Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@yahoo.ca

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 18, Chúa nhật 17.4.2005

 Những số báo đã phát hành                MỤC LỤC

NGƯỜI CÔNG GÍAO PHẢl YÊU MẾN TỔ QUỐC                                                      Vatican 2

TÂM TÌNH HAI THÁNH TÔNG ĐỒ TRONG ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II     + Gm. GB. Bùi Tuần

“Hãy kính trọng người khác”                                        Gs. Ngô Nhân Dụng (Tôn giáo bạn)

ĐỨC GIÁO HOÀNG của DÂN CHÚNG (The People’s Pope)           Lm. Jos. Cao Phương Kỷ

Đức Gioan-Phaolô II                                                                                Gs. Trần Ngọc Báu

TOTUS TUUS!  Kính nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II                       Lm. Vũ Xuân Hạnh

Những THÁCH ĐỐ                                                                            Nhà văn Trần Phong Vũ

Vô cùng thương tiếc Giáo chủ GIOAN PHAOLÔ II            Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Dấu Ấn Tình Yêu                                                                    Lm. Dũng Lac Trần Cao Tường

Bên cầu biên giới                                                                                       Nhà Văn Quyên Di

Cuộc phỏng vấn đài BBC   Ngày Chúa nhật  3.4.2005                       Gs. Nguyễn đăng Trúc

Thánh Cười                                                                                                 Sv. Ngô văn Thích

Khóc                                                                                             Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

NGƯỜI CÔNG GÍAO PHẢl YÊU MẾN TỔ QUỐC

VÀ TRUNG THÀNH CHU TOÀN MỌl NGHĨA VỤ CÔNG DÂN

Môi trường hoạt động tông đổ mở rộng bao la trên bình diện quốc gia và quôc tế, trong đó, hơn ai hêt, giáo dân là những người nắm giữ và phân phát sự khôn ngoan Ki-tô giáo. Tận tâm đối với quốc gia và trung thành chu toàn nghĩa vụ công dân, người Công giáo cảm thấy bó buộc phải cổ võ cho công ích thực sự, và họ phải làm sao cho ý kiến của họ ảnh hưởng tới chính quyền, để quyền hành được thực thi cách chính đáng và để luật lệ đáp ứng những đòi hỏi của luân lý và công ích. Những người Công giáo có khả năng làm chính trị và đã được huấn luyện đầy đủ về đức tin và giáo lý đừng từ chôí tham gia việc nước, bởi vì nhờ thi hành nhiệm vụ cách tôt đẹp, họ có thể đóng góp vào công ích và dổng thời mở dường cho Tin Mừng. 

Người Công giáo phải tìm cách cộng tác với tất cả mọi người thiện chí để cổ động cho bất cứ những gì là chân thật, công bằng, thánh thiện và đáng yêu quý (x. Pl 4,8). Người Công giáo hãy đôí thoại với họ, hãy đến với họ cách khôn ngoan và tế nhị, hãy tìm cách kiện toàn những cơ cấu xã hội và quốc gia theo tính thần Tin Mừng.

Trong các dấu chỉ của thời đại chúng ta, phải đặc biệt chú ý tới ý thức ngày một tăng và không thể tránh được về sự liên đới giữa các dân tộc, mà nhiệm vụ của hoạt động tông đồ giáo dân là phải lo lắng phát triển, và biến nó thành một tâm tình chân thành và thiết thực về tình huynh đệ. Hơn nữa, giáo dân còn phải ý thức về lãnh vực quốc tế và về những vấn đề cũng như những giải pháp trên lí thuyết hay trong thực hành đang được để ra, nhất là về những vấn đề liên quan tới các dân tộc đang nỗ lực phát triển.

Tất cả những ai làm việc Ở các nưởc khác hay đang trợ giúp những nước ấy phải nhớ rằng những mốì bang giao giữa các dân tộc phải là cuộc trao đổi huynh đệ đích thực, trong đó, cả hai bên cùng cho và cùng nhận. Còn những ai xuất ngoại để lo công việc hay để giải trí phải nhớ rằng, dù Ở đâu, họ cũng vẫn là sứ giả lưu động của Đức Ki-tô và họ phải sống đúng danh xưng đó.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 14).

VỀ MỤC LUC

 

 

TÂM TÌNH HAI THÁNH TÔNG ĐỒ TRONG ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II

 

Từ lúc Đức Gioan Phaolô II vừa tạ thế đến bây giờ, Việt Nam có một cái gì rất mới. Mọi tầng lớp xã hội, mọi địa phương đều được nghe nói  về Ngài, đều được xem thấy Ngài, qua các phương tiện truyền thông.

Hôm nay, tôi nói về Ngài, như một nhân chứng về Ngài.

Như một nhân chứng, vì tôi đã gặp Ngài nhiều lần.

Điều tôi muốn làm chứng về Đức Gioan Phaolô II hôm nay là: Tâm tình của Ngài rất giống tâm tình của hai thánh tông đồ, Gioan và Phaolô.

Tâm tình tạ ơn

Khi tôi trình với Ngài tình hình giáo phận, như việc giữ đạo và truyền đạo trong mọi hoàn cảnh dù thuận lợi hay không thuận lợi, Ngài luôn đón nhận bằng lời: Tạ ơn Chúa.

Lời Ngài tạ ơn Chúa là một gợi ý sâu.

Tôi được gợi ý nhớ lại tâm tình hai thánh tông đồ mà Ngài mang tên. Cả hai đấng ấy đều luôn coi việc tạ ơn Chúa là một việc quan trọng trong bổn phận được làm con Thiên Chúa, và làm tông đồ Chúa.

Đôi khi, tôi trình với Đức Thánh Cha vài chi tiết rất nhỏ. Như trong việc gieo trồng hạt giống Tin Mừng, tôi đã được giúp đỡ bởi nhiều người ngoài công giáo, Ngài càng tỏ ra vui mừng trong lời tạ ơn Chúa.

Vẻ vui mừng đó gợi ý thêm cho tôi về việc phải mở rộng cái nhìn của tôi, để nhận ra việc Chúa làm trong các tâm hồn.

Lời tạ ơn Chúa của Ngài cũng nhắc cho tôi là: Hãy biết tạ ơn Chúa dù gặp khó. Nghĩa là dù trong hoàn cảnh nào, tôi vẫn cứ phải là người gieo trồng, vẫn cứ phải là người ra khơi truyền giáo, vẫn cứ phải là người làm chứng cho Thiên Chúa Tình Yêu, vẫn cứ phải là người được sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó.

Gặp khó mà biết kiên trì và xin ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, đó là điều rất phải tạ ơn Chúa.

Bên cạnh tâm tình tạ ơn, tôi thấy Đức Gioan Phaolô II hay tỏ lộ một tâm tình khác. Đó là lo âu.

Tâm tình lo âu

Trong trao đổi, tôi không giấu Ngài những lo âu của tôi. Nghe vậy, Ngài tỏ vẻ đồng cảm với tôi. Hơn nữa, Ngài còn cho thấy Ngài mang nặng nhiều lo âu hơn tôi nhiều.

Lo âu của Ngài là: Những thành công hôm nay chưa chắc sẽ tồn tại mãi. Thánh Phaolô đã thiết lập nhiều giáo đoàn phồn thịnh. Nhưng liền sau đó đã bị suy thoái. Thánh Gioan cũng đã chứng kiến bầu khí sốt sắng ban đầu của 7 giáo đoàn Tiểu Á. Nhưng về cuối đời, Ngài đã thấy những giáo đoàn đó sa sút. Vì thế, những người đứng đầu các cộng đoàn cần khiêm tốn tỉnh thức và cầu nguyện.

Về lo âu, Đức Gioan Phaolô II có một cái nhìn xa và sâu rộng. Như não trạng tự do quá trớn, phong trào hưởng thụ, phong trào dửng dưng tôn giáo, phong trào tục hoá, phong trào luân lý đồi truỵ tràn lan, phong trào tôn giáo cực đoan quá khích.

Cảm được phần nào những lo âu của Đức Thánh Cha, tôi rất mến thương Ngài. Tôi nghĩ những lo âu Ngài tỏ lộ ra chưa phải là tất cả. Còn có nhiều lo âu khác, mà Ngài chỉ để trong lòng mà suy gẫm và cầu nguyện, như Đức Mẹ xưa.

Tuy nhiên, được tiếp xúc với Đức Gioan Phaolô II, tôi thấy lo âu không phải là kết thúc, nhưng mọi vấn đề đều được Ngài kết thúc bằng hy vọng.

Tâm tình hy vọng

Ngài luôn hy vọng: Tình hình sẽ khả quan hơn, nếu nếp sống đạo trở về gắn bó với Đức Kitô. Trở về gắn bó với Đức Kitô, đó cũng là hy vọng tha thiết và căn bản của hai thánh tông đồ Gioan và Phaolô.

Nhưng không phải một Đức Kitô khác ngoài Phúc Âm, mà là một Đức Kitô được thuật lại trong Phúc Âm. Một Đức Kitô luôn sống vâng phục thánh ý Chúa Cha. Một Đức Kitô coi điều răn yêu thương nhau là căn bản.

Có lần, tôi đã trình với Đức Thánh Cha thế này: "Mùa Xuân thiêng liêng sẽ đến với Hội Thánh toàn cầu từ những Hội Thánh địa phương xa xôi, nhỏ bé, túng nghèo. Vì họ dễ gắn bó với Chúa Giêsu".

Nghe nói thế, Ngài trả lời: Đức Cha nói đúng. Tôi cũng nghĩ vậy.

Riêng tôi, lại nghĩ thêm rằng: Những Hội Thánh nghèo, xa xôi, bé nhỏ đó cũng thường có lòng sùng kính Đức Mẹ. Nhờ Đức Mẹ, mà họ đi về với Đức Kitô. Đó cũng là tâm tình của thánh Gioan.

Ba tâm tình trên đây, tức tạ ơn

                                 lo âu

                                 hy vọng

là những dòng tâm tình chảy vào hồn tôi rất mạnh từ Đức Gioan Phaolô II. Đó cũng là tâm tình của hai thánh tông đồ Gioan và Phaolô. Đó cũng chính là tâm tình rất cần cho mọi người tín hữu chúng ta.

Khi cầu cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã qua đời, chúng ta xin Chúa cũng chia sẻ sang chúng ta 3 tâm tình trên đây. Đó là tâm tình của hai thánh tông đồ. Đó là tâm tình của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Thiết tưởng, đây là một cách báo hiếu Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II một cách thiết thực nhất.

Và như vậy, Ngài qua đời, nhưng tinh thần của Ngài sẽ không qua đi. Tinh thần của Ngài sẽ sống mãi trong chúng ta.

+ Gm. GB. Bùi Tuần

VỀ MỤC LUC

 

 

“Hãy kính trọng người khác”

NGUOI VIET ONLINE   Friday April 8, 2005

Bình Luận

Từ lúc nghe tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị qua đời ở Rome, tại Ba Lan mỗi đêm nhiều gia đình thắp nến đặt trên thành cửa sổ. Hàng ngàn ngọn nến, hàng triệu ngọn nến, tỏa ánh sáng leo lét trong đêm, như những giọt nước mắt của hàng triệu đồng bào của vị giáo hoàng sinh ra ở giáo xứ Wadowice, được cha mẹ đặt tên là Karol Wojtyla và đã làm Tổng Giám Mục ở Giáo Phận Krakow, Ba Lan, gần 20 năm.

Lần trước dân Ba Lan tự động thắp nến hàng đêm, cũng gây nên một phong trào như vậy là vào năm 1981. Lúc đó họ muốn bày tỏ một nỗi buồn chung, cái tang lớn của đất nước, sau khi chính phủ cộng sản tuyên bố thiết quân luật và đàn áp phong trào Công Đoàn Đoàn Kết. Lần này, Đức Giáo Hoàng qua đời là một cái tang chung của nhân loại.

Ngày hôm qua, di chúc của Đức Giáo Hoàng được công bố. Bản di chúc viết nhiều lần vào những mùa suy ngẫm trước Lễ Phục Sinh, bắt đầu từ năm 1979. Lúc đó ngài mới 59 tuổi, gần nửa năm sau khi đăng quang. Phần chót của di chúc viết ngày 17 Tháng Ba năm 2000; trong đoạn thứ 5 ngài bày tỏ tình thương yêu và biết ơn đối với các giáo hữu, cả những người thuộc những giáo hội Thiên Chúa Giáo khác, đặc biệt, với cả những người không theo Thiên Chúa Giáo mà ngài đã gặp. Đến đoạn thứ 6 là đoạn sau cùng, Đức Giáo Hoàng viết: “Những ngày cuối cùng của đời tôi đang tới gần khiến tôi trở lại với kỷ niệm những ngày đầu tiên, trở về với cha mẹ tôi, anh tôi, chị tôi (tôi không bao giờ gặp vì chị đã qua đời trước khi tôi sinh ra), nhớ lại giáo xứ Wadowice, nơi tôi được rửa tội, nhớ thành phố mà tôi thương yêu, các bạn bè, từ trường tiểu học, trung học tới đại học, cho tới thời bị (Ðức Quốc Xã) chiếm đóng lúc đó tôi là một công nhân, nhớ tới... nhớ tới tất cả các nơi... tới Krakow và Rome... tới những người mà Chúa đã trao vào tay tôi theo cách riêng của Ngài. Tôi chỉ muốn nói với tất cả một lời này: Xin Chúa thưởng công bội hậu quý vị.”

Những hồi tưởng đầu tiên của Đức Giáo Hoàng là trở về với cha mẹ, gia đình, quê quán, cho ta thấy tấm lòng của ngài không bao giờ rời xa quê hương. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lãnh đạo một tỷ tín đồ Giáo Hội Công Giáo La Mã trong hơn một phần tư thế kỷ nhưng ngài sẽ được nhớ tới nhất trong lịch sử loài người vì đã góp công vào việc giải thể chế độ cộng sản ở Âu Châu, giúp hàng trăm triệu người được sống tự do từ 15 năm nay. Và sự nghiệp đó gắn liền với tình yêu quê hương của ngài, mối liên hệ của ngài với con người và xứ sở Ba Lan. Ngài kết hợp với đất nước Ba Lan làm một, nhờ thế tạo mà nên sức mạnh thay đổi thế giới.

Chuyến về thăm quê hương của ngài làm rung chuyển các nước Đông Âu đang sống dưới chế độ cộng sản. Từ thế kỷ 19 đã có những thi sĩ Ba Lan tiên đoán sẽ có ngày một người gốc Tư Lạp Phu (Slave) lên ngôi giáo hoàng. Năm 1979, trước mắt hàng triệu người Ba Lan, những lời tiên tri đó đã thành sự thật, và mang lại thêm cho họ một tinh thần dũng mãnh. Sau Thánh Lễ ở Warszawa, Đức Giáo Hoàng đã cầu nguyện Thượng Đế xin “thay đổi bộ mặt của trái đất, của trái đất này.” Và ngài khuyến cáo dân Ba Lan: “Đừng khiếp sợ!” Lời khuyên đó vang dội khắp nơi, nhất là cho những người đang sống trong nỗi khiếp sợ mà chế độ cộng sản ngoại lai đặt lên với guồng máy công an mật vụ: “Đừng khiếp sợ! Các bạn có thể làm được nhiều hơn nữa! Hãy hành động, dũng cảm và hòa bình!” Và sau đó dân Ba Lan đã hành động. Người ta thường kể chuyện khi Stalin được nghe về ảnh hưởng của vị giáo hoàng ở La Mã, ông đã đặt câu hỏi: “Thế ông Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn?” Nếu còn sống, Stalin chắc sẽ thấy câu trả lời, khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Nhà văn Ba Lan Henryk Wozniakowski viết: “Các người viết tiểu sử thường nói thiên tài của Stalin là ông có thể nhìn thấy trong các người chung quanh ông những điểm yếu nhất, xấu nhất, hèn hạ và độc ác nhất, rồi tìm cách thao túng những mặt xấu nhất của con người. Thiên tài của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nằm ở cực điểm đối nghịch. Ngài có khả năng khơi dậy trong mỗi con người những đức tính, cái ý muốn làm điều thiện, muốn tìm sự thật, nhiều khi đang bị vùi lấp.” Nhà văn nhìn thấy cuộc nổi dậy của phong trào Đoàn Kết trong những năm 1981, 1982 chính là do tấm lòng muốn được sống trong sự thật và trong công lý, tích lũy trong lòng người Ba Lan từ bao năm, bất chợt bùng lên cùng một lúc trong trái tim mọi người sau chuyến viếng thăm của vị Giáo Hoàng Tư Lạp Phu đầu tiên trong lịch sử.

Một nhà văn Ba Lan khác, Stefan Chwin, kể lại lần đầu tiên ông thấy Đức Giáo Hoàng là năm 1987, ngài cử hành Thánh Lễ ở sân bay cũ thành phố Gdansk, nơi phát xuất phong trào Đoàn Kết. Chế độ cộng sản vẫn còn đó, vững vàng, Công Đoàn Đoàn Kết bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Stefan Chwin trông thấy trong đám người dự lễ, hàng triệu người, những lá cờ mang tên Slodarnos phất lên. Rồi đến quốc kỳ của những nước Tiệp Khắc, Lithuania, Ukraina, những nước cũng sống trong chế độ cộng sản do Nga Xô đặt lên. Những người mang các lá cờ đó chứng tỏ họ “không khiếp sợ!” Sau buổi lễ, giáo dân kéo về phía thành phố, đi qua những hàng xe thiết giáp của công an đứng chờ can thiệp. Nhà văn nhận xét, “Chương trình cải tổ của Công Đoàn Đoàn Kết chắc không xuất hiện được, nếu không có những lời giảng của Đức Giáo Hoàng về vai trò của xã hội công dân.”

Henryk Wozniakowski cho rằng sự giải phóng các sức mạnh quần chúng làm lung lay chế độ cộng sản thực ra không phải là chủ ý của Đức Giáo Hoàng. Ngài không là một nhà chính trị, không muốn làm chính trị. Biến cố đó chỉ là một hậu quả do cá tính con người của Karol Wojtyla tạo ra. Đó là cách ngài nhìn về nhân loại, là con người sinh ra phải có phẩm giá và xứng đáng được yêu thương. Những lời dạy của Đức Giáo Hoàng và sứ mạng ngài theo đuổi là Tình Yêu và Phẩm Giá Con Người. Ông viết: “Di sản Đức Giáo Hoàng để lại cho tất cả mọi người, không cứ người Thiên Chúa Giáo, là: Nếu bạn muốn tự thay đổi và thay đổi thế giới, hãy kính trọng người khác, hãy cố yêu thương họ và bày tỏ niềm tin của bạn bằng hành động.” Ngay sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở quê hương ngài, Đức Giáo Hoàng đã lên tiếng cảnh cáo cả thế giới về mối đe dọa của khuynh hướng duy vật do xã hội tiêu thụ mà kinh tế tư bản tạo ra.

Stefan Chwin cũng nhìn thấy nơi Đức Giáo Hoàng những thái độ và cử chỉ không câu nệ vào nghi lễ, đó là điều lôi cuốn người Ba Lan nhất. “Ngài lôi cuốn họ vì ngài bơi lội, ngài trượt tuyết, hay khi ngài cúi xuống hôn mảnh đất quê hương lúc trở về. Rõ ràng nhất, là họ thấy ngài tỏ ra kính trọng những người khác ở khắp nơi trên trái đất.” Ngay cả một người vô thần như ông Vaclav Havel, Tổng Thống Cộng Hòa Tiệp, cũng có thể chia sẻ nhiều điều chung với Đức Giáo Hoàng. Ngài đã lên tiếng xin lỗi về những nhầm lẫn trong quá khứ, đối với người Do Thái, về các cuộc thập tự chinh, vân vân. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên bước vào một thánh đường Hồi Giáo, Umayyad. Stefan Chwin mô tả Giáo Hoàng Gioan Phaolô II như “Một nhà lãnh đạo tôn giáo mà không dạy lòng thù hận vì tôn giáo, một người không muốn tranh chấp với ai, một người không trừ bỏ ai mà không lắng nghe.”

Mời quý vị đọc và suy ngẫm những nhận xét về Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II của hai nhà văn xứ Ba Lan, trong ngày tang lễ. Họ nhìn ngài trước hết như một con người, như một con người bình thường luôn luôn vươn tới điều thiện và từ đó khơi dậy được tấm lòng thiện nơi người khác, kể cả những người không cùng tôn giáo. Ngài chứng minh rằng chỉ tấm lòng thiện mới tạo ra được lòng thiện nơi mọi người khác. Được sống cùng thời với những con người đáng yêu đáng kính như vậy, được nhìn ngẫm một tấm gương trước mắt, đó là một điều may mắn cho tất cả chúng ta.

Gs. NGÔ NHÂN DỤNG

VỀ MỤC LUC

 

 

ĐỨC GIÁO HOÀNG của DÂN CHÚNG (The People’s Pope)

 THẾ GIỚI THƯƠNG NHỚ MỘT VỊ LÃNH ĐẠO NHÂN ÁI

Đối với người theo Thiên Chúa Giáo, đặc biệt hơn một tỷ người Công Giáo hằng năm vẫn coi Tuần Thánh( Kỷ Niệm Chúa chịu Chết và Sống Lại) là quan trọng hơn mọi nghi lễ trong năm. Khách hành hương tuốn về Thủ Đô Roma để tham dự các buổi Lễ do Đức Giáo Hoàng chủ sự. Nhưng năm nay, Ngài lâm trọng bệnh, không tham dự được, một mình, “ôm thánh giá”, nhìn hình ảnh chiếu trên màn ảnh, để thông công  chặng”Đường Thánh Giá” tại Colesium. Đây là dấu hiệu báo trước chặng Đường đời cuối cùng Ngài sắp qua, và một biến cố lớn lao  xẩy đến cho toàn thể nhân loại: Đức Thánh Cha thăng hà: Ngài được Chúa gọi về, hưởng Hạnh Phước Trường Sinh cùng với Chúa Phục Sinh. Các phóng viên TV, ước đoán  con số 5 triệu người , gồm 2 triệu người đồng hương đến từ Ba Lan, để dự Lễ An Táng. Dân chúng kiên nhẫn xếp hàng chờ đợi từ 10-12 giờ, dưới trời khuya lạnh, đói khát, các thanh niên mang balô, nằm vỉa hè, để được bái chào vĩnh biệt.

Các đài Truyền Hình FOX, CNN, ABC, NBC, CBS..tiếp tục theo dõi, và thông tin từng biến chuyển về tình trạng sức khoẻ, vào lúc Ngài tạ thế, và phản ứng của dân chúng tấp nập, lũ lượt tuốn về Công Trường Thánh Phêrô, để cầu nguyện, viếng Xác, tỏ lòng cảm mến tri ân, và tiễn  đưa Ngài đến nơi an nghỉ nơi Hầm Mộ của Vị Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII

Các đài TV liên tục truyền hình  về những lời tuyên dương công trạng của Đức Giáo Hoàng, đặc biệt đối với nhân loại như: chống chiến tranh, độc tài, khủng bố, phá thai, vi phạm Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, chống nghèo đói, bệnh tật,  AID .

Ngoài những lời tuyên bố của  các vị lãnh đạo, các chính khách quốc tế, các phóng viên TV cũng tìm hiểu, và phỏng vấn các giới lãnh đạo trong Giáo Hội Công giáo để được biết thêm về những sinh hoạt lễ nghi, phụng vụ, mục vụ, cách thức bầu cử vị Giáo Hoàng mới, và về “Kho Tàng Nghệ Thuật” của Vatican như : kiến trúc, hội họa, thánh nhạc.

Nhờ những cuộc phóng sự  truyền hình trực tiếp với các nhân chứng, và cộng sự viên của Đức Giáo Hoàng, nên khán giả khắp năm châu được  am tường và khâm phục đời sống của Ngài đã được Thiên Chúa an bài xếp đặt, để chu toàn trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên của Chúa. Thật vậy, từ khi còn nhỏ tuổi, cậu Karol Jozef Wojtyla đã sống trong chế độ Phát xít, Nazi, và đã chứng kiến cuộc tàn sát người Do thái. Trong gông cùm của chế độ độc tài cộng sản do Liên Sô kiểm soát, dân chúng Ba Lan  mất  quyền Tự do Tôn giáo, tự do ngôn luận, giáo dục.  Thanh niên Karol đã viết  kịch , làm diễn viên, và tổ chức  những buổi trình diễn  “chui”, để phản đối chế độ độc tài. Trong thời gian này, cậu đã nghe tiếng Chúa gọi để hiến thân phụng sự Giáo hội và dân tộc Ba lan. Cậu đã gia nhập bí mật vô Chủng Viện để học tập, và chịu chức Linh Mục(1/11/1946). Sau này, cậu tìm cơ hội đi du học Roma, Pháp, rồi trở vể Balan, làm giáo sư , và tuyên uý cho sinh viên Đại Học. Cha Karol thích nghiên cứu về đời sống Chiêm niệm của Thánh Gioan Thánh Giá. Thông thạo ngoại ngữ,  nên  khi làm Giáo Hoàng, Ngài đã có thể trực tiếp giao thiệp, đối thoại, để gây cảm tình với nhiều dân tộc. Thiên Chúa đã an bài sửa soạn, để dần dần chọn Ngài làm Giám Mục ngày 28/9/1958. Ngài tham dự Công Đồng Vaticano II, quen thân với Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, giảng thuyết cho giáo triều Roma, và Ngài đã kế vị Đức Hồng Y Giáo Chủ Balan Wysziynski, Tổng Giám Mục Địa Phận Krakow ngày 30/12/ 1963 . Ngài được thăng Hồng Y Giáo Chủ Ba Lan năm 1967, lúc 47 tuổi; và lên làm Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, ngày 16/ tháng 10, năm 1978.

