|
Hãy trở nên
Bằng lời nói & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi www.chungnhanduckito.net chungnhanduckito@yahoo.ca Số Ra Mắt , Mừng kính Mẹ Lên Trời , 15.8.04 |
|
|
Kính thưa quí vị,
Chúng con, một số giáo sĩ và giáo dân, có chung một ý hướng, đó là muốn dùng phương tiện truyền thông Internet để phục vụ cộng đồng Dân Chúa Việt Nam ở khắp nơi.
Chúng con chỉ có một Website khiêm tốn : www.chungnhanduckito.net
Và một Email magazine đơn sơ : chungnhanduckito@yahoo.ca
Từ Việt Nam và nhất là từ nông thôn, trong lúc người ta đang “bàn tán” về việc cấm truyền giáo trên Internet, vậy mà chúng con lại khởi sự làm truyền thông Công giáo, đây hẳn phải là một cuộc phiêu lưu đầy khó khăn.
Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh ấy, nếu Chúa cho chúng con gặt hái được một vài lợi ích nhỏ bé cho Giáo hội Việt Nam, thì đó sẽ là một bằng chứng cụ thể nói lên sự hiện diện và tình thương của Ngài trên quê hương và dân tộc chúng ta.
Chúng con mong ước rằng mọi người sẽ cùng với chúng con trở nên những :
CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ
Bằng lời nói (=chữ viết) và việc làm
Trong mọi lúc và mọi nơi
Ước chi lời mời gọi của chúng con được trở nên như một “vết dầu loang”, tạo thành một Phong trào Tông đồ của mọi thành phần Dân Chúa Việt Nam ở khắp nơi với những khó khăn và hy vọng riêng biệt của từng cá nhân và cộng đoàn, nhưng tất cả đều mang cùng một khát vọng : Yêu Việt Nam, quê hương của tôi và gắn bó với Giáo hội, Mẹ của tôi.
Chúng con muốn bước theo dấu chân của một người con Việt Nam tiêu biểu cho thời đại hôm nay:
ĐỨC HỒNG Y Fx. NGUYỄN VĂN THUẬN
VỚI ĐƯỜNG LỐI TÔNG ĐỒ :
* Ở giữa trần gian
* Nhưng không do trần gian
* Mà cho trần gian
* Với những phương tiện của trần gian
Chúng con xin cậy dựa vào Chúa Giêsu, Mẹ Maria và các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cùng với sự cộng tác và giúp đỡ của mọi người.
Chứng Nhân Đức Kitô
(Vọng lễ Mẹ Lên Trời. Việt Nam 2004)
|
Chốn hồng trần đã là con Thiên Chúa . Hãy làm Chứng Nhân của Đức Ki-tô . Với quyết tâm xây dựng một tiền đồ . Mong Giáo hội mỗi ngày thêm thăng tiến . Mười lăm tháng tám niềm vui bất diệt . Mừng hôm nay Đức Mẹ được lên Trời . Cho hiệp thông truyền giáo mãi sinh sôi . Xin phó thác tâm tình dâng lên Mẹ . Hoa Biển
|
Ôi trân quí! Tràng Mân Côi huyền diệu! Là tràng kinh tôi đọc tuổi ấu thơ Buổi ban mai thực sớm, đến nhà thờ Và buổi tối khi nắng vàng vừa tắt. Kế bên tôi là chiếc đàn khoan nhặt Thánh ca chiều làm hứng khởi tim tôi Một hồi chuông rộn rã đọng nguồn vui Tôi quì đó tâm hồn dường bay bổng! Maria! Tràng Mân Côi hằng sống! Đã dìu con khi chập chững tuổi thơ Nhiều năm sau con lại sống thờ ơ Không lần chuỗi, ít đọc kinh ban tối! Như có Mẹ nhủ con đầy thúc hối Rằng cuộc đời nhiều gai góc con ơi! Hãy siêng năng, con lần chuỗi Mân Côi Tìm thanh thản trong tâm hồn lắng đọng! Tràng Mân Côi! Hỡi con! Là tiếng vọng Cuộc đời đầy gương mẫu của Chúa Con Tràng Mân Côi! Những đau khổ héo mòn Những nhẫn nhục Mẹ chịu trong đời sống!
Mẹ thương mến! Cùng tràng kinh sốt sắng
Niệm vui, mừng cùng với những đau thương Con nguyện xin Mẹ nhân ái chỉ đường Dắt con tới miền An hòa Hạnh phúc!
Xuân Vũ Trần Đình Ngọc |
Trong tháng 8 có lễ trọng mừng kính Đức Mẹ lên trời. Lên trời là lên thiên đàng.
Đây là một dịp thuận lợi, Chúa nhắc nhở chúng ta về con đường lên thiên đàng.
Muốn tới đâu, thì phải đi đúng con đường dẫn tới đó. Phương chi muốn tới thiên đàng, ta phải rất ý tứ đi theo đúng đường dẫn về thiên đàng. Lạc đường sẽ mang lại cho ta hậu quả vô cùng tai hại.
Vậy, con đường lên thiên đàng là con đường nào? Thưa, ta có thể tìm trong Phúc Âm và các sách giáo lý.
Ở đây, tôi chỉ xin tóm lược. Tóm lược này rút ra từ thư thánh Gioan tông đồ.
Sở dĩ tôi chọn thư thánh Gioan tông đồ làm tài liệu, vì: Một đàng tôi chắc chắn: Đây là những gì cần thiết do chính Đức Mẹ Maria đã dạy cho thánh Gioan, và thánh Gioan đã được thấy Đức Mẹ sống như vậy trong những năm mẹ con sống bên nhau, trước khi Mẹ lên trời. Một đàng tôi thấy đây là một con đường được vạch ra rất rõ, rất dễ hiểu và rất dễ nhớ.
Con đường này có ba đặc điểm sau đây:
1/ Cố gắng xa lìa tội lỗi.
Thánh Gioan hết tình khuyên nhủ con cái mình đừng phạm tội. Ngài viết: “Hỡi các con là những người con bé nhỏ của Cha, Cha viết cho chúng con điều này, là chúng con đừng phạm tội nữa” (1 Ga 2,1).
Ngài còn nói mạnh: “Ai phạm tội, thì là người của ma quỉ, vì ma quỉ phạm tội từ lúc khởi đầu. Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá công việc của ma quỉ” (1 Ga 3,8).
Tuy nhiên, thánh Gioan rất ý thức về sự yếu đuối của chúng ta, nên Ngài khuyên dạy chúng ta cách khỏi tội. Ngài viết: “Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng bảo trợ trước mặt Chúa Cha, đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính. Chính Đức Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta, mà còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,1). Nghĩa là chúng ta cần sám hối và xin ơn tha tội nhờ Đức Kitô.
Lời khuyên trên đây và những lời dạy khác của thánh Gioan về tội rất đáng chúng ta lưu tâm. Bởi vì, hiện nay, lương tâm con người đang bị ru ngủ bởi phong trào tự do, chủ quan và hưởng thụ. Những phong trào này đang lừa dối các lương tâm. Chúng xúi rằng: Cứ sống theo những gì mình thích. Không cần đặt vấn đề tội hay không tội. Mình cho mình là không có tội, thì đó là chân lý, bất chấp Lời Chúa và các tiêu chuẩn Phúc Âm.
Tất nhiên, ta không nên ám ảnh về tội. Hãy sống thanh thản trong tự do của con cái Chúa. Nhưng không vì thế mà coi thường tội lỗi. Khi các lương tâm mất đi ý thức về tội, tình hình đạo đời tất sẽ ra xấu một cách nghiêm trọng.
Hậu quả đáng sợ nhất là sẽ lạc đường lên thiên đàng.
Sau yếu tố xa lìa tội lỗi, con đường lên thiên đàng do thánh Gioan vạch ra đã nhấn mạnh đến đặc điểm thứ hai, đó là giới răn yêu thương.
2/ Yêu thương nhau.
Đối với thánh Gioan, giới luật yêu thương là rất quan trọng. Ngài đưa ra bốn diễn tả, để chứng minh sự quan trọng đó.
a) Yêu thương nhau là đi trong ánh sáng. “Nếu ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối. Họ không biết mình đi đâu, bóng tối làm cho mắt họ ra mù quáng” (1 Ga 2,9-10). Trái lại, “ai thương yêu anh em, thì ở trong ánh sáng” (1 Ga 2,9).
b) Yêu thương nhau là dấu có sự sống thiêng liêng. Ngài viết: “Chúng ta biết rằng: Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương nhau” (1 Ga 3,14).
c) Yêu thương nhau là dấu chỉ của người con Chúa. Ngài quả quyết: “Chúng con hãy xem, Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Ngài yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1 Ga 3,1). “Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt con cái Thiên Chúa với con cái ma quỉ: Phàm ai không song công chính thì không thuộc về Thiên Chúa. Ai không yêu thương anh em mình, thì cũng vậy” (1 Ga 3,10).
d) Yêu thương nhau thì biết được Thiên Chúa. Ngài xác định: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,7-8).
Những lời khuyên dạy trên đây của thánh Gioan cho thấy con đường lên thiên đàng không thể thiếu vắng tình yêu thương nhau.
Thiết tưởng đây là một vấn đề thời sự nóng bỏng. Bởi vì, tình hình xã hội hiện nay cho thấy liên đới giữa người với người đang có rất nhiều gai góc. Người ta lỗi bác ái không phải chỉ trong tư tưởng, lời nói, việc làm, mà nhất là vì thiếu sót. Trong ngày phán xét chung, Chúa kết án người ta hầu hết vì những thiếu sót trong yêu thương bác ái (x. Matthêu 25,31-46). Chính những thiếu sót đó đã không mở ra được lối vào thiên đàng.
Còn một đặc điểm nữa của con đường lên thiên đàng, mà thánh Gioan đã nhấn mạnh, đó là: Tin tưởng vào Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa giáng trần.
3/ Tin vào Đức Kitô.
Về đặc điểm này, thánh Gioan có những lời dứt khoát rõ ràng: “Thiên Chúa đã ban cho ta sự sống đời đời. Và sự sống ấy ở trong Con của Ngài. Ai có Chúa Con, thì có sự sống. Ai không có Con Thiên Chúa, thì không có sự sống” (1 Ga 5,11-12).
Hơn nữa, “Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống”, như chính Chúa Giêsu đã quả quyết (Ga 14,6). Như vậy con đường lên thiên đàng làm sao lại thiếu được niềm tin vào Chúa Giêsu.
Tin vào Đức Kitô là bước theo Đức Kitô, Đấng luôn tìm thi hành thánh ý Chúa Cha, dù phải chết trên thánh giá để làm chứng cho tình yêu đối với Chúa Cha và tình thương đối với nhân loại. Đặc điểm đó cũng đang là một vấn đề tu đức cần đặt ra lúc này. Bởi vì lúc này, việc bước theo Đức Kitô trên đường từ bỏ mình, để nên giống Người, xem ra không được để ý lắm.
Càng ngày người ta càng bị điều khiển bởi cái tôi không lành mạnh của mình, chứ không còn bởi Chúa Thánh Thần của Đức Kitô. Như thế, con đường lên thiên đàng sẽ thưa vắng. Trái lại, con đường xuống hoả ngục sẽ đông đảo không thể ngờ. Đức Kitô đã báo trước sự kiện đó: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14).
Được lên thiên đàng không phải là chuyện dễ. Phúc thiên đàng không thể sắm bằng một giá rẻ mạt. Đức Mẹ đã được lên thiên đàng bằng một con đường đòi hỏi nhiều hy sinh, nhiều phấn đấu, nhiều ơn Chúa trợ giúp. Chúa ban phúc đặc biệt cho Đức Mẹ. Nhưng Đức Mẹ đã cộng tác với biết bao đau đớn và khiêm nhường vâng phục.
Chúng ta không có quyền nghĩ rằng: Mình sẽ lên thiên đàng bằng một con đường dễ hơn theo ý riêng mình muốn. Tất nhiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Nhưng ta phải biết đón nhận lòng thương xót Chúa một cách khiêm nhường.
