|
MỤC LỤC
|
Các môi trường chính yếu của hoạt động Tông đồ
Giáo
dân làm việc Tông đồ đa dạng của mình trong Giáo hội cũng như giữa đời.
Trong cả hai lĩnh vực này, nhiều môi trường hoạt động Tông đồ khác
nhau được mở ra cho họ. Ở đây, chúng tôi muốn nhắc tới những môi
trường chính yếu là: các cộng đoàn Giáo hội, gia đình, giới trẻ, môi
trường xã hội, các lĩnh vực quốc gia và quốc tế. Ngày nay, phụ nữ càng
ngày càng góp phần tích cực vào tất cả đời sống xã hội, cho nên điều
quan trọng là làm sao cho họ cũng tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực
Tông đồ khác nhau của Giáo hội.
Giáo
dân góp phần tích cực vào đời sống và hoạt động của Giáo hội, nhờ được
tham dự vào chức vụ của Đức Kitô tư tế, ngôn sứ và vua. Bên trong các
cộng đoàn của Giáo hội, hoạt động của họ cần thiết đến nỗi nếu không
có hoạt động đó, thì chính hoạt động Tông đồ của các vị Mục tử thường
không thể đạt được kết quả mỹ mãn. Cũng như những Giáo dân nam nữ đã
giúp Thánh Phao lô trong việc rao giảng Tin Mừng (x. Cv.18, 18-26),
những Giáo dân có tinh thần Tông đồ đích thực cũng đang trợ giúp những
anh em thiếu thốn và nâng đõ tinh thần các vị Mục Tử cũng như các tín
hữu khác (x. 1Cr.16, 17-18). Vì được nuôi dưỡng nhờ tích cực tham dự
vào đời sống phụng vụ của cộng đoàn, họ nhiệt thành góp phần vào công
cuộc Tông đồ của chính cộng đoàn đó; họ đem những người có lẽ đang xa
lạc trở về với Giáo hội; họ cộng tác đắc lực vào việc rao truyền Lời
Chúa, nhất là bằng việc dạy giáo lý; Khi sữ dụng khả năng của mình, họ
làm cho công việc mục vụ và cả việc quản trị tài sản của Giáo hội sinh
hiệu quả hơn.
Sắc
lệnh Tông đồ Giáo dân của Thánh công Đồng Vatican 2, số 9 và 10
VỀ MỤC LỤC
|
|
Nhằm mục đích khuyến khích và cổ võ việc
đọc Kinh Thánh, Linh mục JB Đinh Thanh Sơn, ở Canada sẽ hướng
Quý vị đọc toàn bộ những phần chính của Kinh Thánh Cựu Ước cho đến
Kinh Thánh Tân Ước giúp Quý vị biết và hiểu về Kinh Thánh. Chương
trình bắt đầu từ ngày 1/4/2005 và kéo dài đến ngày 1/4/2006.
Email chương trình:
thanhkinh@gmail.com
Mỗi tuần Quý vị sẽ được Mang Luoi Cau
Nguyen thông báo qua Email và trên Internet cho biết đọc đoạn
Kinh Thánh nào với bài hướng dẫn của Lm Đinh Thanh Sơn. Xin Quý vị ghi
danh và thông báo cho bạn bè, người thân biết để cùng nhau tham gia.
Xin Quý vị cầu nguyện cho chương trình này để được Thiên Chúa chúc
phúc và đẹp thánh ý Chúa.
"Không biết Kinh
Thánh là không biết Chúa Ki-tô" Thánh Giê-rô-ni-mô
Xin ghi danh từ bây giờ:
http://www.thanhlinh.net/thanhkinh/DocKinhThanh/GhiDanhKinhThanh.htm
Sách Thánh trong đời
sống của Ki-tô hữu
"Hội Thánh luôn tôn kính Sách Thánh như
chính Thân Thể Chúa. Nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không
ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc
Mình Chúa Ki-tô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).
Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là hai
cách hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh. Tin Mừng theo thánh Lu-ca gợi
cho chúng ta điều ấy trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau: Họ
thấy lòng mình bừng cháy khi Chúa Giê-su nói với họ và giải nghĩa Sách
Thánh cho họ trên đường, và họ nhận ra Người khi Người "cầm lấy bánh,
dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ" (x. Lc 24,13-32).
Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là của ăn
thông ban và nuôi dưỡng sự sống đời đời nơi chúng ta. Trong Cựu Ước,
khi dẫn dân Chúa đi trong hoang địa, Thiên Chúa nuôi họ bằng man-na và
Lời Chúa: "Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh
em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng
chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống
không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa
phán ra" (Ðnl 8,3). Trong thời của Giao Ước Mới này, Chúa Ki-tô Phục
Sinh đồng hành với dân mới. Người nuôi chúng ta bằng Lời Chúa và bằng
Mình Máu Thánh Người. - "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ
phải chết" (Ga 8,51) - "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn
bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là
thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51).
"Hội Thánh luôn công bố Lời Chúa khi cử
hành các bí tích và các giờ kinh phụng vụ, vì Sách Thánh phân phát
cách bất di bất dịch Lời của chính Thiên Chúa và làm vang dội tiếng
nói của Chúa Thánh Thần qua các ngôn sứ cùng các Tôn g Ðồ. Bởi vậy,
mọi lời giảng dạy trong Hội Thánh cũng như chính đạo thánh Chúa Ki-tô
phải được Sách Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực tế, trong các Sách
Thánh, Cha trên trời đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ bằng
tất cả lòng trìu mến" (Mk 21).
Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã nhắc lại lời
thánh Giê-rô-ni-mô: "Không biết Sách Thánh là không biết Chúa Ki-tô"
rồi khuyến khích các tu sĩ "hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Sách
Thánh" và khẳng định: "Các giám mục có phận sự dạy dỗ cách thích hợp
cho các tín hữu đã được trao cho mình biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh,
nhất là Tân Ước và trước tiên là các sách Tin Mừng, nhờ các bản dịch.
Các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và
đầy đủ, để con cái Hội Thánh có thể sử dụng Sách Thánh cách bảo đảm và
ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Sách Thánh" (MK 25).
Hội Thánh muốn trao Sách Thánh vào tay
mỗi người tín hữu và cả những người ngoài Ki-tô giáo, bởi vì "cũng như
đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng lãnh nhận bí tích Thánh
Thể thì cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng sẽ có một đà tiến
mới nhờ gia tăng lòng sùng kính Lời Chúa", là lời "hằng tồn tại muôn
đời" (x. MK 25-26).
Làm thế nào để hiểu Sách
Thánh?
Sách Thánh là Lời Chúa đã thành lời
người, cũng như Ðức Ki-tô là Lời Chúa đã thành người phàm và cư ngụ
giữa chúng ta. Cả hai là công trình của Thánh Thần: Lời Chúa thành lời
người do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra; Lời Chúa thành
người phàm do Thánh Thần tạo dựng tác động trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a.
Công Ðồng khẳng định: "Lời của Chúa diễn tả qua ngôn ngữ của loài
người, được đồng hoá với tiếng nói loài người, cũng như xưa Lời của
Chúa Cha hằng hữu đã trở nên giống loài người, sau khi nhận lấy sự yếu
đuối của xác phàm" (MK 13).
Tính cách "nhập thể" này khiến người ta
phải nhờ đến các phương pháp nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, xã hội, các
phương pháp phân tích văn chương để "tìm hiểu điều các tác giả Sách
Thánh thực sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời
lẽ của họ" (x.MK12). Công việc này Công Ðồng kêu gọi các nhà chuyên
môn thực hiện để giúp những người có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa "truyền
đạt kho tàng bao la của Lời Chúa cho các tín hữu". Còn chính "những
người có bổn phận phục vụ Lời Chúa? phải gắn bó với Sách Thánh nhờ
chăm đọc và ân cần học hỏi? để khỏi trở thành kẻ huênh hoang rao giảng
Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe Lời Thiên Chúa
trong lòng" (x. MK 23-26).
"Nhưng Sách Thánh đã được viết ra bởi
Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và chú giải trong Chúa Thánh
Thần." Muốn thế, phải tôn trọng toàn thể hoạt động của Thánh Thần,
nghĩa là "phải ân cần lưu ý đến nội dung, và sự thống nhất toàn bộ
Kinh Thánh, dựa trên truyền thống sống động của toàn Hội Thánh và trên
sự tương hợp toàn bộ đức tin" (MK 12).
Vậy phải chăng người Ki-tô hữu giáo dân
(không phải là giáo sĩ, tu sĩ, nhà nghiên cứu?) đành chỉ chờ nghe
giảng dạy chứ không được cầm Sách Thánh trong tay mà đọc? Công Ðồng
Va-ti-ca-nô II đã ra lệnh: "Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các
Ki-tô hữu" (MK 22). Trách nhiệm của các giám mục là "dạy các Ki-tô hữu
biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh? nhờ các bản dịch" (MK 25). Như vậy
Công Ðồng khuyến khích mọi Ki-tô hữu trực tiếp tiếp xúc với Sách Thánh.
Làm thế nào để được Lời
Chúa nuôi dưỡng như lương thực?
Công việc của các nhà nghiên cứu và các
người rao giảng là giúp người Ki-tô hữu hiểu Lời Chúa trong Sách Thánh.
Nhưng sự hiểu biết đó không sinh ích gì nếu mỗi người không trở thành
mảnh đất tốt đón nhận hạt giống Lời Chúa, nghĩa là "những kẻ nghe Lời
Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì
mà sinh hoa kết quả" (Lc 8,15).
Thánh Phê-rô tuyên xưng: "Thầy mới có
những lời đem lại sự sống đời đời" sau khi Chúa Giê-su tuyên bố: "Thần
Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với
anh em là Thần Khí và là sự sống" (Ga 6,63.68). Chính vì "tất cả những
gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng" (2 Tm 3,16) và "chính
nhờ có Thánh Thần thúc đẩy mà có những người nói theo lệnh của Thiên
Chúa" (2Pr 1,21), nên Lời Thiên Chúa có sức thông ban Thần Khí cho
chúng ta tương tự như các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Do đó
điều trước tiên là chúng ta phải cung kính đọc hoặc nghe với đức tin
cũng như khi lãnh nhận các bí tích.
Khung cảnh thuận lợi nhất để đón nhận
Lời Chúa là khi cử hành các giờ kinh phụng vụ và các bí tích, vì những
lúc ấy tâm hồn chúng ta được chuẩn bị, và phụng vụ nâng đỡ chúng ta.
Ngoài khung cảnh phụng vụ, chúng ta có
thể đọc và suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa. Ðây là hình thức đón nghe Lời
Chúa trong cầu nguyện đã có từ thời Dân Chúa bị lưu đày ở Ba-by-lon (thế
kỷ VI trước CN). Khi không còn phụng vụ tế tự tại đền thờ
Giê-ru-sa-lem, Dân Chúa mới chú ý đến lời ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ
tụ họp nhau trong Hội đường (ngày sa-bát) để nghe lại Lời Chúa đã phán
dạy qua ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ lắng nghe và nghiền ngẫm, đối
chiếu với những gì họ đang sống. Nhờ đó họ hiểu được nguyên nhân cuộc
sống hiện tại là do tội lỗi của họ gây ra, đồng thời họ tìm được niềm
hy vọng vì khi các ngôn sứ răn đe thì cũng công bố lời hứa cứu độ. Như
thế Lời Chúa dạy cho họ biết hoán cải và hy vọng. Từ đó họ ăn năn
thống hối, cầu xin ơn tha tội, ơn giải phóng, ơn cứu độ?
Trong các văn kiện gần đây, Ðức Gio-an
Phao-lô II đã đề cao việc suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa (xem Tông huấn
về "đào tạo linh mục" số 47; "Ðời sống thánh hiến" số 94; sứ điệp nhân
"ngày quốc tế giới trẻ" 1997 tại Paris, số 6). Chúng tôi xin giới
thiệu với độc giả vài nét về cách suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa này,
dựa theo cách giải thích của Ðức Hồng Y Carlo Maria Martini. Có thể
phân biệt ba bước trong tiến trình suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa:
a. Ðọc
Bắt lấy những yếu tố quan trọng của bản
văn bằng cách chú ý đến các động từ, các chủ từ, các tình cảm, tính
cách của hành động, các sự việc nối tiếp nhau vì lý do nào. Nếu chịu
khó đọc đi đọc lại, sẽ luôn thấy mới mẻ. Liên tưởng đến những đoạn
tương tự trong Sách Thánh giúp ta chuyển từ mạch văn trước mắt đến
những viễn tượng rộng lớn hơn, vì toàn Sách Thánh là một cuốn sách duy
nhất. Ðây là việc khảo sát bản văn, ai cũng có thể làm được. Có thể
nói đọc là tra vấn bản văn.
b. Suy niệm
Khi đọc ta mới chỉ chú ý đến ý nghĩa của
các từ ngữ. Suy niệm là nghiền ngẫm về những tình cảm, những hành động,
những thái độ do kết cấu của các từ ngữ gợi lên: có thể là thái độ của
Thiên Chúa đối với con người: lòng thương xót, sự thành tín, sự công
chính; hoặc thái độ của con người đối với Thiên Chúa và với nhau: ngợi
khen, cảm tạ, thống hối - phản bội, dối trá, hèn nhát? .
Nghiền ngẫm giúp ta nhận ra những giá
trị thường hằng hàm chứa trong bản văn. Sau đó ta đối chiếu với tình
trạng bản thân: tôi đảm nhận những giá trị thường hằng đó như thế nào?
Ðó là để cho Lời Chúa tra vấn, dạy dỗ, an ủi, mời gọi ta.
Việc suy niệm như thế khơi dậy trong
chúng ta những tâm tình, những ước nguyện để thân thưa với Thiên Chúa:
ngợi khen, cảm tạ, thống hối, cầu xin, dâng hiến? Lời Chúa đưa ta đến
chỗ đáp lại, đối thoại với Người. Ðó là cầu nguyện, như Công Ðồng nói:
"Cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Sách Thánh, để có sự đối thoại
giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa khi
cầu nguyện và chúng ta nghe Người nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn
của Chúa" (MK 25).
c.
Chiêm ngắm
Việc nghiền ngẫm và cầu nguyện dần dần
tập trung lại trong việc chiêm ngắm chính mầu nhiệm Chúa Giê-su hiện
diện trong mọi trang Sách Thánh và nhất là trong sách Tin Mừng. Thánh
Thần đưa chúng ta vượt qua bản văn để cảm nghiệm và sống với sự hiện
diện của Thiên Chúa đang hành động trong mọi biến cố Sách Thánh kể lại.
Như vậy chúng ta đi từ bản văn đến những
giá trị bản văn nêu lên và cuối cùng đến với chính Ðấng hành động
trong các biến cố và đang nói với ta.
Bước thứ nhất (đọc) có thể nhờ người
giải thích, giúp đỡ. Bước thứ hai (suy niệm chiêm ngắm) mỗi người phải
đích thân đi vào với ơn Chúa giúp. Bước thứ ba hoàn toàn do Thánh Thần
khơi dậy trong chúng ta.
Nhờ suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa, mỗi
người sẽ được Thiên Chúa đưa vào một kinh nghiệm đích thân gặp gỡ
Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta cốt để đưa chúng ta vào
mầu nhiệm của Người, chia sẻ cho chúng ta sự sống của Người.
Ghi danh doc Kinh Thanh:
http://www.thanhlinh.net/thanhkinh/DocKinhThanh/GhiDanhKinhThanh.htm
Xin cám ơn Qúy vị, Mạng Luới Cầu
Nguyện
VỀ MỤC LỤC
|
Nếu ảnh hưởng của
Lão học bàng bạc, khó tìm thấy một dấu tích nào cụ thể nơi nếp sống
của người Việt Nam, thì ảnh hưởng của Phật học ăn sâu vào tâm thức con
người, thể hiện ra trong ngôn ngữ, trong cách xử sự hằng ngày của mọi
giới, qua hình ảnh linh thiêng và thanh tịnh của ngôi chùa, qua bước
đi chậm rãi khiêm cung của các bậc khất thực, qua âm thanh đều đặn và
trầm ấm của tiếng chuông, nhịp mõ… Những từ ngữ Trung hoa “từ bi,
hỉ xả” như đã Việt hóa từ đời nào, hàm ngụ một sức mạnh thần thánh
của lòng yêu thương đồng thời diễn tả sự độ lượng, bao dung, cứu người,
vô chấp, giữa lòng đời đầy gian trá, bạo động.
Dẫu có nhiều cách
hiểu về Phật học khác nhau như lối nói của nhà Phật gọi là “tùy
duyên khai hóa”, nhưng bất cứ ai là người Việt cũng cảm nhận được
rằng cửa Phật là nguồn văn hóa của tinh thần mở rộng ra với kẻ khác,
không phân biệt hoàn cảnh bên ngoài của họ. Ngỏ mở lòng người là “Từ
bi”, là chia nhau một nỗi “khổ” chung của thân phận làm người trong
thời gian, nơi xã hội. Và từ chỗ cảm được nỗi khổ chung ấy, người
người nỗ lực giúp nhau tìm đường giải thoát.
Các học giả thường
nêu lên Khổng, Lão và Phật là tam giáo đồng nguyên, và tính cách đồng
nguyên ấy không những phát sinh từ một nguồn chân lý chung mà thôi, mà
còn thể hiện những nét chung nơi bước khởi đầu của kẻ nhập môn tìm Đạo.
Thật thế, cả ba nền văn hóa Khổng, Lão, Phật đều nêu lên một tiến
trình tu tập, dẫu cách nói khác nhau: Tu thân, vô vi hay vô
chấp là điều kiện khởi đầu để ngộ được Đạo, là Chân lý. Kiến tạo
hòa bình khởi tự nơi tâm hồn mỗi người, vì sự gẫy đổ trật tự uyên
nguyên không phải nơi thiên tai, hạn hán, nơi thiếu sót của các cơ chế
xã hội... Nhưng do nơi lòng người chỉ biết có mình,”chấp ngã”, xa lòng
nhân, quên Đạo, tự tôn tự mãn.
