|
Các số báo đã phát hành
MỤC LỤC
|
Giáo Xứ
LÀ MỘT HìNH THỨC TÔNG ĐỒ CỘNG ĐỒNG
KlỂU MẪU
Giáo
xứ là một hình thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi quy tụ đủ
mọi hạng người thành một cộng đoàn và đem họ vào tinh thần đại đồng
của Giáo Hội. Giáo dân nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các
linh mục của mình để hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng nên có thói quen
trình bày với cộng đoàn Giáo Hội những vấn dề riêng của mình hay của
cả thế giới, hoăc những vấn đề liên quan tới phẩn rỗi mọi người, đế
cùng nhau góp ý kiến, nghiên cứu và qiải quyêt. Họ cũnq phải tuỳ sức
mà cố gắng đóng góp vào mọi công cuộc tông đồ và truyền giáo của gia
đình Giáo Hội địa phương. Giáo dân phải luôn nuôi dưỡng ý thức về giáo
phận, vì giáo xứ là như một tế bào của giáo phận. Họ phải luôn mau mắn
đáp lại lời kêu gọi của vị mục tử giáo phận, và tuỳ sức tham gia những
công việc chung cúa giáo phận. Hơn nữa, để dáp ứng những nhu cầu nơi
thành thị cũng như ở thôn quê, họ không chỉ giới hạn sự cộng tác của
mình trong ranh giới giáo xứ hay giáo phận, nhưng họ cố gắng mở rộng
phạm vi tới cả các lãnh vực liên xứ, liên giáo phận, quốc gia hay quốc
tế. Hơn nữa. việc di dân mỗi ngày một nhiều, những mối liên hệ gia
tăng, và việc giao thông dễ dàng đã không để một thành phần xã hội nào
sống đóng kín cho riêng mình. Vì thế giáo dân phải quan tâm đến những
nhu cầu của dân Thiên Chúa Ở rải rác trên khắp địa cầu. Nhất là họ
phải coi công cuộc truyền giáo như việc của chính mình, bằng cách đóng
góp về vật chất hay thậm chí đích thân cộng tác.
Vì chưng, nhiệm vụ và vinh dự của người Ki-tô hữu là trả lại cho Thiên
Chúa một phẩn của cải họ đã nhận nơi Người.
(Trích
Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 10).
VỀ MUC LUC
|
|
CẦU
XIN VỚI THÁNH GIUSE
Thánh Giuse là Đấng thánh rất quen thuộc.
Ngài được Chúa chọn cách riêng. Mục đích để bảo vệ Đức Mẹ Maria và
Chúa Giêsu trong cuộc đời trần thế.
Hội Thánh vẫn xin Ngài che chở mình.
Riêng tại Việt Nam, thánh Giuse vốn được mộ mến. Ngài được tôn kính ở
các nhà thờ, ở các gia đình, ở trong lòng mọi tín hữu.
Riêng tôi, tôi sùng mộ Ngài cách riêng.
Ngài đã giúp tôi rất nhiều trong việc thực thi thánh ý Chúa. Tôi cầu
nguyện với Ngài mỗi ngày, nhất là khi gặp khốn khó.
Trong các ơn tôi hay cầu xin với thánh
Giuse, có ba ơn tôi năn nỉ cách riêng. Bởi vì ba ơn đó liên quan nhiều
đến chức năng người đứng đầu cộng đoàn. Tôi xin phép chia sẻ.
1/ Tâm thức bén nhạy
Thánh Giuse có một tâm thức bén nhạy lạ
thường. Lương tâm Ngài rất tỉnh thức. Một gợi ý nhẹ cũng đủ Ngài hiểu
ý Chúa. Hiểu rồi, Ngài vâng ngay tức khắc.
Như việc Ngài đón nhận Maria làm người
bạn đời. Như việc Ngài đưa mẹ con trốn sang Ai Cập. Như việc Ngài trở
về quê cũ bằng con đường khác. Như việc Ngài cộng tác thực thi kế
hoạch cứu độ của Chúa một cách kín đáo, khiêm tốn, khó nghèo, tế nhị.
Việc Ngài làm, cách Ngài làm, tất cả đều
đúng ý Chúa. Vì lương tâm Ngài rất bén, mau hiểu ý Chúa.
Lương tâm nhạy bén như thế hiện nay rất
cần. Nhưng thứ lương tâm đó đang trong nguy cơ suy giảm.
Một dấu chỉ báo động về sự suy giảm, là
sự xuất hiện tình hình bình thường hoá đời sống tội lỗi và sống thoải
mái theo ý riêng.
Người ta không còn bén nhạy với ý Chúa.
Ý Chúa được nói trong Lời Chúa. Ý Chúa được nêu cao trong đời sống
Chúa Giêsu, Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh. Ý Chúa được nhắc nhở qua
các việc xảy ra thường ngày, nhất là trong các biến cố lịch sử đạo đời.
Nhưng nhiều người tỏ ra bất cần.
Trái lại, người ta lại rất bén nhạy với
các vấn đề xung quanh tiền bạc, chức quyền, danh vọng và các sáng kiến
hưởng thụ, phô trương.
Trong lòng thì bén nhạy, thao thức về
hướng đó. Bên ngoài thì thực hành bằng hành động và cách sống cũng
theo hướng đó. Mỗi ngày cứ như thế, mà lương tâm chẳng thấy cắn rứt gì,
hơn nữa lại cảm thấy bình an. Dần dà cách sống buông thả đó trở thành
thói quen bình thường. Thế là dẫn đến chỗ mất ý thức về tội và về việc
sống theo ý Chúa.
Không gì nguy hiểm cho sức khoẻ một
người, khi người đó mắc bệnh tới mức trầm trọng, mà không cảm thấy dấu
gì báo động. Cũng vậy, không gì nguy hiểm cho đời sống thiêng liêng
của một người, khi người đó bị tội lỗi và ma quỷ thống trị, mà vẫn cảm
thấy an vui. Từ đó cho đến việc bỏ thống hối, ăn năn chỉ còn là một
bước rất nhỏ.
Hiện tượng trên đây đã xuất hiện trong
Hội Thánh Việt Nam. Vì thế, tôi sợ cho tôi, và cũng sợ cho mọi người
tín hữu. Nên tôi xin thánh Giuse thương cầu bầu cho chúng ta được một
tâm thức bén nhạy. Luôn biết nhận ra ý Chúa. Không những trong những
gì phải tránh, phải làm, mà còn trong những gì nên làm, nên tránh.
Ngoài ra, tôi cũng thường xin thánh
Giuse ban cho chúng ta một ơn khác nữa. Đó là cách bảo vệ Hội Thánh
một cách khôn ngoan.
2/ Bảo vệ Hội Thánh một cách khôn ngoan
Theo tính tự nhiên, thánh Giuse có thể
nghĩ đến việc bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu kiểu khôn ngoan thế gian.
Thí dụ: Rỉ tai với một số người về sự mình được Chúa chọn vào chức vụ
đặc biệt. Chiêu mộ các người thiện chí chân thành để thành lập một lực
lượng cảm tình viên vv...
Nhưng, thực tế cho thấy, thứ khôn ngoan,
mà thánh Giuse áp dụng trong việc bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu lại rất
khác. Khôn ngoan đó của Ngài la ở chỗ Ngài rất khiêm nhường, rất khó
nghèo, rất kín đáo. Hơn nữa, khôn ngoan của Ngài còn nổi bật ở chỗ
Ngài sinh sống như một người thuộc tầng lớp lao động bình thường. Ngài
hoà mình vào họ. Ngài sống nghèo, liên đới với người nghèo, giúp đỡ
người nghèo, chia sẻ cảnh nghèo của xóm nghèo quanh mình. Hầu như
Ngài tự chôn vùi mình vào bóng tối, không muốn cho ai biết Ngài là ai.
Xưa, thánh Giuse bảo vệ Đức Mẹ và Chúa
Giêsu theo cách khôn ngoan như vừa kể. Nay, cách khôn ngoan đó vẫn còn
được áp dụng ở một số nơi. Nhưng nhiều nơi lại đang áp dụng một thứ
khôn ngoan khác. Thứ khôn ngoan này đặt nặng phía phô trương quyền lực:
Quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực xã hội và cạnh tranh
uy tín.
Tôi lo ngại cho Hội Thánh tại những nơi
như thế. Vì thứ khôn ngoan họ áp dụng tuy hợp với thói thế gian, nhưng
không hợp với Phúc Âm, nhất là không hợp với gương thánh Giuse.
Còn một ơn nữa tôi vẫn cầu xin thường
ngày cho tôi và cho những người đứng đầu các cộng đoàn đức tin. Ơn đó
là ơn biết cầu nguyện.
3/ Ơn biết cầu nguyện
Thánh Giuse là con người cầu nguyện. Đời
sống âm thầm của Ngài chính là đời sống chiêm niệm, cầu nguyện. Ngài
cầu nguyện bằng sự hiện diện thường xuyên bên Chúa.
Hiện diện thường xuyên bên Chúa là luôn
luôn đặt mình trước thánh nhan Chúa, là luôn luôn nghĩ về Chúa, là
luôn luôn thao thức về Chúa, là luôn luôn lắng nghe ý Chúa, là luôn
luôn yêu mến Chúa trên hết mọi sự, là luôn luôn tạ ơn và thờ phượng
Chúa, là luôn luôn sống và làm việc vì Chúa mà thôi.
Cầu nguyện bằng sự hiện diện như thế là
một cách cầu nguyện lý tưởng.
Hiện nay, việc cầu nguyện vốn được coi
là quan trọng. Nhưng trên thực tế, việc cầu nguyện bằng sự hiện diện
như thánh Giuse xem ra chưa được coi trọng lắm. Cả trong các người
lãnh đạo những cộng đoàn đức tin, cũng có sự chểnh mảng về cầu nguyện.
Đó là một điều đáng tiếc. Nếu sự hiện diện của chúng ta lại tản mác
vào các thứ xa lạ và ngược lại Phúc Âm, thì sẽ là một tai hoạ không
nhỏ cho Hội Thánh.
Tình hình Công giáo đang biến chuyển rất
nhiều. Có biến chuyển theo hướng tốt, và cũng có biến chuyển theo
hướng xấu. Biến chuyển này xem ra khá mạnh.
Mưu lược của Satan rất tinh vi. Nhưng
cậy tin thánh Giuse, chúng ta có quyền hy vọng vào tương lai của Hội
Thánh Việt Nam. Mong Hội Thánh ta để ý đến thống hối, khó nghèo, luôn
cố gắng bắt chước gương sống Lời Chúa của thánh Giuse. Xin Ngài che
chở ta và Hội Thánh lữ hành nhiều yếu đuối, đang phải chiến đấu về
nhiều mặt, để trung thành với Phúc Âm.
Gm. GB. BÙI TUẦN
VỀ MUC LUC
|
|
Khủng hoảng trong đời sống linh mục
Cuộc đời nào cũng có căn tính của nó.
Đời sống linh mục cũng vậy. Chúng ta quá biết linh mục là người trung
gian giữa trời và đất, kế tục sự nghiệp của Chúa Ki-tô ở trần gian. Đó
là một thiên chức cao cả. Nhưng tại sao hiện nay có quá ít người trẻ ở
các nước được gọi là văn minh, tân tiến, muốn làm linh mục. Một số
người đã được thụ phong linh mục, lại muốn bỏ cuộc. Người ta gọi là
khủng hoảng căn tính. Tại sao?
Lúc nào, khi nào, con người cũng cần
nghe và hiểu sự thật. Các linh mục có thừa tác hàng đầu là rao giảng
Lời Chúa. Lời Chúa là chân lý, nói thật thì hay mất lòng, nên các linh
mục hôm nay dễ bị cám dỗ thích nghi Lời Chúa trong tư tưởng hiện tại.
Chính vì thế mà có việc thỏa hiệp, cắt nghĩa Lời Chúa theo tư duy của
con người, biến các phép lạ thành những lối tượng trưng và cắt nghĩa
những hiện tượng lạ ấy theo sự lý giải của lý trí. Như vậy là hoạt kê
bức chân dung của Lời Chúa.
Linh mục dâng thánh lễ chiếu lệ, giải
tội cho qua giờ, ít sốt sắng đọc kinh nhật tụng, bỏ bê hầu hết những
việc sùng kính, điều này làm cho người trẻ nản lòng, làm cho giáo dân
tuyệt vọng, thất vọng và xem linh mục như là một công chức. Đó là do
yếu kém trong khi thi hành chức năng thứ hai, thánh hóa các linh hồn.
Trong khi thi hành mục vụ, các linh mục
thích đi vào chính trị, thích làm các công tác chuyên môn ở đời, muốn
làm bác sĩ, kỷ sư, phi hành gia, nhà xã hội, nhà văn v.v... Trong lúc
đó người ta cần nơi chúng ta không phải là điều họ có, mà là điều họ
không có. Jean Guitton có lần viết trong báo Le Christ au Monde: "Chúng
tôi không cần các linh mục làm những việc như chúng tôi, mà các linh
mục làm sao làm các điều ấy có hiệu năng như chúng tôi được. Chúng tôi
là những nhà chuyên môn. Còn các linh mục phải lo những chuyện của
mình như bận đọc kinh, bận dâng lễ và các công tác mục vụ khác nữa.
Điều chúng tôi cần, là đời sống chứng tá và các lời rao giảng của các
linh mục...”
Do đó, chúng ta hãy nên xét lại trong kỳ
phòng này, có những điểm nào lệch, hãy sữa đổi, và hãy chú trọng nhất
trong những điểm tích cực sau đây:
- Linh mục trước tiên là người mang mầu
nhiệm của Thiên Chúa đến cho con người và mở đường cho con người tiếp
cận với Mầu Nhiệm ấy. Thiên Chúa là tình yêu vô biên, vô cùng mãnh
liệt, cần phải có linh mục làm trung gian khơi dậy tình yêu ấy nơi con
người trong Giáo Hội. Thiếu điều này, Giáo Hội chỉ là một tổ chức xã
hội hay từ thiện mà thôi.
- Linh mục là chiếc cầu nối liền Trời và
Đất: mời Chúa đến cho mọi người và dẫn con người đến cùng Chúa. Muốn
miêu tả và làm sống động hình ảnh Đấng Vô Hình, người linh mục phải có
óc thi sĩ, giàu trí tưởng tượng, phải biết trình bày một Thiên Chúa
tuyệt vời cho mọi người qua cuộc sống nhiệm lạ của mình, qua lời nói
hấp dẫn của mình.
Con người linh mục phải biết say mê Chúa
để sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi sự vì Chúa. Ngoài ra, linh mục phải có
con mắt sâu thẳm để nhìn thấy Chúa khắp mọi nơi và thấy mọi sự ở trần
gian này là dấu chỉ yêu thương của Chúa. Chính với cái nhìn này, mà
“Cha Sở Nhà Quê” của văn sĩ Bernanos, đứng trước muôn vàn khổ đau và
thất vọng, vẫn thốt lên: “Tất cả là hồng ân của Thiên Chúa”.
Muốn giữ được cảm thức huyền nhiệm như
thấy Đấng Vô Hình này, linh mục cần phải ngày ngày chú tâm học hỏi,
trau dồi trí thức, mài dũa trí tưởng tượng để thấy Chúa qua công trình
Chúa tạo dựng ở trần gian và qua những tác phẩm nghệ thuật của các
nghệ nhân.
Có được tâm thức về Chúa, linh mục phải
trình bày những huyền nhiệm ấy qua sự giảng dạy không chỉ bằng lời, mà
còn bằng cả cuộc sống của mình. Phải để Lời Chúa nhập thể vào mình và
đốt cháy chính mình để trở thành đuốc soi trần gian. Như Ysaia, môi
được lửa trí tuệ của Thiên Chúa đốt cháy, như Êzekiel, miệng nếm lấy
Lời Chúa ngọt ngào và dư đầy, linh mục phải có môi miệng xứng hợp để
chia sẻ Lời Chúa cho mọi người.
Do đó, linh mục không phải là con người
bình thường, mà là con người được tách riêng, con người thánh thiêng,
con người thần bí, chiêm niệm, con người cầu nguyện. Nói cách khác,
linh mục là người lãnh đạo dân Chúa, một vị linh hướng. Không được
biến linh mục thành một nhà tâm lý, nhà xã hội đơn thuần, vì như vậy
là hoạt kê chân dung của linh mục. Bổn phận đích thực của linh mục là
mang mầu nhiệm Thiên Chúa đến cho mọi người, một bổn phận phong phú và
đầy thách thức. Đó là sự nghiệp của ngôn sứ, một thi sĩ, một nhà hiền
triết. Tại sao lại bỏ vai trò cao quý ấy để đi làm một nhà tâm lý, một
nhà xã hội hay một chính trị gia ?
Còn khía cạnh khác tưởng cũng nên nêu
lên ở đây, là đời sống độc thân của linh mục. Nhiều người cho sống độc
thân là phản văn minh, là phi lý, là chướng kỳ.
Nhiều người giải thích linh mục cần sống
độc thân, để phụng sự Chúa và phụng sự tha nhân đắc lực hơn, để sống
vô vị lợi hơn. Có thể đúng, nhưng không nhất thiết vì những người có
gia đình cũng phục vụ đắc lực và có lúc cũng rất vô vị lợi, do sự trợ
lực của vợ con.
Như vậy, linh mục sống độc thân để làm
gì? Tại sao phải sống độc thân. Paul Tillich đã chú giải một cách
tuyệt vời khi so sánh đời sống độc thân linh mục với thái độ của
Maria, khi bà đập vỡ bình bạch ngọc để lấy dầu thơm xức cho Chúa trước
sự phản đối hữu lý của các môn đệ. Khi được tình yêu vô biên và vô
điều kiện của Chúa thâm nhập, con người đáp trả bằng một tình yêu khác
thường, bằng một sự tự hiến phi lý.
Theo suy nghĩ của một số người, như một
số các môn đệ Chúa, thì hành vi của Maria là không thích hợp là, kỳ
quặc. Thế mà Chúa Giê-su lại ca tụng tán dương và đón nhận tình yêu
khác thường này. Độc thân linh mục là một điều phi lý, phi thường và
phi tự nhiên. Chính tình yêu lạ thường này là rất khó hiểu như Chúa
Giê-su đã từng nói “Ai hiểu được thì hiểu”.
Nói tóm lại, linh mục là người trung
gian giữa trời và đất, là con người đặc tuyển để sống vì Chúa, vì tha
nhân, do đó, phải hiến dâng đời mình không chia sẻ. Người đích thực
mang mầu nhiệm của Thiên Chúa, người sống ở đường biên giữa trời và
đất, sẽ khó gặp thấy đời mình tẻ nhạt và vô nghĩa.
Tất cả chúng ta đều biết và đều thích
nhân vật “Tôn Ngộ Không”, vì Tôn Ngộ Không đột phá mọi ngăn
cách thời gian và không gian: lúc thì ở trên thiên giới, lúc thì trở
lại với trần gian. Con người với khát vọng vô biên ước mong được như
Tôn Ngộ Không. Và linh mục là hiện thực của ước mơ ngàn đời này.
Cho nên, nếu quả là một linh mục chính
cống thì còn ngại gì khủng hoảng và thất vọng. Chúng ta đã lựa chọn và
được lựa chọn đi vào con đường ưu tuyển, con đường tuyệt vời nhất. Chỉ
có điều vì thiên chức linh mục quá cao đẹp, quá trong suốt, mà con
người yếu hèn như chúng ta không còn chỗ nào tối tăm để ẩn mình. Càng
sống chức linh mục, chúng ta càng sai lỗi, và càng sai lỗi, chúng ta
tự ái nản lòng.
Hãy nghe chị thánh Catarina thành
Sienna, nữ tiến sĩ của Giáo Hội, ví von:
"Nếu bạn thấy một người đến từ xa,
mang cho bạn một kho tàng, người đó vượt qua cuộc hành trình dài, nên
áo quần rách nát, mặt mày lấm lem, chân tay rướm máu. Bạn có giơ tay
đón lấy kho tàng rồi xua đuổi người ấy đi, hay là mời người ấy vào nhà,
tắm rửa và băng bó vết thương cho người ấy?
Cũng vậy, các linh mục là những người
mang đến cho các bạn kho tàng quý giá, Lời Chúa và Bí Tích, các bạn
hãy đón nhận với lòng tri ân và yêu thương, băng bó các vết thương cho
các linh mục. Đừng đoán xét, hãy để cho Chúa làm việc ấy”.
