về mình
đám quần chúng ấy. Đó là bổn phận đơn thuần của Giáo Hội, vì đó là
điều Chúa muốn, rằng mọi người phải được sống với phẩm cách của mình.
Con đường đi đến giải phóng hoàn toàn không phải là con đường bạo
động, đấu tranh giai cấp, hận thù, mà là con đường của tình nghĩa,
huynh đệ và hòa hợp đoàn kết. Trong vụ này, người ta bảo rằng tuy Bà
vợ của nhà độc tài Marcos là một người công giáo sùng đạo, nhưng Bà
lấy làm hậm hực trước lời nhắn nhủ ấy!
Cũng thế, vào tháng
03/1987, trong lúc Đức Gioan-Phaolô 2 đến thăm viếng Chí Lợi, Ngài
được Tướng độc tài Pinochet tiếp linh đình tại dinh tổng thống Moneda
ở thủ đô Santiago, nơi mà tổng thống dân cử Allende bị sát hại năm
1973. Tại đó, Ngài không ngần ngại nói thẳng thừng rằng: cần sớm có
những biện pháp khả dĩ cho phép mọi người dân Chí Lợi được tham dự đầy
đủ và có trách nhiệm vào những quyết định quan trọng của đất nước này.
Dĩ nhiên, những lời lẽ bộc trực như thế cũng chẳng thấm thía gì đối
với những quyền lực hung bạo thế tục, nhưng vẫn có tác dụng làm men
làm muối, như lịch sử đã từng chứng minh.
Gần đây nhất, tháng
01/1998, Đức Gioan-Phaolô 2 đi thăm Cuba để tiếp tục tranh đấu với
Fidel Castro cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, và cùng một
lúc chất vấn quyền lực bá đạo của Hoa Kỳ đối với Cuba, đưa đến đói khổ
cho nhân dân xứ này. Sau 40 năm xung đột giữa chính quyền La Havane và
Giáo Hội La Mã, cuộc gặp gỡ giữa Đức Gioan-Phaolô 2 với lãnh tụ Fidel
Castro được coi là một thành tích đáng kể trong tiến trình hòa giải
đôi bên và giúp Cuba làm một bước cởi mở ra với thế giới bên ngoài.
Thực vậy, sau đó, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ dần vụ cấm vận Cuba.
Mục tiêu thứ ba:
Đức Gioan-Phaolô 2 tìm đến gặp gỡ các giới trẻ trong những "Ngày đại
hội giới trẻ thế giới", tổ chức tại Ý hoặc tại các nước khác, như
Buenos Aires (Ba Tây,1987), Compostelle (Tây Ban Nha,1989),
Czesto-chowa (Ba Lan, 1991), Denver (Mỹ, 1993), Manille (Phi Luật Tân,
1995) và Paris (Pháp, 1997). Những lần gặp gỡ thân tình này đem lại
cho Ngài phấn khởi, trẻ trung và niềm hy vọng cho tương lai Giáo Hội
và nhân loại. Đó cũng là dịp hi hữu để thanh niên tứ xứ thập phương tụ
tập về nối vòng tay lớn, sống thiết thân bên nhau trong tình tự tuổi
trẻ, tìm gặp lại lẽ sống và niềm tin nơi Thiên Chúa và con người, và
cảm nghiệm được phần nào những sự mong đợi to lớn của Giáo Hội nơi
tiềm năng đóng góp của giới trẻ cho nhân loại.
Ngày 31/03/1985,
mừng Năm quốc tế Thanh niên do Liên Hiệp Quốc đề xướng, Đức Gioan
Phaolô 2 khẩn thiết kêu gọi: Hỡi các bạn là thanh niên của các dân tộc
và của xã hội loài người, thanh niên của mọi gia đình và của toàn thể
nhân loại. Chúng tôi tất cả hướng mắt về các bạn, bởi vì nhờ các bạn
mà tất cả chúng tôi không ngớt, một cách nào đó, trở nên trẻ trung với
các bạn. Chính vì đó, tuổi trẻ của các bạn không chỉ là tài sản riêng
của các bạn hay của một thế hệ, mà là (...) tài sản chung của mọi
người. Các bạn thuộc về bản thân của nhân loại vậy!
Và mục tiêu cuối
cùng của những cuộc hành trình của Đức Gioan-Phaolô 2 trên thế giới là
để gặp gỡ trong thân tình tất cả các tôn giáo bạn, như sẽ nói ở phần
sau.
Chấn chỉnh nội bộ và
thách đố lịch sử
Triều đại giáo
hoàng của Đức Gioan-Phaolô 2 có đặc tính là giúp cho người kytô-giáo
đi tìm lại bản sắc chân thực của Đức Tin. Thực vậy, Đức Gioan-Phaolô 2
thúc giục con chiên bổn đạo tìm thấy lại thân phận chân như của mình
và hiên ngang xác nhận Niềm Tin kytô-giáo của mình mà không sợ sệt hay
mặc cảm gì trước người đời cả. Niềm tin này liên hệ đến toàn diện con
người, mọi sắc tộc, mọi nền văn hóa, và là một thách đố da diết đối
với mọi người kytô-hữu đem ứng nhập vào mọi lãnh vực đời sống...
Nói rộng ra, Ngài
còn khuyến khích và thách đố mọi người trên thế giới hãy can đảm chấp
nhận thân phận và chức năng làm người của mình, kiên trì đấu tranh cho
niềm tin nơi con người và cho quyền làm người của mình mà không sợ một
quyền lực áp đảo nào cả, cho dù ghê gớm đến đâu. Ngài cố gắng đem lại
tin tưởng và hy vọng trong một thế giới đã chao đảo, não nề, thất
vọng, mất định hướng và lẽ sống của mình. Làm như thế, Ngài biết rõ
mình chỉ là một tiếng kêu, chỉ làm một hành động phiêu lưu vô định!
Nhưng không biết sợ, vì Ngài phiêu lưu với Thiên Chúa của lòng mình.
Trong buổi dâng lễ
đầu tay của vị tân giáo hoàng tại nhà nguyện Sixtine vào ngày 17/10/78
cùng với toàn thể Hồng Y đoàn, Đức Gioan-Phaolô 2 đã nói lên thông
điệp đầu tiên cho Giáo Hội toàn cầu. Ngài xác nhận con đường phải đi
là con đường đã được Công Đồng Vaticanô 2 vạch ra. Thứ nhất, các giám
mục thế giới đều đồng chịu trách nhiệm về đời sống của Giáo Hội toàn
cầu. Thứ hai, sự hợp nhất bên trong Giáo Hội Công Giáo phải được gìn
giữ và bảo vệ. Thứ ba, sự chia cách giữa anh em kytô-giáo cần được
vượt qua và hướng đến hiệp nhất. Và cuối cùng, Giáo Hội đứng về phía
con người, đặc biệt là người nghèo, kẻ bệnh tật, kẻ bị chiến tranh
nghiền nát để phấn đấu cho quyền làm người của họ, cho họ có lại được
cơm áo, sức khỏe, hòa bình và an lạc.
Trong lịch sử của
nhân loại, Ngài sẽ được nhìn nhận là vị giáo hoàng của nhân quyền, kẻ
không hề biết mệt mỏi rảo bước khắp các nẻo đường thế giới, gặp tất cả
các dân tộc, để lớn tiếng xác nhận rằng không một người nào, không một
dân tộc nào, không một xã hội nào phải bị tước đoạt nhân phẩm của
mình, quyền sống của mình, chỉ vì mình khác kẻ khác trong màu da, tư
tưởng, quan niệm, địa vị, nghề nghiệp, nếp sống hay niềm tin tôn giáo.
Chính một phần nào đó nhờ Ngài mà thế giới chuẩn bị bước vào thiên
niên kỷ thứ ba với gương mặt "người" hơn!
Trong thẩm quyền
của Ngài, Đức Gioan-Phaolô 2 làm rất nhiều việc quan trọng. Thứ nhất,
Ngài chấn chỉnh lại hàng ngũ các cấp lãnh đạo Giáo Hội, đưa vào hàng
giáo phẩm cao cấp thêm nhiều vị đến từ các nước ngoài Tây Phương, để
nói lên tính hiệp thông toàn cầu của Giáo Hội. Và Ngài đặt thêm nhiều
sứ thần Tòa Thánh trên hầu hết các nước trên thế giới. Mục tiêu chủ
yếu là trong nội bộ, Ngài cần ổn định nề nếp, trật tự để mọi người
được yên ổn giữ đạo (về điểm này, Ngài bị phê bình là quá bảo thủ); về
đối ngoại, Giáo Hội cần tích cực có mặt khắp nơi để tham dự vào những
sinh hoạt quốc tế, để kín đáo giúp giải quyết những cuộc xung đột
trong hòa bình, và để trao đổi với các nhà hữu trách các nước và thế
giới về mọi vấn đề liên hệ. Chẳng hạn, đối với nhà nước Trung Quốc và
Việt Nam, Tòa Thánh cố gắng hết sức để có những quan hệ đều đặn và
được cải thiện hơn thêm.
Thứ hai, Ngài cho
phát hành nhiều tài liệu giáo huấn của Tòa Thánh hơn những triều đại
giáo hoàng trước Ngài, gồm có 13 bức Thông Điệp, và rất nhiều Tông Thư
và Tông Hiến, cũng như cho xuất bản quyển Giáo lý của Giáo Hội Công
Giáo để dùng làm nề nếp cho giáo dân học biết lẽ đạo. Những tài liệu
giáo huấn của Ngài nói lên những xác tín thâm sâu của Ngài nơi những
quyền hạn, nghĩa vụ và những giá trị làm người và làm con cái Chúa,
xét theo khía cạnh cá nhân cũng như cộng đoàn, và nhìn từ ánh sáng
Phúc Âm mà Ngài nhận được. Một đặc điểm là trong suốt nhiệm kỳ giáo
hoàng, Ngài không dùng đến quyền bất khả ngộ để tuyên bố về một điểm
tín lý nào. Còn lại, trong cách xưng hô, thay về dùng danh xưng "Chúng
Tôi" như trước đây, Ngài thường dùng ngôn ngữ bình thường là "tôi",
một người ở giữa anh em tín hữu...
Và thứ ba, trong
vòng 20 năm, Ngài đã phong lên hàng thánh và hiển thánh nhiều vị hơn
tất cả các triều đại trước Ngài gom lại, để nêu gương sống đạo cho thế
giới noi theo. Tất cả gồm gần 1100 thánh nam nữ, trong đó có gần 300
vị thánh và hơn 800 vị hiển thánh, đến từ mọi chủng tộc và quốc gia,
mọi tuổi tác và nghề nghiệp, và mọi đấng bực trong Giáo Hội,. Ngài
nói: "Các ngài là những thánh nhân từ các bạn mà ra; các bạn có thể và
phải trở nên như các vị ấy".
Nhận lỗi, đối thoại và
giao hảo với mọi tôn giáo
Vì có lòng tin ở
"Thiên Chúa của muôn dân", nên không lạ gì Đức Gioan-Phaolô 2 đi rao
giảng cùng khắp thế giới lòng tin ấy! Có người thấy chướng, như thể
Ngài muốn đi giành giật thế lực với các tôn giáo khác. Không, trái
lại, Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đã khai mở ra cuộc gặp gỡ giữa các
tôn giáo tại thành Assise nước Ý, theo đúng tinh thần Công Đồng
Vaticanô 2, để cùng nhìn nhận nhau là anh em và cùng xác nhận có quyền
tin tưởng như nhau.
Thực vậy, ngày
27/10/1986, Ngài tổ chức một cuộc họp mặt quốc tế tại Assise giữa
khoảng 200 vị lãnh đạo các giáo môn kytô-giáo và các tôn giáo lớn thế
giới (gồm có Kytô-giáo, Do thái giáo, Hồi giáo, Ba Hai, Shik, Ấn Độ
giáo, Thần Hỏa giáo) đại diện cho khoảng 3 tỷ tín đồ trên thế giới, để
cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Tất cả cùng họp tiếng cầu
khẩn, nhưng mỗi vị cầu nguyện với Đấng mình tôn thờ.
Đối với Đức
Gioan-Phaolô 2, bản đại hòa tấu này muốn nói lên 3 điều: thứ nhất, thế
kỷ 21 sẽ có thể là thế kỷ của tôn giáo và nhất là thế kỷ của đối thoại
liên tôn, vì trong thế giới ngày nay không còn có thể sống hay chết
một mình được nữa; thứ hai, trong cuộc đấu tranh sống còn này, khẩn
trương nhất là cần đối thoại giữa những người "anh em kytô-giáo chia
cách nhau" để có thể hợp lực hòa giải với nhau; và thứ ba, để vượt
thắng những sự chia rẽ, cần có sự canh tân tâm hồn và xám hối với
người mình có lỗi. Chính vì đó mà sự tĩnh tâm trong lời cầu nguyện
chung sẽ giúp đưa đến một trạng thái dễ hòa hợp hơn.
Chính Đức Phaolô 6
đã bắt đầu trước trong việc gặp gỡ với các tôn giáo bạn, khi Ngài hành
trình đến Jérusalem, Bombay và Istanbul, và khi Ngài đề cập đến trong
các thông điệp "Ecclesiam suam" và "Evangelii nuntiandi". Đức
Gioan-Phaolô 2 tiếp nối và khai triển rộng hơn việc gặp gỡ này. Ngài
tìm đến với tất cả các tôn giáo bạn trên khắp các lục địa, đặc biệt là
các tôn giáo Á Châu và Phi Châu mà Ngài chưa được biết rõ và đã có
nhưng suy nghĩ chưa được chính xác cho lắm. Theo Ngài, những sự trao
đổi và gặp gỡ này phải rất mực chân thành, nghiêm túc, chớ không khách
sáo, như Ngài nói: "Để có thể đối thoại, cần phải có người nói và
người nghe, và mỗi người cần biết rõ mình là ai một cách thật sự sâu
sắc". Chẳng hạn, ngày 19/08/1985, theo lời mời của vua Marốc Hussan
II, Ngài ngỏ lời với 80 ngàn thanh niên Hồi giáo ở Casablanca: "Thiên
Chúa mời gọi chúng ta hãy thay đổi những lề thói cũ của chúng ta", tức
là mỗi chúng ta phải biết rõ mình, biết xám hối và sửa đổi!
Trong 20 năm làm
giáo hoàng, Đức Gioan-Phaolô 2 đã làm tất cả khoảng 100 lần cáo lỗi,
trong số đó có những lời xin lỗi công khai (đối với người Do Thái, với
người anh em Tin Lành và với những người Hồi giáo), hay có nhìn nhận
đã có những đánh giá sai lầm trong giai đoạn lịch sử đã qua, hoặc có
lời thành tâm phê phán những hành động sai sót của Giáo Hội mình. Như
thế, Ngài chủ xướng việc thanh tẩy những hoài niệm u buồn để cho lòng
được thanh thỏa hướng về tương lai: hòa giải giữa người anh em
kytô-giáo và đối thoại nghiêm túc giữa các tôn giáo thế giới. Ngài tin
tưởng rằng tất cả các tôn giáo đều có trách nhiệm hợp tác với nhau để
đấu tranh hóa giải các thế lực độc tài, đàn áp, và để phục vụ cho con
người, phẩm giá con người và quyền làm người.
Riêng đối với người
Do Thái, Đức Gioan-Phaolô đã có những hành động nói lên lòng xám hối
chân thành trước những sự hiềm khích vô cớ của người công giáo đối với
người Do thái và do đó đã đóng góp một phần vào các phong trào bài Do
Thái tại Tây Phương cũng như cuộc diệt chủng xảy ra trong trận Thế
Chiến thứ 2 tại Âu Châu. Ngày lịch sử 13/04/1986, do lời mời của Đức
Thầy giáo chủ Eli Toaff, Đức Gioan-Phaolô 2 đã đến kính viếng và bước
qua ngưỡng cửa Thánh Đường Do Thái tại Roma, nhận từ tay Đức Thầy cây
nến thánh chín ngọn đèn và quyển Kinh thánh Torah của Do Thái.
Thật là hi hữu, vì
đoạn đường một cây số từ Tòa thánh La Mã đến Thánh Đường Do Thái là
đoạn đường dài nhất lịch sử ngăn cách giữa hai tôn giáo gần hai nghìn
năm qua. Mười năm sau, ngày 15/04/1996, Ngài tiếp đón Đức Thầy giáo
chủ Do Thái tại Điện Vatican với những lời nguyện chân thành từ đây
hai bên cùng chia sẻ một lòng kính trọng lẫn nhau. Thực vậy, đã lâu
rồi, Đức Gioan-Phaolô 2 đã từng gọi người Do thái là "người anh cả
trong niềm tin" và coi lịch sử tôn giáo Do Thái là một phần ruột thịt
của lịch sử Kytô-giáo vậy. Mới đây, năm 1998, Ngài cho ra mắt bản
tuyên ngôn "Chúng tôi có nhớ. Những suy nghĩ về cuộc diệt chủng Do
Thái của Đức Quốc Xã" để tỏ lòng muốn thanh lọc thật sự những hoài
niệm u buồn đã qua, tuy rằng phía Do Thái chưa lấy làm hoàn toàn thỏa
mãn về bản tuyên ngôn này.
Cuộc đời "phiêu
lưu" của Đức Gioan-Phaolô 2 đã có thể chấm dứt vào ngày 13/05/1981 với
viên đạn nhẫn tâm của Ali Agça và của những kẻ chủ mưu ám hại Ngài nơi
quảng trường Đền thánh Phêrô. Nhưng Ngài vẫn sống sót sau biến cố hung
bạo ấy, sống sót để tiếp tục đấu tranh cho cái quyền được nói lên chân
lý của mình, niềm tin của mình, lý tưởng đời mình, và rồi để sẵn sàng
chết cho những xác tín của mình.