Đức Khổng không
minh nhiên nói mình là người trời sai lên tiếng, nhưng gián tiếp nói
Đạo Nghiêu Thuấn thiên hạ đã quên, nay ông có bổn phận truyền đạt mà
thôi. Và hiểu được ông chỉ có Trời. Lão không nhắc đến Trời, vì Trời
đã bị người thời ông lạm dụng danh nghĩa để làm nên “đạo giả tạo” theo
ý riêng mình, nhưng ông cũng nêu lên là lời ông có gốc mà các thánh
nhân thời xa xưa thực thi. Ông không nói cơ duyên nào mà một mình ông,
cũng là một con người như trăm người trong thiên hạ, có thể thấy được
Đạo, vượt lên khả năng của mọi người. Và sự thinh lặng đó nói rất
nhiều!
Đức Phật không nói
gì nhiều, nhưng lấy hành trình tìm Đạo, ngộ Đạo của mình để chứng thực
chân lý của nhân sinh.
Ngài được kinh sử
chép lại là con của quốc vương Tịnh-Phạn cai trị thành Ca-tì-la-vê.
Ngài đã kết hôn với công Chúa Câu-tát-la là Da-du-đà-la. Một hôm, vào
gần tuổi 30, Ngài đi ra khỏi hàng cung và gặp những hiện tượng sinh,
già, bệnh, chết. Các hiện tượng tiêu cực đó gợi lên nơi Ngài những câu
hỏi về chân lý cuộc đời con người. Và sau khi suy nghĩ, Ngài xuất gia
tìm Đạo. Lúc nầy Ngài vừa có đứa con tên là La-hầu-la. Ngài tìm đạo
theo sự hướng dẫn của hai ẩn sĩ qua phương pháp thiền định. Nhưng sau
một thời gian, Ngài thấy đây chưa phải là con đường giải thoát. Ngài
liền tự mình đi sâu vào rừng, ẩn mình, ép xác cùng với năm người bạn
của nhóm Kiều-trần-như. Sáu năm khổ hạnh, kiệt sức mà không tìm ra lẽ
đạo. Ngài bỏ con đường truy tìm nầy và trở lại cuộc sống bình thường.
Một hôm đang ngồi dưới cây Bồ-đề, Ngài tự nhiên “đắc đạo” vào năm 35
tuổi. Thế là một vị Phật đại giác đã xuất hiện trên thế gian.
Tác giả cuốn lịch
sử triết học Ấn độ, Thích Mãn Giác, cũng cho biết đương thời của Phật,
tư tưởng Nhà Phật đã gây nên chấn động và làm cớ cho nhiều cuộc tranh
cãi gay gắt. Nói cách khác, có một cái gì mới mẻ khác thường đã xảy ra,
chỏi lại với truyền thống suy tư và hành đạo của người Ấn độ đương
thời. Không nói rõ ra, nhưng gián tiếp qua tiến trình tìm Đạo và ngộ
Đạo của Đức Phật, ta thấy được nguyên do của điểm khác lạ nầy.
Các trường phái tư
tưởng vào thời Phật, dẫu đa biệt, nhưng tinh thần của văn hóa thời đó
được gói ghém trong bước đầu tìm Đạo của Phật. Các tác giả Tây phương
mấy thế kỷ qua cũng từng chú tâm vào việc giải thích Tứ Diệu Đế nhưng
không lưu ý đến “cửa” Phật, tức là chìa khóa để thấy cái khác, cái mới
nơi chân lý nầy.
“Cửa ” đó là câu
chuyện cuộc đời của Phật, sự thất bại của “tìm”, và con đường
chân lý của “ngộ=gặp”.
Nếu lấy cặp mắt của
kẻ “tìm “với luận chứng liên hệ, thì thật ra Tứ Diệu Đế cũng
chỉ là một trong muôn ngàn câu nói khác trong các học thuyết đương
thời với Phật, và hẳn nhiên không có cớ gì để có những tranh chấp gay
gắt ngay từ thời Phật còn sống nơi dương thế.
Tìm
ở đây hàm ngụ rằng chân lý đương nhiên ở trong tầm tay của mình. Sự
bất toàn, khổ đau hiện tại chẳng qua là hiện tượng nhất thời mà con
người tiền kiến rằng tự sức mình mình có thể vượt qua với những kỷ
thuật tu đức, chiêm ngắm hay khắc thì đương nhiên đạt được chân lý và
hạnh phúc… Con đường đi tìm của Tất Đạt Đa là tận dụng các kỷ thuật tu
đức của các bậc thầy đương thời, hoặc do công trình tu luyện riêng để
đạt cho được điều mà ngôn ngữ triết học ngày nay gọi là “một bản chất
đã tiền kiến được xét về mặt hữu thể học”. Theo lối diễn tả của Lão
học là con người tiền kiến có thể biết được, đánh giá trước được đâu
là đúng, đâu là sai, đâu là thật, đâu là giả rồi. Vấn đề là chỉ áp
dụng phương pháp đi tìm cho được điềm mình đã thấy trước mà
thôi.
Phần lớn sách
nghiên cứu Tây Phương dừng lại trong tiền kiến tìm đạo như thế
nầy để trình bày về Phật học. Và Chân lý của Tứ Diệu Đế thường được
diễn tả tuần tự theo nguyên lý nhân quả như sau:
Những hiện tượng
khổ nơi sinh, lão, bệnh, tử =>
khổ
Cuộc đời phù hoa,
thân xác =>
tập
Bỏ cung vua, thiền
định, ép xác =>
diệt
Đạt Đạo sau khi coi
mọi sự là hư không =>
Niết Bàn
Nhưng, hiểu như thế
có xuyên tạc Phật là Đấng ngộ Đạo hay
không?
Nơi thế giới
của tiến trình đi “tìm”,
mỗi người, mỗi nền văn hóa, tùy lúc có thể tiền kiến một ý niệm nào đó
để trụ, để đặt nền cho chân lý mà mình tìm: khi thì bản chất
của một vật thể tự đủ cho mình, không thay không đổi, khi thì cho rằng
một Đại Ngã mà Tiểu Ngã mỗi người có thể đồng hóa sau những tiến trình
tu luyện, khi thì sự sống năng động luôn linh hoạt trong vũ trụ bao
la…. Nhưng mãi cặm cụi tìm làm như mình vốn
có thể biết mình
là ai, mình tìm gì và để được cái gì rồi, kỳ thực thì con người có thể
đơn sơ tự hỏi mình như lời thơ của sách Job trong Kinh Thánh Do
Thái giáo và Kitô giáo nhắc nhở:
Ta sẽ vặn hỏi
ngươi và ngươi hãy cho Ta hay.
Ngươi ở đâu khi
Ta đặt móng cho đất?
Nói đi, nếu sự
hiểu biết của ngươi được soi sáng
Tất Đạt Đa đã đi
đến bước cùng của con đường tìm đó, đến độ mòn mỏi cả cuộc sống
thân xác, nhưng không đạt đến kết quả tích cực nào trên con đường giải
thoát. Cũng một kinh nghiệm tương tự, các môn đệ Đức Kitô đã từng “vất
vả suốt cả đêm, mà chẳng bắt được con cá nào” (xem Gioan 21,3).
Vì con đường đi tìm là đêm, khi ánh sáng chưa đến để gặp con
người.
Thế giới thứ hai
mà Phật nhận ra khi nhìn vào
nhân sinh là thế giới được
thấy dưới con mắt của kẻ gặp
(= ngộ).
Phật tức là Tất Đạt
Đa được chiếu sáng (Illuminé). Nói cách khác như lời Thích Mãn
Giác, Ngài nay là “một vị Phật đại giác”. Một ánh sáng xuyên
qua Ngài, ban cho Ngài sự hiểu biết cao cả. Theo ngôn ngữ thông thường
ta gọi Ngài đã “ngộ”.
Nhưng ánh sánh nào
đã đến gặp Ngài? Gặp ai hay cái gì?
Phật, kẻ đã gặp,
không hề nói ra bao giờ, phải chăng vì không thể nói ra, nếu không thì
sẽ ngược lại với chính chân lý của ánh sáng lạ lùng đã xuyên qua Ngài!
Nhưng với con mắt
của kẻ đã được chiếu sáng, Ngài nói đến yếu tính của cuộc sống con
người qua Tứ Diệu Đế.
— Khổ -
Các học giả đã nói đến khổ khi nêu lên những hiện tượng nào
sinh, lão, bệnh, tật..., những khổ đau đa biệt trong cuộc sống con
người. Nhưng phải can đảm để nói lên rằng đó là những hiện tượng mà
Tất Đạt Đa đã từng nêu lên trong bước đầu tìm đạo. Khổ từ cái
nhìn của kẻ đã gặp không dựa trên sự đánh giá theo tiêu chuẩn kẻ
tìm. Khổ là toàn
thân phận con người ta, vì nó là người.
Và hơn thế nữa đây là hồn sống ban cho con người trong tương quan với
Chân lý: Con người khao khát Sự Thật.
Thánh Kinh Kitô
giáo gọi “khổ” nầy là “khát” và cũng là khổ nạn của Đức
Kitô, con người trọn nghĩa: “Ta khát” (Gioan 19,28; Tv 69,22)
Khát gì? Khát Chân
Lý, là điều mà con người và xã hội không thể ban cho.
Khổ, là vì trong
thân phận con người, con người khát và tìm chân lý, nhưng chân lý luôn
ẩn mặt như bỏ mặc kiếp con người: “Tại sao Ngài che mặt, và xem con
như kẻ thù Ngài.” (Job 13,24). Job nơi Cựu Ước đã nêu lên
cái khổ sơ nguyên nầy; và trên thánh giá Đức Kitô cũng đã thốt ra như
thế để hoàn tất công trình cứu độ của Ngài, diễn tả trọn vẹn chân lý
thân phận làm người trong dương thế:
Lạy Thiên Chúa
của con, lạy Thiên Chúa của con, tại sao Ngài đã bỏ rơi con?
(Mt 27,46; Tv 22,2)
Người ta cho rằng
giáo lý nhà Phật bi quan vì đâu đâu cũng thấy là khổ. Thực ra nếu chỉ
hiểu khổ như một hiện tượng thể lý, tâm lý tiêu cực thì nhận định nầy
thật chí lý. Trong khuôn khổ hạn hẹp tâm lý thể lý, hẳn nhiên nhân
sinh có khổ đau, nhưng cũng có biết bao điều hay đẹp trong trần thế
nầy mà Tạo Hóa ban cho, không thể nào vô ơn để mãi than van. Nhưng
« con người linh ư vạn vật » ngộ được rằng hơi thở của sự sống
linh thiêng cao cả nơi mình là cảm thức thiếu vắng, là khát khao chân
lý tuyệt đối. Tiếp cận lại hơi thở nầy, cảm nhận nỗi khát khao nầy thì
con người mở tung ra với một cảnh vực khác: cảnh vực của một chân trời
mà không một cái gì con người đủ sức tưởng tượng ra có thể là nó cả,
không một ngôn ngữ nào của con người diễn tả được cả. Với hơi thở sức
sống mới, của khổ cứu độ nầy, con người được đưa qua bên kia bờ, hay
nói cách khác là được quay đầu lại để thấy bến bờ của quê thật, để uy
dũng sống nhân tính cao cả của mình.
Một người đang
sống trong thân xác làm người mà không biết đến đói khát nữa hẳn không
phải là triệu chứng đáng lạc quan! Cũng tương tự như vậy, Ngộ
được ý nghĩa của khổ như sự sống của nhân tính chân thật của con người
trong trần thế là thoát được cảnh mê lầm, làm sao có thể cho đó là bi
quan ?
— Tập -
Chân lý thứ hai về thực trạng nhân sinh là Tập. Tập là
làm ( karma, nghiệp lầm lạc, gốc chư « kr » tiến sancrit
là làm) , là chuyển “khổ” vốn là sự sống thật nơi thân phận làm
người của mình thành dục. Nhà tư tưởng Frédéric Nietzsche đã
nói về « Tập » rất chu đáo. Ông cho rằng “khổ” như là sự sống con
người trong thời gian, là khát chân lý, là một nghiệp chướng không
vượt qua nổi nữa rồi. Hãy diệt luôn tất cả những tơ vương về Thượng đế,
Chân lý, kể cả bóng dáng của nó. Hãy dám làm lại một thế giới
của cuộc sống nầy từ cái tôi quyền năng của mình. Ông
gọi “khởi nguyên mới” trấn áp được “khổ căn nguyên”, nghiệp làm người
đó, nay phải là ý chí quyền lực của cái tôi.
Cách đây hơn 25 thế
kỷ, Phật đã thấu đáo cuộc phiêu lưu thực tế của con người trong trần
thế và nơi lịch sử như Nietzsche trình bày.
Có phải « Tập »
là nguyên nhân sinh khổ không?
Nhiều người đã giải
thích như thế khi muốn ghép Tứ Diệu Đế thành một hệ thống có nhân có
quả, có đầu có đuôi. Nhưng cần phân biệt khổ như một thực tế
tiêu cực của con người và cuộc sống (sinh, lão, bệnh, tử…), mà lúc ban
đầu Tất Đạt Đa gặp khi ra khỏi cung điện của mình, và khổ uyên nguyên
là chân lý về thân phận tại thế của con người mà Ngài đã ngộ trong
Chân Lý như một ánh sáng đến với Ngài
(Xem nhận xét của
Walpola Rahula nơi chú thích trên).
Vì khổ nguyên sơ là nỗi khát khao chân lý, là thời gian trọn nghĩa
(la plénitude du temps), nên khi thấm nhập vào « khổ cứu độ
nầy » như ánh sáng soi đường thì con người mới thấy được Tập.
Qua ánh sáng của « Khổ »,
con người nhận ra thực tại nhân sinh đang mê lầm trong vòng vi của « Dục ».
Dục gắn bó với thân phận (nghiệp) con người trong khả năng tự do
có thể chuyển khổ nguyên sơ, khát khao và mở ra với Tuyệt Đối
thành vòng vi của ý chí quyền lực của cái tôi. Khả năng kỳ quái nầy
của Dục như trăm ngàn bàn tay (=hành tạo nghiệp) kết dệt nên
muôn ngàn « thế giới », karma nhân tăng karma ; nhưng toàn thể
vô vàn thế giới do Dục làm ra, dù mang trăm vạn nhãn hiệu khác
nhau, kể cả việc nhân danh thần thánh và các giá trị cao cả nhất, thì
đằng sau lớp vỏ nầy là Dục, sức mạnh kinh hoàng mà Fr.
Nietzsche gọi là « ý chí quyền lực của cái tôi ».
Con người trong
trần thế không ngộ được ánh sáng của khổ uyên nguyên là chân tính của
mình, là mối tương giao sống động với « ai khác », thì vẫn mò mẫm và
vất vả trong đêm tối dày đặc của Dục.[Trong
đêm ấy họ chả bắt được con cá nào (xem Gioan 21,3)].
Nguồn bất an, vô
trật tự ở tại Dục và ngã chấp, vì đây là căn nguyên của sai lạc
và bạo lực. Vì thế kiến tạo hòa bình, trước hết là tìm lại Phật tính,
tức là xóa con đường Dục của chấp ngã để ngộ “khổ” nguyên sơ.
Vào được cửa của khổ uyên nguyên thì chấp ngã vở tung ; bấy giờ con
người nhìn ra được người chung quanh là kẻ khác, khác với mình để
mình tôn trọng tự do của họ; đồng thời cũng nhận nơi kẻ khác nét cao
cả của khổ uyên nguyên chung. Nỗi khổ ấy nối kết, bao trùm con người,
mở ra cái nhìn mới (huệ nhãn = cái nhìn do ân phúc mang lại)
giúp chúng ta thấy được, và nối kết được với chúng sinh trong sự thật.
Tương quan mới mà con người nay cảm nghiệm được trong khổ uyên nguyên
là từ bi « cùng chia nhau nỗi khổ = com-passion, sym-pathie).
— Diệt -
Niết-bàn, còn gọi là “Không”. Con người đang ở trong cái có của
cái tôi, của Dục như một nghiệp chướng, một “tội
nguyên tổ”. Từ thực trạng « tăm tối » mà con người tưởng là « khôn
ngoan phân biệt được lành với dữ, có với không…» nầy , con người định
giá về có và không. Trong ánh sánh của kẻ đã ngộ, đã đi
vào chân lý của khát và khổ uyên nguyên, thì có và không
nầy đều là mê lầm. Thánh Phao-lô và thánh Augustinô hay nói rằng: Tôi
sống nhưng thực ra là tôi đã chết từ lâu rồi!. Thánh Kinh Kitô giáo
hay dùng hình ảnh “bóng đêm, cõi chết” để chỉ thực tại nầy. Nirvana,
Niết Bàn, là Lời Chân Lý chối từ, phủ định tất cả cái có và cái không
mê lầm nầy. Lời phủ định (Vô, Không) đó đúng là sự hiện diện của
Chân Lý đang vắng mặt nơi thế giới ảo tưởng. Nói đến Niết Bàn cũng
nói đến sự diệt bỏ căn nguyên làm nên thế giới giả ảo, nên Niết Bàn
cũng là Vô ngã, Vô chấp.
Nếu chỉ hiểu “ngã”
là thân xác, là vật chất…, thì ta quên rằng căn cơ của “ngã chấp”
không phải là thân xác mà là ý chí quyền lực, là tự mãn.
Chấp Ngã
trong nhà Phật không nằm nơi xác hay hồn, nơi cảm tính hay mơ ước. Ngã
là Dục muốn thu hết toàn bộ thuộc về mình. Chấp ngã đó,
trong ngôn ngữ Kitô giáo, là con người cũ, Adam cũ. Toàn bộ thế giới
và con người cũ đó phải chết đi, phải diệt đi để mặc lấy con người mới,
nhận biết chân lý và mở ra với tha nhân.