Ngày nay, có rất nhiều người mang tâm
tình của Nữ Thánh Tiến sĩ Catarina thành Sienna. Các linh mục hãy tin
tưởng, lạc quan và chiến đấu cho sự đứng vững của chính mình trong ơn
gọi cao quý, cho nước Chúa ngày càng hiển trị và Danh Chúa được cả
sáng trong môi trường hoạt động của chúng ta.
Tôi xin đưa ra đây một vấn đề thời sự:
Ngày 04 tháng 07 năm 2002, tôi có dịp dâng lễ cho một cộng đoàn đa số
là người Mỹ tại San Diego, Hoa Kỳ. Sau thánh lễ, Cha xứ đề nghị tôi
nói mấy lời với cộng đồng dân Chúa. Tôi đã chia sẻ như sau:
“Tôi rất vui mừng vì được dịp cùng
với các bạn dâng lễ mừng ngày độc lập của đất nước Hoa Kỳ. Các bạn đã
đấu tranh rất nhiều với cái giá bằng xương máu để giành được sự độc
lập, tự do hôm nay. Nhưng mãi cho đến hôm nay, sự độc lập tự do ấy
cũng chưa được bảo đảm, bằng chứng là các bạn đã trải qua những giờ
phút kinh hoàng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ đó là: Biến cố mà người ta
gọi là nine one one” (11-9).
Như vậy, yếu tố quan trọng ở đây
không phải là bất cứ giá nào giành cho được độc lập tự do, nhưng chính
tình thương mới là quan trọng như thánh Phaolô đã nói: “Tình thương
chịu đựng tất cả, vượt thắng tất cả, tha thứ tất cả. ..”
Tôi đã đến thăm nhiều Tòa Giám mục
trong cuộc công du này và tôi nhận ra có một cuộc tấn công khác, lần
này không phải là khủng bố về thể lý, mà là về tinh thần. Đó là các
linh mục bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em. Nhiều giám mục đã đau
buồn không cầm được giọt lệ, nhiều linh mục tốt lành đã từ nhiệm, một
số giáo dân đạo đức đã ngã lòng và bị cám dỗ không giữ đạo nữa. Nhưng
tôi xin nói với các bạn một câu ngạn ngữ Trung Hoa: “Một cây đổ thì
gây ồn ào hơn một cánh rừng đang mọc”. Quả vậy, một thiểu số linh mục
bị cáo là lạm dụng thì báo chí và các phương tiện truyền thông gây ồn
ào trên khắp thế giới. Động lực rất nhiều phát xuất từ những lý do
kinh tế, chính trị, tôn giáo... Trong khi đó, ai cũng công nhận ra
Giáo Hội Mỹ là một Giáo Hội có sức sống phong phú như một cánh rừng
đang mọc. Vậy mà mấy ai để ý tới, không có phương tiện truyền thông
nào quảng bá. Đừng ngã lòng, bởi lẽ, tỷ lệ các linh mục bê bối là
không đáng kể so với đại đa số linh mục làm việc mục vụ và sống đời
sống ơn gọi của mình một cách hết sức nghiêm túc. Hơn nữa, các bạn nên
nhớ, sau khi uống thuốc xổ, người ta sẽ trở nên khỏe mạnh hơn”.
Đưa ra những sự kiện thời sự trên đây,
tôi có ý cho các cha thấy người linh mục tuy được Chúa gọi, được Chúa
thánh hiến, nhưng vẫn là những con người nguyên trạng, vẫn mang những
yếu hèn của mình. Nếu không có Chúa, chúng ta không làm được việc gì
tốt tự chúng ta. Do đó, phải có sự phối hợp hài hòa giữa ân sủng và tự
do. Khi biết cậy dựa vào Chúa, chúng ta sẽ được Chúa nâng lên như
phượng hoàng nâng con trên cánh.
Con người là một xã hội hữu, có khuynh
hướng sống kết đoàn, có khuynh hướng lo cho người khác, quan tâm đến
người khác. Nhưng vì bị ảnh hưởng trong thế giới hưởng thụ ích kỷ, cá
nhân chủ nghĩa, nên đã có nhận xét: “Tha nhân là hỏa ngục”. Mà đúng
như thế, khi ta ăn bữa ăn một mình thì ta hưởng trọn vẹn bữa ăn ấy,
khi ta ngủ trong một căn phòng thoáng mát, là ta ngủ yên; nếu bây giờ
có ai đến chia sẻ phần ăn, ta chỉ còn một nửa, ngủ chung một phòng,
tức là làm ô nhiễm căn phòng đó, sức khỏe bị đe dọa, và như vậy, tha
nhân làm cản trở cuộc đời ta. Nhưng đó là theo suy tư của thuyết hiện
sinh vô thần đóng kín. Con người ích kỷ sẽ không làm ích gì cho ai, mà
trở nên gánh nặng cho người khác. Trái lại, nếu coi tha nhân là thiên
đường, thì đó là khuynh hướng cởi mở, để cho tha nhân tham dự vào đời
sống của mình, và như vậy, có sự chia sẻ cho nhau, có sự đùm bọc lẫn
nhau và tương thân tương ái, có đức nhân, là nhân đức quan tâm hai
chiều. Muốn sống tinh thần nhập thể, cần phải có tinh thần tương thân
tương ái, mến Chúa yêu người. Loay quay trong lĩnh vực này đã hết thời
giờ, không còn sức lực dư đủ để nghĩ không tốt, nói không tốt và làm
không tốt nữa.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngày 10
tháng 11 năm 1978, trong khi ngõ lời với các Bề Trên thượng cấp các
dòng tu ở Rôma, đã đưa ra ba nguyên tắc sống chẳng những cho các thầy
dòng bà xơ, mà cũng cho các linh mục của chúng ta. Ngài nói: "Để
được thật nhiều bạn trẻ đón nhận tiếng Chúa gọi, chúng con hãy làm sao
cho đời sống mình tỏa chiếu thành một lời chứng: trước hết lời chứng
về lòng trung thành tuyệt đối với giá trị của Tin mừng và đối với ơn
gọi riêng của mình. Mỗi lần chúng con nhượng bộ cho sự thỏa hiệp là
chúng con làm nản lòng những người bao quanh chúng con, đừng quên điều
đó.
Rồi lời chứng về một nhân cách đã
thành đạt và chín chắn về mặt nhân bản, biết giao tiếp với người khác
một cách không thiên kiến và cũng không bất cẩn ngây ngô, nhưng với
một tấm lòng chân thành cởi mở và một quân bình trong sáng.
Sau cùng lời chứng về niềm vui của
chúng con, một niềm vui không phải chỉ đọc thấy nơi lời nói, mà cả nơi
đôi mắt và nơi thái độ, là niềm vui tỏ rõ cho những ai đang nhìn chúng
con thấy rằng chúng con ý thức mình đã chiếm được kho báu giấu kín,
viên ngọc quý, nên chẳng tiếc gì mà không từ bỏ mọi sự để sống theo
lời khuyên của Tin mừng".
Chúng ta thử xét xem ba điểm mà Đức Giáo
Hoàng vừa nêu lên:
- Trong đời sống chứng tá của chúng ta,
điều quan trọng nhất là sự trung thành. Sau khi thụ phong linh mục,
trước sau như một, chúng ta có sống mực thước không sai chạy, không
đổi thay với thiên chức linh mục của mình không? Nói cách khác, là
phải sống chính danh. Nếu chúng ta đòi hỏi người khác phải sống tu ra
tu, thế gian ra thế gian, cha ra cha, con ra con, thầy ra thầy, trò ra
trò, thì cũng phải tự đòi hỏi mình sống linh mục cho ra linh mục. Khi
nhìn vào một người sống trung thành với đời, người ta phát hiện ra căn
cước của người ấy. Ngược lại là lang thang, lưu linh lưu địa, vô danh
vô tánh. Chúa muốn chúng ta làm linh mục là muốn chúng ta trở thành
Đức Kitô thứ hai có tôn chỉ, có mục đích, có vai trò, có bản chất hẳn
hoi, như có nhiều lần chúng ta suy gẫm trong các ngày phòng này. Nếu
chúng ta sống xa với tôn chỉ, mục đích của hàng giáo sĩ, xa linh mục
đoàn, là chúng ta làm lỡ thầy lỡ thợ, hư bột hư đường. Người ngoài
nhìn vào sẽ ngỡ ngàng, kinh ngạc, các bạn trẻ muốn đi tu, muốn làm
linh mục sẽ nản lòng.
- Điều thứ hai mà Đức Giáo Hoàng muốn
nhắn nhủ là chứng tá một sự quân bình trong nhân cách, không ngây ngô.
Nói theo Kinh Thánh là phải "đơn sơ như chim bồ câu và khôn ngoan như
con rắn". Muốn được như vậy, phải có sự trưởng thành về mặt tâm lý và
về mặt thiêng liêng. Về mặt tâm lý, phải biết phán đoán đúng, phải
biết nhận định nhân tình thế thái và nhận định một cách khách quan,
không chủ quan hay qui nạp bừa bãi. Phải biết hướng dẫn tình cảm của
mình không như Evà nghe lời phỉnh nịnh của rắn dữ. Phán đoán khó nhất
và dễ sai nhất, là phán đoán về con người. Mẹ Bề Trên Dòng Kín phán
đoán sai về chị Têrêxa. Mẹ giáo tập sai chị Têrêxa mỗi buổi sáng ra
nhổ cỏ ở trước cổng Nhà Dòng, thế mà Mẹ Bề Trên lại bảo: "Con nhỏ
này sáng nào cũng đi hóng gió". Hãy hỏi han cặn kẽ, điều tra cẩn
thận trước khi phán đoán. Muốn được như vậy, đòi phải kiên nhẫn, khách
quan, bình tĩnh và có tinh thần bác ái.
Trưởng thành về mặt yêu thương cũng vậy,
biết lý trí hóa tình cảm, biết dám làm, dám xông pha, nhưng không liều
lĩnh. Có khi tạm thời bị người khác hiểu lầm đánh giá thấp, nhưng vì
bác ái, vì công ích, phải hy sinh về lâu về dài, không sớm thì muộn,
chân lý sẽ sáng tỏ.
Trưởng thành thiêng liêng là biết lựa
chọn căn bản, biết nhận định nấc thang giá trị trong đời sống thiêng
liêng, tôn sùng và đạo đức, biết vác thập giá mỗi ngày mà theo Chúa,
biết hy sinh, biết cùng sống cùng chết với Chúa. Đó là sự lựa chọn
trưởng thành, dứt khoát, mặc dầu phải đấu tranh nhiều, thậm chí có lúc
bị nhiều thương tích hay tử vong.
- Điều thứ ba mà Đức Giáo Hoàng muốn nói
là Niềm Vui. Chúng ta biết căn bản của niềm vui là có tình yêu và an
cư lạc nghiệp. Chúng ta có Chúa là Tình Yêu và tha nhân là đối tượng
để ta phục vụ. Chúng ta có linh mục đoàn và giáo phận là chỗ dựa vững
chắc, nhất là tình yêu và quê hương ấy được bảo đãm trên Nước Trời,
thì không có lý do gì để buồn chán hay cau có khó thương. Khi ta vui,
chúng ta chia sẻ niềm vui ấy cho mọi người và người trẻ sẽ phấn khởi
đến với chức linh mục.
Chúng ta đang ở trong thiên niên kỷ mới,
có nhiều căn nguyên để vui:
-
Vui vì được hưởng tình yêu và hồng ân
của Thiên Chúa.
-
Vui vì được Chúa Giêsu Kitô đã liều
thân chịu chết vì chúng ta, để chúng ta được hưởng ơn cứu độ.
-
Vui vì cho đến hôm nay, Chúa Giêsu vẫn
đang đến và sẽ tiếp tục ở với con cái loài người mãi mãi.
-
Vui vì Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo
Hội và Giáo Hội đang tồn tại tới hôm nay và trong tương lai.
-
Vui vì Chúa hằng kết hợp hằng ngày với
chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể.
-
Vui vì rồi đây Chúa Giêsu Kitô sẽ lại
tỏ hiện trong vinh quang vào ngày cánh chung.
Để kết thúc bài này, tôi xin kể cho các
cha câu chuyện mà Graham Green đã viết trong quyển sách mang tựa đề
“Vinh quang và quyền lực” (Glory and Power):
Trong quyển sách này, nhân vật chính là
một vị linh mục duy nhất còn sống và đang bị chính quyền Mexicô lúc
bấy giờ ruồng bắt. Tất cả những linh mục khác đều bỏ nước ra đi hay đã
bị hành quyết. Ông linh mục này, người ta không biết tên, nhưng vì ông
là người duy nhất còn lại và làm ích cho biết bao nhiêu người, do đó,
được mọi người Kytô hữu quý mến tặng cho danh hiệu là Padre (Cha).
Vì sống trong lo sợ và buồn chán, nên
linh mục ấy có tình nhân và nghiện rượu. Dầu vậy, đi đến đâu, linh mục
ấy cũng giải tội, xức dầu, dâng thánh lễ, cho rước lễ, rửa tội, khuyên
bảo, ủi an và làm việc bác ái. Nhưng ông phải tàng hình vì luôn bị
cảnh sát theo dõi, tìm kiếm. Cuối cùng, vì thấy người bạn mình quá khổ
cho nên tình nhân của ông khuyên ông trốn sang bên kia biên giới để
đến New Mexico. Trên con đường đi trốn, ông bị người cảnh sát rượt
theo, người này là bạn học của ông và đang truy kích ông và tên tướng
cướp. Cuối cùng, vị linh mục ấy đã thoát nạn và trốn sang bên kia biên
giới. Được hít thở bầu khí tự do, ông hút xì gà và đọc báo, sau khi
tắm rửa sạch sẽ, coi như làm cuộc tẩy trần dứt điểm, từ giả cuộc đời
cam go. Nhưng từ bên kia biên giới, một người giáo dân đã bò qua và
báo cho linh mục ấy biết, anh tướng cướp bị bắn trọng thương và đang
cần có linh mục giải tội. Bị thúc đẩy một cách mãnh liệt do lương tâm
linh mục, ông đã mặc lại bộ đồ rách rưới và bò qua biên giới Mexico.
Đang khi ông giơ tay ban xá giải cho anh tướng cướp thì người cảnh sát
đứng đàng sau ông. Ông đã bị bắt và sang hôm sau, người ta nghe tiếng
súng nổ trên đồi gần đó.
Như vậy, chúng ta thấy, dầu cuộc đời ông
dù bê bối thế nào đi nữa, vị linh mục này cũng luôn để mình làm dụng
cụ quảng bá tình thương và sự cứu rỗi của Chúa giữa những kẻ cùng khổ,
lầm than cần được cứu vớt. Cuối cùng, triều thiên tử đạo đã được Chúa
gởi đến cho ông.”
+ GM Phêrô
Nguyễn Soạn VietCatholic News (28/02/2005)
VỀ MUC LUC
|
|
Những tông đồ của Chúa Kitô
Lời người dịch:
Hồng y L. J. Suenens và giám mục Helder Câmara là hai khuôn mặt lớn
của Giáo hội công giáo trong thế kỷ 20. Một vị từng là nhà tư tưởng
trụ cột của Công Đồng Vaticanô II, là sức bật canh tân nếp sinh hoạt
giáo hội, là khâm sai của Giáo Hoàng trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc để
trình bày với thế giới về thông điệp Hoà bình trên trái đất…Còn
vị thứ hai là tiếng nói của những kẻ không có quyền có được tiếng nói,
là kẻ hiên ngang làm chứng Tin Mừng giữa những kẻ nghèo khốn, bất chấp
dư luận chụp cho ngài chiếc nón “giám mục đỏ”.
Họ đã phục vụ Giáo hội với hai phong cách khác nhau, nhưng họ có điểm
chung là những người em, những tông đồ của Chúa Giêsu Kitô. Những
trang dưới đây là chứng từ về đức tin của họ vào Đấng
mà họ đã gặp và đã đi theo….
Nguyễn đăng
Trúc
chuyễn
ra Việt
ngữ từ cuốn
III, Thánh Thần hơi thở
sống động của Giáo hội
của Hồng y L. J. Suenens
Hồng Y Suenens
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài đến tác tạo mọi sự…
Thành ngữ ‘tông đồ’ bao trùm nhiều thực
tại và nhiều lãnh vực. Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến ý nghĩa tôn giáo
nguyên thủy, được hiểu là tác động tông đồ trực tiếp nhằm rao truyền
Chúa Giêsu Kitô và Phúc Âm Ngài cũng như nhằm đưa Phúc Âm ấy vào cuộc
sống. Tác động này đáp ứng lệnh của Thầy:
“Anh chị em hãy đi khắp thế gian, công
bố Tin Mừng cho mọi người”
(Mc,16,15).
Sinh hoạt đó đi liền với lời hứa của Đức
Giêsu khi Ngài nói với các môn đệ của Ngài:
“Các người sẽ nhận một sức mạnh, đó là
sức mạnh của Chúa Thánh Thần, sẽ tuôn đổ xuống trên các ngươi. Bấy giờ
các ngươi sẽ là những chứng nhân của ta tại Giêrusalem, trong toàn
vùng Giuđêa và Samaria cho đến tận cùng trái đất”
(CV 1,8).
Chúng ta sẽ đề cập đến công tác tông đồ gắn liền với mầu nhiệm Chúa
Thánh Thần hiện xuống, lúc ấy lần đầu tiên, qua lời nói của Phêrô, các
tông đồ loan báo những kỳ công của Thiên Chúa.
Thánh Thần hiện xuống, đó là những lưỡi
lửa đổ xuống trên đầu các Tông đồ: đó là biểu tượng của sứ mạng kitô
hữu qua mọi thời đại, là câu thưa lại lời yêu cầu của Chúa Giêsu:
“Ta đến để mang lửa xuống trên
trần gian và ta không ước ao gì ngoài việc mong lửa ấy cháy sáng lên”
(Lc
12,49).
Đón
nhận Thánh Thần và làm chứng Chúa Giêsu là một nội dung duy nhất:
Thánh Thần chỉ đến để mặc khải Chúa Giêsu.
Ta có thể diễn tả chính xác thế này:
“Canh Tân trong Thánh Thần
không phải được ân ban cho chúng ta để chúng ta làm ra một nhóm đoàn
sủng như một nhóm riêng, nhưng được ân ban để rao truyền Phúc Âm cho
thế giới”,
nghĩa là xúc tiến Nước Chúa đến giữa chúng ta. Việc làm ấy bao hàm
toàn thể nhân loại.
Việc làm tông đồ của kitô hữu được đặt trên chặng đường tiếp nối sứ mạng
của Chúa Giêsu. Chúa Kitô mãi sinh ra một cách vô hình trong mỗi tâm
hồn con người dưới tác động của Thánh Thần. Nhưng Chúa Giêsu đã mặc
lấy thân phận con người và ở giữa lòng nhân loại. Rao giảng Phúc Âm
vừa nối tiếp mầu nhiệm Chúa Thánh Thần hiện xuống vừa nối tiếp mầu
nhiệm Nhập Thể. Trong phần thứ nhất chương này, chúng ta sẽ nhấn mạnh
đến khía cạnh làm tông đồ trong Thánh Thần. Phần hai chúng ta sẽ nêu
rõ khía cạnh nhập thể vào trong cuộc sống thế giới hôm nay.
1. Làm tông đồ bằng lời nói
Đức tin là để rao truyền; đức tin là
‘tin mừng’ chỉ mong được loan cho mọi người. Thánh Phaolô nói:
“Tôi tin, vì thế mà tôi nói ”
(2Co 4,13).
Đó là một mối liên hệ chặt chẽ: đức tin và nín lặng đương nhiên là
khai trừ nhau. Hello từng nói: “Giáo hội là một lời kinh Tuyên Xưng
được hát lên ”. ‘Việc tuyên xưng đức tin’ gắn liền với kitô giáo.
Một Giáo hội không ‘năng động tuyên xưng đức tin’, mà chỉ là ‘nghi lễ’
hoặc ‘câm nín’, thì không đáp ứng được sứ mạng làm chứng Chúa Giêsu
Kitô và đem Chúa Giêsu đến với thế giới.
Chúa chúng ta dạy chúng ta:
“Thật thế, ai muốn cứu mạng mình, thì sẽ
mất mạng ”
(Mc
8,35). Đức tin của chúng ta cũng như thế: đức tin ấy chỉ sống động khi
nó biết tràn lan, nó biết cống hiến cho kẻ khác. Một đức tin phủ đầy
bụi tro là đức tin sắp tàn lụi. Đức tin như ngọn lửa, nó cần sáng lên
và làm cháy lên những gì nó đụng đến.