Sau đây, xin tóm lược những cảm tưởng, và phản ứng của mọi tầng lớp dân chúng về cuộc đời và di sản tinh thần của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao LôII, lưu lại cho thế giới. Xin phân chia ra các loại phản ứng khác nhau, để độc giả dễ nhận định, nhưng không có ý xếp đặt thứ tự các giá trị. Thật ra, các  đặc tính hay đường lối của vị Lãnh Đạo Tinh Thần ,  phong phú, đa dạng,  để có thể đối phó với mọi hoàn cảnh, mọi biến chuyển trong xã hội.

1/. BẢO VỆ SỰ  SỐNG.  Đối với Ngài,  sự  Sống là một An Huệ vô giá Chúa ban cho nhân loại. Do đó,  cần phải bảo vệ, và đặt giá trị sự sống làm tiêu chuẩn để phán xét mọi hành vi luân lý. Ngài đã khởi xướng  khẩu hiệu “Văn Hóa Sự Sống” để chống lại “Văn hóa Sự Chết” của thế giới vật chất, vô thần. Bởi vậy, Ngài chống chiến tranh, khủng bố, bạo lực; chống phá thai, án tử hình. Khoa học, y khoa phải phục vụ con người, không được giết bào thai con người làm vật thí nghiệm.Trong những ngày cuối đời, dầu bệnh tật nguy kịch, Ngài vẫn phấn đấu, cố gắng  nhẫn nại, chịu đựng đau khổ trong những giây phút cuối cùng, để sống với đoàn chiên đông đảo đang tụ tập dưới cửa sổ.

2/.  NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, TỰ DO.  Trong Tang Lễ: 138 nước tham dự, 200 các vị Quốc trưởng, Lãnh đạo các quốc gia, 3500 các phóng viên, nhà báo, và hơn 4 triệu khách hành hương..và hàng tỷ người theo dõi các màn ảnh Truyền Hình vòng quanh Thế giới, vì mọi người đều ca tụng Ngài là một Chiến sĩ quả cảm suốt đời tranh đầu cho Tự Do, Nhân Quyền. Ngài đã đóng một  vai trò quan trọng trong việc lật đổ chế độ độc tài phát xít, mácxít. Quê Hương Ba lan, và thế giới Tự do khóc thương, vì Ngài đã bị bắn trọng thương, đã hy sinh tính mạng cho dân  tộc Ba Lan và nhân loại được hưởng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền.

3/. CHỐNG NGHÈO ĐÓI, BỆNH TẬT, BẤT CÔNG XÃ HỘI. Mọi người vẫn còn nhớ: trong những chuyến viếng thăm mục vụ như tại các nước Nam Mỹ, Phi Châu, và Manila, Ngài thường ngừng xe, ghé thăm những túp lều lụp xụp bên vệ đường. Ngài yêu cầu các nước giầu giảm nợ cho các nước nghèo. Ngài ngưỡng mộ lòng bác ái của Mẹ Chân Phước Têrêsa Calcutta và các nữ tu săn sóc các bệnh nhân AIDS. Vào năm 1983, khi người ta còn ghê sợ bệnh AIDS, Ngài đã ẵm bế em  Brenda, mắc bệnh Aids, tại San Francisco.

4/. TẤM LÒNG KHOAN DUNG, CỞI MỞ VỚI CÁC TÔN GIÁO. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ nhất viếng thăm Đền Thờ Do Thái tại Roma. Ngài chống việc”bài –Do “ của Nazi. Ngài xin lỗi những sai lầm  trong quá khứ đối với Anh Em cùng tin Chúa Cứu Thế như Chính thống, Tin Lành. Ngài ủng hộ Phong Trào Đại Kết. Ngài viếng thăm các Đền thờ Hồi Giáo, tiếp kiến các Vị Sư Phật Giáo như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi thăm viếng mục vụ tại An Độ, Ngài viết tông huấn ” Giáo Hội tại Á Châu”để chủ chương việc “Đối Thoại với các Tôn Giáo”. Dầu có nhiều điểm khác biệt, nhưng với tâm tình cởi mở, khoan dung,  tin đồ các tôn giáo cần chân thành tìm hiểu những giá trị và tôn trọng lẫn nhau. Ngoài ra, nhờ năng khiếu đặc biệt về ngoại ngữ, nhờ tài hùng biện, và giao tiếp, truyền đạt(Communicator), Ngài dễ  thông cảm với mọi người, mọi nền văn hóa khác nhau. Ngài thích tìm hiểu sắc thái riêng biệt của các dân tộc (Phi Châu, Á Châu) và áp dụng những điều thiện hảo vào Thiên Chúa Giáo.

5/. YÊU MẾN GIỚI TRẺ, NGƯỜI TRẺ QUÍ MÊN NGÀI. Đi đến đâu, Ngài luôn tuyên bố: “Giới trẻ là tương lai của Hội Thánh”. Một câu truyện cảm động được các đài Truyền Hình chiếu lại nhiều lần: Một thiếu phụ người Ý hiện đang mang thai được 8 tháng, đã được bà mẹ chỉ cho cô biết, qua các hình chụp, về biến cố năm 1981:  Lúc cô mới được một tuổi,  Đức Thán Cha đã cầm nâng cô lên cao, khi Ngài đang nói truyện với dân chúng ở Quảng Trường Thánh Phêrô, bỗng nhiên, tên Ali Agca chĩa súng bắn  Ngài 3 phát đạn; Ngài chỉ bị trọng thương ở bụng, nhưng không trúng đầu, trúng ngực. Về sau, chính  Ali Agca đã giải thích, vì muốn tránh không bắn chết cô bé, nên đã nhắm trật. Nghe tin Đức Thánh Cha đau nặng, cô trở lại viếng thăm Quảng Trường, và kể lại kỷ niệm xưa: cô như người “đỡ đạn”  mà Ngài khỏi bị bắn tử thương. Phần Đức Thánh Cha, Ngài đã coi việc thoát chết, còn sống sót là do “Ơn Lạ của Đức Me” cứu chữa Ngài. Ali Agca đã bắn , đúng ngày 15/ tháng 5/ 1981, cũng là ngày Kỉ niệm Mẹ hiện ra tại Fatima, ngày 15/ 5/1917. Nữ tu Lucia qua đời ngày 13/2/05, hưởng thọ 97 cho biết: Chị và (hai em Francisco, Jacinta đã chết) đã được Đức Mẹ hiện ra tại Fatima năm 1917. Bí mật Fatima thứ ba đã được giải mật : chính  Đức Mẹ đã nói tiên tri về “ một Người mặc áo trắng sẽ bị bắn”, và được cứu sống. Do đó, khi bình phục, Đức Thánh Cha đã đến Fatima và tặng cho vòng “Triều thiên của Đức Mẹ” viên đạn đã bắn Ngài, để tỏ lòng Tri An, nhờ Ơn Mẹ đã cứu sống. 

Hai năm một lần, Ngài đến mỗi quốc gia khác nhau để mở “Đại Hội Giới Trẻ Thế giới”. Ngài hát, múa, kể truyện vui cho giới trẻ. Ngày thích nghe nhạc “Jazz”. Và đặc biệt , Ngài là nguồn “Cảm hứng”(inspiration) cho nhiều người trẻ đang theo học trong Chủng Viện, để dấn thân phụng sự Chúa. Trong Thánh Lễ An Táng, giới trẻ luôn vỗ tay ca ngợi công đức của Ngài.

6/. NHẪN NẠI CHỊU ĐỰNG ĐAU KHỔ. Ngài luôn luôn lậi đi lập lại “điệp khúc”: Các con đừng sợ”( Do not be afraid)  hãy can đảm vui lòng chấp nhận mọi nghịch cảnh. Thật vậy, người ta thấy Ngài lúc nào cũng tươi vui, lanh lợi, hoạt bát, dầu  cuộc đời đã trải qua nhiều nỗi gian truân. Bà Thân mẫu mất sớm. Mồ côi mẹ, nên Ngài đã chạy đến nương náu nơi tình Mẫu tử của Mẹ Maria. Học hành, làm thợ, chui lủi trong sự cấm cách, bắt bớ. Trước khi tạ thế, Ngài đã mắc bệnh Parkinson trong chín năm, bị gẫy xương hông, và bị mổ khí quản,v.v.Ngài cũng đã từ chối không đi bệnh viện, chịu nằm ở nhà, để chết giữa con chiên bổn đạo đang tuôn đến viếng thăm, cầu nguyện cho Ngài. Ngài hiến dâng sự đau khổ, kết hiệp với Chúa để tham dự vào công cuộc Cứu Độ.

7/. SỐNG NỘI TÂM, SỐNG THẦN BÍ, KẾT HIỆP VỚI CHÚA, và YÊU MẾN MẸ MARIA. Ngài có tâm hồn thi nhân, và thích đời sống chiêm niệm( Contemplative). Ngài ước muốn gia nhập Dòng Carmêlô( Carmelite), vì Ngài thích những tác phẩm về Thần Bí(Mysticis) của Thánh Gioan Thánh Giá, Thánh Nữ Têrêsa Avila, và Thánh Nữ Terêsa Hài Đồng. Để tóm lược đường hướng tu đức, vào năm 2000, Ngài đã ban Thông Điệp về “Phép Thánh Thể”( Ecclesia de Eucharistia), và 2004 ban Tông Huấn”Xin Ngài ở lại với chúng con”( Mane nobiscum), đặt năm 2004-2005  là Năm Thánh Thể. Vì lòng kính mến Đức Mẹ Maria, Ngài luôn lần Chuỗi Mân Côi, khi đi dạo trong vườn. Ngài đặt thêm ”Mầu Nhiệm Năm Sự  Sáng”, và đặt Bức Anh Đức Mẹ bế Chúa Giêsu, tại Quảng Trường Thánh Phêrô.

Trong các cuộc Viếng Thăm Mục Vụ, trước hàng vạn, hàng triệu dân chúng tham dự Thánh Lễ, ai nấy đều nhận thấy nét mặt đăm chiêu, sốt sáng, như đang giao cảm với thế giới thánh thiêng. Những bài Giảng giảng  đầy vẻ  thuyết phục, tự tín, giọng nói hùng hồn, chan hòa một niềm Tin - Yêu.

“CÁC CON HÃY THEO THÀY” (FOLLOW ME). Để tạm kết thúc những dòng suy  tưởng về đời sống  thánh thiện, dâng hiến của Đức Thánh Cha Gioan Phaulô II, xin mượn một số ý tưởng của Đức Hồng Y Ratzinger, Chủ Tế và Giảng Thuyết trong Thánh Lễ An Táng, trước một cử tọa gồm 200 nhà Lãnh Đạo các nước trên thế giới, và 2 tỷ khán thính giả khắp năm châu. Đức Hồng Y, niên trưởng, vừa là bạn thân tín của Đức Thánh Cha, vừa là Bộ Trưởng Thánh  Bộ Đức Tin trong nhiều năm. Do đó, Đức Hồng Y là người am hiểu Tâm Tư, Đường Hướng Lãnh Đạo Hội Thánh của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan PhaoLô II hơn ai hết. Ngài đã trích Lời Chúa Giêsu nói với môn đệ:”Hãy Theo Thầy” làm nguyên tắc và kim chỉ nam cho đời sống của Đức Cố Giáo Hoàng. Thật vậy, “Tình Yêu Thương của Thầy Chí Thánh là Gương Mẫu cho các môn đệ noi theo. Và trong mọi hoàn cảnh, từ nhỏ cho đến khi lìa đời, Đức Cố Giaó Hoàng Gioan Phao Lô II, đã ứng dụng triệt để Lời Chúa dạy cho dời sống.

Sau 26 năm Lãnh Đạo Hội Thánh Chúa, nay Ngài đã được Chúa gọi về với Chúa. Một trang sử  huy hoàng, đã lật qua. Nhưng Hội Thánh Chúa vẫn còn phải tiếp tục tồn tại, hoạt động cho đến ngày Tận Thế. Hội Thánh còn phải gặp nhiều khó khăn, còn phải chiến thắng tội ác, để mở mang NƯỚC CHÚA nơi trần gian. Chúng ta hãy cầu nguyện để Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, để các Vị Hồng Ychọn lựa một Vị CHỦ CHĂN mới, sẵn sàng hiến thân ”THEO THẦY CHÍ THÁNH”

Viết xong ngày 9/tháng4/2005

Lm. Jos. Cao Phương Kỷ

VỀ MỤC LUC

 

 

Đức Gioan-Phaolô II

LTS: Đây là một bài tác giả viết xong tại Fribourg ngày 25.04.1999 và đã đăng trên nguyệt san Mục Vụ (Thụy Sĩ) tháng 5 năm 1999 trong loạt bài viết về 20 nhân vật hàng đầu trong thế kỷ 20 trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Bài viết về Đức Gioan-Phaolô 2 này có nêu lên một nét đặc biệt đối với người công giáo việt nam (nhất là những người công giáo tự nhận mình là người yêu nước) là vị Giáo Hoàng người Ba Lan này đã làm chứng bằng chính cuộc sống của mình rằng bổn phận của người kitô-hữu là tận tình yêu nước mình. Và từ sự cảm nghiệm sâu xa tình tự dân tộc ấy, Ngài dẫn đến sự cảm thông thiết thân và chân thật với toàn thể nhân loại cùng có những tình tự như mình. Tất cả đều được xây dựng trên Niềm Tin nơi Thiên Chúa là Cha và mọi người đều là anh em ruột thịt với nhau. 

Quả vậy, tình yêu Quê Hương, chính là tình yêu người, yêu ông bà cha mẹ tổ tiên mình, yêu đồng hương đồng bào mình, và sự kính trọng những giá trị và những quyền làm người của dân mình. Với tư cách là con dân đất nước, Đức Gioan-Phaolô 2 đã tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền của người dân Ba Lan. Từ đó, mọi người và mọi dân tộc cảm nhận được sự trung thực của lòng Ngài khi Ngài cực lực tranh đấu cho nhân quyền của mọi người dân trên thế giới, trong đó có quyền được sống tự do theo niềm tin tôn giáo của mình trong sự kính trọng mọi tôn giáo anh em.

Rất nhiều người, thiện cảm với Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng có mà  ác cảm hoặc chống đối cũng có, thường nghĩ như thật rằng: "Vatican là một ổ gián điệp thế giới, đã từng ngấm ngầm cấu kết với đế quốc Mỹ để 'chống cộng' đến kỳ cùng. Và cộng sản mà có sụm ba chè là cũng nhờ có bàn tay lông lá của Mỹ và nhất là mật vụ của Vatican nhúng vào". Đúng hay sai là một chuyện, nhưng quan điểm của vị giáo chủ Vatican thì hoàn toàn khác. Thực vậy, 3 tháng sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Đức Gioan-Phaolô 2 tuyên bố vào ngày 21/02/1990 trong khi tiếp đoàn người hành hương tại Vatican: "Chính Thiên Chúa đã thắng ở Phương Đông". Những người biết rõ bụng dạ của vị giáo chủ này đều hiểu rằng Đức Gioan-Phaolô 2 nói Thiên Chúa là "Thiên Chúa của Lòng Tin" của Ngài và của Giáo Hội, chớ không phải ám chỉ lếu láo rằng Thiên Chúa đây là "tay chân bộ hạ" của Ngài hay "đám cao bồi đặc vụ của Mỹ" đâu!

Ngược đời ở chỗ là Lòng Tin cho thấy có bàn tay Thiên Chúa trong những biến cố xảy ra trong trần thế, nơi con người và xã hội loài người, do bởi chính con người chủ động làm ra. Trong quyển "Bước vào ngưỡng cửa hy vọng" xuất bản năm 1994, Đức Gioan-Phaolô 2 giải thích nguyên do trước mắt, có thể kiểm chứng được, của sự tan rã của chế độ cộng sản Liên Xô: "Chính hệ thống cộng sản đã, một cách nào đó, tự nó làm cho nó sụp đổ. Sự sụp đổ của nó là hậu quả của những hành động sai lầm và quá khích của nó. Muốn chữa bệnh, nó lại nguy hại hơn chính con bệnh. Trở thành một đe dọa hùng hậu và một thách đố ghê gớm (đối với xã hội), nó lại không thành công cải tạo thật sự xã hội. Cộng sản tự suy sụp, do bởi nội lực của nó yếu kém."

Không "chống cộng" và không "dương uy"

Tuy vậy, nhiều người vẫn còn nghĩ rằng Đức Gioan-Phaolô 2 có đóng một vai trò trực tiếp và quan trọng trong vụ này. Họ cho rằng Ngài phải là một người tài trí xuất chúng, đầy mưu lược, "chống cộng cùng mình", bởi vì Ngài là giáo chủ một tôn giáo không đội trời chung với cộng sản và nhất là vì Ngài đến từ một đất nước mà người công giáo có tiếng là thành phần chống cộng lì nhất thế giới. Không, không hoàn toàn như vậy đâu! Ngài và Giáo Hội Công Giáo ngày nay nhất định không "chống cộng" theo cái nghĩa phe đảng, bè phái, cục bộ, giáo điều, bất bao dung, điên rồ, cố chấp trong thái độ "không đội trời chung", và càng không theo cái nghĩa "tay sai", "vụ lợi" hay "bán linh hồn" cho ai cả!

Thực ra, trước đây cũng như bây giờ, Ngài cùng với dân Ngài chỉ đấu tranh cho Ba Lan có được quyền tự quyết dân tộc, những quyền tự do căn bản của con người, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do lương tâm và quyền tự do chính trị, nói cách khác là được "quyền làm người", như Ngài đã nhắc đến khi ngỏ lời trước cổng đường Brandeburg (Bá Linh) ngày 23/06/1996 kêu gọi khẩn thiết nhân dân Đức và Âu Châu nhớ đến các dân tộc đang còn bị thống trị hoặc áp bức. Cuộc đời Ngài là một bằng chứng hùng hồn rằng Ngài chẳng chống ai cả, vì nếu đã chống, thì phải chống luôn cả tư bản tài phiệt và vô số các chủ nghĩa và tôn giáo khác chăng. Đúng hơn, Ngài chỉ tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền, trong đó có quyền được tìm đến với Thiên Chúa của lòng mình. Nhưng hơn ai hết, Ngài tin rằng: mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên!

Hơn nữa, nhiều người công giáo Việt Nam lấy làm hãnh diện, đắc chí -- cũng như một vài người phật giáo Việt Nam lấy làm nghi ngại -- cho rằng Đức Gioan-Phaolô 2 chủ trương đường lối phô trương lực lượng của một "Giáo Hội khải hoàn", khi thấy Ngài bôn ba khắp thế giới giao du với các đấng bậc vị vọng, xuất hiện cùng khắp giữa hằng triệu người tiếp đón hoan hô Ngài, hoặc nghe Ngài tuyên bố một câu xanh dờn, chắc nịch "Thiên Chúa đã thắng ở Phương Đông".

Thực ra, hơn ai hết, Đức Gioan-Phaolô 2 dư biết Giáo Hội của Ngài có vấp phạm lỗi lầm, yếu đuối, mỏng dòn và bất lực đến mức nào trước mọi thứ đe dọa của trần thế. Vào ngày lễ nhậm chức giáo hoàng 22/10/1978, trước đám đông tín hữu tham dự tại quảng trường Thánh Phêrô và trước ống kính của 43 đài truyền hình thế giới, Đức tân giáo chủ Gioan-Phaolô 2 cất tiếng dũng cảm mời gọi mọi người giữ vững lòng tin: "Đừng sợ! Hãy mở rộng mọi cánh cửa đón nhận Đức Kytô. Đừng sợ!"

Với cái nhìn lịch sử, người tây phương hiểu ngay rằng "đừng sợ" ngụ ý xác nhận là người kytô-giáo "đã sợ", "có sợ", vì hoặc bị khủng bố, bách hại, đàn áp, hoặc bị rẻ rúng như một nhóm người thiểu số, hoặc bị kỳ thị và loại ra ngoài lề xã hội, không những ở các nước cộng sản là nơi mà Đức Gioan-Phaolô 2 đã có kinh nghiệm trực tiếp, mà ở khắp đó đây trên thế giới; và không những chỉ ở thế kỷ 20 là giai đoạn mạt vận nhất của Giáo Hội La Mã, mà kể từ thế kỷ 16, lúc bắt đầu thời kỳ Phục Hưng của Âu Châu và phong trào ly khai của người anh em thệ phản (Tin Lành). Nghe lời kêu gọi "đừng sợ", đa số người tây phương cho rằng vị tân giáo chủ đã gióng lên một tiếng chuông trong sa mạc, một tiếng kêu thất thanh của một người không còn lối thoát nào khác ngoài lòng tin "mù quáng" vào Đức Kytô của Giáo Hội Ngài.

Như vậy, trong thế kỷ 20, không thiếu những vị giáo chủ La Mã lỗi lạc về nhiều mặt, giỏi về chính trị và ngoại giao như Đức Piô 12, chân tu và đạo đức như Đức Gioan 23, hay có đường lối cởi mở và canh tân Giáo Hội trước những vấn đề thế giới như Đức Phaolô 6. Tại sao các cơ quan truyền thông quốc tế lại theo dõi sát hơn những hành tung của Đức Gioan-Phaolô 2 và hay tường thuật cũng như bình luận (có khi rất gay gắt) về những lời tuyên bố hoặc chỉ giáo của Ngài? Cái gì thật sự đặc sắc nơi Đức Gioan-Phaolô 2 khiến cho thế giới loài người phải nể nang và chú ý hơn những vị tiền nhiệm của Ngài trong thế kỷ 20?

Nói chung, nét độc đáo nhất nơi vị giáo chủ này chính là, cùng với vai trò lãnh đạo Giáo Hội La Mã, Đức Gioan-Phaolô 2 được coi là một con người dám đứng giữa lòng xã hội loài người để có những hành động thách đố quan trọng đối với lịch sử. Phân tích ra, người ta thấy được 4 đặc điểm nơi Ngài. Thứ nhất, đang là một vị Giáo Hoàng La Mã, Đức Gioan Phaolô 2 vẫn sống trung thực với tình tự của một người con đất nước Ba Lan, một người yêu nước yêu dân, không chối bỏ nguồn gốc dân tộc và văn hóa Ba Lan của mình. Thứ hai, Ngài đi khắp thế giới làm nhiệm vụ "chủ chăn" với tất cả lòng nhiệt thành, xác tín và đức độ cao trong lãnh vực tôn giáo cũng như trong những vấn đề có liên hệ đến chính trị thế giới. Thứ ba, với thái độ thách đố lịch sử, Ngài có một tầm ảnh hưởng trên cục diện thế giới trong những vấn đề thiết thân nhất với con người thời đại! Và, nếu được phép kết luận, thì có thể nói được rằng Đức Gioan-Phaolô 2 là người bạn đáng tin cậy của mọi tôn giáo. 

Tiếp tục sống đức tin giữa lòng dân tộc

Karol Wojtyla, trở thành Đức Gioan-Phaolô 2 năm 1978, sinh ngày 18/05/1920 trong một gia đình công giáo mà người cha là quân nhân, tại một thành phố nhỏ ở miền nam nước Ba Lan tên là Wadowice, cách đó hai năm vẫn còn bị đế quốc Áo thôn tính và bấy giờ được cùng với cả nước phục hồi độc lập và thống nhất sau 150 năm bị ngoại bang đô hộ.  Theo học ở Cracovie, rồi vừa làm thợ trong hãng biến chế hóa học Solvay để khỏi bị Đức Quốc Xã bắt đi đày và vừa chuẩn bị "chui" để làm linh mục, Ngài chịu chức năm 1946 tại Cracovie.

Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ triết học và luân lý ở Đại học Angelicum tại Roma, Ngài trở về Ba Lan làm mục vụ tại xứ đạo và cho giới sinh viên, rồi dạy môn luân lý tại Cracovie và đại học công giáo Lublin. Làm giám mục phó năm 1958, Ngài được phong Tổng giám mục Cracovie năm 1963 và trở thành Hồng Y năm 1967, tức lúc mới 47 tuổi. Ngày 16/10/1978,  Ngài Karol Wojtyla trở thành Đức Gioan-Phaolô 2, kẻ kế vị thứ 263 Thánh Phêrô tại La Mã, lúc Ngài 58 tuổi, trước sự bàng hoàng sững sốt của mọi người trên thế giới: Giáo Hội La Mã nay có một vị Giáo Hoàng người Ba Lan! Kể từ đó, trong hơn 20 năm làm Giáo Hoàng -- nhiệm kỳ giáo chủ dài nhất của thế kỷ --, Ngài tận tụy xả thân cho 3 nơi mà Ngài gắn bó thiết thân: đó là Vatican, nước Ba Lan, và thế giới loài người.