Và muốn chết đi thế
giới có – không của Ngã Chấp, thì cần gặp áng sáng nơi chân lý
của khổ uyên nguyên. Nên có lúc Phật lại nói, thấy Khổ là thấy Niết
Bàn.
Con người chết đi cái tôi tự mãn, đóng kín…, mặc lấy sự khao khát chân
lý trường cửu mà mình không làm ra được, để mở ra với Tuyệt Đối và tha
nhân, tạo lại cảnh thái hòa, đó là
ngộ.
— Đạo -
Bát-Chánh-Đạo là những cách thức sống mới khi cái tôi giả ảo đã bị
diệt. Đường đi đó gọi là chính (Samyak). Chính là
« an », cư ngụ trong Chân Lý, cư ngụ nơi nhà thực của mình. Thế
giới thực trong chân lý nầy không phải là một cảnh giới nào khác ngoài
vũ trụ đổi thay, ngoài thân phận con người hay chết; nhưng thực trạng
ấy của nhân sinh nay là trời mới đất mới nơi tâm từ bi, nơi huệ nhãn …
của kẻ ngộ được khổ uyên nguyên.
Bát
là tám, biểu tượng của vô số, của toàn thể. Bát Chánh Đạo là
đường đi cho từng giây phút của cuộc đời. Sách Trung Dung của Nho học
gọi “ Đạo không lìa một giây phút, nếu không thì không phải là Đạo”,
Thánh Phaolô thì nói rằng: khi ăn, khi uống, khi làm bất cứ việc gì
khác … Bát Chánh Đạo là Đạo hiện diện giữa toàn nhân sinh.
Con đường bát
chánh cũng gọi là Trung Đạo: Trung không phải ở giữa, ba phải,
lương ương, nhưng Trung là trúng, là cư ngụ trong sự thật, như
ta đã thấy khi phân tích hai chữ Trung Dung trong Nho học.
Đạo, con đường chân
lý đó là nền của Hòa Bình
* * *
Qua việc lược qua
những ảnh hưởng văn hóa được hội nhập nhuần nhuyển vào cuộc sống của
người Việt, chúng ta có thể tóm lược các nội dung đó qua mấy câu kết
của truyện Kiều, để cảm nhận rằng Hòa Bình là ân huệ nơi Tâm Duy Vi,
là nơi nhân tính cư ngụ:
“Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ
tai một vần!
Đã mang lấy nghiệp
vào thân,
Cũng đừng trách lẫn
trời gần trời xa,
Thiện căn ở tại lòng
ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
(Nguyễn Du- Kiều.
3247-3252)
|
|
BỆNH NGHIỆN SEX
Đầu tháng 3 năm 1999, nhà
thương tâm bệnh DePaul ở New Orleans bảo trợ một cuộc hội thảo do bác
sĩ Patrick Carnes điều khiển, về đề tài: Lành Mạnh Tính Dục và Tinh
Thần.
Bác sĩ Carnes nói ngay:
Đây không phải là cuộc hội thảo về tính dục, mà về nỗi khổ của tình
dục. Người bị tình dục ám ảnh thì khổ sở lắm. Nhiều dấu hiệu cho thấy
cơn nghiện đang hành hạ nhiều người. Có người khi lên cơn thì phải lẩn
lút mò tìm những hộp đêm một cách tội nghiệp, đầy mặc cảm. Có người
phải mất rất nhiều giờ và tốn phí nhiều tiền cho điện thoại khiêu dâm
hay đi vào đường dây gợi dục qua mạng lưới, hoặc nổi cơn thành những
hành động liều lĩnh hơn nữa bất kể hậu quả ra sao!
KHI CƠN
NGHIỆN HÀNH KHỔ
Khoa tâm lý đã chứng minh
rằng quá mê tình dục cũng là một loại nghiện, giống như nghiện rượu,
nghiện xì ke, nghiện cờ bạc. Cơn nghiện này nuốt tươi cả một đời người,
và nhiều khi đến chỗ tàn phá khủng khiếp. Nó tạo ra một sức mạnh đè
bẹp ý chí, không dễ dàng tự ý từ bỏ được, trừ một số trường hợp đặc
biệt!
Bác sĩ Carnes đã viết
cuốn sách đầu tiên về bệnh nghiện tình dục vào năm 1993. Ông cho biết
có nhiều lý do dẫn tới bệnh nghiện này. Có thể vì tuổi nhỏ bị mặc cảm
hất hủi lẻ loi, mất tự tin, có thể vì những dồn nén, những thiếu hụt
trong đời, hay bị phim ảnh, báo chí gợi dục ám ảnh thái quá. Vì thế mà
cần phải chữa trị. Bác sĩ Carnes hiện là giám đốc điều trị bệnh lệch
lạc tính dục tại trung tâm The Meadows ở Wickenburg, bang Arizona, và
thiết lập tại nhiều nơi. Theo Tổ Chức Toàn Quốc về những vấn đề nghiện
tình dục, thì có khoảng từ 6 đến 8% người Mỹ bị bệnh mê dâm này, nghĩa
là vào khoảng từ 16 đến 20 triệu người.
Bài báo do Siona LaFrance
bình luận trong The Times-Picayune ở New Orleans ngày 3 tháng 3 năm
1999 còn đặt câu hỏi về Bill Clinton với cái thói kiếm chác qua nhiều
vụ tai tiếng, có phải rằng ông ta cũng bị thứ bệnh này hành hạ đến
suýt mất chức tổng thống không? Vì một trong những tiêu chuẩn để biết
rằng có thể bị thứ bệnh này, là cứ tiếp diễn cái trò kiếm chác dù biết
hậu quả của nó. Họ không còn đủ sức từ bỏ nữa.
PHƯƠNG
PHÁP CHỮA NGHIỆN
Hiện nay phương pháp tâm
lý thực nghiệm của chương trình chữa nghiện rượu AA (Alcoholics
Anonymous) đang được áp dụng rất hiệu quả vào các loại nghiện khác
như nghiện ăn thái quá, nghiện cờ bạc, nghiện tình dục v.v. Phương
pháp này gồm 12 bước.
-
Bước 1: công nhận sức mình không tự chừa bỏ được.
-
Bước 2: tin vào một Quyền Năng lớn hơn từ trên có thể làm cho
mình hồi phục. Đối với người tin đạo Chúa thì niềm tin này thật rõ
rệt.
-
Bước 3: quyết định trao phó ý chí và đời mình cho Đấng Quyền
Năng lo lắng.
-
Bước 4: quyết tìm một lối sống mới.
-
Bước 5: công nhận với Chúa, với chính mình và người khác về
những sai trái đã gây ra.
-
Bước 6: Sẵn sàng mở rộng để Chúa giải thoát cất bỏ.
-
Bước 7: Khiêm nhường xin Chúa tháo gỡ.
-
Bước 8: Kể ra những người mình đã làm tổn hại, và muốn đền bù
lại.
-
Bước 9: Đền bù trực tiếp những người mình đã làm tổn hại, trừ
trường hợp làm thế có thể gây tổn hại khác.
-
Bước 10: Tiếp tục tìm ra một lối sống mới.
-
Bước 11: Tìm phương cách cầu nguyện để luôn tiếp xúc được với
Chúa, nhận ra ý Chúa cho đời mình và xin ơn sức mạnh để thể hiện.
-
Bước 12: Nhiệt thành chuyển Tin Vui có thể chữa bệnh nghiện này
cho những người khác.
TIN VUI
GỬI NGƯỜI MUỐN VƯỢT THOÁT
Hậu quả của những loại
bệnh nghiện thật khủng khiếp, ai cũng thấy. Tình trạng nhiều gia đình
bị tan vỡ cũng do bệnh nghiện này. Bị ám ảnh cũng giống như bị quỉ ám.
Không phải chỉ có nghiện rượu, cờ bạc, tình dục, xì kè... mà còn nhiều
hình thức khác nữa. Truyền thống đạo Chúa gọi là "bẩy mối tội đầu",
tức là bẩy thứ bệnh, bẩy loại quỉ nằm sẵn trong máu, "từ khi mới sinh",
đôi khi do di truyền từ dòng họ nữa. Bẩy tội gốc đó là: kiêu ngạo, hà
tiện, mê dâm, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, làm biếng. Nét văn hóa
Việt cũng nói tới ba loại quỉ hoành hành là ngư tinh dưới nước, mộc
tinh trên rừng và hồ tinh trong làng mạc. Lạc Long Quân phải cần ơn
trên mới trừ khử được.
Mê tiền bạc vật chất quá
không ngờ cũng là một thứ bệnh nghiện. Mê danh quá cũng là bệnh nghiện.
Bệnh ươn lười chiều dưỡng thân xác cũng là một loại nghiện. Hiện tượng
quỉ ám không chỉ là chuyện đời xưa, mà có thể cũng đang gây nhức nhối
trong mạch máu nhiều người, khiến không sao mà cưỡng lại và vượt thoát
ra khỏi được!
Thì đây Tin Vui tuần này
chỉ cho cách chữa được bệnh nghiện, vượt thoát được tình trạng khổ sở.
Câu truyện Chúa Giêsu chữa một thanh niên bị mù từ khi mới sinh chính
là câu truyện bị ám của mỗi người, không còn biết đường nào mà bước
tới nữa. Và phương pháp chữa bệnh của Chúa cũng chính là điều mà khoa
tâm lý thực nghiệm đã khám phá ra nơi 12 bước của chương trình chữa
nghiện rượu.
Người mù không tự làm mắt
sáng ra được, nhưng nhờ vào niềm tin phó thác vào Đấng Toàn Năng là
chính Nguồn Sáng mà được chữa khỏi. Sau khi nghe lời Chúa Giêsu đi tới
suối Si-lô-e mà rửa, người thanh niên đã được sáng mắt.
Để cho người thanh niên
có dịp biểu lộ niềm tin, Chúa Giêsu đã hỏi: "Anh có tin vào Con Thiên
Chúa không?". Anh ta trả lời: "Thưa Ngài, xin bảo cho tôi hay vị ấy là
ai, để tôi tin vào Người." Đức Giêsu nói: "Anh đang thấy vị ấy trước
mắt; vị ấy đương nói chuyện với anh.". Anh ta liền nói: "Lạy Thầy, tôi
tin," nói rồi anh phục xuống lạy Người. (Gioan 9:35-38).
PHÚT TỊNH
TÂM
Đôi khi một chấn động
mạnh cũng là yếu tố then chốt cho một khúc quặt. Như một câu chuyện
thật của một người trẻ bỗng từ bỏ được vòng tỏa xì ke. Anh và đám đàn
em đã quá đi sâu vào con đường bệ rạc, cho đến một thời gian làm ăn đổ
bể tùm lum, xuống dốc cùng độ, khiến anh phải bắt đầu suy nghĩ. Một
buổi sáng sớm, anh thức dậy thì thấy một cảnh tượng hèn hạ: mấy đứa
đàn em đang lom khom quì xuống liếm những bụi thuốc rơi rớt. Tự nhiên
anh thấy rùng mình kinh tởm, sao đời mình lại có thể xuống dốc tới độ
này, chắc chắn hèn hơn một con vật rồi. Bỗng anh nôn ọe ngay tại chỗ.
Và đó là giây phút anh bừng tỉnh, trở về làm lại cuộc sống.
Trong mạch máu mình cũng
có thể đang bị một thứ bệnh nghiện mê nào đó chế ngự, ám ảnh, cứ sai
khiến bắt phải miệt mài tìm kiếm thêm mà không bao giờ thỏa. Như vậy
là mình đang tự nộp mình làm nô lệ cho những mệnh lệnh đòi hỏi không
cùng, tự đầy ải cuộc sống mình, làm mất đi nét tự do thanh thản.
Lúc này, mình cũng muốn
dành một phút giây tĩnh lặng để cho Chúa hồi phục sức khỏe tinh thần,
dám đối diện với hiện trạng bị một cơn mê nào đó ám ảnh, và áp dụng 12
bước để vượt thoát vòng xích mà tìm lại tự do thực sự.
Lm. Dũng Lạc Trần cao Tường
VỀ MỤC LỤC
|
|
Biến
hình là hiến mình
Sáu ngày sau khi Phêrô tuyên tín Chúa
Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống và cũng sau khi ông bị khiển trách
là Xatan vì khuyên can Thầy đừng đi vào con đường khổ nạn như Người đã
tiên báo (x. 16, 13-23), Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi, cho các ông
diện kiến vinh quang rạng ngời của Thiên Chúa đúng như Phêrô đã tuyên
xưng trước đó. Với biến cố này, Chúa Giêsu muốn cho Phêrô, Giacôbê và
Gioan cũng như cho mỗi người tín hữu chiêm ngưỡng trước vinh quang mà
Người sẽ lãnh nhận cách hoàn hảo sau cuộc Thương Khó.
Đem ba môn đệ đi theo mình, Chúa Giêsu
không chỉ muốn các ông chứng kiến, chạm đến con người Thiên tính của
Người; không chỉ muốn các ông nghe trực tiếp lời minh chứng của Chúa
Cha về Người mà còn để củng cố niềm tin cho các ông nữa. Ba môn đệ là
những người đầu tiên bước theo Chúa. Các ông là những cột trụ của Giáo
hội sau này. Chính vì thế, biến cố hôm nay là một biến cố rất quan
trọng cho đức tin của các ông mà Chúa Giêsu cách nào đó muốn tỏ hiện
để củng cố niềm tin vốn còn yếu nơi con người các ông.
Ba môn đệ đã thấy gì? Tin mừng cho chúng
ta biết các ông đã thấy dung nhan của Thầy mình “chói lọi như mặt trời”
và y phục của Thầy thì “trắng tinh như ánh sáng”. Các tác giả thể văn
khải huyền thường miêu tả sự sáng ngời của những người lành thánh bằng
hình ảnh sáng chói như mặt trời. Cũng vậy, thánh sử Mátthêu đã diễn tả
dung nhan và y phục rạng ngời của Chúa Giêsu tựa như ánh sáng mặt trời
– một sự chói lọi vinh quang Thiên tính không thể diễn tả, nhằm giúp
cho các môn đệ chiêm ngưỡng vẻ đẹp vinh quang rạng ngời của Chúa Giêsu.
Bên cạnh đó, cả ba môn đệ đều chứng kiến
sự hiện diện của hai nhân vật vĩ đại trong Cựu ước là Môsê và Êlia đàm
đạo với Chúa Giêsu. Chiêm ngưỡng cảnh huy hoàng này khiến thánh phêrô
phải thốt lên : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay” và xin được
dựng lều ngay lập tức để giữ mãi giây phút thiên đàng ấy. Không phải
ngẫu nhiên mà Tin mừng Nhất lãm đều nói đến sự hiện diện của hai nhân
vật trong Cựu ước là Môsê và Êlia.
Chúng ta biết, Môsê và Êlia là hai nhân
vật quan trọng của Cựu ước cũng như trong lịch sử dân Dothái. Môsê đại
diện cho Lề luật dân Dothái. Thông qua ông, Giavê Thiên Chúa đã ban
xuống cho dân Người những giới luật làm kim chỉ nam, hướng dẫn tinh
thần cho dân tộc Dothái. Môsê chính là con người của Biển Đỏ, con
người của núi Xinai và là con người của cuộc Xuất hành. Còn Êlia là
một Ngôn sứ vĩ đại, ông đại diện các Ngôn sứ. Chính ông là người chịu
nhiều đau khổ vì Giavê Thiên Chúa, vì dân tộc Israel để rồi sau đó
được cất lên trong vinh quang.
Cả hai ông đều có kinh nghiệm tiếp xúc
với Giavê Thiên Chúa và được chiêm ngưỡng vinh quang của Người trên
núi Sinai và Khôrếp. Đặc biệt hơn, khi nhắc đến tên hai ông, Tin mừng
Nhất lãm không chỉ chỉ nhắc đến những công trạng của các ông mà còn
nhắc đến toàn bộ Kinh thánh Cựu ước mà hai ông đại diện. Mà Kinh thánh
Cựu ước là gì nếu không phải là lời loan báo về một Đấng Mêsia chịu
nhiều đau khổ để đạt đến vinh quang?
Các môn đệ còn được nghe tiếng nói phát
xuất từ Chúa Cha xác nhận nhân thân của Thầy: “Đây là Con yêu dấu của
Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”. Chúng ta
nghe rất quen câu nói này, bởi đã một lần được nhắc đến trên dòng sông
Giođan khi Chúa Giêsu chịu phép rửa. Đồng thời chúng ta cũng thấy lạ,
bởi hôm nay Chúa Cha không chỉ tái khẳng định lời Người đã nói mà còn
kéo thêm một lệnh truyền: hãy vâng nghe lời Người. Ngày xưa, dân
Dothái được khuyên nhủ hãy vâng nghe lời Môsê và các ngôn sứ là những
người thay mặt Giavê Thiên Chúa đến lãnh đạo họ. Ngày nay, Chúa Giêsu
chính là Môsê mới và chính Chúa Cha nhắc nhớ các môn đệ cũng như cho
tất cả chúng ta hãy vâng nghe lời Người, mời gọi các ông biết đón nhận
những biến cố trong cuộc Khổ nạn – Phục sinh của Thầy để có thể trở
nên những chứng nhân đích thực.
Mùa Chay chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi
người chúng ta để cho Chúa biến đổi đời sống mình. Biến hình là hiến
mình. Chúa biến hình nhằm giúp chúng ta ý thức rằng vinh quang mà Chúa
tỏ hiện hôm nay sẽ trở nên trọn vẹn khi Người chấp nhận cuộc Khổ nạn,
chấp nhận thập giá để cứu rỗi nhân loại. Mỗi người chúng ta cũng được
mời gọi biến đổi khi biết chấp nhận một cuộc thanh tẩy tâm hồn, tránh
xa những cạm bẫy tội lỗi, những tư lợi nhỏ nhen ích kỷ hầu có thể đón
nhận ơn thánh Chúa.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
VỀ MỤC LỤC
|
|
CÒN TIN
CHÚA HAY KHÔNG?