Thánh Thần được gửi đến cho các Tông đồ là để họ làm chứng về đức tin
của họ qua năng lực của Lời nói: những lưỡi lửa ngày Hiện Xuống là
biểu tượng của năng lực Thánh Thần bằng Lời nói, và một phần quan
trọng của các đoàn sủng mà Thánh Thần ban cho là để chu toàn sứ mạng
ấy.
Chúng ta biết đến nhiều ơn được thánh Phaolô kể ra ở nhiều nơi khác
nhau trong các thánh thư: đặc biệt ở Rom 12,6-8; 1 Cr 12,8-10 và
28-30; Ep 4,11. Ta có thể nối dài danh sách các ơn này, canh tân lối
suy luận, thích ứng phương cách áp dụng cho hợp với hoàn cảnh. Nhưng
liệt kê ơn nầy ơn kia không phải chỉ là lối nói chung chung để rồi có
thể nói rằng không còn có gì đáng lưu ý trong danh sách ấy. Kỳ thực có
những đoàn sủng nhằm trực tiếp trình bày về sứ điệp của Phaolô và
chứng thực ngay cả sự chính đáng của việc trình bày sứ điệp ấy, trong
Thánh Thần.
Chúng ta thấy 1 Cr 12,8 nói về ơn có lời nói khôn ngoan, một sứ điệp
về hiểu biết; Rom 12,7-8 gợi lên ơn giảng dạy và khuyên bảo; 1 Cr
12,9-10 nói đến ơn đức tin và ơn thông đạt; chưa kể đến ơn sứ ngôn thường
được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Những đoàn sủng như thế nằm
trong khuôn khổ làm tông đồ bằng lời nói.
Ngày nay có cả một trào lưu tư tưởng có khuynh hướng dồn người kitô
hữu vào thế im lặng: người ta tìm đủ ‘lý cứ’ để bảo họ nên làm thinh.
Thế giới chưa sẵn sàng lắng nghe
Luận cứ trước tiên đưa ra là lúc này người ta ‘không sẵn sàng nghe
chúng ta nói’.
Trước luận cứ này, nên đưa ra hai câu trả lời. Câu trả lời đầu tiên
là: “Bạn có tin là vào thời Chúa Giêsu, những người cùng sống với Ngài
sẵn sàng lắng nghe Ngài không?” Chỉ cần nhìn lên Thánh giá thì ta đã
có câu trả lời. Rồi đến thời các vị Tông đồ. Bạn có biết việc gì xảy
ra cho thánh Phaolô ở Sân Vận Động không? Những người nghe Phaolô nói
đã phản ứng như thế nào bạn biết không? Họ nói là họ không muốn mất
giờ để nghe, và ‘thôi, hẹn khi khác!’
Câu trả lời thứ hai là hỏi lại người nêu lên luận cứ này: “Có thật là
thế giới không sẵn sàng nghe sứ điệp kitô giáo không?” Phần tôi, thì
tôi tin là có một lời mời gọi vang dội trong tâm tư mọi người qua
những thắc mắc dằn vặt để tìm hiểu xem sống, chết, khổ đau rồi để làm
gì; và tiếng mời gọi này lại càng gay gắt tha thiết hơn lúc nào hết,
nơi một thế giới đang ray rứt trong tình cảnh mâu thuẫn giữa tiến bộ
choáng váng của các phương tiện sinh hoạt song song với sự sa sút kinh
hoàng về ý nghĩa làm cho cuộc đời đáng sống.
Phải tôn trọng lương tâm con người
Một lối khác để ngăn chận đà sinh lực của sứ mạng tông đồ là việc đưa
ra luận cứ nói rằng cần chấm dứt mọi sinh hoạt tông đồ vì cần phải tôn
trọng tự do lương tâm của mỗi người.
Thật thế, cần phải tôn trọng lương tâm. Phải thú nhận là trong quá khứ,
có lúc đức tin đã không được truyền đạt trong tinh thần tôn trọng tự
do lương tâm của mỗi người. Những cuộc trở lại đạo ‘theo lối
Charlemagne’ hoặc qua cách áp dụng hiệp ước Westphalie (cujus regio,
illius et religio = xứ nào thì đạo nấy) là những sự kiện lịch sữ đáng
buồn, ta không thể chối cãi. Cũng may mà hôm nay chúng ta không ai làm
như thế. Nhưng căn cứ vào đấy để cho rằng việc trình bày đức tin của
mình một cách đầy nhiệt tình và xác tín là vi phạm tự do lương tâm,
thì quả là đi quá xa.
Có một lối dụ dỗ mê hoặc theo phương cách tuyên truyền, cần phải loại
bỏ đi. Nhưng tuyên dương đức tin của mình bằng làm chứng về kinh
nghiệm cuộc sống kitô giáo, làm chứng cho đức tin mình đang ấp ủ và
mang lại hạnh phúc tràn đầy cho tâm hồn mình, đó là chuyện bình thường
và phải đeo đuổi. Và hẳn nhiên là sẽ được thực hiện với một lòng kính
trọng sâu xa đối với tự do của kẻ khác.
Chúng ta phải ý thức lại một cách sâu
sắc hơn nữa lời của Thầy đang vang dội ngày hôm nay: “Thầy
đến để họ được sống và sống sung mãn ”
(Gioan
10,10).
Kitô hữu có trong mình một cuộc sống dư đầy, người ấy không thể giữ
riêng nơi mình. Dĩ nhiên, ơn Chúa vượt lên trên những giới hạn trung
gian hữu hình, nhưng còn có gì hạnh phúc cao cả hơn cho con người khi
mình biết một cách minh nhiên về Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta, về mầu nhiệm cuộc sống Chúa Ba Ngôi, về tình yêu bao la ấp ủ
con người từ ngày tạo dựng cho đến chung cuộc xuyên qua những mầu
nhiệm của ơn cứu độ!
Còn gì giàu có đầy đủ hơn khi làm thành phần của một giòng linh hoạt
gồm các nhà thần bí và các thánh kế tiếp nhau từ thế hệ này qua thế hệ
khác, làm nên vinh quang của Giáo hội sống động và là bảo chứng cho sự
trung kiên của Giáo hội này trước mặt Chúa! Người anh cả trong dụ ngôn,
vì được cư ngụ ở trong nhà, nên không ý thức được những gì cha anh và
người nhà của anh mang lại cho anh, và cho rằng đó là chuyện tự nhiên;
người con hoang đàng, ở cách xa nhà cha, một ngày nào đó sẽ nhận ra điều
này hơn là người anh của mình.
Người kitô hữu ‘có nơi cư ngụ yên ổn’ không nên vô tâm trước tình cảnh
lâm nạn về cuộc sống tinh thần của thế giới. Kitô hữu nào còn nghi ngờ
về tình trạng đói khát sinh lực tôn giáo mà con người ngày nay đang
gặp phải, thì chỉ xin họ lưu ý đến vô số các giáo phái mọc lên như
nấm, chẳng qua cũng vì chúng ta đã thiếu sót phận vụ làm chứng nhân
trong cuộc sống kitô hữu chúng ta.
Chúa dạy chúng ta yêu Thiên Chúa hết linh hồn, hết sức lực chúng ta.
Trong những sức lực này thì sáng kiến của chúng ta phải được đặc biệt
lưu ý. Chúng ta phải nghiêm túc xét đến bổn phận ‘mang Phúc Âm’ đến
với mọi người bằng đủ cách, qua nhiều phương tiện truyền đạt khác khau,
từ việc đi từng nhà đến việc sử dụng truyền hình có tầm vóc quảng bá
cấp thế giới. Chúa chúng ta xin chúng ta hô to Phúc Âm trên các mái
nhà: Ngài xin môn đệ Ngài ít nhất phải mẫn cán và có những sáng kiến
như người thế gian. Kho tàng giàu có mà chúng ta phải chuyển đến mọi
người là một lời đem lại sự sống. Người ta còn cần lời ấy hơn là cần
cơm bánh. Phải đích thân mang lời ấy đến cho họ.
2. Làm tông đồ bằng chính cuộc sống của mình
Kitô hữu ngày nay e dè trong việc nói
lên một cách minh nhiên và trực tiếp về tôn giáo mình. Sự kiện đó đáng
làm cho chúng ta lưu ý. Người thời nay đã nghe nhàm tai những lối nói
ý hệ và những lời quảng cáo. Vì thế kitô hữu không thể chỉ dừng lại ở
cấp độ lời nói trong sứ mạng tông đồ của mình: nỗ lực tông đồ còn phải
thấm nhập và thể hiện ngay trong cuộc sống của người làm chứng. Người
ta cần rao giảng trước hết điều người ta đang sống: cuộc sống ấy làm
cho lời nói rực sáng lên và đi sâu vào tâm hồn người nghe. Thánh Gioan
nói với chúng ta về Chúa Giêsu như thế này: “cuộc
sống của Ngài là ánh sáng ”
(Gioan
1,4). Mỗi người làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô cũng phải mặc lấy sự
sống rực sáng này.
Hơn bao giờ hết, thế giới cần có những kitô hữu phản chiếu trung thực
ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô. Giáo chủ Phaolô VI có lần đã nói rằng
thế giới cần chứng nhân hơn thầy dạy. Nên ít nói mà làm gương tốt
nhiều hơn. Thế giới cần thấy được một kitô giáo nơi cuộc sống của kitô
hữu. Không khác lối giáo dục trẻ em, người ta cần một lối giáo lý bằng
hình ảnh, bằng sự phản chiếu lung linh từ ánh sáng của đời sống cụ thể.
Kitô hữu phải tuyên dương Phúc Âm bằng mọi phương cách sống của mình.
Và họ phải làm bằng hai phương cách không tách biệt nhau: bằng việc
làm chứng tích cực khi biết giữ được sự nhất quán giữa đức tin của
mình và lối sống, lập trường, những sở thích và những điều mình không
chấp nhận; bằng tâm tình sám hối, sự thú nhận một cách khiêm tốn và
đầy tình huynh đệ, trước Thiên Chúa và trước mọi người, về tất cả
những gì đi ngược Tình Yêu Thương nơi cuộc sống cá nhân và nơi những
mối tương giao xã hội của mình. Nhìn nhận mình chưa yêu thương hoặc
yêu thương chưa đầy đủ, thì đó cũng đã là làm chứng cho Tình Yêu.
Ngày nào kitô hữu chỉ được nhìn theo mẫu mực đánh giá thuần nhân loại,
thì người ấy không làm ai ngạc nhiên, cũng không làm xáo trộn những
luật chơi, lối sống theo thủa theo thời trong xã hội. Nhưng ngay khi
người ấy sống đức tin của mình, thì bắt đầu lại có vấn đề: kitô hữu
gây chấn động vì họ dấy lên những câu hỏi chung quanh mình. Từ lãnh
vực cuộc sống hôn nhân, gia đình, nghề nghiệp, đến lãnh vực của người
công dân hay cuộc sống xã hội: trong toàn cuộc sống của mình, kitô hữu
phải làm chứng về những lý do, những giá trị, về thái độ chọn lựa
riêng, phát sinh từ nguồn sinh lực đức tin của mình.
Như thế, cái gì sẽ ‘nói lên’ sứ điệp
kitô giáo? Một lời nói dĩ nhiên phải diễn đạt một sứ điệp; nhưng một
cử chỉ, một hành động, một bước tiếp cận, một lối sống lại là lời hùng
hồn. Những sách giáo khoa thần học luôn nhấn mạnh rằng mạc khải được
thể hiện bằng lời nói, nhưng cũng được khai mở bằng những hành động như
người Đức thường nói: Wortoffenbarung và Tatoffenbarung.
Công đồng Vaticanô II tuyên bố rằng mạc khải của Thiên Chúa kết tụ nơi
Đức Giêsu Kitô “bằng sự hiện
diện và sự biểu lộ mà chính Ngài đã làm qua lời nói và việc làm của
Ngài ”
(Dei Verbum, số 4).
‘Bằng sự hiện diện’. Khi truyền đạt một sứ điệp bằng sự kiện, bằng
việc làm, bằng cuộc sống mình, thì người ta gợi lên được một quang cảnh
bao quát hơn là chân trời chỉ được vẽ ra qua ‘giáo thuyết’. Điều đáng
nêu lên ở đây không phải là để hạ thấp giá trị của giáo thuyết, nhưng
là đặt giáo thuyết vào một bối cảnh rộng hơn, bao quát hơn, đó là
chính con người.
Georges Gusdorf đã đi vào triết học để
phân tích năng lực sáng tạo của lời nói, một thực tại con người mang
lại ý nghĩa cho thế giới. Khi mô tả một cách tinh tế tia sáng vô song
của ‘lời được nói ra’, ông đề nghị chúng ta tiến xa hơn nữa khi ông
nói về giáo sư Alain: “Lời dạy của thầy ít được lưu ý hơn là ‘phong
thái cụ thể của thầy, một cử chỉ, một nụ cười làm ta sững sờ’.”
Ông viết tiếp: “Cũng như sự
hiện diện của Đức Giêsu từng được mỗi người tin Ngài tiếp nhận như một
mối giao cảm trực tiếp và linh động, nơi sự hiện diện ấy lời nói mời
gọi, kết dệt một cuộc gặp gỡ giữa hai bên, và một vài câu đã thực sự
phát thành tiếng kỳ thực như một âm vang của một sức sống kỳ diệu."
Trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi,
Giáo chủ Phaolô VI viết:
“Giáo hội phải rao truyền Phúc Âm trước hết bằng tác phong và cuộc
sống của mình, nghĩa là bằng chứng tá sống động về lòng trung tín của
mình với Chúa Giêsu Kitô, về sự nghèo khó và thanh thoát, tự do đối
với những quyền thế trần gian, nói tóm là về sự thánh thiện của mình ”
(số
41).
Như thế kitô hữu cần cho thế giới nghe
Phúc Âm bằng chứng tá của ‘lời tuyên xưng’ và phải cho người ta thấy
Phúc Âm bằng chứng tá của cuộc sống mình. Chỉ nói xuông thôi, thì
chứng tá bằng lời sẽ có nguy cơ trở thành hời hợt, trừu tượng, không
bao giờ tương hợp được toàn bộ lối diễn tả và cảm nhận của con người.
Chứng tá bằng lời nói vận dụng trí khôn và mời gọi kẻ khác tiếp nhận
chân lý. Chứng tá bằng cuộc sống trực tiếp đụng đến toàn sinh hoạt con
người và đi sâu vào những khát vọng nền tảng hơn cả của họ. Nhưng hai
lối làm chứng này cần bổ sung cho nhau. Thánh Phaolô đã nhấn mạnh điều
đó trong thư gửi giáo đoàn Thessalônica: “Phúc Âm của chúng ta
không phải đến với anh chị em bằng lời nói mà thôi, nhưng còn đi kèm
những việc làm đầy uy lực, với tác động của Thánh Thần và sự
bảo đảm tuyệt đối
(1 Th 1,5).
3. Làm tông đồ qua cuộc sống cộng đoàn
Người ta có lý khi nói rằng ngày nay Giáo hội còn cần những cộng đoàn
sinh hoạt linh động hơn cả những định chế mới hoặc những chương trình
mới.
Điều đó ăn khớp với sự phát triển của
kitô giáo. Sách Tông đồ Công vụ chép rằng: phát xuất từ những cộng đoàn
kitô hữu, “Tất cả những tín
hữu để chung mọi của cải làm của chung; họ bán hết cửa nhà và tài sản,
rồi phân chia hết cho tất cả theo nhu cầu của từng người. Ngày ngày,
một lòng một dạ, họ chuyên cần đến Đền thờ và bẻ bánh tại nhà họ, dùng
bữa trong bầu khí vui tươi và thanh đạm. Họ ca tụng Chúa và được dân
chúng mến phục. Và mỗi ngày, Chúa đưa đến thêm cho cộng đoàn những kẻ
sẽ được cứu độ”
(CV 2,44-47).
Giáo hội khởi thủy cần đến một lối sống cộng đoàn kitô hữu như thế để
nâng đỡ họ trong bầu khí ngoại giáo chung của thời ấy.
Ngày nay, vào thời ‘hậu công đồng Vaticanô II’, thời chúng ta đang
sống, nhu cầu như thế phát sinh trở lại. Người ta có thể sống thành
‘cộng đoàn’ ở những cấp độ chia sẻ đời sống khác nhau, nhưng vẫn nuôi
dưỡng sinh lực của sứ điệp kitô giáo đặc loại của mình cũng như năng
lực tông đồ xuyên qua cuộc sống cộng đoàn.
Tương lai Giáo hội sẽ tuỳ thuộc một phần quan trọng nơi chứng tá của
những cộng đoàn kitô hữu đang nảy sinh nhiều nơi như những ngọn lửa
thắp sáng niềm hy vọng.
Helder Câmara đã nói đến tầm quan trọng của những cộng đoàn giáo hội
cơ sở cho tương lai của Giáo hội Mỹ Châu Latinh. Tuyên ngôn Puebla
cũng đã nhấn mạnh đến sự kiện ấy. Ta đang chứng kiến thế giới ngày
càng xa nếp sống kitô giáo, và ta thấy những hàng chữ này của Steve
Clark càng xác đáng hơn:
“Muốn sống một cuộc sống kitô giáo chân thật, kitô hữu cần có một bối
cảnh sinh hoạt trong đó kitô giáo được chấp nhận một cách công khai,
nơi đó người ta nói với nhau về điều người ta tin, người ta sống đức
tin ấy. Nhưng, người công giáo càng ngày càng thấy ít có được bầu khí
như thế. Khi một xã hội không còn tiếp nhận kitô giáo nữa, thì người
ta thấy cần tạo nên những cộng đoàn bên trong xã hội để cuộc sống kitô
giáo được thực hiện ”.
4. Những thắc mắc về sinh hoạt tông đồ ngày nay
Sau khi nhắc lại những định hướng mà Thánh Thần ứng khởi vào thời đầu
của các thánh tông đồ, sau khi cùng nhau ý thức về kinh nghiệm của
công đồng kitô hữu thời nguyên thủy, ta có thể trở về với thực tại của
Giáo hội ngày nay. Đây đó đôi khi lại dấy lên những thắc mắc, hiểu
lầm, ngay giữa những người nghĩ mình được kêu gọi để làm công tác tông
đồ trực tiếp và thuần túy tôn giáo. Những người này khắc khoải tự vấn,
và nêu lên câu hỏi để mọi người cùng suy nghĩ:
-
Mọi vong thân, tệ trạng chính trị xã hội chưa giải quyết! Phải chăng điều
duy nhất đáng làm là lo cho những hoàn cảnh này? Phải chăng ta
sẽ mang trách nhiệm nặng nề về một lối trốn chạy thực trạng trước mắt
để tìm đi vào một lối vong thân tôn giáo? Phải chăng vì hoàn cảnh xã
hội bất công mà quên lãng việc rao truyền minh nhiên sứ điệp tôn giáo:
lòng nhân hậu của Thiên Chúa, Chúa Kitô đến cứu độ, mầu nhiệm phục
sinh, cuộc sống vĩnh cửu? Về điểm này, cũng nên lưu ý thêm là không phải
xứ nào, miền nào cũng có thể xem là tự nhiên đã có đức tin tôn giáo
nơi nếp sống, nơi văn hóa của họ, như trường hợp các nước ở Âu Châu!
-
Mỹ Châu Latinh chứng kiến những bạo động ăn sâu trong các chế độ độc
tài và vô tâm mà người dân ngày ngày phải chịu đựng. Ngoài ra, không
tháng nào ta lại không đọc được những tài liệu, sách báo tường thuật
về tình trạng thảm khốc, chán chường mà những người dân trong các chế
độ xã hội chủ nghĩa phải trải qua. Hơn nữa, dù ở trong chế độ chính
trị nào, hệ thống văn hóa nào, cơ cấu kinh tế nào thì con người vẫn
luôn dòn mỏng, yếu đuối, bất toàn, và đã mang phận làm người thì con
người thời nào cũng đều như thế. Biết bao người làm cách mạng lại trở
nên độc đoán, thác loạn, chướng khí và tàn bạo! Trong bất cứ chế độ
nào của xã hội con người thì cũng có những kẻ trộm cướp, nói láo, gian
manh, lường gạt và giết người. Đằng sau bảng liệt kê này, ta không
nghe được tiếng vọng của một lời kêu gọi lên đường để gặp gỡ cụ thể
khích lệ cuộc sống tinh thần, chia sẻ trực tiếp niềm tin của mình,
hiệp thông với cuộc sống siêu nhiên hay sao? Không có chỗ trống nào
cho hình thức làm tông đồ như thế hay sao?