Gs. Trần Ngọc Báu
Fribourg 25.04.1999
VỀ MỤC LUC |
|
TOTUS TUUS!
Kính nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
Những ngày này, thế
giới vẫn còn như đang mất ngủ, như chưa hết bàng hoàng bởi việc ra đi
vĩnh viễn của vị đại diện tối cao của Chúa Kitô ở trần gian: Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II kính yêu của Giáo Hội Công giáo đã về Nhà Cha.
Đi bất cứ nơi đâu,
mở bất cứ phương tiện truyền thông nào, dù là kẻ chống đối, kẻ không
thiện cảm, không đồng quan điểm, bất đồng ý kiến với Đức Thánh Cha về
những gì Người đã chủ trương, Người đã làm, đã sống, hay đã viết… đến
những người quý mến, tôn kính, đều nhận thấy một sự thật rất lớn rằng,
Đức Thánh Cha là biểu tượng của những gì tinh túy và tốt đẹp bậc nhất
của nhân loại.
I. BIỂU TƯỢNG CỦA ĐỜI
SỐNG CẦU NGUYỆN.
Đối với các tín hữu
Công giáo, Đức Thánh Cha là ánh sao chiếu sáng rạng rỡ lòng yêu mến
Thiên Chúa. Họ nhận ra rằng, Vị Cha Chung của họ lãnh đạo Giáo Hội của
Chúa Kitô không cậy vào sự tài giỏi riêng tư, nhưng bằng cả một chuỗi
ngày dài của đời sống chìm đắm trong cầu nguyện. Vì thế, Người lãnh
đạo bằng nỗ lực tự thánh hóa mình, bằng ơn Chúa, nhất là bằng sự khôn
ngoan của Chúa Thánh Thần.
Bởi Đức Thánh Cha
là một người đam mê cầu nguyện. Vì thế, dù số lượng công việc vô cùng
lớn, Người vẫn dành nhiều thời gian để cầu nguyện. Người cầu nguyện
rất nhiều, cầu nguyện mỗi ngày và cầu nguyện lâu giờ.
Hai nhà báo Carl
Bernstein và Marco Politi đã từng cho biết, mỗi ngày, Đức Thánh Cha
thức dậy lúc 5 giờ và đến phòng nguyện riêng để cầu nguyện. Giờ cầu
nguyện đầu ngày kéo dài trong hơn một giờ đồng hồ. Ngoài ra, trong
ngày, Đức Thánh Cha còn dành thời gian khoảng sáu tiếng nữa để chuyện
trò với Thiên Chúa. Trước khi làm việc gì, Đức Thánh Cha đều bắt đầu
bằng việc cầu nguyện. Nhất là những công việc càng khó khăn bao nhiêu,
càng vượt quá sức người, Người càng cầu nguyện nhiều hơn, sốt sắng
hơn.
Ngập trong sự thinh
lặng và chiêm ngắm của những ngày dài để cầu nguyện, ngoài Thiên Chúa,
Đấng mà Đức Thánh Cha không ngừng tìm tới để khai thác sức mạnh cho
đời mục tử của mình, còn có một người phụ nữ như là Đấng Bả Trợ thứ
hai không thể thiếu cho mọi công tác lớn lao của trách nhiệm giáo
hoàng mà một Giáo Hoàng như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phải gánh
lấy. Người phụ nữ ấy chính là người Mẹ dấu ái của Chúa Giêsu, một
người Mẹ thánh tuyệt vời.
Trong mọi công tác
của mình, cũng như trong khi đang làm việc, Đức Thánh Cha đều hiến
dâng cho Thiên Chúa và cho Mẹ Maria. Bằng chính đời sống cầu nguyện
của mình, Đức Thánh Cha cho thấy, Người là ánh sáng của ngọn hải đăng
rực rỡ chiếu soi con thuyền Giáo Hội khi phải chèo chống giữa biển đời
mênh mông. Là ngọn hải đăng của lòng cậy trông nơi tình yêu của Chúa,
Người chiếu tỏa trên toàn cõi Giáo Hội lòng yêu mến Chúa đáng trân,
đáng quý vô cùng.
II. TOTUS TUUS.
Chính vì tỏa sáng
lòng yêu mến Đức Mẹ, Đức Thánh Cha trao cho chúng ta một tấm gương lớn
về lòng yêu mến Đức Maria là chính đời sống của Người. Đức Thánh Cha
đã không chọn bất cứ một khẩu hiệu nào cho đời mục tử, nhưng ngay khi
lãnh chức Giám mục, Người lại chọn khẩu hiệu được gợi hứng từ suy tư
của thánh Louis Grignion de Montfort làm khẩu hiệu mục tử của mình.
Khẩu hiệu đó là “Totus Tuus” – Tất cả con thuộc về Mẹ.
Đến lúc lên ngôi
giáo hoàng, Đức Thánh Cha không ngừng lặp lại lời nguyện này với Đức
Mẹ: “Totus Tuus”. Ngay những ngày đầu tiên, sau khi lên ngôi giáo
hoàng, người đã dâng hiến triều đại giáo hoàng của mình cho Đức Mẹ.
Khẩu hiệu của vị chủ chăn Giáo Hội hoàn vũ, lại một lần nữa quy về
chính Đức Mẹ. Bởi vậy, người ta luôn luôn đọc và nghe thấy từ môi
miệng Đức Thánh Cha lời cầu khẩn tha thiết này: “Totus Tuus”.
1. Chúc thư.
Đến giây phút cuối
cùng, khi Người đã nằm xuống, trước khi hoàn toàn từ từ biệt chúng ta,
một lần nữa, người ta lại tiếp tục được lắng nghe khẩu hiệu này từ di
chúc của Đức Thánh Cha hướng về quê hương Balan của mình: “Tôi phó
thác trong sự che chở từ mẫu của Đức Mẹ Giáo Hội trên đất Balan”.
Một nơi khác trong
bản di chúc, Đức Thánh Cha viết: “Hãy tỉnh thức vì các con không biết
giờ nào Chúa đến” (Mt 24, 42). Những lời này nhắc nhở tôi về tiếng gọi
sau cùng sẽ đến vào thời điểm Chúa muốn. Tôi ao ước được theo Ngài, và
ước mong mọi sự trong cuộc sống trần thế của tôi chuẩn bị cho tôi sẵn
sàng trước giờ phút ấy. Tôi không biết khi nào giờ này đến, nhưng như
mọi điều khác, cả giờ ấy, tôi cũng đặt trong tay Mẹ của Thầy tôi:
Totus Tuus. Cũng trong đôi tay từ ái này, tôi phó thác mọi thứ và mọi
người có liên hệ với tôi trong cuộc sống và trong ơn gọi của tôi.
Trong đôi tay này, tôi để lại, trên hết tất cả, là Giáo Hội, cũng như
đất nước tôi và toàn nhân loại” (Di chúc của Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II được viết ngày 6.3.1979).
Một chỗ khác nữa
trong di chúc được viết vào kỳ tĩnh tâm năm 1980, Đức Thánh Cha bày
tỏ: “Mỗi người chúng ta phải nhớ đến diễn ảnh của cái chết. Và phải
sẵn sàn ra trình diện trước mặt Chúa và Quan Án – Đấng đồng thời cũng
là Đấng Cứu Chuộc và là Cha chúng ta. Cả tôi cũng liên tục để ý đến
điều này, trong khi phó thác giờ phút quyết định ấy cho Mẹ Chúa Kitô
và là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của niềm hy vọng của tội”. Cuối bản di chúc
này, Đức Thánh Cha không quên viết thêm: “Totus Tuus ego sum” – Toàn
thân con thuộc về Mẹ (Di chúc viết ngày 1.3.1980).
Cũng chính trong di
chúc, nói về biến cố bị sát hại, Đức Thánh Cha viết: “Âm mưu trên mạng
sống tôi ngày 13.5.1981, cách nào đó khẳng định sự chính xác của những
lời đã được viết ra trong cuộc tĩnh tâm năm 1980 (24.2-1.3). Giờ đây,
tôi hiểu sâu xa hơn rằng tôi hoàn toàn trong tay Chúa – và tôi tiếp
tục tùy thuộc trong sự an bài của Chúa, phó thác hoàn toàn cho Ngài và
cho Mẹ Vô Nhiễm của Ngài (Totus Tuus)” (Di chúc viết ngày 5.3.1982).
2. Một vài văn kiện.
Hầu như văn kiện
nào của Đức Thánh Cha cũng đều kết thúc bằng việc chiêm ngắm một hình
ảnh, một tước hiệu, một tấm gương nhân đức, một khía cạnh nào đó trong
đời sống của Đức Maria, hoặc bằng lời cầu nguyện dâng hiến Đức Mẹ.
Chẳng hạn, chúng ta
đọc thấy điều ấy trong Tông huấn về gia đình, tông huấn Familiaris
Consortio: “Ước gì Đức Trinh Nữ Maria, là Mẹ của Hội Thánh, cũng nên
‘Mẹ của Hội Thánh tại gia’! Ước gì nhờ sự trợ giúp từ mẫu của Mẹ, mọi
gia đình Kitô hữu đều có thể thật sự trở nên một “Hội Thánh nhỏ”,
trong đó mầu nhiệm của Hội Thánh Đức Kitô được phản ánh và sống lại!…”
(số 86).
Hay ngay trong
thông điệp Dives in Misericordia (Thiên Chúa giàu lòng thương xót), dù
là thông điệp hoàn toàn nói về Thiên Chúa, ta vẫn tìm thấy bóng dáng
của Đức Maria: “Chúng ta hãy nhờ Đức Kitô mà cậy vào Thiên Chúa, vì
nhờ tới những lời trong kinh Magnificat của Đức Maria công bố lòng
thương xót ‘suốt đời nọ tới đời kia’! Chúng ta hãy khẩn cầu lòng
thương xót của Thiên Chúa cho thế hệ ngày nay! Ước gì khi cố gắng theo
gương Đức Maria mà làm mẹ muôn người trong Thiên Chúa, Giáo Hội nói
lên bằng lời cầu nguyện ấy sự chăm lo của một người mẹ, và cả tình
thương tin tưởng của mình nữa, tình thương khiến có nhu cầu cần thiết
nhất phải cầu nguyện” (số15).
Hay trong thông
điệp Splendor Veritatis (Ánh rạng ngời của chân lý), một thông điệp
bàn rất sâu về vấn đề luân lý, vì thế, Đức Thánh Cha nói nhiều đến sự
đối nghịch giữa tội lỗi và sự thánh thiện. Chính trong vấn đề tội và
phước ấy, thân xác con người là điểm chú ý quan trọng của thông điệp.
Trong cái nhìn mang chiều kích thánh thiêng về thân xác, Đức Thánh Cha
đưa ra hình ảnh Đức Maria như một lời an ủi, khích lệ chúng ta hãy
nhìn lên Mẹ Thiên Chúa mà học lấy bài học của sự thánh hóa thân xác
mình. Đức Thánh Cha viết: “Đức Maria chia sẻ với chúng ta thân phận
làm người, nhưng với một sự xuyên thấu hoàn toàn đối với ân sủng của
Thiên Chúa. Mặc dù không phạm tội, Đức maria đủ sức đồng cảm với mọi
nỗi yếu đuối. Đức Maria thấu hiểu con người tội nhân và yêu thương tội
nhân bằng một mối tình từ mẫu…” (số 120).
Không chỉ nhiều
lần, trong nhiệm vụ chăn dắt tối cao ở trần gian thay mặt Chúa Kitô,
Đức Thánh đặc biệt trao gởi thế giới, phó thác Giáo Hội, phó thác từng
người con của Giáo Hội, nhất là giới trẻ cho Đức Mẹ, Người còn luôn
luôn trao gởi tất cả những ai sống đời thánh hiến trong bàn tay che
chở và bảo vệ của Mẹ Thiên Chúa, người Mẹ của Tình yêu, Nữ Vương ban
sự bình an. Phần cuối của tông huấn Vita Consecrata (Đời sống thánh
hiến) cho thấy điều đó: “Lạy Nữ Trinh của ngày thăm viếng, chúng con
trao phó họ (những người sống đời thánh hiến) cho Mẹ để họ mau mắn tìm
gặp những người trong cảnh thiếu thốn, để trợ giúp và nhất là để mang
Chúa Giêsu đến cho những người này. Xin Mẹ hãy dạy họ biết cao rao
những kỳ công Thiên Chúa đang thực hiện trong thế giới, ngõ hầu hết
mọi dân tộc đều ca ngợi danh Ngài. Xin nâng đỡ họ trong những công
việc họ làm để phục vụ người nghèo khó, kẻ đói ăn, người thất vọng, kẻ
hèn mọn và hết mọi người đang thành tâm tìm kiếm Con của Mẹ” (số 112).
Nhất là với các
linh mục của Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha đã trao gởi họ cho Mẹ Thiên
Chúa bằng những lời nguyện tha thiết, hết sức cảm động:”Lạy Mẹ Đức
Giêsu Kitô. Mẹ đã ở với Ngài vào lúc khởi đầu cuộc sống và sứ vụ của
Ngài, Mẹ đã tìm kiếm Ngài, khi Ngài đang làm Thầy giữa đám đông. Mẹ đã
đứng kề bên Ngài, khi Ngài được nâng lên khỏi mặt đất, hoàn tất mọi sự
để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu, xin hãy đón nhận những kẻ được
Chúa mời gọi, khi họ cất những bước đầu tiên trên nẻo đường của họ,
xin hãy sát cánh với những người làm con Mẹ trong đời sống và trong
thừa tác vụ, lạy Mẹ là Mẹ các linh mục!” (Pastores Dabo Vobis – Những
mục tử như lòng mong ước).
3. Đối với giới trẻ.
Đối với giới trẻ
thế giới, những người bạn trong cuộc đời của Đức Thánh Cha, được Người
dành cho cả một bầu tim yêu thương của vị giáo hoàng lừng danh. Ta sẽ
chẳng khó khăn gì, ngược lại rất dễ dàng, tìm thấy bằng chứng của tình
yêu dạt dào nơi trái tim Đức Thánh Cha dành cho giới trẻ. Bởi hầu như
bất cứ chỗ nào Người hiện diện – đặc biệt trong các lần Đại Hội Giới
Trẻ Thế Giới, những lần tiếp kiến riêng với giới trẻ, những lần đi
thăm mục vụ ở các quốc gia… – tình yêu người trẻ mà Người bày tỏ hết
sức chân thành, hết sức tự nhiên và nồng ấm vô cùng, làm cho bất cứ ai
có mặt đều phải cảm động, đều ghi khắc trong tim mình. Chính vì thế,
vị Cha Chung kính yêu của Giáo Hội cũng được các bạn trẻ yêu mến và
thảo hiếu cách đặc biệt.
Là một người Cha
yêu mến không ngừng đoàn con trẻ trung của mình, và là một người con
trung nghĩa của Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Gioan Phaolô II đã âu yếm
giới thiệu Đức Mẹ như người Mẹ hoàn hảo, nguồn an ủi, sự cảm thông
trong cuộc đời các bạn: “Trên Thánh Giá, Chúa Con đã có thể san sẻ
những đau khổ của Người nơi trái tim của Mẹ. Mỗi người con chịu đau
khổ đều cảm thấy nhu cầu đó. Hỡi các bạn trẻ, cả các con nữa, các con
cũng gặp những đau khổ như cô đơn, thất bại và những thất vọng trong
cuộc sống bản thân, những khó khăn trong việc hội nhập vào thế giới
người lớn, và trong đời sống nghề nghiệp, những chia ly và tang tóc
trong gia đình các con, bạo lực, chiến tranh và cái chết của những
người vô tội. Nhưng trong những giờ phút khó khăn mà mỗi người đều gặp
phải trong cuộc đời, các con hãy biết rằng các con không đơn độc: như
với thánh Gioan dưới chân Thánh Giá, Chúa Giêsu cũng ban Mẹ Ngài cho
các con… Đức Maria là thiên ân vì Mẹ là Mẹ của Tác Giả ơn thánh. Các
con hãy hoàn toàn tín nhiệm phó thác cho Mẹ! Hãy chiếu tỏa rạng ngời
vẻ đẹp của Chúa Kitô khi cởi mở đón nhận hơi thở của Thánh Linh. Các
con sẽ trở thành những tông đồ can trường có khả năng truyền bá chung
quanh các con ngọn lửa bác ái và ánh sáng chân lý. Nơi trường học của
Mẹ Maria, các con sẽ khám phá sự dấn thân cụ thể mà Chúa Kitô mong chờ
nơi các con, hãy học cách đặt Chúa ở vị trí đầu tiên trong cuộc đời
các con, hướng mọi hành động và tư tưởng của các con về Chúa” (Sứ điệp
Giới trẻ lần thứ 18, năm 2003).
Với một lòng yêu
mến giới trẻ lớn lao như thế. Vì thế, họ đã không thể nào quên ơn Đức
Thánh Cha. Đặc biệt trong những ngày Đức Thánh Cha nằm xuống, một rừng
người trẻ từ khắp nơi trên thế giới thương tiếc và cầu nguyện cho Đức
Thánh Cha. Còn tại giáo đô Vatican của Giáo Hội, người ta không thể
nào đếm hết con số các bạn trẻ đến tham dự lễ tang của Người. Và chắc
chắn, trong lời cầu nguyện của mình, người Mẹ Thiên Quốc cũng được kêu
nài không ít trên môi miệng giới trẻ để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha.
4. Những biến cố liên
quan đến kinh Mân Côi.
Trong cuộc bị mưu
sát ngày 31.5.1981 tại Quảng trường thánh Phêrô, dù bị bắn đến bốn
phát súng 9mm, và hai phát súng trúng thẳng vào người Đức Thánh Cha,
nhưng Đức Thánh Cha không chết, Người bị thương nặng và đổ gục xuống
giữa cả một rừng người đang được Người tiếp kiến.