Có lần, tôi được một linh mục chia sẻ:
Một anh sinh viên gởi thư nêu thắc mắc bao gồm một nỗi khổ rất lớn,
liên quan dữ dội đến đức tin. Anh sinh viên hỏi rằng, “Thưa Cha, chỉ
còn có ba tháng nữa, con sẽ tốt nghiệp đại học. Dù lúc này, ba con rất
yếu, nhưng con cầu xin Chúa cho ba con được sống cho tới ngày con cầm
mảnh bằng tốt nghiệp về khoe với ba: ‘Thưa ba, đây là bằng tốt nghiệp
của con’. Cha có biết không, cái bằng tốt nghiệp đó, con đã phải chờ
phải đợi biết là chừng nào. Ba con cũng thế, đêm ngày mong mỏi và chờ
đợi để được nhìn thấy con tốt nghiệp đại học. Niềm hy vọng của ba con
lớn lắm, cứ y như là khi con đậu đại học thì cũng chính ba con đậu đại
học vậy. Đúng thôi cha ạ. Vì mảnh bằng tốt nghiệp, nếu con đạt được
thì đâu chỉ của riêng con mà là của cả hai cha con cộng lại. Đó là
công lao nuôi dưỡng của ba con hai mươi mấy năm trời và công lao học
tập miệt mài của con bao nhiêu năm mới có nó. Nhưng Chúa không nghe
lời con xin. Cách nay một tuần, Chúa đã cất ba con. Ba con chết mà
không nhìn thấy kết quả do mình tạo ra, và ngày đêm mong mỏi. Sao Chúa
lại làm như vậy? Sao vậy cha?”.
Và trong lá thư gởi theo địa chỉ mà anh
sinh viên cho biết, vị linh mục trả lời: “Tôi cũng không biết nữa,
không hiểu vì sao Thiên Chúa lại làm như vậy. Nhưng chắc Chúa có lý do
của Người. Đọc thư bạn, tôi thông cảm với bạn, thông cảm nhiều lắm, vì
tôi cũng đã từng gặp đau khổ tương tự như bạn. Tôi cầu nguyện cho bạn
và dâng những đau khổ, dâng sự đồng cảm của hai chúng ta, để Chúa tìm
cách bù cho bạn trong kết quả thi tốt nghiệp sắp tới. Điều tôi quan
tâm hơn hết, đó là bạn còn tin Chúa nữa hay không?”.
“Còn tin Chúa nữa hay không?”. Tôi nghĩ
rằng, lời hỏi đó không chỉ dành cho người sinh viên nào đó đang khủng
hoảng đức tin, nhưng còn là một lời hỏi rất cần cho bạn và tôi. Có
những lúc đau khổ tột cùng, những lúc tưởng như cuộc đời mình bế tắc…,
chính những lúc như thế, chúng ta có còn tin Chúa nữa hay không?
Không biết có bi quan quá không, khi nói
rằng, sống trong cuộc đời, mang thân phận loài người mong manh, hình
như con người phải lo âu, chật vật, phải long đong chèo chống, suốt
đời là một chuyến đi rong xuôi ngược, để cuối cùng buông xuôi đôi bàn
tay nhuộm đầy sương gió bước ra khỏi cuộc đời. Còn nỗi sung sướng, và
hưởng thụ trong hạnh phúc hoàn toàn, hình như chỉ là một khoảnh khắc
bất chợt mà thôi. Có thể nói gọn, kiếp người lận đận là một thường lệ,
và hạnh phúc mỹ mãn chỉ là một ngoại lệ.
Cảm nghiệm nỗi đau trong cuộc đời của
nhiều anh chị em, rồi đọc lại quá khứ đã diễn ra mấy chục năm trong
đời mình, đôi lúc tôi mất bình an, cảm thấy đức tin chao đảo. Thiên
Chúa như xa vời, như tàn nhẫn và lạnh lùng quá đỗi trước nỗi đau của
lòng người. Những lúc như thế, tôi phải đi tìm nguồn an ủi, tìm chốn
nương thân, lui vào cõi thinh lặng của lòng mình, mong muốn được yên
bình, thanh thản hơn. Nếu không, tự bản thân, tôi thấy rằng mình không
thể sống nổi.
Lui vào cõi lòng, nguồn sống duy nhất có
thể giúp mình giải quyết mọi ẩn khuất, cả đến đau đớn thê lương, chỉ
có Thiên Chúa và Chúa Giêsu, con của Người mà thôi. Tôi đã mở Thánh
Kinh. Đọc lại những trang Thánh Kinh ấy, mới khám phá ra rằng, nỗi bấp
bênh của ta hiện nay, đâu phải của riêng ta. Chính Con Thiên Chúa làm
người cũng không thoát khỏi, các tổ phụ, các tiên tri ngày xưa đã từng
chung số phận. Các thánh tông đồ cũng từng nếm trải nỗi thương đau ô
nhục.
Rất nhiều những con người đạo đức, thánh
thiện, lẽ ra được tràn đầy hạnh phúc, thì ngược lại, số phận cứ mãi
lênh đênh bạc bẽo, đau khổ tột cùng như ông Gióp, tiên tri Giona, Êlia,
Giêrêmia, Tôbia, Isaia, Amốt… Đến vị tiên tri cuối cùng của Cựu ước là
thánh Gioan Tẩy giả cũng đã từng hoang mang đến mức nghi ngờ: “Thưa
Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi phải chờ đợi
ai khác?” (Mt 11, 3). Cuối đời, vì lẽ sống và sự thật, thánh Gioan
cũng không đi ngoài con đường mà những người tiền nhiệm đã đi: nếm
trải nỗi đau khổ, tù tội và cái chết bi ai (Mc 6, 17 –29)…
Trong số những gương mặt phải chịu đựng
nhiều thử thách khắt nghiệt, ta không thể nào quên tổ phụ Abraham. Tổ
phụ Abraham được Chúa kêu gọi: “Hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi,
mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho” (St 12, 1). Thế là ông ra đi. Lao mình
vào vô định. Đi trong mịt mù. Đi trong tăm tối. Đi mà chẳng biết mình
đi đâu, chỉ có một hành trang duy nhất là đức tin mà thôi. Suốt đời
ông mơ ước một đứa con nối dõi tông đường, vậy mà chẳng có. Đến khi
ông cả trăm tuổi, vợ ông cũng cao niên chẳng kém, Thiên Chúa mới hứa
ban một đứa con. Một lời hứa như thế thật khó chấp nhận làm sao. Một
lần nữa Abraham vẫn tin.
Đến khi đứa con trai duy nhất của ông,
đứa con thừa tự, đứa con của lời hứa, đứa con ngọc, đứa con ngà đã lớn
khôn, Thiên Chúa lại đòi ông đem nó đi sát tế cho Người. Có tội ác nào
lớn cho bằng tội của một người cha giết con. Có còn lời dạy nào khủng
khiếp cho bằng dạy một người cha giết chính đứa con là máu, là mủ, hơn
nữa là cả cuộc sống của người cha già nua đã từng rút ruột mình sinh
ra. Còn đâu là một Thiên Chúa yêu thương, một Thiên Chúa gần gũi với
con người, hay chỉ là Thiên Chúa tàn nhẫn, say máu cho đến độ đòi một
người cha phải thủ tiêu con của ông làm của lễ tế hiến cho mình. Đúng
là một Thiên Chúa độc ác, không còn gì độc ác hơn.
Càng suy nghĩ như thế về hình ảnh của
Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng thấy đức tin của Abraham lớn bấy nhiêu.
Cứ bắt đầu bằng tình cảm con người, ta suy diễn, sẽ thấy, chắc tâm hồn
ông chao đảo lắm, lương tâm giày vò lắm, cuộc sống của ông mất bình an
lắm. Có lẽ nước mắt đã tràn ngập, đã dàn dụa tâm hồn ông. Và có lẽ
giọt nước mắt ấy rất âm thầm, vì ông không thể để lộ cho con mình biết.
Làm sao dám cho con biết khi chính ông sẽ giết chết con! Mà tiếng khóc
càng âm thầm, tiếng nấc càng nghẹn ứ, nước mắt càng chảy ngược vào hồn
nhiều bao nhiêu, thì nỗi đau càng dằn xé, càng tê tái, càng buốt giá
bấy nhiêu. Nhất là mỗi khi ông nhìn đôi bàn tay của mình. Ngày nào đôi
tay ấy bồng ẳm con, nâng niu con, bây giờ cũng chính đôi tay ấy sẽ thủ
tiêu con. Là cha, là mẹ như bao người cha, người mẹ khác, Abraham se
thắt lòng mình. Nhưng Abraham đã vượt qua tất cả. Đức tin của ông lớn
hơn tất cả. Chính đức tin dạy cho ông biết: Thiên Chúa vẫn yêu thương
ông vô cùng. Người vẫn nhìn thấy ông. Người biết rõ lòng ông. Người có
cách của Người để trù liệu cho ông những điều tốt đẹp nhất.
Vì tình yêu vô cùng mãnh liệt, vì tình
yêu mến Thiên Chúa ngất trời cao, Abraham đã không mất bất cứ một điều
gì, dù là nhỏ nhoi nhất. Còn hơn bất cứ một người nào trong nhân loại,
qua muôn ngàn thế hệ, bằng miệng lưỡi của thiên thần, Thiên Chúa ca
tụng ông: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết
ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của
ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!… Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy
chính danh Ta mà thề: Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con
của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi,
sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời,
như cát ngoài bãi biển…” (St 22, 12. 16 –18).
Người ta nói: “Lửa thử vàng, gian nan
thử sức”. Và tôi thêm, đối với người có đạo, đau khổ trui rèn đức tin
của họ. Với anh sinh viên, tôi tin rằng, nếu anh đọc và suy nghĩ Lời
Chúa, suy nghĩ về cuộc đời của Chúa Kitô, về sự chết và sống lại của
Người, chắc chắn anh sẽ vượt qua nỗi buồn mất cha, dù anh rất yêu cha.
Tôi cũng tin y như thế về bạn và chính bản thân tôi. Nếu chúng ta để
cho Lời Chúa thấm đẫm trong cuộc đời mình, thì có nỗi đau nào bạn và
tôi không vượt qua!
Mỗi người đều có nỗi buồn: gia đình đang
sum họp, bỗng dưng người vợ hay người chồng phản bội, rẽ sang hướng
khác. Gia đình đang sung túc, bỗng dưng một người thân ra đi vĩnh viễn,
mà người thân đó có khi là cột trụ của đời sống, của kinh tế gia đình.
Gia đình đang bằng yên, hạnh phúc, bỗng nhiên một tai ương bất ngờ ập
đến. Người thân phải tù tội, của cải bị trưng thu, mọi người trong gia
đình chới với, hoang mang, con cai mất cả sự học hành, lối xóm chê
cười, họ hàng ghét bỏ… Mất mát thật to, nỗi buồn càng lớn.
Hay con đường tương lai của mình đang
rộng mở, hay sự thành công đang ở trước mặt, nhà cửa vừa mới xây dựng
khang trang, phương tiện đi lại mới được hoàn hảo một chút…, bỗng dưng
một biến cố đau thương xảy đến, làm mất hết tất cả. Hay hy vọng đang
ngời ngời sáng phía trước, bỗng dưng mất mát người thân yêu nhất đời
mình như trường hợp anh sinh viên kia… Những lúc bi đát đến cùng cực
ấy, bạn và tôi hãy nhớ lại lời vị linh mục hỏi chàng sinh viên kia mà
tự hỏi lòng mình: “Tôi có còn tin Chúa nữa hay không?”. Sau đó mở
Thánh Kinh ra mà suy niệm để sưởi ấm lòng mình, lấy lại đức tin đã cạn
kiệt, lấy lại tình mến dẫu chỉ còn như tim đèn chực tắt…
Sau hết bạn cùng tôi dâng lời cầu nguyện,
chỉ một lời ngắn thôi nhưng bằng tất cả tình yêu thẳm sâu tận đáy tâm
hồn: “Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn vững tin vào Chúa”.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
VỀ MỤC LỤC
|
|
PHÊRÔ
VÀ GIUĐA
Sau một đêm thức trắng để cầu nguyện
cùng Thiên Chúa, đến sáng Đức Giêsu kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười
hai ông gọi là Tông Đồ ( Lc 6,12-13). Như thế Phêrô, Giuđa là những
môn đệ được Chúa tuyển chọn. Hai ông được chọn không phải để quay lưng
để phản bội Thầy mà là được sống, được huấn luyện để trở thành những
chứng nhân rao giảng Tin Mừng.
Những năm tháng chan chứa tình Thầy trò
đẹp làm sao ! Cho đến những ngày cuối cùng, khi Chúa bước vào cuộc khổ
nạn thì hai ông đã từng bước đi dần đến sa ngã thảm thương .
Phêrô, Giuđa đều được kêu gọi làm Tông
đồ. Giữa hai ông không có gì cách biệt, thế mà trong phút chốc lại có
sự phân biệt rõ ràng : một người là Thánh, một người là ma quỷ. Chúa
Giêsu đã xử với hai ông như là quỹ dữ. Người gọi Phêrô là Satan
(Mt18,23; 8,33), Phêrô đã cám dỗ Người khi ông cố gắng ngăn cản Người
dâng mình làm lễ hiến tế trên Thánh giá. Ở caphanaum, Chúa Giêsu cũng
gọi Giuđa là quỹ. Chúa đã nói với các môn đệ : Chẳng phải Thầy đã chọn
anh em là nhóm 12 sao ? Thế mà một người trong anh em lại là quỹ (Ga
6,70). Chính “Satan đã nhập vào Giuđa’ (Ga 13,27) trong bữa ăn tối sau
cùng .
Chúa báo trước cho Phêrô và Giuđa rằng
cả hai ông sẽ sa ngã “Đêm nay, tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Phêrô
liền thưa : dẫu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa thì con đây cũng
chẳng bao giờ vấp ngã. Đức Giêsu bảo ông : Thầy bảo thật anh, nội đêm
nay, gà chưa kịp gáy, thì anh chối Thầy ba lần” (Mt 26,31-34). Lập tức
Phêrô phản ứng lại ngay lời cảnh cáo đó. Ong quả quyết : “Dẫu có phải
chết vì Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26,35). Giuđa cũng được
báo trước như thế “ Người giơ tay cùng chấm một đĩa với Thầy, đó là kẻ
nộp Thầy .” ( Mt 26,23) .
Phêrô và Giuđa đã hành động bội phản mà
Chúa đã báo trước. Phêrô đã vấp ngã cách thảm hại trước một đứa đầy tờ
gái vô danh tiểu tốt “Tôi không biết cô nói gì …Ông thốt lên những lời
độc địa và thề rằng : tôi không biết người ấy”(Mt 26 ,69-74) . Giuđa
bán Thầy giá 30 đồng bạc bằng nụ hôn giả dối, chỉ điểm Thầy mình cho
đám đông đến bắt bớ ( Mt 26,47-51) .
Chúa Giêsu đã cố gắng cứu hai ông ra
khỏi cảnh yếu hèn của họ “Chúa quay lại nhìn Phêrô” ( Lc22,61). Chúa
gọi Giuđa là bạn “ Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi” ( Mt
26,50), và để cho Giuđa hôn mình “ Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp
Con Người sao ?” ( Lc 22.48) . Chúa nhìn Phêrô và nói với Giuđa. Như
thế Chúa dùng nghĩa cử bằng mắt đối với ông này, bằng miệng đối với
ông kia.
Cả hai đều hối tiếc về lỗi lầm của mình,
nhưng mỗi người mỗi cách, khác nhau vô cùng !
- “ Phêrô ra ngoài khóc lóc thảm thiết”
( Lc 22,62)
- “Bấy giờ, Giuđa kẻ đã nộp Người, thấy
Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các
Thượng tế và Kỳ mục mà nói : Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến
Người phải chết oan, nhưng họ đáp: Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh !
Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ rồi lui ra và đi thắt cổ” ( Mt 27,3-5) .
Giuđa đã phản bội Chúa, Phêrô đã chối
Chúa. Cả hai đều đánh mất tình con cái. Giuđa không còn tiếp tục tin
tưởng mình vẫn là con của Chúa nên đã thắt cổ tự vẫn. Phêrô khi ở giữa
sự tuyệt vọng đã muốn nối lại mối tình đó nên thống hối với những giọt
lệ ăn năn. Phêrô hối hận vì yêu Chúa, còn Giuđa hối hận chỉ vì yêu
mình .Giuđa đã nhận biết mình nộp máu”Người vô tội” nhưng ông không
muốn ngụp lặn trong Máu Vô Tội ấy để tìm lại sự trong trắng. Phêrô
cũng biết mình có tội nhưng lại muốn mình được cứu rỗi. Giuđa chọn cái
chết. Phêrô chọn sự sống . Sau này Thánh Phaolô đã giải thích lòng sám
hối vì yêu Chúa và sự hối hận vì ích kỷ, sự khác biệt trong thái độ
sám hối của Phêrô và của Giuđa “ Ưu phiền theo ý Thiên Chúa làm cho
chúng ta hối cải để được cứu độ : đó là điều không bao giờ phải hối
tiếc ; còn ưu phiền theo kiểu thế gian thì gây ra sự chết” ( 2Cor
7,10).
Cả hai môn đệ đã được sống với Chúa
những năm tháng tuyệt vời, được nghe Chúa nói, được chứng kiến việc
Chúa làm, được Chúa sai đi rao giảng Tin mừng Nước Trời, được làm
chứng nhân cho Chúa. Bỏ lại tất cả mọi sự để theo tiếng gọi Chúa Giêsu
không chút do dự, hai ông đã sống ba năm trời bên cạnh Thầy Chí Thánh.
Thế mà tại sao một ông lại đứng đầu sổ các Tông Đồ, một ông lại đội sổ?
Có lẽ Phêrô yêu Chúa, còn Giuđa chỉ vì yêu mình !