-
Không còn có sự ác hay thương đau nào khác cần giải phóng hay sao? Chẳng
hạn như những giới hạn của chúng ta, lắm lúc thật đáng thương, về tâm
lý cũng như thể lý; những bịnh tật và sầu khổ gắn liền với cuộc sống
chúng ta, ngay đối với những kẻ nhiều tiền lắm của; những buồn tủi và
xót xa của tình cảm không được đáp đền, tan nát, đổ vỡ; những cảnh tử
biệt sinh ly… . Những ai gặp đớn đau như thế nơi thân xác, nơi tâm hồn
mình – dù họ có hy vọng hay không hy vọng vào một lối giải phóng chính
trị, kinh tế – thì họ có quyền được nghe lời Chúa nói với những ai đang
gánh nặng trên đường đời hay không? Kỳ cùng ta tự hỏi, Chúa đến giữa
chúng ta để cứu ai?
-
Chúng ta được mời gọi để cử hành công
cuộc giải phóng con người theo cung cách tôn giáo. Nhưng, công cuộc ấy
có nhiều cấp độ. Công cuộc giải phóng kinh tế hay chính trị cần được
cử hành, vì đây là ‘hành vi cứu người và là sự triển nở của Nước Chúa’,
ít nhất ‘khi ta hiểu nó là một nỗ lực thăng tiến sinh hoạt con người’.
Nhưng có những cấp độ giải phóng khác nữa, nhất là ở một cấp độ hết
sức sâu xa, mà giải phóng được hiểu là “Chúa
Kitô làm cho con người thành tự do thực sự, nghĩa là Ngài cho phép con
người được sống kết hiệp với Ngài, là nền tảng cho mọi mối tương giao
huynh đệ của nhân loại ”.
Ở đây,
giải phóng ở cấp độ tôn giáo, siêu nhiên, và phải được hiểu là phần
chính yếu của mầu nhiệm cứu độ. Không thiếu những người chờ mong công
cuộc giải phóng này, tùy phương cách và mức độ ý thức khác nhau. Chúng
ta không thấy mình có phận vụ đáp ứng những ước vọng như thế hay sao?
Chúa đã không từng nói: Cần phải
làm việc này nhưng đừng quên sót điều kia ”
(Lc
11,42)
hay sao? Lời nói ấy luôn có giá trị trong mọi thời đại.
+ Hồng Y LJ. Suenens,
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
chuyển ngữ (Còn tiếp)
VỀ MUC LUC
|
|
THẦY
GIÁO - THẦY TU - THẦY THUỐC
Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức
Kitô thân mến,
Nhiều người vẫn bảo trong xã hội Việt
Nam, chỉ có 3 giới được trân trọng gọi bằng “Thầy”: Thầy Giáo, Thầy Tu
và Thầy Thuốc. Tại sao vậy ? Xin thưa vì cả ba đều cùng lúc dạy người,
giúp người và cứu người. “Thầy” cũng còn được hiểu là cha, là bố của
ta, là đấng sinh thành cho ta làm người.
Về “Thầy Tu”, chắc chắn ai trong chúng
ta cũng có thể hồi nhớ lại trong đời mình ít là một vị Giám Mục, Linh
Mục, hay Tu Sĩ đúng nghĩa là thầy và là cha, là mẹ của chúng ta. Còn
bản thân tôi bây giờ được người ta kính cẩn gọi là “cha”, được các bạn
trẻ sinh viên quý mến kêu “bố ơi”, thú thật nhiều khi thấy hổ thẹn vì
còn nhiều bất xứng lắm. Cứ phải cố gắng noi gương các “cha” của mình
mà sống, mà ứng xử cho đàng hoàng hơn.
Về “Thầy Giáo”, tôi từng là giáo viên
vỏn vẹn có 5 năm khi mới hơn 20 tuổi, lại không dạy học trò mà chỉ
thỉnh thoảng bồi dưỡng chuyên môn cho các giáo viên, do vậy chưa bao
giờ tôi dám nhận mình là thầy giáo đúng nghĩa. May mắn là tôi đã có
được những thầy cô giáo mà tôi mang ơn dạy dỗ trời bể, đến mức có thể
gọi là người cha, là người mẹ thứ hai, không sinh, không dưỡng nhưng
lại giúp tôi nên người. Tôi nhớ mãi ngày mình khấn trọn trong DCCT, mẹ
tôi vừa qua đời hơn một tháng trước, ngay sau Lễ, soeur Tô Thị Anh,
Dòng Đức Bà – cô giáo đã dạy tôi môn Tâm Lý Gặp Gỡ Chiều Sâu – nhỏ nhẹ
bảo: “Anh Uy ơi, tôi xin tặng cho anh một nụ hôn thay cho má của anh
nghen !” Và cô đã ôm chầm lấy tôi, xiết chặt. Vẻ bên ngoài thì hơi Tây
một chút, nhưng tình cảm gửi gấm bên trong thì đúng là một vòng tay ấm
áp của một người mẹ.
Còn với người “Thầy Thuốc”, tôi đã 2 lần
được đại phẫu: năm 1979 khi sắp vỡ tung khúc ruột thừa, tôi còn nhớ
tên ân nhân cứu sống mình là bác sĩ Bảo, bệnh viện Sài-gòn; và năm
2001 mổ lấy một khối u trong ruột tại một bệnh viện hiện đại quận 16
Paris, tiếc là tôi đã vô tình đến nỗi quên không tìm gặp cũng không
nhớ được tên vị giáo sư bác sĩ người Pháp đã cứu mình.
Vậy đó, thầy giáo thì rèn đúc nên tâm
hồn mình, thầy tu thì hướng dẫn tâm linh cho mình sống cho phải đạo,
còn thầy thuốc thì chăm sóc và cứu chữa mình để mình được tiếp tục
sống. Chúng ta mang ơn các Thầy mà lại không bị các Thầy đòi phải trả
ơn, nếu mình có muốn trả ơn thì chỉ có cách sống nết na hơn, tốt lành
hơn mà thôi. Các Thầy tuyệt vời của chúng ta chẳng mong gì điều gì
khác.
Ừ nhỉ, chưa ai nghĩ đến chuyện trong năm
chọn ra một ngày của “Thầy Tu”, xã hội chúng ta chỉ mới có Ngày “Thầy
Giáo” 20 tháng 11 và Ngày “Thầy Thuốc” 27 tháng 2 hôm nay. Tôi cứ băn
khoăn mãi không biết sẽ viết gì đây nhân Ngày đặc biệt này, may quá
lại gặp được bác sĩ Hoàng Đức Quyền, trước đây hơn mười năm khi còn là
sinh viên đã từng sinh hoạt ở DCCT. Tôi ngỏ ý xin anh viết cho Ephata
một chút gì đó về nghề “Thầy Thuốc”, anh kêu bận quá, tôi nài nỉ thêm
mà không chắc sẽ nhận được gì, không ngờ sát lúc báo phải hoàn tất thì
nhận được qua E-Mail lời tâm sự dưới đây.
“...Sáng nay, vì đến tua trực, tôi vào
Phòng Sanh và một sản phụ trẻ tuổi đã làm tôi chú ý. Hình như tôi đã
gặp em ở đâu đó. Thôi đúng rồi, cách đây 2 năm, tôi biết em khi em còn
đang học lớp 11. Chúng tôi đã nhận ra nhau, em nhờ tôi giúp đỡ vì
không có người quen nào. Tôi đã động viên em, hướng dẫn những điều cần
thiết. Cuộc “vượt cạn” của em tưởng chừng diễn tiến bình thường, nào
ngờ... kết cục thì... chỉ cứu được con trai của em, còn em thì các bác
sĩ phải bó tay vì “băng huyết do nhau cài răng lược”.
Em chỉ là một trong nhiều sản phụ gặp
trục trặc trong lúc vượt cạn. Nhiều sản phụ phải cắt tử cung vĩnh viễn
không mang thai được nữa; hoặc băng huyết nặng sau sanh, nhiễm trùng
hậu sản, sức khỏe giảm sút rất nhiều sau khi sinh con... Tôi đã cảm
nghiệm thật sâu sắc về sự hy sinh mất mát của người mẹ khi phải “mang
nặng, đẻ đau” một đứa con. Những cảm xúc đó đã đánh động tôi viết
thành một bài thơ, tạm gọi như vậy, vì thực ra hồi còn đi học Phổ
Thông, tôi luôn bị điểm kém môn Văn.
CẢM XÚC: Kính tặng các Bà Mẹ,
Đặc biệt Người Mẹ yêu quý của con...
Em nhìn tôi, đôi mắt đen tròn ngơ ngác,
Sao quen quá đôi mắt này đã gặp.
Mới năm nào còn cô bé ngây thơ,
Mà giờ đây, Em đã là Sản Phụ.
Tiền chuyển dạ, em nhìn tôi nhờ vả.
Môi em cười, miệng em nói líu lo.
Ôi vui quá em trở thành người mẹ,
Đau khổ nào bằng hạnh phúc này không ?
Chuyển dạ rồi, những cơn đau vật vã,
Em mím môi, tay bấu chặt thành bàn.
Ai hiểu em lúc này em nhỉ,
Những cơn đau xé thịt da người.
Vì kiệt sức đôi mắt em đờ đẫn.
Bỗng vọng lại một tiếng khóc... oe... oe...
Miệng thều thào, toàn thân em ngất lịm,
Mặt nhợt nhạt, vầng trán đẫm mồ hôi...
Một vùng đỏ thẫm và em đã ngã gục.
Tôi thót người, bất lực nhìn theo,
Chiếc băng ca lướt nhanh vào phòng mổ.
Ôi thương quá tấm thân gầy chịu đựng,
Để được con, em chết cả đời người !
Bàng hoàng nhìn em, tôi nghĩ về Mẹ,
Một đàn con, bấy nhiêu lần sinh nở,
Gánh nặng lo toan của ăn cái mặc.
Đau khổ quá nhiều, Mẹ tần tảo sớm hôm...
Cảm ơn Mẹ đã cho con cuộc sống,
Mẹ ơi Mẹ ! hãy sống mãi bên con !
Bác sĩ HOÀNG ĐỨC QUYỀN
Đọc xong, tôi xúc động thật sự như tôi
đã xúc động khi đọc được một bài ngắn trên báo Tuổi Trẻ mang tên “Bài
giảng đầu tiên” cũng xin đăng lại trong số báo kỳ này. Ước gì xã hội
bây giờ có được nhiều nhiều những bác sĩ có cái Tâm như thế đối với
cha mẹ, đối với học trò, đối với đồng nghiệp, và nhất là đối với bệnh
nhân, để bớt dần đi những... “con sâu màu trắng làm rầu nồi canh”...
Lm. LÊ QUANG UY,
DCCT, Ngày Thầy Thuốc 27.2.2005
VỀ MUC LUC
|
|
MỘ CHÔN THẾ KỶ
Bài hát Mộ Phần Thế Kỷ
của Phạm Duy đang vẳng vẳng đâu đây với lời ca ghi mốc thời điểm cuối
đông của một thế kỷ, của một ngàn năm theo vòng xoay của cái chấm nhỏ
li ti là trái đất trong giải ngân hà để chuyển mình sang xuân của một
thiên kỷ mới. Con người cũng như vạn vật đang chôn đi những tàn tạ rã
nát để mở ra một nhãn quan mới với giá trị mới về cuộc đời.
Vùi sâu trong mộ chung
Hoặc vùi nông trong mộ
hoang:
Anh hùng rơm hay chủ
nghĩa phi thường...
Hãy lấp kỹ tội hèn của
chúng ta.
Người đi trong mùa đông,
đội khăn tang, mang tình
thương
theo người phu đi vùi hết
mộ phần.
Rồi tan trong mộ sâu
Một thây ma đang buồn đau,
Thế kỷ sau sẽ dùng bón
hoa màu...
Mai đây nấm mồ, một nụ
vàng sẽ hé...
Hoa ơi tên gì? Có phải
hoa hướng dương?
HỒI SINH
TỪ MỘT CÁI XÁC CHẾT
Có lần ghé St Petersburg
bang Florida, tôi thấy tượng một vị thánh Việt thật trẻ với những nét
khá đặc biệt. Hỏi ra mới biết đây là một ông thánh gốc thuộc loại bụi
đời chôm chỉa! Cứ tưởng phải là con nhà lành mới có thể làm thánh, đâu
ngờ một người vốn có thành tích bất hảo, chuyên nghề cướp giật mà cũng
làm thánh được mới lạ, được phong hiển thánh trong danh sách sách 117
Thánh Tử Đạo Việt Nam.
Đó là trường hợp thánh
Phaolô Hạnh, sinh vào khoảng năm 1827 tại Tân Triều, tỉnh Biên Hòa,
nhưng lớn lên thì cùng với hai người anh chuyển về Sài Gòn, chọn vùng
Cầu Muối, Chợ Quán, để làm ăn. Nói tới Cầu Muối là nói tới những băng
đảng hắc ám. Phaolô Hạnh đã trở thành "đại ca" của một trong những
băng đảng này.
Sống trong tội lỗi với
cái nghề bất lương này, anh Hạnh luôn cảm thấy lương tâm bất ổn, vì dù
sao anh cũng là người Công Giáo, hạt mầm đức Tin vẫn âm thầm nẩy nở
trong anh. Anh thấy không thể tiếp tục đi con đường như vậy được nữa,
và anh đã tìm cách thoát ra khỏi cái đường dây đã làm cho đời anh ra
nhầy nhụa ghê tởm. Nhưng đâu có dễ dàng như vậy được, vì chốn giang hồ
thì có luật giang hồ: ai lật tẩy đường dây thì phải đền mạng! Dù vậy
anh Hạnh cũng tìm cơ hội để làm lại cuộc đời.
Một hôm biết được đàn em
của mình đã làm một chuyện hết sức tồi bại, là đi ăn cướp nhà một
thiếu phụ nghèo khổ, "đại ca" Hạnh bỗng cảm thấy thương tâm và quyết
ra tay áp lực bắt chúng phải trả lại tất cả cho nạn nhân. Thế là bọn
chúng tức giận quyết tâm trả thù bằng cách đi tố cáo với chính quyền
rằng anh Hạnh là người Công Giáo.
Thời đó vua Tự Đức đang ra
lệnh cấm đạo gắt gao, nên anh Hạnh đã bị bắt ngay và bị hành hạ dã man
để bỏ đạo. Quan đã ra lệnh tra tấn bằng kìm nguội kẹp vào thịt anh,
rồi lấy những thanh sắt nung đỏ dí vào người anh, mùi khét xông lên
nồng nặc. Vậy mà anh vẫn cương quyết tuyên bố: "Tôi là người Công Giáo,
dù có phải chết tôi cũng không bao giờ bỏ đạo." Phaolô Hạnh đã yếu
đuối trong đường tội lỗi, nhưng khi đã trở về lãnh nhận ơn tha thứ của
Chúa thì lại nhận được sức mạnh lạ lùng.
Ngày 28 tháng 5 năm 1859,
anh Hạnh đã bị án chém đầu tại Chí Hòa lúc 32 tuổi.
TIN VUI
ĐẦU CÀNH KHÔ BỖNG HOA NỞ TRÀN
Yếu tố gì đã khiến một
người bê bối từ một cái xác chết như Phaolô Hạnh mà còn có thể tìm lại
sức sống mới đầy hoạt lực đến can đảm xưng đạo và chết vì đạo?
Những cành cây trơ trụi
mùa đông xem ra vô vọng bỗng dưng trổ những mầm xanh tươi mơn mởn khi
mùa xuân đến.
Người trở thành cây mùa
đông
Lá úa rơi vun cao cội
nguồn
Nhưng cuối bước đi trăm
năm một lần
Đầu cành khô bỗng hoa nở
tràn.
(Phạm Duy,
Hóa Sinh)
Những bờ đất đá khô cằn
bỗng dưng tràn ngập hoa nở rực rỡ đủ màu sắc. Đó là sức sống mùa xuân,
vượt khỏi sức tưởng tượng bình thường.
Đó là niềm tin vào sức
mạnh ơn thánh: tình thương tha thứ và chuyển ban sinh lực mới:
"Vì này, Ta tạo nên trời
mới đất mới. Những sự đã qua, người ta sẽ không còn nhớ đến, chúng sẽ
không còn vẩn lại trong lòng. Trái lại, hãy hoan lạc, hãy nhảy mừng
luôn mãi trên điều Ta tạo dựng" (Isaia 65:17-18).
Sức Thánh Linh như nhựa
sống mùa xuân, như người yêu muôn thuở đánh thức những cành cây khô
héo như trong Kinh Thánh:
Lời chàng văng vẳng bên
rào
Em ơi tỉnh dậy ra chào
Chúa Xuân
Mưa ngớt tạnh đông tàn
băng giá
Hoa đồng nhà muôn đoá
khoe tươi
Nhạc xuân rộn rã nơi nơi
Ngàn chim đua hót vang
trời líu lo.
(Diễm Tình Ca 2:10-12)
Sức sống mùa Xuân này đã
đánh thức một Mai Đệ Liên nhầy nhụa tội lỗi,
một tướng cướp Dismas gục
đầu tin vào tình thương bên thập giá Chúa,
một Âu Cơ Tinh đắm mình
trong vũng bùn nhơ nhớp.
Không một cảnh huống vô
vọng nào mà không có thể bừng lên mùa xuân mới với sức sống mới, chỉ
trừ những ai chấp mê con đường tự đầy ải mình.
Một tay đàn anh cướp giật
cỡ Phaolô Hạnh vẫn có thể trở về làm lại cuộc đời và làm thánh. Cám ơn
thánh Phaolô Hạnh, cám ơn những cành cây khô, hay với Tô Thùy Yên cám
ơn hoa đã vì ta nở.
Đó chính là câu truyện
Kinh Thánh Chúa Giêsu đã làm cho La-gia-rô sống lại, sau khi đã chết
thối xác tới bốn ngày rồi: "La-gia-rô, hãy ra đây!" Người đã chết liền
đi ra, chân tay còn quấn vải liệm, mặt còn che khăn. Đức Giêsu bảo họ:
"Hãy tháo gỡ vải bọc, để anh ta được đi lại thong thả." (Gioan 11:
43-44)
PHÚT TÌM
LẠI SINH LỰC
Sử gia Rodriguez trong
tài liệu "Tử Đạo Á Đông" đã ví cuộc đời của Phaolô Hạnh "như một bông
hoa tím mọc dại bên đường, cho đến ngày có người đi ngang qua dẵm nát,
thì mới tỏa hương thơm. Phaolô Hạnh quả là bông hoa bị che khuất bên
vệ đường Giáo Hội, cho đến khi bị vò nát trong cuộc bách hại, mới tỏa
ra hương thơm ngát khiến chúng ta phải lâng lâng ngây ngất... Giữa một
đô thị ô nhiễm đầy bon chen thấp hèn, những gian dối bất công và những
nỗi cơ cực, thì mọi người mong đợi những cánh hoa báo hiệu mùa Xuân
mới đang đến, đem lại bầu khí trong lành hơn. Cánh hoa Phaolô Hạnh đã
tỏa hương nhờ sức mạnh Thánh Linh làm cho những ai chán ghét mùa đông
tội lỗi, lạnh giá, sẽ thấy lòng mình xuất hiện một niềm vui bí ẩn, hy
vọng tràn trề vào tương lai, và khắc sâu vào tâm khảm hình ảnh mùa
xuân vĩnh cửu"
Cuối mùa đông, những bờ
đất đá hay cành khô trơ trụi đang bật lên cả triệu triệu mầm nụ mới.
Cuối một thế kỷ, cuối một ngàn năm, tất cả đều biết "lấp kỹ tội hèn"
trong những "nấm mồ" của những gì đang qua đi để tin vào sức sống bao
la của đất trời. Mùa xuân của ngàn năm mới đang hé mở đây rồi, đang
chuyển mình vào một khúc vũ trong nhịp sống thần linh. Chả lẽ mình cứ
tiếp tục khư khư giữ lại những gì đã tàn tạ một cách tội nghiệp?
Cám ơn đất đá trổ hoa.
U mê hạt bụi hồn ta bám
hoài?
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
VỀ MUC LUC
|
|
Đàng
Thánh Giá trong ngôi nhà nguyện Mễ Tây Cơ
Trong một chuyến đi
Chicago, tôi đã đặt chân vào ngôi nhà nguyện ấy.
Đó là ngôi nhà nguyện
trong một cao ốc tối tăm vùng Nam Chicago, nơi được dùng làm trụ sở
của tổ chức Catholic Charities. Mặt tiền của cao ốc này là con đường
tấp nập xe cộ; cửa sau cao ốc thông ra một khu đậu xe, với con đường
đất dẫn vào, gập ghềnh, lồi lõm, Ngay trên đầu lối xe vào là chiếc cầu
xi măng, trên đó xe điện chạy rầm rập suốt ngày đêm.