Hồi còn làm mục vụ tại quê nhà, Ngài không chủ trương triệt để đối đầu với chế độ cộng sản và, ngược lại, cũng không chủ trương làm "giáo hội thầm lặng". Vì lòng chân thật yêu nước, yêu Giáo Hội, và vì quyền lợi đất nước và dân tộc, Ngài luôn đứng ở tư thế "đấu tranh tư tưởng" với Nhà nước cộng sản Ba Lan, đấu tranh một cách ôn hòa và bền bỉ cho nhân quyền và quyền tự do tôn giáo, đấu tranh một cách bất bạo động trong tâm tư và hành động, chỉ dùng lời lẽ từ tốn biện bạch phải trái phân minh để cải hóa người đối lập, kẻ cầm quyền.

Từ khi làm Giáo Hoàng, Ngài càng sử dụng nhiều hơn đến quyền tự do phát biểu trong những vấn đề dân quyền, nhân quyền, và là người lên tiếng bênh vực mạnh mẽ cho Hiệp Định Helsinki ký kết giữa Tổ Chức An Ninh và Hợp Tác Âu Châu OSCE với khối Liên Xô và Đông Âu năm 1975. Đi ngược lại với thói quen của giáo triều, Ngài chủ trương Vatican phải làm "mục vụ" hơn là làm "ngoại giao", nghĩa là khi cần thì phải dám nói thật, nói thẳng để bảo vệ con người, bất chấp những thủ tục ngoại giao thường lệ. Do đó, Ngài không ngớt nhắc nhở rằng "an ninh và hợp tác" sẽ vô hiệu nếu không đi kèm với nhân quyền, trong đó có quyền tự do tư tưởng, ngôn luận và tôn giáo. Ngài gián tiếp nâng đỡ tinh thần những kẻ đối lập với cộng sản, và đi cùng khắp thế giới vận động cho nhân quyền được tôn trọng. Như để trả lời Stalin khi ông hỏi kháy rằng "Vatican có bao nhiêu sư đoàn?", Đức Gioan-Phaolô 2 muốn chứng minh rằng sức mạnh của Giáo Hội La Mã chính là sức mạnh của lẽ phải vậy!

Trong 3 lần viếng thăm mục vụ Ba Lan vào năm 1979, 1983 và 1987, Đức Gioan-Phaolô 2 đã mạnh dạn và can đảm nói lên những lời lẽ đanh thép bênh vực cho nhân quyền, để gây phấn chấn tinh thần cho nhân dân Ba Lan và để răn đe các lãnh tụ cộng sản. Chính qua sự nâng đỡ tinh thần của Ngài đối với Lech Walesa trong suốt 500 ngày Công Đoàn Đoàn Kết của ông được phép hoạt động, kể từ mùa hè 1980, mà Ngài nâng cao khí thế những nhóm người đối lập ở các nước Đông Âu và nhắn gởi đến Liên Xô quyết tâm của Ngài đấu tranh cho quyền dân tộc tự quyết và nhân quyền.

Cung cách hành động của Ngài làm cho người ta hiểu rằng Ngài vẫn là một người Ba Lan, tiếp nối truyền thống đấu tranh cho tự do của dân tộc Ba Lan là một dân tộc đã từng chịu gian khổ hằng thế kỷ chống lại áp bức của ngoại bang để bảo vệ tình tự dân tộc, văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc Ba Lan và chủ quyền đất nước. Hành động của Ngài cũng là hành động của một người công giáo yêu nước Ba Lan, tiếp nối truyền thống ngàn năm của Giáo Hội Ba Lan luôn đứng về phía nhân dân Ba Lan để bênh vực quyền lợi của họ và góp phần xây dựng đất nước.

Trong chuyến viếng thăm mục vụ đầu tiên Ba Lan năm 1979, Đức Gioan-Phaolô 2 gặp mặt Tổng bí thư Đảng Edward Gierek để trao đổi thẳng quan điểm với ông ta về chuyện đất nước. Sau khi xác nhận Ba Lan là tài sản chung của tất cả nhân dân Ba Lan và không ai được độc quyền yêu nước, Đức Gioan Phaolô 2 nói với ông ta đại khái rằng: "Tài sản chung này cũng là của tôi, và tôi vẫn tiếp tục coi là thế, tự cảm thấy có liên can sâu đậm với đất nước này, cũng có quyền can dự vào, như thể tôi vẫn đang sống tại quê hương này và là công dân của đất nước này. Và cũng với thái độ này, còn mạnh mẽ hơn vì phải xa cách quê hương, tôi sẽ tiếp tục thấy có liên can đến tất cả những gì có thể đe dọa Ba Lan, làm phương hại hay làm ô danh đất nước này" (Jean Offredo, Jean-Paul II, Paris 1998, tr.38).

Nói về Ba Lan tại Đại Hội Đồng UNESCO ở Paris năm 1980, Đức Gioan-Phaolô 2 xác nhận: "Tôi là người con của một dân tộc đã trải qua những kinh nghiệm to lớn nhất lịch sử, một dân tộc đã bị các nước lân bang kêu án tử nhiều lần, nhưng đã sống sót và vẫn giữ được bản thân mình. Dân tộc này đã giữ gìn được bản sắc của mình, và đã bảo tồn được chủ quyền đất nước của mình cho dù bị ngoại bang chia cắt và chiếm đóng, không phải nhờ vào quân lực của mình mà chính là nhờ vào nền văn hóa của mình. Nền văn hóa này đã tỏ ra, khi cần, là một sức mạnh lớn hơn là bất luận những lực lượng nào khác. Văn hóa, chính là ngôn ngữ, lịch sử, nghệ thuật, văn chương, dĩ nhiên, mà còn sâu rộng hơn nữa là những gốc rễ, cội nguồn và dự phóng khai sáng của một dân tộc đã được hun đúc qua nhiều thế hệ; văn hóa còn là ý niệm về tổ quốc và dân tộc và cách thế bảo vệ nó (...). Giáo Hội có mặt ở đó để giúp chẳng những giữ gìn mà còn truyền đạt (truyền thống dân tộc ấy).

"Sức mạnh của Giáo Hội Công Giáo Ba Lan chính là đã giữ vai trò kẻ giữ gìn và bảo đảm cho lương tri dân tộc, cho văn hóa Ba Lan, cho cái 'bản sắc Ba Lan' được tồn tại. Là đứng sát cánh với nhân dân chống lại những quyền lực ngoại bang thống trị đất nước, và cũng chống lại những người Ba Lan chơi cái trò 'hợp tác với ngoại bang', đặc biệt là trong giới quí tộc và tài phiệt gộc. Chính nhờ Giáo Hội Ba Lan đã bám rễ sâu vào lòng dân tộc, đã tham gia vào các cuộc tranh đấu giải phóng đất nước, đã hy sinh to lớn và âm thầm trong đấu tranh, mà Giáo Hội đã trở thành 'tiếng nói của những kẻ không có tiếng nói, nhất là từ thế kỷ 19 đến nay" (Sd, tr.36-37).

Trước sức đe dọa khẩn trương của Liên Xô can thiệp quân sự vào Ba Lan và từ khi nổ ra vụ nhà nước Ba Lan ban hành thiết quân luật và đàn áp phong trào nghiệp đoàn tự do ở Ba Lan vào cuối năm 1981, Đức Gioan-Phaolô 2 tỏ ra vô cùng xúc động, lo âu và buồn phiền ra mặt. Từ Vatican, Ngài can thiệp mạnh mẽ bằng điệp văn riêng cũng như chính thức gởi đến các nhà lãnh đạo Đông Tây để yêu cầu chớ có dùng bạo lực đối với nhân dân Ba Lan và chớ có can thiệp vũ trang vào đất nước Ba Lan. Ngài thường tha thiết nhắc nhở đến Ba Lan trong các giờ nguyện "truyền tin" Angelus, trong các buổi yết kiến Ngài, rằng: "Không được làm đổ máu người dân Ba Lan. Máu này đã đổ ra khá nhiều rồi, đặc biệt là trong trận Thế chiến thứ 2. Phải làm tất cả để xây dựng tương lai đất nước Ba Lan trong hòa bình" (Sd, tr.42). Âu cũng vì đó mà Ngài bị mưu sát ngày 13.05.1981 tại quảng trường Thánh Phêrô do bởi Ali Agça, được coi là một bàn tay bí hiểm của mật vụ Bulgaria và KGB Liên Xô.

Trên đường «hành hương» gặp gỡ mọi dân tộc     

Đức Gioan-Phaolô 2 không chủ trương ngồi yên vị ở ngai giáo hoàng, mà phải đi đến gặp gỡ mọi người và mọi dân tộc trên khắp nẻo đường thế giới. Người ta quen gọi Ngài là kẻ "du hành địa cầu". Ngài coi đó là cuộc "hành hương" về đất thánh, nay đã trở thành toàn thể địa cầu! Trong nhiệm kỳ 20 năm giáo chủ, Ngài đã làm 80 cuộc hành trình đến viếng thăm 114 quốc gia (trong đó có những quốc gia được thăm viếng nhiều lần) và các tổ chức quốc tế, chưa kể khoảng 150 lần đi thăm nhiều nơi tại nước Ý và giáo phận Roma của Ngài. Tính ra Ngài đã đi 30 lần vòng quanh quả địa cầu, một đoạn đường dài gấp 3 lần khoảng cách giữa trái đất và mặt trăng, và đã vắng mặt tại Vatican tổng cộng gần hai năm trời! Ngày nay, cả thế giới là quê hương của Ngài. Đến đâu, Ngài cũng kính cẩn quì xuống hôn lên mảnh đất chôn nhau cắt rốn của loài người và cũng là của Ngài, mảnh đất đã trở nên linh thiêng vì có bàn tay kỳ diệu của con người tác tạo, bồi dưỡng và đổi mới tất cả, và vì chính Thiên Chúa cũng đã chọn nơi này làm "quê hương" của Người!

Mục tiêu thứ nhất: Đức Gioan-Phaolô 2 tìm đến gặp gỡ đám đông, như Đức Kitô 2000 năm về trước. Đó là dịp để Ngài nói lên những điều Ngài xác tín với người kytô-giáo và với mọi người thiện tâm trên thế giới, để nâng đỡ và khích lệ họ chu toàn bổn phận làm người và làm con cái Cha trên trời, để công khai yêu cầu mọi người và mọi nhà cầm quyền hãy tôn trọng con người và quyền làm người, để kêu gọi mọi người giữ gìn sự hòa hợp bằng đường lối đối thoại và tìm sự đồng thuận, để nhắn nhủ một cách đặc biệt về một vài điều phù hợp với địa phương Ngài đến, hoặc để can thiệp cho quyền lợi của kẻ yếu.

Chẳng hạn, sau khi chế độ cộng sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đức Gioan-Phaolô 2 rất lấy làm lo lắng trước cao trào tự do cạnh tranh và bóc lột nhau, coi đồng tiền là vua, làm giàu phi nghĩa, gây ra tình trạng phân hóa xã hội, bần cùng hóa một tầng lớp đông đảo nhân dân yếu kém tại những nước này. Ngài cũng lo ngại trước sự lớn mạnh của bọn làm ăn phi pháp ma-fia, của tinh thần quốc gia cực đoan, của chủ trương kỳ thị và bài ngoại. Vì thế, năm 1997, Đức Gioan-Phaolô 2 làm thêm một chuyến viếng thăm mục vụ Ba Lan để mạnh mẽ lên án những tệ đoan của xã hội chạy theo kim tiền và tiêu thụ, chà đạp nhân quyền, nhân phẩm và những giá trị văn hóa truyền thống, chỉ biết đề cao quyền lợi cá nhân đến mức làm hại cho công ích. Ngài lớn tiếng cảnh cáo rằng tiến bộ của loài người không phải là thay thế búa lưỡi liềm bằng việc thờ "bò vàng". Đến thăm  Mễ Tây Cơ sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Ngài tuyên bố rằng cộng sản thất bại không có nghĩa là tư bản đã thắng!

Mục tiêu thứ hai: Đức Gioan-Phaolô 2 bôn ba đó đây để gặp trực tiếp những nhà lãnh đạo thế giới và những cơ quan có thẩm quyền quốc tế để tiếp tục bênh vực cho con người. Dĩ nhiên, trong lãnh vực chính trị, Đức Gioan-Phaolô 2 không lên mặt dạy đời ai, cũng không dở trò ngoại giao siêu đẳng, mà chủ yếu là xác nhận quan điểm Phúc Âm đối với giá trị làm người và nhắc nhở các nhà hữu trách về tầm quan trọng của những giá trị ấy trong đời sống quốc gia và quốc tế.

Chẳng hạn, năm 1983, Ngài nói thẳng với nhà độc tài Jean-Claude Duvalier của Haiti, khi đến thăm đất nước này: "Cần phải có những sự thay đổi ở đây!". Chẳng bao lâu sau đó, Duvalier bị đào thải! Hoặc ở Phi Luật Tân năm 1981, trong một bài diễn văn đọc tại thủ đô Manilla trước mặt Tổng thống Marcos, Ngài nói rằng, đối với Giáo Hội, việc bảo vệ nhân phẩm của người nghèo không phải là một đòn chiến thuật để lôi kéo về mình đám quần chúng ấy. Đó là bổn phận đơn thuần của Giáo Hội, vì đó là điều Chúa muốn, rằng mọi người phải được sống với phẩm cách của mình. Con đường đi đến giải phóng hoàn toàn không phải là con đường bạo động, đấu tranh giai cấp, hận thù, mà là con đường của tình nghĩa, huynh đệ và hòa hợp đoàn kết. Trong vụ này, người ta bảo rằng tuy Bà vợ của nhà độc tài Marcos là một người công giáo sùng đạo, nhưng Bà lấy làm hậm hực trước lời nhắn nhủ ấy!

Cũng thế, vào tháng 03/1987, trong lúc Đức Gioan-Phaolô 2 đến thăm viếng Chí Lợi, Ngài được Tướng độc tài Pinochet tiếp linh đình tại dinh tổng thống Moneda ở thủ đô Santiago, nơi mà tổng thống dân cử Allende bị sát hại năm 1973. Tại đó, Ngài không ngần ngại nói thẳng thừng rằng: cần sớm có những biện pháp khả dĩ cho phép mọi người dân Chí Lợi được tham dự đầy đủ và có trách nhiệm vào những quyết định quan trọng của đất nước này. Dĩ nhiên, những lời lẽ bộc trực như thế cũng chẳng thấm thía gì đối với những quyền lực hung bạo thế tục, nhưng vẫn có tác dụng làm men làm muối, như lịch sử đã từng chứng minh.

Gần đây nhất, tháng 01/1998, Đức Gioan-Phaolô 2 đi thăm Cuba để tiếp tục tranh đấu với Fidel Castro cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, và cùng một lúc chất vấn quyền lực bá đạo của Hoa Kỳ đối với Cuba, đưa đến đói khổ cho nhân dân xứ này. Sau 40 năm xung đột giữa chính quyền La Havane và Giáo Hội La Mã, cuộc gặp gỡ giữa Đức Gioan-Phaolô 2 với lãnh tụ Fidel Castro được coi là một thành tích đáng kể trong tiến trình hòa giải đôi bên và giúp Cuba làm một bước cởi mở ra với thế giới bên ngoài. Thực vậy, sau đó, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ dần vụ cấm vận Cuba.

Mục tiêu thứ ba: Đức Gioan-Phaolô 2 tìm đến gặp gỡ các giới trẻ trong những "Ngày đại hội giới trẻ thế giới", tổ chức tại Ý hoặc tại các nước khác, như Buenos Aires (Ba Tây,1987), Compostelle (Tây Ban Nha,1989), Czesto-chowa (Ba Lan, 1991), Denver (Mỹ, 1993), Manille (Phi Luật Tân, 1995) và Paris (Pháp, 1997). Những lần gặp gỡ thân tình này đem lại cho Ngài phấn khởi, trẻ trung và niềm hy vọng cho tương lai Giáo Hội và nhân loại. Đó cũng là dịp hi hữu để thanh niên tứ xứ thập phương tụ tập về nối vòng tay lớn, sống thiết thân bên nhau trong tình tự tuổi trẻ, tìm gặp lại lẽ sống và niềm tin nơi Thiên Chúa và con người, và cảm nghiệm được phần nào những sự mong đợi to lớn của Giáo Hội nơi tiềm năng đóng góp của giới trẻ cho nhân loại.

Ngày 31/03/1985, mừng Năm quốc tế Thanh niên do Liên Hiệp Quốc đề xướng, Đức Gioan Phaolô 2 khẩn thiết kêu gọi: Hỡi các bạn là thanh niên của các dân tộc và của xã hội loài người, thanh niên của mọi gia đình và của toàn thể nhân loại. Chúng tôi tất cả hướng mắt về các bạn, bởi vì nhờ các bạn mà tất cả chúng tôi không ngớt, một cách nào đó, trở nên trẻ trung với các bạn. Chính vì đó, tuổi trẻ của các bạn không chỉ là tài sản riêng của các bạn hay của một thế hệ, mà là (...) tài sản chung của mọi người. Các bạn thuộc về bản thân của nhân loại vậy!

Và mục tiêu cuối cùng của những cuộc hành trình của Đức Gioan-Phaolô 2 trên thế giới là để gặp gỡ trong thân tình tất cả các tôn giáo bạn, như sẽ nói ở phần sau.

Chấn chỉnh nội bộ và thách đố lịch sử

Triều đại giáo hoàng của Đức Gioan-Phaolô 2 có đặc tính là giúp cho người kytô-giáo đi tìm lại bản sắc chân thực của Đức Tin. Thực vậy, Đức Gioan-Phaolô 2 thúc giục con chiên bổn đạo tìm thấy lại thân phận chân như của mình và hiên ngang xác nhận Niềm Tin kytô-giáo của mình mà không sợ sệt hay mặc cảm gì trước người đời cả. Niềm tin này liên hệ đến toàn diện con người, mọi sắc tộc, mọi nền văn hóa, và là một thách đố da diết đối với mọi người kytô-hữu đem ứng nhập vào mọi lãnh vực đời sống...

Nói rộng ra, Ngài còn khuyến khích và thách đố mọi người trên thế giới hãy can đảm chấp nhận thân phận và chức năng làm người của mình, kiên trì đấu tranh cho niềm tin nơi con người và cho quyền làm người của mình mà không sợ một quyền lực áp đảo nào cả, cho dù ghê gớm đến đâu. Ngài cố gắng đem lại tin tưởng và hy vọng trong một thế giới đã chao đảo, não nề, thất vọng, mất định hướng và lẽ sống của mình. Làm như thế, Ngài biết rõ mình chỉ là một tiếng kêu, chỉ làm một hành động phiêu lưu vô định! Nhưng không biết sợ, vì Ngài phiêu lưu với Thiên Chúa của lòng mình.

Trong buổi dâng lễ đầu tay của vị tân giáo hoàng tại nhà nguyện Sixtine vào ngày 17/10/78 cùng với toàn thể Hồng Y đoàn, Đức Gioan-Phaolô 2 đã nói lên thông điệp đầu tiên cho Giáo Hội toàn cầu. Ngài xác nhận con đường phải đi là con đường đã được Công Đồng Vaticanô 2 vạch ra. Thứ nhất, các giám mục thế giới đều đồng chịu trách nhiệm về đời sống của Giáo Hội toàn cầu. Thứ hai, sự hợp nhất bên trong Giáo Hội Công Giáo phải được gìn giữ và bảo vệ. Thứ ba, sự chia cách giữa anh em kytô-giáo cần được vượt qua và hướng đến hiệp nhất. Và cuối cùng, Giáo Hội đứng về phía con người, đặc biệt là người nghèo, kẻ bệnh tật, kẻ bị chiến tranh nghiền nát để phấn đấu cho quyền làm người của họ, cho họ có lại được cơm áo, sức khỏe, hòa bình và an lạc.

Trong lịch sử của nhân loại, Ngài sẽ được nhìn nhận là vị giáo hoàng của nhân quyền, kẻ không hề biết mệt mỏi rảo bước khắp các nẻo đường thế giới, gặp tất cả các dân tộc, để lớn tiếng xác nhận rằng không một người nào, không một dân tộc nào, không một xã hội nào phải bị tước đoạt nhân phẩm của mình, quyền sống của mình, chỉ vì mình khác kẻ khác trong màu da, tư tưởng, quan niệm, địa vị, nghề nghiệp, nếp sống hay niềm tin tôn giáo. Chính một phần nào đó nhờ Ngài mà thế giới chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ thứ ba với gương mặt "người" hơn!

Trong thẩm quyền của Ngài, Đức Gioan-Phaolô 2 làm rất nhiều việc quan trọng. Thứ nhất, Ngài chấn chỉnh lại hàng ngũ các cấp lãnh đạo Giáo Hội, đưa vào hàng giáo phẩm cao cấp thêm nhiều vị đến từ các nước ngoài Tây Phương, để nói lên tính hiệp thông toàn cầu của Giáo Hội. Và Ngài đặt thêm nhiều sứ thần Tòa Thánh trên hầu hết các nước trên thế giới. Mục tiêu chủ yếu là trong nội bộ, Ngài cần ổn định nề nếp, trật tự để mọi người được yên ổn giữ đạo (về điểm này, Ngài bị phê bình là quá bảo thủ); về đối ngoại, Giáo Hội cần tích cực có mặt khắp nơi để tham dự vào những sinh hoạt quốc tế, để kín đáo giúp giải quyết những cuộc xung đột trong hòa bình, và để trao đổi với các nhà hữu trách các nước và thế giới về mọi vấn đề liên hệ. Chẳng hạn, đối với nhà nước Trung Quốc và Việt Nam, Tòa Thánh cố gắng hết sức để có những quan hệ đều đặn và được cải thiện hơn thêm.

Thứ hai, Ngài cho phát hành nhiều tài liệu giáo huấn của Tòa Thánh hơn những triều đại giáo hoàng trước Ngài, gồm có 13 bức Thông Điệp, và rất nhiều Tông Thư và Tông Hiến, cũng như cho xuất bản quyển Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo để dùng làm nề nếp cho giáo dân học biết lẽ đạo. Những tài liệu giáo huấn của Ngài nói lên những xác tín thâm sâu của Ngài nơi những quyền hạn, nghĩa vụ và những giá trị làm người và làm con cái Chúa, xét theo khía cạnh cá nhân cũng như cộng đoàn, và nhìn từ ánh sáng Phúc Âm mà Ngài nhận được. Một đặc điểm là trong suốt nhiệm kỳ giáo hoàng, Ngài không dùng đến quyền bất khả ngộ để tuyên bố về một điểm tín lý nào. Còn lại, trong cách xưng hô, thay về dùng danh xưng "Chúng Tôi" như trước đây, Ngài thường dùng ngôn ngữ bình thường là "tôi", một người ở giữa anh em tín hữu...

Và thứ ba, trong vòng 20 năm, Ngài đã phong lên hàng thánh và hiển thánh nhiều vị hơn tất cả các triều đại trước Ngài gom lại, để nêu gương sống đạo cho thế giới noi theo. Tất cả gồm gần 1100 thánh nam nữ, trong đó có gần 300 vị thánh và hơn 800 vị hiển thánh, đến từ mọi chủng tộc và quốc gia, mọi tuổi tác và nghề nghiệp, và mọi đấng bực trong Giáo Hội,. Ngài nói: "Các ngài là những thánh nhân từ các bạn mà ra; các bạn có thể và phải trở nên như các vị ấy".

Nhận lỗi, đối thoại và giao hảo với mọi tôn giáo

Vì có lòng tin ở "Thiên Chúa của muôn dân", nên không lạ gì Đức Gioan-Phaolô 2 đi rao giảng cùng khắp thế giới lòng tin ấy! Có người thấy chướng, như thể Ngài muốn đi giành giật thế lực với các tôn giáo khác. Không, trái lại, Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đã khai mở ra cuộc gặp gỡ giữa các tôn giáo tại thành Assise nước Ý, theo đúng tinh thần Công Đồng Vaticanô 2, để cùng nhìn nhận nhau là anh em và cùng xác nhận có quyền tin tưởng như nhau.

Thực vậy, ngày 27/10/1986, Ngài tổ chức một cuộc họp mặt quốc tế tại Assise giữa khoảng 200 vị lãnh đạo các giáo môn kytô-giáo và các tôn giáo lớn thế giới (gồm có Kytô-giáo, Do thái giáo, Hồi giáo, Ba Hai, Shik, Ấn Độ giáo, Thần Hỏa giáo) đại diện cho khoảng 3 tỷ tín đồ trên thế giới, để cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Tất cả cùng họp tiếng cầu khẩn, nhưng mỗi vị cầu nguyện với Đấng mình tôn thờ.