Sau khi sống lại, Chúa Phục sinh đã hỏi
Phêrô đến ba lần câu hỏi : “Con có yêu mến Thầy không ?” (Ga
21,15-17). Phêrô xác định cả ba lần càng về cuối càng cương quyết hơn.
Ba lần chối Chúa đi từ chối nhẹ đến chối nặng thì hôm nay ba lần xác
định tình yêu từ nông đến sâu. Ba lời xác định là bình minh rữa tội
quá khứ . Sau ba lần Phêrô đáp lại, Chúa giao phó sứ mạng lớn lao :
“Hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy”(Ga21,17). Cuối cùng Chúa nói với
Phêrô : “Hãy theo Thầy” (Ga 21,19). Phêrô chỉ chờ đợi lời mời gọi đó
và lập tức lên đường theo Chúa viết nên những trang sử hào hùng, những
thiên anh hùng ca cho Giáo Hội buổi đầu.
Nhìn cuộc đời Phệrô, tôi thấy một điều
rất rõ là trong trái tim ông lúc nào cũng yêu Chúa. Ong để Chúa mắng
mà không bao giờ giận Chúa. Ngay khi Chúa bảo ông là Satan ông cũng
không giận. Cả khi vì sợ hãi yếu đuối mà chối Chúa ông vẫn yêu mến
Chúa. Không vì tội lỗi hay yếu đuối mà Chúa bỏ ông, chính tình yêu
chân thành trong tâm hồn ông làm Chúa giữ ông lại và trao phó đàn
chiên của Chúa .
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa cho con có tình
yêu chân thành với Chúa . Nếu con có vấp ngã, xin Chúa thức tỉnh con
như Chúa đã thức tỉnh ký ức của Phêrô bằng tiếng gà gáy, một âm thanh
quen thuộc mà Phêrô đã nghe hàng ngàn lần, nhưng được mặc một ý nghĩa
mới : lời cảnh cáo của Thầy chí Thánh. Xin Chúa cũng nhìn con bằng ánh
mắt yêu thương đầy cảm thông tha thứ của Chúa. Nhờ đó con can đảm đứng
lên, sám hối, trở về trong tình yêu của Chúa để đón nhận sự sống, ân
sủng Chúa ban. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
VỀ MỤC LỤC
|
|
Phú ông
nọ tiền bạc rủng rỉnh,
Ðã từ lâu quyết định làm giầu
Ruộng vườn, thóc luá, bò trâu
Của chìm, của nổi, ai đâu sánh bằng !
Hai con trai. Vợ
ông mất sớm
Một tay ông quán xuyến cửa nhà
Canh điền, đầy tớ, quản gia
Ðêm ngày lo lằng, thực là siêng năng.
Người con thứ tuổi vừa khôn lớn
Bữa nọ anh trình với cha anh:
“Thưa cha, công đức sinh thành
Làm con phải báo, mới đành phận con.
Nhưng con nghe:
đời trai ngang dọc,
Chẳng nên quanh quẩn góc, xó nhà
Thưa cha, của cải nhà ta,
Xin cha chia chác con và anh con !
Có tiền rồi, con xoay buôn bán
Bạn bè con, siêu hạng thương gia
Vốn một, lời sẽ thành ba
Quân hầu, đầy tớ như cha bây giờ !”
Sau một đêm nghĩ suy, trăn trở,
Phú ông bèn gọi cả hai con:
“Ừ chia ! Cha cũng bằng lòng,
Vì thằng Út muốn, mỗi con một phần ! ”
Anh chàng Út vui mừng, hể hả,
Gom thóc, tiền, chất cả ... năm xe,
Nửa đàn trừu, nửa đàn dê
Nôn nao, giục giã sớm về kinh đô !
Nơi phố phường, anh quay buôn bán,
Nào xuất nhập, nào cán sợi, tơ
Chơi nhiều, làm ít, lơ mơ
Sau hơn mười tháng lụa tơ cạn dần !
Mỗi buổi chiều anh đi hát xướng
Lúc trà đình. Lúc hưởng cao lâu
Buôn hương, bán phấn, cô đầu...
Ðua nhau lột sạch, anh hầu trắng tay.
Bạn bè thân lánh xa anh hết,
Xưa sẵn tiền, sống chết anh chi.
Nay vì của cải ra đi,
Kiếm một người bạn khác chi mò vàng !
Anh lê la đường ngang, ngõ tắt,
Ði xin ăn cùng khắp mọi nơi
Thất thời, thất thế, than ơi !
Chẳng người thương tưởng, chẳng nơi
nương nhờ !
Lúc quá đói, anh liều xông xáo
Vào chuồng heo, lấy gáo múc... xơi
Chao ơi,
cám nuốt không trôi,
Nhưng mà đói phải ăn thôi, đỡ lòng !
Chợt anh nghĩ cha ta giầu có
Gia nhân cha cũng rượu thịt đầy
Thôi đành thử lá bài này
Trở về tạ tội, cha may thương tình.
Một buổi sáng bình minh rực rỡ
Anh trở về tở mở, nôn nao:
“ Cha ơi, con dại xiết bao
Xin cha tha thứ, trông vào lượng cha !”
Phú ông thấy con thật mừng rỡ
Ông ôm con, hớn hở:” Con thương !
Ngày con từ giã lên đường
Ðêm cha ít ngủ, ngày thường biếng ăn.”
Ông kêu lũ bếp bồi
nấu khéo:
“Hãy giết con bê béo, thật tơ
Quanh trang trại hãy treo cờ,
Áo gấm cậu mặc, quần tơ cậu dùng !”
Chiều hôm đó, người anh về tới
Nhạc dập dình, đám cưới ai đây ?
Cái gì vậy hả, tụi bay ?
Ngày thường không lẽ chúng mày liên
hoan ?
Lũ gia nhân trình rằng:”Cậu Út,
Về sáng nay, ông rất vui mừng
Chúng tôi theo đúng lệnh rằng:
Giết con bê béo, cờ chăng khắp nhà !”
Anh con cả vô cùng giận dữ,
Nghe gia nhân nói rõ nguồn cơn.
Ba chân, bốn cẳng lơn tơn,
Tìm cha, nét mặt hầm hầm, giận run:
“Cha ơi cha, sao cha hiền quá,
Nó là thằng phung phá, cha ơi !
Bao nhiêu của cải sạch rồi
Một tay nó đốt đã vơi gia tài !
Nay nó về, cha cho bê béo
Nhìn tiệc tùng, con héo tim gan
Con từng vất vả không than
Bao giờ con được chỉ làm một dê !”
Phú ông ôm vai con, thủ thỉ:
“Của cải này, con nhỉ, của cha !
Những gì con đã làm ra,
Của cha chung lại, đều là của con !
Nay em con, chết đi sống lại
Mừng nó về, quá phải đấy con !
Nhớ rằng kẻ chết lại còn
Phục sinh, ta hãy cầu mong từng ngày
!”
Ðọc ẩn dụ ta thông tình Chúa
Lượng hải hà hằng thứ tội ta
Người dù tội lỗi, xấu xa,
Trở về với Chúa quyết là Chúa thương !
Ventura County, CA, lễ Tro 2004
Nhà Văn Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC
VỀ MỤC LỤC
|
* Sự khôn ngoan
không ở với những người có tâm địa độc ác.
* Khôn ngoan thế
gian là tro bụi và đau khổ.
Khôn
ngoan thiên đàng, là hạnh phúc vĩnh cửu.
* Người khôn ngoan
nhât, không phải là nhà bác học, tỷ phú, hoặc tổng thống, mà là người
vâng lời Thiên Chúa. Người vâng lời Thiên Chúa, không nhờ đến trí khôn
loài người, nhưng nhờ đến trí khôn của chính Thiên Chúa.
* Chúng ta là lữ
khách và THẾ GIAN là QUÁN TRỌ. Sẽ có ngày chúng ta phải rời QUÁN TRỌ
mà về NHÀ; NHÀ của chúng ta, tùy thuộc vào cách sống của chúng ta hôm
nay.
* SỐNG là chuẩn bị
đi về vĩnh cửu, mà HÀNH TRANG là những gì chúng ta cho đi.
* Sống là chuẩn bị
đi về vĩnh cửu, mà hành trang là YÊU hoặc GHÉT.
Ai có HÀNH TRANG
YÊU, vào cổng Thiên Đàng;
Ai có HÀNH TRANG
GHET, vào cổng Địa Ngục.
Cổng Thiên Đàng
không nhận GHET, trừ ghet Satan và ghet tội.
Cổng Địa Ngục không
nhận YÊU, trừ yêu tiền và yêu dâm ô.
* Nếu bạn ghet một
số người, điều đó không phải vì họ xấu, nhưng tâm bạn xấu.
Nếu bạn yêu tât cả
mọi người, điều đó không phải vì họ đẹp, nhưng TÂM CỦA BẠN TUYỆT VỜI.
* Đời không tôn
giáo, là đời không ý nghĩa.
Tôn giáo không đời,
là tôn giáo viễn vông.
* Thế giới này sẽ
đẹp nếu mỗi Kitô hữu là CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU.
* YÊU là cho đi chứ
không phải đón nhận.
Nếu chỉ muốn đón
nhận, thì chỉ muốn ĐƯỢC YÊU, chứ không phải YÊU.
* TIN MỪNG không
chọn đât sống,
TÌNH YÊU không chối
bỏ gian nan.
* CHÚA GIÊSU là Ánh
Sáng Thế Gian.
Không Ánh Sáng dẫn
lối, chúng ta đi trong tăm tối.
* Chúng ta đến thế
gian với hai bàn tay trắng,
Chúng ta rời thế
gian với trắng hai bàn tay.
* Trên một mộ bia,
người ta thấy có hàng chữ:
Những gì tôi có,
nay thuộc về người khac
Những gì tôi mua,
nay người khac dùng
Những gì tôi cho đi,
nay thuộc về tôi.
* Trên một đầu lâu,
người ta thấy có hàng chữ:
“Tôi, trươc cũng
như anh,
Anh sau, anh cũng
sẽ như tôi.”
* Giá trị đời người
không đo bằng năm tháng chúng ta sống,
nhưng bằng những
việc hữu ich chúng ta làm cho tha nhân.
* Cuộc đời có ý
nghĩa, là cuộc đời sống cho tha nhân.
* Thế gian khen
ngợi tôi, không đẩy tôi về thiên đàng.
Thế gian chê cười
tôi, không kéo tôi xuống địa ngục.
Thiên Chúa định
đoạt số phận đời đời của tôi.
* Giá trị thật của
chúng ta không ở địa vị, danh vọng, tiền của, mà ở chổ chúng ta có
TÌNH YÊU THA NHÂN, ở mưc độ nào?
* Ngày chung thẩm,
Thiên Chúa dùng thươc đo Tình Yêu Tha Nhân để định đoạt số phận đời
đời của mỗi chúng ta.
* Khốn cho những ai
chỉ có danh vọng, địa vị, tiền của mà thiếu Tình Yêu Tha Nhân.
* Phuc cho ai có
Tình Yêu Tha Nhân dồi dào, bởi họ sẽ được ĐẤNG TUYỆT ĐỐI xot thương.
* Cầu nguyện là
DƯỠNG KHÍ của linh hồn.
* Nếu tôi có điều
tự hào, thì đó là điều duy nhât, là tôi có
VỊ THẦY TUYỆT VỜI:
ĐƯC GIÊSU KITÔ.
NGUYỄN HY VỌNG
VỀ MỤC LỤC
|
|
ĐÊM BA MƯƠI TẾT
Thấm thoát đã ba thập
niên (1975-2005). Với những người tị nạn đầu tiên đặt chân lên một đất
nước tạm dung – tiếp theo sau biến cố 30-4-1975 – Đêm Giao Thừa 2005
nầy là “Đêm Ba Mươi Tết thứ ba mươi” ở hải ngoại.
Ý nghĩa Đêm Ba Mươi
Đêm Ba Mươi là đêm quan
trọng nhất vì là thời gian giao lưu giữa năm cũ và năm mới. Đó là đêm
ba mươi tháng Chạp (hay củ mật), cũng còn gọi là đêm ba mươi Tết. Sở
dĩ gọi là “củ mật” vì vào thời gian gần Tết, thường xảy ra nạn trộm
cướp nên mọi nhà đều phải phòng bị hết sức cẩn mật.
Đặc biệt ở miền Bắc và
miền Trung Việt-Nam, vào Đêm Ba Mươi Têt, trời tối như mực, có khi hai
người đi cạnh nhau mà không nhìn thấy nhau. Vì vậy tục ngữ có câu “Tối
như đêm ba mươi Tết”.
Xưa kia, Đêm Ba Mươi Tết
cũng còn là lúc trốn nợ cuối năm. Thông thường chủ nợ cố đòi cho được
nợ vào dịp đó. Người ta “kiêng” bị đòi nợ cuối năm vì sợ rơi vào tình
cảnh bị nợ đòi suốt năm. Bởi vậy người mắc nợ phải trốn nợ cho tới khi
gần giao thừa mới dám trở về nhà… Chính tục lệ đòi nợ cuối năm mà
người ta thường nói “giàu có ba mươi Tết mới hay!”
Ngoài ra, cũng theo tục
lệ từ trước đến nay, Đêm Ba Mươi Tết là đêm quan trọng không kém ngày
đầu năm. Ngay từ chiều ba mươi, người ta đã làm “cơm cúng” gia tiên.
Và tối ba mươi là “đêm không ngủ” để chuẩn bị đón mừng Tổ Tiên về ăn
Tết cùng đón giao thừa – tức tiễn năm cũ và mừng năm mới.
Người Việt-Nam rất có
tình có nghĩa. Với năm cũ sắp hết, cho dù phải trải qua nhiều rủi ro
bất hạnh hoặc làm ăn phát đạt hanh thông, mọi người vẫn tiễn đưa năm
cũ với tấm lòng biết ơn vì được Đất Trời cho hưởng lộc sống trọn vẹn
năm qua.
Ba mươi “Đêm Ba Mươi” ở
hải ngoại
Vào những năm đầu tiên
khi mới định cư ở Bắc Mỹ, nỗi buồn Đêm Ba Mươi thật thấm thía! Vùng
Bắc Mỹ là nơi mùa đông giá buốt kéo dài bốn năm tháng khiến nỗi cô đơn
càng sâu đậm hơn.
“Ai có về bên kia đất
nước,
Thở dùm tôi hơi ấm quê
hương.
Tôi, con én lạc mùa xuân
trước,
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn
phương.
……
Lòng tôi cũng bạc theo
màu áo
Chiếc pháo giao thừa đã
tả tơi
Chén rượu mừng xuân tôi
chẳng uống
Chỉ uống đêm nay những
ngậm ngùi.” “Xuân Đất Khách” – Trần Trung
Đạo.
Thay vì tiếng pháo giao
thừa nổ ran như khi còn ở quê nhà, một làn tuyết trắng xóa bao trùm
cảnh vật, đượm màu thê lương. Không còn cảnh tượng tấp nập đến chùa lễ
bái và hái lộc đầu xuân hay đi nhà thờ dự lễ giao thừa để được sự chúc
phúc của Chúa cho suốt cả năm. Không còn thấy bày ra giữa sân những
mâm hoa quả tốt tươi với những nén hương phảng phất quyện lên không
trung trong giây phút linh thiêng giao hòa giữa năm cũ và năm mới!
Ai nấy ngồi thức giấc cô
đơn trong căn phòng vắng lặng để sống lại trong ký ức những đêm giao
thừa đã đi vào dĩ vãng ở một không gian và thời gian khác:
“Một tiếng pháo phương
nào chợt nổ,
Pháo quê người phá vỡ
không gian;
Giao thừa nầy mẹ có được
an,
Hay lại khóc thương con
biệt xứ!
Xoong bánh lớn nấu bầu
tâm sự,
Mâm xôi vò xéo nát tim
con,
Đĩa chè kho sau Tết hãy
còn
Như vẫn đợi ngày con trở
lại!
Mâm ngủ quả tay cha vừa
hái,
Sắc mùa xuân đượm lại hồn
quê,
Vòng hương thơm cháy tỉ
cháy tê,
Cứ âm ỉ thui lòng lữ
khách!
Con tự khép hồn trong
trang sách…
Tiếng giã giò như phách
tâm can,
Mùi dưa hành thấu ruột
xuyên gan,
Cây đào thể cong mình vẩy
gọi.
Đầu xuân mới ngàn lời
muốn nói,
Pháo nhà ai vọng lại đằng
xa;
Hai hàng mi thấm lệ nhạt
nhòa
Trời tuyết trắng hoa tàn
cơn mộng!” “Xuân Xứ Lạ” – Phạm Văn Hà.
Mặc dù xuân đến và xuân
đi nhiều lần ở nơi phương xa, nhưng không khí mùa xuân không bao giờ
trở lại. Mồng Một Tet cũng chỉ là một ngày trong chuỗi ngày dài của
cuộc đời thường. Dần dà ai nấy cũng thích ứng với cuộc sống mới, không
chút bận tâm với việc “xuân về”, “xuân đến” hay “xuân đi”…
“Ngoài kia xuân đã về rồi
Một mình gác vắng bồi hồi
nhớ quê
Chiều ba mươi Tết lê thê
Nỗi buồn cô lữ càng tê
tái lòng.” “Xuân Về Cứ Ngỡ Xa Xôi” – Bảo Cường.
Từ đầu thập niên 1980 trở
đi – dòng người vượt biên khá đông. Không khí Tết bắt đầu hồi sinh.
Chùa chiền cũng như nhà thờ bắt đầu tổ chức lễ lạt để đón xuân trong
đêm Giao Thừa và những ngày đầu năm…
Khởi từ thập niên 1990,
việc đón xuân của Việt kiều ở hải ngoại có phần trang trọng hơn, với
những khóa lễ đông người tham dự để mừng xuân mới. Những hội chợ Tết
được tổ chức rầm rộ, với những quán xá đủ loại cùng những chương trình
văn nghệ giúp vui…
“Tặng ai một nhánh mai
vàng
Một tràng pháo đỏ trong
đêm giao thừa
Rộn ràng như tiếng hoan
ca
Như tình ai đó đậm đà
thương yêu.” Trích thơ Hoàng Mai.