Đừng dại dột sống buông thả. Bởi vì chúng ta chỉ chết có một lần. Có những việc chỉ một lần làm hư, là sẽ phải gánh hậu quả khốn khổ vô cùng vô tận, không bao giờ còn dịp sửa lại nữa.
Xin Đức Mẹ thương cầu bầu cho ta biết đi đúng con đường lên thiên đàng.
+ Gm. GB. Bùi Tuần
BẢN SẮC VIỆT TRONG ĐỨC TIN CÔNG GIÁO
Truyền Giáo hay Xây Lô-Cốt?
Những phong trào sống đạo nơi người Công giáo Việt hiện nay hầu hết đều phát xuất từ những truyền thống tu đức Tây phương. Như Linh Thao của Thánh I-Nhã từ Tây Ban Nha. Phong trào Học Hội Kitô (Cursillo) và Canh Tân là những áp dụng một phần phương pháp linh thao vào đại chúng.
Phong trào như những đợt sóng lên xuống hợp cho cảm quan mỗi thời đại và hoàn cảnh sống. Không có gì gọi là muôn thuở cả. Hội nhập vào được rung cảm trong máu người Việt luôn là một nỗ lực không ngừng của những người tha thiết với nền tu đức.
Vì thế, những phong trào này, cần phải được đào sâu để mang bản sắc của Việt Nam. Vì trước sau gì mình cũng nhận ra mình là một người mũi không lõ, tóc không vàng, với cách suy nghĩ và hành xử rất khác biệt!
CHẤT VIỆT TRONG ĐƯỜNG TU ĐỨC
Cái Việt tính trong đường tu đức Việt qua Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, không phải như cái gì bày vẽ ra cho thêm hoa hòe hoa sói, nhưng là một bắt buộc, nếu người Việt Nam Công giáo muốn sống đạo và muốn phát triển nếp sống đạo như một người Việt trong những đất nước mình sinh sống, và mới có thực chất góp phần xây dựng Giáo Hội địa phương được.
Sống trong một xã hội đa diện và tạp chủng này, nếu không biết mình là ai, thì chắc chắn sẽ bị hòa tan trong cái lò luyện kim ”melting pot” một cách tội nghiệp như những lớp dân gốc nô lệ được mua về từ Phi Châu. Tìm về với cái gốc của mình để tự tin và hãnh diện là một ý thức tất yếu để phát triển như nhận định của những nhà tâm lý xã hội được diễn tả điển hình trong cuốn ”Roots” (Gốc Rễ) của Alex Haley.
Trong tiến trình phát triển tinh thần Việt Nam, biến cố phong thánh đánh dấu bước tự tin của người Việt Nam Công Giáo: tự tin vì dòng giống mình đã thành công. Khi tự tin, người VNCG sẽ chấp nhận sứ mệnh và sử mệnh của mình đối với dân tộc: bảo tồn và phát triển Việt Tính bằng những đóng góp đặc sắc của mình. Thí dụ : tạo được độ rung sâu thẳm nơi tế bào người Việt qua bầu khí và thánh nhạc phụng vụ với màu sắc Việt Nam, đường lối tu đức Việt Nam...
TINH THẦN NÀO TỪ BÀI HỌC TRIỀU TIÊN
Trong buổi tĩnh tâm của các linh mục Miền Đông Nam Hoa Kỳ tại Orlando, Florida, khi bàn thảo về gầy dựng tinh thần Việt, một vị đã phát biểu: ”Cứ xem vào Triều Tiên mà mình mắc cở. Sau biến cố phong thánh của họ trước mình mấy năm, cả một sức quật khởi bừng lên nơi dân tộc và quê hương họ. Cả một chương trình đưa Tin Mừng hội nhập văn hóa. Số người gia nhập Công Giáo tăng lên rất lạ lùng.”
Và như một sự trùng hợp hay là sự góp phần thiết yếu của Giáo Hội Công Giáo vào đà tiến của đất nước, sau đại hội Thánh Thể quốc tế là thế vận hội, rồi xe Hyundai, Daewoo, máy Samsung tràn ngập thị trường Âu Mỹ, rồi thép Triều Tiên được cung cấp để làm cầu Mississippi. Triều Tiên nghiễm nhiên trở thành con rồng nhỏ của Á Đông.
Còn mình thì trứng rồng sao chưa thấy nở ra rồng sau biến cố phong thánh? Mà rất có thể lại chỉ thấy những con liu điu hay những con ểnh ương ra sức phồng lên chưa biết chừng!
TÌM RA THỰC CHẤT
Trong phần gợi ý chủ đề một đại hội Công giáo năm 1989, triết gia Kim Định có kể một câu truyện về cái ấm nước: một buổi sáng kia thức dậy, theo thói quen Ngài lấy cái ấm bỏ lên bếp nấu nước để pha cà phê, rồi lấy tờ báo đọc cho biết tin tức thời sự. Nhưng Ngài lấy làm lạ là tại sao chờ tới gần nửa giờ mà nước vẫn chưa sôi, trái lại còn ngửi thấy mùi khen khét! Lúc trở lại bếp xem sao, thì khám phá ra rằng mình không đổ nước vào ấm.
Chính vì thế mà nỗ lực tìm cho ra thực chất, tức là tìm cho ra cái nét văn hóa, gầy dựng được bản sắc, tự tin vào căn tính là một bước quyết liệt một mất một còn đối với người Việt lúc này.
Hàng giáo sĩ Mỹ mỗi lần tiếp xúc với người Việt thường khen người mình có lòng đạo, có tinh thần gia đình đáng quí, có nhiều ơn gọi dấn thân cho Giáo Hội. Nghe vậy đôi khi mình bán tín bán nghi, có thể các ngài khen lấy lệ theo kiểu xã giao ngời Mỹ. Nhưng khi đọc Việt Nam Quê Hương Tôi của linh mục dòng Tên người Ý Gildo Dominici (có tên Việt là Đỗ Minh Trí), với cả một phần nói về Gia Đình và Tình Yêu, thì mình phải giật mình nhận ra rằng người ngoại quốc có con mắt sắc bén thật. Chúng ta vẫn gọi đó là gia đạo. Mình có nét đẹp mà bao người đang thèm khát mà mình không tự tin thì thật là một điều mỉa mai!
Vậy sau biến cố phong Thánh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là gì? Có phải như một biến cố Giáo Hội phong một loạt vị với con số đông đảo nhất từ xưa đến nay, để an ủi thương hại một dân tộc quá nhiều khổ luỵ chăng? Hay là một dịp gỡ mặt mặc cảm cho đỡ tủi của một lớp dân vẫn tự hào bốn ngàn năm văn vật mà chuyên môn bị hạ nhục, bằng cách chụp cho nhiều hình mầu để làm ”kỹ nghệ đông lạnh,” nặng phần trình diễn cho xôm tụ để khỏa lấp cái trống rỗng bên trong!
Thời Điểm nào từ biến cố phong thánh thì vẫn chưa được nhận ra, Đó là một chuyện lạ mà ít ai lấy làm lạ! Đây có phải là một cơ may mà toàn thể thế giới Công Giáo xác quyết lòng tự tin của một dân tộc, như đã xác quyết lòng đạo của dân tộc Triều Tiên đã khiến dân tộc này bừng trỗi dậy hay không? Phong thánh là xác nhận một tinh thần, một đường sống đạo đáp ứng thời điểm. Vậy mà tại sao người Việt Nam Công giáo vẫn chưa cùng nhau hình thành một đường tu đức của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, sống đức tin trong lòng dân tộc Việt, mang bản sắc Việt, khác với bản sắc của Công giáo Ái Nhĩ Lan, Pháp, Đức, Ý, Ba Lan...? Và góp phần làm giầu Giáo Hội địa phương mình đang sinh sống bằng chính nét bản sắc Việt, và góp phần phục hưng gia tài Mẹ Việt Nam đã quá tả tơi rách nát!
Kinh Thánh qua sách Cách Ngôn đã quả quyết:
Lòng xác quyết quí hơn vàng bạc
Chọn đúng tên vượt mặt sang giầu.
(Cách Ngôn 22:1)
Và ca dao Việt không đã từng nói lên lòng tự tin để vươn lên hay mặc cảm phải cúi mặt là gì:
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
THẤY MÌNH LÀ AI
Nhìn vào bức ảnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam dịp phong thánh, chúng ta có thể hình dung ra đó là một đàn chim tiên và rồng thiêng đang tung mình lên trong ngày vinh thắng. Chính lòng tự tin vào dòng tộc của mình, chính niềm hãnh diện vào sức mạnh tiềm tàng bên trong của mình và của dân tộc mình, mới là yếu tố chính cho các cuộc quật khởi tinh thần của các dân tộc sau những tan tác tả tơi như Nhật và Đức sau Thế Chiến, như Do Thái sau mấy ngàn năm lưu đầy, như Triều Tiên từ một mặc cảm tiểu nhược!
Không tìm ra thực chất và tin vào bản sắc của mình, thì có phô trương hoạt động cũng chỉ là thùng rỗng kêu to, và có ra sức muốn làm gì cho Việt Nam sau này thì biết đâu cũng chỉ là cái cớ phóng rọi con ma đen bên trong chính mình ra và góp thêm vào cái màn thập nhị sứ quân mà thôi! Và biết đâu lại như cái ấm không có thực chất nước, nếu có tìm cách nấu thêm, cũng chỉ tạo thêm mùi khen khét khó ngửi mà thôi!
Cũng trong buổi tĩnh tâm trên, một linh mục trẻ khác phát biểu: ”Nếu Người VN Công giáo mới chỉ nghĩ đến chuyện hỗ trợ tài chánh để xây nhà thờ, dĩ nhiên quá cần thiết, thì biết đâu sẽ chỉ vun thêm vào cơn khủng hoảng bản sắc. Bởi vì sau khi bị kìm chế, người ta có khuynh hướng tung mình ra vọng ngoại trông chờ ở phép lạ đồng đô la hơn là tự tin vào sức mạnh tinh thần. Đó là bài học của Đông Âu, như chính Đức Thánh Cha đã cảnh giác Ba Lan trong một lần về thăm quê nhà. Người ta có thể hồ hởi xây cất trong một mặc cảm bù trừ thật tội nghiệp. Người ta mải mê và bận rộn chạy theo vật chất. Đến lúc đó, các linh mục chỉ còn nước là ”ngáp vặt” thôi, biết đâu chỉ còn biết ”uống rượu tiêu sầu!”
KHƠI NGUỒN TIỀM NĂNG BẰNG CÁCH NÀO?
Việt Đạo là đạo sống theo tinh thần Việt. Nói là tìm về Nguồn bằng Việt Đạo thì có vẻ muốn đẩy về quá khứ cổ hủ lạc hậu hay sao? Có lẽ phải dùng từ Khơi Nguồn Việt Đạo thì có vẻ tươi sáng đi tới hơn.
Giáo sư Kim Định đã nhìn xa về một thời điểm: “Việc thâu nhận Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam cho tới nay mới xảy ra trong giai đoan một mà Nietzsche gọi là của Lạc Đà: ai muốn chất lên lưng cái gì nó cũng ngoan ngoãn chở tuốt hết, không đặt mọt vấn đề nào, như hỏi tại sao bảo phải tin như thế, mà không thế khác. Nhưng rồi với sự tiến triển của tâm thức thì trước sau sẽ đến giai đoạn hai của Sư Tử: nó sẽ gầm thét vang trời và muốn tung tất cả xuống khỏi lưng để xét lại từng điểm, rồi chọn lựa, cũng có thể cuối cùng nó sẽ thu nhận toàn bộ như trước, nhưng không phải là nhận cách tối mặt nữa mà đầy ý thức....Chỉ biết rằng theo kinh nghiệm lịch sử thì nếu bước đầu của giai đoạn hai mà đi mạnh được vào đường tâm lý xã hội thì những thiệt hại do cơn khủng hoảng nếu có sẽ giảm thiểu tối đa.”