Đối với Đức Gioan-Phaolô 2, bản đại hòa tấu này muốn nói lên 3 điều: thứ nhất, thế kỷ 21 sẽ có thể là thế kỷ của tôn giáo và nhất là thế kỷ của đối thoại liên tôn, vì trong thế giới ngày nay không còn có thể sống hay chết một mình được nữa; thứ hai, trong cuộc đấu tranh sống còn này, khẩn trương nhất là cần đối thoại giữa những người "anh em kytô-giáo chia cách nhau" để có thể hợp lực hòa giải với nhau; và thứ ba, để vượt thắng những sự chia rẽ, cần có sự canh tân tâm hồn và xám hối với người mình có lỗi. Chính vì đó mà sự tĩnh tâm trong lời cầu nguyện chung sẽ giúp đưa đến một trạng thái dễ hòa hợp hơn.

Chính Đức Phaolô 6 đã bắt đầu trước trong việc gặp gỡ với các tôn giáo bạn, khi Ngài hành trình đến Jérusalem, Bombay và Istanbul, và khi Ngài đề cập đến trong các thông điệp "Ecclesiam suam" và "Evangelii nuntiandi". Đức Gioan-Phaolô 2 tiếp nối và khai triển rộng hơn việc gặp gỡ này. Ngài tìm đến với tất cả các tôn giáo bạn trên khắp các lục địa, đặc biệt là các tôn giáo Á Châu và Phi Châu mà Ngài chưa được biết rõ và đã có nhưng suy nghĩ chưa được chính xác cho lắm. Theo Ngài, những sự trao đổi và gặp gỡ này phải rất mực chân thành, nghiêm túc, chớ không khách sáo, như Ngài nói: "Để có thể đối thoại, cần phải có người nói và người nghe, và mỗi người cần biết rõ mình là ai một cách thật sự sâu sắc". Chẳng hạn, ngày 19/08/1985, theo lời mời của vua Marốc Hussan II, Ngài ngỏ lời với 80 ngàn thanh niên Hồi giáo ở Casablanca: "Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy thay đổi những lề thói cũ của chúng ta", tức là mỗi chúng ta phải biết rõ mình, biết xám hối và sửa đổi!

Trong 20 năm làm giáo hoàng, Đức Gioan-Phaolô 2 đã làm tất cả khoảng 100 lần cáo lỗi, trong số đó có những lời xin lỗi công khai (đối với người Do Thái, với người anh em Tin Lành và với những người Hồi giáo), hay có nhìn nhận đã có những đánh giá sai lầm trong giai đoạn lịch sử đã qua, hoặc có lời thành tâm phê phán những hành động sai sót của Giáo Hội mình. Như thế, Ngài chủ xướng việc thanh tẩy những hoài niệm u buồn để cho lòng được thanh thỏa hướng về tương lai: hòa giải giữa người anh em kytô-giáo và đối thoại nghiêm túc giữa các tôn giáo thế giới. Ngài tin tưởng rằng tất cả các tôn giáo đều có trách nhiệm hợp tác với nhau để đấu tranh hóa giải các thế lực độc tài, đàn áp, và để phục vụ cho con người, phẩm giá con người và quyền làm người.

Riêng đối với người Do Thái, Đức Gioan-Phaolô đã có những hành động nói lên lòng xám hối chân thành trước những sự hiềm khích vô cớ của người công giáo đối với người Do thái và do đó đã đóng góp một phần vào các phong trào bài Do Thái tại Tây Phương cũng như cuộc diệt chủng xảy ra trong trận Thế Chiến thứ 2 tại Âu Châu. Ngày lịch sử 13/04/1986, do lời mời của Đức Thầy giáo chủ Eli Toaff, Đức Gioan-Phaolô 2 đã đến kính viếng và bước qua ngưỡng cửa Thánh Đường Do Thái tại Roma, nhận từ tay Đức Thầy cây nến thánh chín ngọn đèn và quyển Kinh thánh Torah của Do Thái.

Thật là hi hữu, vì đoạn đường một cây số từ Tòa thánh La Mã đến Thánh Đường Do Thái là đoạn đường dài nhất lịch sử ngăn cách giữa hai tôn giáo gần hai nghìn năm qua. Mười năm sau, ngày 15/04/1996, Ngài tiếp đón Đức Thầy giáo chủ Do Thái tại Điện Vatican với những lời nguyện chân thành từ đây hai bên cùng chia sẻ một lòng kính trọng lẫn nhau. Thực vậy, đã lâu rồi, Đức Gioan-Phaolô 2 đã từng gọi người Do thái là "người anh cả trong niềm tin" và coi lịch sử tôn giáo Do Thái là một phần ruột thịt của lịch sử Kytô-giáo vậy. Mới đây, năm 1998, Ngài cho ra mắt bản tuyên ngôn "Chúng tôi có nhớ. Những suy nghĩ về cuộc diệt chủng Do Thái của Đức Quốc Xã" để tỏ lòng muốn thanh lọc thật sự những hoài niệm u buồn đã qua, tuy rằng phía Do Thái chưa lấy làm hoàn toàn thỏa mãn về bản tuyên ngôn này.

Cuộc đời "phiêu lưu" của Đức Gioan-Phaolô 2 đã có thể chấm dứt vào ngày 13/05/1981 với viên đạn nhẫn tâm của Ali Agça và của những kẻ chủ mưu ám hại Ngài nơi quảng trường Đền thánh Phêrô. Nhưng Ngài vẫn sống sót sau biến cố hung bạo ấy, sống sót để tiếp tục đấu tranh cho cái quyền được nói lên chân lý của mình, niềm tin của mình, lý tưởng đời mình, và rồi để sẵn sàng chết cho những  xác tín của mình.

Gs. Trần Ngọc Báu           Fribourg 25.04.1999

VỀ MỤC LUC

 

 

TOTUS TUUS!  Kính nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

Những ngày này, thế giới vẫn còn như đang mất ngủ, như chưa hết bàng hoàng bởi việc ra đi vĩnh viễn của vị đại diện tối cao của Chúa Kitô ở trần gian: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II kính yêu của Giáo Hội Công giáo đã về Nhà Cha.

Đi bất cứ nơi đâu, mở bất cứ phương tiện truyền thông nào, dù là kẻ chống đối, kẻ không thiện cảm, không đồng quan điểm, bất đồng ý kiến với Đức Thánh Cha về những gì Người đã chủ trương, Người đã làm, đã sống, hay đã viết… đến những người quý mến, tôn kính, đều nhận thấy một sự thật rất lớn rằng, Đức Thánh Cha là biểu tượng của những gì tinh túy và tốt đẹp bậc nhất của nhân loại.

I. BIỂU TƯỢNG CỦA ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN.

Đối với các tín hữu Công giáo, Đức Thánh Cha là ánh sao chiếu sáng rạng rỡ lòng yêu mến Thiên Chúa. Họ nhận ra rằng, Vị Cha Chung của họ lãnh đạo Giáo Hội của Chúa Kitô không cậy vào sự tài giỏi riêng tư, nhưng bằng cả một chuỗi ngày dài của đời sống chìm đắm trong cầu nguyện. Vì thế, Người lãnh đạo bằng nỗ lực tự thánh hóa mình, bằng ơn Chúa, nhất là bằng sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần.

Bởi Đức Thánh Cha là một người đam mê cầu nguyện. Vì thế, dù số lượng công việc vô cùng lớn, Người vẫn dành nhiều thời gian để cầu nguyện. Người cầu nguyện rất nhiều, cầu nguyện mỗi ngày và cầu nguyện lâu giờ.

Hai nhà báo Carl Bernstein và Marco Politi đã từng cho biết, mỗi ngày, Đức Thánh Cha thức dậy lúc 5 giờ và đến phòng nguyện riêng để cầu nguyện. Giờ cầu nguyện đầu ngày kéo dài trong hơn một giờ đồng hồ. Ngoài ra, trong ngày, Đức Thánh Cha còn dành thời gian khoảng sáu tiếng nữa để chuyện trò với Thiên Chúa. Trước khi làm việc gì, Đức Thánh Cha  đều bắt đầu bằng việc cầu nguyện. Nhất là những công việc càng khó khăn bao nhiêu, càng vượt quá sức người, Người càng cầu nguyện nhiều hơn, sốt sắng hơn.

Ngập trong sự thinh lặng và chiêm ngắm của những ngày dài để cầu nguyện, ngoài Thiên Chúa, Đấng mà Đức Thánh Cha không ngừng tìm tới để khai thác sức mạnh cho đời mục tử của mình, còn có một người phụ nữ như là Đấng Bả Trợ thứ hai không thể thiếu cho mọi công tác lớn lao của trách nhiệm giáo hoàng mà một Giáo Hoàng như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phải gánh lấy. Người phụ nữ ấy chính là người Mẹ dấu ái của Chúa Giêsu, một người Mẹ thánh tuyệt vời.

Trong mọi công tác của mình, cũng như trong khi đang làm việc, Đức Thánh Cha đều hiến dâng cho Thiên Chúa và cho Mẹ Maria. Bằng chính đời sống cầu nguyện của mình, Đức Thánh Cha cho thấy, Người là ánh sáng của ngọn hải đăng rực rỡ chiếu soi con thuyền Giáo Hội khi phải chèo chống giữa biển đời mênh mông. Là ngọn hải đăng của lòng cậy trông nơi tình yêu của Chúa, Người chiếu tỏa trên toàn cõi Giáo Hội lòng yêu mến Chúa đáng trân, đáng quý vô cùng.

II. TOTUS TUUS.

Chính vì tỏa sáng lòng yêu mến Đức Mẹ, Đức Thánh Cha trao cho chúng ta một tấm gương lớn về lòng yêu mến Đức Maria là chính đời sống của Người. Đức Thánh Cha đã không chọn bất cứ một khẩu hiệu nào cho đời mục tử, nhưng ngay khi lãnh chức Giám mục, Người lại chọn khẩu hiệu được gợi hứng từ suy tư của thánh Louis Grignion de Montfort làm khẩu hiệu mục tử của mình. Khẩu hiệu đó là “Totus Tuus” – Tất cả con thuộc về Mẹ.

Đến lúc lên ngôi giáo hoàng, Đức Thánh Cha không ngừng lặp lại lời nguyện này với Đức Mẹ: “Totus Tuus”. Ngay những ngày đầu tiên, sau khi lên ngôi giáo hoàng, người đã dâng hiến triều đại giáo hoàng của mình cho Đức Mẹ. Khẩu hiệu của vị chủ chăn Giáo Hội hoàn vũ, lại một lần nữa quy về chính Đức Mẹ. Bởi vậy, người ta luôn luôn đọc và nghe thấy từ môi miệng Đức Thánh Cha lời cầu khẩn tha thiết này: “Totus Tuus”.

1. Chúc thư.

Đến giây phút cuối cùng, khi Người đã nằm xuống, trước khi hoàn toàn từ từ biệt chúng ta, một lần nữa, người ta lại tiếp tục được lắng nghe khẩu hiệu này từ di chúc của Đức Thánh Cha hướng về quê hương Balan của mình: “Tôi phó thác trong sự che chở từ mẫu của Đức Mẹ Giáo Hội trên đất Balan”. 

Một nơi khác trong bản di chúc, Đức Thánh Cha viết: “Hãy tỉnh thức vì các con không biết giờ nào Chúa đến” (Mt 24, 42). Những lời này nhắc nhở tôi về tiếng gọi sau cùng sẽ đến vào thời điểm Chúa muốn. Tôi ao ước được theo Ngài, và ước mong mọi sự trong cuộc sống trần thế của tôi chuẩn bị cho tôi sẵn sàng trước giờ phút ấy. Tôi không biết khi nào giờ này đến, nhưng như mọi điều khác, cả giờ ấy, tôi cũng đặt trong tay Mẹ của Thầy tôi: Totus Tuus. Cũng trong đôi tay từ ái này, tôi phó thác mọi thứ và mọi người có liên hệ với tôi trong cuộc sống và trong ơn gọi của tôi. Trong đôi tay này, tôi để lại, trên hết tất cả, là Giáo Hội, cũng như đất nước tôi và toàn nhân loại” (Di chúc của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được viết ngày 6.3.1979).

Một chỗ khác nữa trong di chúc được viết vào kỳ tĩnh tâm năm 1980, Đức Thánh Cha bày tỏ: “Mỗi người chúng ta phải nhớ đến diễn ảnh của cái chết. Và phải sẵn sàn ra trình diện trước mặt Chúa và Quan Án – Đấng đồng thời cũng là Đấng Cứu Chuộc và là Cha chúng ta. Cả tôi cũng liên tục để ý đến điều này, trong khi phó thác giờ phút quyết định ấy cho Mẹ Chúa Kitô và là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của niềm hy vọng của tội”. Cuối bản di chúc này, Đức Thánh Cha không quên viết thêm: “Totus Tuus ego sum” – Toàn thân con thuộc về Mẹ (Di chúc viết ngày 1.3.1980).

Cũng chính trong di chúc, nói về biến cố bị sát hại, Đức Thánh Cha viết: “Âm mưu trên mạng sống tôi ngày 13.5.1981, cách nào đó khẳng định sự chính xác của những lời đã được viết ra trong cuộc tĩnh tâm năm 1980 (24.2-1.3). Giờ đây, tôi hiểu sâu xa hơn rằng tôi hoàn toàn trong tay Chúa – và tôi tiếp tục tùy thuộc trong sự an bài của Chúa, phó thác hoàn toàn cho Ngài và cho Mẹ Vô Nhiễm của Ngài (Totus Tuus)” (Di chúc viết ngày 5.3.1982).

2. Một vài văn kiện.

Hầu như văn kiện nào của Đức Thánh Cha cũng đều kết thúc bằng việc chiêm ngắm một hình ảnh, một tước hiệu, một tấm gương nhân đức, một khía cạnh nào đó trong đời sống của Đức Maria, hoặc bằng lời cầu nguyện dâng hiến Đức Mẹ.

Chẳng hạn, chúng ta đọc thấy điều ấy trong Tông huấn về gia đình, tông huấn Familiaris Consortio: “Ước gì Đức Trinh Nữ Maria, là Mẹ của Hội Thánh, cũng nên ‘Mẹ của Hội Thánh tại gia’! Ước gì nhờ sự trợ giúp từ mẫu của Mẹ, mọi gia đình Kitô hữu đều có thể thật sự trở nên một “Hội Thánh nhỏ”, trong đó mầu nhiệm của Hội Thánh Đức Kitô được phản ánh và sống lại!…” (số 86).

Hay ngay trong thông điệp Dives in Misericordia (Thiên Chúa giàu lòng thương xót), dù là thông điệp hoàn toàn nói về Thiên Chúa, ta vẫn tìm thấy bóng dáng của Đức Maria: “Chúng ta hãy nhờ Đức Kitô mà cậy vào Thiên Chúa, vì nhờ tới những lời trong kinh Magnificat của Đức Maria công bố lòng thương xót ‘suốt đời nọ tới đời kia’! Chúng ta hãy khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa cho thế hệ ngày nay! Ước gì khi cố gắng theo gương Đức Maria mà làm mẹ muôn người trong Thiên Chúa, Giáo Hội nói lên bằng lời cầu nguyện ấy sự chăm lo của một người mẹ, và cả tình thương tin tưởng của mình nữa, tình thương khiến có nhu cầu cần thiết nhất phải cầu nguyện” (số15).

Hay trong thông điệp Splendor Veritatis (Ánh rạng ngời của chân lý), một thông điệp bàn rất sâu về vấn đề luân lý, vì thế, Đức Thánh Cha nói nhiều đến sự đối nghịch giữa tội lỗi và sự thánh thiện. Chính trong vấn đề tội và phước ấy, thân xác con người là điểm chú ý quan trọng của thông điệp. Trong cái nhìn mang chiều kích thánh thiêng về thân xác, Đức Thánh Cha đưa ra hình ảnh Đức Maria như một lời an ủi, khích lệ chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Thiên Chúa mà học lấy bài học của sự thánh hóa thân xác mình. Đức Thánh Cha viết: “Đức Maria chia sẻ với chúng ta thân phận làm người, nhưng với một sự xuyên thấu hoàn toàn đối với ân sủng của Thiên Chúa. Mặc dù không phạm tội, Đức maria đủ sức đồng cảm với mọi nỗi yếu đuối. Đức Maria thấu hiểu con người tội nhân và yêu thương tội nhân bằng một mối tình từ mẫu…” (số 120).

Không chỉ nhiều lần, trong nhiệm vụ chăn dắt tối cao ở trần gian thay mặt Chúa Kitô, Đức Thánh đặc biệt trao gởi thế giới, phó thác Giáo Hội, phó thác từng người con của Giáo Hội, nhất là giới trẻ cho Đức Mẹ, Người còn luôn luôn trao gởi tất cả những ai sống đời thánh hiến trong bàn tay che chở và bảo vệ của Mẹ Thiên Chúa, người Mẹ của Tình yêu, Nữ Vương ban sự bình an. Phần cuối của tông huấn Vita Consecrata (Đời sống thánh hiến) cho thấy điều đó: “Lạy Nữ Trinh của ngày thăm viếng, chúng con trao phó họ (những người sống đời thánh hiến) cho Mẹ để họ mau mắn tìm gặp những người trong cảnh thiếu thốn, để trợ giúp và nhất là để mang Chúa Giêsu đến cho những người này. Xin Mẹ hãy dạy họ biết cao rao những kỳ công Thiên Chúa đang thực hiện trong thế giới, ngõ hầu hết mọi dân tộc đều ca ngợi danh Ngài. Xin nâng đỡ họ trong những công việc họ làm để phục vụ người nghèo khó, kẻ đói ăn, người thất vọng, kẻ hèn mọn và hết mọi người đang thành tâm tìm kiếm Con của Mẹ” (số 112).

Nhất là với các linh mục của Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha đã trao gởi họ cho Mẹ Thiên Chúa bằng những lời nguyện tha thiết, hết sức cảm động:”Lạy Mẹ Đức Giêsu Kitô. Mẹ đã ở với Ngài vào lúc khởi đầu cuộc sống và sứ vụ của Ngài, Mẹ đã tìm kiếm Ngài, khi Ngài đang làm Thầy giữa đám đông. Mẹ đã đứng kề bên Ngài, khi Ngài được nâng lên khỏi mặt đất, hoàn tất mọi sự để trở nên hy lễ duy nhất vĩnh cửu, xin hãy đón nhận những kẻ được Chúa mời gọi, khi họ cất những bước đầu tiên trên nẻo đường của họ, xin hãy sát cánh với những người làm con Mẹ trong đời sống và trong thừa tác vụ, lạy Mẹ là Mẹ các linh mục!” (Pastores Dabo Vobis – Những mục tử như lòng mong ước).

3. Đối với giới trẻ.

Đối với giới trẻ thế giới, những người bạn trong cuộc đời của Đức Thánh Cha, được Người dành cho cả một bầu tim yêu thương của vị giáo hoàng lừng danh. Ta sẽ chẳng khó khăn gì, ngược lại rất dễ dàng, tìm thấy bằng chứng của tình yêu dạt dào nơi trái tim Đức Thánh Cha dành cho giới trẻ. Bởi hầu như bất cứ chỗ nào Người hiện diện – đặc biệt trong các lần Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, những lần tiếp kiến riêng với giới trẻ, những lần đi thăm mục vụ ở các quốc gia… – tình yêu người trẻ mà Người bày tỏ hết sức chân thành, hết sức tự nhiên và nồng ấm vô cùng, làm cho bất cứ ai có mặt đều phải cảm động, đều ghi khắc trong tim mình. Chính vì thế, vị Cha Chung kính yêu của Giáo Hội cũng được các bạn trẻ yêu mến và thảo hiếu cách đặc biệt.

Là một người Cha yêu mến không ngừng đoàn con trẻ trung của mình, và là một người con trung nghĩa của Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Gioan Phaolô II đã âu yếm giới thiệu Đức Mẹ như người Mẹ hoàn hảo, nguồn an ủi, sự cảm thông trong cuộc đời các bạn: “Trên Thánh Giá, Chúa Con đã có thể san sẻ những đau khổ của Người nơi trái tim của Mẹ. Mỗi người con chịu đau khổ đều cảm thấy nhu cầu đó. Hỡi các bạn trẻ, cả các con nữa, các con cũng gặp những đau khổ như cô đơn, thất bại và những thất vọng trong cuộc sống bản thân, những khó khăn trong việc hội nhập vào thế giới người lớn, và trong đời sống nghề nghiệp, những chia ly và tang tóc trong gia đình các con, bạo lực, chiến tranh và cái chết của những người vô tội. Nhưng trong những giờ phút khó khăn mà mỗi người đều gặp phải trong cuộc đời, các con hãy biết rằng các con không đơn độc: như với thánh Gioan dưới chân Thánh Giá, Chúa Giêsu cũng ban Mẹ Ngài cho các con… Đức Maria là thiên ân vì Mẹ là Mẹ của Tác Giả ơn thánh. Các con hãy hoàn toàn tín nhiệm phó thác cho Mẹ! Hãy chiếu tỏa rạng ngời vẻ đẹp của Chúa Kitô khi cởi mở đón nhận hơi thở của Thánh Linh. Các con sẽ trở thành những tông đồ can trường có khả năng truyền bá chung quanh các con ngọn lửa bác ái và ánh sáng chân lý. Nơi trường học của Mẹ Maria, các con sẽ khám phá sự dấn thân cụ thể mà Chúa Kitô mong chờ nơi các con, hãy học cách đặt Chúa ở vị trí đầu tiên trong cuộc đời các con, hướng mọi hành động và tư tưởng của các con về Chúa” (Sứ điệp Giới trẻ lần thứ 18, năm 2003).

Với một lòng yêu mến giới trẻ lớn lao như thế. Vì thế, họ đã không thể nào quên ơn Đức Thánh Cha. Đặc biệt trong những ngày Đức Thánh Cha nằm xuống, một rừng người trẻ từ khắp nơi trên thế giới thương tiếc và cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Còn tại giáo đô Vatican của Giáo Hội, người ta không thể nào đếm hết con số các bạn trẻ đến tham dự lễ tang của Người. Và chắc chắn, trong lời cầu nguyện của mình, người Mẹ Thiên Quốc cũng được kêu nài không ít trên môi miệng giới trẻ để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha.

4. Những biến cố liên quan đến kinh Mân Côi.

Trong cuộc bị mưu sát ngày 31.5.1981 tại Quảng trường thánh Phêrô, dù bị bắn đến bốn phát súng 9mm, và hai phát súng trúng thẳng vào người Đức Thánh Cha, nhưng Đức Thánh Cha không chết, Người bị thương nặng và đổ gục xuống giữa cả một rừng người đang được Người tiếp kiến.

Chính kẻ bắn vào Đức Thánh Cha cũng hết sức ngạc nhiên, anh ta không thể hiểu được vì sao Người không chết. Sự kiện lạ thường ngoài sức tưởng tượng này, đã xảy ra đúng vào ngày kính nhớ Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ ở Phatima, khiến Đức Thánh Cha nghĩ ngay đến Người Mẹ trên trời dấu yêu. Đức Thánh Cha kết luận: “Một người bắn, nhưng một người khác hướng dẫn đường đạn”. Và Đức Thánh Cha thêm: “Đức Mẹ Maria đã cứu sống tôi”.

Do sự kiện trên, đúng một năm sau ngày bị ám sát, Đức Thánh Cha đã hành hương đến Phatima để tạ ơn Đức Mẹ. Cũng vì thế, kể từ năm 2002, Đức Thánh Cha công bố ngày 13.5 hàng năm sẽ trở thành ngày lễ kính Đức Mẹ Phatima. Chưa hết, để diễn tả lòng yêu mến Đức Mẹ thẳm sâu của mình, Đức Thánh Cha đã viết tông thư Rosarium Virginis Mariae – Kinh Mân Côi kính Đức Trinh Nữ Maria và công bố năm 2003 là Năm Thánh Mẫu Mân Côi, nhằm cổ suý việc đọc kinh truyền thống này để tôn vinh mầu nhiệm Mân Côi và các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu Thế. Qua đó, Đức Thánh Cha khuyên dạy các tín hữu hãy yêu mến, hãy chú trọng nhiều đến chuỗi Mân Côi trong đời sống Kitô hữu của mình, hãy chuyên chăm cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Chính trong năm Mân Côi dâng kính Chúa Kitô qua Mẹ Maria, Đức Thánh Cha đã thêm vào chuỗi Mân Côi truyền thống mầu nhiệm Năm Sự Sáng. Người đặc biệt mời gọi Giáo Hội nhìn vào mẫu gương của Mẹ Maria mà chiêm ngưỡng Chúa Kitô. Bởi “không ai đã say sưa chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô một cách trung thành như Đức Maria. Đôi mắt tâm hồn của Mẹ đã hướng về Người ngay từ lúc truyền tin, khi Mẹ cưu mang Người nhờ quyền năng Thánh Thần. Rồi trong những tháng sau đó, Mẹ bắt đầu cảm nhận sự hiện diện của Người và hình dung ra diện mạo của Người. Cuối cùng khi hạ sinh Người tại Bêlem, đôi mắt Mẹ đã âu yếm nhìn ngắm dung nhan Con Mẹ, khi Mẹ lấy tã bọc con rồi đặt nằm trong máng cỏ. Từ đó, đôi mắt chan chứa sự tôn thờ và kinh ngạc của Mẹ không bao giờ rời xa Người… Sáng ngày Phục sinh, cái nhìn của Mẹ tỏa rạng niềm vui Phục sinh…” (Rosarium Virginis Mariae – số 10).