Đêm Giao Thừa thứ ba mươi
Đêm Giao Thừa năm nay –
năm At Dậu 2005 – là Đêm Giao Thừa thứ ba mươi ở vùng Bắc Mỹ. Trời đêm
nay khô tạnh và không có mưa rơi hay tuyết đổ nên về đêm ít lạnh lẽo
hơn. Không khí đón xuân dĩ nhiên không tưng bừng náo nhiệt như ở quê
nhà. Không có tiếng pháo giao thừa nổ ran, không có cảnh người người
tấp nập đi thưởng xuân như trẩy hội. Vắng cảnh từng đoàn nam thanh nữ
tú đèo nhau trên các xe gắn máy chạy khắp phố phường để du xuân…
Thánh lễ Giao Thừa bắt
đầu sớm hơn, từ lúc bảy giờ tối. Nhà thờ chật ních những người – người
lớn cũng như trẻ em. Mọi người tham dự thánh lễ sốt sắng để cảm tạ
Chúa Xuân vì những Hồng An đã nhạn lãnh trong năm vừa qua và cầu xin
những Ơn Phúc cho năm mới đang tới. Thánh lễ đêm nay xem ra trang
trọng khác thường, bắt đầu với ba hồi chiên trống, tiếp theo sau là
nghi thức niẹm hương trước bàn thờ tổ tiên và các Thánh Tử Đạo Việt-Nam.
Cuối lễ mỗi người nhận
được một lộc xuân do linh mục chủ lễ trao tặng, trong đó gói ghém một
câu Thánh kinh để hướng dẫn cuộc sống Kitô hữu suốt năm At Dậu nầy.
Trong “năm sống mầu nhiệm Thánh Thể”, những câu Phúc Am tương tự như
câu sau đây đã được trao tặng như phúc lộc đầu xuân: “AI ĂN THỊT TÔI
VÀ UỐNG MÁU TÔI THÌ Ở LẠI TRONG TÔI, VÀ TÔI Ở LẠI TRONG NGƯỜI ẤY.” (Ga
6,56). Chính đó là bí quyết của hành trình đức tin đối với Kitô hữu:
Đức Kitô ở trong chúng ta là Anh Sáng đích thực để xua đuổi mọi bóng
tối đang vây phủ chúng ta.
Những ngày đầu xuân năm
nay cũng là cơ hội hiếm có để nhiều người gặp gỡ nhau ở chốn tôn
nghiêm hay tại những hội chợ Tết. Một hiện tượng rất đáng chú ý là thế
hệ trẻ đông đảo đang lớn lên trước sự ngạc nhiên của nhiều người. Họ
là những trẻ em đến từ VN trước kia hay sinh đẻ ở hải ngoại từ hai ba
mươi năm về trước. Giờ đây họ đã trưởng thành và phần đông đã thành
lập gia thất, có người đang “tay bồng tay mang”.
Những em bé nhỏ tuổi
chiếm gần một phần ba số người tham dự những cuộc họp mặt đông đảo đó.
Thật là một niềm vui lớn lao nhưng cũng là điều lo âu đối với giới phụ
huynh. Tương lai đang chờ đợi các em như thế nào?
Hiện tại rất nhiều cha mẹ
vui mừng thấy con cái đỗ đạt thành tài, nhưng cũng không thiếu những
phụ huynh đang khóc thầm vì sự đổ vỡ của gia đình, con cái hư hỏng,
trở thành bụi đời, xa rời tổ ấm gia đình đi vào con đường xì ke ma túy
hoặc gia nhập băng đảng…
Đối với người lớn, đứng
trước thực tế đau lòng đó, thay vì hợp lực tìm kiếm giải pháp để cứu
vản tình trạng băng hoại nầy thì, với tinh thần cố hữu, họ vẫn ưa
thích đàm tiếu chỉ trích lẫn nhau. Tàu đang bị đắm, ai nấy không lo
chống chỏi, trái lại chỉ biết đố kị hận thù lẫn nhau vì những cái nhỏ
nhen.
Hiện nay, một số thanh
thiếu niên đang ân hận vì các bậc phụ huynh trước kia đã không hướng
dẫn nên giờ đây họ phải chuốc lấy những sự đổ vỡ trong cuộc sống đa
tạp nầy. Xin các vị cao niên nên lắng nghe những lời oán thán trầm
thống đó!
Những tin tức đón xuân
tại quê nhà
Trong dịp đầu năm At Dậu
2005, một vài hình ảnh đón xuân từng bừng tại quê nhà được gởi cho
đồng bào hải ngoại. Thật là niềm vui lớn lao thấy đất nước được hưởng
một cái xuân thanh bình khi sự phồn thịnh bắt đầu trở lại, trái với
những cái xuân lầm than trong quá khứ.
Tuy nhiên, bên cạnh những
hình ảnh đẹp đẽ đó, người ta không khỏi hình dung những cảnh đón xuân
âm thầm đang diễn ra trong hang cùng ngõ hẻm của đông đảo quần chúng
kém may mắn hơn. Cảnh tượng đón xuân bẽ bàng nầy đã tác động tâm hồn
một thi nhân khiến thốt lên lời kinh thành khẩn sau đây:
“Lạy Chúa,
Con được no nê mà vẫn
thiếu ăn,
Vì bên con còn người đói
lả.
Con uống nước mát mà họng
vẫn khô ran,
Vì bên con còn có người
đang khát.
Con vui cười mà nước mắt
tuôn rơi,
Vì bên con còn có người
phiền muộn.
Con sáng mắt mà vẫn ở
trong bóng đêm,
Vì bên con còn có người
mù tối.
Con mặc áo đẹp mà vẫn
rách tả tơi,
Vì bên con còn có người
trần trụi.
Con nằm trong nệm êm mà
vẫn thao thức,
Vì bên con còn bao người
thiếu thốn.”
Lời kinh
“VÌ BÊN CON CÒN” của Myrtle Householder, trong sách “Lời Kinh Đẹp
Nhất Thiên Niên Kỷ”
Cảnh tượng đón xuân nầy
gợi lại hình ảnh những lần xuân đến trước kia, khi chiến tranh còn
diễn biến trên mảnh đất quê hương. Vẽ lên trên nền trời u tối Đêm Ba
Mươi là bóng dáng anh lính chiến buồn bã ôm súng ở trong vọng gác đêm
xuân, đang nhớ tới người vợ hiền và con thơ nheo nhóc ở miền thôn dã,
trong khi tiếng pháo giao thừa vọng về từ nơi xa xôi. Những tâm tư đau
buồn đó được ghi lại qua những vần thơ xé nát tâm can của một thi sĩ
cận đại:
“Hôm nay hết một năm
Phải gác tới giao thừa
Quê hương chừng rét lắm,
Lất phất mấy hàng mưa.
……
Đêm ba mươi gió thổi
Tôi lại nhớ con tôi
Vợ đói con cùng đói
Khóc thét lặng từng hồi
Mẹ thì nhiều nước mắt hơn
sữa
Ngực lép con nhai đã rã
rời.
……
Đêm giao thừa đứng gác
Rên rỉ tiếng côn trùng
Tưởng chừng nghe vợ hát
Lời ru êm như bông.”
Cũng trong Đêm Giao Thừa
năm nay một vài mẩu tin dưới đây nhận được từ quê nhà đã phần nào minh
họa bức tranh đau thương của xã hội Việt-Nam hiện nay.
Trước Tất At Dậu, tại
Trung Tâm Mai Hòa – nơi nuôi dưỡng những bệnh nhân Aids ở giai đoạn
chót – những bệnh nhân cũ cách đây một năm đã ra đi gần hết. Trong số
đó, một em đã cắt mạch máu ở cổ tay để tự tử. Có em giận nhau cầm dao
đâm chém… Dù thế, tại Trung Tâm Mai Hòa hiện nay bệnh nhân đông hơn,
độ ba mươi người! Một thảm cảnh xã hội ngày càng trầm trọng thay vì
thuyên giảm.
Tại Trung Tâm Cai Nghiện
ở Cần Giờ, một người cha vào thăm đứa con ở đây vào dịp đầu xuân. Thay
vì vui mầng thấy cha vào thăm lại hất hàm gàn giọng hỏi: “Giờ nầy còn
vô thăm làm gì nữa?” Tuy miệng nói như thế, tay đứa con vẫn cầm lấy
ngay cái bánh bao nhai ngấu nghiến, chẳng hỏi han cha già điều gì.
Tại Long Khánh, một người
con trai đi truyền giáo ở đảo Maurice, để lại mẹ già sống đơn côi. Tuy
đã gần bảy mươi, bà vẫn còn phải đi phụ bán thịt heo với con dâu để
kiếm sống!
Đón xuân tại Trung Tâm
Trọng Điểm Cai Nghiện Ma Túy Bình Phước
Tu sĩ K. – dòng
Phan-xi-cô – đã ghi lại kỷ niệm trải qua một tuần lễ đón xuân At Dậu
với Nhóm 22 nam nữ tu sĩ, trong đó có hai thầy thuộc dòng Phan-xi-cô.
Nhóm nầy đang phục vụ bẹnh nhân Aids tại Trung Tâm Trọng Điểm Cai
Nghiệm Ma Túy tại tỉnh Bình Phước. Những người nghiện ngập ma túy đó
phần đông rất trẻ từ 18 đến 25 tuổi và một số lớn nhiễm bệnh HIV-Aids.
Hiện có khoảng 2300 thanh niên đang cai nghiện, trong số đó khoảng 75%
đã nhiễm HIV. Số người đã phát bệnh Aids khoảng 60 người, được các nam
nữ tu sĩ cùng một bác sĩ Công giáo chăm sóc.
Các nam nữ tu sĩ phục vụ
rất tận tụy, nhất là an ủi tinh thần và chuẩn bị cho họ chấp nhận cái
chết một cách thanh thản. Chính quyền cho phép các linh mục tu sĩ dạy
giáo lý và dâng Thánh lễ tại Trung Tâm Trọng Điểm Cai Nghiện Ma Túy
nầy một cách thoải mái, không bị hạn chế. Trong tám tháng qua, các nam
nữ tu sĩ đã dạy giáo lý cùng rửa tội cho 59 người. Sáng chủ nhật –
mồng 5 Tết – chính tu sĩ K. đã rửa tội 5 người rồi xức dầu cho họ để
về chết tại Thủ Đức, cách Bình Phước 200 cây số, vì Trung Tâm Trọng
Điểm nầy chưa phải là bệnh viện nên các bệnh nhân không được phép chết
tại đó.
Thầy H. – một tu sĩ dòng
Phan-xi-cô – là y sĩ kiêm nha sĩ. Trong hai tháng vừa qua, thầy đã nhổ
răng cho hơn 200 thanh niên nhiễm HIV. Người nghiện ma túy luôn bị hư
răng! Tuy thầy đã thận trọng hết sức nhưng vẫn xảy ra một tai nạn nghề
nghiệp. Vì răng bệnh nhân hơi cứng, thầy nạy mạnh tay nên dụng cụ làm
răng đã đâm vào ngón tay của thầy. Thầy bị chảy máu! Thầy phải đi xét
nghiệm và uống thuốc chống lại HIV. Nhưng kết quả ra sao thì chỉ Chúa
biết! Thầy phải đợi một thời gian nữa các bác sĩ mới cho biết kết quả
là thầy có bị nhiễm HIV hay không.
Thầy rất hiền lành, tận
tụy và được các nhân viên y tế, nhất là các bệnh nhân, thương mến và
kính trọng. Cũng đã có một nữ tu và một tu sĩ khác bị kim đâm vào ngón
tay khi tiêm thuốc cho bệnh nhân Aids! Tại thành phố Saigon đã có
khoảng 400 nhân viên y tế bị tai nạn nghề nghiệp như vậy!
Tu sĩ K. đã cảm tạ Chúa
cho được “ăn Tết At Dậu” với Nhóm nam nữ tu sĩ dũng cảm nầy. Nhóm mang
danh xưng là Cộng Đoàn MAI-LINH – kết hợp bởi hai chữ “MARIA của Chúa
Thánh LINH”. Nhóm rất đoàn kết, yêu thương nhau và tận tình thương yêu
phục vụ bệnh nhân. Họ cưu mang tinh thần của Mẹ Tê-rê-xa thành
Calcutta, của Thánh Đa-Miên tông đồ người cùi tại đảo Moloka và của
Đức Cha Jean Cassaigne tại làng phong Di-Linh.
Lời cầu chúc trong “Đêm
Ba Mươi Tết”
Một linh mục chuyên lo
phục vụ người nghèo, những bệnh nhân phong và liệt kháng ở Saigon đã
gởi điện thư chúc mầng một người bạn ở hải ngoại với những lời lẽ như
sau, trước giờ phút Giao Thừa: “QUA NĂM ẤT DẬU CHÚC ĐƯỢC TRÀN ĐẦY ÂN
NGHĨA CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ!”
Đó là lời cầu chúc có ý
nghĩa nhất! An Tình của Chúa Giêsu Kitô làm cho con người đối xử với
con người đậm đà thắm thiết hơn. An Nghĩa của Chúa Giêsu Kitô đánh tan
bóng tối của Đêm Ba Mươi – đêm trừ tịch – một đêm mang lại nắng ấm
chan hòa của tình thương thay vì hận thù chất chứa, đố kị lẫn nhau. An
Tình Ân Nghĩa của Chúa Giêsu Kitô mang lại niềm hoan lạc nội tâm để
chịu đựng những thử thách cam go do cuộc sống hằng ngày mang lại…
Trong Đêm Giao Thừa và
Đầu Năm Mới, người ta thường chúc nhau mọi điều tốt đẹp nhất. Xin trân
trọng gởi tới mỗi người những lời cầu chúc đầy ý nghĩa sau đây theo
tinh thần kinh “Lạy Cha” cho suốt năm At Dậu nầy:
“Xin chúc nhau
Vừa đủ HẠNH PHÚC để giữ
tâm hồn Bạn được ngọt ngào
Vừa đủ THỬ THÁCH để giữ
cho Bạn luôn kiên cường
Vừa đủ MUỘN PHIỀN để giữ
cho Bạn thật sự là người
Vừa đủ HY VỌNG để cho Bạn
được hạnh phúc
Vừa đủ THẤT BẠI để giữ
Bạn mãi khiêm nhường
Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ
Bạn mãi nhiệt tâm
Vừa đủ BẠN BÈ để cho Bạn
được luôn an ủi
Vừa đủ VẬT CHẤT dể đáp
ứng các nhu cầu cuộc sống của Bạn
Vừa đủ NHIỆT TÌNH để Bạn
co thể chờ đợi trong hân hoan
Vừa đủ NIỀM TIN để xua
tan nơi Bạn những chán nản ngã lòng
Vừa đủ QUẢ QUYẾT để mỗi
ngày của đời Bạn sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm trước
Và vừa đủ TÌNH YÊU để Bạn
có thể thực hiện tất cả những điều nầy…”
Xin tìm đến bên nhau để
chúc nhau những lời thân tình trong dịp đầu xuân, khi còn gặp mặt nhau
trên cõi đời nầy. Sống là sống với, trong giây phút hiện tại và ở nơi
đây. Xin chia sẻ lời nhắn nhủ dưới đây của một người bạn gởi cho một
người bạn, nhân dịp đầu năm At Dậu:
“Hãy tìm đến nhau thăm
hỏi,
Khi mắt chưa mờ,
Lúc chân chưa mỏi,
Đầu óc chưa lẩn.
Hãy gặp nhau thêm một lần,
Vì
Đâu còn có trăm năm mà
chờ,
Liệu ai có kiếp sau mà
đợi.”
Nhà Văn Hương Vĩnh
VỀ MỤC LỤC
|
|
Người
ghét mùa Xuân
Những cơn gió của mùa Đông
hình như còn luyến tiếc không gian. Chúng vẫn lẩn quất đâu đây, thỉnh
thoảng ùa ra, tỏa hơi lạnh buốt làm cho cây cỏ rùng mình, khép nép.
Tuy nhiên, không có gì cản được bước chân trở về của mùa Xuân, những
bước chân hồn hậu, reo vui của một mùa hạnh ngộ. Gió lạnh cũng đành
nhường bước cho những dải lụa vàng ấm áp buông tỏa khắp nơi. Những bầy
chim thiên di từ đâu bay về, nhiều khi rợp cả bầu trời, với những
tiếng kêu ríu. Và hoa ! Hoa nở rộ khắp nơi, trong vườn nhà, ngoài công
viên, trên đồi cao, bên vệ đường. Ở đâu cũng có những bông hoa tươi
thắm, và khí trời đẫm ngát hương thơm.
Trong không gian rực rỡ và
nồng nàn ấy, phấn hoa theo gió phiêu du khắp chốn. Phấn hoa là đà trên
những lùm cây đậu trên bờ cỏ. Phấn hoa vui đùa với đàn ong, lũ bướm.
Phấn hoa nhảy múa trong làn ánh nắng vàng tươi, trong vắt. Và phấn hoa
cũng nhẹ nhàng mơn trớn con người. Có những cô thiếu nữ, mộng đời đang
kết nụ, đặt cánh môi tươi trên những cánh hoa mịn màng đỏ thắm, say
sưa với làn hương quyến rũ của phấn hoa đưa tới, trong khi để trí
tưởng phiêu bồng đến những bến bờ tương lai mật ngọt.
Bên cạnh những cô thiếu nữ
vui đùa với phấn hoa, cũng có những người không thể làm quen với thứ
phấn hương này. Một chút phấn hoa vô tình thoảng qua cũng đủ làm cho
hắt hơi, ngứa cổ hay đỏ mắt. Bạn tôi thì vì phấn hoa mà... xổ mũi liên
miên; và trong túi lúc nào cũng sẵn sàng khăn giấy. Bởi thế tuy mùa
Xuân có tươi, hoa Xuân có đẹp những người dị ứng với phấn hoa vẫn
không thích mùa Xuân; họ tự xưng, hay bị những người khác gọi đùa là
''người ghét mùa Xuân."