ĐI TÌM CẢM NGHIỆM CÕI TRỐNG
Tôi vẫn tự hỏi cái Trống Đông Sơn như một biểu tượng của văn hóa Việt nam có thể tạo ra nhịp rung chung nào không, và có cái gì liên hệ với cõi trống thần diệu là chính cây thánh giá của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chứ đâu có phải dán mắt vào cái mặt trống đồng để bàn cãi xem cái trống mầu gì, vẽ hình gì, ở đâu, to bao nhiêu, rối đạo tới cỡ nào!
Đọc ”Thư Từ Sa Mạc” của thầy tiểu đệ Carlo Carretto, ai mà chả mê cõi trống diệu vợi của sa mạc. Thầy kể chuyện chính thầy đã từng làm chủ tịch phong trào giới trẻ Công Giáo toàn nước Ý thời Đức Giáo Hoàng Piô XII với biết bao sinh hoạt và chương trình tưởng có thể thay đổi bộ mặt thế giới. Thế mà đùng một cái, Chúa gọi thầy bõ cõi ”đầy đặc” để đi tìm cõi trống nơi sa mạc.
Bị ”cám dỗ” bởi kinh nghiệm sa mạc trên, năm 2000 tôi đã thử dành đúng một tháng đi vào một trung tâm tịnh niệm (centering prayer), gọi là nhà tịnh niệm sa mạc gần Tucson, Arizona. Vào sa mạc là tự nhiên đi vào cõi trống rồi. Chung quanh chỉ có cát và những cây xương rồng seguaro khô khẳng. Những cây xương rồng sa mạc Arizona đặc biệt lắm: nó mọc lên như một thân người có những cánh tay vươn cao trong tư thế cầu nguyện.
Mỗi tối, khi mặt trời xuống khỏi rặng núi xa xa, thì bầu khí trở nên u linh lạ lùng. Ánh sáng thật huyền ảo. Bầu trời vút cao vời vợi. Tôi đã từng tập quì cầu nguyện với hai cánh tay giơ cao như những cây xương rồng. Chờ cho đến khi ánh sáng ban ngày tắt hẳn, tôi lấy vải trải trên cát, và nằm chiêm ngưỡng bầu trời đầy sao. Cái cảm nghiệm hút hồn đêm đó chắn chắn sẽ theo tôi suốt đời. Tôi thấy tôi lâng lâng khỏi mặt đất, khỏi những bon chen giam hãm như thành phố Tucson xa xa với ánh điện lờ mờ dưới kia. Có cái gì đang bị hay đang được phá vỡ trong tôi. Giữa cõi không gian nhiệm mầu đó, tôi thấy mình tách rời tất cả, buông xả tất cả. Một cảm giác kỳ lạ ngất ngây: tôi thấy mình tan biến đi mà nhẹ nhàng bay bổng vút cao hòa vào một thực tại bao la. Không còn trời. Không còn đất. Không còn chính tôi. Tôi không thể tả nổi cái cảm nghiệm này, hay không còn gì để nói thì đúng hơn. Tất cả như chỉ có một nhịp sống, chỉ có một hơi thở. Lần đầu tiên tôi nghe rõ tiếng nói của thinh lặng như trong bài hát ”The Sound of Silence.” Và tôi hiểu được lời của Kahlil Gibran, nhà ”tiên tri” của thời đại trong cuốn Tiên Tri:
“Hãy để giữa lòng bạn những khoảng trống
cho Gió Trời có thể nhảy múa vi vu.”
CÕI TRỐNG CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO
Thì ra Cái Trống của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam không nhất thiết nằm ở Đông Sơn, cũng không nằm ở mặt phẳng, mà là cõi trống nằm sâu trong sa mạc, trong tĩnh lặng tâm hồn. Đó phải là bản sắc của Linh Đạo Dũng Lạc, vị đại diện cho 117 vị Thánh Tử Đạo VN. Đó cũng là con đường ”hủy mình đi để trở thành Trống Không” (Phil 2:7) của chính Đức Kitô. ”Người đã tự hạ vâng phục cho đến chết, và đã chết trên thập giầ (Phil 2:8).
Thánh Giá chính là biểu tượng của cõi trống tột cùng này, mà Thánh Phaolô khi cảm nghiệm được đã tuyên bố: ”Tôi không rao giảng gì ngoài thập giá Chúa Kitô.”
Thì ra tôi đã tìm thấy cái trống của văn hóa Việt nam trong sa mạc Arizona, ngay trong chính lòng tôi. Và cái nét Việt tính của Con Đường Dũng Lạc chắc chắn cũng nằm trong cái nghĩa trống đó. Chỉ khi nào tôi bắt đầu làm trống những nhịp điệu đầy đặc trong tôi thì tôi mới có thể tiếp nhận được độ rung của của lòng người, cảm nhận được tròn đầy viên mãn của hơi thở Thần Linh. Chính vì thế mà Người Việt đã có biểu tượng ”miếng trầu là đầu câu chuyện.” Muốn có được những tương giao cảm thông và tạo được tình thương yêu, thì hãy trở nên chính miếng trầu: hãy tự nhai nghiền nát ra từ mỗi phần trầu, cau, đá vôi, thì mới có sức hòa hợp đoàn kết, và phát sinh màu đỏ son, là mầu của tình yêu tươi thắm.
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã sống tinh thần đạo trống là đường Tháng Giá, bằng cách hy sinh quên mình trong nếp sống thường ngày bình lặng, và đã dám nghiền nát mảnh hình hài để hiếu trung với Nguồn Sống là Thiên Chúa. Các Ngài đã bẻ mình ra để được bật sáng theo đường Thầy Chí Thánh: ”Chúa cầm lấy bánh bẻ ra trao cho họ, và mắt hai người liền mở sáng nhận ra Chúa.” (Luca 24:30-31)
ƯỚC MƠ MỘT CÁI CỘT NHÀ THỜ ĐỂ LÀM VĂN HÓA
Nhiều người ước ao giá được dành tiền xây mấy cái cột nhà thờ để lo cho việc phát hành sách báo văn hóa.
Niềm ước mơ nhỏ bé trên thật là một cái gì ray rứt trong tim những người muốn đem Tin Mừng nhập thể trong lòng cả một dân tộc khổ đau thay vì chỉ dừng chân xây thành đắp lũy làm lô cốt trong một xứ đạo. Bài học nhập cuộc của những đường hướng hội nhập văn hóa của những thừa sai dòng Tên đầu tiên đầu thế kỷ 17 như Cha Buzzomi và cha Đắc Lộ, và ngày nay của linh mục Dominici Đỗ Minh Trí, phải là tiếng nói thức tỉnh người ra đi đang có cơ may nhìn về quê hương mình.
Đường hướng và phương cách phúc âm hóa bằng việc đem Tin Mừng hội nhập văn hóa là cả một chính sách từ hội đồng giám mục, từ chương trình giáo dục trong các chủng viện, từ ý thức sứ mệnh của các phương tiện truyền thông Công Giáo. Tạo sao giáo dân đã được thúc đẩy để nhạy cảm làm ân nhân xây những cái cột nhà thờ lớn, mà không được tạo ra một tâm thức xây ngôi nhà văn hóa Công Giáo, có liên hệ tới việc xây dựng tiền đồ dân tộc. Có thể đây là một thiếu sót lớn trong chương trình giáo dục tôn giáo?
CON ĐƯỜNG DŨNG LẠC THÀNH PHONG TRÀO DŨNG LẠC
Biến cố 117 vị tử đạo Việt Nam được tôn phong hiển thánh ngày 19.6.1988 đã tạo nên niềm hãnh diện và phấn khởi nơi toàn thể cộng đồng dân Chúa Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Đây cũng là nguồn hứng khởi đặc biệt giúp khơi lên phong trào Dũng Lạc và đi đến quyết tâm đóng góp vào gia tài chung của dân tộc qua công cuộc khai quật và phát huy tinh thần Việt Nam trong sắc thái Công Giáo.
Phong trào Dũng Lạc mời gọi những anh em giáo sĩ và giáo dân, chủ trương đi về nguồn Việt Đạo, khơi dậy và thúc đẩy trào lưu sống và làm chứng Đức Tin Công Giáo, qua tinh thần Việt Đạo. Ước mơ và cũng là một quyết tâm của phong trào là tạo nên nơi người Công Giáo Việt Nam niềm tin tưởng một cách mãnh liệt vào lý lịch Việt Nam và Công Giáo của mình, tin tưởng rằng, với ”lý lịch” ấy, mình sống cuộc sống một con người cao quí, sung mãn, thâm sâu và có giá trị trổi vượt.
Một trăm năm đọa đầy đang đã kết thúc. Một trăm năm với thành trì của các chủ nghĩa đang sụp đổ như bức tường ô nhục Bá Linh. Một trăm năm vênh váo với hư từ Cộng Hòa hay Dân Chủ đôi khi chỉ là những trò chơi chữ cho những lái buôn quốc tế. Thế giới đang chán mứa những cấu trúc của cái gọi là văn minh cơ khí với những thể chế chính trị mang đầy những mâu thuẫn, mà nhà phê bình thời điểm Alvin Toffler trong cuốn Đợt Sóng Thứ Ba (The Third Wave) đã nhìn thấy. Người ra đi hay người ở lại có mang một sứ mạng gì không, hay cũng an phận với chút bơ thừa sữa cặn mà chính xã hội này đã chán mứa thải ra.
Việt Nam đang bước sang đệ tam thiên niên ở một vòng quay lớn trong vũ trụ. Ở cuối con đường hầm Việt có kẽ sáng nào lóe lên để vượt tới theo đúng nghĩa Việt không? Ơn gọi và sứ mạng nào cho người ra đi hay người ở lại?
Và nếu nhìn về quê hương dân tộc, liệu có sẵn sàng nhập cuộc mở một con đường hy vọng nào không, hay cũng chỉ bằng lòng kiếp ”gà què ăn quẩn cối xay?!"
Kính mời thăm gia trang : www.chungnhanduckito.net/dunglac.htm
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
Sứ điệp gồm 10 điểm:
* 5 điểm thánh hoá bản thân.
* 5 điểm phục vụ Giáo hội và Xã hội.
1- Bí quyết cầu nguyện.
2- Tinh thần ấu thơ.
3- Mầu nhiệm Thánh giá.
4- Phó thác cho Mẹ.
5- Phục vụ người nghèo.
6- Xây dựng Hội thánh.
7- Thánh hoá gia đình.
8- Đoàn kết hiệp nhất.
9- Loan báo Tin Mừng.
10- Chứng nhân Hy-vọng.
Giới thiệu
Kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La-vang là một biến cố lịch sử quan trọng đối với Giáo hội và Dân tộc Việt Nam. Sự kiện nầy đã được Toà thánh công nhận và năm 1961 Nhà thờ La-vang đã được nâng lên bậc Vương cung Thánh đường; La-vang trở thành Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc.
Gợi lại biến cố lịch sử về Đức Mẹ hiện ra, là để tiếp nhận một sứ điệp quan trọng cho Giáo hội và Dân tộc Việt Nam. Nếu ta chỉ mừng kỷ niệm ấy với một cuộc Đại hội thì dù đông đảo, tốt đẹp mấy cũng chưa đủ. Chúng ta phải đào sâu, suy niệm và thực hiện sứ điệp ấy mới đúng ý Đức Mẹ và lúc ấy sứ điệp Đức Mẹ La-vang mới thực sự là một mùa xuân mới cho Giáo hội và Đất nước Việt Nam.
Dựa vào những dữ kiện được rao truyền về Đức Mẹ đã hiện ra cách đây 200 năm tại vùng rừng núi hẻo lánh La-vang, nơi ẩn lánh của những người Công giáo Việt Nam đang "chịu khốn nạn vì Đạo ngay"
Dựa vào những lời kinh của ông bà ta ngày xưa cầu nguyện cùng Đức Mẹ La-vang, và cách ông bà ta hiểu biết và sống sứ đìệp ấy,
Để mời gọi người Việt Nam Công giáo hôm nay tích cực thánh hoá bản thân, phục vụ Xã hội và Giáo hội,
Tôi xin giới thiệu bản kinh cầu nguyện cùng Đức Mẹ La-vang, và tóm lược mười Sứ-điệp của Mẹ
TGM Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận
Khi chúng ta chạy đến cùng Đức Mẹ, việc trước tiên Đức Mẹ dạy là hãy đến đây cầu nguyện.