Chính kẻ bắn vào
Đức Thánh Cha cũng hết sức ngạc nhiên, anh ta không thể hiểu được vì
sao Người không chết. Sự kiện lạ thường ngoài sức tưởng tượng này, đã
xảy ra đúng vào ngày kính nhớ Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ ở
Phatima, khiến Đức Thánh Cha nghĩ ngay đến Người Mẹ trên trời dấu yêu.
Đức Thánh Cha kết luận: “Một người bắn, nhưng một người khác hướng dẫn
đường đạn”. Và Đức Thánh Cha thêm: “Đức Mẹ Maria đã cứu sống tôi”.
Do sự kiện trên,
đúng một năm sau ngày bị ám sát, Đức Thánh Cha đã hành hương đến
Phatima để tạ ơn Đức Mẹ. Cũng vì thế, kể từ năm 2002, Đức Thánh Cha
công bố ngày 13.5 hàng năm sẽ trở thành ngày lễ kính Đức Mẹ Phatima.
Chưa hết, để diễn tả lòng yêu mến Đức Mẹ thẳm sâu của mình, Đức Thánh
Cha đã viết tông thư Rosarium Virginis Mariae – Kinh Mân Côi kính Đức
Trinh Nữ Maria và công bố năm 2003 là Năm Thánh Mẫu Mân Côi, nhằm cổ
suý việc đọc kinh truyền thống này để tôn vinh mầu nhiệm Mân Côi và
các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu Thế. Qua đó, Đức Thánh Cha khuyên
dạy các tín hữu hãy yêu mến, hãy chú trọng nhiều đến chuỗi Mân Côi
trong đời sống Kitô hữu của mình, hãy chuyên chăm cầu nguyện bằng
chuỗi Mân Côi.
Chính trong năm Mân
Côi dâng kính Chúa Kitô qua Mẹ Maria, Đức Thánh Cha đã thêm vào chuỗi
Mân Côi truyền thống mầu nhiệm Năm Sự Sáng. Người đặc biệt mời gọi
Giáo Hội nhìn vào mẫu gương của Mẹ Maria mà chiêm ngưỡng Chúa Kitô.
Bởi “không ai đã say sưa chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô một cách
trung thành như Đức Maria. Đôi mắt tâm hồn của Mẹ đã hướng về Người
ngay từ lúc truyền tin, khi Mẹ cưu mang Người nhờ quyền năng Thánh
Thần. Rồi trong những tháng sau đó, Mẹ bắt đầu cảm nhận sự hiện diện
của Người và hình dung ra diện mạo của Người. Cuối cùng khi hạ sinh
Người tại Bêlem, đôi mắt Mẹ đã âu yếm nhìn ngắm dung nhan Con Mẹ, khi
Mẹ lấy tã bọc con rồi đặt nằm trong máng cỏ. Từ đó, đôi mắt chan chứa
sự tôn thờ và kinh ngạc của Mẹ không bao giờ rời xa Người… Sáng ngày
Phục sinh, cái nhìn của Mẹ tỏa rạng niềm vui Phục sinh…” (Rosarium
Virginis Mariae – số 10).
5. Chúc thư cuối cùng.
Và đây, trong những
ngày tang lễ này, khi mà Đức Thánh Cha vừa mới nhắm mắt từ giả cuộc
đời, chỉ còn hiện diện hữu hình với toàn Giáo Hội bằng thân xác bất
động. Nhưng ngay cả sự hiện diện hữu hình cuối cùng ấy cũng đang
nhường chỗ cho một sự hiện diện lớn, hiện diện bao trùm, hiện diện
thiêng liêng, và hiện diện toàn thể bằng tình yêu, bằng lời cầu nguyện
trong Nhà Cha Chung trên trời, Đức Thánh Cha vẫn còn bày tỏ cho cả
Giáo Hội thấy nhiệm vụ Chủ Chăn của mình: Người để lại những lời huấn
đức cuối cùng không phải bằng lời nói, nhưng bằng chữ viết cho Giáo
Hội, đặc biệt là cho khách hành hương tại Vatican trưa Chúa nhật thứ
II Phục sinh 3.5.2005. Một lần nữa, lần sau hết trong tất cả những lần
huấn đức, Đức Thánh Cha lại tiếp tục cho thế giới thấy hình ảnh Đức Mẹ
trong trái tim của Người.
Đức Tổng Giám mục
Leonardo Sandri, nguyên Phụ tá Quốc Vụ khanh Tòa Thánh đã không giấu
nổi nỗi niềm thương xót đối với vị Cha Già kính yêu của Giáo Hội khi
đọc bài huấn đức cuối cùng này vào cuối thánh lễ cầu nguyện cho Đức
Thánh Cha tại Quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa nhật 3.4.2005. Nhiều
người tham dự thánh lễ này đã bật khóc trước tâm tình của Đức Thánh
Cha. Chúng ta cùng nhau đọc lại bài huấn đức sau cùng này của vị Cha
chung:
“Anh chị em rất thân
mến!
1. Hôm nay đây lại vang lên lời
hoan ca Alleluia của lễ Phụ Sinh. Bài Phúc Âm theo thánh Gioan hôm nay
nhấn mạnh rằng, vào chiều hôm đó, Chúa Phục Sinh đã hiện ra cho các
thánh Tông Đồ và ‘cho họ thấy bàn tay và cạnh sườn Ngài’ (Ga 20, 20),
nghĩa là những dấu vết của một cuộc thương khó đau thương đã in dấu
không phai mờ trên thân xác Ngài ngay cả sau sự Phục Sinh của Ngài.
Những vết thương rực rỡ mà tám ngày sau đó Ngài đã bảo Tôma cứng lòng
hãy chạm vào, tỏ lộ lòng thương xót của Chúa là Đấng ‘quá yêu thế gian
đến nỗi đã ban Con Một Ngài’ (Ga 3, 16). Mầu nhiệm tình yêu này là
trung tâm của phụng vụ hôm nay, Chúa nhật ‘Ngày cuối cùng của tuần lễ
sau lễ Phục Sinh’, dành để kính lòng thương xót của Chúa.
2. Đối với nhân loại thường bị
lung lạc hay đè bẹp bởi quyền năng của tội lỗi, tự ái và sợ sệt, Chúa
Phục Sinh ban cho họ tình yêu của Ngài như một hồng ân tha thứ hòa
giải và tái mở rộng tâm hồn cho hy vọng. Đây chính là tình yêu hoán
cải con tim và đem lại bình an. Thế giới này cần thấu hiểu và chào đón
lòng thương xót của Chúa biết bao!
Lạy Chúa, Đấng đã
dùng cái chết và sự Phục Sinh của Ngài để mạc khải tình yêu Chúa Cha,
chúng con tin kính Chúa và với lòng cậy trông, chúng con lặp lại ngày
hôm nay: Lạy Chúa Giêsu, con tin cậy nơi Chúa, xin thương xót chúng
con và toàn thế giới.
Phụng vụ trọng thể
ngày lễ Truyền Tin mà chúng ta cử hành ngày mai dẫn chúng ta đến việc
chiêm niệm với đôi mắt của Đức Mẹ mầu nhiệm cao cả của tình yêu đầy
lòng thương xót trào ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Nhờ sự trợ giúp của
Mẹ, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa thực sự của niềm vui phục sinh
dựa trên điều xác tín này: Đấng Mẹ đã cưu mang trong lòng, Đấng đã
chịu khổ nạn và chết vì chúng ta, đã sống lại thật. Alleluia”.
Phải chăng do lòng
yêu mến Đức Mẹ của mình, Đức Gioan Phaolô II, giáo hoàng, người con,
người tôi tớ của Đức Mẹ, đã được Thiên Chúa yêu thương, vì thế Thiên
Chúa đã cho phép Người trở về Nhà Chúa trong chính những giờ phút cuối
của ngày thứ Bảy Đầu tháng, ngày dâng kính Đức Mẹ? Đó cũng chính là
đêm thứ Bảy sau lễ Phục Sinh, đêm vọng Chúa nhật kính lòng thương xót
của Chúa. Bởi vậy, ngày Đức Thánh Cha ra đi trở thành ngày lịch sử
đáng nhớ.
Cũng vậy, chính vì
cảm nhận lòng yêu mến Đức Mẹ quá lớn lao của Đức Thánh Cha, cũng như
để nhắc nhở nhau noi gương Người sống lòng yêu mến Đức Mẹ, mà khi tẩn
liệm Người, các bạc lãnh đạo trong Giáo Hội đã cho khắc chữ M, là chữ
viết đầu của tên Đức Mẹ Maria trên nắp cổ quan tài đơn sơ của Đức
Thánh Cha, bên cạnh và phía dưới hình ảnh cây Thánh Giá của Chúa
Giêsu.
Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II, vị giáo hoàng của lòng yêu mến Đức Mẹ, đã dâng hiến cho Đức
Mẹ hết tất cả, dâng hiến đến cùng cả cuộc đời mục tử của mình. Totus
Tuus! Ngay đến chiếc quan tài, bảo vật cuối cùng để bao bọc thân xác
Đức Thánh Cha, cũng là bảo vật kính dâng Đức Trinh Vương Maria. Cám ơn
Đức Mẹ đã gìn giữ Đức Thánh Cha trong suốt đời của Người, nhất là
trong 26 năm rưởi làm giáo hoàng vừa qua. Cám ơn Đức Mẹ, vì sự che chở
của Mẹ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã hoàn thành nghĩa vụ xuất sắc.
Cám ơn Đức Mẹ, qua sự lãnh đạo của Đức Thánh Cha, Mẹ đã hướng dẫn đàn
con là Giáo Hội của Chúa Kitô đi trong đường lối cứu độ của Chúa Kitô,
người con một yêu dấu của Mẹ. Xin cho chúng con lặp lại, và lặp lại
không ngừng khẩu hiệu của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mà tôn vinh Mẹ
suốt đời chúng con: TOTUS TUUS!
III. KẾT LUẬN.
Có thể nói, cuộc
đời của vị Giáo Hoàng thời danh Gioan Phaolô II, là một cuộc đời gắn
kết mật thiết với Đức Nữ Trinh Maria, để cùng với Mẹ, tiến về Chúa
Giêsu Kitô, con Mẹ. Bởi đó, nhìn vào cuộc đời của Đức Thánh Cha, ta
không sợ sai lầm khi khẳng định: Người là vị Giáo Hoàng của Đức Mẹ,
của riêng Đức Mẹ. Người đã làm tất cả mọi điều có thể để dâng kính Đức
Maria, từ huy hiệu Giám mục, sau đó là huy hiệu Giáo Hoàng có khắc chữ
M, chữ cái đầu của thánh danh Đức Mẹ, rồi khẩu hiệu Giám mục và Giáo
Hoàng “Totus Tuus”, để nói lên lòng mong mỏi được đồng hành cùng Đức
Mẹ, và phó thác cho Đức Mẹ đời mục tử của mình, đến sự kiện biểu lộ
lòng biết ơn Đức Trinh Nữ, khi đặt lên chiếc triều thiên của tượng Đức
Mẹ tại đền thánh Phatima ngày 13.5.1982, viên đạn lấy ra từ thân thể
sau khi bị ám sát hụt.
Càng tiến xa hơn
nữa trong nghĩa cử tỏ lộ lòng yêu mến Nữ Vương Phatima, đó là cuộc
hành hươn đền thánh Phatima năm 2000, Đức Thánh Cha đã đặt dưới chân
tượng Đức Mẹ Phatima chiếc nhẫn Giám mục quý giá do đức cố hồng y
Stefan Wyszynski, Tổng giám mục thành Kracow dâng tặng lúc Người được
bầu làm Giáo hoàng ngày 16.10.1979. Nhìn vào tất cả cuộc đời, sự sống,
sự hoạt động, sự cầu nguyện… của Người, ta thấy quá rõ ràng, Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II là người con thật hiếu thảo, thật hoàn hảo, thật
xứng đáng với tình yêu của Mẹ trên trời, Đấng mà Người chọn làm bổn
mạng trong suốt quảng đời làm mục tử, nhất là trong 26 năm rưởi trên
chức vị giáo hoàng.
Bạn thân mến, Đức
Thánh Cha đã từng viết nhiều sách, trong đó có một quyển sách mang tựa
đề “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng”. Bây giờ Người đã thực sự bước qua
Ngưỡng Cửa ấy, Ngưỡng Cửa của niềm hy vọng trời cao, để chiếm lĩnh
niềm hy vọng là chính Thiên Chúa của mình. Từ nay Người vào trong hy
vọng và trở thành niềm hy vọng của muôn người trên trần thế.
Còn bạn và tôi, dù
tiếc thương Người Cha kính yêu, Người Cha của niềm hy vọng, chúng ta
không khóc, không đau buồn, nhưng càng tăng thêm niềm hy vọng: đến một
ngày, sau khi đã sống trong cuộc đời, đã lắng nghe lời giảng dạy, thực
hiện những giáo huấn hướng về sự hoàn hảo mà Người luôn mời gọi, chúng
ta sẽ như Người, tiến qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, để vào chiếm lĩnh chính
niềm hy vọng vĩnh cửu là Chúa Kitô như Người.
Chúng ta không khóc
để sống chính lời nhắn nhủ cuối cùng của Người ngay trước khi chia tay
chúng ta bước vào một chuyến đi dài: “Cha rất hạnh phúc và các con
cũng nên vui mừng. Đừng khóc. Hãy cùng cầu nguyện trong niềm vui”.
Nguyện xin Thiên
Chúa, Đấng mà Đức Thánh Cha đã tin tưởng và phục vụ đến giây phút sau
cùng đón nhận Người, đón nhận cả một hành trình trong đời mà Người đã
trải qua và chấp nhận vô vàn những dấu ấn thăng trầm. Nguyện xin Đức
Maria, Đấng mà Đức Thánh Cha luôn tung hô: “Totus Tuus” – Tất cả con
là của Mẹ – hãy đón chào Đức Thánh Cha và dẫn Người đến trình diện
trước tòa của Đấng hằng Sống và Cứu Chuộc. Xin Mẹ hãy tiếp tục cầu bàu
và gìn giữ Giáo Hội, thành quả lớn lao do Người Con ưu tú của Mẹ đã
dày công lãnh đạo và dẫn dắt cả một thời gian dài 26 năm rưởi qua. Xin
cho ánh sáng của lòng ham thích cầu nguyện và yêu mến Mẹ nơi Đức Thánh
Cha, chiếu dãi không ngừng trên từng người chúng con, vì đó vừa là bí
quyết để chúng con củng cố niềm hy vọng trời cao ngay khi còn sống
trong cuộc đời, vừa là bí quyết giúp chúng con bước qua ngưỡng cửa hy
vọng mai sau, để chiếm lĩnh NGUỒN HY VỌNG ĐỜI ĐỜI của chúng con.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
VỀ MỤC LUC |
|
Những THÁCH ĐỐ
Khi các cơ quan
truyền thông quốc tế nói tới danh tính Karol Wojtyla, vị Hồng Y gốc Ba
Lan được Vatican chọn làm ngưới lãnh đạo tinh thần tối cao của thế
giới Công Giáo thì không phải chỉ riêng các quốc gia Đông Âu mà cả
Liên Bang Sô Viết đều phải bàng hoàng sửng sốt. Và trong tâm trạng
bàng hoàng sửng sốt ấy có hàm ẩn một nỗi băn khoăn lo ngại.
Qua những cuộc họp
bàn tại điện Câm Linh, hoặc qua những đường giây điện thoại mật nối
liền Mạc Tư Khoa với Varsovie, Prague, Đông Bá Linh, Budapest.... các
lãnh tụ cao cấp trong thế giới cộng sản bắt đầu trao đổi bàn bạc với
nhau về một phương sách nhằm triệt tiêu, hoặc ít nữa là giảm thiểu,
ảnh hưởng của vị tân Giáo Chủ thế giới Công Giáo.
Đến khi Vatican bắn
tiếng về dự tính muốn về thăm quê hương của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
II vào thượng bán niên 1979 thì mối lo ngại của các lãnh tụ đỏ ở điện
Cẩm Linh biến thành phẫn nộ. Và sự phẫn nộ ấy được trút lên đầu những
lãnh tụ đàn em ở Varsovie qua những cuộc điện đàm, những văn thư mật.
Dĩ nhiên, bên cạnh sự phẫn nộ cũng kèm theo cả những khuyến cáo, những
hăm dọa thường lệ.
Thật ra, trong tác
phẩm “Pope John Paul II -The Biography”, Tad Szulc đã cho biết là
không phải chờ qua năm 1979, trong buổi lễ đăng quang tại Công Trường
Thánh Phêrô ngày 23-10-1978, tức là chỉ hơn một tuần sau khi được chọn
vào ngôi vị Giáo Hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã nói thẳng với
Jablonski, chủ tịch nhà nước cộng sản Ba Lan, lúc ấy với tư cách người
cầm đầu phái đoàn Varsovie trong buổi lễ, là Ngài có ý định về thăm Ba
Lan.
Đức Thánh Cha nói:
“Tôi tha thiết mong
mỏi được về thăm đất nước vào dịp kỷ niệm 900 năm ngày thánh Stanislaw
tuẫn đạo.....Tôi tin tưởng rằng dịp kỷ niệm trọng đại này sẽ giúp canh
tân đời sống luân lý cũng như niềm tin của các tín hữu Ba Lan. Bởi vì
toàn dân ta đều coi thánh Stanislaw như vị thánh bảo trợ đời sống tinh
thần cũng như trật tự của đất nước Ba Lan từ ngót một ngàn năm
qua.....”.