Rõ ràng, đây không phải là
một cao ốc khang trang, tráng lệ nó hợp với khung cảnh của vùng Nam
Chicago, nơi có nhiều người da đen và người Mễ, những người nghèo,
thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội. Tầng trệt của cao ốc này là
trung tâm sinh hoạt tôn giáo của những người Mễ Tây Cơ.
Có lẽ trong tầng trệt của
cao ốc này, ngôi nhà nguyện là căn phòng đẹp nhất, với những bờ tường
cẩn đá cuội to bên dưới, một bàn thờ làm bằng một phiến gỗ mộc, một
nhà tạm bên góc trái với ngọn đèn dầu leo lét, và một giàn đèn màu hắt
ánh sáng từ trên trần xuống.
Tôi quì trong nhà nguyện,
tĩnh tâm một lúc rồi ngó lên bốn bức tường tìm kiếm một hình ảnh thân
quen: mười bốn chặng đàng thánh giá. Trong bất cữ một thánh đường hay
nguyện đường Công giáo lớn nhỏ nào, đều có hình ảnh của mười bốn chặng
đàng thánh giá. Đó là những hình ảnh ghi lại những biến cố quan trọng
trong đoạn đường khổ nạn của Chúa Kitô, bắt đầu từ sự kiện Ngài bị đưa
đến dinh quan tổng trấn Philatô luận tội và kết thúc ở sự kiện xác
Ngài được táng trong huyệt đá. Người giáo dân, khi muốn tưởng nhớ đến
công ơn cứu chuộc của Chúa Ki tô thì đứng trước mỗi chặng đó, đọc kinh,
suy niệm, gọi là ''đi đàng thánh giá".
Điều làm tôi kinh ngạc là
ngôi nhà nguyện trang trí theo nghệ thuật Mễ Tây Cơ này không có mười
bốn chặng đàng thánh giá. Tôi đã từng đến những ngôi nhà nguyện rất
nhỏ hẹp, rất đơn sơ nghèo nàn, nghèo đến độ không có nổi hình ảnh của
mười bốn chặng đàng thánh giá; nhưng thay vào đó, người ta đã cắt mười
bốn hình thánh giá nhỏ bằng giấy, gắn lên tường, tượng trưng cho mười
bốn chặng đàng thánh giá. Ở đây, hình ảnh không có, thánh giá bằng
nhựa, bằng giấy cũng không có, tường vách trống trơn. Thay vào đấy,
họa sĩ nào đó đã dùng màu, vẽ dày đặc trên bốn bức tường. hình ảnh
những người đa đen, người Mễ, những cảnh gồng gánh, cảnh làm việc tại
công trường... trông hết cả vẻ trang nghiêm của một nơi phượng tự. Tự
nhiên tôi thấy giận giận trong lòng. Cái tật vẽ tùm lum tà la trên
tường nhà, đường phố, cầu cống của người Mễ xâm nhập cả vào nơi cầu
nguyện.
Tại sao lại có một sự vô ý
thức đến như thế!
Vì công việc, tôi phải ở
lại trung tâm sinh hoạt tôn giáo của người Mễ này vài ngày. Và cũng vì
trách nhiệm, mỗi ngày tôi phải vào ngôi nhà nguyện đó nhiều lần. Lần
nào cũng vậy, thay vì tìm thấy sự bình an trong tâm hồn thì tôi chỉ
cảm thấy... mất bình an. Càng mất bình an bao nhiêu thì tôi càng có
cảm tưởng những hình ảnh trên tường đó càng nhảy múa, trêu ghẹo tôi
bấy nhiêu. Hóa ra, thay vì được ''tĩnh tâm" thì tôi lại bị ''động tâm''.
Nguyên do cũng chỉ vì ngôi nhà nguyện không có mười bốn chặng đàng
thánh giá, lại thêm nữa là tường vẽ đầy những hình ảnh kì quái làm mất
vẻ trang nghiêm.
Cho đến buổi sáng kia, một
vị hình mục đến dâng Thánh lễ trong ngôi nhà nguyện này. Trong phần
giảng thuyết, ngài khai triển chủ đề ''Chúa ở trong tha nhân ''. Ngài
nói: ''Chúng ta không nhìn thấy Chúa, nhưng nhìn thấy anh em chung
quanh ta cũng chính là thấy Chúa, vì Chúa ở trong những người anh em
đó. Chúng tạ cũng không trực tiếp phục vụ Chúa, nhưng khi chúng ta
phục vụ những người anh em cũng là chúng ta phục vụ chính Chúa, vì
Chúa ở trong những người anh em đó.
Tôi ngồi nghe, hơi thờ ơ.
Những tư tưởng này tôi cũng đã được nghe nhiều lần, không có gì mới lạ.
Nhưng tôi bắt đầu chú ý khi vị linh mục đề cập tới những bức tường
trong ngôi nhà nguyện. Bằng một giọng đều đặn nhưng không thiếu sự
rung cảm, ngài nói:
Anh em thử nhìn lên bốn
bức tường trong nhà nguyện này. Anh em không thấy mười bốn chặng đàng
thánh giá cũng không thấy Chúa đâu. Nhưng có Chúa đó, và cũng có cả
mười bốn chặng đàng thánh giá đó.
Tôi kinh ngạc, chú ý nghe.
Và vị linh mục nói tiếp:
Anh em hãy nhìn bức hình
thứ nhất: một người da đen
bị trói hai tay, đứng trước những người khác. Anh em không nhìn thấy
Chúa đâu, nhưng có Chúa trong người da đen ấy. Chúa Ki tô đang bị đưa
ra trước tòa quan tổng trần Philatô đó... Anh em hãy nhìn bức hình thứ
hai, anh em không thấy Chúa đâu, chỉ thấy một người đang vác những vật
rất nặng trên vai, lưng anh ta còng xuống. Chúa đó, Chúa Ki tô vác
thánh giá trong người anh em đang mang nặng đó... Anh em hãy nhìn bức
hình thứ ba, anh em không thấy Chúa đâu, chỉ thấy một người bị đè dưới
một đống gạch. Chúa đó, Chúa Ki tô bị ngã xuống đất dưới sức nặng của
cây thánh giá...Anh em hãy nhìn bức hình thứ tư, anh em không thấy
Chúa đâu, chỉ thấy một phụ nữ đẹp sầu muộn đang nhìn một người đang bị
đánh đập. Chúa Kitô đó, trên đường khổ giá, Ngài đã gặp Đức Mẹ sầu bi.
Lần lượt, vị linh mục
giảng giải trọn vẹn mười bốn chặng đàng thánh giá vẽ trên tường. Tôi
và những người ngồi trong nhà nguyện chăm chú lắng nghe. Nghe mà cảm
thấy trong lòng sung sướng. Đây là lần đầu tiên, tôi cảm nghiệm bài
học "Chúa ở trong tha nhân '' một cách thật
mãnh liệt và sống động.
Buổi,chiều, tôi gặp vị
linh mục yà tỏ ý cảm phục vì sự ngài nhìn ra ý nghĩa của những hình
ảnh ''kì quái '? trên tường. Ngài cười nhẹ, đáp:
Tôi nghĩ đó là sự nhạy cảm
văn hóa. Buổi sáng sớm nay, tôi vào nhà nguyện, ngồi suy niệm. Bất
chợt, nhìn lên tường, ngắm những bức tranh ấy, tôi tìm ra được ý nghĩa
của chúng.
Tôi không có được sự ''nhạy
cảm văn hóa '' của vị linh mục kia. Nhưng qua sự giải nghĩa của ngài,
tôi học được một bài học còn quan trọng hơn sự ''nhạy cảm văn hóa''.
Chuyện xảy ra là, sau buổi sáng hôm ấy, mỗi lần vào nhà nguyện Mễ Tây
Cơ đó, tôi không còn cái tâm trạng ''giận giận '' và ''mất bình an ''
nữa; trái lại, lòng tôi thấy bình an thư thái và chan chứa yêu thương.
Tôi thấy ngôi nhà nguyện đẹp và dễ thương, những giờ cầu nguyện trong
ngôi nhà nguyện ấy thật là ý nghĩa.
Trước đây, tôi thấy ngôi
nhà nguyện dễ ghét, vì tôi không hiểu được ý nghĩa những bức tranh vẽ
trên tường. Bây giờ, ngôi nhà nguyện dễ thương, vì tôi đã hiểu được ý
nghĩa những bức tranh ấy. Bài học tôi học được chính là ở chỗ đó: ngôi
nhà nguyện cũng y như một con người và những bức tranh vẽ trên tường
cũng giống như tâm hồn của người ấy. Có những người, khi mới thoạt gặp,
tôi đã thấy ''mất cảm tình'' ngay, nơi họ có cái gì kì cục, khó ưa và
tôi tìm cách xa tránh họ, không muốn tiếp xúc với họ.Tình cờ gặp họ,
dù họ không làm gì đụng chạm đến tôi, tôi cũng thấy ghét, thấy bực
mình. Thế nhưng, nếu có cơ hội nào, tôi đi được vào cõi lòng của người
ấy, tôi biết được tâm trạng, sự suy nghĩ, niềm vui nỗi buồn, niềm đau
và sự hạnh phúc của người ấy, tôi sẽ thấy người ấy có những điểm dễ
thương và tâm hồn người ấy có nhiều điều đáng quí.
Hi vọng rằng từ nay, khi
tiếp xúc với một người, tôi sẽ không vội ưa hay không ưa, mà cố gắng
tìm hiểu tâm hồn họ. Và tôi tin rằng nơi tâm hồn bất cứ một ai cũng có
những điểm đáng quí, dễ thương.
Nhà Văn Quyên Di
VỀ MUC LUC
|
Lấy ý từ bài :”Chấp
nhận chính mình” của
Giám Mục GB. Bùi Tuần (CNÐK).
Thân tặng toàn thể bạn đọc.
Tôi
phải chấp nhận mình như thế đó!
Bởi
trong tôi đầy tội lỗi, sa đà
Lòng
tôi thường hay đố kị người ta
Luôn
ích kỉ và đôi khi gian dối!
Những mê say làm tôi thường bối rối
Nặng
xác thịt - Không nặng nghĩa thủy chung
Ðêm
ngày lo sao thỏa mãn tận cùng
Tôi
mê rượu - Mê trà - Nhiều thứ khác...!
Cha
mẹ tôi không dạy nghề đổ bác
Ðã
những lần tôi mở bát ăn thua
Vợ,
đàn con coi như những trò đùa
Ðói
rách mặc - Tôi cứ chơi xả láng
Kẻ
nghèo khổ tôi không hề đại lượng
Giúp
đỡ người qua cơn khó lao đao
Nhìn
phớt qua - Người có hỏi - Ừ ào
Tôi
thản nhiên - Không biết về bác ái!
Con
người tôi thực còn nhiều ngu dại
Học
không thông – Tôi chậm tiến quá đi!
Sức
lực tôi cũng chẳng mạnh mẽ gì
Tôi
đau ốm– Luôn luôn tôi kiếm thuốc
Việc
nặng nề mới trông đà chùn bước
Việc
văn phòng - Tôi cũng chẳng tinh thông
Tôi
chỉ được có một nết chạy rông
Bởi
biếng lười ăn sâu vào xương tủy!
Tôi
rất muốn đạt thành nhân chi mĩ
Nhưng trong tôi nhiều khiếm khuyết, thô đơn
Tôi
chấp nhận vì chẳng biết sao hơn
Nhưng gắng sức làm những điều có thể.
Chúa
sinh ra – Ðấng Ngôi Hai nhập thể
Ngài
cũng đau, cũng khổ, cũng đơn khiêm
Nhưng Ngài dâng lên tất cả ưu phiền
Tôi
lấy mẫu từ Ngài cho cuộc sống!
Xác
yếu hèn nhưng linh hồn là trọng
Tôi
vươn lên - Tôi cố sức vươn cao
Bỏ
thói hư - Mỗi ngày cố làm sao
Tôi
tự thắng - Ðể giúp tôi tiến mãi!
Có
Ngài bên – Tôi không hề kinh hãi!
California đêm 8-3-2005
Nhà
Văn Xuân
Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC
VỀ MUC LUC
|
HẠNH PHÚC HÔN NHÂN 3
Giữ gìn, hy sinh sau
ngày cưới
Sau ngày thành hôn về chung sống với
nhau, vợ chồng cần có một kế họach làm ăn, giữ gìn tình yêu, đổi
mới tính tình hai người để sống hòa hợp với nhau hạnh phúc và con
cái sau này.
1- Tiết
kiệm và chăm làm:
Bớt uống cà phê, thuốc lá, ăn nhậu, ăn uống tiệc tùng, bài bạc,
xài tiền thẻ Tín dụng qúa nhiều, sẽ đưa hạnh phúc Hôn nhân từ từ
tan vỡ. Vì thế, , ông bà ta thường nói:
Đêm nằm nghĩ lại
mà coi,
Lấy chồng bài bạc
như voi phá nhà
Người ta có câu: Một người vợ làm
biếng như giữ xác chết trong nhà. Do đó, vợ chồng phải đặt kế
họach làm ăn để nuôi sống gia đình và sau đó giúp kẻ nghèo khó.
Truyền thống văn hóa Việt nam ngày thường quý trọng những người
đàn bà đảm đang, giỏi toan gánh vác giang sơn nhà chồng, ngày nay
cũng rất cần thiết.
2- Giữ
gìn thân xác: Có nhiều cặp đã đòi ly thân ly dị vì
bà vợ không biết sửa sang. Khi chưa có chồng thì trau chuốt,
đến khi có con cái thì luôm thộm; nhưng ngày nay thì cách ăn nết ở
như nóng nảy, nói nhiều, tự ái…, đã làm cho nhiều vợ chồng xa nhau.
Chưa chồng nón
thúng , quai thao,
Chồng rồi nón rách,
quai nào thì quai.
Ba con cổ nghển,
răng vàng,
Bốn con quần áo đi
ngang khét mùi.
Giáo lý Công giáo nhắc cho vợ chồng
giữ gìn thân xác sạch sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ hạnh phúc Gia đình.
Thương nhau chữ Vị
là vì,
Chữ Dục là muốn,
chữ Tùy là theo.
3- Nhịn
nhục và hy sinh:
Vợ chồng mỗi người một tính, không ai giống ai, nên nhịn nhục dung
hòa là cần thiết như: cách ăn mặc, mầu áo cho bạn đời thích, miếng
ăn thức uống, cơm nhão, cơm khô, kho mặn, canh chua. Hy sinh
trong việc giải trí văn nghệ như anh thích ca nhạc, chị thích cải
lương., nếu không dung hòa thì cuộc đời dễ thất vọng và buồn tẻ vô
cùng.
Thật không gì buồn tủi cho người vợ
cả ngày đi làm, tối về bù đầu lo cơm nước, vai bồng tay ẵm , trong
khi anh chồng nằm thẳng ra ghế coi ti-vi, đọc báo hoặc ra quán ăn
nhậu với bạn bè.
Hạn chế giao tiếp bạn bè nhiều để lo
cho vợ chồng và con được nhiều hơn, đừng làm cho nhau cô đơn buồn
tủi.
Lấy chồng cho đáng
tấm chồng,
Bõ công trang điểm
má hồng răng đen.
4- Cẩn
thận mối tình đầu:
Quên đi tình yêu cũ, tránh tiếp xúc
với người tình đầu, vì rất nguy hiểm cho gia đình: “Người cũ
không rủ cũng theo kia mà.” Bỏ đi hết những thư từ, qùa cáp,
hình ảnh lăng nhăng cuả tình yêu ban đầu, vì có thể làm mất tình
yêu gia đình, Nên nói rõ cho vợ chồng biết rõ mối tình đầu của
mình, ai cũng có. Tránh đừng gặp gỡ những người hợp mắt
với người bạn cuả chồng hay vợ mình…
Đặc biệt nên tránh những những gì
làm cớ cho kẻ khác dèm pha, nói xấu như : đi chung xe, khen người
nào khác trứơc mặt vợ hay chồng. Trên thực tế hình như những cuộc
đổ vỡ gia đình là do tay người vợ gây ra? Vì thế trong Thánh lễ
Hôn hối quan tâm cầu nguyện cho người phụ nữ nhiều hơn.
Ước gì các cô vợ trẻ nhớ câu:
“Tam Tòng Tứ Đức”, mà trong Tứ Đức thì Hạnh quý hơn cả, vì : “Cái
nết đánh chết cái đẹp” .
Ông bà ta có câu:
Chim khôn đậu nóc
nhà quan,
Trai khôn tìm vợ,
gái ngoan tìm chồng.
Ptế : Nguyễn Định
VỀ MUC LUC
|
|
Về tình yêu và sự
dũng cảm cao độ Đức Giêsu xứng đáng
là Vua mọi tâm hồn
Chúa Nhật Lễ Lá (20-3-2005)
1. Thái độ hèn nhát của Philatô
Trong bài
Thương Khó, Philatô hỏi Đức Giêsu: «Ông là vua dân Do Thái sao?»
Là một vị quan và một nhà chính trị của đế quốc, ông có bổn phận
phải xác định lập trường chính trị của Đức Giêsu. Vì thế, xác nhận
mình là vua trước mặt Philatô là một điều khá nguy hiểm, thậm chí
đến tính mạng, thế mà Đức Giêsu vẫn xác định như thế (Mt 27,11b).
Tuy nhiên Ngài cũng xác định thêm: «Nước tôi không thuộc về thế
gian này» (Ga 18,36). Chính vì xác định này mà Philatô nhận
thấy Ngài không phải là một người đối lập nguy hiểm cho đế quốc
Rôma.
Phải nói rằng
Philatô cũng có ít nhiều lương tâm khi dám lên tiếng bênh vực Đức
Giêsu: «Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác?» (Mt 27,23); «Ta
không tìm thấy lý do nào để kết tội người này» (Ga 18,38). Và
ông đã thật sự tìm cách tha cho Đức Giêsu bằng cách đưa một tên
cướp nổi tiếng ra cùng với Ngài để dân chúng lựa chọn tha cho ai.
Ông không ngờ được là dân chúng lại chọn tha cho Baraba. Quả là
Philatô có phần nào hèn nhát khi đành phải chiều theo ý dân chúng
để Đức Giêsu bị giết. Nhưng phải nói rằng ông đã tìm đủ cách để
tha Đức Giêsu. Điều ông hy vọng cuối cùng để dựa vào đó làm cơ sở
tha cho Ngài là chính Đức Giêsu tự lên tiếng biện hộ cho mình. Ông
khuyến khích Đức Giêsu làm điều ấy: «Ông không nghe bao nhiêu
điều họ làm chứng chống lại ông đó sao?» Nhưng hy vọng của ông
tắt ngấm khi thấy «Đức Giêsu không trả lời về một điều nào»,
sự im lặng này «khiến ông rất đỗi ngạc nhiên», và làm cho
ông không còn lý do nào mạnh mẽ để tha cho Ngài.
Chúng ta có
thói quen kết án Philatô là hèn nhát, và ông ta quả là như thế.
Nhưng nếu tự xét mình, thì chính chúng ta, nhất là những người có
quyền lên tiếng trước công chúng, hay có nghĩa vụ phải bảo vệ công
lý, có thể sẽ nhận ra mình hèn nhát hơn Philatô rất nhiều. Thật
vậy, đôi khi ta biết chắc chắn một ai đó là vô tội, thậm chí là
người bênh vực Giáo Hội, bảo vệ chân lý hay công lý, nhưng bị kết
án oan ức. Thế mà chúng ta đành chấp nhận thái độ hoàn toàn câm
lặng, ngay cả một câu như Philatô: «Tôi không thấy người này có
tội gì!» (Lc 23,14), chúng ta cách không đủ can đảm nói lên
được, cho dù có nói thì ta cũng chỉ bị phiền hà đôi chút chứ chẳng
đến nỗi nào. Vì thế, mạnh miệng kết án Philatô là hèn nhát, chúng
ta không thể không cảm thấy ngượng ngùng.