Cha ông chúng ta trong những ngày chịu bắt bớ, đã cùng nhau cầu nguyện, kết hiệp liên lỉ với Chúa; và trong bầu khí cầu nguyện đó, Đức Mẹ đã đến cầu nguyện với họ, khích lệ họ.
Trong kinh cầu nguyện với Đức Mẹ La-vang, cha ông chúng ta đã đọc:
"Cho con một dạ kính tin
Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay...
Nầy con quỳ gối cúi đầu
Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền".
Nguy hiểm lớn nhất là chúng ta quên cầu nguyện, đôi khi vì quá ham hoạt động, hoặc vì quá lo vận động, mưu mô quyền thế...
Cầu nguyện là thể hiện cuộc sống Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho chúng ta trong phép rửa tội; cầu nguyện là nuôi dưỡng lòng yêu thương người bên cạnh mình.
Cầu nguyện đạt đến mức cao độ khi tham dự Thánh-thể; tất cả chúng ta cùng Mẹ Maria dâng Chúa Giêsu lên Thiên Chúa để được gặp gỡ Chúa Cha, gặp gỡ cộng đoàn con người trong sự sống Chúa Thánh-thần.
Năm 1961, khi nhà thờ La-vang được nâng lên bậc Vương cung Thánh đường, Bề trên giáo phận Huế đã tổ chức chầu Mình thánh suốt ngày tại Trung tâm Thánh Mẫu La-vang. Trung tâm Thánh Mẫu La-vang trước hết là Trung tâm cầu nguyện. Cầu nguyện là nguồn sức mạnh mãnh liệt nhất trên trần gian nầy, đưa chúng ta đến gần bên Chúa, nối kết chúng ta với mọi người.
Chuyên tâm cầu nguyện, tham dự các phép bí tích đó là Sứ-điệp đầu tiên của Mẹ La-vang.
Cầu nguyện - Nghề của tôi
- Hoạt động không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa. Máy móc tự động có thể làm hơn con.
- Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động.
- Con hãy cầu nguyện luôn bất cứ ở đâu. Chúa Giêsu đã nói: "hãy cầu nguyện không ngừng".
- Chúa dạy đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: "Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự sẽ nghe lời con". Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử.
- Con tìm bạn để an ủi, nâng đỡ con khỏi cô đơn. Sao con không tìm người bạn không bao giờ phản bội con, và có thể ở với con liên lỉ bất cứ nơi nào?
- Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản bội Hội thánh? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: họ bỏ cầu nguyện từ lâu.
- "Người ta sống không chỉ nhờ bánh mà còn nhờ lời Chúa" : Thánh thể, Thánh kinh, Thánh nguyện. Nếu không, con không có sự sống Thần linh.
(Đường Hy vọng, trích chương 7 - Cầu nguyện)
2. Tinh thần thơ ấu
Đức Gioan Phaolô II đã tuyên bố Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu là Tiến sĩ Hội thánh vì linh đạo tinh thần thơ ấu rất được mộ mến trong thời đại nầy. Linh đạo đó thấm nhuần cuộc sống đạo của cha ông chúng ta, đặc biệt trong những ngày tháng gặp thử thách:
"Lạy ơn Đức Mẹ La-vang
Xin nghe con mọn thở than mấy lời".
Sống tinh thần khiêm tốn để nhận biết Thiên Chúa là Chúa và là Cha của mình. Mẹ Maria là gương mẫu về tinh thần khiêm hạ nầy:
"Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin vâng... (Lc. 1, 38).
"Phận nữ tì hèn mọn, Người đoái thương nhìn tôi (Lc. 1,48).
Và Chúa Kitô đã không làm gì khác ngoài việc thực hiện ý Cha Ngài; Ngài dạy dỗ chúng ta:
"Ai không đón nhận nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì chẳng được vào" (Lc. 18, 17).
Điều kiện vào Nước Trời trở nên như trẻ thơ
- Người mồ côi được sung túc phú quí là người hạnh phúc, nhưng không phải là người con hạnh phúc. Nghèo khó mấy mà có cha yêu, mẹ mến là người con hạnh phúc. Con có ý thức con là đứa con vô cùng hạnh phúc vì làm con Chúa Cha, con Mẹ Maria không?
- Bé con lầm lẫn bao nhiêu lần, cha mẹ cứ thương và biết đứa bé không có lòng xấu. Nó dốc lòng mãi và sa ngã mãi. Không hề gì! Miển là em thiện chí. Mặc dù cha mẹ biết nó yếu đuối chưa đổi được. "Con đừng dại nữa nghe con!" - "Dạ" - "Con có thương ba má ngàn lần không ?" - "Có" - "Vạn lần không?" - "Có" - "triệu lần không?" - "Có". Chúa chỉ cần thiện chí của con. Ơn Chúa sẽ giúp con.
- Con mệt mỏi, con cầm trí lâu không được, con chán nản. Miễn con yêu mến Chúa là đủ. Một đứa bé chơi trước mặt cha mẹ, ngồi trên chân cha mẹ, hay nhìn cha mẹ, hoặc ngủ ngon lành, cha mẹ cũng sung sướng nâng niu nó.
- Tâm hồn trẻ thơ ở đây không phải là thơ ngây. Nhưng là yêu thương không giới hạn. Phó thác cho cha mẹ tất cả, cha mẹ bảo gì, làm tất cả, theo cha mẹ, bỏ tất cả, tin tưởng cha mẹ hơn tất cả. Hùng dũng, vững vàng, xứng đạo làm con của người Kitô hữu.
- Những công tác lớn lao nhất của con nào đáng gì đối với Chúa toàn năng, thế mà cả những việc nhỏ mọn nhất của con cũng có thể là những kỳ quan, vì Chúa thấy lòng con. Chúa yêu thương con, như lòng cha mẹ hạnh phúc khi thấy đứa bé bước một bước, bập bẹ một tiếng.
- Nghe nói phó thác tất cả trong tay Chúa, con đừng lo sợ. Không khó đâu! Mặc dù con không biết Chúa Kitô đưa con đi đâu, Ngài dành những gì bất ngờ cho con, chỉ tin Chúa là Cha của con, chừng ấy đủ rồi.
(Đường Hy vọng, trích chương 30 - Đứa con Hạnh Phúc)
3. Mầu nhiệm Thánh giá
Đức Mẹ La-vang dạy ông bà ta: "Các con hãy vui lòng chịu gian khổ".
Người Kitô hữu chúng ta có một ngọn cờ, một huy hiệu, và hơn thế nữa có sức mạnh ban ơn cứu độ đó là Thánh giá Chúa Giêsu Kitô.
Khổ đau gắn liền với cuộc sống con người: khổ vì đói, khát, đau yếu, thao thức, sợ hãi, xao xuyến, vì thiếu tự do, chịu đựng bất công, bị nhục mạ và tột cùng là khổ vì đối diện với cái chết.
Thánh giá, khổ đau của Chúa chuyển khổ đau con người chúng ta trở nên sức mạnh thần thánh, Thánh giá là nguồn hy vọng độc nhất của ta. Vì khổ nạn gắn liền với Phục sinh - do đó người công giáo không bao giờ mất hy vọng.
Mẹ ở dưới chân Thánh-giá, Mẹ ở bên cạnh cha ông chúng ta trong những ngày bắt bớ cách đây 200 năm tại La-vang, Mẹ đem Chúa lại cho chúng ta trong cuộc đời vất vả của kẻ lữ hành trên đường hy vọng.
*Tránh gian khổ, con đừng mong làm thánh
- Bão tố quật ngã cây cối, bẻ gẫy cành khô, cành sâu. Nhưng không thể nhổ được cây Thánh giá đã cắm vào lòng đất. Đừng tiếc những cành kia, dù không gió cũng gẫy, không gẫy cũng phải chặt vì nó làm hại.
- Chúa Giêsu đến đâu cũng có một số người sống chết cho Ngài, và cũng có một số người quyết giết chết Ngài. Sao con muốn mọi người yêu con? Sao nao núng khi có người ghét con?
- Trong cơn tử nạn, Chúa đem theo những Tông đồ Ngài yêu thương riêng: Phêrô, Gioan, Giacôbê.
Con sợ Chúa thương không?
* Trong gian khổ có điều con nên tránh:
- Đừng điều tra "tại ai"? Hãy cám ơn dụng cụ nào đó Chúa dùng thánh hoá con.
- Đừng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh thể, Đức Mẹ là nơi con tâm sự trước hết.
- Khi đã qua, đừng nhắc lại và trách móc hận thù. Bỏ quên đi, không nhắc lại bao giờ và nói: Alleluia!
- Đau khổ nhất là do những người phải thông cảm và có phận sự bênh vực con gây nên.
Hãy hiệp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi trên Thánh giá: "Lạy cha, sao Cha bỏ con!"
- Con phản đối: "Bất công!" - Lòng con tức tối trước việc xảy đến gây khổ tâm cho con. Hãy nghĩ lại xem. Chúa Giêsu đã làm gì nên tội mà phải chịu đóng đinh?
Như thế có công bình không?
- Hoa hồng, hoa huệ tốt thơm, rực rỡ bao lâu - phân tro màu mỡ biến thành hương sắc. Việc tông đồ cũng tiến mạnh khi gian khổ được đổi thành yêu thương.
(Đường Hy vọng, chương 29 - Gian khổ)
4.Hoàn toàn của Mẹ
"Hoàn toàn của Mẹ" là khẩu hiệu của Đức Gioan Phaolô II. Khẩu hiệu đó đã hướng dẫn tất cả sinh hoạt tông đồ mục vụ của đời Ngài. Ngài là Giáo hoàng của Đức Mẹ. Đức Mẹ đã sử dụng Ngài làm bao nhiêu việc lạ lùng cho Hội thánh và nhân loại trong 20 năm nay. Ngài đã chọn khẩu hiệu nầy theo tinh thần của thánh Maximilianô Kolbe: "Hoàn toàn, tuyệt đối, vô điều kiện đối với Đức Mẹ".
"Rày con dâng tấm lòng nầy
Một niềm mến Mẹ từ rày về sau".
Ông Thoàn và 30 giáo dân bị bắt xin được đưa đến xử và được chết trên nền nhà thờ Đức Mẹ vừa bị đốt cháy. Đức tin của họ đi đôi với lòng mến Đức Mẹ.
"Lòng con rày chỉ ước ao
chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn".
Làm Kitô hữu, chúng ta là chi thể của Chúa Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã chọn Mẹ để cưu mang Chúa Giêsu Kitô, làm Mẹ nuôi nấng, dạy dỗ Chúa lúc ấu thơ, bước đi theo Chúa trong sứ mạng rao giảng công khai, và ở cùng Chúa bên cạnh Thánh-giá, cũng như lúc Chúa Giêsu sống lại.
Cha ông chúng ta đã chọn Mẹ Maria làm Mẹ mình trong suốt cuộc đời sống Đạo. Chúng ta hôm nay nghe lại lời của Thiên-thần nói với Thánh Giuse:
"Ngươi đừng sợ nhận Maria. Đấng được sinh ra từ cô ấy là do Chúa Thánh-thần" (Mt. 1, 20). Chúng ta cần ở với Mẹ để cuộc sống đức tin Kitô giáo được lớn lên, đi vào cuộc sống cụ thể, yêu thương phục vụ con người xã hội như Chúa đã hiến cuộc sống Ngài vì yêu thương.
Mẹ nghèo khó, nhưng Mẹ ban cho ta kho tàng trọng nhất: Chính Chúa Giêsu
- Không có Mẹ, dù mọi người lo lắng bảo đảm đến đâu, em bé cũng không đi theo. Nhưng đi với mẹ, băng rừng, vượt suối, đói rét, em vẫn đi.