Đứng về khía cạnh
tôn giáo thuần túy, thời điểm chọn lựa này mang một ý nghĩa tinh thần,
nếu không muốn nói là bình thường. Nhưng dưới mắt nhà nước cộng sản,
nó trở nên những suy diễn nhức nhối cho chế độ. Và đấy là lý do sau
này khi chẳng đặng đừng phải chấp thuận để cho Đức Gioan Phaolô II mở
chuyến tông du đầu tiên tại Ba Lan, các lãnh tụ cộng sản ở Varsovie đã
chỉ bằng lòng cho Ngài tới vào thượng tuần tháng 6-79, tức là một
tháng sau ngày kỷ niệm Thánh Stanislaw.
Vẫn theo Tad Szulc
thì sự úy kỵ đối với nhà nước cộng sản Ba Lan về ngày kỷ niệm vị Anh
Hùng Tuẫn Đạo này đã có từ lâu khi vị Giáo Chủ Công Giáo còn là Hồng
Y. Thuở ấy, với cương vị Tổng Giám Mục Krakow, Ngài luôn luôn yêu sách
nhà cầm quyền phải để cho giáo dân tổ chức các cuộc rước kiệu vĩ đại
xuyên qua thành phố nhằm tôn vinh Thánh Stanislaw. Đây là một điều gây
nhiều nhức nhối cho chế độ. Dưới mắt những người cộng sản, Giáo Hội Ba
Lan có dụng ý đồng hóa chế độ hiện tại với triều đại của vị Hoàng Đế
đã hạ lệnh sát hại Giám Mục Stanislaw vào ngày 8-5-1079.
Trong khi ấy, Mạc
Tư Khoa vẫn không ngớt dồn áp lực lên các thành phần thuộc trung ương
đảng bộ cộng sản Varsovie, buộc phải tìm cách ngăn chặn cuộc viếng
thăm Ba Lan của Đức Gioan Phaolô. Các tác giả “Pope John Paul II -The
Biography” và “His Holiness...” đều thuật lại là ngay sau khi hay tin
Giáo Hội Ba Lan chính thức mời Đức Thánh Cha về thăm quê hương, Tổng
Bí Thư cộng đảng Liên Sô Brezhnev đã công khai tỏ bày thái độ công
phẫn, đồng thời cấp tốc gọi điện thoại cho Đệ Nhất Bí Thư cộng đảng Ba
Lan là Gierek để khiển trách.
Xuyên qua nội dung
cuộc điện đàm giữa hai nhân vật này được Tad Szulc ghi lại trong cuốn
“Pope John Paul II” đã giúp cho người đọc hình dung được phần nào phản
ứng của điện Cẩm Linh. (Chi tiết này cũng như tất cả những văn kiện có
tính cách tối mật được Tad Szulc cũng như hai tác giả “His
Holiness...” ghi nhận chỉ được bạch hóa sau ngày chủ nghĩa cộng sản
quốc tế sụp đổ).
“Theo lời kể lại
của Gierek thì trong cuộc điện đàm, sau khi nhắc lại tin giáo quyền Ba
Lan chính thức lên tiếng mời Đức Gioan Phaolô qua thăm, Beezhnev lên
tiếng cật vấn để biết thái độ của ông ta về vấn đề này. Và cuộc đối
thoại diễn ra như sau:
“Brezhnev: Đồng chí
dự tính sẽ xử sự ra sao về vấn đề này?
“Gierek: Tôi sẽ
long trọng tiếp đón Ngài.”
“Brezhnev: Tôi
khuyên đồng chí đừng tiếp ông ta. Nếu không, sẽ là căn cớ tạo nên rắc
rối sau này.”
“Gierek: Bằng cách
nào tôi có thể từ chối không đón tiếp vị Giáo Hoàng người Ba Lan khi
mà đại đa số đồng bào tôi là tín hữu Công Giáo? Đối với họ, trường hợp
Karol Wojtyla được chọn làm Giáo Hoàng là một danh dự lớn. Đồng chí
thử nghĩ xem tôi sẽ ăn nói làm sao với dân chúng nếu tôi không đón
tiếp Ngài?
“Brezhnev: Giáo
Hoàng là một người khôn ngoan. Đồng chí cứ đưa ý kiến cho ông ta là
nên công khai tuyên bố là không thể qua Ba Lan vì lý do sức khoẻ.”
“Gierek: Đồng chí
Leonid, tôi không thể làm như thế. Tôi phải tiếp đón Ngài.”
“Brezhnev: Gomulka
là một người cộng sản khá hơn, bởi vì đã biết từ chối không cho Giáo
Hoàng Phaolô VI thăm Ba Lan trước đây nên đã không có chuyện gì ghê
gớm xảy ra. Nhờ thế mà Ba Lan tồn tại. Và Ba Lan sẽ tiếp tục tồn tại,
nếu lần này đồng chí cũng làm như vậy.”
“Gierek: Dù sao,
trên phương diện chính trị buộc tôi phải đón tiếp Ngài”2.
Thật ra, người ta
được biết sở dĩ Trung Ương Đảng Bộ cộng sản Varsovie bị đặt vào thế
chẳng đặng đừng phải bật đèn xanh cho Giáo Quyền Ba Lan đạt thư mời
Đức Gioan Phaolô II qua thăm viếng là vì những áp lực ngay từ quốc
nội. Trong tác phẩm “The Catholic Church In World Politics” (Giáo Hội
Công Giáo Trong Chính Trị Thế Giới), Eric O. Hanson đã nêu lên hai lý
do buộc nhà nước phải hành động như vậy.
Trước hết, vì
Gierek không thể quên được sự can thiệp kịp thời của Hồng Y Wyszynski
vào năm 1970. Nếu không có sự can thiệp này, chính quyền của ông đã bị
sụp đổ lúc bấy giờ. Thứ hai là sau khi chính thức gửi văn thư mời Đức
Thánh Cha qua viếng Ba Lan, Hội Đồng Giám Mục nước này đã soạn một bản
kinh cầu nguyện được đọc tại khắp các giáo đường trên toàn quốc với
nội dung xin Thiên Chúa can thiệp để cuộc thăm viếng Ba Lan của Ngài
không bị ngăn cản. Sự kiện này đã đương nhiên trở thành một áp lực
công khai của tuyệt đại đa số nhân dân Ba Lan 3.
Và như thế chuyến
trở về thăm quê hương lần thứ nhất của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
đã diễn ra như một phép lạ, tạo nên những biến chuyển nhanh chóng
trong chính tình Ba Lan, và làm cho Mạc Tư Khoa thêm rúng động.
Vào những tháng
cuối năm 1979 và suốt năm 1980, các công nhân thuộc các xí nghiệp đã
liên tiếp phát động những cuộc đình công đòi quyền sống, quyền làm
việc và quyền tham gia, điều hành các tổ chức công đoàn không thuộc hệ
thống nhà nước. Ngày 27-8-1980, với sự yểm trợ tinh thần của Đức Gioan
Phaolô II, Hội Đồng Giám Mục Ba Lan thông qua một bản tuyên ngôn đề
cập tới quyền được thành lập những tổ chức độc lập đại diện cho giới
công nhân.
Trước tình thế ấy,
nhà nước không có con đường nào khác hơn là phải nhượng bộ. Ngày 31-8,
những thỏa hiệp mang tính cách lịch sử đã được ký kết tại Gdansk giữa
đại diện nhà nước cộng sản Ba Lan và giới công nhân, mà Lech Walesa là
một khuôn mặt tiêu biểu. Giới truyền thông ghi nhận: Lần đầu tiên một
tổ chức công đoàn tư đã ra đời tại một nước cộng sản.
Tiếp sau đó, do áp
lực của Liên Sô và các chư hầu cộng sản Đông Âu, ngày 5-9, Gierek bị
mất chức Đệ Nhất Bí Thư Đảng để nhường chỗ cho Stanislaw Kania. Cũng
trong khoảng thời gian này, nhiều cuộc họp mật đã liên tiếp diễn ra
tại điện Cẩm Linh. Các tác giả Carl Bernstein và Marco Politi đã công
bố trong tác phẩm “His Holiness...” nhiều tài liệu thuộc loại “Tối
Mật” (Top Secret) mà sau này khi chủ nghĩa Mác Xít tại Đông Âu và Liên
Sô sụp đổ mới được bạch hóa. Dưới đây là một trong những tài liệu ấy:
Tối Mật -Bản Duy
Nhất -Không Phổ Biến
Chủ Tọa: Đồng chí
Brezhnev L.I.
Tham Dự Viên: Các
đồng chí Andropov I.V., Gorbachev M.S., Grishin V.V., Gromyko A.A.,
Kirilenko A.P., Oelshi A.Ia., Suslov M.A., Tikhonov N.A., Ustinov
D.F., Chernenko K.U., Demichev P.N., Kuznetsov V.V., Ponomarev B.N.,
Solomentsev M.S., Dolghikh V.I., Zimianian M.V., Rusakov K.V.
Khai mạc phiên nhóm
mật, Brezhnev nghiêm nghị lên tiếng:
Sự thật là bọn phản
cách mạng đã tràn ngập Ba Lan......Chúng đã khởi sự chiếm quốc hội và
tiếp tục nói là quân đội nằm trong tay chúng. Lech Walesa di chuyển
khắp nước và ở đâu y cũng được hoan nghênh. Giới lãnh đạo cũng như báo
giới hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Cả truyền hình cũng ngả theo những
thành phần phản xã hội chủ nghĩa.......Có lẽ đã đến lúc Ba Lan phải
ban bố lệnh giới nghiêm.
Yuri Andropov,
người cầm đầu KGB nói:
Tôi nghĩ rằng giới
lãnh đạo ở Varsovie không ý thức được tầm mức nghiêm trọng của tình
thế.
Bộ Trưởng Quốc
Phòng Ustinov lên tiếng phàn nàn:
Những đồng chí Ba
Lan của chúng ta nói thật nhiều nhưng vô nghĩa. Hiển nhiên Walesa và
đồng bọn đã chiếm đài phát thanh ở Wroclaw.
Brezhnev ghi nhận:
Một cuộc đình công
nhỏ vừa diễn ra tại Nam Tư. Dù nhỏ nhưng nó đã trở thành nghiêm trọng.
Khoảng 300 người đã bị tống giam.
Ustinov lên tiếng
cảnh giác:
Trừ khi lệnh thiết
quân luật đuợc ban hành, nếu không tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn.
Cũng có một vài chuyển động nhỏ trong quân đội. Nhưng các đơn vị phía
bắc của ta đã sẵn sàng lâm chiến.
Sau đó, ngoại
trưởng Gromyko lên tiếng giọng đầy lo sợ:
Chúng ta không thể
mất Ba Lan. Trước đây, hồng quân Liên Sô đã thiệt mất 600,000 bộ đội
để giải phóng Ba Lan khỏi tay Đức quốc xã. Chúng ta không chấp nhận
phản cách mạng.....”4.
Vào những ngày mùa
thu năm 1980, những chuyển biến trong tình hình chính trị Ba Lan đã
làm rúng động các giới lãnh đạo cộng sản ở Đông Bá Linh, Budapest,
Prague, khiến họ phải lên tiếng kêu cứu với Mạc Tư Khoa. Tại Đông Đức,
Lãnh tụ đảng kiêm Chủ tịch nhà nước Erich Honecker hăm dọa sẽ huy động
lực lượng quân sự của minh ước Varsovie để can thiệp vào tình hình Ba
Lan. Ngày 28-10, chính phủ của ông ta đã ra lệnh kiểm soát gắt gao
những sự di chuyển của dân chúng qua biên giới Ba Lan, chấm dứt sự tự
do đi lại vốn có giữa hai nuớc từ ngót 10 năm qua.
Trong phiên họp
ngày 29-10, Andrei Kirilenko đã nói với các ủy viên trong Chính Trị Bộ
cộng đảng Liên Sô rằng:
“Thái độ bất động
khác thường của Kenia càng ngày càng trở nên khó hiểu đối với các nhà
lãnh đạo trong các nước xã hội chủ nghĩa. Tỉ dụ như khi tôi nói chuyện
với Husak và những đồng chí tại Tiệp, tôi nhận thấy hầu hết đều tỏ dấu
ngạc nhiên về thái độ bất động như thế. Những người anh em này nêu lên
một bằng chứng cụ th là khi họ xuống tay mạnh mẽ đối với những phần tử
đã khích động trong một cuộc đình công tại một nhà máy thì đều đạt
được kết quả tốt”5.
Ngay ngày hôm sau,
30-10, hai lãnh tụ lớn của Ba Lan là Thủ tướng Josef Pinkowski và Bí
thư Stanislaw Kania được vời qua Mạc Thư Khoa tham dự một phiên họp
khẩn của Bộ Chính Trị.
Tại đây, Brezhnev
giận dữ tuyên bố:
“Những phần tử phản
cách mạng đã mất hết tự chế. Tình trạng này đòi hỏi phải tuyên bố tình
trạng khẩn trương.” Gromyko dè dặt khuyến cáo: Mọi người đều nhận thấy
đây là giải pháp cần thiết để bảo toàn những thành quả cách mạng. Tuy
nhiên, không nên ban bố tình trạng khẩn trương lúc này, nhất là khi
hai đồng chí Kania và Pinkowski vừa từ giã Mạc Tư Khoa”6.
Trở lại Ba Lan với
những lời hứa, nhưng bốn tuần lễ sau đó, hai lãnh tụ cao cấp trong
đảng và nhà nước vẫn chưa biết hành động ra sao để ổn định tình thế.
Trong khi ấy, giới công nhân lại tung ra một đợt đình công mới. Ngày
5-12, một phiên họp đặc biệt khác lại được triệu tập tại Mạc Tư Khoa
với sự tham dự của các đại diện trong Liên Minh Varsovie. Và dĩ nhiên,
một lần nữa Kania lại được vời qua để nghe chỉ thị của Brezhnev và các
lãnh tụ các nước láng giềng như Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi và Đông Đức.
Tất cả đều lên
tiếng khuyến cáo giới hữu quyền Varsovie phải mạnh tay với Công Đoàn
Đoàn Kết và Giáo Hội Ba Lan, nếu không thì liên quân trong minh ước
Varsovie sẽ hành động để giúp Ba Lan ổn định tình hình. 18 sư đoàn đã
túc trực ở biên giới Ba Lan và ở trong tư thế sẵn sàng hành động.
Sau đó, trong một
cuộc gặp gỡ riêng, khi Kania tỏ ý lo ngại về một hình ảnh Liên Sô vấy
máu nếu có sự can thiệp bằng quân sự thì Brezhnev nói:
“Tạm đồng ý, lúc
này chúng ta chưa đổ quân vào lãnh thổ Ba Lan. Tuy nhiên, nếu tình
hình trở nên tồi tệ, lúc ấy chúng ta sẽ không còn có lựa chọn nào khác
hơn”7.
Cuối mùa Xuân năm
1981, sau một thời gian được coi là yên tĩnh, tình hình Ba Lan lại trở
nên sôi động. Hạ tuần tháng hai, Varsovie loan báo đóng cửa không
phận trong hai ngày với thâm ý ngăn chặn những phi cơ thám thính
ngoại quốc trong khi có cuộc điều binh của minh ước Varsovie ở biên
giới. Tại Đông Đức, tất cả các toa xe lửa đều bị quân đội trưng dụng.
Dọc biên giới Ba Lan, 150,000 hồng quân Nga Sô, Đức và các nước trong
vùng được đặt trong tư thế sẵn sàng tiến vào lãnh thổ Ba Lan để triệt
hạ những thế lực mà họ gọi là phản cách mạng.
Ngày 23-2-80, Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II đã gửi một văn thư cho Brezhnev yêu cầu ông
ta hãy tự chế không được can thiệp vào nội bộ Ba Lan, nhất là phải tôn
trọng quyền gia nhập công đoàn của giới công nhân. Vẫn theo tác giả
“His Holiness...” thì trong thời gian này có lời đồn thổi (tuy thiếu
căn cứ nhưng được loan truyền rộng rãi ở Ba Lan và một vài giới ở
Vatican) là nếu xảy ra trường hợp hồng quân Nga xâm lăng Ba Lan thì
bản thân Đức Thánh Cha sẽ về để dùng chính thân xác Ngài bảo vệ dân
chúng trước xe tăng và họng súng của quân xâm lược.
Ngày 28-3, Đại sứ
Nga tại Ý tới yết kiến Đức Thánh Cha trong hai tiếng đồng hồ. Sau đó,
Ngài cho Đức Hồng Y Casaroli biết rằng Mạc Tư Khoa hứa sẽ không can
thiệp vào nội bộ Ba Lan trong vòng 6 tháng nếu Tòa Thánh giúp ngăn
chặn được những biến cố đừng trở nên gay gắt hơn tại quốc gia này,
bằng cách kêu gọi Công Đoàn Đoàn Kết ngưng các cuộc đình công bãi thị.
Tuy vậy, để chuẩn
bị cho những biện pháp cứng rắn hơn, trước đó, Mạc Tư Khoa đã đặt
tướng Jaruzelski vào chức vụ Thủ tướng trong guồng máy nhà nước cộng
sản Ba Lan. Ngay sau đó một loạt những thay đổi trong guồng máy quân
đội đã diễn ra. Những sĩ quan và binh sĩ lớn tuổi vốn có nhiều cảm
tình với Công Đoàn Đoàn Kết đã được cho về hưu để thay thế bằng những
người trẻ trung thành với đảng và nhà nước hơn. Trong khi ấy hình ảnh
của Công Đoàn càng ngày càng trở nên hấp dẫn không những với quần
chúng Ba Lan mà còn cả với thế giới, bên trong cũng như bên ngoài bức
màn sắt.
Thượng tuần tháng
Tư, tướng Jaruzelski nhận được mật lệnh từ điện Cẩm Linh là phải cùng
với Kania tới hội kiến với một nhóm đại diện Brezhnev ở một địa điểm
mật vào một thời điểm sẽ được thông báo sau. Nhớ lại một kinh nghiệm
trong quá khứ khi chủ tịch nhà nước Tiệp Khắc là Alexander Dubcek được
triệu thỉnh qua Mạc Tư Khoa và bị giam giữ sau đó, tướng Jaruzelski
thoáng lạnh mình. Ông vội vã tìm tới một người bạn thân là tướng
Michal Janiszewski để yêu cầu ông ta giúp săn sóc vợ con cho ông, nếu
cần.