2. Thái độ dũng cảm của Đức Giêsu
Trái với
Philatô, sợ bị mất chức, sợ bị phiền nhiễu mà đành để Đức Giêsu bị
xử án bất công, Đức Giêsu sẵn sàng chịu đau khổ, chịu chết để cứu
mọi người, để làm chứng cho chân lý và công lý. Ngài sẵn sàng bênh
vực các em nhỏ khi các tông đồ muốn la rầy xua đuổi chúng (x. Lc
18,15-17), Ngài dám chữa lành những con bệnh đến với Ngài cả vào
ngày nghỉ lễ bất chấp sẽ bị phiền hà rất nhiều bởi những kẻ đạo
đức giả (x. Ga 5,1-18; 9,1-41; Lc 6,6-11; 13,10-17; 14,1-6). Tình
yêu và sự dũng cảm của Ngài đã được thánh Phaolô tóm gọn trong bài
đọc 2: «Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải
nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn
toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm
nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho
đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự» (Pl
2,6-8). Tình yêu to tát đối với con người khiến Ngài không sợ bị
mất địa vị, mất hạnh phúc đang có, mà sẵn sàng chịu đau khổ, chịu
hủy diệt. Vì thế, Ngài rất xứng đáng là Vua trong Nước Trời, vương
quốc của chân lý, công lý và tình yêu. Tư cách Vua Nước Trời đòi
hỏi một tình yêu cao cả và một sự dũng cảm to tát như vậy.
Cũng vậy, để
là công dân của Nước Trời, chúng ta cũng phải noi gương tình yêu
và sự dũng cảm của Ngài. Nếu không, chúng ta sẽ không xứng đáng là
công dân của vương quốc ấy. Làm sao chúng ta có thể vào vương quốc
của tình yêu khi ta không có tình yêu hay không đủ tình yêu để có
thể dũng cảm hy sinh chút ít theo sự đòi hỏi của tình yêu? Trong
vương quốc của tình yêu, sự có mặt của những người không có tình
yêu hay có quá ít tình yêu – nếu có – sẽ làm ô nhiễm môi trường
tinh khiết ấy, và biến nó trở lại thành trần gian điên loạn này!
3. Để có được tình yêu và sự dũng cảm theo gương Đức Giêsu
Để xứng đáng
vào Nước Trời, điều tối cần là chúng ta không những phải có tình
yêu mà còn phải thể hiện tình yêu bằng lòng dũng cảm nữa. Đức
Giêsu nói: Để vào Nước Trời, «ai cũng phải dùng sức mạnh mà vào»
(Lc 16,16). «Sức mạnh» ở đây chính là sự dũng cảm của tình
yêu. Sự dũng cảm trong tình yêu chứng tỏ tình yêu ấy là tình yêu
đích thực, không chỉ trên môi miệng. Muốn có tình yêu và lòng dũng
cảm ấy, ta phải thật sự nhận Đức Giêsu làm vua của tâm hồn mình.
Nhận Ngài làm vua của lòng mình có nghĩa là coi mệnh lệnh của Ngài
lên trên hết tất cả, sẵn sàng thi hành thánh ý của Ngài với bất cứ
giá nào. Khi quyết tâm như thế và thường xuyên lập lại quyết tâm
ấy hằng giờ hằng phút, đến nỗi nó trở thành ý thức thường hằng
trong tâm trí ta, tâm hồn ta sẽ tự động được biến đổi nên giống
Ngài. Như thế, nhận Ngài làm vua của tâm hồn mình, chính là chấp
nhận để «cái tôi» của mình chết đi, cùng với tất cả ý riêng
của nó. Chỉ khi «cái tôi» ấy thật sự chết đi, nghĩa là trở
nên «đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người»
(Pl 3,10), thì nó mới được phục sinh hay biến đổi thành «cái
tôi» mới, «đồng hình đồng dạng với Người trong tình yêu và
sự dũng cảm của Người». Chính khi ta thật sự tôn Ngài
làm vua của tâm hồn ta, ta sẽ thấy mình thật mạnh mẽ, và sức mạnh
ấy phát xuất từ chính Ngài.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Cha
đã ban Đức Giêsu, Con của Cha, cho nhân loại, để nhân loại «được
sống và sống dồi dào» (Ga 10,10): dồi dào bình an và hạnh phúc,
dồi dào tình yêu và sức mạnh. Nhưng con người có được sống dồi dào
hay không lại tùy thuộc vào việc con người có để cho Đức Giêsu làm
vua trong tâm hồn mình hay không. Con người thường để «cái tôi»
của mình, hoặc tiền bạc, danh vọng… làm vua tâm hồn mình. Nay hạ
bệ những thứ ấy xuống để tôn Ngài làm vua là cả một cuộc «đảo
chính», một cuộc «đổi đời», một cuộc «cách mạng»
vĩ đại của bản thân. Nhưng nếu không nhất quyết thực hiện cuộc
cách mạng ấy, thì dứt khoát con người không thể sống dồi dào như
họ mong muốn.
Xin Cha giúp
con thực hiện được cuộc cách mạng bản thân ấy.
Gs. Nguyễn Chính Kết
|
|
LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC SỐNG LẠI VỚI
CHÚA KITÔ PHỤC SINH ?
Chúa Nhật thứ 5
Mùa Chay ( 13-3-05)
Trước khi bước vào Tuần Thánh để kết
thúc Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta trong tuần lễ cuối cùng
này suy niệm về ý nghĩa của sự “ sống lại” để chuẩn bị tâm hồn
chúng ta sốt sắng mừng kỷ niệm Phục Sinh của Chúa Kitô một lần nữa.
Thật vậy, các bài đọc 1 và Phúc Âm
Chúa Nhật tuần thứ 5 Mùa Chay hôm nay đều có chung một chủ đề là
sự Sống Lại (Phục Sinh ) của con người sau cái chết ,một thực tế
không ai có thể tránh được do hậu quả của tội lỗi (x. Rm 5:12)
Trước hết, qua miệng ngôn sứ
Ezekiel , người đang bị lưu đầy cùng với dân Do Thái bên Babylon
, Thiên Chúa đã hứa mang họ trở về quê hương qua hình ảnh những
người chết được ra khỏi mồ “ hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho
các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về
đất Israel” (Ez 37:12.bài đọc 1)).
Như thế , hình ảnh dân Do Thái được
giải thoát khỏi ánh tù đầy bên Babylon từ năm 605 cho đến năm 537
trước Chúa Giáng Sinh (B.C) để trở về quê hương, đã được so sánh
như những người chết đang nằm trong mồ được sống lại, một biến cố
lịch sử , một tin vui lớn mà Chúa Kitô đã mang đến cho toàn thể
nhân loại cách nay gần 2000 năm khi Người từ cõi chết sống lại
trong Ngày Chúa Nhật Phục Sinh .
Nhưng trước khi chính Chúa sống lại
sau 3 ngày nằm trong Mồ đá, thì Người đã từng làm phép lạ cho con
trai bà góa thành Naim (Lc 7: 11-15) cho con gái ông Gia-ia ( Lc
8: 49-56) và cho Laza rô (bài Phúc Âm)) được sống lại sau khi đã
chết .
Mặt khác, trong thời gian 3 năm rao
giảng Tin Mừng Cứu độ, Chúa Giêsu cũng đã hơn một lần nói đến sự
sống lại của kẻ chết (xem Lc 20:27-36; Mc 10:34; Mt 22: 29-32;Ga
6:54) để an ủi và đem hy vọng cho những ai buồn sầu vì số phận sẽ
phải chết hay đau khổ mổi khi có người thân phải lìa đời.
Khi cho Lazarô sống lại , Chúa đã
nói rõ với chị em Marta rằng: “ chính Thầy là sự sống lại và là
sự sống” và “ Ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống”
(Ga 11:25).
Đây là niềm tin, an ủi và hy vọng
lớn lao nhất cho tất cả mọi người tín hữu chúng ta.
Chúa Giêsu đến trần gian để cho
chúng ta niềm tin và hy vọng thật sự đó qua cái chết và phục sinh
của Người .Chúa có thể cứu chuộc chúng ta mà không cần phải chịu
đau khổ và chết trên thập giá. Nhưng Người đã chấp nhận chịu
chết để chiến thắng sự chết qua sự Phuc sinh của Người để cho
chúng tq hy vọng vào chính sự sống lại của mỗi người chúng ta sau
này như Thánh Phao lô đã viết về hiệu quả của phép Rửa : “ Anh
em không biết rằng : khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy để
thuộc về Đức Kitô Giêsu là chúng ta được dìm vào trong cái chết
của Người sao ? ..vì được dìm vào trong sự chết của Người,chúng ta
cùng được mai táng với Người.. Bởi thế, cũng như Người đã được
sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha,thì
chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 3- 4)
Do hậu quả của tội lỗi mà mọi người
phải chết. Nhưng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô đã chết
và phục sinh mà nhân loại có hy vọng được sống lại như Chúa sau
khi phải trải qua cái chết của thân xác..
Tuy nhiên, muốn được sống lại với
Chúa thì chúng ta cần suy nghĩ và thực hành lời Người đã nói với
Marta trong bài Phúc Âm hôm nay : “ Ai
tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào
Thầy thì sẽ không bao giờ chết”.
Nhưng thế nào là
sống và tin vào Chúa ?
Trước hết ,tin vào Chúa đồng nghĩa
với xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội lỗi mới làm cho ta lìa x a
Thiên Chúa là Nguồn sống và hạnh phúc vĩnh cửu.
Tin vào Chúa cũng có nghĩa là sống
theo đường lối của Người.. Mà đường lối của Chúa thì hoàn toàn
khác biệt với đường lối của con người, của thế gian.
Thưc tế của cuộc sống con người
ngày nay ở khắp mọi nơi đang chỉ rõ cho chúng ta thấy sự khác biệt
lớn lao này.
Đó là sự khác biệt giữa bộ mặt đáng
ghê sợ của “văn hóa sự chết”(culture of death) mà thế giới tôn
thờ vật chất đang cổ võ và dung mạo tốt lành của “Phúc Âm sự
Sống”(Gospel of Life) mà Chúa Giêsu đã rao giảng và chứng minh
bằng chính cái chết của mình trên thập giánăm xưa.
Văn hóa sự chết chối bỏ Thiên Chúa
và không nhìn nhận một giá trị đạo đức và luân lý nào nên đang xô
nhanh con người xuống vực sâu của tội lỗi và hư mất .
Lại nữa, cũng vì không phân biệt
ranh giới giữa thiện và ác, tốt và xấu nên văn hóa sự chết cũng
dạy người ta đừng thắc mắc gì về những hậu quả của việc mình đang
làm để chỉ biết sống, làm những việc bất lương và hưởng mọi lạc
thú có thể tìm được trong giây phút hiện tại mà thôi.
Đây là bộ mặt của thế giới hôm nay: bộ mặt của những người tôn thờ vật chất, say mê tiền bạc, vui
thú bất chính, phi luân,phi nghĩa và dửng dưng trước mọi bất công
xã hội ,đau khổ và nghèo đói của biết bao người kém may mắn chung
quanh.Đặc biệt là bộ mặt của những kẻ mất lương tri đang vì tiền
màkhai thác các kỹ nghệ phá thai,buôn bán ma túy,súng đạn và mãi
dâm ,nhất là “mãi dâm trẻ em” để cung ứng thú vui cực kỳ man rợ
và tội lổi cho nhửng kẻ vô luân vô đạo nỡ tâm phá hoại tinh thần
và thể xác của bao trẻ thơ,đáng lẽ phải được thương yêu ,chăm sóc
và giáo dục cho thành người hữu ích mai sau cho xả hội.. Riêng với
người Việtnam thì Văn hóa sự chết cũng đang khuyến khích nhiều
đàn ông đã có vợ con ở nước ngoài, đặc biệt ở Mỹ về Việt nam mua
vui thêm bằng trò lường gạt những thiếu nữ khờ dại muốn lấy chồng
Việt kiều hay ngoại quốc để được giải thoát khỏi cuộc đời đen tối
hiện nay ở quê nhà..Sống như thế, không những họ đang trà đạp
lên mọi giá trị luân lý ,đạo đức mà còn làm khổ cho vợ con ,đặc
biệt cho những nạn nhân mà họ đã tán tận lương tâm lừa gạt để
thủ lợi cách bất chính…
Các nhà cầm quyền dân sự ,các chế độ
chính trị cũng phải chịu trách nhiệm về việc dung dưỡng hay làm
ngơ cho văn hóa sự chết được hoành hành trong xã hội mình.
Trong bầu khí ô
nhiễm này, người có niềm tin nơi Chúa Kitô Phục Sinh phải làm gì ?
Phải chăng là dám khước từ những
quyến rũ ,lừa dối của văn hóa sự chết và can đảm thực hành những
đòi hỏi của Phúc Âm Sự Sống để sau khi chết sẽ được sống lại với
Chúa Kitô Phục Sinh và hưởng vinh quang, hạnh phúc Nước Trời ?
Chúa Giêsu đã nói rõ : “ Không phải
bất cứ ai thưa với Thầy :Lậy Chúa lậy Chúa là được vào Nước Trời
cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên
Trời, mới được vào mà thôi” ( Mt 7:21).
Nói khác đi, không thể vừa mang danh
Kitôhữu, làm các việc đạo đức như tham dự Thánh Lễ, đọc kinh, lần
chuỗi, v.v. lại vừa ít nhiều sống theo những đòi hỏi của văn hóa
sự chết , đi ngược lại mọi giá trị của Phúc Âm sự Sống.
Một thái đô “hàng hai” như vậy chắc
chắn không phải là thái độ sống và tin vào Chúa như Người đòi hỏi
những ai thực sự muốn được cứu độ.
Mùa Chay là thời gian đặc biệt nhắc
cho mọi người chúng ta tình thương tha thứ quá lạ lùng của Chúa
nhưng cũng chỉ cho chúng ta thấy ác tính của tội lỗi. Chúa chết
vì thương yêu con người nhưng cũng vì tội lỗi của nhân loại . Tội
lỗi đưa đến sự chết và là trở ngại duy nhất ngăn cản con người
đến với Thiên Chúa là Đấng chê ghét mọi tội lỗi nhưng yêu thương
kẻ có tội biết sám hối ăn năn.
Vậy cho được sống lại với Chúa Kitô
Phục Sinh, chúng ta phải ý thức sâu xa hơn nữa về nguy cơ và ác
tính của tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian và không ngừng hoạt động
để lôi kéo con người vào hố hư mất đời đời dưới các nhãn hiệu vô
thần , vật chất chủ nghĩa hay “ văn hóa sự chết” như chúng ta có
thể nhận diện bộ mặt đáng ghê sợ của nó trong nhiều lãnh vực sống
của xã hội con người ngày nay.
LM. Phanxicô Xaviê
Ngô Tôn Huấn.
VỀ MUC LUC
|
|
NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ
Với việc cử hành rước lá của Chúa
nhật lễ Lá, tuần Thánh bắt đầu.
Suy nghĩ các bài Thương khó trong
tuần Thánh, sao tôi thấy có quá nhiều trái ngược. Những trái ngược
ấy lớn cho đến mức trở thành những nghịch lý. Và lớn hơn nữa: trở
thành mâu thuẫn đến nỗi có những lúc như tàn nhẫn, như đớn đau.
1. Đó là
nghịch lý xuất phát từ phía dân chúng: Cuộc tiến vào
Giêrusalem giữa một đám đông dân chúng hân hoan, nô nức, tay vẫy
cao cành lá, còn có kẻ tỏ lòng mộ mến đến nỗi đã trải áo xuống
đường, miệng thì không ngớt tung hô: “Hoan hô con vua Đavit” để
long trọng rước Chúa Giêsu vào thủ đô Giêrusalem.
Nhưng có ai ngờ rằng, giữa những
tiếng tung hô dậy trời ấy, giữa mọi cử chỉ, mọi hành động vô cùng
tốt đẹp ấy, giữa cảnh tượng huy hoàng tưởng như Chúa Kitô đang
chiến thắng, đang khải hoàn, và ngay giữa lòng dân chúng có vẻ như
chỉ có niềm vui chan chứa, lại đang chất chứa cả một sự phản bội
ghê gớm, một sự phản bội như dồn, như thúc để sau đó sẽ bùng nổ dữ
dội trước mặt Tổng Trấn Philatô trong tiếng gào thét và những bàn
tay nắm chặt đưa lên một cách dứt khoát, đầy quyết tâm: “Đóng đinh
nó đi! Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá”. Dù cho Philatô
có thật lòng và ngàn lần muốn tha bỗng đi nữa, thì sự quyết tâm
đóng đinh Giêsu một cách mãnh liệt như thế, sẽ không có chỗ cho
ông thực hiện ý muốn của mình, đừng nói gì đến chuyện một Philatô
lòng vẫn còn đó đầy dẫy ham hố quyền - danh - lợi.
Cứ như thế, hết thời đại này đến
thời đại khác, bất công nối tiếp bất công chỉ vì quyền – danh –
lợi ấy.
2. Đó cũng
là những nghịch lý khởi đi từ phía các môn đệ: Bao
nhiêu tháng ngày được hướng dẫn, dạy dỗ, nhìn xem Thầy làm biết
bao nhiêu phép lạ, chứng kiến Thầy hiển dung uy nghi trên núi
cao…, vậy mà những lời dạy thân thương, những việc làm tốt đẹp ấy
đã tan biến đâu hết. Đến giờ này, chính trong hàng ngũ những môn
đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu lại xuất hiện những tâm hồn rắp
tâm phản bội người Thầy khả ái và khả kính của mình.
Không biết 30 đồng thời ấy so với 30
đồng thời nay, khoảng cách chênh lệch đến mức nào, nhưng dẫu cho
giá trị có lớn đến đâu, thì khi bán đứng Thầy mình cho chính những
người đang hận Thầy đến phát điên lên, Giuđatrở thành biểu tượng
của kẻ phản bội. Hình ảnh thọ ơn và trả ơn bằng bội ơn không
nghịch lý lắm sao. Nghịch lý ấy đã làm cho đời sống, không phải
chỉ trong thời Chúa Giêsu, nhưng là mọi thời, trở nên nhiều lẽ xấu
hơn, lòng người tệ bạc hơn.
Sự yếu đuối của thánh Phêrô cũng là
một nghịch lý. Được Thầy yêu thương lắm, nên đã biến Phêrô thành
người học trò hàng đầu, làm tông đồ trưởng, sau này sẽ là giáo
hoàng tiên khởi của Giáo Hội. Vậy mà trước quyền lực của thế gian,
đã làm Phêrô sợ hãi đến độ chối Thầy Ba lần. Nhưng không phải ba
lần trong ba tháng hay ba ngày, nhưng ba lần liên tục trong một
đêm, chỉ trước mấy canh gà có vài giờ đồng hồ mà thôi trong.
Nghịch lý về sự chối Thầy của Phêrô đối diện với lòng thương vô
cùng của Chúa Giêsu, sao cứ mãi là nghịch lý khi loài người đã
không biết ơn Thiên Chúa, không chỉ vô tâm với lòng thương xót của
Thiên Chúa, mà còn đi xa hơn trong lầm lạc: phủ nhận và chối từ
chính Thiên Chúa!
3. Đó còn
là nghịch lý trong phiên tòa Philatô. Chúa Kitô, Thiên
Chúa làm người, bản thân Ngài đã là một nghịch lý: Từ một vì Thiên
Chúa cao sang, quyền năng vô biên, lại hóa thân làm người sống như
chính con người là người, đã là một sự khiêm hạ khó hiểu. Vậy mà
Thiên Chúa quyền năng vô biên ấy giờ lại để cho loài người “xư
án”. Một nghịch lý nhiệm mầu quá đỗi!
Phiên tòa Philatô đại diện cho cả
loài người tàn nhẫn, bạo ngược đồng loạt tuyên án tử chính Thiên
Chúa của mình. Bởi thế, Phiên tòa Philatô là một phiên tòa hết sức
bất công, hết sức ngược ngạo, chỉ có một không hai từ thuở tạo
thiên lập địa cho đến ngàn đời sau: Con người “xử tội” Thiên Chúa,
một vì Thiên Chúa thánh thiện tuyệt đối, tạo dựng chính con người,
và nắm quyền xét xử con người.
Dù ngày hôm nay, không còn những
phiên tòa mặc nhiên xét xử Thiên Chúa như Philatô đã từng xét xử
Chúa Giêsu, nhưng vẫn còn đó những lời phạm thượng, những hàng
động, những lối suy nghĩ mà trong đó hàm chứa sự oán trách và kết
án Thiên Chúa.
Vẫn còn đó những phiên tòa xét xử,
kết án những người vô tội, người nghèo khổ, cô thân cô thế không
một quyền bính nào bảo vệ, dù quyền bính đó có thể là pháp luật.
Và đôi lúc chính chúng ta cũng đã lên án nhau. Dù không nói ra,
nhưng lương tâm ta đã từng lên án những cô gái điếm, những em bé
nghèo cơ nhở phải trộm cắp, những thanh niên nghiện nghập, những
nạn nhân của nhiều vụ tự tử hay của con bệnh AIDS.