5. Chúc thư cuối cùng.

Và đây, trong những ngày tang lễ này, khi mà Đức Thánh Cha vừa mới nhắm mắt từ giả cuộc đời, chỉ còn hiện diện hữu hình với toàn Giáo Hội bằng thân xác bất động. Nhưng ngay cả sự hiện diện hữu hình cuối cùng ấy cũng đang nhường chỗ cho một sự hiện diện lớn, hiện diện bao trùm, hiện diện thiêng liêng, và hiện diện toàn thể bằng tình yêu, bằng lời cầu nguyện trong Nhà Cha Chung trên trời, Đức Thánh Cha vẫn còn bày tỏ cho cả Giáo Hội thấy nhiệm vụ Chủ Chăn của mình: Người để lại những lời huấn đức cuối cùng không phải bằng lời nói, nhưng bằng chữ viết cho Giáo Hội, đặc biệt là cho khách hành hương tại Vatican trưa Chúa nhật thứ II Phục sinh 3.5.2005. Một lần nữa, lần sau hết trong tất cả những lần huấn đức, Đức Thánh Cha lại tiếp tục cho thế giới thấy hình ảnh Đức Mẹ trong trái tim của Người.

Đức Tổng Giám mục Leonardo Sandri, nguyên Phụ tá Quốc Vụ khanh Tòa Thánh đã không giấu nổi nỗi niềm thương xót đối với vị Cha Già kính yêu của Giáo Hội khi đọc bài huấn đức cuối cùng này vào cuối thánh lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha tại Quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa nhật 3.4.2005. Nhiều người tham dự thánh lễ này đã bật khóc trước tâm tình của Đức Thánh Cha. Chúng ta cùng nhau đọc lại bài huấn đức sau cùng này của vị Cha chung:

“Anh chị em rất thân mến!

1. Hôm nay đây lại vang lên lời hoan ca Alleluia của lễ Phụ Sinh. Bài Phúc Âm theo thánh Gioan hôm nay nhấn mạnh rằng, vào chiều hôm đó, Chúa Phục Sinh đã hiện ra cho các thánh Tông Đồ và ‘cho họ thấy bàn tay và cạnh sườn Ngài’ (Ga 20, 20), nghĩa là những dấu vết của một cuộc thương khó đau thương đã in dấu không phai mờ trên thân xác Ngài ngay cả sau sự Phục Sinh của Ngài. Những vết thương rực rỡ mà tám ngày sau đó Ngài đã bảo Tôma cứng lòng hãy chạm vào, tỏ lộ lòng thương xót của Chúa là Đấng ‘quá yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài’ (Ga 3, 16). Mầu nhiệm tình yêu này là trung tâm của phụng vụ hôm nay, Chúa nhật ‘Ngày cuối cùng của tuần lễ sau lễ Phục Sinh’, dành để kính lòng thương xót của Chúa.

2. Đối với nhân loại thường bị lung lạc hay đè bẹp bởi quyền năng của tội lỗi, tự ái và sợ sệt, Chúa Phục Sinh ban cho họ tình yêu của Ngài như một hồng ân tha thứ hòa giải và tái mở rộng tâm hồn cho hy vọng. Đây chính là tình yêu hoán cải con tim và đem lại bình an. Thế giới này cần thấu hiểu và chào đón lòng thương xót của Chúa biết bao!

Lạy Chúa, Đấng đã dùng cái chết và sự Phục Sinh của Ngài để mạc khải tình yêu Chúa Cha, chúng con tin kính Chúa và với lòng cậy trông, chúng con lặp lại ngày hôm nay: Lạy Chúa Giêsu, con tin cậy nơi Chúa, xin thương xót chúng con và toàn thế giới.

Phụng vụ trọng thể ngày lễ Truyền Tin mà chúng ta cử hành ngày mai dẫn chúng ta đến việc chiêm niệm với đôi mắt của Đức Mẹ mầu nhiệm cao cả của tình yêu đầy lòng thương xót trào ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Nhờ sự trợ giúp của Mẹ, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa thực sự của niềm vui phục sinh dựa trên điều xác tín này: Đấng Mẹ đã cưu mang trong lòng, Đấng đã chịu khổ nạn và chết vì chúng ta, đã sống lại thật. Alleluia”.

Phải chăng do lòng yêu mến Đức Mẹ của mình, Đức Gioan Phaolô II, giáo hoàng, người con, người tôi tớ của Đức Mẹ, đã được Thiên Chúa yêu thương, vì thế Thiên Chúa đã cho phép Người trở về Nhà Chúa trong chính những giờ phút cuối của ngày thứ Bảy Đầu tháng, ngày dâng kính Đức Mẹ? Đó cũng chính là đêm thứ Bảy sau lễ Phục Sinh, đêm vọng Chúa nhật kính lòng thương xót của Chúa. Bởi vậy, ngày Đức Thánh Cha ra đi trở thành ngày lịch sử đáng nhớ.

Cũng vậy, chính vì cảm nhận lòng yêu mến Đức Mẹ quá lớn lao của Đức Thánh Cha, cũng như để nhắc nhở nhau noi gương Người sống lòng yêu mến Đức Mẹ, mà khi tẩn liệm Người, các bạc lãnh đạo trong Giáo Hội đã cho khắc chữ M, là chữ viết đầu của tên Đức Mẹ Maria trên nắp cổ quan tài đơn sơ của Đức Thánh Cha, bên cạnh và phía dưới hình ảnh cây Thánh Giá của Chúa Giêsu.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng của lòng yêu mến Đức Mẹ, đã dâng hiến cho Đức Mẹ hết tất cả, dâng hiến đến cùng cả cuộc đời mục tử của mình. Totus Tuus! Ngay đến chiếc quan tài, bảo vật cuối cùng để bao bọc thân xác Đức Thánh Cha, cũng là bảo vật kính dâng Đức Trinh Vương Maria. Cám ơn Đức Mẹ đã gìn giữ Đức Thánh Cha trong suốt đời của Người, nhất là trong 26 năm rưởi làm giáo hoàng vừa qua. Cám ơn Đức Mẹ, vì sự che chở của Mẹ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã hoàn thành nghĩa vụ xuất sắc. Cám ơn Đức Mẹ, qua sự lãnh đạo của Đức Thánh Cha, Mẹ đã hướng dẫn đàn con là Giáo Hội của Chúa Kitô đi trong đường lối cứu độ của Chúa Kitô, người con một yêu dấu của Mẹ. Xin cho chúng con lặp lại, và lặp lại không ngừng khẩu hiệu của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mà tôn vinh Mẹ suốt đời chúng con: TOTUS TUUS!

III. KẾT LUẬN.

Có thể nói, cuộc đời của vị Giáo Hoàng thời danh Gioan Phaolô II, là một cuộc đời gắn kết mật thiết với Đức Nữ Trinh Maria, để cùng với Mẹ, tiến về Chúa Giêsu Kitô, con Mẹ. Bởi đó, nhìn vào cuộc đời của Đức Thánh Cha, ta không sợ sai lầm khi khẳng định: Người là vị Giáo Hoàng của Đức Mẹ, của riêng Đức Mẹ. Người đã làm tất cả mọi điều có thể để dâng kính Đức Maria, từ huy hiệu Giám mục, sau đó là huy hiệu Giáo Hoàng có khắc chữ M, chữ cái đầu của thánh danh Đức Mẹ, rồi khẩu hiệu Giám mục và Giáo Hoàng “Totus Tuus”, để nói lên lòng mong mỏi được đồng hành cùng Đức Mẹ, và phó thác cho Đức Mẹ đời mục tử của mình, đến sự kiện biểu lộ lòng biết ơn Đức Trinh Nữ, khi đặt lên chiếc triều thiên của tượng Đức Mẹ tại đền thánh Phatima ngày 13.5.1982,  viên đạn lấy ra từ thân thể sau khi bị ám sát hụt.

Càng tiến xa hơn nữa trong nghĩa cử tỏ lộ lòng yêu mến Nữ Vương Phatima, đó là cuộc hành hươn đền thánh Phatima năm 2000, Đức Thánh Cha đã đặt dưới chân tượng Đức Mẹ Phatima chiếc nhẫn Giám mục quý giá do đức cố hồng y Stefan Wyszynski, Tổng giám mục thành Kracow dâng tặng lúc Người được bầu làm Giáo hoàng ngày 16.10.1979. Nhìn vào tất cả cuộc đời, sự sống, sự hoạt động, sự cầu nguyện… của Người, ta thấy quá rõ ràng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là người con thật hiếu thảo, thật hoàn hảo, thật xứng đáng với tình yêu của Mẹ trên trời, Đấng mà Người chọn làm bổn mạng trong suốt quảng đời làm mục tử, nhất là trong 26 năm rưởi trên chức vị giáo hoàng.

Bạn thân mến, Đức Thánh Cha đã từng viết nhiều sách, trong đó có một quyển sách mang tựa đề “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng”. Bây giờ Người đã thực sự bước qua Ngưỡng Cửa ấy, Ngưỡng Cửa của niềm hy vọng trời cao, để chiếm lĩnh niềm hy vọng là chính Thiên Chúa của mình. Từ nay Người vào trong hy vọng và trở thành niềm hy vọng của muôn người trên trần thế.

Còn bạn và tôi, dù tiếc thương Người Cha kính yêu, Người Cha của niềm hy vọng, chúng ta không khóc, không đau buồn, nhưng càng tăng thêm niềm hy vọng: đến một ngày, sau khi đã sống trong cuộc đời, đã lắng nghe lời giảng dạy, thực hiện những giáo huấn hướng về sự hoàn hảo mà Người luôn mời gọi, chúng ta sẽ như Người, tiến qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, để vào chiếm lĩnh chính niềm hy vọng vĩnh cửu là Chúa Kitô như Người.

Chúng ta không khóc để sống chính lời nhắn nhủ cuối cùng của Người ngay trước khi chia tay chúng ta bước vào một chuyến đi dài: “Cha rất hạnh phúc và các con cũng nên vui mừng. Đừng khóc. Hãy cùng cầu nguyện trong niềm vui”.

Nguyện xin Thiên Chúa, Đấng mà Đức Thánh Cha đã tin tưởng và phục vụ đến giây phút sau cùng đón nhận Người, đón nhận cả một hành trình trong đời mà Người đã trải qua và chấp nhận vô vàn những dấu ấn thăng trầm. Nguyện xin Đức Maria, Đấng mà Đức Thánh Cha luôn tung hô: “Totus Tuus” – Tất cả con là của Mẹ – hãy đón chào Đức Thánh Cha và dẫn Người đến trình diện trước tòa của Đấng hằng Sống và Cứu Chuộc. Xin Mẹ hãy tiếp tục cầu bàu và gìn giữ Giáo Hội, thành quả lớn lao do Người Con ưu tú của Mẹ đã dày công lãnh đạo và dẫn dắt cả một thời gian dài 26 năm rưởi qua. Xin cho ánh sáng của lòng ham thích cầu nguyện và yêu mến Mẹ nơi Đức Thánh Cha, chiếu dãi không ngừng trên từng người chúng con, vì đó vừa là bí quyết để chúng con củng cố niềm hy vọng trời cao ngay khi còn sống trong cuộc đời, vừa là bí quyết giúp chúng con bước qua ngưỡng cửa hy vọng mai sau, để chiếm lĩnh NGUỒN HY VỌNG ĐỜI ĐỜI của chúng con.

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LUC

 

 

Những THÁCH ĐỐ

Khi các cơ quan truyền thông quốc tế nói tới danh tính Karol Wojtyla, vị Hồng Y gốc Ba Lan được Vatican chọn làm ngưới lãnh đạo tinh thần tối cao của thế giới Công Giáo thì không phải chỉ riêng các quốc gia Đông Âu mà cả Liên Bang Sô Viết đều phải bàng hoàng sửng sốt. Và trong tâm trạng bàng hoàng sửng sốt ấy có hàm ẩn một nỗi băn khoăn lo ngại.

Qua những cuộc họp bàn tại điện Câm Linh, hoặc qua những đường giây điện thoại mật nối liền Mạc Tư Khoa với Varsovie, Prague, Đông Bá Linh, Budapest.... các lãnh tụ cao cấp trong thế giới cộng sản bắt đầu trao đổi bàn bạc với nhau về một phương sách nhằm triệt tiêu, hoặc ít nữa là giảm thiểu, ảnh hưởng của vị tân Giáo Chủ thế giới Công Giáo.

Đến khi Vatican bắn tiếng về dự tính muốn về thăm quê hương của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vào thượng bán niên 1979 thì mối lo ngại của các lãnh tụ đỏ ở điện Cẩm Linh biến thành phẫn nộ. Và sự phẫn nộ ấy được trút lên đầu những lãnh tụ đàn em ở Varsovie qua những cuộc điện đàm, những văn thư mật. Dĩ nhiên, bên cạnh sự phẫn nộ cũng kèm theo cả những khuyến cáo, những hăm dọa thường lệ.

Thật ra, trong tác phẩm “Pope John Paul II -The Biography”, Tad Szulc đã cho biết là không phải chờ qua năm 1979, trong buổi lễ đăng quang tại Công Trường Thánh Phêrô ngày 23-10-1978, tức là chỉ hơn một tuần sau khi được chọn vào ngôi vị Giáo Hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã nói thẳng với Jablonski, chủ tịch nhà nước cộng sản Ba Lan, lúc ấy với tư cách người cầm đầu phái đoàn Varsovie trong buổi lễ, là Ngài có ý định về thăm Ba Lan.

Đức Thánh Cha nói:

“Tôi tha thiết mong mỏi được về thăm đất nước vào dịp kỷ niệm 900 năm ngày thánh Stanislaw tuẫn đạo.....Tôi tin tưởng rằng dịp kỷ niệm trọng đại này sẽ giúp canh tân đời sống luân lý cũng như niềm tin của các tín hữu Ba Lan. Bởi vì toàn dân ta đều coi thánh Stanislaw như vị thánh bảo trợ đời sống tinh thần cũng như trật tự của đất nước Ba Lan từ ngót một ngàn năm qua.....”.

Đứng về khía cạnh tôn giáo thuần túy, thời điểm chọn lựa này mang một ý nghĩa tinh thần, nếu không muốn nói là bình thường. Nhưng dưới mắt nhà nước cộng sản, nó trở nên những suy diễn nhức nhối cho chế độ. Và đấy là lý do sau này khi chẳng đặng đừng phải chấp thuận để cho Đức Gioan Phaolô II mở chuyến tông du đầu tiên tại Ba Lan, các lãnh tụ cộng sản ở Varsovie đã chỉ bằng lòng cho Ngài tới vào thượng tuần tháng 6-79, tức là một tháng sau ngày kỷ niệm Thánh Stanislaw.

Vẫn theo Tad Szulc thì sự úy kỵ đối với nhà nước cộng sản Ba Lan về ngày kỷ niệm vị Anh Hùng Tuẫn Đạo này đã có từ lâu khi vị Giáo Chủ Công Giáo còn là Hồng Y. Thuở ấy, với cương vị Tổng Giám Mục Krakow, Ngài luôn luôn yêu sách nhà cầm quyền phải để cho giáo dân tổ chức các cuộc rước kiệu vĩ đại xuyên qua thành phố nhằm tôn vinh Thánh Stanislaw. Đây là một điều gây nhiều nhức nhối cho chế độ. Dưới mắt những người cộng sản, Giáo Hội Ba Lan có dụng ý đồng hóa chế độ hiện tại với triều đại của vị Hoàng Đế đã hạ lệnh sát hại Giám Mục Stanislaw vào ngày 8-5-1079.

Trong khi ấy, Mạc Tư Khoa vẫn không ngớt dồn áp lực lên các thành phần thuộc trung ương đảng bộ cộng sản Varsovie, buộc phải tìm cách ngăn chặn cuộc viếng thăm Ba Lan của Đức Gioan Phaolô. Các tác giả “Pope John Paul II -The Biography” và “His Holiness...” đều thuật lại là ngay sau khi hay tin Giáo Hội Ba Lan chính thức mời Đức Thánh Cha về thăm quê hương, Tổng Bí Thư cộng đảng Liên Sô Brezhnev đã công khai tỏ bày thái độ công phẫn, đồng thời cấp tốc gọi điện thoại cho Đệ Nhất Bí Thư cộng đảng Ba Lan là Gierek để khiển trách.

Xuyên qua nội dung cuộc điện đàm giữa hai nhân vật này được Tad Szulc ghi lại trong cuốn “Pope John Paul II” đã giúp cho người đọc hình dung được phần nào phản ứng của điện Cẩm Linh. (Chi tiết này cũng như tất cả những văn kiện có tính cách tối mật được Tad Szulc cũng như hai tác giả “His Holiness...” ghi nhận chỉ được bạch hóa sau ngày chủ nghĩa cộng sản quốc tế sụp đổ).

“Theo lời kể lại của Gierek thì trong cuộc điện đàm, sau khi nhắc lại tin giáo quyền Ba Lan  chính thức lên tiếng mời Đức Gioan Phaolô qua thăm, Beezhnev lên tiếng cật vấn để biết thái độ của ông ta về vấn đề này. Và cuộc đối thoại diễn ra như sau:

“Brezhnev: Đồng chí dự tính sẽ xử sự ra sao về vấn đề này?

“Gierek: Tôi sẽ long trọng tiếp đón Ngài.”

“Brezhnev:  Tôi  khuyên  đồng chí đừng tiếp ông ta. Nếu không, sẽ là căn cớ tạo nên rắc rối sau này.”

“Gierek: Bằng cách nào tôi có thể từ chối không đón tiếp vị Giáo Hoàng người Ba Lan khi mà đại đa số đồng bào tôi là tín hữu Công Giáo? Đối với họ, trường hợp Karol Wojtyla được chọn làm Giáo Hoàng là một danh dự lớn. Đồng chí thử nghĩ xem tôi sẽ ăn nói làm sao với dân chúng nếu tôi không đón tiếp Ngài?

“Brezhnev: Giáo Hoàng là một người khôn ngoan. Đồng chí cứ đưa ý kiến cho ông ta là nên công khai tuyên bố là không thể qua Ba Lan vì lý do sức khoẻ.”

“Gierek: Đồng chí Leonid, tôi không thể làm như thế. Tôi phải tiếp đón Ngài.”

“Brezhnev: Gomulka là một người cộng sản khá hơn, bởi vì đã biết từ chối không cho Giáo Hoàng Phaolô VI thăm Ba Lan trước đây nên đã không có chuyện gì ghê gớm xảy ra. Nhờ thế mà Ba Lan tồn tại. Và Ba Lan sẽ tiếp tục tồn tại, nếu lần này đồng chí cũng làm như vậy.”

“Gierek: Dù sao, trên phương diện chính trị buộc tôi phải đón tiếp Ngài”2.

Thật ra, người ta được biết sở dĩ  Trung Ương Đảng Bộ cộng sản Varsovie bị đặt vào thế chẳng đặng đừng phải bật đèn xanh cho Giáo Quyền Ba Lan đạt thư mời Đức Gioan Phaolô II qua thăm viếng là vì những áp lực ngay từ quốc nội. Trong tác phẩm “The Catholic Church In World Politics” (Giáo Hội Công Giáo Trong Chính Trị Thế Giới), Eric O. Hanson đã nêu lên hai lý do buộc nhà nước phải hành động như vậy.

Trước hết, vì Gierek không thể quên được sự can thiệp kịp thời của Hồng Y Wyszynski vào năm 1970. Nếu không có sự can thiệp này, chính quyền của ông đã bị sụp đổ lúc bấy giờ. Thứ hai là sau khi chính thức gửi văn thư mời Đức Thánh Cha qua viếng Ba Lan, Hội Đồng Giám Mục nước này đã soạn một bản kinh cầu nguyện được đọc tại khắp các giáo đường trên toàn quốc với nội dung xin Thiên Chúa can thiệp để cuộc thăm viếng Ba Lan của Ngài không bị ngăn cản. Sự kiện này đã đương nhiên trở thành một áp lực công khai của tuyệt đại đa số nhân dân Ba Lan 3.

Và như thế chuyến trở về thăm quê hương lần thứ nhất của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã diễn ra như một phép lạ, tạo nên những biến chuyển nhanh chóng trong chính tình Ba Lan, và làm cho Mạc Tư Khoa thêm rúng động.

Vào những tháng cuối năm 1979 và suốt năm 1980, các công nhân thuộc các xí nghiệp đã liên tiếp phát động những cuộc đình công đòi quyền sống, quyền làm việc và quyền tham gia, điều hành các tổ chức công đoàn không thuộc hệ thống nhà nước. Ngày 27-8-1980, với sự yểm trợ tinh thần của Đức Gioan Phaolô II, Hội Đồng Giám Mục Ba Lan thông qua một bản tuyên ngôn đề cập tới quyền được thành lập những tổ chức độc lập đại diện cho giới công nhân.

Trước tình thế ấy, nhà nước không có con đường nào khác hơn là phải nhượng bộ. Ngày 31-8, những thỏa hiệp mang tính cách lịch sử đã được ký kết tại Gdansk giữa đại diện nhà nước cộng sản Ba Lan và giới công nhân, mà Lech Walesa là một khuôn mặt tiêu biểu. Giới truyền thông ghi nhận: Lần đầu tiên một tổ chức công đoàn tư đã ra đời tại một nước cộng sản.

Tiếp sau đó, do áp lực của Liên Sô và các chư hầu cộng sản Đông Âu, ngày 5-9, Gierek bị mất chức Đệ Nhất Bí Thư Đảng để nhường chỗ cho Stanislaw Kania. Cũng trong khoảng thời gian này, nhiều cuộc họp mật đã liên tiếp diễn ra tại điện Cẩm Linh. Các tác giả Carl Bernstein và Marco Politi đã công bố trong tác phẩm “His Holiness...” nhiều tài liệu thuộc loại “Tối Mật” (Top Secret) mà sau này khi chủ nghĩa Mác Xít tại Đông Âu và Liên Sô sụp đổ mới được bạch hóa. Dưới đây là một trong những tài liệu ấy:

Tối Mật -Bản Duy Nhất -Không Phổ Biến

Chủ Tọa: Đồng chí Brezhnev L.I.

Tham Dự Viên: Các đồng chí Andropov I.V., Gorbachev M.S., Grishin V.V., Gromyko A.A., Kirilenko A.P., Oelshi A.Ia., Suslov M.A., Tikhonov N.A., Ustinov D.F., Chernenko K.U., Demichev P.N., Kuznetsov V.V., Ponomarev B.N., Solomentsev M.S., Dolghikh V.I., Zimianian M.V., Rusakov K.V.

Khai mạc phiên nhóm mật, Brezhnev nghiêm nghị lên tiếng:

Sự thật là bọn phản cách mạng đã tràn ngập Ba Lan......Chúng đã khởi sự chiếm quốc hội và tiếp tục nói là quân đội nằm trong tay chúng. Lech Walesa di chuyển khắp nước và ở đâu y cũng được hoan nghênh. Giới lãnh đạo cũng như báo giới hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Cả truyền hình cũng ngả theo những thành phần phản xã hội chủ nghĩa.......Có lẽ đã đến lúc Ba Lan phải ban bố lệnh giới nghiêm.

Yuri Andropov, người cầm đầu KGB nói:

Tôi nghĩ rằng giới lãnh đạo ở Varsovie không ý thức được tầm mức nghiêm trọng của tình thế.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Ustinov lên tiếng phàn nàn:

Những đồng chí Ba Lan của chúng ta nói thật nhiều nhưng vô nghĩa. Hiển nhiên Walesa và đồng bọn đã chiếm đài phát thanh ở Wroclaw.

Brezhnev ghi nhận:

Một cuộc đình công nhỏ vừa diễn ra tại Nam Tư. Dù nhỏ nhưng nó đã trở thành nghiêm trọng. Khoảng 300 người đã bị tống giam.

Ustinov lên tiếng cảnh giác:

Trừ khi lệnh thiết quân luật đuợc ban hành, nếu không tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn. Cũng có một vài chuyển động nhỏ trong quân đội. Nhưng các đơn vị phía bắc của ta đã sẵn sàng lâm chiến.

Sau đó, ngoại trưởng Gromyko lên tiếng giọng đầy lo sợ:

Chúng ta không thể mất Ba Lan. Trước đây, hồng quân Liên Sô đã thiệt mất 600,000 bộ đội để giải phóng Ba Lan khỏi tay Đức quốc xã. Chúng ta không chấp nhận phản cách mạng.....”4.

Vào những ngày mùa thu năm 1980, những chuyển biến trong tình hình chính trị Ba Lan đã làm rúng động các giới lãnh đạo cộng sản ở Đông Bá Linh, Budapest, Prague, khiến họ phải lên tiếng kêu cứu với Mạc Tư Khoa. Tại Đông Đức, Lãnh tụ đảng kiêm Chủ tịch nhà nước Erich Honecker hăm dọa sẽ huy động lực lượng quân sự của minh ước Varsovie để can thiệp vào tình hình Ba Lan. Ngày 28-10, chính phủ của ông ta đã ra lệnh kiểm soát gắt gao những sự di chuyển của dân chúng qua biên giới Ba Lan, chấm dứt sự tự do đi lại vốn có giữa hai nuớc từ ngót 10 năm qua.