Nhớ lại giây phút
ấy, sau này tướng Jaruzelski tâm sự: “Tôi không thể tiết lộ điều gì
hơn với Janiszewski, nhưng tôi nghĩ rằng ông hiểu được điều tôi muốn
nói. Với một cử chỉ khác thường, ông ôm tôi giây lâu trong vòng tay và
không nói một lời.”
Đem theo một tùy
viên thân tín, một khẩu súng ngắn, một trái lựu đạn chứa hơi độc,
Jaruzelski tới văn phòng Kania. Sau đó hai người lái xe tới phi trường
quân sự ở Okecie. Đúng 7 giờ tối, cả hai được hướng dẫn tới một phi cơ
nhỏ, vô danh, không có nhãn hiệu ngôi sao đỏ của hồng quân, cũng không
phải là loại phi cơ quen thuộc được dùng trong chính quyền Nga. Trên
phòng lái chỉ có một phi tiêu. Cuộc hành trình kéo dài trong khoảng
non một tiếng đồng hồ. Phi cơ đáp xuống một khu vực thuộc hạt
Brest-Litovsk bên kia biên giới Nga.
Tác giả Holiness
thuật lại rằng:
“Khi ấy, tôi
(Jaruzelski) nhận ra là chúng tôi đang ở rất xa với những phòng ốc của
phi trường với những ngọn đèn đặc biệt. Ba chiếc xe Volgas có màn che
kín cửa kính nhưng không có bảng số đã túc trực để chờ chúng tôi.
Những người trong xe mặc thường phục và không cần trình giấy tờ chứng
minh họ thuộc về sở KGB khi đi qua các trạm gác. Tôi, Kania và người
tùy viên thân tín được hướng dẫn lên xe đầu. Và đoàn xe khởi hành ngay
lập tức. Tôi không hề nhận biết là chúng tôi sẽ đi về đâu....
“Sự thiếu vắng bảng
đường càng khiến tôi có cảm tưởng là chúng tôi đang đi tới một hành
tinh trong một thế giới xa lạ. Vào một lúc nào đó, đoàn xe đi vào một
khúc đường ngắn không tráng nhựa trước khi ngừng lại tiền đình một
ngôi nhà vĩ đại xây bằng gạch đỏ tọa lạc giữa một đồn lính và một trại
giam. Giây phút ấy, tôi nhủ thầm: có thể đây là một chuyến đi không
hẹn ngày trở lại. Lặng lẽ tôi liếc nhìn Kania và hiển nhiên anh cũng
có chung một cảm giác như tôi.”
Jaruzelski và Kania
bước xuống xe và chợt nhận ra Andropov, trùm mật vụ Nga và Ustinov, Bộ
trưởng quốc phòng Nga cũng vừa xuống xe. Bốn người tiến vào một toa xe
lửa sang trọng được dùng trong những cuộc họp mật giữa các yếu nhân
với một chiếc bàn hình chữ nhật phủ nỉ xanh, chung quanh có những
chiếc ghế bành, và bên cạnh có một quầy thực phẩm đầy nhóc bánh kẹp,
trà, cà phê, rượu, cá và thịt hộp.
Cuộc họp khởi diễn
ngay sau đó và kéo dài trong sáu tiếng đồng hồ cho tới 3 giờ sáng hôm
sau mới chấm dứt. Ustinov và Andropov nhắc lại điều mà họ gọi là những
tội lỗi mà nhà nước Ba Lan đã vấp phải để đi tới kết luận là chỉ còn
một giải pháp duy nhất là: ban bố tình trạng thiết quân luật trên toàn
lãnh thổ Ba Lan. Bất kể những lời đề kháng của Jaruzelski và Kania,
hai viên chức Nga không hề chuyển lòng.
Theo quan điểm của
họ thì phải đặt Công Đoàn Đoàn Kết ra ngoài vòng pháp luật. Quân đội
phải được vận dụng để chống lại những kẻ thù của xã hội chủ nghĩa.
Giáo Hội phải trở về với vị trí của mình, không được can dự vào chính
trị. Ustinov nói:
“Tại nhiều nước,
ngay sau khi có những vụ nổi dậy, người ta ban bố ngay lệnh thiết quân
luật. Thí dụ như ở Nam Tư, khi có cuộc biểu tình ở Kosovo, nhà nước
ban bố lệnh giới nghiêm và không một ai dám nói gì. Chúng tôi không
hiểu tại sao Ba Lan lại e sợ biện pháp này”8.
* * * * *
Hồi 5 giờ chiều
ngày 13-5-81 nhằm ngày Thứ Tư, theo thông lệ, Đức Gioan Phaolô II tới
Công Trường Thánh Phêrô gặp gỡ khách hành hương. Bỗng dưng có tiếng nổ
chát chúa khiến đàn bồ câu hoảng hốt cất cánh bay lên. Từ trên lầu cao
nhìn xuống, người ta thấy Đức Thánh Cha trong bộ áo trắng, bỗng dưng
ngã chúi vào người cận vệ bên cạnh Ngài. Theo lời thuật lại của Đức
Ông Dziwisz thì có kẻ vừa bắn vào bụng Ngài. Lập tức, người tài xế vội
vàng chở Đức Thánh Cha tới một xe cứu thương để đưa Ngài tới bệnh viện
cấp cứu.
Là người ở bên cạnh
Đức Thánh Cha, nên Đức Ông Dziwisz theo sát từng biến chuyển trên
gương mặt Ngài trong giây phút thập tử nhất sinh ấy. Đức Ông cho hay:
“Hai mắt Ngài nhắm nghiền, dường như đang trải qua một cơn đau đớn dữ
dội, trong khi miệng Ngài liên tiếp kêu: Maria Mẹ con, Maria Mẹ con”.
Đoạn đường từ Công Trường tới bệnh viện mất 8 phút, và khi xe cứu
thương tới nơi thì Đức Thánh Cha đã hoàn toàn lâm vào tình trạng hôn
trầm. Tại đây, Ngài đã trải qua một cuộc giải phẫu kéo dài trong 5
tiếng đồng hồ 20 phút. Khoảng 60% lượng máu bị mất. Bác sĩ giải phẫu
đã phải cắt đi 22 inches ruột non của Ngài.
Đối với Đức Gioan
Phaolô II, sự kiện thời điểm Ngài bị mưu sát nhằm đúng ngày Đức Mẹ
hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ ở Fatima phải được coi là một huyền
nhiệm. Do đó Ngài xác tín rằng chính Đức Trinh Nữ Maria đã cứu mạng
sống của Ngài. Trong thời gian tĩnh dưỡng, có lần Đức Thánh Cha tâm
sự: “Bàn tay kẻ ác bóp cò súng mong lấy mạng sống của tôi, nhưng bàn
tay Đức Mẹ đã điều hướng đường bay của viên đạn để cứu tôi.”
Được biết, kẻ mưu
sát Đức Thánh Cha là Mehmet Ali Agca. Y sử dụng khẩu súng Browning 9
mm nhắm bắn Ngài nhiều phát nhưng chỉ trúng hai. Dư luận cho rằng Agca
được thuê mướn và bảo vệ bởi mật vụ Bảo Gia Lợi, một tổ chức do mật vụ
Nga KGB điều khiển.
Khi Đức Cha Deskur
tỏ ý thắc mắc là tại sao Đức Thánh Cha không quan tâm tới vụ điều tra
tung tích kẻ sát nhân thì Ngài trả lời: “Điều đó không làm tôi bận
tâm, bởi vì đấy là hành vi của ác quỷ. Và ác quỷ thì có trăm phương
nghìn kế, nhưng tất cả đều vô nghĩa đối với tôi.”9 Có điều xuyên qua
vụ mưu sát tại Công Trường Thánh Phêrô chiều ngày 13-5-81, dư luận
không thể không liên kết với những mưu toan thâm độc của tập đoàn cộng
sản quốc tế, dưới quyền điều động của Liên Bang Sô Viết, nhằm làm bặt
đi tiếng nói bất khuất của lương tâm nhân loại mà Đức Gioan Phaolô là
một biểu tượng sáng ngời.
Nhà Văn Trần Phong Vũ _______________________________
1 Tad Szulc, “Pope
John Paul II - The Biography”, tr 291.
2 Carl Bernstein &
Marco Politi, “His Holiness...”, tr. 191.
3 Eric O. Hanson,
“The Catholic Church In World Politics”, tr. 198.
4-5-6-7 Carl
Bernstein & Marco Politi, “His Holiness...”, tr.247-248-249-250.
8 Carl Bernstein &
Marco Politi, “His Holiness...”, tr. 280-281-282.
9 Carl Bernstein &
Marco Politi, “His Holiness...”, tr. 296-297.
VỀ MỤC LUC
|
GIO-AN PHAO-LÔ II
(1920 – 2005)
Tiếng chuông từ giáo
đường vang vọng
Tiếng chuông buồn chậm
rãi, ngân nga
Tiếng chuông trầm thống,
thiết tha
Tiếng chuông đưa tiễn
hồn xa dương trần!
Một chiều Xuân tin buồn
lan rộng
Vị đương kim Giáo chủ
ra đi!
Hồn Ngài lên Ðấng Từ bi
Nhận muôn phần thưởng
bởi vì nghiệp công!
Ngài khôn ngoan lái
lèo Giáo hội
Hăm sáu năm tận sức của
Ngài
Toàn cầu biết đến danh
Ngài
Thăm hơn trăm nước miệt
mài đường xa!
Ngài vốn coi con người
là trọng
Ngài đề cao Công lý -
Nhân quyền
Ðộc tài, áp bức, chính
chuyên
Ngài đều lên tiếng trả
quyền cho Dân.
Ba lan vui mừng – Ngài
nâng đỡ
Vì chính là nơi đó – Quê
Ngài
Thăm dân, an ủi dài dài
Họ đang hưởng một cuộc
đời đẹp tươi!
Ngài can đảm trên đường
Công lý
Luôn truyền rao Bác Ái,
Vị tha
Ngăn ngừa tính dục, phá
thai,
Hôn nhân nam nữ hòa
hài âm dương!
Chống bạo động, chiến
tranh, khủng bố
Ngài giải hòa hai nước,
cá nhân
Sao cho thế giới nhân
quần
Sống trong an lạc, mười
phần ấm no.
Cả cuộc đời vững tin nơi
Chúa
Ngài nhiệt thành, phó
thác, cậy trông
Dạy dân cây Ðức vun
trồng
Hướng về Giới trẻ - Vườn
hồng tương lai!
Tám mươi tư - Ngài về
với Chúa
Hăm sáu năm - Ngài đại
thành công
Triều thiên danh dự thỏa
lòng
Chúa trao Ngài bởi vì
công nghiệp Ngài!
Ðoàn con thương tiếc cảm
hoài!
Vĩnh biệt Giáo Hoàng
Gio-an Phao-lô II!
Thay
mặt một số tín hữu Công giáo
và
ngoài Công
giáo, nhiều sắc dân.
Little Saigon 3-4-2005
Nhà Văn Xuân Vũ TRẦN
ÐÌNH NGỌC
VỀ MỤC LUC
|
|
DẤU
ẤN TÌNH YÊU
Mỗi cuộc sống đều
có những cảm nghiệm khác nhau. Riêng tôi, có dịp vào sa mạc trống
trong một thời gian dài vẫn là một cảm nghiệm ghi đậm nét. Ba mươi
ngày tĩnh lặng mở ra một nhãn quan rộng hơn đã là cơ hội cho mình nhìn
lại cuộc sống, có bổng mà cũng có trầm, có đủ màu sắc hỉ nộ ái ố xanh
vàng tím đỏ; có những lúc tâm hồn mọc cánh thênh thang, mà lại cũng
trải qua những giai đoạn bị đục khoét lia chia mà chẳng hiểu tại
sao...
Nhưng kìa, những
màu sắc mâu thuẫn đang hòa lại xuất hiện thành cầu vồng, những xung
đột bổng trầm đang kết lại thành hòa khúc dịu êm. Nhà nghệ sĩ đại tài
là chính tôn sư Maria, "cây trúc xinh" nhỏ bé tầm thường, bằng chính
cảm nghiệm đời mình đang dẫn đầu Vũ Khúc Tuyên Dương:
Chúa đã làm cho tôi muôn việc kỳ diệu.
Người nâng cao những ai phận nhỏ.
Đây rồi, Thần Khí
Chúa đang mang một cây sáo trúc đến tặng tôi, trổi lên thành Khúc Sáo
Ân Tình loan báo Tin Vui lớn như trong thị kiến của Isaia:
Trèo lên trên khắp núi đồi
Niềm Vui loan báo cho mọi người,
Hân hoan gióng tiếng rằng:
Này đây Chúa đến.
(Isaia 40:9)
THẦN SÁO KOKOPELLI
Kokopelli lưng gù
vừa nhảy múa vừa thổi sáo là một hình ảnh ăn sâu trong máu người Mỹ
chính gốc bản thổ tức là dân Da Đỏ, và đã trở thành như hiện thân của
chính họ.
Bang Arizona và
New Mexico hầu hết là sa mạc vẫn còn nhiều người Da Đỏ sinh sống trong
những làng riêng biệt với những phong tục văn hóa khác biệt, như các
sắc dân Navajo, Pueblo, Hopi, Zuni... Mỗi sắc dân đều có những truyền
thống riêng. Nhưng một nhận xét rất rõ là sắc dân Da Đỏ nào cũng biết
nhảy múa, khi nhảy múa thì đánh trống, thổi sáo, mặc và đeo lông chim
như muốn hóa thân trở thành chính vật tổ của mình. Và bất cứ nơi nào
có dấu vết người Da Đỏ đều thấy hình ảnh Kokopelli được khắc vào vách
đá (gọi là petroglyphs), vẽ trong hang động hay lưu truyền qua những
vật biểu (katcina) trong những cuộc múa nhảy mang tính cách lễ nghi.
Theo truyện thiêng
của người Da Đỏ thì Kokopelli là một nghệ sĩ thổi sáo, mang tật nguyền
với cái lưng gù đến khum sụm xuống mà lại là sứ giả của niềm an bình,
vì luôn mang theo mình một ống sáo thần vừa múa nhảy vừa thổi để báo
tin vui cho dân chúng của những miền sắp đi tới. Tiếng sáo của
Kokopelli mang hấp lực lạ lùng là thu hút và gầy dựng được tình yêu,
làm tan biến những bất hòa giữa người với người, giữa bộ lạc này với
bộ lạc kia, giữa làng này với làng khác, và nối kết được những tan vỡ,
hồi phục những rã rời trong tâm hồn. Kokopelli lại luôn đeo trên lưng
một thúng hạt giống để phát cho dân chúng trồng trọt mà sinh sống.
NGHI THỨC NỤ CƯỜI ĐẦU TIÊN CỦA MỘT ĐỨA BÉ
Tôi có dịp sống
một tháng rưỡi tại vùng Pecos bang New Mexico trong một Trường Tu Đức
và Linh Hướng gần sát những làng của sắc dân Da Đỏ Pueblo, học hỏi
được một số điều hay của họ. Chẳng hạn như người Pueblo luôn làm những
kiva, tức là những nơi phượng tự của họ dưới hầm đất có thang bác
xuống. Mỗi lần tụ họp cử hành lễ nghi là như đi xuống một cõi nội tâm
sâu thẳm vượt qua tầm mắt chứ không phải những cái sờ sờ trước mặt.
Niềm tin của họ không phải là một mớ lý thuyết để suy tư bàn luận,
nhưng luôn phải được diễn ra bằng nghi thức, bằng biểu tượng bề ngoài.
Sắc dân Navajo thì
có nghi thức mừng nụ cười đầu tiên của một đứa bé. Đối với họ, nụ cười
đầu đời rất quan trọng cần phải được cử hành. Người nào làm cho đứa bé
lần đầu tiên biết cười thì được cái vinh dự là gia đình đứa bé cung
cấp đồ ăn để đứng ra tổ chức một bữa ăn thay mặt cho đứa bé. Tất cả bà
con và bạn bè đều được mời tới dự. Trước khi ăn tiệc có nghi thức cầu
nguyện. Mọi người đứng vòng chung quanh đứa bé, và nó thì được đặt
ngồi trong lòng mẹ. Người mẹ cầm một đĩa muối. Đối với người trong
vùng sa mạc, muối rất quí. Đồ ăn mà thiếu muối thì nhạt nhẽo vô vị.
Mỗi người cầm đĩa đồ ăn đi qua thì người mẹ cầm tay đứa bé giúp bỏ vào
đĩa một chút muối. Đây là nghi thức dẫn đứa bé vào một liên hệ đường
dài với gia đình, làng mạc và sắc dân của mình. Họ tin rằng lễ nghi
này chuyển vào máu dân họ ngay từ bé để tập biết góp phần phục vụ
người khác: ngay từ lúc còn bé chưa biết làm gì thì ít ra cũng biết
cười để góp phần mang niềm vui cho đời, làm tăng vẻ đậm đà cho cuộc
sống như muối cần cho đồ ăn.
DIỄN TIẾN MỌC CÁNH Ở PICTURE ROCKS
Đã vào sa mạc
Arizona mấy lần rồi mà lần ở lâu nhất trọn tháng 3 năm 2000, tôi mới
biết lều tĩnh tu (hermitage) của tôi nằm ngay bên cạnh hang động có
khắc hình lên vách đá (petroglyphs) của dân Da Đỏ từ lâu đời để lại.