Chuyện "người ghét mùa
Xuân'' làm cho tôi nảy sinh một vài ý nghĩ.
Tôi ví mùa Xuân như một
người có nhiều đức tính, đẹp người đẹp nết. Chẳng phải như thế sao,
khi bầu trời mùa Xuân trong sáng, khí hậu mùa Xuân thơm lành, cỏ cây
mùa Xuân tươi thắm, ngay cả mưa Xuân nếu có thì cũng dìu dịu êm mơ?
Người có nhiều đức tính cũng vậy, lòng họ trong sáng, đời sống của họ
đẹp tươi, và ảnh hưởng của họ như làn hương thơm quyến rũ khiến mọi
người chung quanh thương mến. Thế nhưng không phải họ được tất cả mọi
người yêu quí đâu. Thế nào cũng có những người ghét hoặc ghen. Những
việc làm tốt đẹp của họ đem lại lợi ích cho nhiều người, nhưng có thể
vô tình ''đụng chạm'' tới một vài người khác khiến những người nào khó
chiu. Đôi khi việc làm của người có nhiều đức tính chẳng ''đụng chạm''
đến ai, nhưng chính sự trổi vượt của họ đã là nguyên cớ khiến một số
người khó chịu.
Bởi thế, tôi thấy chằng ai
có thể ảo vọng rằng mình hoàn toàn tốt đẹp và sống vừa lòng tất cả mọi
người, cũng như mùa Xuân tươi đẹp như thế mà cũng có người không ưa.
Nghĩ như vậy, người ta sẽ không dám tự hào về những đức tính mình có,
đồng thời cũng chẳng buồn bã đến thất vọng khi nghe những nguồn dư
luận không tốt về mình. Lúc đó người ta sẽ cố gắng để mỗi ngày một
hoàn thiện hơn. Và khi biết những khuyết điểm của mình, người ta không
chán nản, ngược lại sẽ cố gắng loại trừ dần. Người ta sẽ lám cho cuộc
đời mình mỗi ngày càng trở nên một mùa Xuân tươi đẹp hơn, trong sáng
hơn và hữu ích hơn.
Sống như vậy là vừa thực
tế vừa lạc quan. Cách sống ấy khiến cho người ta cảm thấy vui tươi,
yêu đời và thoải mái, hơn là để cho mình lên xuống, chìm nổi với những
lời khen tiếng chê. Sống như thế là biết rõ về mình, sống thật với
mình. Không phải được người khen mà vội tưởng rằng mình thực tốt, cũng
không phải vì bị người chê mà đã cho rằng mình đầy tính xấu...
Tôi nghĩ thêm về chút phấn
hoa làm cho có ''người ghét mùa Xuân'' kia. Thông thường khi bị làm
cho bực mình khó chịu, người ta dễ có khuynh hướng ''ghét''. Tôi ghét
người này vì họ sống thiếu lịch sự. Tôi ghét người kia vì tính họ hay
ghen tương. Tôi ghét người nọ vì họ hay xét nét, lại thêm tính mách
lẻo... Và tôi ghét mùa Xuân, vì mùa Xuân có phấn hoa làm cho tôi bị dị
ứng, hắt hơi xổ mũi tùm lum
Nhưng bạn tôi không phản
ứng như thế. Mỗi khi mùa Xuân về, bạn tôi xổ mũi vì phấn hoa, tôi trêu
bạn là "người ghét mùa Xuân". Bạn cười, trả lời: ''Không phải đâu phải
gọi là ''người được trời thương" chứ! Tôi hỏi tại sao, bạn giải thích:
''Tại trời thương, nên mỗi khi Xuân đến, trời mới tặng cho một chút
phấn hoa. Phấn hoa là tín hiệu cho biết trời thương mình lắm! Bạn còn
nói thêm: ''vì được trời thương, nên mình cũng giúp trời cho nở thêm
những bông hoa trắng mùa Xuân nữa!'' Vừa nói, bạn vừa chỉ những tờ
khăn giấy bị vò vất trắng xóa thùng rác sau khi được dùng lau mũi!
Tôi bật cười về ý tưởng
của bạn. Nhưng nghĩ lại, thấy ý tưởng ấy thật dễ thương và làm cho đời
sống người ta trở nên vui tươi, thoải mái. Nghĩ thêm về bạn, tôi thấy
không phải bạn chỉ phản ứng với phấn hoa một cách dễ thương như thế.
Với tất cả mọi người chung quanh, bạn cũng đều có những phản ứng tương
tự.
Có một lần bạn bị người
bán hàng đánh lừa. Khi biết ra, bạn chỉ cười và nói: ''ít ra ông ấy
cũng được một ngày vui vì đánh lừa được một người khờ!'' Lần khác, bị
một người thân phản bội. Chuyện này nặng hơn một chút phấn hoa nhiều,
cũng nặng hơn cả chuyện bị người bán hàng đánh lừa nhiều. Nó khiến bạn
đau khổ lắm,..nhưng cho đến thế đi nữa, bạn cũng không hề có phản ứng
trả thù. Bạn chỉ dán bài hát ''Con đường Ngài đã đi qua" của Văn Chi
lên tường trước bàn giấy. Bài hát ấy có những câu thế này: "Lạy
Chúa, con đường nào Chúa đâ đi qua ? Con đường nào Ngài
ra pháp trường ? Mão gai
nào hằn lên đau xót? Lạy
Chúa, những bước nào gục ngã đau thương
? Bao roi đòn hằn vết
thê lương? Đường tình
đó Ngài dành cho con.''
Đó là những câu hỏi. Và đây là những lời tự hứa mà không cần chờ Chúa
trả lời: "Lạy
Chúa, xin cho con bước
đi với Ngài, xin cho
con cùng vác
với Ngài thập giá trên đường đời con
đi. Lạy Chúa, xin
cho con đóng
đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài...''
Bạn xem lần bị phản bội đó là một thánh giá, một dấu đinh, để từ đó,
bạn hiểu thêm về tình yêu của Chúa.
Thực ra, quan niệm của bạn
là: không vì một chút phấn hoa làm cho ta xổ mũi mà ta từ chối cả một
mùa Xuân tươi đẹp với cỏ hoa muôn màu muôn vẻ . Cũng thế, không vì
khuyết điểm của ai đó làm cho ta bị tổn thương hay khó chịu mà không
chấp nhận cả con người họ, một công trình của tạo hóa, với rất nhiều
điều diệu kì đáng quí. Đó là cả một quan niệm sống, và quan niệm ấy
đòi hỏi người ta phải có tâm hồn rộng mở và tấm lòng quảng đại. Hình
như bạn luôn luôn tin rằng bản tính của con người vốn thiện, mà những
khuyết điểm chỉ là những vết xây xát bên ngoài do hoàn cảnh sống gây
nên.
Sáng nay, một buổi sáng
mùa Xuân,, tôi ra vườn sau ngắm những cánh hoa vừa nở. Một vẻ đẹp dịu
dàng và tươi mát làm cho khu vườn nhỏ ấm áp và thân mật. Tôi nhìn
những chú ong bay lượn trong không trung. Chắc chắn những chú ong này
đang tìm các loại phấn hoa đem về làm mật. Tôi nhớ đến hai câu thơ mộc
mạc in ở bìa một cuốn sách giáo khoa, dưới hình vẽ mấy bông hoa và mấy
chú ong hút mật:
"Ong bay đây đó
tìm hoa,
Để rồi
làm mật, gọi
là mật ong "
Có lẽ trên đời này không
còn chất mật nào thơm ngon, quyến rũ chơ bằng mật ong. Chất mật ấy
được chế tạo bằng mật hoa và phấn hoa. Phải, cái thứ phấn hoa làm cho
những người bị dị ứng hắt hơi xổ mũi tùm lum, lại là một chất liệu để
ong chế biến thành một thứ mật có hương vị vô cùng ngọt ngào quyến rũ.
Thế thì, thật sự phấn hoa đâu có đáng ghét và đâu lỗi lầm gì. Cái
khiến cho người ta bị dị ứng có lẽ là sự cấu tạo của cơ thể chính họ.
Tôi nghĩ đến bạn và mỉm
cười bâng quơ. Bạn đã chọn thái độ đúng nhất: không trách phấn hoa,
không ghét mùa Xuân, cũng chẳng nhận lỗi về phần mình. Bạn chỉ nhận
thức rằng: khi trời gửi cho mình một chút phấn hoa khiến cho mình xổ
mũi, thì có nghĩa là trời đặc biệt chú ý đến mình, và vì thế chọc ghẹo
mình tí chút. Bị người chọc ghẹo, đôi khi còn cảm thấy vui, huống hồ
được trời chọc ghẹo, chẳng lẽ mình lại không thấy vui sao? Chính vì
thế càng bị xổ mũi vì phấn hoa, bạn càng thấy mình được ''trời thương''
và càng giúp trời làm cho nở thêm nhiều... bông hoa trắng!
Tôi mong ước được giống
như bạn, và cùng với bạn, được giống Chúa Ki tô. Ngài yêu thương tất
cả mọi người, chịu đựng tất cả mọi hoàn cảnh, thông cảm với tất cả mọi
cảnh đời Ngài cúi xuống nâng đỡ, chăm chút từng tâm hồn, như người chủ
vườn cúi xuống nhìn ngắm và săn sóc từng bông hoa. Ngài yêu tất cả mọi
đóa hoa, bất kể hình dáng, màu sắc, hương thơm. Ngài không sợ bị phấn
hoa làm cho xổ mũi, mặc dù chắc chắn Ngài rất nhạy cảm; cũng chẳng sợ
bị gai cào xước bàn tay. Bởi vì Ngài là người chủ vườn nhân hậu, đầy
vêu thương và giầu lòng quảng đại.
Và với tâm tình như thế,
tôi thấy mùa Xuân Thượng Đế ban cho con người thật đẹp. Mặc dù bây giờ
tôi không bị dị ứng với phấn hoa, nhưng nếu sau này có mang chứng đó,
chắc chắn tôi sẽ thấy mùa Xuân vẫn đẹp. Bởi vì tôi có tấm gương sống
của bạn và có bài học của Chúa Kitô.
Nhà Văn Quyên Di
VỀ MỤC LỤC
|
|
ĐỨC TIN LÀ HÀNH ĐỘNG
Tuổi trẻ hôm nay (I)
Cuộc sống của bạn hôm nay thật bận
rộn. Cả ngày bạn phải chạy đua với với nhiều công việc một cách thật
vôi vã. Vội vàng tới trường, vội vàng tới sở làm, vội vàng tới tiệm
mua thức ăn, hối hả tới nhà băng và vội vàng trở về nhà.
Thật là vất vả, nhiều khi bạn làm
việc như cái máy. Thời gian chỉ có giới hạn, nhưng việc phải làm thì
lại quá nhiều, như vừa đi vừa ăn, giặt giũ quần áo, tập thể thao… Có
phải cuộc sống đòi hỏi bạn phải làm tất cả những gì bạn muốn làm không?
Nhiều khi cuộc sống bận rộn trở thành
một thứ nghiện ngập. Có khi bạn sợ nhàn rỗi; nhưng khi có giờ rảnh,
bạn lại không biết thưởng thức sự nhàn rỗi đó và phải làm gì cho hết
thì giờ.
Tất cả những bận rộn, làm cho cuộc
đời của bạn ra hời hợt giả tạo. Nhưng tại sao bạn phải vất vả quá như
vậy? Tai sao bạn phải làm những điều chẳng mang lại cho mình một lợi
ích nào?
Đôi khi bạn cũng đã khôn ngoan ghi
trên chương trình sinh hoạt một thời gian cần thiết dành cho chính bạn;
nhưng khi có một ngừơi gọi, bạn lại quên với chính bạn. Thế là bạn
không bao giờ có một phút qúi hoá dành cho chính mình. Bạn có dành mỗi
ngày lấy vài phút để thịnh lặng, lắng lòng xuống để lắng nghe và hỏi:
“ Con đây, con đây, Chúa muốn con làm gì không?”
Và Đức Giêsu sẽ nói với bạn: “Ai ở
lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều
hoa trái. Vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được.” (Gioan 15,5)
Xin bạn hãy đọc thong thả Lời Chúa
trên từng chữ, hai, ba, bốn chữ… một, thật thong thả và lặp đi lặp lại,
sẽ thấy Chúa trả lời.
Phó tế JB.
Nguyễn Định
VỀ MỤC LỤC
|
|
CHẢ VÀ NEM
Chuyện phiếm của Gã
Siêu
Gã xin bắt đầu mẩu
chuyện phiếm hôm nay bằng cách tìm hiểu về nguồn gốc của Táo Quân.
Trước hết là bên
Tàu : Người Trung Hoa có một tập tục rất xa xưa, đó là cứ đến mùa hạ,
thì tổ chức lễ tế thần Táo. Chung quanh sự kiện này, có rất nhiều giả
thuyết và truyền thuyết được lưu hành trong dân gian.
Theo Châu Lễ, Táo
Quân tên thật là Chúc Dung.
Sách Hoài Nam Tử
lại chép vua Hoàng Đế là người đầu tiên đặt ra việc nấu nướng, đến khi
mất hóa thành Táo Quân.
Ngũ Kinh Di Nghĩa
lại chép : Thần Táo tên là Tô Cát Lợi.
Theo sách Dũ Dương
tạp trở thì Thần Táo tên là Ổi, có vẻ mặt xinh đẹp như con gái.
Tiếp đến là bên ta
: Theo một truyền thuyết, thì hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo, phải
phiêu bạt mỗi người một nơi. Về sau, người vợ lấy chồng khác. Một hôm
có người ăn mày đến xin sự bố thí. Khi người đàn bà đem cơm gạo ra cho,
thì mới hay người hành khất ấy chính là chồng cũ của mình.
Sợ người chồng sau
biết được, người vợ liền đem dấu vào ổ rơm. Bất ngờ, người chồng sau
lại dùng ổ rơm để nướng con thú vừa mới săn được. Người chồng trước
sợ chui ra sẽ làm cho người vợ xấu hổ với người chồng sau, liền can
tâm chịu chết thiêu.
Người vợ quá đỗi
khổ đau, bèn nhảy vào đống lửa mà chết theo chồng. Người chồng sau
thấy vậy quá thương vợ, cũng nhảy vào cùng chịu chết luôn.
Linh hồn của ba
người này được Thượng Đế thưởng công, truyền cho làm thần Táo. Vì thế,
trong ca dao Việt Nam mới có câu :
- Thế gian một vợ một
chồng,
Nào như vua bếp, hai
ông một bà.
Từ câu chuyện trên,
gã rút ra được hai điểm son đáng suy gẫm, đó là địa vị của chị đờn bà
trong xã hội và sự chung thủy trong tình yêu vợ chồng. Hai điểm son
nay thật là quí hiếm, nếu không phát huy thì sẽ dần dần bị mai một.
Về địa vị của chị
đờn bà trong xã hội, gã nhận thấy từ đông sang tây, cũng như từ cổ chí
kim, hầu như cả và thiên hạ đều mang lấy một quan niệm na ná giống
nhau, đó là trọng nam khinh nữ.
Sách Sáng Thế ký
của Kitô giáo viết rằng : Thiên Chúa đã dựng nên Adong, tức là người
đờn ông đầu tiên, từ bùn đất, rồi phú bẩm cho một sinh khí để ông được
sống động.
Thấy ông cô đơn vò
võ một mình, Thiên Chúa động lòng trắc ẩn, bèn dựng nên cho ông Eva,
tức là người đờn bà đầu tiên, từ nửa chiếc xương sườn của ông. Thoạt
nhìn thấy Eva, cặp mắt Adong đã sáng lên niềm vui, ông hớn hở nói :
- Này đây xương bởi
xương tôi và thịt bởi thịt tôi.
Chẳng biết có phải
vì Adong được dựng nên trước, còn Eva được dựng nên sau, cũng chẳng
biết có phải vì Eva được dựng nên chỉ bằng một nửa chiếc xương sườn
của Adong hay không mà trải qua dòng thời gian, đờn ông vẫn được trọng
kính và trọng dụng hơn đờn bà, mặc dù Giáo hội đã ghi công đầu trong
việc giải phóng và nâng cao địa vị của người phụ nữ.
Ngay như thánh
Phaolô cũng đã viết :
- Người làm vợ hãy
phục tùng chồng, như phục tùng Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như
Đức Kitô là đầu của Hội Thánh.
Trước khí thế đấu
tranh đòi bình quyền và bình đẳng giữa nam và nữ, trong những năm gần
đây ở bên Tây cũng như ở bên Mỹ đã dấy lên một phong trào đòi cho phụ
nữ, ít nữa là các…ma sơ, được làm cha, làm linh mục !
Còn ở Việt Nam, lác
đác trên báo Công Giáo và Dân Tộc gã cũng đã thấy xuất hiện một vài
bài viết, đại khái các sơ than thở về thân phận hẩm hiu của mình và
mong sao được các đấng các bậc trong Hội Thánh lưu ý, nâng đỡ và trân
trọng hơn một tí.
Đồng thời, gã cũng
thấy xuất hiện một vài bài viết, đại khái so sánh địa vị “ông bà cố
của cha” với “ông bà cố của sơ”, để rồi nghiệm ra rằng ông bà cố của
cha nặng ký hơn nhiều vì được bàn dân thiên hạ kính trọng. Còn ông bà
cố của sơ cũng được kính trọng đấy, nhưng còn bị lép vế nhiều bề, cứ
y như ngọc bị đá đè vậy !
Bên tây phương,
thân phận chị đờn bà thật rẻ rúng, họ bị liệt vào hàng nô lệ, bị coi
như một phương tiện cho cánh đờn ông con giai mua vui, hay bị đồng hóa
như một đồ vật để đổi chác.