Trong phiên họp ngày 29-10, Andrei Kirilenko đã nói với các ủy viên trong Chính Trị Bộ cộng đảng Liên Sô rằng:

“Thái độ bất động khác thường của Kenia càng ngày càng trở nên khó hiểu đối với các nhà lãnh đạo trong các nước xã hội chủ nghĩa. Tỉ dụ như khi tôi nói chuyện với Husak và những đồng chí tại Tiệp, tôi nhận thấy hầu hết đều tỏ dấu ngạc nhiên về thái độ bất động như thế. Những người anh em này nêu lên một bằng chứng cụ th là khi họ xuống tay mạnh mẽ đối với những phần tử đã khích động trong một cuộc đình công tại một nhà máy thì đều đạt được kết quả tốt”5.

Ngay ngày hôm sau, 30-10, hai lãnh tụ lớn của Ba Lan là Thủ tướng Josef Pinkowski và Bí thư Stanislaw Kania được vời qua Mạc Thư Khoa tham dự một phiên họp khẩn của Bộ Chính Trị.

Tại đây, Brezhnev giận dữ tuyên bố:

“Những phần tử phản cách mạng đã mất hết tự chế. Tình trạng này đòi hỏi phải tuyên bố tình trạng khẩn trương.” Gromyko dè dặt khuyến cáo: Mọi người đều nhận thấy đây là giải pháp cần thiết để bảo toàn những thành quả cách mạng. Tuy nhiên, không nên ban bố tình trạng khẩn trương lúc này, nhất là khi hai đồng chí Kania và Pinkowski vừa từ giã Mạc Tư Khoa”6.

Trở lại Ba Lan với những lời hứa, nhưng bốn tuần lễ sau đó, hai lãnh tụ cao cấp trong đảng và nhà nước vẫn chưa biết hành động ra sao để ổn định tình thế. Trong khi ấy, giới công nhân lại tung ra một đợt đình công mới. Ngày 5-12, một phiên họp đặc biệt khác lại được triệu tập tại Mạc Tư Khoa với sự tham dự của các đại diện trong Liên Minh Varsovie. Và dĩ nhiên, một lần nữa Kania lại được vời qua để nghe chỉ thị của Brezhnev và các lãnh tụ các nước láng giềng như Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi và Đông Đức.

Tất cả đều lên tiếng khuyến cáo giới hữu quyền Varsovie phải mạnh tay với Công Đoàn Đoàn Kết và Giáo Hội Ba Lan, nếu không thì liên quân trong minh ước Varsovie sẽ hành động để giúp Ba Lan ổn định tình hình. 18 sư đoàn đã túc trực ở biên giới Ba Lan và ở trong tư thế sẵn sàng hành động.

Sau đó, trong một cuộc gặp gỡ riêng, khi Kania tỏ ý lo ngại về một hình ảnh Liên Sô vấy máu nếu có sự can thiệp bằng quân sự thì Brezhnev nói:

“Tạm đồng ý, lúc này chúng ta chưa đổ quân vào lãnh thổ Ba Lan. Tuy nhiên, nếu tình hình trở nên tồi tệ, lúc ấy chúng ta sẽ không còn có lựa chọn nào khác hơn”7.

Cuối mùa Xuân năm 1981, sau một thời gian được coi là yên tĩnh, tình hình Ba Lan lại trở nên sôi động. Hạ tuần tháng hai, Varsovie loan báo đóng cửa không phận  trong hai ngày với thâm ý ngăn chặn những phi cơ thám thính ngoại quốc trong khi có cuộc điều binh của minh ước Varsovie ở biên giới. Tại Đông Đức, tất cả các toa xe lửa đều bị quân đội trưng dụng. Dọc biên giới Ba Lan, 150,000 hồng quân Nga Sô, Đức và các nước trong vùng được đặt trong tư thế sẵn sàng tiến vào lãnh thổ Ba Lan để triệt hạ những thế lực mà họ gọi là phản cách mạng.

Ngày 23-2-80, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã gửi một văn thư cho Brezhnev yêu cầu ông ta hãy tự chế không được can thiệp vào nội bộ Ba Lan, nhất là phải tôn trọng quyền gia nhập công đoàn của giới công nhân. Vẫn theo tác giả “His Holiness...” thì trong thời gian này có lời đồn thổi (tuy thiếu căn cứ nhưng được loan truyền rộng rãi ở Ba Lan và một vài giới ở Vatican) là nếu xảy ra trường hợp hồng quân Nga xâm lăng Ba Lan thì bản thân Đức Thánh Cha sẽ về để dùng chính thân xác Ngài bảo vệ dân chúng trước xe tăng và họng súng của quân xâm lược.

Ngày 28-3, Đại sứ Nga tại Ý tới yết kiến Đức Thánh Cha trong hai tiếng đồng hồ. Sau đó, Ngài cho Đức Hồng Y Casaroli biết rằng Mạc Tư Khoa hứa sẽ không can thiệp vào nội bộ Ba Lan trong vòng 6 tháng nếu Tòa Thánh giúp ngăn chặn được những biến cố đừng trở nên gay gắt hơn tại quốc gia này, bằng cách kêu gọi Công Đoàn Đoàn Kết ngưng các cuộc đình công bãi thị.

Tuy vậy, để chuẩn bị cho những biện pháp cứng rắn hơn, trước đó, Mạc Tư Khoa đã đặt tướng Jaruzelski vào chức vụ Thủ tướng trong guồng máy nhà nước cộng sản Ba Lan. Ngay sau đó một loạt những thay đổi trong guồng máy quân đội đã diễn ra. Những sĩ quan và binh sĩ lớn tuổi vốn có nhiều cảm tình với Công Đoàn Đoàn Kết đã được cho về hưu để thay thế bằng những người trẻ trung thành với đảng và nhà nước hơn. Trong khi ấy hình ảnh của Công Đoàn càng ngày càng trở nên hấp dẫn không những với quần chúng Ba Lan mà còn cả với thế giới, bên trong cũng như bên ngoài bức màn sắt.

Thượng tuần tháng Tư, tướng Jaruzelski nhận được mật lệnh từ điện Cẩm Linh là phải cùng với Kania tới hội kiến với một nhóm đại diện Brezhnev ở một địa điểm mật vào một thời điểm sẽ được thông báo sau. Nhớ lại một kinh nghiệm trong quá khứ khi chủ tịch nhà nước Tiệp Khắc là Alexander Dubcek được triệu thỉnh qua Mạc Tư Khoa và bị giam giữ sau đó, tướng Jaruzelski thoáng lạnh mình. Ông vội vã tìm tới một người bạn thân là tướng Michal Janiszewski để yêu cầu ông ta giúp săn sóc vợ con cho ông, nếu cần.

Nhớ lại giây phút ấy, sau này tướng Jaruzelski tâm sự: “Tôi không thể tiết lộ điều gì hơn với Janiszewski, nhưng tôi nghĩ rằng ông hiểu được điều tôi muốn nói. Với một cử chỉ khác thường, ông ôm tôi giây lâu trong vòng tay và không nói một lời.”

Đem theo một tùy viên thân tín, một khẩu súng ngắn, một trái lựu đạn chứa hơi độc, Jaruzelski tới văn phòng Kania. Sau đó hai người lái xe tới phi trường quân sự ở Okecie. Đúng 7 giờ tối, cả hai được hướng dẫn tới một phi cơ nhỏ, vô danh, không có nhãn hiệu ngôi sao đỏ của hồng quân, cũng không phải là loại phi cơ quen thuộc được dùng trong chính quyền Nga. Trên phòng lái chỉ có một phi tiêu. Cuộc hành trình kéo dài trong khoảng non một tiếng đồng hồ. Phi cơ đáp xuống một khu vực thuộc hạt Brest-Litovsk bên kia biên giới Nga.

Tác giả Holiness thuật lại rằng:

“Khi ấy, tôi (Jaruzelski) nhận ra là chúng tôi đang ở rất xa với những phòng ốc của phi trường với những ngọn đèn đặc biệt. Ba chiếc xe Volgas có màn che kín cửa kính nhưng không có bảng số đã túc trực để chờ chúng tôi. Những người trong xe mặc thường phục và không cần trình giấy tờ chứng minh họ thuộc về sở KGB khi đi qua các trạm gác. Tôi, Kania và người tùy viên thân tín được hướng dẫn lên xe đầu. Và đoàn xe khởi hành ngay lập tức. Tôi không hề nhận biết là chúng tôi sẽ đi về đâu....

“Sự thiếu vắng bảng đường càng khiến tôi có cảm tưởng là chúng tôi đang đi tới một hành tinh trong một thế giới xa lạ. Vào một lúc nào đó, đoàn xe đi vào một khúc đường ngắn không tráng nhựa trước khi ngừng lại tiền đình một ngôi nhà vĩ đại xây bằng gạch đỏ tọa lạc giữa một đồn lính và một trại giam. Giây phút ấy, tôi nhủ thầm: có thể đây là một chuyến đi không hẹn ngày trở lại. Lặng lẽ tôi liếc nhìn Kania và hiển nhiên anh cũng có chung một cảm giác như tôi.”

Jaruzelski và Kania bước xuống xe và chợt nhận ra Andropov, trùm mật vụ Nga và Ustinov, Bộ trưởng quốc phòng Nga cũng vừa xuống xe. Bốn người tiến vào một toa xe lửa sang trọng được dùng trong những cuộc họp mật giữa các yếu nhân với một chiếc bàn hình chữ nhật phủ nỉ xanh, chung quanh có những chiếc ghế bành, và bên cạnh có một quầy thực phẩm đầy nhóc bánh kẹp, trà, cà phê, rượu, cá và thịt hộp.

Cuộc họp khởi diễn ngay sau đó và kéo dài trong sáu tiếng đồng hồ cho tới 3 giờ sáng hôm sau mới chấm dứt. Ustinov và Andropov nhắc lại điều mà họ gọi là những tội lỗi mà nhà nước Ba Lan đã vấp phải để đi tới kết luận là chỉ còn một giải pháp duy nhất là: ban bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ Ba Lan. Bất kể những lời đề kháng của Jaruzelski và Kania, hai viên chức Nga không hề chuyển lòng.

Theo quan điểm của họ thì phải đặt Công Đoàn Đoàn Kết ra ngoài vòng pháp luật. Quân đội phải được vận dụng để chống lại những kẻ thù của xã hội chủ nghĩa. Giáo Hội phải trở về với vị trí của mình, không được can dự vào chính trị. Ustinov nói:

“Tại nhiều nước, ngay sau khi có những vụ nổi dậy, người ta ban bố ngay lệnh thiết quân luật. Thí dụ như ở Nam Tư, khi có cuộc biểu tình ở Kosovo, nhà nước ban bố lệnh giới nghiêm và không một ai dám nói gì. Chúng tôi không hiểu tại sao Ba Lan lại e sợ biện pháp này”8.

* * * * *

Hồi 5 giờ chiều ngày 13-5-81 nhằm ngày Thứ Tư, theo thông lệ, Đức Gioan Phaolô II tới Công Trường Thánh Phêrô gặp gỡ khách hành hương. Bỗng dưng có tiếng nổ chát chúa khiến đàn bồ câu hoảng hốt cất cánh bay lên. Từ trên lầu cao nhìn xuống, người ta thấy Đức Thánh Cha trong bộ áo trắng, bỗng dưng ngã chúi vào người cận vệ bên cạnh Ngài. Theo lời thuật lại của Đức Ông Dziwisz thì có kẻ vừa bắn vào bụng Ngài. Lập tức, người tài xế vội vàng chở Đức Thánh Cha tới một xe cứu thương để đưa Ngài tới bệnh viện cấp cứu.

Là người ở bên cạnh Đức Thánh Cha, nên Đức Ông Dziwisz theo sát từng biến chuyển trên gương mặt Ngài trong giây phút thập tử nhất sinh ấy. Đức Ông cho hay: “Hai mắt Ngài nhắm nghiền, dường như đang trải qua một cơn đau đớn dữ dội, trong khi miệng Ngài liên tiếp kêu: Maria Mẹ con, Maria Mẹ con”. Đoạn đường từ Công Trường tới bệnh viện mất 8 phút, và khi xe cứu thương tới nơi thì Đức Thánh Cha đã hoàn toàn lâm vào tình trạng hôn trầm. Tại đây, Ngài đã trải qua một cuộc giải phẫu kéo dài trong 5 tiếng đồng hồ 20 phút. Khoảng 60% lượng máu bị mất. Bác sĩ giải phẫu đã phải cắt đi 22 inches ruột non của Ngài.

Đối với Đức Gioan Phaolô II, sự kiện thời điểm Ngài bị mưu sát nhằm đúng ngày Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ ở Fatima phải được coi là một huyền nhiệm. Do đó Ngài xác tín rằng chính Đức Trinh Nữ Maria đã cứu mạng sống của Ngài. Trong thời gian tĩnh dưỡng, có lần Đức Thánh Cha tâm sự: “Bàn tay kẻ ác bóp cò súng mong lấy mạng sống của tôi, nhưng bàn tay Đức Mẹ đã điều hướng đường bay của viên đạn để cứu tôi.”

Được biết, kẻ mưu sát Đức Thánh Cha là Mehmet Ali Agca. Y sử dụng khẩu súng Browning 9 mm nhắm bắn Ngài nhiều phát nhưng chỉ trúng hai. Dư luận cho rằng Agca được thuê mướn và bảo vệ bởi mật vụ Bảo Gia Lợi, một tổ chức do mật vụ Nga KGB điều khiển.

Khi Đức Cha Deskur tỏ ý thắc mắc là tại sao Đức Thánh Cha không quan tâm tới vụ điều tra tung tích kẻ sát nhân thì Ngài trả lời: “Điều đó không làm tôi bận tâm, bởi vì đấy là hành vi của ác quỷ. Và ác quỷ thì có trăm phương nghìn kế, nhưng tất cả đều vô nghĩa đối với tôi.”9 Có điều xuyên qua vụ mưu sát tại Công Trường Thánh Phêrô chiều ngày 13-5-81, dư luận không thể không liên kết với những mưu toan thâm độc của tập đoàn cộng sản quốc tế, dưới quyền điều động của Liên Bang Sô Viết, nhằm làm bặt đi tiếng nói bất khuất của lương tâm nhân loại mà Đức Gioan Phaolô là một biểu tượng sáng ngời.

Nhà Văn Trần Phong Vũ _______________________________

1 Tad Szulc, “Pope John Paul II - The Biography”, tr 291.

2 Carl Bernstein & Marco Politi, “His Holiness...”, tr. 191.

3 Eric O. Hanson, “The Catholic Church In World Politics”, tr. 198.

4-5-6-7 Carl Bernstein & Marco Politi, “His Holiness...”, tr.247-248-249-250.

8 Carl Bernstein & Marco Politi, “His Holiness...”, tr. 280-281-282.

9 Carl Bernstein & Marco Politi, “His Holiness...”, tr. 296-297.

VỀ MỤC LUC 

 

 

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC GIÁO CHỦ

GIO-AN PHAO-LÔ II  (1920 – 2005)

 

Tiếng chuông từ giáo đường vang vọng

Tiếng chuông buồn chậm rãi, ngân nga

Tiếng chuông trầm thống, thiết tha

Tiếng chuông đưa tiễn hồn xa dương trần!

 

Một chiều Xuân tin buồn lan rộng

Vị đương kim Giáo chủ  ra đi!

Hồn Ngài lên  Ðấng Từ bi

Nhận muôn phần thưởng bởi vì nghiệp công!

 

Ngài  khôn ngoan  lái lèo Giáo hội

Hăm sáu năm tận sức của Ngài

Toàn cầu biết đến danh Ngài

Thăm hơn trăm nước miệt mài đường xa!

 

Ngài vốn coi con người là trọng

Ngài đề cao Công lý - Nhân quyền

Ðộc tài, áp bức, chính chuyên

Ngài đều lên tiếng trả quyền cho Dân.

 

Ba lan  vui mừng – Ngài nâng đỡ

Vì chính là nơi đó – Quê Ngài

Thăm dân, an ủi dài dài

Họ  đang hưởng một cuộc đời đẹp tươi!

 

Ngài can đảm trên đường Công lý

Luôn truyền rao Bác Ái, Vị tha

Ngăn ngừa tính dục, phá thai,

Hôn nhân nam nữ hòa  hài  âm dương!

 

Chống bạo động, chiến tranh, khủng bố

Ngài giải hòa hai nước, cá nhân

Sao cho thế giới nhân quần

Sống trong an lạc, mười phần ấm no.

 

Cả cuộc đời vững tin nơi Chúa

Ngài  nhiệt thành, phó thác, cậy trông

Dạy dân cây Ðức vun trồng

Hướng về Giới trẻ - Vườn hồng tương lai!

 

Tám mươi tư  - Ngài về với Chúa

Hăm sáu năm - Ngài đại thành công

Triều thiên danh dự thỏa lòng

Chúa trao Ngài bởi vì công nghiệp Ngài!

 

Ðoàn con thương tiếc cảm hoài!

 

Vĩnh biệt Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II!

Thay mặt một số tín hữu Công giáo

ngoài Công giáo, nhiều sắc dân.

Little Saigon 3-4-2005

Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ÐÌNH NGỌC

VỀ MỤC LUC

 

 

DẤU ẤN TÌNH YÊU

Mỗi cuộc sống đều có những cảm nghiệm khác nhau. Riêng tôi, có dịp vào sa mạc trống trong một thời gian dài vẫn là một cảm nghiệm ghi đậm nét. Ba mươi ngày tĩnh lặng mở ra một nhãn quan rộng hơn đã là cơ hội cho mình nhìn lại cuộc sống, có bổng mà cũng có trầm, có đủ màu sắc hỉ nộ ái ố xanh vàng tím đỏ; có những lúc tâm hồn mọc cánh thênh thang, mà lại cũng trải qua những giai đoạn bị đục khoét lia chia mà chẳng hiểu tại sao...

Nhưng kìa, những màu sắc mâu thuẫn đang hòa lại xuất hiện thành cầu vồng, những xung đột bổng trầm đang kết lại thành hòa khúc dịu êm. Nhà nghệ sĩ đại tài là chính tôn sư Maria, "cây trúc xinh" nhỏ bé tầm thường, bằng chính cảm nghiệm đời mình đang dẫn đầu Vũ Khúc Tuyên Dương:

Chúa đã làm cho tôi muôn việc kỳ diệu.

Người nâng cao những ai phận nhỏ.

Đây rồi, Thần Khí Chúa đang mang một cây sáo trúc đến tặng tôi, trổi lên thành Khúc Sáo Ân Tình loan báo Tin Vui lớn như trong thị kiến của Isaia:

Trèo lên trên khắp núi đồi

Niềm Vui loan báo cho mọi người,

Hân hoan gióng tiếng rằng:

Này đây Chúa đến.

(Isaia 40:9)

THẦN SÁO KOKOPELLI

Kokopelli lưng gù vừa nhảy múa vừa thổi sáo là một hình ảnh ăn sâu trong máu người Mỹ chính gốc bản thổ tức là dân Da Đỏ, và đã trở thành như hiện thân của chính họ.

Bang Arizona và New Mexico hầu hết là sa mạc vẫn còn nhiều người Da Đỏ sinh sống trong những làng riêng biệt với những phong tục văn hóa khác biệt, như các sắc dân Navajo, Pueblo, Hopi, Zuni... Mỗi sắc dân đều có những truyền thống riêng. Nhưng một nhận xét rất rõ là sắc dân Da Đỏ nào cũng biết nhảy múa, khi nhảy múa thì đánh trống, thổi sáo, mặc và đeo lông chim như muốn hóa thân trở thành chính vật tổ của mình. Và bất cứ nơi nào có dấu vết người Da Đỏ đều thấy hình ảnh Kokopelli được khắc vào vách đá (gọi là petroglyphs), vẽ trong hang động hay lưu truyền qua những vật biểu (katcina) trong những cuộc múa nhảy mang tính cách lễ nghi.

Theo truyện thiêng của người Da Đỏ thì Kokopelli là một nghệ sĩ thổi sáo, mang tật nguyền với cái lưng gù đến khum sụm xuống mà lại là sứ giả của niềm an bình, vì luôn mang theo mình một ống sáo thần vừa múa nhảy vừa thổi để báo tin vui cho dân chúng của những miền sắp đi tới. Tiếng sáo của Kokopelli mang hấp lực lạ lùng là thu hút và gầy dựng được tình yêu, làm tan biến những bất hòa giữa người với người, giữa bộ lạc này với bộ lạc kia, giữa làng này với làng khác, và nối kết được những tan vỡ, hồi phục những rã rời trong tâm hồn. Kokopelli lại luôn đeo trên lưng một thúng hạt giống để phát cho dân chúng trồng trọt mà sinh sống.

NGHI THỨC NỤ CƯỜI ĐẦU TIÊN CỦA MỘT ĐỨA BÉ

Tôi có dịp sống một tháng rưỡi tại vùng Pecos bang New Mexico trong một Trường Tu Đức và Linh Hướng gần sát những làng của sắc dân Da Đỏ Pueblo, học hỏi được một số điều hay của họ. Chẳng hạn như người Pueblo luôn làm những kiva, tức là những nơi phượng tự của họ dưới hầm đất có thang bác xuống. Mỗi lần tụ họp cử hành lễ nghi là như đi xuống một cõi nội tâm sâu thẳm vượt qua tầm mắt chứ không phải những cái sờ sờ trước mặt. Niềm tin của họ không phải là một mớ lý thuyết để suy tư bàn luận, nhưng luôn phải được diễn ra bằng nghi thức, bằng biểu tượng bề ngoài.

Sắc dân Navajo thì có nghi thức mừng nụ cười đầu tiên của một đứa bé. Đối với họ, nụ cười đầu đời rất quan trọng cần phải được cử hành. Người nào làm cho đứa bé lần đầu tiên biết cười thì được cái vinh dự là gia đình đứa bé cung cấp đồ ăn để đứng ra tổ chức một bữa ăn thay mặt cho đứa bé. Tất cả bà con và bạn bè đều được mời tới dự. Trước khi ăn tiệc có nghi thức cầu nguyện. Mọi người đứng vòng chung quanh đứa bé, và nó thì được đặt ngồi trong lòng mẹ. Người mẹ cầm một đĩa muối. Đối với người trong vùng sa mạc, muối rất quí. Đồ ăn mà thiếu muối thì nhạt nhẽo vô vị. Mỗi người cầm đĩa đồ ăn đi qua thì người mẹ cầm tay đứa bé giúp bỏ vào đĩa một chút muối. Đây là nghi thức dẫn đứa bé vào một liên hệ đường dài với gia đình, làng mạc và sắc dân của mình. Họ tin rằng lễ nghi này chuyển vào máu dân họ ngay từ bé để tập biết góp phần phục vụ người khác: ngay từ lúc còn bé chưa biết làm gì thì ít ra cũng biết cười để góp phần mang niềm vui cho đời, làm tăng vẻ đậm đà cho cuộc sống như muối cần cho đồ ăn.

DIỄN TIẾN MỌC CÁNH Ở PICTURE ROCKS

Đã vào sa  mạc Arizona mấy lần rồi mà lần ở lâu nhất trọn tháng 3 năm 2000, tôi mới biết lều tĩnh tu (hermitage) của tôi nằm ngay bên cạnh hang động có khắc hình lên vách đá (petroglyphs) của dân Da Đỏ từ lâu đời để lại. Vì thế địa điểm này gọi là Picture Rocks ở xa xa trong sa mạc về hướng tây của thành phố Tucson. Đây là hang động dưới chân rặng núi Tucson trên dốc đèo Kontzen, trước đây cả một ngàn rưởi năm sắc dân Hohokam đã chọn làm thánh địa. Hang động này ở vào một vị thế rất đẹp, ngay cạnh một dòng suối. Từ lều tôi ở chỉ phải đi bộ chừng năm phút là tới. Trong những giờ thinh lặng tôi đã tìm đến đây nhiều lần để nhìn kỹ những hình khắc trên đá, và nhất là để chiêm ngưỡng mà hòa mình vào nhịp sống của lớp dân này qua những nét diễn tả của họ. Vì đối với họ, hình khắc vẽ hay những điệu múa nhảy không phải chỉ là những biểu diễn nghệ thuật hay mua vui, mà trên hết là những nét diễn lên một qui trình, một nghi thức, một công thức hóa giải, trị liệu hay thăng hoa con người.

Hình khắc trên vách đá hang động Picture Rocks diễn tả một đoàn người đeo lông chim cùng cầm tay nhau múa nhảy chung quanh một vòng xoáy trôn ốc bên cạnh những con nai và con chiên rừng. Nhà nghiên cứu về biểu tượng của dân Da Đỏ là Alex Patterson đã cho biết: vòng xoáy trôn ốc diễn tả hành trình đi tìm tâm điểm đời sống. Có thể đây là một nghi thức của vũ khúc mặt trời (sun dance) hay vũ khúc chim phượng hoàng (eagle dance) như còn thấy ngày nay ở những sắc dân Navajo hay Hopi. Không ngờ những sắc dân sống cách đây cả trên ngàn năm mà đã có những kinh nghiệm tâm linh cao độ như vậy.