Vì thế địa điểm này gọi là Picture Rocks ở xa xa trong sa mạc về hướng
tây của thành phố Tucson. Đây là hang động dưới chân rặng núi Tucson
trên dốc đèo Kontzen, trước đây cả một ngàn rưởi năm sắc dân Hohokam
đã chọn làm thánh địa. Hang động này ở vào một vị thế rất đẹp, ngay
cạnh một dòng suối. Từ lều tôi ở chỉ phải đi bộ chừng năm phút là tới.
Trong những giờ thinh lặng tôi đã tìm đến đây nhiều lần để nhìn kỹ
những hình khắc trên đá, và nhất là để chiêm ngưỡng mà hòa mình vào
nhịp sống của lớp dân này qua những nét diễn tả của họ. Vì đối với họ,
hình khắc vẽ hay những điệu múa nhảy không phải chỉ là những biểu diễn
nghệ thuật hay mua vui, mà trên hết là những nét diễn lên một qui
trình, một nghi thức, một công thức hóa giải, trị liệu hay thăng hoa
con người.
Hình khắc trên
vách đá hang động Picture Rocks diễn tả một đoàn người đeo lông chim
cùng cầm tay nhau múa nhảy chung quanh một vòng xoáy trôn ốc bên cạnh
những con nai và con chiên rừng. Nhà nghiên cứu về biểu tượng của dân
Da Đỏ là Alex Patterson đã cho biết: vòng xoáy trôn ốc diễn tả hành
trình đi tìm tâm điểm đời sống. Có thể đây là một nghi thức của vũ
khúc mặt trời (sun dance) hay vũ khúc chim phượng hoàng (eagle dance)
như còn thấy ngày nay ở những sắc dân Navajo hay Hopi. Không ngờ những
sắc dân sống cách đây cả trên ngàn năm mà đã có những kinh nghiệm tâm
linh cao độ như vậy.
Trong những vũ
khúc nghi lễ trên, mọi người tham dự đều đeo áo lông chim và đội mũ
kết bằng lông chim trên đầu. Họ ý thức rất rõ ràng sự giới hạn của sức
con người nên cần phải được khai mở để nối vào một sức sống cao hơn.
Sức sống thần linh siêu việt lại được diễn tả một cách cụ thể nơi một
vật biểu, như vật biểu chim phượng, một loại chim thần, điều này thật
giống nét văn hóa người Việt mình. Vì thế mà họ hóa trang thành như
chim phượng. Ngay cả ống sáo thổi của họ cũng được trang trí kết lông
chim giống y như một con chim phượng đang bay lên.
Khai mạc lễ nghi,
họ đánh trống và thổi sáo để làm trống tâm ra mà hòa vào một nhịp sức
sống chung cho thần nhập. Shaman là những vị đã đạt cảm nghiệm tâm
linh thường dẫn đầu những vũ điệu lễ nghi này. Họ có thể đạt được
những phút xuất thần khi vượt ra khỏi được xác thân giới hạn của con
người mà hóa thân thành như một con chim phượng đang tung cánh bay lên
trong một chiều kích mới của ý thức. Đây chẳng phải là một điều rất
đáng chú tâm cho những nhà nghiên cứu về tâm lý hay phụng vụ sao? Đây
mới là vũ phụng vụ theo đúng nghĩa, là một qui trình biến đổi hóa
thân, có sức chữa bệnh hay mọc cánh thăng hoa con người.
THIỀN THỔI SÁO
Thổi sáo là một
nghệ thuật, hơn nữa, là một nghi thức hóa giải, một phương pháp linh
thao hay thiền, nối kết cõi vuông hữu hạn của con người vào cõi tròn
đầy vô biên của tâm linh.
Cách đây mười mấy
năm về trước tôi được cảm hứng này thúc đẩy nên đi học thổi sáo Tây cả
hai năm. Cách tôi thổi thì có tiến bộ, nhưng mãi mà hơi vẫn cứ phát ra
phì phì và đứt quãng, không sao thoát ra nhẹ nhàng.
Mới đây tôi có dịp
học thổi sáo trúc, đơn giản bình dị từ "cây trúc tầm thường" nhưng lại
rất rung cảm. Lần này tôi được chỉ dạy "khí công" kỹ hơn. Trước hết
người thổi sáo phải hòa nhập trở thành chính ống sáo với lòng trống và
thanh tịnh cho hơi thở của Trời chuyển vào. Phải biết xả cho tâm thành
trống không, tụ khí xuống thật sâu tận đáy lòng, nơi tụ điểm hòa nhập
với hơi thở của cả đất trời, rồi chuyển hơi vào lỗ sáo như một lời cầu
nguyện theo cảm nghiệm của thánh Phaolô: "Thần Khí giúp đỡ chúng ta là
những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải;
nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng
rung khôn tả." (Roma 8:26).
Xuống được đáy
lòng, vào sâu trong nội tâm, chính là gặp được giao điểm của trời đất,
người Tàu gọi là đan điền (ruộng son), người Nhật gọi là khí hải (biển
khí).
Thì ra người thổi
sáo cũng phải trở thành chính ống sáo. Những đục khoét trong đời không
phải là phi lí lãng xẹt, mà là do Thần Khí Chúa "lùa dao khoét lỗ
luyện Kinh, tác thành ống sáo cho tình dâng cao," dẫn con người vào
cõi trống để cảm nhận cõi đầy tròn từ tận thâm sâu cõi lòng. Mỗi tối
trước khi đi ngủ mà trổi lên một khúc sáo thì mọi ứ đọng tan biến hết,
tâm hồn như lâng lâng hòa vào một nhịp sống vượt lên, thênh thang và
thanh thản, cảm ơn được bất cứ hòn đá nào lăn đến.
Truyện kể về một
người trung tuổi rất nghèo khổ. Một đêm phải đi qua vùng sa mạc, quá
mệt mỏi không sao bước tới được, ông bèn ngước nhìn lên trời than
trách:
- Trời có mắt biết
tôi khổ cực đã lâu, sao không làm cho tôi khấm khá lên một chút!
Một lúc thì thấy
từ trời có tiếng vọng xuống:
- Ta đã từng giúp
mà nhà ngươi có bao giờ làm theo Ta đâu!
Người nghèo khổ
liền quì xuống van xin:
- Tôi xin tạ lỗi,
lần này bảo tôi làm gì, tôi nhất quyết tuân theo.
- Được rồi. Nhà
ngươi đang đeo một cái bị, khi bước tới mà vấp vào hòn đá nào thì nhặt
bỏ vào bị. Điều đó tốt cho nhà ngươi đấy.
Người nghèo khổ
nghĩ bụng: tưởng giúp làm sao chứ thế này lại hành khổ mình thêm!
Nhưng đã trót hứa thì cũng ráng làm theo. Ông ta bước tới thì quả là
vấp vào mấy cục đá liền, ông cố nhặt bỏ vào bị. Nhưng bị đã nặng mà
càng bước tới càng gặp nhiều đá. Quá mệt mỏi, ông cằn nhằn không thèm
nhặt gì thêm nữa, rồi thở dốc ra mà đi tiếp. Sáng hôm sau mở bị ra xem
để quẳng bớt đá đi cho nhẹ nhõm thì lạ quá đấy chính là mấy cục vàng.
Trời! Tiếc quá, biết vậy đêm vừa rồi ráng nhặt thêm ít cục nữa.
TIN VUI GỬI NGƯỜI BỊ LÃNH ĐÁ
Câu truyện trên đã
giúp mình cảm nghiệm Tin Vui khi Chúa nói Ngài là "đá vấp ngã" mà
cũng là "đá cứu độ" (stumbling block and stepping stone), "viên đá mà
thợ xây loại bỏ đã trở nên đá góc tường."
Chúa cũng nói có
người cha nào mà con xin cá lại cho rắn, con xin bánh lại cho đá?! Vậy
mà trên thực tế nhiều người xin cá lại bị rắn bò ra tấn công, xin bánh
mà cứ lãnh đá hoài.
Rất nhiều lần mình
cũng than trách như người đàn ông nghèo khổ trên, và không thèm nhặt
thêm gì nữa!
Người Da Đỏ nghèo
nàn luôn nhảy múa mà hưởng được niềm sung sướng sống đời. Kokopelli
lưng ngù tật nguyền mà vẫn có thể hân hoan thổi sáo mang niềm vui cho
người khác; một đứa bé mới chỉ mới biết cười cũng vẫn có thể mang chất
đậm đà cho cuộc sống. Đó là do niềm tin giống như niềm tin vào đạo
Trời của người Việt.
Niềm tin vào Trời
của các dân tộc dù sao vẫn còn tù mù mông lung xa cách. Đây là đúng
lúc đạo Chúa đem đến Tin Vui đích thực, đáp ứng những khắc khoải của
con người. Kinh Thánh diễn tả Chúa như một người chăn chiên thân thiết
gần gũi, biết rõ và gọi đích danh từng con chiên là mỗi người theo
Chúa. Nơi chiên ở trong những lều ngoài cánh đồng ban đêm làm gì có
cửa an toàn, thì chính người chăn chiên nằm canh cửa. Vì thế Chúa
Giêsu đã ví "Thầy là cửa chuồng chiên", để nếu thú dữ có tấn công thì
phải bước qua xác người chăn sẵn sàng chiến đấu đến đổ máu để bảo vệ
những con chiên thương mến của mình. Từ một ông Trời xa cách, Thiên
Chúa đã trở thành một vị chúa của tình yêu tuyệt đối: "Thầy đến để cho
chúng con được sống, mà sống thật sung mãn." (Gioan 10:10)
PHÚT HÒA NHẬP THÀNH CÂY SÁO
Giữa sa mạc Người nâng sáo thổi
Ngoài chợ đời kẻ đứng than thân.
Thập giá chính là
một sa mạc trống không, là một cây sáo bị đục khoét cùng độ: "Đức
Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn hủy bỏ mình đi,
mặc lấy thân tôi tớ, trở nên giống người phàm, sống như người trần
thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên thập giá." (Phil 2:6-8)
Đá gây thương
tích. Đá vấp ngã. Đá chận đường! Nhìn kỹ thì đá lại là bậc thang, đá
là bánh, đá đục khoét tôi biến cây trúc tầm thường thành ống sáo thở
bằng hương tình Trời.
Mình cũng theo mẫu
của Gia-cóp nhặt những hòn đá xức dầu làm Thánh Đài tạ ơn nơi đã vọt
ra bảy mạch nước ân sủng chảy róc rách thành Khúc Sáo Ân Tình, ghi 25
mốc đá ở New Orleans, ở Avondale, ở Marrero, ở Versailles... Người
thổi sáo sực nhận ra những vết đá đục khoét chính là "Dấu Ấn Tình
Yêu" làm cho ống trúc thành cây sáo, thành cây gậy thần, thành ỷ
thiên trượng.
Xin cho đời con như cây sáo của Ngài
Chúa gieo vào giai khúc thanh khiết muôn đời.
Chúa cho đầy vơi, mát tươi cuộc sống.
Khi tay Ngài âu yếm ngây ngất tâm hồn.
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
VỀ MỤC LUC |
|
Bên cầu biên giới
Qua
phim ảnh, nhất là những cuốn phim mô tả lại các trận tương tranh thời
đệ nhị thế chiến, tôi đã được nhìn thấy nhiều biên giới của các quốc
gia. Những biên giới đó, có khi là một cây cầu, có khi là một hàng rào
dây kẽm gai, có khi là một đồn canh... nhưng tất cả đều mang ý nghĩa
của sự phân chia, cách biệt, ý nghĩa của sự giới hạn.
Đối với những người vượt
biên, nhất là vượt biên bằng đường bộ, hình ảnh của biên giới là một
hình ảnh vừa trông chờ vừa đáng sợ. Nhìn thấy biên giới là nhìn thấy
tự do và sự sống, nhưng vượt qua biên giới_là một hành động nguy hiểm,
cớ thể đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình.
Riêng tôi, lần đầu tiên
nhìn thấy rõ một biên giới thực, là lần tôi viếng thăm Israel vào cuối
năm 1989. Một buổi chiều, nhóm chúng tôi được người hướng dẫn đưa đi
thăm một vài thắng cảnh có tính chất hách sử. Xe buýt chở chúng tôi đã
chạy dọc theo biên giới ISRAEL-YORDAN. Khi nghe người hướng dẫn thông
báo, tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ quan sát. Đó là một vùng bình
nguyên bát ngát, được ngăn ra bởi một hàng rào đây kẽm gai dài hun
hút. Xe chúng tôi chạy xa xa, dọc theo hàng rào kẽm gai ấy. Một lớp cờ
xanh ngát mắt phủ trùm lấy vùng bìnhnguyên rộng. Mọi sự xem ra rất
bình yên, nhưng những người biết chuyện cho hay đọc theo biên giới
nhân tạo này, Israel đã trang bị một hệ thống ra-đa tối tân, cũng như
sẵn sàng một màng lưới an toàn với bom và đại liên, thiết trí ở vị trí
bí mật nào đó. Có người còn cho rằng ISRAEI có thể dùng đến cả bom
nguyên tử để bảo vệ vùng biên giới (!) Israel đã hành động như vậy,
chắc chắn Yordan cũng có những hành động tương xứng.
Khi xe đã qua khỏi vùng
biên giới, câu chuyện của mọi người trẽn xe bắt đầu chuyển sang những
đề tài khác. Riêng tôi, hình ảnh biên giới cứ ăn chặt trong đầu không
sao gạt bỏ đi được. Tôi vẽ lại trong trí mình màu xanh ngát mắt của
thảo nguyên mình vừa chứng kiến. Cây cỏ và màu xanh_của nó không hề có
biên giới. Cỏ bên này hàng rào và cỏ bên kia hàng rào cùng là một
loại, cùng được một thứ mưa, một thứ sương tưới gội, cùng được sưởi ấm
chung bằng một thứ nắng, cùng hưởng chung một ngọn gió thổi qua. Hàng
rào biên giới không do thiên nhiên đựng nên, nhưng do trí óc, sự quyết
định và bàn tay của con người tạo thành. Đó phải chăng là một điều bi
thảm?
Con người đã tạo nên rất
nhiều biên giới trong khung cảnh thiên nhiên, đã cắt nát mặt trái đất
ra làm nhiều
mảnh, mà vốn khi mới được tạo dựng, mặt đất ấy được dùng chung cho tất
cả mọi người. Không những dựng những biên giới hữu hình trên mặt đất,
con người còn dựng lên những biên giới vô hình trên không trung và
ngoài biển cả, tạo ra những không phận, hải phận. Cũng như cỏ ở địa
giới cùng một loại, một mầu, mây trên trời thuộc khu không phận cũng
trắng, cũng xanh và cũng bềnh bồng trôi nổi như nhau; nước biển ở khu
hải phận cũng cùng biếc và cùng mặn giống nhau, thế nhưng mây và nước
đã bị phân rẽ bằng một hàng rào tưởng tượng.
Người ta đặt ra rất nhiều luật lệ quốc tế, qui định thế nào mới được
bước qua biên giới, thế nào thì không. Qua một biên giới là một màu cờ
khác, một thể chế chính trị riêng, một ngôn ngữ và phong tục tập quán
khác với ngôn ngữ và phong tục tập quán bên kia biên giới, một chủ
thuyết khác một lập trường khác. Xe vẫn đều đều lăn bánh. Hành khách
ngủ gà ngủ gật làm cho bầu khí trở nên yên lặng một cách nặng nề. Tôi
không ngủ được và hình ảnh biên giới trong óc tôi vẫn không phai nhạt.
Tự nhiên tôi nhớ đến những câu hát đẹp và buồn trong bài ''Bên cầu
biên giới '':
"Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ,
cầu cao nghiêng dốc trên dòng sông sâu.
Sầu vương theo gió xuôi về cuối trời,
.
một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa.
Người
đi
chưa hết hương sầu lữ thứ.
Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa
.
Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa.
Mộng' về đêm đêm khát vừng trán ngây thơ...”
Bài hát còn có những câu
buồn hơn nữa:
"…nhưng đường quá xa vời.
Hương đời êvẫn mê mải.
Đời
tôi sao vẫn còn biên giới!
Lòng tôi sao vẫn
ngừng nơi đâu
?... "
Và bài hát kết thúc:
"…
Mộng bền năm xưa, chỉ là mơ qua. "
Bài hát ấy buồn lắm. Và
thường tôi chỉ lẩm bẩm hát nó những khi lòng thấy thật buồn. Đời sống
con người quả có nhiều giới hạn, nhiều biên giới. Biên giới giữa quá
khứ và hiện tại, giữa hiện tại và tương lai. Biên giới giữa tuổi thanh
xuân với tuổi già. Biên giôi giữa mơ mộng với thực tế. Biên giới giữa
mong ước và sự thật.
Con người còn có những
biên giới đương nhiên. Biên giới của tuổi thọ, biên giới của sức khỏe,
biên giới của trí hiểu biết và sự thông minh... Bằng nhiều phương
cách, con người đã hết sức cố gắng để vượt ra khởi những biên giới ấy,
nhưng dù đã tận lực, con người cũng chỉ có thể nới rộng chút ít chứ
không thể phá bỏ được biên giới.
Đó là những biên giới
trong mộc con người. Giữa người này với người khác lại có những biên
giới khác nữa. Biên giới của giàu và nghèo, của thông thái và ngu dốt,
của địa vị giai cấp, của tự đo và nô lệ . Biên giới của ý thức hệ, của
chủ thuyết, của quan niệm, của niềm tin. Hình như những ''biên giới
bẩm sinh'' còn chưa đủ, người ta đã tự dựng lên trong cuộc đời riêng
của mình và trong cuộc sống chung của xã hội biết bao nhiêu thứ biên
giới khác nữa. Để rồi kết quả con người ai cũng có máu đỏ như nhau, có
trái tim giống nhau, có mộng ước như nhau, cùng chung nhau sống kiếp
nhân sinh, vậy mà người ta không đến được với nhau, vì giữa người này
với người khác đã có những cách ngăn của biên giới. Dựng biên giới
trên đất liền, trên không trung, ngoài biển khơi, và dựng biên giới
trong lòng người, giữa người với người, hai hành động ấy cũng đâu có
khác gì nhau.