Khi một bé gái mở
mắt chào đời, thì ông bố là người quyết đình sự tồn vong của nó. Ông
muốn nó sống thì nó được sống. Ông muốn nó chết thì nó phải chết.
Còn bên đông phương,
thân phận chị đờn bà cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Nền luân lý Khổng
Mạnh đã thống trị toàn bộ những sinh hoạt xã hội.
Thực vậy, người ta
coi trọng con giai hơn con gái :
- Nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô. Nghĩa là sinh một cậu con giai thì được kể như là có,
chứ còn sinh mười cô con gái, thì vẫn bị kể như là không.
Rồi ba chữ tòng là
như ba sợi dây bền chắc đã cột chặt người con gái cũng như người đờn
bà vào với gia đình và chồng con :
- Tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Ở nhà thì phục tùng cha. Đi lấy
chồng thì phục tùng chồng. Chồng chết thì phục tùng con.
Thành thử, bà vợ
chỉ còn là một chiếc bóng mờ nhạt trong gia đình cũng như ngoài xã hội:
- Phu xướng phụ tùy.
Chồng phán điều chi, thì vợ lập tức phải nghe theo.
Từ đó, ông chồng dễ
mang lấy cung cách xử sự theo kiểu “chồng chúa vợ tôi”, coi bà vợ như
một đầy tớ không công, hay như một chiếc máy để đẻ con cho mình không
hơn không kém.
Có những bà vợ đã
hy sinh trót cả tuổi thanh xuân, tần tảo nuôi ông chồng ăn học. Thế
nhưng khi vừa mới đỗ đạt, ông chồng bội bạc bèn nhảy tót sang thuyền
khác, kiếm lấy một cô vợ vừa trẻ đẹp, vừa giàu sang, vừa con nhà quan
để làm bàn đạp tiến lên trên đường danh vọng. Chỉ tội nghiệp cho bà vợ
già, âm thầm và lầm lũi khi tuổi đời xế bóng về chiều.
Tại một số nơi như
Ấn Độ người ta còn thi hành một tập tục dã man khác, đó là khi ông
chồng qua đời, thì bà vợ cũng phải chết để theo hầu ông chồng nơi chín
suối.
Nhất là trong lãnh
vực tình cảm, số phận của bà vợ thật là bẽ bàng và cay đắng. Hai chữ
“tiết hạnh” được dành riêng cho người phụ nữ :
- Trai thời trung hiếu
làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm
câu trau mình.
Cũng vì hai chữ
tiết hạnh này, khi ông chồng còn sống, bà vợ chẳng bao giờ được phép
tơ tưởng linh tinh đã đành, mà ngay cả khi ông chồng đã phiêu diêu
miền cực lạc, bà vợ cũng phải ở vậy thờ chồng và nuôi con. Chứ mà bước
thêm một bước nữa, ắt sẽ không thoát khỏi búa rìu và sự cười chê của
dư luận.
Trong khi đó, nền
luân lý ấy lại tỏ ra lỏng lẻo và dễ dãi đối với cánh đờn ông con giai:
- Trai năm thê bảy
thiếp,
Gái chính chuyên chỉ
có một chồng.
Anh con trai tha hồ
mà vung vít. Năm thê bảy thiếp là hệ biên chế, hệ trong luồng và hệ
chính ngạch, có cưới có xin hẳn hoi. Còn những cuộc tình qua đường,
thầm lén vụng trộm thì chỉ mình ông trời mới biết.
Ca dao cũng đã từng
diễn tả :
- Dầu chàng năm thiếp
bảy thê,
Thì chàng chẳng bỏ gái…sề
này đâu.
Theo sử sách còn
ghi lại thì một con người chững chạc và đáng kính như Nguyễn Công Trứ
lại tỏ ra sành sỏi và phong lưu hết ý. Khi lên chùa, ông cũng dắt theo
mấy cô hầu non để cùng “đăng sơn ngoạn cảnh” và ông đã diễu cợt :
- Gót tiên đủng đỉnh
một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông
ngất ngưởng.
Với một sinh lực
dồi dào và cường tráng, năm 73 tuổi ông vẫn còn cưới thêm nàng hầu và
có tất cả 14 bà vợ.
Đêm tân hôn, giai
nhân hỏi ông bao nhiêu tuổi, (tân nhân dục vấn lang niên kỷ), ông đã
chẳng ngần ngại đáp :
- Ngũ thập niên
tiền nhị thập tam, nghĩa là năm mươi năm về trước tôi mới 23 tuổi.
Anh đờn ông con
giai được thả lỏng như vậy, thì đâu có lỗi phạm gì khi chán cơm, mò đi
ăn phở. Vì thế, ngoại tình dường như chỉ là một tội được dành riêng
cho chị đờn bà con gái :
- Không chồng mà chửa
mới ngoan,
Có chồng mà chửa thế
gian thiếu gì.
Nơi người Do Thái,
gã cũng thấy như vậy. Đã phạm tội ngoại tình, thì đương nhiên phải có
cả nam lẫn nữ. Thế mà khi bắt quả tang những kẻ phạm tội này, bọn Biệt
phái chỉ dẫn đến Chúa Giêsu mỗi một cô nàng để Ngài xét xử, còn cậu
chàng thì được làm ngơ cho cao chạy xa bay.
Riêng ông chồng,
nếu không ưng vợ mình ở điểm nào và muốn rãy bỏ, thì chỉ cần đưa cho
bà một tờ giấy chứng nhận thế là xong, đường ai người ấy đi.
Trong khi ông chồng
nhởn nhơ và phè phỡn với những cuộc tình trong luồng cũng như ngoài
luồng, thì bà vợ sẽ lãnh đủ nếu lỡ dại đính dấp vào tội danh này.
Thực vậy, nơi người
Do Thái cũng như nơi người Hồi giáo, bà vợ ngoại tình sẽ bị ném đá cho
chết. Còn nơi người Việt Nam, thì ngày xưa có những nơi đã áp dụng
những hình phạt cực kỳ nghiêm khắc và nặng nề như cạo đầu bôi vôi, cột
bè trôi sông…cốt để cho mà tởm, nhưng đồng thời cũng để bảo vệ đặc
quyền đặc lợi của cánh đờn ông con giai.
Tuy nhiên, ngày hay
hoàn cảnh đã đổi thay và thế gian bỗng dưng đã ra khác. Những tháng
năm về trước, khí thế đấu tranh và giải phóng cho thân phận người phụ
nữ bốc lên bừng bừng. Người ta đòi hỏi cho đờn bà con gái phải được
bình đẳng và bình quyền với đờn ông con giai.
Người phụ nữ dần
dần giã từ vai trò “nội tướng”, bầu bạn với nồi niêu xoong chảo, chổi
cùn rế rách, mà nhảy bổ ra ngoài xã hội, nắm giữ những vai trò quan
trọng và thu nhập cũng chẳng kém gì phe mày râu. Có người làm tới thủ
tướng, bộ trưởng, nghị sĩ, giám đốc…Một khi đã có tài khoản riêng,
không còn bị lệ thuộc vào vấn đề kinh tế và tài chánh, người phụ nữ
vững bước trên đôi chân của mình.
Thế là họ muốn được
bình đẳng về mọi phương diện. Sự gì anh đờn ông con giai làm được, thì
chị đờn bà con gái cũng sẽ làm được.
Ngày xưa anh đờn
ông con giai được ô dù Khổng Mạnh bao che, nên chẳng tội vạ gì mỗi khi
vung vít tình cảm, còn chị đờn bà con gái nào lỡ dại thì bị lãnh đủ.
Còn ngày nay thì
khác, chị đờn bà được pháp luật che chắn và bảo vệ. Nếu chẳng may
lôi nhau ra ba tòa quan lớn vì chuyện cơm chẳng lành canh chẳng ngọt,
thì ông chồng hãy liệu hồn đấy, phải đề cao cảnh giác, bằng không có
khi mất cả chì lẫn chài, mất cả tình lẫn tiền.
Cũng vì sự đấu
tranh đòi bình đẳng ấy mà ngày nay, tội ngoại tình không còn là độc
quyền của phái nam hay phái nữ, mà dường như nó liên tục được phát
triển ở cả hai giới, đúng như các cụ ta ngày xưa đã diễn tả :
- Ông ăn chả, bà ăn
nem.
Chả là thức ăn bằng
thịt, cá, tôm hay cua, được quết nhuyễn, rồi đem lên hấp, chiên hay
nướng. Còn nem là thức ăn bằng thịt, được quết nhuyễn trộn với thính
và gói chặt cho chua. Nói chung cả hai đều là những món đặc sản cao
cấp và trong những bữa tiệc lớn, thì phải xuất hiện đủ bộ sậu tứ quái
: giò, nem, ninh, mọc. Còn trong những yến tiệc của hàng vương đế, ít
nhất cũng phải có nem công, chả phượng…
Với câu tục ngữ
“ông ăn chả, bà ăn nem”, người ta muốn diễn tả việc vợ chồng phân bì
nhau, để rồi tranh nhau làm điều quấy quá, xằng bậy như cờ bạc, trai
gái với người khác.
Chẳng hạn ông binh
sập xám, thì bà cũng phải bài cào tứ sắc. Ông có bồ nhí, thì bà cũng
phải có kép nhỏ.
Trong một bài viết,
tác giả Chu Tất Tiến đã báo cáo về những cuộc tình còm ngoài luồng tại
Hoa Kỳ như sau :
Có những điếu mà ta
nghe thấy thì giật mình, vì cứ theo trí tưởng tượng thì không đến nỗi
như vậy. Theo một thống kê ở xứ Mỹ năm 1993, thì có tới 25% đờn ông,
tức là 19 triệu người chồng ngoại tình và 17% đờn bà, tức là 12 triệu
người vợ có tình ái lăng nhăng với người không phải là chồng mình.
Chuyện anh đờn ông
ăn chả hay ngoại tình là chuyện thường ngày ở huyện, bởi vì bổn tính
của anh ta vốn háo sắc, nên hễ thấy bóng hồng nào xinh xinh là chạy
theo liền tù tì. Anh đờn ông, nhiều phen chẳng hề nhìn thấy cái nết,
mà chỉ nhìn thấy cái đẹp của chị đờn bà, thành thử thay vì cái nết
đánh chết cái đẹp, thì cái đẹp đã đè bẹp cái nết.
Người ta đã làm một
cuộc trắc nghiệm như sau :
Một cụ già đứng bên
đường vẫy xe xin đi quá giang, thì hầu như bác tài nào cũng không nhìn
thấy và có nhìn thấy chăng nữa, cũng vẫn chịu khó lờ tít. Thế nhưng
một cô gái trẻ, nhất là lại ăn mặc mát mẻ một tí mà đứng bên vệ đường
vẫy xe đi nhờ, thì hầu như bác tài nào cũng rất sốt sắng…làm phước !
Quả thật, tình yêu đã đi vào anh đờn ông con giai bắt đầu bằng đôi mắt.
Vì thế, ở đây gã
xin miễn bàn đến việc ông ăn chả, mà chỉ nói tới việc bà ăn nem mà
thôi.
Ngoại trừ một số
rất ít chị đờn bà có tính lẳng lơ và ham vui và thích của lạ, nên mới
kết mô đen với một anh kép nhỏ. Chứ phần đông cánh phụ nữ, khi đã yêu
thì đều yêu bằng tất cả trái tim của mình. Vì thế, tình yêu của họ
thường bền vững và chung thủy :
- Yêu anh đến chết
vẫn còn yêu anh.
Nếu chẳng may tình
yêu của họ bị phản bội hay bị chia sớt, thì cơn ghen lập tức nhập vào
lục phủ ngũ tạng, khiến họ ăn không ngon và ngủ không yên, cho tới khi
nào dành lại được địa vị tuyệt đối trong tình yêu hay là đã dạy cho
tình địch một bài học đích đáng :
- Ớt nào là ớt chẳng
cay,
Gái nào là gái chẳng
hay ghen chồng.
Vôi nào là vôi chẳng
nồng,
Gái nào là gái có
chồng chẳng ghen.
Hay như Thúy Kiều
đã trả lời Hoạn Thư :
- Rằng tôi chút phận
đàn bà,
Ghen tương thì cũng
người ta thường tình.
Vậy đâu là lý do
khiến bà vợ đi ăn nem hay chia sẻ tình yêu với một kẻ thứ ba ?
Lý do thứ nhất là sự
bất mãn về ông chồng của mình.
Ông chồng ấy có thể
là một người độc tài, độc đoán và đôi lúc cũng độc ác nữa, khiến cho
bà vợ chịu hết nổi. Tức nước thì phải vỡ bờ. Trong hoàn cảnh ấy, nếu
gặp được một anh đờn ông ga lăng, biết chiều chuộng và mềm mỏng, thì
từ chỗ tình bạn để gửi gấm tâm sự đến chỗ tình yêu, cách nhau chẳng
bao xa và rồi bà đã ăn nem lúc nào cũng chẳng hay.
Ông chồng ấy có thể
là người mang trong mình dòng máu đào hoa. Nay cô này, mai cô khác.
Hết cà phê đèn mờ đến quán xá bia ôm. Cứ như vậy thì bà vợ chịu làm
sao cho nổi. Nếu không suy nghĩ chín chắn, hẳn rằng bà ấy sẽ trả thù
đời bằng cách đi ăn nem cho bõ ghét.
Ông chồng ấy có thể
là người rất yêu vợ, nhưng lại không kiếm ra tiền. Vì thế, trước những
nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình, bà vợ cảm thấy như điên
cái đầu. Giữa lúc đen tối ấy mà xuất hiện một “quới nhân” phò trợ, sẵn
sàng chi tiền để giúp đỡ, bà vợ sẽ mừng húm như vớ được chiếc phao cứu
mạng. Rồi từ nghĩa dẫn đến tình và bà vợ sẽ sẵn sàng ăn nem một cách
êm ru bà rù, như một hành động đền ơn đáp nghĩa. Ấy là chưa kể những
anh đờn ông hắc ám mang ý đồ đen tối, đã tính toán cộng trừ nhân chia
khi bỏ tiền ra giúp đỡ.
Ông chồng ấy có thể
là một người rất gắn bó với gia đình, nhưng cũng lại rất say mê với
một lý tưởng, hay tất bật trong công việc làm ăn, nên không còn thời
giờ dành cho vợ cho con. Bà vợ cần một trái tim để chia sẻ, cần một bờ
vai để tựa đầu. Chờ miết mà không được, đợi mãi mà không thấy, thì
đành phải đi tìm một trái tim khác để chia sẻ và một bờ vai khác để
tựa đầu. Và thế là rơi tõm vào cảnh ăn nem.
Dĩ nhiên ông chồng
ấy còn có thể mắc phải những sai lỗi khác nữa, có những sai lỗi công
khai, có những sai lỗi thầm kín, nhưng bằng đó mà thôi cũng đã đủ để
kiểm điểm lại quãng đời làm chồng của mình.
Lý do thứ hai là những hoàn cảnh bên ngoài.
Những hoàn cảnh ấy nhiều lúc đã ảnh hưởng sâu đậm và làm cho chị đờn
bà bị lung lạc và chao đảo.
Chẳng hạn như bạn
bè xấu. Hễ tụ tập lại với nhau, nếu không nói xấu người vắng mặt, thì
cũng lại bàn về chuyện…ấy, chuyện ăn nem và rất lấy làm hãnh diện như
muốn khoe thành tích vậy. Thậm chí đôi lúc còn rủ rê nhau nhập hội,
nhập băng, làm thử, chí ít cũng một lần, cho biết…mùi đời.
Chẳng hạn như những
phương tiện thông tin hiện đại. Nào “chát”, nào “meo”, nào “mô bai”,
tha hồ mà cởi mở cõi lòng, tha hồ mà tâm sự bầu cua tôm cá, tha hồ mà
hò hẹn một cách bí mật chẳng ai biết đến.
Những hoàn cảnh ấy
là như “ma dẫn lối, quỉ đưa đường”, hay nói cách khác, những hoàn cảnh
ấy là những thế lực ngầm thúc đẩy chị vợ đi tới chỗ…ăn nem.
Để kết thúc, gã xin
đưa ra hai mẫu gương nói về sự thành công trong đời sống gia đình cũng
như trong đời sống vợ chồng.
Mẫu gương thứ nhất là
ông bà Curie.
Ông đã phải vất vả
đeo đuổi và tấn công suốt ba năm mới dành được tình yêu của bà. Bí
quyết sống của họ, đó là :
- Yêu nhau trong sự
hợp tác.
Cùng học và cùng
làm việc với nhau trong phòng thí nghiệm. Về tài năng có thể nói được
rằng :
- Ông tám lạng thì
bà cũng nửa cân.
Cả hai đều biết
kính nể nhau. Bằng chứng là ghế giáo sư vật lý ở trường đại học đã
được dành cho người phụ nữ đầu tiên là bà, sau khi ông mất. Lúc nhận
việc, bà đã khiêm tốn nói :
- Tôi thử cố gắng
dạy.
Quả nhiên, bà cũng
đã thành công chẳng thua kém gì ông.
Mẫu gương thứ hai là
ông bà Nixon.
Sự nghiệp của ông
tổng thống nước Mỹ này phần lớn là do bà vợ. Bà luôn sát cánh với
chồng qua mọi việc, ở mọi nơi và trong mọi lúc, để chia sẻ những nỗi
cực nhọc thuở hàn vi, cũng như làm phụ tá đắc lực cho ông trong việc
tranh cử, soạn diễn văn, thiết đãi quan khách…Bà là người đầu tiên
xứng đáng để cho ông giới thiệu với các ký giả, lúc tuyên thệ nhận
chức tổng thống.
Không biết những
mẫu gương này có còn được những cặp vợ chồng hôm nay noi theo và bắt
chước nữa hay không ?
Gã Siêu
VỀ MỤC LỤC
|
************* |