Trong cuộc chiến, bao nhiêu bà mẹ chết rồi, con vẫn la lết nằm một bên. Trên đường hy vọng, con nắm tay Mẹ Maria, có Mẹ, đã cho con rồi, con không cô đơn, Mẹ là "nguồn sống, là an vui, là hy vọng của chúng con".
- Đứa con có bệnh tật, xấu xí, người mẹ vẫn thương yêu. Dù con nguội lạnh, tội lỗi, phản bội, con hãy phó mình trên tay Mẹ. "Chúa Giêsu trối: Đây là Mẹ con!" Nỡ nào Mẹ bỏ con.
- Muốn biết Mẹ con tốt đẹp chừng nào, con hãy nhớ Mẹ là Mẹ Chúa Ngôi Hai, cao cả, toàn năng: Phúc cho con chừng nào vì Ngài cũng là Mẹ của con. Nếu không phải Chúa Giêsu nói, con không thể hiểu được.
- Nhìn Mẹ Maria, làm như Mẹ Maria, con sẽ nên thánh.
- Mấy lời vắn tắt diễn tả cuộc đời Mẹ con; với tâm tình thánh thiện, hãy ghi vào lòng mà suy niệm và bắt chước:
"Nầy là tôi tá" : Ecce
"Con xin vâng" : FIAT
"Linh hồn con ngợi khen Chúa" : Magnificat.
- Chuỗi Mân côi là giây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm, con đường hy vọng của Mẹ: âu yếm như Bê-lem, khắc khoải như Ai-cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên Thánh giá, vui mừng lúc phục sinh, tông đồ bên thánh Gioan. Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Đừng bỏ chuỗi Mân côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, như Mẹ, trong Mẹ.
- Không quà gì quí bằng quà mà lòng Mẹ Maria tặng chúng ta: Chúa Giêsu, món quà quí nhất. Chính lòng Đức Mẹ cũng quí nhất vì "Giêsu con lòng bà".
- Mẹ Maria không chỉ nhìn Chúa Giêsu, Mẹ nhìn Isave, nhìn Gioan, nhìn đôi tân hôn ở Cana...
Con hãy có cái nhìn của Mẹ: Nhìn Chúa, nhìn người.
(Đường Hy vọng, trích chương 35 - Đức Mẹ Maria)
5. Phục vụ người nghèo
Chúa Giêsu đã nói: "Thánh thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khổ".
Đức Mẹ đã đến với ông bà ta, những người nghèo khổ nhất, không nhà cửa, không của cải, chạy vào La-vang:
"Những người nghèo khổ tật nguyền
Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui".
Mẹ Maria đã hiện ra để an ủi những người gặp cơn thử thách, khốn đốn, tị nạn tại La-vang cách đây 200 năm, như Mẹ đã từng xin Chúa Giêsu, con Mẹ giúp cho gia đình mở tiệc cưới Cana đang thiếu rượu. Mẹ đã tiếp đón những mục đồng nghèo khổ đến lạy Chúa mới sinh ra tại Bê-lem. Mẹ vừa hay tin chị họ là bà Elisabeth vào tuổi già, đang gặp buổi khó khăn vì vừa có thai, liền cấp tốc lên đường giúp đỡ...
Chúa Giêsu, con Mẹ đã tìm đến những người bệnh tật, khổ đau để chữa lành, an ủi; đã sát cánh với những người có cuộc sống tinh thần nghèo khổ, những người bị xã hội lên án để cứu vớt, bênh vực, và giúp thoát cảnh nghèo đói.
Mẹ La-vang là Mẹ của những người túng thiếu, tật nguyền, là người Mẹ dẫn đàn con Kitô hữu Việt Nam đại độ thực thi liên đới, phục vụ người nghèo.
Nguy cơ lớn, nếu Giáo hội đứng về phía quyền thế, giàu sang - xa rời người nghèo khổ bị áp bức.
Chúa là gia nghiệp, chưa đủ cho con sao?
- "Nghèo nơi con ở, nghèo trong áo con mặc, nghèo trong đồ con ăn, nghèo trong đồ con dùng, nghèo trong việc con làm" (Cha Chevrier).
- Dùng của cải cách quảng đại, trọng của cải cách tế nhị, xa của cải cách anh hùng.
Vì không phải của con, chính là của Chúa trao cho con sử dụng, của người nghèo.
- Thanh bần ghen ghét, thanh bần chỉ trích, thanh bần uất hận, không phải là thanh bần Phúc âm.
- "Hội thánh của người nghèo" không phải để làm cho dân chúng nghèo mãi, nhưng với nổ lực thăng tiến cuộc đời của dân chúng về mọi phương diện.
- Khó nghèo không phải là không có của; đó là khốn khổ, thiếu thốn.
Khó nghèo trước tiên là tập dùng của cho đúng. Một cốc Cà phê, một cốc bia! Nhưng cũng là một cốc mồ hôi, một cốc nước mắt, một cốc máu đổi lấy nó. Một khói thuốc, nhưng cũng là một hơi thở hổn hển của người lao động vô danh.
(Đường Hy vọng, trích chương 17 - Thanh bần)
+ Hồng Y Tgm. Fx. Nguyễn Văn Thuận
( Còn tiếp )
Thực hiện Nước Trời thuộc về những người nghèo
Tin Mừng cho con người trần thế, Lời của Thiên Chúa nói với nhân loại, là chính Chúa Giêsu-Kitô đã nhập thể làm người, đã chịu khổ nạn và đã được Chúa Cha phục sinh.
Nước Trời là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã thực hiện sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi trần thế.
Mang thân phận con người trần thế như chúng ta, Chúa Giêsu-Kitô loan báo Hạnh phúc của thân phận làm người là Kẻ Nghèo, người đói khát Thiên Chúa.
Thánh tông đồ Gioan đã viết:
“Biết rằng mọi sự từ nay đã hoàn tất, Chúa Giêsu nói, để mọi lời Kinh thánh được thực hiện đầy đủ: Ta khát” (Gioan 19,28).
Con người sống trong lịch sử, trong thời gian, tưởng rằng mọi sự chỉ có « bánh » làm no đầy, chỉ được giải quyết theo sức lực con người theo tiêu chuẩn của « bánh » nầy. Và mỗi cuộc sống con người, cũng như vận mệnh của toàn nhân loại kỳ cùng rồi cũng rơi vào vòng vi của bánh đó.
Dừng lại nơi thời trần thế, tìm kiếm cứu cánh, ý nghĩa đời mình chỉ với chất liệu, phương tiện trần thế: quyền lực, tài trí, vật chất, tiền của... là đủ lắm rồi, đó là người “giàu”, là tự mãn mù quáng, và kiêu căng.
Chúa Giêsu-Kitô, Lời Thiên Chúa, đến để nói một chân lý khác: Ngài khát.
Cuộc đời con người, lịch sử nhân loại trong thời gian, là sự thèm muốn một cái gì Tuyệt đối vượt lên trên khung bây giờ và ở đây của trần thế.
Ngài không những chứng thực những khát vọng Tuyệt đối nơi con người từ ngày tạo dựng cho đến ngày tận thế, nhưng còn biểu lộ hạnh phúc của những kẻ nghèo trong thần trí. Ngài còn mặc khải thêm rằng tất cả những khát vọng đó phát xuất từ chính Ngài và sẽ được thỏa mãn do ơn cứu độ của Ngài: Kẻ khát trên thánh giá đã được no thỏa khi được Cha Ngài cho sống lại và vĩnh viễn ở bên Cha Ngài.
Tin Mừng về người nghèo trong trần thế được hoàn thành trong niềm vui sống lại nầy.
Sự sống lại của Chúa Giêsu-Kitô, cứu cánh của kẻ nghèo trong thân phận làm người nơi trần thế, nay là nguồn hy vọng cho mỗi một thành phần của nhân loại.
Khi Ngài sống lại, Ngài nói với các người phụ nữ thăm viếng mộ Ngài rằng:
“Các con đừng sợ, các con hãy loan báo cho anh em Ta rằng họ phải đi về Galilêa và ở đó họ sẽ gặp Ta.” (Mt 28,10)
Và các tông đồ đã nghe theo lời nầy:
“Về phần mười một môn đệ, họ đã về Galilêa, nơi miền núi mà Chúa Kitô đã hẹn gặp.” (Mt 28,16)
Giáo hội, cộng đồng Kitô-hữu được Chúa Kitô sống lại hẹn gặp ở núi vùng Galilêa. Matthieu đặt nổi vùng đất Galilêa nầy, trời mới, đất mới của cuộc sống Kitô-hữu:
* Galilêa của các dân tộc, nơi ánh sáng mọc lên từ cõi chết (xem Mt 4,2-10).
* Galilêa nơi khởi phát Tin Mừng cứu độ: “Các ngươi hãy hoán cải, vì Nước Trời ở gần.” (Mt 4,17)
* Galilêa nơi Thiên Chúa đi tìm con người, gọi họ làm môn đệ, cộng tác với Ngài. (xem Mt 4,19)
* Galilêa nơi Chúa Kitô loan báo Tin Mừng Nước Trời và chữa lành con người. (xem Mt 23)
* Galilêa trên núi, nơi Chúa Kitô mặc khải về Ngài là Kẻ Nghèo, là Phúc cho những ai chia sẻ cuộc sống của Ngài. (xem Mt 5,1-16)
* Galilêa là Giao Ước mới giữa con người và Thiên Chúa, thể hiện nơi Đấng Kitô phục sinh. Galilêa, nơi môn đệ Chúa Kiô phải đến để gặp Đấng đã Phục Sinh ( Mt 28,10); và là nơi các tông đồ, giáo hội « tông truyền » đã đến để gặp Chúa Kitô (Mt 28,16).
Nơi Galilêa, ánh sáng mọc lên
Trong đêm tối, Giacop đã vật lộn không ngơi nghỉ để “Kẻ Giấu Mặt” nói lên tên mình. Vì khao khát tìm Tuyệt-đối hết sức lực mình nên Giacop được đổi tên thành Israel:
“Người ta sẽ không gọi ngươi là Giacop nữa, nhưng là Israel. Vì ngươi đã can cường trước Thiên Chúa, và ngươi sẽ thắng mọi người.” (St 32, 29)
Giacop đã vẫn xin:
“Xin Ngài mặc khải cho tôi tên Ngài.” (St 32,30)
Và ở Galilêa, Thiên Chúa đã hoàn thành ước nguyện của toàn nhân loại khao khát tìm Ngài qua hiện thân của Giacop-Israel. Thiên Chúa nay đã đáp trả nỗi mong chờ: Giêsu-Kitô, Kẻ Nghèo là tên của Thiên Chúa làm người, để từ ánh sáng nầy mỗi người gọi Thiên Chúa là Cha mình.
Sau khi Chúa Kitô sống lại, Kitô-hữu, cộng đồng dân Thiên Chúa, là cộng đồng những con người lữ hành về núi Galilêa, nơi những con người nghèo được chúc phúc, nơi Kẻ Nghèo của Thiên Chúa là Chúa Kitô hẹn để gặp những người con Thiên Chúa.
Trong cuộc lữ hành đó, Chúa Kitô đi bên cạnh con người, như Ngài đã hứa:
“Và Ta, Ta ở với các con mãi mãi cho đến ngày tận thế.” (Mt 28,20)
Nơi Galilêa, Kẻ Nghèo Giêsu-Kitô mời gọi con cái Israel thống hối, canh tân
Giacop nghèo, kẻ suốt đời tìm kiếm Thiên Chúa không còn nhận ra hình ảnh mình nơi con cái “Israel”. “Israel” bấy giờ trở thành một dân tộc tìm vinh quang và quyền lực của mình dựa trên tiêu chuẩn trần thế.