Biết bao lần tôi mong ước
một cuộc sống không có biên giới, một cuộc sống được giải thoát hoàn
toàn khỏi những trói buộc trong chính con người mình và những trói
buộc của định chế xã hội. Nhưng càng lớn lên, tôi càng thấy đó là một
mong ước không thể đạt được, đúng là ''mộng bền năm xưa chỉ là mơ
qua.'' Ngay một cánh cửa biên giới tôi tự nguyện phá bỏ mà cũng không
thực hiện được, đó là biên giới của Tình Yêu. Đôi khi trong trái tim
chứa chan lí tưởng của một cuộc sống đi tìm ý nghĩa thực của lòng bác
ái, của tâm hồn quảng đại, phục vụ và tự hiến, tôi mong ước và quyết
tâm yêu thương tất cả mọi người, yêu người như yêu chính tôi, yêu một
cách đồng đều ai cũng như ai, yêu không tính toán, không vụ lợi. Nhưng
rồi, cuối cùng tôi vẫn khám phá ra rằng tôi yêu tôi nhiều nhất, yêu
những người dễ yêu hơn những người không dễ yêu; yêu, nhưng đôi lúc
vẫn tìm sự an toàn, không dám yêu một cách hoàn toàn phục vụ và tự
hiến. Trong tình yêu, tôi vẫn tự đặt cho mình một giới hạn, một biên
giới. Và tôi cũng cảm thấy lơ sợ khi biên giới ấy không được tôn
trọng.
Những
biên giới của các quốc gia…
Những
biên giới của con người...
Những
biên giới của cuộc đời…
Đâu đâu tôi cũng nhìn thấy
những biên giới: Nếu tìm kiếm một nơi chốn không biên giới, tôi chỉ
còn một cách là tìm về với Thượng Đế. Ngài là đấng vô thủy vô chung,
không có trước cũng chẳng có sau, nói khác đi Ngài có tự đời đời và
tồn tại đời đời. Ngài là đấng toàn năng, khả năng của Ngài vô giới
hạn. Chính vì thế công trình tạo dựng của ngài cũng vô giới hạn, vũ
trụ Ngài sáng tạo không có biên giới. Ngài là đấng thượng trí, sự
thông hiểu của Ngài không có tận cùng. Ngài là đấng toàn chân, bởi vì
Ngài chính là chân lí tuyệt đối- Ngài là đấng chí thiện, sự tốt lành
của Ngài không có bến bờ. Ngài là đấng toàn mĩ, vẻ đẹp của Ngài tuyệt
điệu. Và cuối cùng, Ngài là đấng toàn ái, Tình Yêu của Ngài mênh mông
chan chứa. Ngài yêu tôi và yêu mọi người từ thuở đời đời khi chưa có
con người. Con Một Ngài yêu tôi, đã xuống trần làm kiếp con người để
thông cảm với kiếp người của tôi. Và Ngài đã cứu tôi khỏi chết bằng
chính cái chết của Ngài. Ngài cho tôi tất cả, kể cả giọt máu cuối cùng
trong thân thể Ngài.
Tôi thích thánh ca của
Thành Tâm, nhưng cũng có một vài bài tôi cho là có lời ca gượng ép và
hơi… cải lương. Ông có câu hát: ''Nhưng con tin nơi Chúa, Chúa
thương con
nhiều, tình không biên giới...”
Cái đoạn "tình không
biên giới
" đó trước đây tôi vẫn cho là có tính chất... cải lương. Nhưng bây
giờ, tôi thấy nó không cải lương nữa. Tác giả, trong lúc viết câu ấy,
có lẽ đã thấy rất rõ cái biên giới hữu hạn của tình yêu con người dành
cho nhau, và ông tuyên xưng rằng chỉ có tình Chúa dành cho con người
mới là thứ ''tình không biên giới ''
Từ đó, mỗi lần hát bài
"Bên cầu biên giới ", để kết thúc bằng câu "Mộng bền năm xưa
chỉ là mơ qua '', tôi lại bắt sang bài "Xin Ngài thương con
" và hát đi hát lại mãi câu:
''Nhưng con tin nơi
Chúa, Chúa thương con nhiều, tình
không biên giới...
"
Nhà Văn Quyên Di
VỀ MỤC LUC |
|
Cuộc
phỏng vấn đài BBC Ngày Chúa nhật 3 tháng 4 năm 2005
BBC :
Xin giáo sư cho biết cố Giáo Hoàng John Paul II đã thực hiện và để lại
di sản tư tưởng văn hóa nào cho nhân loại và cho giáo hội công giáo
nói riêng ?
Nguyễn Đăng
Trúc ( GS tại Phân Khoa Thần Học, Đại học Strasbourg, Pháp) :
Giáo Hoàng John Paul II đã là một trong những vị tham gia vào công
cuộc canh tân giáo hội công giáo trong công đồng Vaticanô II. Lên ngôi
giáo hoàng, ngài thực hiện công cuộc canh tân liên tục trong đường
hướng ấy.
Tuy nhiên nét riêng của ngài xuyên qua
kinh nghiệm đau thương của thế kỷ 20 mà ngài thực sự đã sống, đó là
kinh nghiệm nỗi kinh hoàng của thảm họa Đức Quốc Xã và chế độ công
sản. Căn nguyên thảm họa là dục vọng quyền lực mù quáng được đánh giá
lá ý nghĩa làm người : người ta cho rằng làm mọi cách để tỏ ra mình
mạnh hơn, uy quyền hơn là xứng đáng được gọi là người hơn. Chủ nghĩa
quốc gia dân tộc bảo căn của Đức quốc xã thì chủ trương chủng tộc
nhật-nhĩ-man là ưu việt, phải làm chủ thế giới ; chủ nghĩa xã hội cộng
sản thì chủ trương giai cấp vô sản của mình phải triệt hạ các giai cấp
khác để toàn quyền cai trị nhân loại. Sứ điệp văn hóa của giáo hoàng
cho nhân loại không gì hơn là đưa sinh lực yêu thương nơi Đức Kitô mà
ngài có phận vụ làm chứng để đề nghị một mẫu mực nhân tính khác hơn.
Vì yêu thương, Con Người Giêsu đã hủy chính mình, chết mình đi trong
khổ đau và được sống lại : đó là ý nghĩa cao cả nhất để làm người. Sứ
điệp đó giáo hoàng John Paul II đã đưa vào các giáo huấn của ngài cho
giáo hội công giáo, và thực hiện nơi sứ mạng làm chứng tình yêu giữa
cuộc sống thế giới trong những thập niên ngài phục vụ giáo hội trong
cương vị là kẻ chủ chăn. Phải quên mình đi để không còn lo phải tôn
vinh công giáo như một phe của mình, đạo riêng của mình , nhưng chết
cái mình đó đi để mở ra với Thượng Đế luôn đến với con người trong sự
bất ngờ vượt lên những định kiến hẹp hòi về một hình ảnh nào đó do
mình tạo ra ; và trong ánh sáng của mối tương quan sống động như thế
với Thượng Đế, con người mở ra với kẻ khác, luôn khác với mình, để tôn
trọng, gặp gỡ, đối thoại và yêu thương. Nay không còn là công giáo của
Âu Châu hay Mỹ Châu, nhưng là chứng nhân của sự gặp gỡ và liên đới
giữa con ngưởi với Thượng Đế, giữa những dân tộc, những tôn giáo,
những nền văn hóa, những cách sống khác nhau. (Một lối nói khác gọi sứ
điệp văn hóa ấy là lời mời thực hiện là thực hiện văn minh tình
thương).
BBC :
Trong những ngày cuối đời, giáo hoàng John Paul II đã t không vào bịnh
viện nữa, gs nghĩ thế nào ?
Nguyễn Đăng
Trúc : Một cách chủ quan tôi nghĩ đây là quyết định riêng
của ngài và ngay nơi quyết định ấy có một sứ điệp về ý nghĩa nhân
tính. Có lẽ ngài thấy đã đên giai đoạn mà con người phải chấp nhận
thân phận giới hạn của con người. Giá trị con người không phải dựa vào
những kỹ năng khoa học để kéo dài sự sống mình, nhưng nhìn nhận nơi
giới hạn của cuộc sống làm người có phần thanh cao, đó là hơi thở từ
Trời cao ban cho mình giá trị làm người. Chấp nhận đi vào cái chết tự
nhiên như mọi người, để làm chứng giữa mọi người rằng phần thanh cao
của nhân tính không phải nơi kỹ xảo do bàn tay con người, nhưng do sức
sống ẩn dấu vượt mọi sáng kiến nhân loại.
Gs. Nguyễn Đăng Trúc ghi nhanh
VỀ MỤC LUC
|
|
Thánh Cười
Trong giáo hội có
rất nhiều loại thánh khác nhau. Thánh tông đồ, thánh tử đạo, đồng
trinh, thủ tiết, tiến sĩ, tu sĩ … nhiều lắm. Mỗi thánh có cách sống
khác nhau. Các ngài đã chọn con đường nên thánh khác nhau. Có thánh
sống khắc khổ. Có thánh sống ẩn tu trong sa mạc. Có thánh sống cầu
nguyện trong dòng kín. Có thánh hoạt động ngoài xã hội. Có thánh viết
sách. Có thánh giảng dạy. Có thánh chăm sóc người bệnh. Có thánh chăm
lo người nghèo. Không thánh nào giống thánh nào.
Chúng ta chỉ có
một cuộc sống. Và đời sống thì ngắn ngủi. Chúng ta không chọn “được
sinh ra”. Chúng ta cũng không chọn được “giờ chết”. Chỉ có một điều
chúng ta có thể chọn là chọn cách sống. Sống sao cho tốt đẹp, cho trọn
vẹn, cho ích lợi. Hơn nữa, chúng ta đã là con Chúa qua bí tích rửa tội
(x. Ga 1:12). Sống sao cho xứng đáng là con cái Thiên Chúa. Là con của
Thiên Chúa, chúng ta phải sống thánh, thánh ngay tại trần gian này.
“Hãy sống thánh thiện, vi Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1:16).
Nhưng chúng ta
chọn con đường nào để nên thánh ?
Tử đạo chăng? Đau
đớn lắm, tôi không dám nghĩ tới.
Ẩn tu
trong sa mạc chăng?
Buồn lắm.
Ăn chay và đánh
tội chăng? Đói và đau lắm.
Chăm sóc người
bệnh chăng? Máu me khiếp lắm.
Viết sách, giảng
dạy chăng? Khó quá.
Tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi làm
THÁNH CƯỜI.
Chúa dạy chúng ta sống giới răn trọng đại nhất, nếu muốn là con Chúa.
Đó là Mến Chúa và Yêu Người (Lc 10:27).
Sống trong tình
yêu, chúng ta được hạnh phúc.
Sống trong tình
yêu, chúng ta có niềm vui.
Sống trong tình
yêu, chúng ta được bình an.
Và khi chúng ta
hạnh phúc, khi chúng ta có niềm vui, khi chúng ta bình an, chúng ta sẽ
tươi vui. Khi chúng ta tươi vui, chúng ta sẽ cười. Cười là kết quả của
một đời sống trong tình yêu.
Vậy, bạn ơi, còn
chần chờ gì nữa. Hãy cười lên.
Cười với Chúa. Bạn sẽ dể dàng chấp
nhận tất cả những gì Người gửi đến trong đời bạn.
Cười với chính bạn. Đời sống bạn sẽ
nhẹ nhàng.
Cười với cha mẹ, vợ chồng, con cái. Gia đình bạn sẽ thêm hạnh phúc.
Cười với mọi người.
Cười với người cô đơn.
Cười với ngưỡi sầu khổ.
Cười với người già.
Cười với người trẻ.
Cười và Cười thật nhiều, thật lâu …
Nụ cười của bạn sẽ sưởi ấm nhiều cõi lòng.
Nụ cười của bạn sẽ
đem sức sống mới, niềm hy vọng và sự can đảm cho những trái tim thất
vọng, khổ đau …
Nụ cười của bạn có
thể thúc đẩy một ai đó đón nhận đức tin.
Nụ cười của bạn có thể đưa dắt một người tội lỗi trở về với Thiên
Chúa.
Nụ cười của bạn có thể khơi dậy một ơn gọi đang ngủ quên.
. . .
Làm
THÁNH CƯỜI có lẽ dễ
hơn cho tôi, chắc cũng dễ hơn cho bạn chăng.
Sv.
Ngô Văn Thích
VỀ MỤC LUC
|
|
KHÓC
Chuyện
phiếm của Gã Siêu
Đã là người thì ai cũng phải khóc.
Tiếng khóc xuất hiện ngay từ lúc ta mở
mắt chào đời :
- Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe,
Đời có vui sao chẳng cười khì.
- Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đã mang tiếng khóc, bưng đầu mà ra.
Đúng thế, mở mắt chào đời mà không khóc,
thì đó là một triệu chứng chẳng lành. Trong trường hợp này, bà đỡ hay
cô y tá thường phải phát đánh đét cho vài cái để mà khóc, mới được yên
lòng yên chí.
Rồi suốt dọc cuộc sống, rất nhiều lần ta
cũng đã khóc, ta cũng đã giọt ngắn giọt dài và ta cũng đã có biết bao
nhiêu nước mắt đầy vơi. Chẳng thế mà thiên hạ đã bảo :
- Cuộc đời là một thung lũng nước mắt.
Nước mắt là một thứ nước hơi mằn mặn,
được sản xuất bởi hai tuyến nằm ở khóe mắt. Mấy người hay mơ mộng như
mấy ông thi sĩ đã gọi chúng bằng một cái tên rất mỹ miều, đó là những
giọt lệ.
Sau hết, tiếng khóc cũng đã vang lên một
cách não nùng và bi đát, khi ta nhắm mắt, buông tay, thở hơi cuối cùng
và thiên hạ chôn vùi thân xác ta vào lòng đất lạnh, tiễn đưa linh hồn
ta lên tàu suốt để sang thế giới bên kia.
Tự điển “Petit Laruosse” của Pháp đã
định nghĩa :
- Khóc là chảy nước mắt.
Còn “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức
thì xác quyết :
- Khóc là mếu miệng, chảy nước mắt, có
tiếng hoặc không có tiếng, khi bị đau đớn ngoài thân xác hay trong tâm
hồn.
Nếu đem so sánh, gã thấy câu định nghĩa
của ông “Phăng xe” thì quá trống trải. Còn câu định nghĩa của ông “An
nam ta” thì có phần chính xác hơn, nhưng cũng vẫn chưa đủ.
Thực vậy, rất nhiều lúc người ta khóc mà
đâu có mếu miệng, đâu có nước mắt, cũng như đâu có phát thành tiếng.
Cái khóc thầm trong lòng xem ra còn đậm đặc và cay đắng hơn cả cái
khóc có mếu miệng, có nước mắt và có cả những tiếng bù lu bù loa, nức
nở hay thút thít.
Rất nhiều lúc người ta khóc mà đâu có
phải vì đau đớn ngoài thân xác hay trong tâm hồn, nhưng còn khóc vì
một niềm vui, vì một thành công nào đó, chẳng hạn như khi ta đoạt huy
chương vàng ở Thế vận hội, nhìn quốc kỳ phấp phới tung bay, bỗng dưng
nước mắt ta cứ trào dâng, chẳng thể nào ngăn lại được.
Lúc đầu gã tưởng rằng khóc chỉ là một
hành động quá ư đơn giản, khiến cho thiên hạ phải chép miệng mà kêu
lên :
- Biết rồi khổ lắm nói mãi.
Thế nhưng, khi đi vào cụ thể, gã lại
thấy khóc chẳng giản đơn một tí nào cả, trái lại còn rất ư là phức
tạp. Với sự hiểu biết nông cạn, và kinh nghiệm ít ỏi, gã bèn phải
đánh bạo thử “ngâm kíu” xem cái khóc là như thế nào và ai là những
người…hay khóc ?
Những người hay khóc tiên vàn phải kể
tới quí vị con nít.
Thực vậy, có lẽ không tuổi nào hay khóc
cho bằng tuổi con nít. Vì thế, ta có thể gọi tuổi con nít là tuổi…khóc
nhè. Có cả một ngàn lẻ một lý do khiến cho qúi vị con nít khóc. Vui
cũng khóc mà buồn thì cũng khóc. Có ngày khóc tới dăm bảy lượt.
Lý do thứ nhất khiến qúi vị con nít khóc
là vì bị bắt ức. Chẳng hạn giờ chơi trong sân trường, bị đứa bạn bắt
nạt, đánh cho vài thoi. Chống cự lại thì không nổi và thế là em òa lên
mà khóc nức nở.
Lý do thứ hai khiến quí vị con nít khóc
là vì bị ghen tức. Chẳng hạn khi mẹ đi chợ về mà không dành được phần
quà to, thế là em vùng vằng đi xuống bếp mà khóc rưng rức.
Lý do thứ ba khiến quí vị con nít khóc
là vì bị oan ức. Chẳng hạn đang ngồi nghiêm trang trong lớp, bỗng dưng
bị thầy cô phạt nhầm, thế là em cúi gầm mặt xuống mà khóc tấm tức.
Lý do thứ tư khiến quí vị con nít khóc
là để vòi vĩnh, đòi hỏi cái nọ cái kia. Và khi nhu cầu được thỏa mãn,
thì lập tức những giọt nước mắt biến đâu mất tiêu và được thay thế
bằng những nụ cười toe toét và mãn nguyện.
Nhưng lý do thường xuyên hơn cả khiến
quí vị con nít khóc là vì bị ăn đòn. Đúng thế, mỗi khi sai lỗi điều
gì, bị thầy mẹ đét cho vài roi, thì bảo đảm chăm phần chăm thế nào em
cũng khóc.