Trong những vũ khúc nghi lễ trên, mọi người tham dự đều đeo áo lông chim và đội  mũ kết bằng lông chim trên đầu. Họ ý thức rất rõ ràng sự giới hạn của sức con người nên cần phải được khai mở để nối vào một sức sống cao hơn. Sức sống thần linh siêu việt lại được diễn tả một cách cụ thể nơi một vật biểu, như vật biểu chim phượng, một loại chim thần, điều này thật giống nét văn hóa người Việt mình. Vì thế mà họ hóa trang thành như chim phượng. Ngay cả ống sáo thổi của họ cũng được trang trí kết lông chim giống y như một con chim phượng đang bay lên.

Khai mạc lễ nghi, họ đánh trống và thổi sáo để làm trống tâm ra mà hòa vào một nhịp sức sống chung cho thần nhập. Shaman là những vị đã đạt cảm nghiệm tâm linh thường dẫn đầu những vũ điệu lễ nghi này. Họ có thể đạt được những phút xuất thần khi vượt ra khỏi được xác thân giới hạn của con người mà hóa thân thành như một con chim phượng đang tung cánh bay lên trong một chiều kích mới của ý thức. Đây chẳng phải là một  điều rất đáng chú tâm cho những nhà nghiên cứu về tâm lý hay phụng vụ sao? Đây mới là vũ phụng vụ theo đúng nghĩa, là một qui trình biến đổi hóa thân, có sức chữa bệnh hay mọc cánh thăng hoa con người.

THIỀN THỔI SÁO

Thổi sáo là một nghệ thuật, hơn nữa, là một nghi thức hóa giải, một phương pháp linh thao hay thiền, nối kết cõi vuông hữu hạn của con người vào cõi tròn đầy vô biên của tâm linh.

Cách đây mười mấy năm về trước tôi được cảm hứng này thúc đẩy nên đi học thổi sáo Tây cả hai năm. Cách tôi thổi thì có tiến bộ, nhưng mãi mà hơi vẫn cứ phát ra phì phì và đứt quãng, không sao thoát ra nhẹ nhàng.

Mới đây tôi có dịp học thổi sáo trúc, đơn giản bình dị từ "cây trúc tầm thường" nhưng lại rất rung cảm. Lần này tôi được chỉ dạy "khí công" kỹ hơn. Trước hết người thổi sáo phải hòa nhập trở thành chính ống sáo với lòng trống và thanh tịnh cho hơi thở của Trời chuyển vào. Phải biết xả cho tâm thành trống không, tụ khí xuống thật sâu tận đáy lòng, nơi tụ điểm hòa nhập với hơi thở của cả đất trời, rồi chuyển hơi vào lỗ sáo như một lời cầu nguyện theo cảm nghiệm của thánh Phaolô: "Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rung khôn tả." (Roma 8:26).

Xuống được đáy lòng, vào sâu trong nội tâm, chính là gặp được giao điểm của trời đất, người Tàu gọi là đan điền (ruộng son), người Nhật gọi là khí hải (biển khí).

Thì ra người thổi sáo cũng phải trở thành chính ống sáo. Những đục khoét trong đời không phải là phi lí lãng xẹt, mà là do Thần Khí Chúa "lùa dao khoét lỗ luyện Kinh, tác thành ống sáo cho tình dâng cao,"  dẫn con người vào cõi trống để cảm nhận cõi đầy tròn từ tận thâm sâu cõi lòng. Mỗi tối trước khi đi ngủ mà trổi lên một khúc sáo thì mọi ứ đọng tan biến hết, tâm hồn như lâng lâng hòa vào một nhịp sống vượt lên, thênh thang và thanh thản, cảm ơn được bất cứ hòn đá nào lăn đến.

Truyện kể về một người trung tuổi rất nghèo khổ. Một đêm phải đi qua vùng sa mạc, quá mệt mỏi không sao bước tới được, ông bèn ngước nhìn lên trời than trách:

- Trời có mắt biết tôi khổ cực đã lâu, sao không làm cho tôi khấm khá lên một chút!

Một lúc thì thấy từ trời có tiếng vọng xuống:

- Ta đã từng giúp mà nhà ngươi có bao giờ làm theo Ta đâu!

Người nghèo khổ liền quì xuống van xin:

- Tôi xin tạ lỗi, lần này bảo tôi làm gì, tôi nhất quyết tuân theo.

- Được rồi. Nhà ngươi đang đeo một cái bị, khi bước tới mà vấp vào hòn đá nào thì nhặt bỏ vào bị. Điều đó tốt cho nhà ngươi đấy.

Người nghèo khổ nghĩ bụng: tưởng giúp làm sao chứ thế này lại hành khổ mình thêm! Nhưng đã trót hứa thì cũng ráng làm theo. Ông ta bước tới thì quả là vấp vào mấy cục đá liền, ông cố nhặt bỏ vào bị. Nhưng bị đã nặng mà càng bước tới càng gặp nhiều đá. Quá mệt mỏi, ông cằn nhằn không thèm nhặt gì thêm nữa, rồi thở dốc ra mà đi tiếp. Sáng hôm sau mở bị ra xem để quẳng bớt đá đi cho nhẹ nhõm thì lạ quá đấy chính là mấy cục vàng. Trời! Tiếc quá, biết vậy đêm vừa rồi ráng nhặt thêm ít cục nữa.

TIN VUI GỬI NGƯỜI BỊ LÃNH ĐÁ

Câu truyện trên đã giúp mình cảm nghiệm Tin Vui khi Chúa nói Ngài là "đá vấp ngã"  mà cũng là "đá cứu độ" (stumbling block and stepping stone), "viên đá mà thợ xây loại bỏ đã trở nên đá góc tường."

Chúa cũng nói có người cha nào mà con xin cá lại cho rắn, con xin bánh lại cho đá?! Vậy mà trên thực tế nhiều người xin cá lại bị rắn bò ra tấn công, xin bánh mà cứ lãnh đá hoài.

Rất nhiều lần mình cũng than trách như người đàn ông nghèo khổ trên, và không thèm nhặt thêm gì nữa!

Người Da Đỏ nghèo nàn luôn nhảy múa mà hưởng được niềm sung sướng sống đời. Kokopelli lưng ngù tật nguyền mà vẫn có thể hân hoan thổi sáo mang niềm vui cho người khác; một đứa bé mới chỉ mới biết cười cũng vẫn có thể mang chất đậm đà cho cuộc sống. Đó là do niềm tin giống như niềm tin vào đạo Trời của người Việt.

Niềm tin vào Trời của các dân tộc dù sao vẫn còn tù mù mông lung xa cách. Đây là đúng lúc đạo Chúa đem đến Tin Vui đích thực, đáp ứng những khắc khoải của con người. Kinh Thánh diễn tả Chúa như một người chăn chiên thân thiết gần gũi, biết rõ và gọi đích danh từng con chiên là mỗi người theo Chúa. Nơi chiên ở trong những lều ngoài cánh đồng ban đêm làm gì có cửa an toàn, thì chính người chăn chiên nằm canh cửa. Vì thế Chúa Giêsu đã ví "Thầy là cửa chuồng chiên", để nếu thú dữ có tấn công thì phải bước qua xác người chăn sẵn sàng chiến đấu đến đổ máu để bảo vệ những con chiên thương mến của mình. Từ một ông Trời xa cách, Thiên Chúa đã trở thành một vị chúa của tình yêu tuyệt đối: "Thầy đến để cho chúng con được sống, mà sống thật sung mãn." (Gioan 10:10)

PHÚT HÒA NHẬP THÀNH CÂY SÁO

Giữa sa mạc Người nâng sáo thổi

Ngoài chợ đời kẻ đứng than thân.

Thập giá chính là một sa mạc trống không, là một cây sáo bị đục khoét cùng độ: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn hủy bỏ mình đi, mặc lấy thân tôi tớ, trở nên giống người phàm, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá." (Phil 2:6-8)

Đá gây thương tích. Đá vấp ngã. Đá chận đường! Nhìn kỹ thì đá lại là bậc thang, đá là bánh, đá đục khoét tôi biến cây trúc tầm thường thành ống sáo thở bằng hương tình Trời.

Mình cũng theo mẫu của Gia-cóp nhặt những hòn đá xức dầu làm Thánh Đài tạ ơn nơi đã vọt ra bảy mạch nước ân sủng chảy róc rách thành Khúc Sáo Ân Tình, ghi 25 mốc đá ở New Orleans, ở Avondale, ở Marrero, ở Versailles... Người thổi sáo sực nhận ra những vết đá đục khoét chính là "Dấu Ấn Tình Yêu"  làm cho ống trúc thành cây sáo, thành cây gậy thần, thành ỷ thiên trượng.

Xin cho đời con như cây sáo của Ngài

Chúa gieo vào giai khúc thanh khiết muôn đời.

Chúa cho đầy vơi, mát tươi cuộc sống.

Khi tay Ngài âu yếm ngây ngất tâm hồn.

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

VỀ MỤC LUC

 

 

Bên cầu biên giới

 

Qua phim ảnh, nhất là những cuốn phim mô tả lại các trận tương tranh thời đệ nhị thế chiến, tôi đã được nhìn thấy nhiều biên giới của các quốc gia. Những biên giới đó, có khi là một cây cầu, có khi là một hàng rào dây kẽm gai, có khi là một đồn canh... nhưng tất cả đều mang ý nghĩa của sự phân chia, cách biệt, ý nghĩa của sự giới hạn.

Đối với những người vượt biên, nhất là vượt biên bằng đường bộ, hình ảnh của biên giới là một hình ảnh vừa trông chờ vừa đáng sợ. Nhìn thấy biên giới là nhìn thấy tự do và sự sống, nhưng vượt qua biên giới_là một hành động nguy hiểm, cớ thể đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình.

Riêng tôi, lần đầu tiên nhìn thấy rõ một biên giới thực, là lần tôi viếng thăm Israel vào cuối năm 1989. Một buổi chiều, nhóm chúng tôi được người hướng dẫn đưa đi thăm một vài thắng cảnh có tính chất hách sử. Xe buýt chở chúng tôi đã chạy dọc theo biên giới ISRAEL-YORDAN. Khi nghe người hướng dẫn thông báo, tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ quan sát. Đó là một vùng bình nguyên bát ngát, được ngăn ra bởi một hàng rào đây kẽm gai dài hun hút. Xe chúng tôi chạy xa xa, dọc theo hàng rào kẽm gai ấy. Một lớp cờ xanh ngát mắt phủ trùm lấy vùng bìnhnguyên rộng. Mọi sự xem ra rất bình yên, nhưng những người biết chuyện cho hay đọc theo biên giới nhân tạo này, Israel đã trang bị một hệ thống ra-đa tối tân, cũng như sẵn sàng một màng lưới an toàn với bom và đại liên, thiết trí ở vị trí bí mật nào đó. Có người còn cho rằng ISRAEI có thể dùng đến cả bom nguyên tử để bảo vệ vùng biên giới (!) Israel đã hành động như vậy, chắc chắn Yordan cũng có những hành động tương xứng.

Khi xe đã qua khỏi vùng biên giới, câu chuyện của mọi người trẽn xe bắt đầu chuyển sang những đề tài khác. Riêng tôi, hình ảnh biên giới cứ ăn chặt trong đầu không sao gạt bỏ đi được. Tôi vẽ lại trong trí mình màu xanh ngát mắt của thảo nguyên mình vừa chứng kiến. Cây cỏ và màu xanh_của nó không hề có biên giới. Cỏ bên này hàng rào và cỏ bên kia hàng rào cùng là một loại, cùng được một thứ mưa, một thứ sương tưới gội, cùng được sưởi ấm chung bằng một thứ nắng, cùng hưởng chung một ngọn gió thổi qua. Hàng rào biên giới không do thiên nhiên đựng nên, nhưng do trí óc, sự quyết định và bàn tay của con người tạo thành. Đó phải chăng là một điều bi thảm?

Con người đã tạo nên rất nhiều biên giới trong khung cảnh thiên nhiên, đã cắt nát mặt trái đất ra làm nhiều mảnh, mà vốn khi mới được tạo dựng, mặt đất ấy được dùng chung cho tất cả mọi người. Không những dựng những biên giới hữu hình trên mặt đất, con người còn dựng lên những biên giới vô hình trên không trung và ngoài biển cả, tạo ra những không phận, hải phận. Cũng như cỏ ở địa giới cùng một loại, một mầu, mây trên trời thuộc khu không phận cũng trắng, cũng xanh và cũng bềnh bồng trôi nổi như nhau; nước biển ở khu hải phận cũng cùng biếc và cùng mặn giống nhau, thế nhưng mây và nước đã bị phân rẽ bằng một hàng rào tưởng tượng.

Người ta đặt ra rất nhiều luật lệ quốc tế, qui định thế nào mới được bước qua biên giới, thế nào thì không. Qua một biên giới là một màu cờ khác, một thể chế chính trị riêng, một ngôn ngữ và phong tục tập quán khác với ngôn ngữ và phong tục tập quán bên kia biên giới, một chủ thuyết khác một lập trường khác. Xe vẫn đều đều lăn bánh. Hành khách ngủ gà ngủ gật làm cho bầu khí trở nên yên lặng một cách nặng nề. Tôi không ngủ được và hình ảnh biên giới trong óc tôi vẫn không phai nhạt. Tự nhiên tôi nhớ đến những câu hát đẹp và buồn trong bài ''Bên cầu biên giới '':

"Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ,

cầu cao nghiêng dốc trên dòng sông sâu.

Sầu vương theo gió xuôi về cuối trời, .

một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa.

Người đi chưa hết hương sầu lữ thứ.

Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa .

Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa.

Mộng' về đêm đêm khát vừng trán ngây thơ...”

Bài hát còn có những câu buồn hơn nữa:

"…nhưng đường quá xa vời.

Hương đời êvẫn mê mải.

Đời tôi sao vẫn còn biên giới!

Lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đâu ?... "

Và bài hát kết thúc:

"… Mộng bền năm xưa, chỉ là mơ qua. "

Bài hát ấy buồn lắm. Và thường tôi chỉ lẩm bẩm hát nó những khi lòng thấy thật buồn. Đời sống con người quả có nhiều giới hạn, nhiều biên giới. Biên giới giữa quá khứ và hiện tại, giữa hiện tại và tương lai. Biên giới giữa tuổi thanh xuân với tuổi già. Biên giôi giữa mơ mộng với thực tế. Biên giới giữa mong ước và sự thật.

Con người còn có những biên giới đương nhiên. Biên giới của tuổi thọ, biên giới của sức khỏe, biên giới của trí hiểu biết và sự thông minh... Bằng nhiều phương cách, con người đã hết sức cố gắng để vượt ra khởi những biên giới ấy, nhưng dù đã tận lực, con người cũng chỉ có thể nới rộng chút ít chứ không thể phá bỏ được biên giới.

Đó là những biên giới trong mộc con người. Giữa người này với người khác lại có những biên giới khác nữa. Biên giới của giàu và nghèo, của thông thái và ngu dốt, của địa vị giai cấp, của tự đo và nô lệ . Biên giới của ý thức hệ, của chủ thuyết, của quan niệm, của niềm tin. Hình như những ''biên giới bẩm sinh'' còn chưa đủ, người ta đã tự dựng lên trong cuộc đời riêng của mình và trong cuộc sống chung của xã hội biết bao nhiêu thứ biên giới khác nữa. Để rồi kết quả con người ai cũng có máu đỏ như nhau, có trái tim giống nhau, có mộng ước như nhau, cùng chung nhau sống kiếp nhân sinh, vậy mà người ta không đến được với nhau, vì giữa người này với người khác đã có những cách ngăn của biên giới. Dựng biên giới trên đất liền, trên không trung, ngoài biển khơi, và dựng biên giới trong lòng người, giữa người với người, hai hành động ấy cũng đâu có khác gì nhau.

Biết bao lần tôi mong ước một cuộc sống không có biên giới, một cuộc sống được giải thoát hoàn toàn khỏi những trói buộc trong chính con người mình và những trói buộc của định chế xã hội. Nhưng càng lớn lên, tôi càng thấy đó là một mong ước không thể đạt được, đúng là ''mộng bền năm xưa chỉ là mơ qua.'' Ngay một cánh cửa biên giới tôi tự nguyện phá bỏ mà cũng không thực hiện được, đó là biên giới của Tình Yêu. Đôi khi trong trái tim chứa chan lí tưởng của một cuộc sống đi tìm ý nghĩa thực của lòng bác ái, của tâm hồn quảng đại, phục vụ và tự hiến, tôi mong ước và quyết tâm yêu thương tất cả mọi người, yêu người như yêu chính tôi, yêu một cách đồng đều ai cũng như ai, yêu không tính toán, không vụ lợi. Nhưng rồi, cuối cùng tôi vẫn khám phá ra rằng tôi yêu tôi nhiều nhất, yêu những người dễ yêu hơn những người không dễ yêu; yêu, nhưng đôi lúc vẫn tìm sự an toàn, không dám yêu một cách hoàn toàn phục vụ và tự hiến. Trong tình yêu, tôi vẫn tự đặt cho mình một giới hạn, một biên giới. Và tôi cũng cảm thấy lơ sợ khi biên giới ấy không được tôn trọng.

Những biên giới của các quốc gia…

Những biên giới của con người...

Những biên giới của cuộc đời…

Đâu đâu tôi cũng nhìn thấy những biên giới: Nếu tìm kiếm một nơi chốn không biên giới, tôi chỉ còn một cách là tìm về với Thượng Đế. Ngài là đấng vô thủy vô chung, không có trước cũng chẳng có sau, nói khác đi Ngài có tự đời đời và tồn tại đời đời. Ngài là đấng toàn năng, khả năng của Ngài vô giới hạn. Chính vì thế công trình tạo dựng của ngài cũng vô giới hạn, vũ trụ Ngài sáng tạo không có biên giới. Ngài là đấng thượng trí, sự thông hiểu của Ngài không có tận cùng. Ngài là đấng toàn chân, bởi vì Ngài chính là chân lí tuyệt đối- Ngài là đấng chí thiện, sự tốt lành của Ngài không có bến bờ. Ngài là đấng toàn mĩ, vẻ đẹp của Ngài tuyệt điệu. Và cuối cùng, Ngài là đấng toàn ái, Tình Yêu của Ngài mênh mông chan chứa. Ngài yêu tôi và yêu mọi người từ thuở đời đời khi chưa có con người. Con Một Ngài yêu tôi, đã xuống trần làm kiếp con người để thông cảm với kiếp người của tôi. Và Ngài đã cứu tôi khỏi chết bằng chính cái chết của Ngài. Ngài cho tôi tất cả, kể cả giọt máu cuối cùng trong thân thể Ngài.

Tôi thích thánh ca của Thành Tâm, nhưng cũng có một vài bài tôi cho là có lời ca gượng ép và hơi… cải lương. Ông có câu hát: ''Nhưng con tin nơi Chúa, Chúa thương con nhiều, tình không biên giới...”  Cái đoạn "tình không biên giới " đó trước đây tôi vẫn cho là có tính chất... cải lương. Nhưng bây giờ, tôi thấy nó không cải lương nữa. Tác giả, trong lúc viết câu ấy, có lẽ đã thấy rất rõ cái biên giới hữu hạn của tình yêu con người dành cho nhau, và ông tuyên xưng rằng chỉ có tình Chúa dành cho con người mới là thứ ''tình không biên giới ''

Từ đó, mỗi lần hát bài "Bên cầu biên giới ", để kết thúc bằng câu "Mộng bền năm xưa chỉ là mơ qua '', tôi lại bắt sang bài "Xin Ngài thương con " và hát đi hát lại mãi câu: ''Nhưng con tin nơi Chúa, Chúa thương con nhiều, tình không biên giới... "

Nhà Văn Quyên Di

VỀ MỤC LUC

 

 

Cuộc phỏng vấn đài BBC   Ngày Chúa nhật  3  tháng 4 năm 2005

BBC : Xin giáo sư cho biết cố Giáo Hoàng John Paul II đã thực hiện và để lại di sản tư tưởng văn hóa nào cho nhân loại và cho giáo hội công giáo nói riêng ?

Nguyễn Đăng Trúc ( GS tại Phân Khoa Thần Học, Đại học Strasbourg, Pháp) : Giáo Hoàng John Paul II đã là một trong những vị tham gia vào công cuộc canh tân giáo hội công giáo trong công đồng Vaticanô II. Lên ngôi giáo hoàng, ngài thực hiện công cuộc canh tân liên tục trong đường hướng ấy.

Tuy nhiên nét riêng của ngài xuyên qua kinh nghiệm đau thương của thế kỷ 20 mà ngài thực sự đã sống, đó là kinh nghiệm nỗi kinh hoàng của thảm họa Đức Quốc Xã và chế độ công sản. Căn nguyên  thảm họa là dục vọng quyền lực mù quáng được đánh giá lá ý nghĩa làm người : người ta cho rằng làm mọi cách để tỏ ra mình mạnh hơn, uy quyền hơn là xứng đáng được gọi là người hơn. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc bảo căn của Đức quốc xã thì chủ trương chủng tộc nhật-nhĩ-man là ưu việt, phải làm chủ thế giới ; chủ nghĩa xã hội cộng sản thì chủ trương giai cấp vô sản của mình phải triệt hạ các giai cấp khác để toàn quyền cai trị nhân loại. Sứ điệp văn hóa của giáo hoàng cho nhân loại không gì hơn là đưa sinh lực yêu thương nơi Đức Kitô mà ngài có phận vụ làm chứng để đề nghị một mẫu mực nhân tính khác hơn. Vì yêu thương, Con Người Giêsu đã hủy chính mình, chết mình đi trong khổ đau và được sống lại : đó là ý nghĩa cao cả nhất để làm người. Sứ điệp đó giáo hoàng John Paul II đã đưa vào các giáo huấn của ngài cho giáo hội công giáo, và thực hiện nơi sứ mạng làm chứng tình yêu giữa cuộc sống thế giới trong những thập niên ngài phục vụ giáo hội trong cương vị là kẻ chủ chăn. Phải quên mình đi để không còn lo phải tôn vinh công giáo như một phe của mình, đạo riêng của mình , nhưng chết cái mình đó đi để mở ra với Thượng Đế luôn đến với con người trong sự bất ngờ vượt lên những định kiến hẹp hòi về một hình ảnh nào đó do mình tạo ra ; và trong ánh sáng của mối tương quan sống động như thế với Thượng Đế, con người mở ra với kẻ khác, luôn khác với mình, để tôn trọng, gặp gỡ, đối thoại và yêu thương. Nay không còn là công giáo của Âu Châu hay Mỹ Châu, nhưng là chứng nhân của sự gặp gỡ và liên đới giữa con ngưởi với Thượng Đế, giữa những dân tộc, những tôn giáo, những nền văn hóa, những cách sống khác nhau. (Một lối nói khác gọi sứ điệp văn hóa ấy là lời mời  thực hiện là thực hiện văn minh tình thương).

BBC : Trong những ngày cuối đời, giáo hoàng John Paul II đã t không vào bịnh viện nữa, gs nghĩ thế nào ?

Nguyễn Đăng Trúc : Một cách chủ quan tôi nghĩ đây là quyết định riêng của ngài và ngay nơi quyết định ấy có một sứ điệp về ý nghĩa nhân tính. Có lẽ ngài thấy đã đên giai đoạn mà con người phải chấp nhận thân phận giới hạn của con người. Giá trị con người không phải dựa vào những kỹ năng khoa học để kéo dài sự sống mình, nhưng nhìn nhận nơi giới hạn của cuộc sống làm người có phần thanh cao, đó là hơi thở từ Trời cao ban cho mình giá trị làm người. Chấp nhận đi vào cái chết tự nhiên như mọi người, để làm chứng giữa mọi người rằng phần thanh cao của nhân tính không phải nơi kỹ xảo do bàn tay con người, nhưng do sức sống ẩn dấu vượt mọi sáng kiến nhân loại.

Gs. Nguyễn Đăng Trúc ghi nhanh

VỀ MỤC LUC

 

 

Thánh Cười

Trong giáo hội có rất nhiều loại thánh khác nhau. Thánh tông đồ, thánh tử đạo, đồng trinh, thủ tiết, tiến sĩ, tu sĩ … nhiều lắm. Mỗi thánh có cách sống khác nhau. Các ngài đã chọn con đường nên thánh khác nhau. Có thánh sống khắc khổ. Có thánh sống ẩn tu trong sa mạc. Có thánh sống cầu nguyện trong dòng kín. Có thánh hoạt động ngoài xã hội. Có thánh viết sách. Có thánh giảng dạy. Có thánh chăm sóc người bệnh. Có thánh chăm lo người nghèo. Không thánh nào giống thánh nào.

Chúng ta chỉ có một cuộc sống. Và đời sống thì ngắn ngủi. Chúng ta không chọn “được sinh ra”. Chúng ta cũng không chọn được “giờ chết”. Chỉ có một điều chúng ta có thể chọn là chọn cách sống. Sống sao cho tốt đẹp, cho trọn vẹn, cho ích lợi. Hơn nữa, chúng ta đã là con Chúa qua bí tích rửa tội (x. Ga 1:12). Sống sao cho xứng đáng là con cái Thiên Chúa. Là con của Thiên Chúa, chúng ta phải sống thánh, thánh ngay tại trần gian này. “Hãy sống thánh thiện, vi Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1:16).