Gioan Tẩy giả đã thức tỉnh họ:
“Các ngươi hãy nảy sinh một quả xứng hợp với sự thống hội và đừng tự nghĩ rằng: Chúng tôi có Abraham là tổ phụ. Vì tôi nói cho các ngươi hay, Thiên Chúa có thể, từ những viên đá nầy đây, làm mọc lên những con cái thuộc về Abraham.” (M63,9)
Thống hối, trở về là vượt qua cuộc sống, công lý của Israel cũ:
“Nếu công lý của các con không vượt lên công lý của người ký lục và biệt phái, các con chắc chắn sẽ không vào được Nước Trời.” (Mt 5,20)
Không những thế, Chúa Kitô còn nêu lên rằng cuộc sống cũ của Israel đó đáng nhận bảy lần, nghĩa là vô số những lời chúc dữ:
“Khốn cho các ngươi, ký lục và biệt phái giả hình, các ngươi đã cản không cho những con người đến với Nước Trời...”
“Khốn cho các ngươi, ký lục và biệt phái giả hình, các ngươi giống những mả tô vôi...” (Mt 23,12; 27)
Ai là ký lục và biệt phái, nếu đó không phải là Kitô-hữu chúng ta hôm nay !
Hãy đối chiếu cuộc sống của Chúa Kitô trong trần thế với nếp sống của ký lục và biệt phái đương thời của Ngài, và hãy đối chiếu cuộc sống mỗi một chúng ta, của nếp sống đạo trong cộng đồng chúng ta với nội dung bài giảng trên núi, chúng ta sẽ thấy ngay cuộc sống chúng ta thực sự đang rập theo khuôn mẫu nào:
- Chúng ta bước đi theo Một Đức Kitô, chết trần truồng trên thánh giá, Đấng đã từng nói về vương quốc của mình: “Những con chồn có hang và chim trời có tổ, Con người lại không chỗ tựa đầu.” (Mt 8,22), Đấng đến để thực hiện lòng thương xót của Chúa Cha, gọi kẻ tội lỗi (xem Mt 9,13), Đấng đến để hầu hạ. (xem Mt 20,18)...
Hay đã từ lâu, chúng ta là hình ảnh của những con người cũ mà Chúa Kitô phiền trách:
“Họ buộc những gánh nặng và đặt vào vai người ta, nhưng chính họ, họ không dám đụng đến đầu ngón tay. Trong mọi sự họ làm là để người ta lưu ý. Vì thế họ làm lớn cái hộp đựng Lề Luật buộc trên tay và nối dài tua áo ghi chép Lời Kinh Thánh. Họ thích chiếm chỗ cao trong các bữa tiệc, ngồi ghế đầu trong các nhà hội, sum soe trên các công trường và muốn người ta gọi mình là ‘Rabbi’.” (Mt 23,4-7)
- Chúng ta sống trong sự sợ hãi của con người cũ
Hay chúng ta tin tưởng, an bình, hiên ngang trong ơn sống lại của Chúa Kitô: làm con Thiên Chúa và anh em với mọi người.
“Các con đừng sợ gì những người giết thân xác nhưng không thể giết được linh hồn... Vì thế các con đừng sợ hãi.” (Mt 10, 28; 31)
“Phần các con, các con đừng để ai gọi mình là thầy; vì các con chỉ có Một Thầy, và tất cả chúng con đều là anh em.” (Mt 23,8)
- Chúng ta tưởng sống đạo là chỉ xây cất những thánh đường nguy nga, tổ chức những ngày hội hè ngoạn mục, và bất chấp những người khốn khổ, tù đày, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu học, thiếu tình thương vây quanh chúng ta.
Người nghèo của Thiên Chúa là Đức Kitô sẽ hô to bên tai chúng ta:
“Khốn cho các ngươi, ký lục và biệt phái giả hình, các ngươi xây mộ cho các tiên tri và trang trí các mộ phần của các kẻ công chính, và nói rằng: Nếu chúng tôi được sống trong thời tổ tiên chúng tôi, hẳn chúng tôi sẽ không hùa theo họ mà đổ máu các vị tiên tri.” (Mt 23, 29-30)
Và:
“Ta nói thật với các con điều nầy, khi các con làm việc đó (cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách có áo mặc, thăm viếng kẻ đau yếu, tù đày...) cho một trong những kẻ bé mọn nầy trong anh em Ta, là các con đã làm cho chính Ta.” (Mt 25,40)
- Chúng ta tưởng đỉnh cao của sống đạo là chiếm cho được một chút quyền nào đó trong Giáo hội theo như mẫu mực trần thế, là hô to lạy Chúa, lạy Chúa suốt ngày ngoài miệng, là làm đủ thủ tục lễ nghi tôn giáo, xem như đi xin một thẻ thông hành để cầu cho phần rỗi riêng cho mình trong tương lai.
Nhưng Kẻ Nghèo từ núi Galilêa cảnh tỉnh cho chúng ta hay:
“Không phải cứ nói với Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa mà người ta sẽ vào được Nước Trời, nhưng là làm theo ý Cha Ta Đấng ở trên trời. Nhiều người ngày đó sẽ nói với Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa, không phải chúng con đã không nhân danh Thầy mà nói tiên tri sao? Không phải chúng con đã không trừ quỉ nhân danh Thầy sao? Không phải chúng con đã không nhân danh Thầy để làm nhiều phép lạ sao? Bấy giờ Ta sẽ nói thẳng với họ: “Ta chưa bao giờ biết các ngươi, hãy đi xa Ta, các ngươi là những kẻ bất chính.” (Mt 7,21-23)
Kẻ nghèo, nước Thiên Chúa trong trần thế, Đấng Cứu độ Giêsu-Kitô đã tự hủy thân mình, tước vị Thần thánh của mình, vì yêu thương và thực hiện lòng nhân hậu của Chúa, đã mang hết tội kẻ khác, không tìm gì cho mình hơn là cho và cho đến cả mạng sống mình.
Và khi đã cho hết vì yêu thương, thì Chúa Cha ban cho Ngài sự sống lại.
Chúa Kitô, kẻ nghèo, kẻ yêu thương đến chết cả thân mình, đó chính là Thiên đàng nơi trần thế. Và trong Tình yêu Chúa Kitô, Phaolô đã thấy vinh quang cuộc sống đạo của tông đồ Chúa chính là người anh em mình.
“Anh em rất yêu mến và lòng tôi ao ước, niềm hân hoan và triều thiên của tôi...” (Phil 4,1)
Thiên đàng có thể ở đâu ngoài Thiên Chúa và người anh em mà ta thèm khát và yêu thương!
Trên bước đường lữ hành về Galilêa, nơi Chúa Kitô hẹn, mỗi Kitô-hữu cũng như toàn cộng đồng dân Chúa từng bước lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần để canh tân cuộc sống mình và thực hiện Nước Thiên Chúa nơi con người nghèo Giêsu-Kitô khát khao Thiên Chúa và con người:
“Các ngươi hãy hoán cải, vì Nước Chúa ở thật gần.” (Mt 4,17)
“Phúc cho các người nghèo trong thần trí, vì Nước Trời thuộc về họ. ” Mt 5,3
Kính mời thăm gia trang : www.chungnhanduckito.net/kitohuu.htm
Nguyễn Đăng Trúc
Gs Phân khoa thần học công giáo Strasbourg
Kitô hữu trước thềm thời đại mới
LỜI GIỚI THIỆU
Đọc cuốn “Kitô hữu trước thềm thời đại mới”, bản dịch tiếng Việt cuốn “Le chrétien au seuil des temps nouveaux” do Đức Hồng Y L. J. Suenens viết, tôi chợt nhớ đến câu truyện “Em bé và con voi”. Câu truyện kể là ngày xưa có một em bé đi thăm một nhà điêu khắc đang loay hoay đục đẽo một tảng đá cẩm thạch sần xùi. Em chẳng thấy gì ngoài tảng đá sần xùi và các mảnh đá bắn ra tung tóe. Sau mấy tháng, em trở lại thăm nhà điêu khắc. Lần này em rất đỗi ngạc nhiên: thay vì tảng đá sần xùi, bây giờ là một con sư tử với những nét rất linh động, như sư tử thật. Em xúc động chạy đến nhà điêu khắc và hỏi: “Thưa Ông, làm thế nào Ông biết được trong tảng đá có con sư tử?” (Henri J.M. Nouwen, Clowing in Rome. Reflections on Solitude, Celibacy, Prayer and Contemplation, Image Book, New York, 1979, p. 87).
Cuộc đời kitô dưới ngòi bút của Đức Hồng Y Suenens có khác chi tảng đá sần sùi dưới ngón tay của nhà điêu khắc tài ba đã trở thành con sư tử linh động. Có khác là nhà điêu khắc sáng chế ra con sư tử, còn Đức Hồng Y Suenens thì khám phá ra vẻ đẹp đã sẵn có của căn tính kitô. Trong khi bao người nhìn và hiểu lơ mơ căn tính của đời sống kitô, Đức Hồng Y khám phá được vẻ đẹp diệu huyền của nó, chất chứa những khả năng và sức mạnh mà chỉ một người sống mới hiểu được. Bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, để cho Ngài thách đố, “Đối với con, Cha là ai?”, kitô hữu là người được Chúa Giêsu chinh phục, mở lòng đón nhận sức sống mới Chúa Thánh Thần thông ban. Nhờ vậy, trong khi bao người sống chán ngán vì không thấy tương lai và không nhìn ra ý nghĩa cuộc đời, hoặc thất vọng vì cuộc sống nặng chĩu khổ đau, người môn đệ Chúa Kitô nhìn về tương lai với cả một niềm hy vọng và cuộc đời vẫn chảy tràn trề cho dù có gặp khó khăn và đau khổ như mọi người. Lý do là vì đã tìm được nguồn sống mới, và nhờ đó có sức vươn lên để sống và xây đắp tình hiệp thông trong mọi chiều kích: sống giao ước với Thiên Chúa Cha, xây đắp tình huynh đệ trong Giáo Hội, cổ võ tình hiệp nhất đại kết giữa các kitô hữu và xây đắp tình huynh đệ đại đồng với tất cả mọi người.
Với kinh nghiệm và con tim của một chủ chăn đã sống biến cố Công Đồng Vaticanô II, Đức Hồng Y Suenens không những chỉ khám phá được vẻ đẹp và ý nghĩa sâu thẳm của cuộc đời kitô, mà còn biết nhìn nó trong bối cảnh của những vấn đề hiên tại và những chuyển biến đang nhen nhúm thành hình trong tương lai. Trong chiều hướng đó, cuộc đời kitô mang một sắc thái đặc biệt đem lại hứng khởi. Đó viễn tượng của ơn gọi làm chứng nhân cho Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ nhân loại.
Tôi tin tưởng những trang sách này, có thể được coi như những lời tâm huyết của tâm hồn một mục tử tín trung và nhiệt thành sẽ đem lại nhiều ánh sáng và sức sống cho những ai đang tìm kiếm ý nghĩa và hướng đi cho cuộc đời kitô hữu của mình trong thời đại mới này. Do đó, tôi cũng cầu mong những trang sách này sẽ được phổ biến rộng rãi trong Cộng Đồng Dân Chúa Việt Nam Hải Ngoại. Đó cũng chính là lòng mong ước của những anh em đã dày công dịch thuật và cộng tác ấn hành và phổ biến.
Roma, ngày 19 tháng 03 năm 2000 Lễ Thánh Cả Giuse, Quan Thầy Giáo Hội
Lm. Giuse Đinh Đức Đạo
Giám Đốc Văn Phòng Phối Kết
Lời tựa
Hồng-y Suenens không ngừng viết, viết suốt cả đời ngài; ngay ngày hôm trước khi lìa trần về với Chúa ngài vẫn còn viết. Tâm hồn ngài nung nấu ước nguyện giúp người ta tìm gặp Chúa và trở thành Kitô hữu chân thực hơn.
Trong bối cảnh mừng Năm Thánh 2.000, ngài tận lực giúp Kitô hữu chúng ta chuẩn bị thời điểm quan trọng đó. Ngài dành mỗi buổi sáng để viết trong mục đích nầy: Làm thế nào để sống làm người Kitô hữu trong Chúa Thánh Thần vào những năm cuối của ngàn năm thứ hai? Một dự án phát hành một loại cẩm nang cho Kitô hữu hướng về năm 2.000 dần hồi được thành hình. Ngài xem đó như một loại sách bỏ túi về ba năm chuẩn bị hướng đến Đại lễ mừng sinh nhật 2.000 của Chúa Kitô.