Xem đó gã thấy cái khóc của quí vị con
nít cũng có dăm bảy kiểu khóc. Có những cái khóc là do kết quả của một
khổ tâm, của một đau đớn hay của một mong ước chưa thành. Có những cái
khóc là do ích kỷ hay do ghen tương. Có những cái khóc tốt vì đem lại
lợi ích cho bản thân, như khóc vì những lầm lỗi của mình. Có những cái
khóc xấu, chẳng hạn như khóc nhè, động một tí là quác mồm ra, ai can
cũng chẳng nổi.
Tuy nhiên, không phải chỉ quí vị con nít
mới khóc, mà ngay cả người lớn cũng khóc.
Thực vậy, người lớn cũng có những niềm
vui, những nỗi buồn của mình. Và nhiều lúc đã bật lên tiếng khóc trước
những niềm vui và nỗi buồn ấy, thậm chí đôi lúc khóc mà chẳng có lý do
nào sốt.
Thực vậy, người lớn khóc vì một niềm
vui.
Người ta kể lại rằng :
Tại thế vận hội ở Los Angeles vào mùa hè
năm 1984, một trong những giây phút cảm động nhất đã bất ngờ xảy ra và
đã được trình chiếu trên truyền hình.
Số là võ sĩ Jeff Blatnik của Hoa Kỳ, sau
khi đánh bại võ sĩ Thomas Johansson của Thụy Điển, để dành huy chương
vàng về bộ môn đô vật, anh ta đã không vui mừng nhảy lên nhảy xuống,
không vung cao nắm đấm, hay cúi chào đám đông cùng với một cái hôn
gió, nhưng anh ta chỉ đơn giản quì gối, làm dấu thánh giá, cúi đầu cầu
nguyện.
Khi máy thu hình tập trung vào khuôn mặt
của anh ta, thì hàng triệu khán giả đã nhìn thấy những giọt nước mắt
chảy xuống trên gò má. Anh ta có đủ lý do để khóc. Khóc vì đã đọat huy
chương vàng, mà trước đây nước Mỹ chưa bao giờ đọat được. Khóc vì hai
năm trước đây anh ta đã bị ung thư và trước trận đấu mười tám tháng,
anh ta đã phải giải phẫu. Vậy mà giờ đây anh ta đã đoạt được một chiến
thắng lớn nhất trong đời mình.
Phóng viên thể thao Bill Lyons đã bình
luận về những giọt nước mắt của anh ta như sau :
“Một trong những điều đáng giá nhất của
Thế vận hội này là nó cho chúng ta thấy những giọt nước mắt khóc vì
những lý do cao thượng, có giá trị tẩy rửa và chữa lành…Khi các vận
động viên đoạt huy chương vàng bước lên đài vinh quang, quay mặt về lá
quốc kỳ và lắng nghe bản quốc ca của đất nước họ, thì ngay lúc ấy mắt
họ bắt đầu nhòa lệ…Dầu có khéo léo, khỏe mạnh hay nhanh nhẹn đến đâu
chăng nữa, cũng không ai ngăn chặn được những giọt nước mắt. Và trong
sự biểu lộ sự mềm lòng của bản tính con người như vậy, họ càng trở nên
hấp dẫn và lôi cuốn.”
Người lớn khóc vì một nỗi buồn.
Đây là điều ta thường thấy hơn cả. Sau
trận chung kết bóng đá của một cái giải quan trọng nào đó, ta thấy
những cầu thủ bên thua thường mang khuôn ủ rũ như treo cờ tang và
không ít anh chàng đã khóc lên cho màu cờ sắc áo của mình.
Một tác giả đã viết như sau :
“Sở dĩ người ta khóc là vì đã gặp phải
những đau khổ và cơ cực. Đau khổ của con người được biểu lộ qua tiếng
khóc và những giọt nước mắt. Vì vậy, khóc là tiếng nói của con người
trong đau thương. Có bao nhiêu đau thương thì có bấy nhiêu tiếng khóc
: Tiếng khóc của lo âu, tiếng khóc của nghèo đói, tiếng khóc của phụ
bạc, tiếng khóc của vô ơn, tiếng khóc của cô đơn, tiếng khóc của mất
mát, tiếng khóc của chia ly, tiếng khóc của mệt mỏi chán chường…Tiếng
khóc có mặt ở mọi nơi, trong mọi lúc và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn: Khi một người thân yêu chết,
chúng ta khóc thảm thiết hay ngậm ngùi vì thương tiếc. Nhưng cũng có
thể, trước cái chết của người thân, chúng ta khóc, chưa hẳn vì thương
tiếc cố nhân. Nhưng có khi vì thương chính mình, là kẻ còn lại, cô
đơn, bơ vơ, không còn chỗ nương tựa, nên khóc để nỗi lòng nhẹ vơi.
Tuy nhiên, rất nhiều người chưa biết
khóc đúng lúc và đúng việc : Có người khóc khi mất của cải, nhưng lại
chẳng khóc khi mất Chúa…Có người khóc đi khóc lại, mà chẳng sinh ích
lợi gì.
Chính vì thế, có người khóc mà kẻ khác
lại nói : Nước mắt của họ là nước mắt cá sấu. Trái lại, có người khóc
mà nước mắt của họ rất giá trị, như nước mắt của những người mẹ. Chẳng
hạn những giọt nước mắt của thánh nữ Mônica đã tuôn rơi để cầu cho
người con trai là thánh Âu tinh được ơn hóan cải”.
Sau cùng, người lớn khóc đôi khi chẳng
có một lý do chính đáng nào cả. Nếu như một ông thi sĩ nào đó đã viết
:
- Hôm nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.
Có những lúc, nhất là vào đêm khuya
thanh vắng, bỗng dưng nước mắt cứ trào dâng, ướt cả gò má, mà chẳng
biết được lý do căn nguyên của những giọt nước mắt rơi hoang, sai địa
chỉ ấy.
Thì gã cũng có thể nhái :
- Hôm nay trời nhẹ lên cao,
Tôi…nhè, không hiểu vì sao tôi nhè.
Dĩ nhiên, không giống với câu Thánh Vịnh
mà cha An Sơn Vị đã dịch :
- Dòng châu lệ…tưới giường ướt đẵm,
Mỗi đêm trường thấm cả chiếu chăn.
Tiếp đến, những người hay khóc phải kể
tới qúi vị đờn bà con gái.
Đúng thế, khóc chính là nghề của…phe ta
ấy mà. Sở dĩ như vậy, vì phe ta có thể khóc một cách vô tư và dễ dàng.
Hình như phe ta luôn có sẵn cả một hồ nước mắt để xả đập cho tuôn rơi
bất cứ lúc nào. Ức một tí cũng khóc. Tủi một tí cũng khóc. Nước mắt
phe ta rớt rơi trên từng cây số. Ở mọi nơi và trong mọi lúc, bất cứ
một giao động nhỏ nhoi nào cũng đủ làm cho cặp mắt phe ta đỏ hoe.
Có lần gã đã chứng kiến mấy bà đang ngồi
nói chuyện vui vẻ với nhau. Bỗng bà nọ nhắc tới bà bạn mới chết :
- Bằng giờ năm ngoái bà ấy còn ngồi với
chúng mình, thế mà bây giờ…
Thế là cả đám bỗng khóc hu hu, như một
giàn hợp xướng.
Cũng như quí vị con nít, rất nhiều lần
phe ta đã dùng những giọt nước mắt để mà “mần duyên”, để mà nhõng nhẽo
với người tình hay với những người thân yêu, hầu đạt được những đòi
hỏi, những nhu cầu riêng của mình.
Vì thế, gã không lấy làm lạ khi thấy bàn
dân thiên hạ vốn thường gọi phe ta là…dân “mít ướt”, hay như một câu
danh ngôn đã bảo :
- Một giọt nước mắt đờn ông có thể pha
chế thành mười lít nước mắt đờn bà con gái.
Đồng thời, kinh nghiệm cũng xác quyết :
- Không gì mau khô cho bằng nước mắt của
đờn bà con gái.
Trước những giọt nước mắt của người tình
bé bỏng, thì dù trái tim có chai cứng như trái tim sỏi đá của một tên
tướng cướp, thì cũng sẽ trở nên mềm nũn như con chi chi, chẳng thế mà
thiên hạ đã bảo :
- Lệ rơi thấm đá.
Vị mặn của nước mắt là như một chất
acít, làm cho sắt cứng cũng phải tiêu tan. Vì vậy, nhiều ông chồng
không cầm lòng nổi trước những tiếng khóc ri rỉ ấy, đã nhắm mắt làm
liều, lắm khi đi đoong cả cuộc đời. Vì thế, người đời thường bảo :
- Nước mắt của đờn bà con gái là một
chiếc đập, nhưng cũng có thể là một cơn lũ giật sập tất cả.
Đặc biệt là đối với người Việt Nam, bất
cứ đám tang nào cũng phải có tiếng khóc. Tiếng khóc trở nên như một
phương tiện để biểu lộ tình cảm thương nhớ. Vì thế, những gia đình quá
neo đơn đã phải thuê người khác đến để mà khóc, kẻo bị miệng thiên hạ
cười chê là bất hiếu.
Tiếng khóc trong một đám tang mang nhiều
cung giọng, cũng như mang nhiều ý đồ khác nhau.
Thực vậy, có những tiếng khóc chỉ để mà
chào khách. Khi người thân mất đi, mấy bà mấy cô thường được phân công
ngồi trong một góc gần quan tài để…khóc.
Lúc đầu họ khóc với tất cả tình cảm
thương tiếc của mình. Nhưng khóc lắm thì cũng mỏi miệng và còn nước
mắt đâu nữa để mà tuôn ra. Thế là tụm đầu đấu hót vung vít. Lắm khi
còn cười nói oang oang.
Thế nhưng khi vừa nghe thấy tiếng chó
sủa, hay có người nhà báo khách đến, lập tức họ bèn xõa tóc, phủ khăn
xô xuống và một, hai, ba…chúng ta cùng khóc. Khi khách ra về, họ lại
tụm đầu đấu hót vung vít và cười nói oang oang.
Có những tiếng khóc để thương tiếc cho
người nằm xuống, nhưng cũng có những tiếng khóc để thương tiếc cho
chính thân phận mình vì từ nay sẽ phải lạc lõng bơ vơ.
Nhà xứ họ đạo kia là tòa nhà gồm một
trệt và một lầu. Cha sở ở trên lầu, bà bếp già ở dưới trệt. Chẳng may
cha sở bị trúng gió và qua đời. Không biết vì thương tiếc cha sở hay
vì thương tiếc cho bản thân mình, mà bà bếp đã khóc nức nở như sau :
- Cha ơi cha, khi còn sống thì cha ở
trên còn con ở dưới, bây giờ cha chết đi thì con ở với ai. Ối cha ơi!
Nghe bà bếp khóc thế, ông chánh trương
vội quắc mắt và quát :
- Im đi, không thì người ta cười cho bây
giờ.
Và người ta thì đã cười mất rồi.
Có những tiếng khóc ghi nhớ công ơn của
người nằm xuống, nhưng cũng có những tiếng khóc kể lể sự vất vả khổ
cực của mình để chửi xéo kẻ khác.
Chẳng hạn như tiếng khóc của người con
gái út trong gia đình :
- Ba ơi ba, khi ba còn sống thì chẳng
một ai đoái hoài nhìn đến ba, chỉ một mình tay con đã nuôi nấng phụng
dưỡng. Thế mà bây giờ người ta kéo nhau về chỉ để chia chác cái gia
tài của ba. Ba ơi là ba.
Có những tiếng khóc thật vu vơ, chẳng
biết người khóc muốn diễn tả tình cảm ở mức độ nào.
Một đứa em trai bị đụng xe chết ngắc và
bà chị đã khóc như sau :
- Em ơi! Thế là hết thật rồi, em ơi! Thế
là hết thật rồi, em ơi!...
Chỉ có mỗi một câu “thế là hết thật rồi,
em ơi!” được lặp đi lặp lại trong tiếng nấc nghen ngào, như một điệp
khúc buồn ơi là buồn.
Tuy nhiên, không phải chỉ quí vị đờn bà
con gái mới khóc, mà ngay cả cánh đờn ông con giai cũng khóc.
Đờn ông con giai cũng có những niềm vui
và những nỗi buồn của mình, nên đôi lúc họ cũng đã khóc. Cái khóc của
họ thường là cái khóc mà miệng không mếu, mắt không mờ lệ và môi cũng
chẳng phát ra thành tiếng. Đó là một cái thầm trong bụng.
Tuy nhiên cũng có những trường hợp họ
bỗng òa khóc , khóc nấc lên từng cơn, chẳng khác chi quí vị con nít,
nhất là khi đã say xỉn. Đây chính là tiếng khóc của đám đệ tử Lưu Linh
đại…đế.
Chẳng hạn mấy tên bợm nhậu ngồi vào bàn
với nhau. Sau khi đã ngoắc cần câu, thì bỗng dưng một tên cất tiếng
khóc hu hu, ai can cũng chẳng được, thật đúng với kinh nghiệm được lưu
truyền trong dân gian :
- Một xị thì mở mang trí hóa.
Hai xị thì giải bớt cơn sầu.
Ba xị thì mũi chảy đầy râu.
Bốn xị thì ngồi đâu…khóc đó.
Nếu cứ phân tích theo kiểu này, gã còn
khám phá ra được nhiều loại người hay khóc nữa. Chẳng hạn : Kẻ nghèo
khóc đã đành, mà ngay cả người giàu cũng khóc. Những bà vợ khóc đã
đành mà ngay cả những bà xơ cũng khóc….Gã xin “xì tốp” tại đây để đụng
tới những người không khóc.
Thực vậy, trong cuộc sống có những người
chẳng còn biết khóc là gì nữa. Sở dĩ họ không khóc được, vì trái tim
họ đã trở nên băng giá và cõi lòng họ đã hóa thành chai đá, không còn
biết xúc động trước những khổ đau và những bất hạnh của kẻ khác.
Bản thân họ không khóc đã đành, mà hơn
thế nữa, chính họ lại còn làm cho người khác phải khóc, phải khổ vì
những hành động bất nhân của họ.
Chẳng hạn một ông chồng đam mê cờ bạc.
Ai cũng thấy rằng hòan cảnh kinh tế hiện nay đang gặp phải rất nhiều
khó khăn. Làm không đủ ăn, lo không đủ mặc. Thế nhưng, ông chồng ấy
vẫn cứ vô tư ném tiền vào sòng bạc. Không có thì vay mượn. Vay mượn
không được thì về nhà đánh vợ chửi con và làm đủ mọi cách để moi móc
cho ra tiền, hầu tiếp tục cuộc chơi, để ngoài tai những tiếng khóc nỉ
non của vợ con.
Có một thời, đã lâu lắm rồi, gã say mê
chụp hình. Hôm đó, gã đã giơ tay tát cho đứa em nhỏ một cái đau điếng,
khiến nó phải khóc thét lên, thế là gã vội vàng bấm máy, chộp ngay
lúc nó đang mếu máo. Bức hình rất đẹp, nhưng gã thì hối hận mãi.
Nhiều nhà đạo đức đã cho rằng những giọt
nước mắi cao đẹp và quí giá nhất chính là những giọt mắt ăn năn sám
hối, khóc cho quãng đời tội lỗi của mình để được tha thứ, chẳng hạn
như những giọt nước mắt của Phêrô, của Mađalêna…
Phêrô đã không nói gì với Chúa, khi Ngài
nhìn ông, ông chỉ biết đấm ngực ăn năn khóc lóc mà thôi. Mađalêna cũng
không nói gì với Chúa, bà chỉ biết đổ những giọt nước mắt xuống đôi
bàn chân Chúa. Những giọt nước mắt này đã nói lên tất cả. Những giọt
nước mắt này đã làm nhạt nhòe đôi mắt, nhưng lại làm rực sáng tâm hồn.
Có một tên tướng cướp, sau khi đã tung
hoành ngang dọc, bỗng cảm thấy mệt mỏi, muốn trút bỏ gánh nặng tội
lỗi và làm lại cuộc đời.
Anh ta tìm đến với một vị linh mục để
xưng tội. Vị linh mục đã bảo anh ta làm một việc đền tội khác thường,
đó là hãy đi chôn cất tất cả những người chết mà anh ta gặp, đồng thời
hãy khóc lóc như thể đó chính là những người thân yêu của mình. Và để
làm bằng chứng, vị linh mục trao cho anh ta một cái chai nhỏ để hứng
những giọt nước mắt ấy.
Anh ta ra về và nghe bất cứ nơi nào có
đám tang, thì cũng tìm đến, nhưng mắt anh ta luôn ráo hoảnh, chẳng nhỏ
được một giọt nước mắt nào. Cho tới một hôm, anh ta tình cờ đứng trước
cây thập giá, trên đó Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Anh ta liền than thở
với Chúa về nỗi khổ đau là anh ta không thể nào khóc được.
Thật là bất ngờ, anh ta nhìn thấy từ
khóe mắt Chúa có những giọt nước mắt long lanh chảy xuống. Chính lúc
ấy, tự nhiên nước mắt anh ta cũng trào dâng và rơi đầy cái chai nhỏ mà
vị linh mục đã trao cho anh ta.
Anh ta đã hiểu được thế nào là sám hối
và quyết tâm làm lại cuộc đời bằng cách ăn ngay ở lành và sống lương
thiện.
Để kết luận, gã xin ghi lại một lời
khuyên như sau :
- “Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi
người nhìn con mỉm cười còn con thì lại khóc. Con hãy sống thế nào để
trong ngày sau hết, khi mọi người bật khóc, thì con lại thanh thản mỉm
cười ra đi.”
Gã Siêu
VỀ MỤC LUC |
************* |