4. Hình ảnh
Đức Maria cùng với thánh Gioan hiện diện giữa pháp trường cũng lại
là một nghịc lý lớn không kém.
Có ai ngờ rằng, những
thanh niên trai tráng như các tông đồ, tưởng chừng đầy sức mạnh,
đầy can trường, khó có một trở ngại nào làm chùn bước, làm thoái
lui. Vậy mà khi Thầy lâm nạn, đã trở thành những kẻ bạc nhược,
khiếp đảm và run sợ. Các ngài không hiểu nỗi tại sao bình thường
Chúa Giêsu quyền năng là thế, có sức thu hút là thế, đã có lần
những hào quang ấy làm cho các ngài tưởng mình đã mạnh mẽ lắm, nên
đã phát ngôn có khi nghe chướng tai: “Thầy có muốn chúng con khiến
lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?” (Lc 9, 54). Sao bây
giờ phải chứng kiến Chúa Giêsu ngã gục dưới làn roi, dưới thập
giá, dưới những lời phỉ báng ô nhục… Ảo ảnh về một cứu chúa trần
thế huy hoàng sụp đổ, đã kéo tinh thần của các tông đồ đổ quỵ
theo.
Chỉ có Đức Maria, một phụ nữ chân
yếu tay mềm như mọi phụ nữ, vì tình yêu đối với Con của mình đã
trở nên mạnh mẽ, bất chấp mọi nguy hiểm, mọi sĩ nhục, mọi đớn
đau..., đối mặt với thập giá kinh hoàng. Người phụ nữ ấy đã kiên
trung, đã can đảm đến cùng, để chứng kiến cho bằng được người con
ruột thịt yêu quí của mình quằn quại trên thập giá. Chứng kiến
cảnh đau cõi xót lòng khi người con duy nhất của mình trao linh
hồn cho Chúa Cha và thở hơi lần cuối trong sức tàn. Chính vì tình
yêu màlúc những mũi đinh đau đớn treo Con của Mẹ, lúc Chúa Giêsu
đang lịm dần, lúc máu chảy tràn từ cạnh nương long, cũng là lúc
Mẹ chết từng giây và tan nát tâm hồn.
Cũng thế, thánh Gioan chỉ là một
người em út trong đoàn tông đồ, đã can đảm không kém để cùng với
Mẹ Chúa Giêsu chứng kiến đến giây phút sau cùng của một đời làm
người của Chúa Giêsu. Thánh Gioan thật xứng đáng với chức vị của
“Người môn đệ được Chúa yêu”. Bởi vậy, Nhìn vào quang cảnh ấy, một
lần nữa ta lại phát hiện ra rằng, chia sẻ thập giá Chúa, sao chỉ
có những người yếu đuối về sức lực, nhỏ bé về thể xác lại lớn lao
quá đổi về sức chịu đựng, quá đổi về sự dũng mãnh và can trường.
Tất cả có được chỉ nhờ tình yêu. Hãy yêu để vác thập giá giữa đời
mà bước đi với Chúa Kitô. Hãy yêu để xác quyết đức tin nơi thập
giá cứu độ tuyệt vời ấy. Hãy yêu và hãy tin để sức mạnh của tình
yêu và sức mạnh của niềm tin nâng đỡ sức người. Nhờ đó, cho dù bé
nhỏ, mỏng dòn đến đâu, sức người vẫn có thể chấp nhận sức nặng của
thập giá, không phải một lần mà một đời.
5. Kết
luận: Nếu chỉ nhìn bằng cái nhìn hiện thực và lịch sử,
bất cứ ai góp phần đưa đến cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá,
cụ thể là những người Do-thái và La-mã của thời Chúa Giêsu, là
hành động tội ác.
Nhưng nếu nhìn bằng ánh mắt đức tin,
cái chết bi thương trên thập giá của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm.
Mầu nhiệm là bởi bạn và tôi đều cảm nhận rằng, ngay cả ngày hôm
nay, bạn và tôi cùng có mặt trong vụ án Chúa Giêsu để cùng tham dự
vào việc đóng đinh Người. Dẫu ta vẫn cùng nhau tuyên xưng rằng,
Chúa chịu đóng đinh vì ta, thì ngay trong lời tuyên xưng ấy đủ để
tố cáo chúng ta: bởi tội lỗi, cho nên đã cách xa hai ngàn năm, ta
vẫn là một kẻ chối bỏ, một tiếng reo hò, một lời cáo gian, một sự
sỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Chúa Giêsu.
Nghịch lý về thập giá Chúa Kitô, một
nghịch lý mà muôn đời sau phải ghi nhớ: nghịch lý về một Thiên
Chúa vì yêu đã làm người, cúi xuống nâng phận người bé nhỏ lên.
Nghịch lý về một Thiên Chúa tình yêu đã làm người chết thay cho
muôn người. Nghịch lý về một Thiên Chúa đã sử dụng chính hành vi
tội ác của con người để làm nên hoa trái của ơn cứu chuộc, quay
lại cứu chuộc chính con người.
Từ những suy nghĩ về thập giá và
nghịch lý của thập giá như thế, tôi muốn mời bạn cùng tôi cầu
nguyện bằng một lời cầu nguyện ai đó đã viết khi ngắm nhìn những
nghịch lý của thập giá Chúa Kitô:
Lạy Chúa,
Sao cứ
để con giàu có dư dật
Nhưng lại mời
gọi con phải sống khó nghèo?
Sao cứ cho con
thành công, danh giá
Nhưng lại bảo
con phải sống khiêm nhường?
Sao ban cho
con một trí khôn minh mẫn
Nhưng lại để
con “ngu dốt” trong tình Ngài yêu con?
Sao đặt trong
con một quả tim muốn độc chiếm
Nhưng lại muốn
con phải mở ra với mọi người?
Sao dựng nên
con một thân xác muốm hưởng thụ
Nhưng lại
khuyên con phải phục vụ, hy sinh?
Sao để trong
con mạnh mẽ một cá tính
Nhưng lại bảo
con phải bỏ ý riêng mình?…
Và tại sao ban
cho con tất cả
Rồi lại dạy
con phải bỏ hết để theo Chúa?
***
Chúa ơi, bây
giờ con mới biết
Chỉ khi nào
sống được nghịch lý này
Con mới hiểu
ra một nghịch lý khác:
Nghịch lý về
một kẻ phạm tội
Nhưng một
người khác lại đền tội vì yêu!
Lm. VŨ XUÂN
HẠNH
VỀ MUC LUC
|
|
|
ĐỨC TIN LÀ HÀNH ĐỘNG
Đứng vững lập trường
Trong đời sống đức tin, bạn sẽ gặp những
câu hỏi khó trả lời. Vậy bạn phải trả lời thế nào cho những câu hỏi
sau đây:
1-
Chúa Giêsu có
phạm tội không? Tại sao?
2-
Chúa Giêsu có
sống lại thật không? Tại sao?
3-
Mọi tôn giáo có
cùng dậy những ý trưởng cơ bản không?
Theo George Barna và Mark Hatch trong
sách Boiling Point của họ, thì nhiều người xưng là Tín hữu thấy khó
trả lời những câu hỏi như vậy. Khi hai ông khảo sát những tín đồ hữu
danh vô thực, thì một phần tư nói Chúa Giêsu có phạm tội, một phần ba
nói Ngài không từ kẻ chết sống lại, và một phần ba nói mọi tôn giáo
đầu giống nhau về cơ bản.
Đây là những số thống kê gây bối rối, vì
biểu lộ sự thiếu hiểu biết Kinh Thánh trầm trọng. Muốn trả lời những
câu hỏi trên một cách chính xác cần học biết Kinh Thánh vì là nền tảng
của Giáo lý Phúc Âm và Tông truyền. Mời bạn đọc thư Phaolô gởi
Cô-lô-sê như sau: “Anh em hãy
bén rễ sâu …Hãy coi chừng chớ để ai gài bẫy anh em bằng mồi triết lý
và những tưởng giả dối rỗng tuếch theo truyền thống người phàm…”
(Côlôxê 2: 7-8)
Vậy,
Thứ nhất:
Bạn nên chuyên tâm đọc và nghiên cứu Kinh
Thánh.
Thứ hai:
Bạn nên khiêm tốn học hỏi ở những người tha
thiết tìm tòi Kinh Thánh.
Thứ ba:
Bạn luôn mở lòng xin ơn Thánh Thần dẫn dắt
bạn vào nguồn Lời Chân lý, Lời ban sự Sống.
STĐ
VỀ MUC LUC
|
|
Dấu
Chứng Tình yêu
Thứ
Năm Tuần Thánh (Ga 13, 1- 20)
Chúng ta đang ở trong gian đoạn quan
trọng nhất của niên lịch Phụng vụ: Tam nhật Vượt qua. Thánh lễ
Tiệc ly mà toàn thể hội thánh cử hành hôm nay không chỉ mời gọi
tất cả chúng ta tưởng niệm bữa tiệc sau hết của Chúa mà còn là dịp
khai mạc tuần Tam nhật Thánh, kỷ niệm việc Chúa chịu Khổ nạn, chịu
chết và Phục sinh vinh hiển.
Trong thánh lễ chiều nay, toàn thể
Giáo hội thực hiện lại cử chỉ đầy yêu thương của Chúa Giêsu cách
đây hơn hai ngàn năm, đó là việc Người cúi mình xuống, quỳ xuống
rửa chân cho từng môn đệ.
Bữa tiệc hôm đó, chúng ta dễ dàng
nhận ra chủ tiệc là Chúa Giêsu và các môn đệ vừa là khách dự tiệc
nhưng đồng thời cũng là người chuẩn bị tiệc. Trong các nghi lễ
tiếp khách ở miền Trung cận đông xưa, chúng ta thấy có việc rửa
chân cho khách khi khách đến dự tiệc (x. St 18, 4; Lc 7, 44). Công
việc này dĩ nhiên là của các nô lệ như đã được ghi lại trong Kinh
thánh (x. 1Sm 25, 41). Thế mà hôm nay, Chúa Giêsu vốn dĩ là Thầy,
là Chúa và là chủ nhân bữa tiệc, gạt qua một bên những quy định,
luật lệ của xã hội đương thời, sấp mình rửa chân cho các môn đệ
như những người đầy tớ.
Động lực nào thúc đẩy Chúa Giêsu
“phá lệ” như vậy? Thánh sử Gioan cho chúng ta biết đó chính là vì
“đến giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha” và vì “Người vẫn yêu
thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương
họ đến cùng”. Vâng, chỉ có những ai dành trọn trái tim cho người
mình yêu mới có những cử chỉ “điên khùng” như thế. Chúa Giêsu của
chúng ta là con người độc nhất vô nhị trên thế gian dám làm điều
“rồ dại” đáng yêu này.
Hãy xem từng cử chỉ Chúa Giêsu làm
trong bữa tiệc sau hết này. Thánh sử Gioan đã miêu tả rất chi tiết
trong từng cử chỉ của Thầy mình. Người đứng dậy rời bàn ăn, cởi áo
ngoài, lấy khăn mà thắt lưng. Người đổ nước vào chậu, rửa chân cho
từng môn đệ, lấy khăn thắt lưng mà lau. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy
Chúa Giêsu không nhờ đến một ai giúp mình làm công việc này. Tất
cả đều do Người tự thực hiện. Người hoá mình trở nên một nô lệ với
trang phục và công việc chuyên biệt để phục vụ cho học trò của
mình. Chúa Giêsu muốn nhắn gửi cho chúng ta bài học về tinh thần
yêu thương và phục vụ. Yêu thương không thôi chưa đủ, mà cần phải
biến nó thành cử chỉ phục vụ. Và, chính cử chỉ phục vụ này chứng
minh cho con người thấy hiệu quả của tình yêu đích thực là gì. Bên
cạnh đó, Chúa Giêsu còn dạy chúng ta rằng, công việc phục vụ không
phải là việc của kẻ khác, của những kẻ ở “chiếu dưới” mà là công
việc của hết mọi người. Đã là con người thì ai cũng cần phải phục
vụ. Tinh thần phục vụ đích thực vượt qua mọi hố ngăn cách, không
kể hèn mọn hay quý phái và bất chấp địa vị đẳng cấp, mầu da ngôn
ngữ,…
Chúng ta cùng ở lại trong ngôi nhà
của Giáo hội trong thánh lễ Tiệc ly không chỉ để ôn lại một biến
cố, cũng không phải để được nhìn thấy m?i năm một lần việc các
Linh mục thực hiện lại cử chỉ rửa chân, mà còn là dịp để chúng ta
tìm đến, chạm đến dấu chứng tình yêu- một dấu chứng đã đi vào lòng
nhân loại cách đây hơn hai ngàn năm.
Chúa Giêsu muốn cho dấu chứng tình
yêu đó lưu truyền mãi, vang vọng mãi trong thế giới hôm nay. Ngài
uớc mong sao ngọn lửa Tình yêu, ngọn lửa phục vụ tha nhân luôn
cháy sáng giữa lòng nhân loại. Còn chúng ta thì sao... ?
Lm Phạm Ngọc Ngôn,
Csjb
VỀ MUC LUC
|
Thư ngỏ xin trợ giúp Giáo xứ Cù Mi, Phan Thiết xây dựng Nhà thờ
Kính gởi : Quý Vị
Hảo Tâm.
Kính thưa Quý vị,
Tôi là Linh mục
Phêrô Nguyễn Đình Sáng, Chánh Xứ Cù Mi, Phan Thiết.
Xin được viết thư
ngỏ này, kính mong Quý vị yêu thương giúp đỡ cho giáo xứ chúng tôi,
một giáo xứ có chiều dài lịch sử 120 năm
nhưng lại là một giáo xứ miền quê nghèo, xa xôi nhất của Giáo phận
Phan Thiết.
Giáo xứ Cù Mi hiện
nay thuộc Xã Tân Thắng, Hàm Tân, Bình Thuận ( gần Suối Nước Nóng Bình
Châu).
Giáo xứ đựơc thành lập
năm 1885, đã trực thuộc 4 giáo phận (Quy Nhơn, Sài Gòn, Nha Trang,
Phan Thiết), đã có 23 đời cha xứ.
- Cha Phêrô Huỳnh
Công Ẩn đưa 9 gia đình từ Bình Định, Phú Yên, Nha Trang đi lập nghiệp
và xây dựng giáo xứ. Nhà thờ tạm 45m2 cột gỗ mái lá dừa.
- Năm 1890, Cù Mi
nhập Địa Phận Sài Gòn.
- Năm 1934, Cha
Micae Nguyễn Văn Giàu làm quản xứ, xây dựng nhà thờ, nhà xứ, nhà
trường, nhà trẻ. Giáo xứ trên đường phát triển. Thế nhưng, chiến tranh
nổ ra ác liệt, liên miên, nhà thờ phải chuyển đi nhiều nơi, đàn chiên
tản mác, có những lúc phải dời vào rừng sâu, tránh bom đạn. Dù hoàn
cảnh thế nào giáo dân vẫn sống đạo với lòng tín trung và phó thác vào
tình thương của Chúa.
- Năm 1957, Cù Mi
thuộc Giáo Phận Nha Trang, dưới thời Đức Cha Piquet Lợi và Đức Cha FX
Nguyễn Văn Thuận.
- Năm 1963, Cha
Vincente Nguyễn Đạo Quán làm quản xứ, xây nhà thờ mới.
- Năm 1965, chiến
tranh dữ dội, bom đạn phá tan tành nhà thờ. Giáo dân hơn 1500 người
phải lánh nạn về Tân an.
- Năm 1975, Cù Mi
thuộc Giáo Phận Phan Thiết, dưới sự cai quản của Đức Cha Nicola Huỳnh
Văn Nghi. Giáo dân từ Tân An trở về Cù mi, bắt tay xây dựng nhà thờ gỗ,
tường gạnh, ổn định cuộc sống Đạo, an cư lạc nghiệp.
- “Đất lành chim
đậu; Đất rộng người thưa”. Dân chúng từ miền Bắc, miền Trung đổ về Cù
Mi lập nghiệp, khai phá lập nên ruộng vườn. 4 giáo họ mới được thành
lập.
- Số Giáo dân quá
đông, 6500 người mà nhà thờ tạm đã 30 năm, nay xuống cấp trầm trọng.
Đức Cha Nicola đã cho phép xây dựng ngôi nhà thờ mới với diện tích
1000m2, tổng kinh phí khoàng 3 tỷ đồng (200.000USD). Lễ đặt viên đá
đầu tiên ngày 22.2.2005. Đây là ngôi nhà thờ thứ 10 trong suốt chiều
dài 120 năm lịch sử giáo xứ.
Kính thưa Quý vị,
Giáo Xứ Cù Mi thuộc
vùng sâu vùng xa, miền quê nghèo, quanh năm vất vả với ruộng rẫy, cuộc
sống người dân còn thiếu thốn trăm bề. Được xây dựng ngôi nhà thờ mới,
xứng đáng làm nới thờ phượng Chúa chính là niềm khát mong của bao thế
hệ giáo dân nơi đây. Họ nghèo của cải vật chất nhưng rất giàu tấm lòng,
luôn nhiệt thành đóng góp công sức cùng nhau xây dựng Nhà Chúa.
Kính mong Quý vị ân
nhân quãng đại giúp đỡ. Có thể trực tiếp hay giới thiệu cho những
người hảo tâm quen biết.
Chúng tôi hy vọng
sẽ nhận được sự trợ giúp của Quý vị để Ngôi Nhà Thờ mới sớm được hoàn
thành tốt đẹp.
Xin liên hệ địa chỉ
:
Lm Phêrô
Nguyễn Đình Sáng
Nhà Thờ Cù
Mi
Tân Thắng,
Hàm Tân, Bình Thuận
Email :
petsang@ pmail.vnn.vn
Tel :
062.875.041
Hoặc : Toà Giám Mục
Phan Thiết
326 Trần
Hưng Đạo, Phan Thiết, Bình Thuận
Email :
anrephu.tgm@ hcm.vnn.vn
Tel :
062.819560
Nguyện xin Thiên
Chúa từ nhân, Xin Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời , Bổn Mạng Giáo Xứ ban bình
an cho Quý vị và gia đình.
Cù Mi, ngày
2.3.2005
Lm Chánh xứ cùng toàn
thể Cộng Đoàn Dân Chúa Giáo xứ Cù Mi xin ghi ơn.
VỀ MUC LUC
|
|
QUÊN VÀ NHỚ
Chuyện phiếm của Gã Siêu
Sách Liệt Tử có ghi lại một câu chuyện
như sau :
Nước Tống có một người đã đứng tuổi, tự
nhiên mắc phải chứng bệnh kỳ lạ, đó là bệnh quên.
Buổi sáng lấy gì của ai, buổi chiều đã
quên. Hôm nay ai cho cái gì, ngày mai lại chẳng nhớ. Ra đường quên cả
đi, về nhà quên cả ngồi. Trước đã làm gì, bây giờ quên hết. Và hiện
nay đang làm gì, sau này cũng chẳng nhớ. Cả nhà rất lo lắng về bệnh
tình của anh ta, bèn tìm thầy chạy thuốc, chữa hết mọi cách mà cũng
chẳng khỏi.
Sau đó, có ông thầy đồ, người nước Lỗ,
nói rằng chữa được. Vợ của người bệnh hứa với ông thầy đồ là nếu chữa
lành bệnh cho chồng, thì sẽ chia cho ông phân nửa gia sản.
Trước hết, ông thầy đồ thử anh ta bằng
cách lột áo ra để cho bị rét lạnh, thì anh ta xin áo. Bỏ đói không cho
ăn, thì anh ta xin ăn. Sai đem vào chỗ tối, thì anh ta xin ra chỗ sáng.
Thấy những phản ứng như vậy của người bệnh, ông thầy đồ càng tin tưởng
và nhận lời chữa bệnh.
Chẳng ai biết ông thầy đồ đã chữa như
thế nào mà sau bảy ngày, anh ta trở lại bình thường. Tuy nhiên, khi
tỉnh táo bình thường, anh ta lại sinh nóng giận, chửi vợ đánh con, cầm
dao rượt ông thầy đồ đã chữa cho mình.