Sơ đồ hướng dẫn rất rõ ràng: theo ngài, cuộc sống Kitô hữu phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi, Kitô hữu là em Chúa Giêsu, được Chúa Thánh Thần ban sự sống và làm con Chúa Cha. Nên con đường Kitô hữu phải đi hiển nhiên là: kết hợp với Mẹ Maria, bước theo Chúa Giêsu, sống bởi Chúa Thánh Thần và lên đường hướng về Chúa Cha. Đây cũng là hành trình của Đức Giáo-hoàng Gioan-Phaolô II đã chọn cho ba năm để chuẩn bị Đại-lễ Toàn-xá. Với mục đích ấy, Đức Hồng-y Suenens đã phác họa tuần tự ba phần nhằm hướng dẫn Kitô hữu bước dần đến năm 2.000. Ngài không có đủ thì giờ để hoàn tất và sắp xếp kỹ lưỡng như ngài thường làm. Một phần lớn bản văn đã viết xong và một phần còn đang chuẩn bị. Trong tập sách nầy, toàn khối ấy thu tập làm thành một quyển.
Thực ra, tác phẩm nầy là di chúc tinh thần của ngài, đây không những là tập cuối của toàn bộ các sách ngài viết, mà chắc chắn còn là sự biểu lộ của điều ngài tha thiết muốn viết ra hơn cả: Kitô hữu là ai, người đó tin như thế nào, cầu nguyện ra làm sao và sống như thế nào vào thời kỳ cuối của ngàn năm thứ hai? Câu trả lời của ngài nằm trong tập sách nầy.
Hãy cầm lấy mà đọc.
+ Hồng-y Godfried Danneels
Tổng Giám-mục Malines - Bruxelles Ngày 19. 03. 1997. Lễ Thánh Giuse
( còn tiếp nhiều kỳ )
Con đường LUYỆN VÀNG của Con Rồng Cháu Tiên
Lời mở đường
« Tôi nhìn tôi trên vách »
Một trong những cuốn sách của nữ văn sĩ TÚY HỒNG mang tựa đề là : « Tôi nhìn tôi trên vách ». Hẳn thực, phóng mình lên trên một màn ảnh để nhìn xem mình, lắng nghe mình ăn nói làm sao, cư xử và đãi ngộ thế nào với người anh chị em đồng bào, trong cuộc sống thường ngày...phải chăng đó là một khả năng đã giúp Túy Hồng xác định mình là ai, không thả mình cuốn trôi theo dòng thác lũ, như một ngọn lá bấp bênh và vô hồn, vô giá trị và vô nghĩa ?
Tâm lý học đương đại đặt tên cho khả năng « thấy mình đang sống » như vậy, là PHẢN TỈNH, có nghĩa là thức tỉnh, sáng suốt về những gì chúng ta đang làm, đang nói và đang suy tư. Theo lối nói của Thiền học, khi ăn tôi biết tôi đang ăn. Khi làm tôi biết tôi đang làm. Khi đi, tôi biết tôi đang đi. Khi dừng lại, tôi biết tôi đang dừng lại. Làm được những điều ấy, tôi sẽ là một con người có ý thức, chứ không phải là chiếc máy tự động và vô hồn, ngày ngày nhai đi nhai lại, những gì mà người khác đã lên kế hoạch hay là lập sẵn những chương trình cho tôi, từ trên hoặc từ ngoài.
Một cách cụ thể, mỗi lần tôi tiếp xúc và trao đổi với anh chị em đồng bào, phải chăng khi nói, tôi biết tôi ĐANG NÓI với tư cách là một chủ thể toàn phần, đang có những quan hệ năng động và hài hòa với bao nhiêu chủ thể khác ? Tôi tìm cách diễn tả, chia sẻ con người trung thực của tôi, thay vì lên tiếng tố cáo, mạ lị, đàn áp và bốc lột con người ở trước mặt tôi ? Tôi cố quyết làm người và đồng thời tôi tôn trọng quyền làm người của những ai đang chung sống với tôi, trong môi trường xã hội và Quê Hương. Tôi cố quyết tạo cho họ, bằng cách này hoặc cách khác, tùy vào thực tế cụ thể của mình, những điều kiện thuận lợi, khả dĩ giúp đỡ, kêu mời họ cũng ngày ngày vươn mình lên, làm người với tôi. Ai còn bị ức hiếp, mà lòng tôi không quặn đau ? Ai còn vất vã, lam lũ, chưa thể kiếm ra được mỗi ngày một loong gạo, mà lòng tôi không cảm thấy trăn trở và bồi hồi? Bao lâu tôi còn « bịt tai, bịt mắt, đóng kín cửa lòng » trước tình trạng « người bốc lột người », trong lòng Quê Hương và Đất Nước, sau hơn « bốn nghìn năm văn hiến... », liệu tôi có biết rõ « tôi thực sự là ai » hay chưa ? Phải chăng tôi đang dám nhìn mình hiện nguyên hình một cách rõ rệt, trên một màn ảnh ở trước mặt ?
Đồng cảm và đồng hành với anh chị em đồng bào, như tôi vừa giới thiệu một vài đường nét chấm phá, phải chăng đó là những chủ đề được xoáy lui xoáy tới, trong những câu chuyện Huyền Sử, mà Tổ Tiên và Cha Ông đã trối trăn lại cho chúng ta, từ đời nầy qua đời khác, cho đến ngày hôm nay ? Một cách nào đó, các vị đang kêu mời chúng ta hãy làm người, bằng cách đặt ra những câu hỏi sau đây :
- Con là ai ?
- Con đang mang trong mình những giá trị nào ?
- Sở trường mà con cần phát huy, vun tưới là gì ?
- Sở đoản mà con cần khắc phục và hóa giải bao gồm những điều nào ?
- Con đang thực thi trách nhiệm thế nào, với mỗi người anh chị em đồng bào, nhất là với những thế hệ của ngày mai đang từ từ lớn lên?
- Nói tóm lại, bao nhiêu THÁCH ĐỐ đang đợi chờ con là gì, trên mỗi tấc đất của Quê Hương ?
Thách đố có nghĩa là những vấn đề ắt có, tất yếu thuộc thân phân và điều kiện làm người. Nếu chúng ta biết đối diện và nhận diện, bằng cách chuyển biến hoặc hóa giải, chúng ta sẽ có rất nhiều cơ may, để vươn mình lên, thăng tiến trên con đường làm người. Trái lại, nếu chúng ta ù lì, bị động, xuôi tay hay đầu hàng, chính chúng ta đang chuốc vào mình thân phận làm nạn nhân, đồ vật hay là công cụ của người khác. Lúc bấy giờ, thay vì sáng tạo mình, với tư cách là một chủ thể biết đảm nhiệm bản thân và cuộc đời, chúng ta chỉ PHẢN ỨNG, với những thái độ chua cay, phàn nàn, trách móc, hận đời. Hay là chúng ta trở nên con người phản động, chống đối, phá hoại, bạo động... xây dựng cuộc đời của mình, với hai bàn tay thấm máu, luôn luôn hành hạ, sát hại, thủ tiêu hay là lạm dụng kẻ khác, cho dù đó là những trẻ em non dại hay là những người dân đơn sơ, mộc mạc, vô tội...
Trong một số bài chia sẻ, được đăng tải đó đây trên nhiều Tờ Báo trong và ngoài Nước, tôi đã khảo sát những vấn đề được đặt ra trên đây, với tất cả thực chất, thực hữu và bao nhiêu giới hạn ắt có thuộc con người xương máu và cụ thể của tôi. Hôm nay, sau một cuộc đời nghiên cứu và học hỏi, tham khảo và lắng nghe nhiều vị thầy ở Đông cũng như ở Tây, trên Bắc cũng như dưới Nam, tôi tạm thời đúc kết, góp lại thành một cuốn sách, với tựa đề : « Huyền Sử của Việt Nam : Con đường LUYỆN VÀNG của Con Rồng Cháu Tiên ».
Xuyên qua tác phẩm nầy, tôi muốn nhấn mạnh những trọng điểm sau đây :
- Thứ nhất, trong lòng Quê Hương, từ Ai Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau, tất cả chúng ta không trừ sót một ai, đều là anh chị em đồng bào, phát xuất từ một Cha và một Mẹ. Chúng ta tất cả mang hai dòng máu Lạc Hồng, trong quả tim.
- Thứ hai, tuy là anh chị em, chúng ta khác nhau, trong nhiều địa hạt. Không có hai người hoàn toàn giống nhau, như hai hạt nước. Mặc dù vậy, chúng ta đang cần nhau. Chúng ta có thể bổ túc, kiện toàn và xây dựng cho nhau.
- Thứ ba, thách đố lớn lao và kỳ hùng, đang có mặt trong con tim và cuộc đời của mỗi người, là con đường Đối Thoại, làm bằng chất liệu Tình Thương và Hiểu Biết, Đồng Cảm và Đồng Hành, Thức Tỉnh và Tha Thứ. Một cách cụ thể, quan hệ Đối thoại là ngày ngày ngồi lại với nhau, trao đổi qua lại hai chiều, biết cho và biết nhận, biết xin và biết từ chối một cách sáng suốt và tự do, vừa có tình và vừa có lý. Để xây dựng và bồi đắp con đường ấy, mỗi người diễn tả thực tế của chính mình, đồng thời tôn trọng tư cách làm chủ thể của người anh chị em đang chung sống hai bên cạnh.
- Thứ bốn, con đường trao đổi và chia sẻ ấy là một tiến trình liên tục bao gồm ba chiều kích « ngày qua, hôm nay và ngày mai », và sẽ chẳng bao giờ chấm dứt. Mỗi người có trách nhiệm đóng góp phần mình, để không ngừng xây dựng, củng cố, đổi mới con đường đang đi.
- Thứ năm, nếu chúng ta thiếu Tỉnh Thức và Lòng Tha Thứ, mỗi giây mỗi phút, con đường Đối Thoại ấy có thể lập tức trở thành « Một Đại Lộ Kinh Hoàng », làm bằng chết chốc, kỳ thị, hận thù và chiến tranh... đang chạy xuyên qua quả tim của từng người trong chúng ta, và đang xé nát Quê Hương thành nhiều mảnh vụn. Lúc bấy giờ, chúng ta sẽ phản bội Tổ Tiên và Cha Ông. Đồng thời, chúng ta chỉ có một gia tài đổ nát và tang thương, để trối trăn lại cho các thế hệ con cái và cháu chắt sau này.
Năm điều tâm niệm trên đây đã được kết tinh và kết tụ, trong quả tim của tôi, sau môt cuộc đời học hỏi, nghiên cứu, khổ đau và tu luyện.Tuy nhiên, phải chăng đó cũng là thực tế và thực tại của mỗi người đang mang dòng máu Rồng Tiên, trong từng huyết quản, giống như tôi ? Tôi thắp hương khấn vái Tổ Tiên và chờ đợi câu trả lời của mỗi người anh chị em đồng hương, đồng bào, bất phân nguồn gốc xã hội, chủng tộc, địa phương, chính kiến và Đức Tin Tôn Giáo.
Gs. Nguyễn văn Thành
( còn tiếp nhiều kỳ )
TIỀN : CHUYỆN PHIẾM CỦA GÃ SIÊU.
Năm nào cũng thế, cứ vào những tháng cuối năm gã đều cảm thấy lo ngay ngáy, lắm lúc lo đến toát cả mồ hôi hột vì cái túi cạn kiệt, cái hào bao rỗng tuếch, tiên bạc đội nón ra đi hết sạch, trong khi mình lại đang rất cần đến nó.
Này nhé : nào lễ Giáng sinh, nào tết tây, nào tết ta, rồi trăm thứ bà giằng khác. Dù thắt lưng buộc bung cách nào chăng nữa, thì cũng vẫn có những khoản bắt buộc phải chi, không chi là không xong. Thành thử đầu vào thì ít mà đầu ra thì lại nhiều, tới độ ngân sách bị thâm thủng nặng nề.