Nhưng chúng ta chọn con đường nào để nên thánh ?

Tử đạo chăng? Đau đớn lắm, tôi không dám nghĩ tới.

Ẩn tu trong sa mạc chăng? Buồn lắm.

Ăn chay và đánh tội chăng? Đói và đau lắm.

Chăm sóc người bệnh chăng? Máu me khiếp lắm.

Viết sách, giảng dạy chăng? Khó quá.


Tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi làm THÁNH CƯỜI.
Chúa dạy chúng ta sống giới răn trọng đại nhất, nếu muốn là con Chúa.
Đó là Mến Chúa và Yêu Người (Lc 10:27).

Sống trong tình yêu, chúng ta được hạnh phúc.

Sống trong tình yêu, chúng ta có niềm vui.

Sống trong tình yêu, chúng ta được bình an.

Và khi chúng ta hạnh phúc, khi chúng ta có niềm vui, khi chúng ta bình an, chúng ta sẽ tươi vui. Khi chúng ta tươi vui, chúng ta sẽ cười. Cười là kết quả của một đời sống trong tình yêu.

Vậy, bạn ơi, còn chần chờ gì nữa. Hãy cười lên.

Cười với Chúa. Bạn sẽ dể dàng chấp nhận tất cả những gì Người gửi đến trong đời bạn.

Cười với chính bạn. Đời sống bạn sẽ nhẹ nhàng.
Cười với cha mẹ, vợ chồng, con cái. Gia đình bạn sẽ thêm hạnh phúc.
 

Cười với mọi người.

Cười với người cô đơn.

Cười với ngưỡi sầu khổ.

Cười với người già.

Cười với người trẻ.

Cười và Cười thật nhiều, thật lâu …

Nụ cười của bạn sẽ sưởi ấm nhiều cõi lòng.

Nụ cười của bạn sẽ đem sức sống mới, niềm hy vọng và sự can đảm cho những trái tim thất vọng, khổ đau …

Nụ cười của bạn có thể thúc đẩy một ai đó đón nhận đức tin.
Nụ cười của bạn có thể đưa dắt một người tội lỗi trở về với Thiên Chúa.
Nụ cười của bạn có thể khơi dậy một ơn gọi đang ngủ quên.
 . . .

Làm THÁNH CƯỜI có lẽ dễ hơn cho tôi, chắc cũng dễ hơn cho bạn chăng.

 Sv. Ngô Văn Thích

VỀ MỤC LUC

 

KHÓC

Chuyện phiếm của Gã Siêu

Đã là người thì ai cũng phải khóc.

Tiếng khóc xuất hiện ngay từ lúc  ta mở mắt chào đời :

- Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe,

Đời có vui sao chẳng cười khì.

- Thảo nào khi mới chôn nhau,

Đã mang tiếng khóc, bưng đầu mà ra.

Đúng thế, mở mắt chào đời mà không khóc, thì đó là một triệu chứng chẳng lành. Trong trường hợp này, bà đỡ hay cô y tá thường phải phát đánh đét cho vài cái để mà khóc, mới được yên lòng yên chí.

Rồi suốt dọc cuộc sống, rất nhiều lần ta cũng đã khóc, ta cũng đã giọt ngắn giọt dài và ta cũng đã có biết bao nhiêu nước mắt đầy vơi. Chẳng thế mà thiên hạ đã bảo :

- Cuộc đời là một thung lũng nước mắt.

Nước mắt là một thứ nước hơi mằn mặn, được sản xuất bởi hai tuyến nằm ở khóe mắt. Mấy người hay mơ mộng như mấy ông thi sĩ đã gọi chúng bằng một cái tên rất mỹ miều, đó là những giọt lệ.

Sau hết, tiếng khóc cũng đã vang lên một cách não nùng và bi đát, khi ta nhắm mắt, buông tay, thở hơi cuối cùng và thiên hạ chôn vùi thân xác ta vào lòng đất lạnh, tiễn đưa linh hồn ta lên tàu suốt để sang thế giới bên kia.

Tự điển “Petit Laruosse” của Pháp đã định nghĩa :

- Khóc là chảy nước mắt.

Còn “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức thì xác quyết :

- Khóc là mếu miệng, chảy nước mắt, có tiếng hoặc không có tiếng, khi bị đau đớn ngoài thân xác hay trong tâm hồn.

Nếu đem so sánh, gã thấy câu định nghĩa của ông “Phăng xe” thì quá trống trải. Còn câu định nghĩa của ông “An nam ta” thì  có phần chính xác hơn, nhưng cũng vẫn chưa đủ.

Thực vậy, rất nhiều lúc người ta khóc mà đâu có mếu miệng, đâu có nước mắt, cũng như đâu có phát thành tiếng. Cái khóc thầm trong lòng xem ra còn đậm đặc và cay đắng hơn cả cái khóc có mếu miệng, có nước mắt và có cả những tiếng  bù lu bù loa, nức nở hay thút thít.

Rất nhiều lúc người ta khóc mà đâu có phải vì đau đớn ngoài thân xác hay trong tâm hồn, nhưng còn khóc vì một niềm vui, vì một thành công nào đó, chẳng hạn như khi ta đoạt huy chương vàng ở Thế vận hội, nhìn quốc kỳ phấp phới tung bay, bỗng dưng nước mắt ta cứ trào dâng, chẳng thể nào ngăn lại được.

Lúc đầu gã tưởng rằng khóc chỉ là một hành động quá ư đơn giản, khiến cho thiên hạ phải chép miệng mà kêu lên :

- Biết rồi khổ lắm nói mãi.

Thế nhưng, khi đi vào cụ thể, gã lại thấy khóc chẳng giản đơn một tí nào cả, trái lại còn rất ư là phức tạp. Với sự hiểu biết  nông cạn, và kinh nghiệm ít ỏi, gã bèn phải đánh bạo thử “ngâm kíu” xem cái khóc là như thế nào và ai là những người…hay khóc ?

Những người hay khóc tiên vàn phải kể tới  quí vị con nít.

Thực vậy, có lẽ không tuổi nào hay khóc cho bằng tuổi con nít. Vì thế, ta có thể gọi tuổi con nít là tuổi…khóc nhè. Có cả một ngàn lẻ một lý do khiến cho qúi vị con nít khóc. Vui cũng khóc mà buồn thì cũng khóc. Có ngày khóc tới dăm bảy lượt.

Lý do thứ nhất khiến qúi vị con nít khóc là vì bị bắt ức. Chẳng hạn giờ chơi trong sân trường, bị đứa bạn bắt nạt, đánh cho vài thoi. Chống cự lại thì không nổi và thế là em òa lên mà khóc nức nở.

Lý do thứ hai khiến quí vị con nít khóc là vì bị ghen tức. Chẳng hạn khi mẹ đi chợ về mà không dành được phần quà to, thế là em vùng vằng đi xuống bếp mà khóc rưng rức.

Lý do thứ ba khiến quí vị con nít khóc là vì bị oan ức. Chẳng hạn đang ngồi nghiêm trang trong lớp, bỗng dưng bị thầy cô phạt nhầm, thế là em cúi gầm mặt xuống mà khóc tấm tức.

Lý do thứ tư khiến quí vị con nít khóc là để vòi vĩnh, đòi hỏi cái nọ cái kia. Và khi nhu cầu được thỏa mãn, thì lập tức những giọt nước mắt biến đâu mất tiêu và được thay thế bằng những nụ cười toe toét và mãn nguyện.

Nhưng lý do thường xuyên hơn cả khiến quí vị con nít khóc là vì bị ăn đòn. Đúng thế, mỗi khi sai lỗi điều gì, bị thầy mẹ đét cho vài roi, thì bảo đảm chăm phần chăm thế nào em cũng khóc.

Xem đó gã thấy cái khóc của quí vị con nít cũng có dăm bảy kiểu khóc. Có những cái khóc là do kết quả của một khổ tâm, của một đau đớn hay của một mong ước chưa thành. Có những cái khóc là do ích kỷ hay do ghen tương. Có những cái khóc tốt vì đem lại lợi ích cho bản thân, như khóc vì những lầm lỗi của mình. Có những cái khóc xấu, chẳng hạn như khóc nhè, động một tí là quác mồm ra, ai can cũng chẳng nổi.

Tuy nhiên, không phải chỉ quí vị con nít mới khóc, mà ngay cả người lớn cũng khóc.

Thực vậy, người lớn cũng có những niềm vui, những nỗi buồn của mình. Và nhiều lúc đã bật lên tiếng khóc trước những niềm vui và nỗi buồn ấy, thậm chí đôi lúc khóc mà chẳng có lý do nào sốt.

Thực vậy, người lớn khóc vì một niềm vui.

Người ta kể lại rằng  :

Tại thế vận hội ở Los Angeles vào mùa hè năm 1984, một trong những giây phút cảm động nhất đã bất ngờ xảy ra và đã được trình chiếu trên truyền hình.

Số là võ sĩ Jeff Blatnik của Hoa Kỳ, sau khi đánh bại võ sĩ Thomas Johansson của Thụy Điển, để dành huy chương vàng về bộ môn đô vật, anh ta đã không vui mừng nhảy lên nhảy xuống, không vung cao nắm đấm, hay cúi chào đám đông cùng với một cái hôn gió, nhưng anh ta chỉ đơn giản quì gối, làm dấu thánh giá, cúi đầu cầu nguyện.

Khi máy thu hình tập trung vào khuôn mặt của anh ta, thì hàng triệu khán giả đã nhìn thấy những giọt nước mắt chảy xuống trên gò má. Anh ta có đủ lý do để khóc. Khóc vì đã đọat huy chương vàng, mà trước đây nước Mỹ chưa bao giờ đọat được. Khóc vì hai năm trước đây anh ta đã bị ung thư và trước trận đấu mười tám tháng, anh ta đã phải giải phẫu. Vậy mà giờ đây anh ta đã đoạt được một chiến thắng lớn nhất trong đời mình.

Phóng viên thể thao Bill Lyons đã bình luận về những giọt nước mắt của anh ta như sau :

“Một trong những điều đáng giá nhất của Thế vận hội này là nó cho chúng ta thấy những giọt nước mắt khóc vì những lý do cao thượng, có giá trị tẩy rửa và chữa lành…Khi các vận động viên đoạt huy chương vàng bước lên đài vinh quang, quay mặt về lá quốc kỳ và lắng nghe bản quốc ca của đất nước họ, thì ngay lúc ấy mắt họ bắt đầu nhòa lệ…Dầu có khéo léo, khỏe mạnh hay nhanh nhẹn đến đâu chăng nữa, cũng không ai ngăn chặn được những giọt nước mắt. Và trong sự biểu lộ sự mềm lòng của bản tính con người như vậy, họ càng trở nên hấp dẫn và lôi cuốn.”

Người lớn khóc vì một nỗi buồn.

Đây là điều ta thường thấy hơn cả. Sau trận chung kết bóng đá của một cái giải quan trọng nào đó, ta thấy những cầu thủ bên thua thường mang khuôn ủ rũ như treo cờ tang và không ít anh chàng đã khóc lên cho màu cờ sắc áo của mình.

Một tác giả đã viết như sau :

“Sở dĩ người ta khóc là vì đã gặp phải những đau khổ và cơ cực. Đau khổ của con người được biểu lộ qua tiếng khóc và những giọt nước mắt. Vì vậy, khóc là tiếng nói của con người trong đau thương. Có bao nhiêu đau thương thì có bấy nhiêu tiếng khóc : Tiếng khóc của lo âu, tiếng khóc của nghèo đói, tiếng khóc của phụ bạc, tiếng khóc của vô ơn, tiếng khóc của cô đơn, tiếng khóc của mất mát, tiếng khóc của chia ly, tiếng khóc của mệt mỏi chán chường…Tiếng khóc có mặt ở mọi nơi, trong mọi lúc và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Chẳng hạn: Khi một người thân yêu chết, chúng ta khóc thảm thiết hay ngậm ngùi vì thương tiếc. Nhưng cũng có thể, trước cái chết của người thân, chúng ta khóc, chưa hẳn vì thương tiếc cố nhân. Nhưng có khi vì thương chính mình, là kẻ còn lại, cô đơn, bơ vơ, không còn chỗ nương tựa, nên khóc để nỗi lòng nhẹ vơi.

Tuy nhiên, rất nhiều người chưa biết khóc đúng lúc và đúng việc : Có người khóc khi mất của cải, nhưng lại chẳng khóc khi mất Chúa…Có người khóc đi khóc lại, mà chẳng sinh ích lợi gì.

Chính vì thế, có người khóc mà kẻ khác lại nói : Nước mắt của họ là nước mắt cá sấu. Trái lại, có  người khóc mà nước mắt của họ rất giá trị, như nước mắt của những người mẹ. Chẳng hạn những giọt nước mắt của thánh nữ Mônica đã tuôn rơi để cầu cho người con trai là thánh Âu tinh được ơn hóan cải”.

Sau cùng, người lớn khóc đôi khi chẳng có một lý do chính đáng nào cả. Nếu như một ông thi sĩ nào đó đã viết :

- Hôm nay trời nhẹ lên cao,

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

Có những lúc, nhất là vào đêm khuya thanh vắng, bỗng dưng nước mắt cứ trào dâng, ướt cả gò má, mà chẳng biết được lý do căn nguyên của những giọt nước mắt rơi hoang, sai địa chỉ ấy.

Thì gã cũng có thể nhái :

- Hôm nay trời nhẹ lên cao,

Tôi…nhè, không hiểu vì sao tôi nhè.

Dĩ nhiên, không giống với câu Thánh Vịnh mà cha An Sơn Vị đã dịch :

- Dòng châu lệ…tưới giường ướt đẵm,

Mỗi đêm trường thấm cả chiếu chăn.

Tiếp đến, những người hay khóc phải kể tới qúi vị đờn bà con gái.

Đúng thế, khóc chính là nghề của…phe ta ấy mà. Sở dĩ như vậy, vì phe ta có thể khóc một cách vô tư và dễ dàng. Hình như phe ta luôn có sẵn cả một hồ nước mắt để xả đập cho tuôn rơi bất cứ lúc nào. Ức một tí cũng khóc. Tủi một tí cũng khóc. Nước mắt phe ta rớt rơi trên từng cây số. Ở mọi nơi và trong mọi lúc, bất cứ một giao động nhỏ nhoi nào cũng đủ làm cho cặp mắt phe ta đỏ hoe.

Có lần gã đã chứng kiến mấy bà đang ngồi nói chuyện vui vẻ với nhau. Bỗng bà nọ nhắc tới bà bạn mới chết :

- Bằng giờ năm ngoái bà ấy còn ngồi với chúng mình, thế mà bây giờ…

Thế là cả đám bỗng khóc hu hu, như một giàn hợp xướng.

Cũng như quí vị con nít, rất nhiều lần phe ta đã dùng những giọt nước mắt để mà “mần duyên”, để mà nhõng nhẽo với người tình hay với những người thân yêu, hầu đạt được những đòi hỏi, những nhu cầu riêng của mình.

Vì thế, gã không lấy làm lạ khi thấy bàn dân thiên hạ vốn thường gọi phe ta là…dân “mít ướt”, hay như một câu danh ngôn đã bảo :

- Một giọt nước mắt đờn ông có thể pha chế thành mười lít nước mắt đờn bà con gái.

Đồng thời, kinh nghiệm cũng xác quyết :

- Không gì mau khô cho bằng nước mắt của đờn bà con gái.

Trước những giọt nước mắt của người tình bé bỏng, thì dù trái tim có chai cứng như trái tim sỏi đá của một tên tướng cướp, thì cũng sẽ trở nên mềm nũn như con chi chi, chẳng thế mà thiên hạ đã bảo :

- Lệ rơi thấm đá.

Vị mặn của nước mắt là như một chất acít, làm cho sắt cứng cũng phải tiêu tan. Vì vậy, nhiều ông chồng không cầm lòng nổi trước những tiếng khóc ri rỉ ấy, đã nhắm mắt làm liều, lắm khi đi đoong cả cuộc đời. Vì thế, người đời thường  bảo :

- Nước mắt của đờn bà con gái là một chiếc đập, nhưng cũng có thể là một cơn lũ giật sập tất cả.

Đặc biệt là đối với người Việt Nam, bất cứ đám tang nào cũng phải có tiếng khóc. Tiếng khóc trở nên như một phương tiện để biểu lộ tình cảm thương nhớ. Vì thế, những gia đình quá neo đơn đã phải thuê người khác đến để mà khóc, kẻo bị miệng thiên hạ cười chê là bất hiếu.

Tiếng khóc trong một đám tang mang nhiều cung giọng, cũng như mang nhiều ý đồ khác nhau.

Thực vậy, có những tiếng khóc chỉ để mà chào khách. Khi người thân mất đi, mấy bà mấy cô thường được phân công ngồi  trong một góc gần quan tài để…khóc.

Lúc đầu họ khóc với tất cả tình cảm thương tiếc của mình. Nhưng khóc lắm thì cũng mỏi miệng và còn nước mắt đâu nữa để mà tuôn ra. Thế là tụm đầu đấu hót vung vít. Lắm khi còn cười nói oang oang.

Thế nhưng khi vừa nghe thấy tiếng chó sủa, hay có người nhà báo khách đến, lập tức họ bèn xõa tóc, phủ khăn xô xuống và  một, hai, ba…chúng ta cùng khóc. Khi khách ra về, họ lại tụm đầu đấu hót vung vít và cười nói oang oang.

Có những tiếng khóc để thương tiếc cho người nằm xuống, nhưng cũng có những tiếng khóc để thương tiếc cho chính thân phận mình vì từ nay sẽ phải lạc lõng bơ vơ.

Nhà xứ họ đạo kia là tòa nhà gồm một trệt và một lầu. Cha sở ở trên lầu, bà bếp già ở dưới trệt. Chẳng may cha sở bị trúng gió và qua đời. Không biết vì thương tiếc cha sở hay vì thương tiếc cho bản thân mình, mà bà bếp đã khóc nức nở như sau :

- Cha ơi cha, khi còn sống thì cha ở trên còn con ở dưới, bây giờ cha chết đi thì con ở với ai. Ối cha ơi!

Nghe bà bếp khóc thế, ông chánh trương vội quắc mắt và quát  :

- Im đi, không thì người ta cười cho bây giờ.

       Và người ta thì đã cười mất rồi.

Có những tiếng khóc ghi nhớ công ơn của người nằm xuống, nhưng cũng có những tiếng khóc kể lể sự vất vả khổ cực của mình để chửi xéo  kẻ khác.

Chẳng hạn như tiếng khóc của người con gái út trong gia đình :

- Ba ơi ba, khi ba còn sống thì chẳng một ai đoái hoài nhìn đến ba, chỉ một mình tay con đã nuôi nấng phụng dưỡng. Thế mà bây giờ người ta kéo nhau về chỉ để chia chác cái gia tài của ba. Ba ơi là ba.

Có những tiếng khóc thật vu vơ, chẳng biết người khóc muốn diễn tả tình cảm ở mức độ nào.

Một đứa em trai bị đụng xe chết ngắc và bà chị đã khóc như sau :

- Em ơi! Thế là hết thật rồi, em ơi! Thế là hết thật rồi, em ơi!...

Chỉ có mỗi một câu “thế là hết thật rồi, em ơi!” được lặp đi lặp lại trong tiếng nấc nghen ngào, như một điệp khúc buồn ơi là buồn.

Tuy nhiên, không phải chỉ quí vị đờn bà con gái mới khóc, mà ngay cả cánh đờn ông con giai cũng khóc.

Đờn ông con giai cũng có những niềm vui và những nỗi buồn của mình, nên đôi lúc họ cũng đã khóc. Cái khóc của họ thường là cái khóc mà miệng không mếu, mắt không mờ lệ và môi cũng chẳng phát ra thành tiếng. Đó là một cái thầm trong bụng.

Tuy nhiên cũng có những trường hợp họ bỗng òa khóc , khóc nấc lên từng cơn, chẳng khác chi quí vị con nít, nhất là khi đã say xỉn. Đây chính là tiếng khóc của đám đệ tử Lưu Linh đại…đế.

Chẳng hạn mấy tên bợm nhậu ngồi vào bàn với nhau. Sau khi đã ngoắc cần câu, thì bỗng dưng một tên cất tiếng khóc hu hu, ai can cũng chẳng được, thật đúng với kinh nghiệm được lưu truyền trong dân gian :

- Một xị thì mở mang trí hóa.

Hai xị thì giải bớt cơn sầu.

Ba xị thì mũi chảy đầy râu.

Bốn xị thì ngồi đâu…khóc đó.

Nếu cứ phân tích theo kiểu này, gã còn khám phá ra được nhiều loại người hay khóc nữa. Chẳng hạn : Kẻ nghèo khóc đã đành, mà ngay cả người giàu cũng khóc. Những bà vợ khóc đã đành mà ngay cả những bà xơ cũng khóc….Gã xin “xì tốp” tại đây để đụng tới những người không khóc.

Thực vậy, trong cuộc sống có những người chẳng còn biết khóc là gì nữa. Sở dĩ họ không khóc được, vì trái tim họ đã trở nên băng giá và cõi lòng họ đã hóa thành chai đá, không  còn biết xúc động trước những khổ đau và những bất hạnh của kẻ khác.

Bản thân họ không khóc đã đành, mà hơn thế nữa, chính họ lại còn làm cho người khác phải khóc, phải khổ vì những hành động bất nhân của họ.

Chẳng hạn một ông chồng đam mê cờ bạc. Ai cũng thấy rằng hòan cảnh kinh tế hiện nay đang gặp phải rất nhiều khó  khăn. Làm không đủ ăn, lo không đủ mặc. Thế nhưng, ông chồng ấy vẫn cứ vô tư ném tiền vào sòng bạc. Không có thì vay mượn. Vay mượn không được thì về nhà đánh vợ chửi con và làm đủ mọi cách để moi móc cho ra tiền, hầu tiếp tục cuộc chơi, để ngoài tai những tiếng khóc nỉ non của vợ con.

Có một thời, đã lâu lắm rồi, gã say mê chụp hình. Hôm đó, gã đã giơ tay tát cho đứa em nhỏ một cái đau điếng, khiến nó phải khóc thét lên, thế là gã vội vàng bấm máy, chộp  ngay lúc nó đang mếu máo. Bức hình rất đẹp, nhưng gã thì hối hận mãi.

Nhiều nhà đạo đức đã cho rằng những giọt nước mắi cao đẹp và quí giá nhất chính là những giọt mắt ăn năn sám hối, khóc cho quãng đời tội lỗi của mình để được tha thứ, chẳng hạn như những giọt nước mắt của Phêrô, của Mađalêna…

Phêrô đã không nói gì với Chúa, khi Ngài nhìn ông, ông chỉ biết đấm ngực ăn năn khóc lóc mà thôi. Mađalêna cũng không nói gì với Chúa, bà chỉ biết đổ những giọt nước mắt xuống đôi bàn chân Chúa. Những giọt nước mắt này đã nói lên tất cả. Những giọt nước mắt này đã làm nhạt nhòe đôi mắt, nhưng lại làm rực sáng tâm hồn.

Có một tên tướng cướp, sau khi đã tung hoành ngang dọc, bỗng cảm thấy mệt mỏi, muốn trút bỏ gánh nặng tội lỗi  và làm lại cuộc đời.

Anh ta tìm đến với một vị linh mục để xưng tội. Vị linh mục đã bảo anh ta làm một việc đền tội khác thường, đó là hãy đi chôn cất tất cả những người chết mà anh ta gặp, đồng thời hãy khóc lóc như thể đó chính là những người thân yêu của mình. Và để làm bằng chứng, vị linh mục trao cho anh ta một cái chai nhỏ để hứng những giọt nước mắt ấy.

Anh ta ra về và nghe bất cứ nơi nào có đám tang, thì cũng tìm đến, nhưng mắt anh ta luôn ráo hoảnh, chẳng nhỏ được một giọt nước mắt nào. Cho tới một hôm, anh ta tình cờ đứng trước cây thập giá, trên đó Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Anh ta liền than thở với Chúa về nỗi khổ đau là anh ta không thể nào khóc được.

Thật là bất ngờ, anh ta nhìn thấy từ khóe mắt Chúa có những giọt nước mắt long lanh chảy xuống. Chính lúc ấy, tự nhiên nước mắt anh ta cũng trào dâng và rơi đầy cái chai nhỏ mà vị linh mục đã trao cho anh ta.

Anh ta đã hiểu được thế nào là sám hối và quyết tâm làm lại cuộc đời bằng cách ăn ngay ở lành và sống lương thiện.

Để kết luận, gã xin ghi lại một lời khuyên như sau :

- “Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người nhìn con mỉm cười còn con thì lại khóc. Con hãy sống thế nào để trong ngày sau hết, khi mọi người bật khóc, thì con lại thanh thản mỉm cười ra đi.”

       Gã Siêu

VỀ MỤC LUC


Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho GHVN bay lên

*************