Những người chung quanh bắt giữ anh ta
lại và hỏi lý do tại sao lại làm như thế, thì được anh ta trả lời như
sau :
- Lúc trước tôi mắc bệnh quên, thì lòng
tôi thảnh thơi khoan khoái, trời đất có còn hay không, tôi chẳng cần
biết. Nay hết bệnh, tôi nhớ tất cả mọi sự, cả những chuyện của mấy
mươi năm về trước : chuyện vui và chuyện buồn, chuyện yêu và chuyện
ghét, chuyện thành công và chuyện thất bại, nên lòng tôi trở nên rối
bời, ngổn ngang trăm mối. Chuyện buồn, chuyện ghét và chuyện thất bại
thì lại nhớ lâu và nhớ sâu hơn. E rằng sau này những chuyện ấy sẽ bám
theo tôi mãi mãi, dù có muốn quên cũng không quên được. Và nếu bị dày
vò như vậy, thử hỏi tôi có tức giận được hay không chứ ?
Nghe xong câu chuyện trên, hẳn có người
sẽ thầm nghĩ :
- Nếu trí nhớ mà như vậy, thì thà rằng
mắc bệnh quên còn hơn.
Tuy nhiên, nghĩ đi thì cũng cần phải
nghĩ lại, bởi vì người mắc bệnh quên cũng đau khổ lắm chứ. Gã xin đưa
ra một vài trường hợp điển hình.
Trường hợp thứ nhất, đó là bên cạnh nhà
gã có một bà cụ, hầu như suốt dọc cuộc đời, bà cụ là một người rất
khôn ngoan, ăn nói đâu ra đấy, đúng bài bổn hẳn hoi, khiến mọi người
đều phải tâm phục khẩu phục bà cụ sát đất. Bà cụ không những quán
xuyến việc nhà một cách tuyệt vời, mà còn tham gia những công tác xã
hội, thậm chí lại còn giúp đỡ ông chồng trong những chức vụ mà bàn dân
thiên hạ đã tín nhiệm trao cho ông ta, theo kiểu :
- Gái ngoan làm quan thay chồng !
Thế nhưng, vào những tháng năm cuối
cùng, bà cụ bỗng dưng quên hết, quên sạch sành sanh, không còn nhớ gì
cả, ngay đến con cháu trong nhà bà cụ cũng quên mất tiêu. Có thể nói
được rằng “ổ dĩa cứng” trong đầu óc bà cụ đã bị xóa tất tật, hoàn
toàn trắng, chẳng còn lưu giữ được bất kỳ một kỷ niệm nào của dĩ vãng
và hiện tại.
Bà cụ trở nên như một đứa con nít, ai
cho gì thì ăn nấy. Có lúc còn vầy vò cục phân của mình như đứa nhỏ
nhào nặn cục đất sét. Tới nhà thờ, bà cụ chen lấn, tiến lên phía trước
và thượng cẳng chân hạ cẳng tay với những người chung quanh. Đi tới
đâu, hễ thấy guốc dép là bà cụ lẳng lặng xách về nhà. Tội nghiệp cho
mấy đứa cháu phải mang đi trả lại cho khổ chủ.
Trường hợp thứ hai, đó là là một anh
bạn của gã. Sau thời gian học tập cải tạo, anh ta được trả tự do,
nhưng cũng từ đó anh ta mắc phải chứng bệnh quên. Mấy lần anh ta suýt
chết vì tai nạn giao thông, bởi lẽ đang đi ngoài đường, bỗng dưng anh
ta quên tiệt, chẳng biết mình đang làm gì, thành thử chiếc xe của anh
ta cứ vô tư lao vào lề đường, ủi vô gốc cây, hay hôn vào đít xe khác.
Lần nào đến thăm, anh ta cũng hỏi địa
chỉ. Gã thấy anh ta ghi vào sổ hẳn hoi. Thế nhưng, chỉ năm phút sau
trong câu chuyện, anh ta cũng lại hỏi địa chỉ và cũng lại ghi vào sổ
hẳn hoi. Và lần đến thăm nào cũng vậy.
Trường hợp thứ ba, đó là là một anh bạn
khác, tên Khánh, người gốc Qui Nhơn. Anh bạn này nổi bật về tính hay
quên, nên được thiên hạ ưu ái dành cho cái biệt hiệu rất dễ thương là
Khánh Siêu.
Có những lần đi tắm, nhưng anh chàng
lại hay quên, nên không mang theo quần áo thay, thành thử khi tắm xong,
cứ đứng trong phòng mà la oai oái.
Thiên hạ thì mặc quần đùi trước, rồi
mới mặc quần dài sau. Thế nhưng anh chàng lại hay quên, nên mặc quần
dài trước, rồi sau mới xỏ quần đùi, thảo nào kéo mãi mà nó chẳng chịu
lên.
Sống trong lưu xá, thì giờ nào việc nấy,
nhưng anh chàng lại hay quên, nên thường lộn giờ. Trong khi thiên hạ
vô lớp học, thì anh chàng lại ung dung xuống nhà cơm. Trong khi thiên
hạ xuống nhà cơm, thì anh chàng lại thong thả đến nhà nguyện…Về những
chuyện quên của anh chàng, thì nói tới nói lui cũng chẳng bao giờ hết.
Đã bảo : Siêu mà !
Sau cùng, trường hợp thứ tư là chính
bản thân gã. Với tí tuổi đời đeo nặng trên vai, gã cảm thấy trí nhớ
mỗi ngày một cùn. Ngày xưa còn bé thì học đâu nhớ đấy. Còn bây giờ thì
học đâu quên đấy.
Thậm chí có những chữ vừa mới bật tự
điển xong, thế mà chỉ một lúc sau bỗng dưng quên béng đi mất. Có những
người rất thân quen, thế mà bỗng dưng quên mất tên. Lắm lúc phải mất
vài ngày cái tên ấy mới “tái xuất giang hồ” trong bộ nhớ của gã.
Tuy nhiên, gã cũng rất lấy làm an ủi,
bởi vì có một ông triết gia nào đó đã định nghĩa một cách tối om như
sau :
- Trí nhớ ấy hả ? Đó là một khả năng
hay quên.
Mà đúng như vậy. Nếu chúng ta nhớ hết
mọi chuyện, từ chuyện to cho chí chuyện nhỏ, từ chuyện xảy ra hồi còn
bé cho chí chuyện xảy ra bây giờ trong ngày hôm nay, thì đầu óc chúng
ta sẽ nổ tung vì không đủ chỗ chứa, hay bản thân chúng ta sẽ hóa điên
mất thôi vì tình trạng…quá tải.
Trong những cuộc tiếp xúc, gã ghi nhận
được hai trạng thái quên : quên cố tình và quên vô tình.
Trước hết là quên cố tình, khi chúng ta
lạm dụng cái quên để thủ lợi cho mình. Chẳng hạn đi siêu thị, chúng ta
quên không trả tiền, hay chúng ta không nhớ gì lúc “cầm nhầm” hàng hóa
cũng như vật dụng của người khác.
Tiếp đến là quên vô tình, khi chúng ta
quên một cách vô tư mà không hề so đo tính toán. Chẳng hạn một anh bạn
nhậu ngoắc cần câu, khi tỉnh lại, hỏi gì anh ta cũng chẳng nhớ :
- Tối hôm qua anh đã hứa với tụi này
một chầu bia.
Anh ta trả lời :
- Thế à.
Nếu nói tiếp :
- Tối hôm qua, anh đã bảo rằng nhà anh
đã khóc với anh.
Anh ta cũng trả lời :
- Thế à.
Và nếu còn tiếp tục hỏi :
- Tối hôm qua, không hiểu tại sao anh
đã gục mặt xuống bàn mà chết tại trận, lại suýt nữa còn cho chó ăn chè
?
Anh ta cũng chỉ trả lời :
- Thế à.
Nếu suy nghĩ sâu hơn một tí, gã nhận ra
rằng giữa quên và nhớ, chúng ta thường sống theo một nghịch lý như sau
:
- Đó là có những điều cần phải nhớ, thì
chúng ta lại quên. Trong khi ấy, có những điều cần phải quên, thì
chúng ta lại nhớ.
Chẳng hạn chúng ta cần phải nhớ công ơn
của cha mẹ, công ơn của thầy cô, cũng như công ơn của biết bao nhiêu
vị ân nhân đã âm thầm góp phần xây dựng cuộc đời, thì chúng ta lại
quên.
Trong khi đó, những hận thù, những oán
ghét, những lỗi phạm của kẻ khác cần phải được quên đi, thì chúng ta
lại nhớ mãi, nhớ hoài.
Nghịch lý này cũng giống như nghịch lý
mà một cô gái đôi khi đã gặp phải trong khi tập thể dục thẩm mỹ, để có
được một thân hình xinh đẹp :
- Đó là có những chỗ cần phải tóp vào,
thì nó lại phình ra. Trong khi ấy có những chỗ cần phải phình ra, thì
nó lại tóp vào.
Thành thử thay vì ngực nở bụng thon,
thì cô gái kém may mắn này lại hóa ra…ngực thon bụng nở.
Sở dĩ chúng ta luôn sống theo cái
nghịch lý giữa “quên và nhớ” như trên là vì trong cuộc sống chúng ta
thường nhìn thấy những cái xấu, mà ít khi nhìn thấy những cái đẹp của
người khác.
Gã xin đưa ra một thí dụ, chẳng hạn như
Giáo hội Công giáo. Trải qua dòng lịch sử, Giáo hội đã làm được biết
bao nhiêu điều tốt đẹp cho nhân loại, từ văn hóa và nghệ thuật đến
luân lý và đạo đức. Những điều tốt đẹp này ít khi được nhắc đến.
Thế nhưng, lỡ có một sai phạm hay một
“xì căng đan” nào đó, thì lập tức người ta thổi phồng, người ta la lối,
người ta phản đối om xòm…Người ta chỉ nhìn thấy cái rơm cái rác trong
mắt người khác, mà quên đi cái xà trong mắt mình.
Hay như một câu danh ngôn đã bảo :
- Một cây ngã đổ sẽ gây ồn ào hơn cả
một cánh rừng đang mọc.
Cũng vậy, một tác giả đã viết như sau :
- Thông thường người ta hay chú ý tới
vết đen trên trang giấy trắng hơn là nhìn tờ giấy trắng còn một vết
đen. Hai cách nhìn, một chiều tiêu cực và một chiều tích cực. Cách
nhìn của tiêu cực hướng người ta về vết đen, để rồi không nhìn thấy
trang giấy trắng. Cách nhìn tích cực hướng người ta đến trang giấy
trắng còn lại một vết đen. Cách nhìn tiêu cực là cách nhìn tẩy chay và
phê phán. Còn cách nhìn tích cực là cách nhìn khích lệ và xây dựng.
Có một câu chuyện kể lại rằng :
Vừa đặt chân tới một miền đất mới, các
vị sư phải tự tay kiến thiết mọi thứ. Một chú tiểu được trao nhiệm vụ
xây một bức tường. Chú tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem
những viên gạch đã nằm đúng chỗ hay chưa và hàng gạch có ngay ngắn
hay không ?
Công việc tiến triển khá chậm vì chú là
một người kỹ lưỡng. Tuy nhiên, chú không lấy đó làm buồn, bởi vì chú
biết rằng mình đang xây một bức tường tuyệt đẹp lần đầu tiên trong đời.
Cuối cùng, chú cũng làm xong công việc
vào lúc hoàng hôn buông xuống.
Khi đứng lùi ra xa để nhìn ngắm công
trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy một cái gì đó bất ổn đập
vào mắt : mặc dù chú đã rất cẩn thận khi xây bức tường, nhưng vẫn có
hai viên gạch bị nghiêng. Và điều tồi tệ nhất, đó là hai viên gạch ấy
lại nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng
nhìn chú.
Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm
ngôi chùa, chú đều dẫn họ đi khắp nơi, trừ nơi có bức tường.
Ngày kia, hai vị sư già đến tham quan
ngôi chùa. Chú đã cố lái họ sang hướng khác, nhưng hai vị sư già vẫn
nằng nặc đòi tới xem khu vực có bức tường mà chú đã xây.
Một trong hai vị sư già, khi đứng trước
công trình ấy, đã phải thốt lên :
- Ôi bức tường gạch mới đẹp làm sao !
Chú hỏi lại với tất cả sự ngạc nhiên :
- Ngài nói thật chứ ? Ngài không thấy
hai viên gạch xấu xí ở ngay giữa bức tường đó sao ?
Một vị sư già từ tốn trả lời :
- Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên
gạch còn lại đã ghép thành một bức tường tuyệt vời ra sao.
Nhiều lúc chúng ta đã quá nhạy cảm đối
với lầm lỗi của người khác. Khi bắt gặp ai phạm lỗi, chúng ta nhớ kỹ
từng chi tiết. Và hễ có ai nhắc đến tên người đó, chúng ta lại nhớ
ngay tới lầm lỗi của họ, mà quên bẵng đi mất những điều tốt đẹp họ đã
làm.
Người ta thường bảo :
- Dù là một tên tướng cướp, thì trong
lồng ngực của hắn cũng có được một mảnh tim vàng.
Thế nhưng, chúng ta chỉ nhìn thấy cái
tội cướp của giết người của hắn, mà chẳng bao giờ chịu khám phá ra
mảnh tim vàng đang ẩn dấu trong lồng ngực của hắn.
Chúng ta giống như người đeo hai giỏ.
Cái giỏ phía trước đựng những sai lỗi của người khác, còn cái giỏ phía
sau lưng đựng những sai lỗi của bản thân.
Vì thế, chúng ta thường nhìn thấy rất
rõ và nhớ rất kỹ những sai lỗi của người khác, để rồi lên tiếng phê
bình và chỉ trích một cách gắt gao.
Còn những sai lỗi của bản thân, chúng
ta lại cố tình không nhìn thấy và nếu có nhìn thấy, chúng ta cũng sẽ
đưa ra một ngàn lẻ một lý do để bào chữa, để bênh vực. Hay nói cách
khác, chúng ta cố tình lờ tít và quên đi những lầm lỗi của bản thân.
Chúng ta thường cư xử khoan dung với
bản thân mà nghiêm khắc với người khác, đáng lý ra chúng ta phải cư xử
khoan dung với người khác mà nghiêm khắc với chính bản thân mình.
Bây giờ gã xin áp dụng hai phạm trù
“quên và nhớ” vào đời sống gia đình, cũng như xã hội.
Trước hết, đó là trong đời sống gia
đình.
Những người nhiều kinh nghiệm đã đưa ra
một lời khuyên như sau :
- Trước hôn nhân, hãy biết mở to đôi
mắt. Còn sau hôn nhân, hãy biết nhắm đôi mắt lại.
Gã thắc mắc và tự hỏi :
- Tại sao lại như thế ?
Trước hôn nhân, đó là thời gian tìm
hiểu, chúng ta cần phải mở to đôi mắt, để ghi nhớ những khó khăn, khám
phá những khuyết điểm, rồi suy nghĩ, đánh giá và quyết định.
Còn sau hôn nhân, đó là thời gian chung
sống, chúng ta cần phải nhắm đôi mắt lại, để nhường nhịn và chịu đựng,
để quên đi và tha thứ những lầm lỗi của nhau, nhờ đó tạo được một bầu
khí hòa thuận và cảm thông, bởi vì :
- Một sự nhịn là chín sự lành.
Thế nhưng, chúng ta thường hành động
trái với lời khuyên quí giá trên, thành thử nhiều cuộc hôn nhân đã
thất bại, đã đổ vỡ ê chề.
Thực vậy, trước hôn nhân, vì những lời
nói yêu thương đường mật, vì những đam mê tình nóng bỏng thúc đẩy,
chúng ta đã nhắm đôi mắt lại, thay vì phải mở to đôi mắt ra. Chúng ta
không còn ghi nhớ được những khó khăn, không còn khám phá ra những
khuyết điểm và không còn đánh giá đúng mức hoàn cảnh chúng ta đang
sống.
Và nếu có mở to đôi mắt, chúng ta cũng
chỉ nhìn thấy tình yêu và cuộc sống là một màu hồng rực rỡ, để rồi
chúng ta hăm hở bước vào hôn nhân :
- Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Thất bát sông cũng lội,
Tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua.
Hay như một bài hát của Trịnh Công sơn
:
- Tình yêu như trái phá con tim mù lòa.
Đúng như Thánh Vịnh cũng nói :
- Họ có mắt mà không nhìn, có nhìn thì
cũng chẳng thấy.
Còn sau hôn nhân, vì va chạm với thực
tế phũ phàng, chúng ta cảm thấy đời không như là mơ. Lúc bấy giờ, thay
vì phải nhắm đôi mắt lại, chúng ta lại mở to đôi mắt ra để lúc nào
cũng ghi nhận và nhớ kỹ những bất đồng và sai lỗi, những bực bội và
tức tối. Tình yêu đang ngả dần sang một màu xám ảm đạm và bắt đầu tàn
lụi.
Để cứu vãn cái tình yêu đang bắt đầu
tàn lụi ấy, thiết tưởng chúng ta cần phải nhắm đôi mắt lại, có nghĩa
là chúng ta cần phải biết tha thứ những lầm lỗi của người khác, cũng
như phải biết quên đi những bực bội và tức tối, để cùng nhau xây dựng
một cuộc đời chung, một mái ấm gia đình chung.
Tiếp đến, đó là trong cuộc sống xã hội.
Thiết tưởng chúng ta cũng cần phải biết
“nhắm và mở”, cũng cần phải biết “quên và nhớ”.
Thực vậy, chúng ta cần phải biết nhắm
đôi mắt lại trước những oán thù và những sai lỗi của người khác, có
nghĩa là chúng ta cần phải biết quên đi những oán thù và những sai lỗi
ấy.
Có hai người thổ dân Nam Phi rất ghét
nhau. Ngày kia, một trong hai người gặp đứa con gái nhỏ của kẻ thù
mình trong rừng. Tên ấy nổi sùng bắt cô bé, lấy dao chặt đứt hai ngón
tay rồi thả ra. Cô bé vừa chạy về vừa khóc lóc. Bàn tay máu chảy ròng
ròng. Còn tên hung thủ vừa đi vừa la lớn :
- Ta đã trả thù được rồi.
Mười mấy năm sau, ngày kia có một tên
ăn mày tới xin bố thí. Người đàn bà nhận ra đó chính là kẻ đã chặt hai
ngón tay của mình, vội vàng trở vào nhà, bảo đầy tớ mang sữa bánh ra
cho hắn ăn. Khi hắn đã ăn no rồi, người đàn bà liền dơ bàn tay cụt ra
cho hắn coi và nói :
- Tôi cũng đã trả thù được rồi.
Tên ăn mày xúc động và bật khóc. Như
vậy, người đàn bà đã biết quên đi nỗi oán thù ngày xưa.
Đồng thời, chúng ta còn cần phải biết
mở to đôi mắt, có nghĩa là chúng ta phải biết khám phá và ghi nhớ
những điều tốt, những điều hay nơi người khác, nhờ đó mà xích lại gần
nhau hơn.
Bảo Thúc chết, Quản Trọng thương tiếc
khóc như mưa, ướt đẫm cả vạt áo.
Có người hỏi :
- Ông với Bảo Thúc không phải là họ
hàng thân thích gì, mà sao ông thương khóc quá như vậy?
Quản Trọng nói :
- Ngươi không rõ, để ta nói cho mà nghe.
Ta lúc nhỏ khốn khổ, thường buôn chung với Bảo Thúc, lúc chia lãi, bao
giờ ta cũng lấy phần hơn, mà Bảo Thúc không cho ta là tham, biết ta
gặp cảnh quẫn bách bất đắc dĩ phải lấy thế. Ta ở chỗ chợ búa thường bị
lắm kẻ nạt dọa, Bảo Thúc không cho ta là nhát, biết ta có lượng bao
dung. Ta bàn việc với Bảo Thúc, nhiều khi việc hỏng, Bảo Thúc không
cho ta là ngu, biết có lúc may, lúc không may cho nên công việc có lúc
thành, lúc bại. Ta ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi, Bảo Thúc không
cho ta là chẳng ra gì, biết ta chưa gặp thời, chưa tìm được vua giỏi.
Ta ba lần đánh nhau thua cả ba, Bảo Thúc không cho ta là bất tài, biết
ta còn mẹ già phải phụng dưỡng…Sinh ta ra là cha mẹ, biết được lòng ta
là Bảo Thúc. Mà đối với người biết mình, thì mình đem cả tính mệnh ra
hiếu còn chưa cho là quá, huống chi thương khóc thế này đã thấm vào
đâu.
Tuy nhiên, khám phá ra điều hay, điều
tốt nơi người khác rồi ghi nhớ cũng không phải là điều dễ. Phải yêu
thương họ, thì chúng ta mới có thể làm được việc ấy, bởi vì khi yêu
thương ai, thì :
- Củ ấu cũng tròn và trái bồ hòn cũng
ngọt.
Gã Siêu
VỀ MUC LUC
|
************* |