Càng lo về tiền, thì đêm nằm vắt chân lên trán ngẫm nghĩ chuyện đời, gã càng nhận ra sức mạnh vạn năng của nó.
Các cụ ta ngày xưa thường tự an ủi lấy mình khi lâm vào cảnh túng quẫn :
- Cái khó bó cái khôn.
Ước mơ thì nhiều, nhưng do thiếu tiền, nên rốt cuộc chả được bao nhiêu. Thảng hoặc một đôi lúc cái khó ló cái khôn, thì hầu hết những cái khôn được đẻ ra trong hoàn cảnh bi đát này cũng chỉ là một thứ khôn vặt, thiếu trọng lượng mà thôi.
Vì thế, từ già đến trẻ, từ lớn đến bé, từ nam phụ đến lão ấu, ai nấy cũng đều nhận ra giá trị của tiền bạc, ngay cả anh mù cũng vẫn nhìn thấy tiền.
Đồng thời, ai nấy đều ra sức tìm tiền kiếm bạc, ky cóp tích lũy và gìn giữ nó kỹ càng, bởi vì đồng tiền liền với khúc ruột, lỡ mất nó thì tiếc ngẩn tiếc ngơ, tiếc đến độ chảy ra cả nước mắt, đêm không ngủ, ngày không ăn..
Phàm bắt tay vào bất cứ việc gì thì “ vấn đề đầu tiên “ nổi cộm trong đầu óc vẫn là vấn đề tiền đâu? Một vấn đề thuộc vào hạng qui luật của muôn đời, không thể không xét đến.
Ngày nay, người ta thương bảo :
- Tiền là tiên là phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già,
Là cái đà của danh vọng,
Là cái lọng để che thân,
Là cán cân của công lý.
Còn người xưa thì lại xác quyết :
- Có tiền mua tiên cũng được.
Riêng gã, gã không hiểu tiên là liền ông hay liền bà, đẹp hay xấu, nhưng chắc chắn là phải thuộc “ cõi trên “, mà gã thì lại hay dị ứng với những người cõi trên, nên chi ngó thẳng vào thực tế để nó được thêm phần cụ thể hơn.
Trước hết, với tiền bạc, người ta có thể mua được địa vị cùng với quyền ăn và quyền nói như người xưa đã bảo :
- Mạnh vì gạo bạo vi tiền.
- Miệng nhà giàu có gang có thép.
Nếu tìm hiểu về phong tục của xã hội Việt nam thuở trước, chúng ta thấy nhiều nơi có tục lệ mua quan bán tước, và ngay cả trong lòng Giáo hội cũng có vài xứ bán chánh bán trùm.
Người nhà giàu chỉ cần bỏ ra một số tiền theo qui định là ẵm ngay được chức lý trưởng, chức chánh trương, chức trùm quản gì đó để vênh vang với đời.
Rồi mỗi khi có hội hè đình đám, thì được ngồi vào chiếu trên mà ngất ngưởng với các vị bô lão và chức sắc, bằng không thì sẽ bị xếp vào chiếu dưới, lẫn lộn với hạng cùng đinh, vai nặng chân trơn mà chớ.
Với tiền bạc, người ta còn có thể mua được lẽ phải, mua được công lý.
Hồi còn bé, mỗi lần đi ngang qua tòa án, gã thấy các vị thẩm phán, luật sư, thùng thình trong bộ đồ riêng của nghành nghề mình, toát ra một sư oai nghiêm, đạo mạo.
Thế nhưng, khi lớn lên và va chạm với cuộc sống, gã thấy rằng quí vị đạo mạo ấy cũng chỉ là người, nên trong bụng vẫn chất chứa chút sân si và trong máu con virus ham hố vẫn phá thối. Vì thế, có kẻ bạo phổi dám bỏ tiền ra mua đứt tòa án, đánh gục quí vị đại diện cho thần công lý.
Đúng là :
- Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
- Kim ngân phá lề luật.
Nếu chẳng may đụng phải mấy ông quan tòa có bản lãnh, không tơ tưởng tới tiền bạc, thì cứ yên chí nhớn, hiên ngang bước chân vào tù.
Thế nhưng, trong thế giới tù ngục, có tiền vẫn hơn, bởi vì, với tiền người ta vẫn mua được mọi thú tiện nghi chẳng kém gì ở ngoài. Sau đây, gã xin trích một đoạn trong báo Công An mô tả về nhà tù ở Bolovia thuộc Nam Mỹ :
“ Các nhà tù ở đây giống như những thành phố ở bên trong thành phố. Tại khuôn viên, nhà tù có đủ cả từ các tiệm tạp hóa cho tới các nhà hàng, thậm chí có cả khoản dịch vụ của các ả mãi dâm…
“Những tù nhân giàu thì có thể sống như ông hoàng. Với 3.000 mỹ kim, Freddy Alvarez, kẻ can tội buôn lậu ma túy, đã “ mua “ một phòng giam tươm tất để có thể chung sống cùng vợ con.
“Hắn ta kể lại :
- Tôi giống như một kẻ sống ở vùng ngoại ô mà thôi. Tôi có nhà riêng, các con tôi hằng ngày vẫn tới trường và vợ tôi vẫn đi ra ngoài làm việc, chúng tôi ăn uống no đủ.
“Chưa hết, có một số tù nhân dám bỏ ra cả 15.000 mỹ kim để được ở trong những phòng giam đạt tiêu chuẩn “ khách sạn năm sao “. Nếu chi khoảng 60 mỹ kim, một tù nhân có thể đi bát phố trọn ngày, còn với 90 mỹ kim, hắn ta có thể đi dự dạ hội, chơi hộp đêm ngoài phố “ over night” luôn.
“Các nhà tù không lo tù nhân bỏ trôn vì gia đình họ cũng đang sống trong nhà tù như những con tin.
Hơn nữa, với tiền bạc, chúng ta còn có thể mua được cả bạn bè và tình nghĩa.
Các cụ ta ngày xưa đã để lại một kinh nghiệm sống ….khí sượng một chút, đó là :
- Bần cư chung thị vô nhân vấn, phú tại sơn lâm hữu khách tầm. Nghĩa là nghèo kiết xác mà cắm dùi ngay giữa phố chợ thì cũng chẳng ma nào viếng thăm, trái lại hễ giàu sang, phất lên một tí thì dù ở chốn rừng sâu núi thẳm cũng khối kẻ chịu khó cất công tìm đến.
Bên cạnh nhà gã có một anh hàng xóm, thuở còn khố rách áo ôm, dù vợ anh có đẻ cặp hai cặp ba thì thiên hạ vẫn phớt tỉnh ăng lê, dù bản thân anh có bị tai nạn xe cán gẫy tay hay lòi ruột, thì người ta vẫn mặc kệ nó.
Bỗng một hôm thần tài gõ cửa, anh trúng số độc đắc, tiền bạc cứ như quà tặng từ trời rơi xuống. Đi tới đâu các cô gái cũng toét miệng cười :
- Anh sáu ơi, anh sáu à…
Đúng là :
- Thấy người sang bắt quàng lam họ.
Ghé vô chỗ nào anh cũng được thiên hạ mời tiệc tùng ăn nhậu, vì thế về khoản rượu chè, anh lên “ đô “ trông thấy và mặt lúc nào cũng đỏ gay như gà chọi.
Trước kia, chẳng ai dám cho anh vay vì sợ bị ăn quịt. Còn mỗi khi ngân hàng tới đòi nợ, anh bèn phải ẩn mình đi tị nạn chính trị, ẩy bà xã ú ớ ra tiếp.
Còn bây giờ, người ta mời anh giữ chức này chức nọ, hy vọng anh sẽ chơi trội mà chi cho tí tiền còm mỗi khi cần đến. Có tiền và có chức, cuộc đời anh lên hương từ đó.
Tiền bạc có thể mua được đủ thứ : nào cơm ăn áo mặc, nào tiện nghi hưởng thụ…đó mới chỉ là những chuyện thường ngày ở huyện.
Ngoài ra, với tiền bạc người ta còn có thể mua được cả chiến thắng.
Theo dõi những cuộc vận động tranh cử tổng thống Mỹ, chúng ta thấy ứng cử viên nào “ yếu địa “, chắc chắn sẽ bị rớt đài và đi đoong vì làm sao mà trải thảm mua đứt báo chí, truyền thanh, truyền hình, dư luận và tình cảm của cử tri.
Bình thường, thể thao vốn là lãnh vực lành mạnh và công bằng, vì mọi người đều cố gắng chơi đẹp dựa trên sức khỏe và tài năng của mình, thế mà tiền bạc cũng đã len lỏi vào, bằng cách mua đứt trọng tài hay cầu thủ, khiến cho thiên hạ phải chõ mồm bàn luận chung quanh những vụ bán độ ở chỗ này hay chỗ khác.
Trên đây là lãnh vực mua, tiếp đến là lãnh vực mở.
Tục ngữ đã bảo :
- Tiền không chân, xa gần đi khắp.
Nó là chiếc chìa khóa vạn năng mở được tất cả. Hay như Shakespeare đã viết :
- Khi tiền bạc dẫn đầu thì mọi cửa đều mở rộng.
Nói theo dân ghiền bóng đá thì tiền bạc chính là tiền vệ xuất sắc nhất chọc thủng mọi cầu môn.
Trước hết, nó sẽ mở được cửa quyền.
Hiện nay trên thế giới, hầu như nước nào cũng có tệ nạn tham nhũng. Với tiền bạc, người ta mua đứt các viên chức để rồi việc khó hóa thành dễ như người xưa đã bảo :
- Có tiền việc ấy mà xong nhỉ.
Nhiều chính phủ bị sụp đổ, nhiều viên chức phải nằm nhà đá đếm lịch chỉ vì tham nhũng, hám tiền như tục ngữ cũng đã nói :
- Hạt tiêu nó bé nó cay,
Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền.
Ngoài ra, nó còn mở được cửa trái tim.
Có những người không lấy nhau vì tình nhưng lại lấy nhau vì tiền.
Hơn nữa, vì đồng tiền họ dám bán tuốt luốt, kể cả danh dự và nhân phẩm của mình. Có những cô gái vì tiền mà “cũng liều nhắm mắt đưa chân“ lấy đại chú ba tàu Đài loan nào đó, để rồi cuối cùng đã phải ngậm đắng muốt cay.
Đã nói đi thì cũng phải nói lại. Dưới một góc cạnh này thì là như thế, còn dưới một góc cạnh khác thì …hỏng phải vậy đâu. Bởi vì tiền bạc là như con dao hai lưỡi, biết dùng thì có lợi, không biết dùng thì có hại.
Hay như một câu danh ngôn đã bảo :
- Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt có thể giúp chúng ta nhiều việc nhưng đồng thời lại là một ông chủ hà khắc bóp nghẹt những gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta.
Như trên chúng ta đã thấy :
- Kim ngân phá lề luật.
Trong phạm vi cá nhân, thì tiền tài hắc nhân tâm, nó làm cho tâm địa chúng ta trở nên hắc ám với những toan tính đen tối, chà đạp công bằng, phá đổ tình thương, coi rẻ nhân nghĩa, mặc sức bóc lột người khác miễn sao vơ vét về cho đầy túi tham của mình, đúng như văn hào Léon Tolstoi đã viết :
- Tiền bạc chỉ là một thứ nô lệ mới không người, thay thế cho thứ nô lệ có người trước kia.
Một khi chúng ta để cho lòng mình quá ham hố, quá quyến luyến tiền bạc, thì lúc đó tiền bạc sẽ chỉ huy chúng ta và làm cho chúng ta phải khốn đốn.
Hơn nữa, nếu chúng ta xây dựng tình nghĩa trên nền tảng căn bản của tiên bạc, thì tình nghĩa ấy thật bấp bênh và có thể tiêu tan bất kỳ lúc nào như Nguyễn bỉnh Khiêm đã viết :
- Còn bạc còn tiền còn đệ tử,
Hết cơm hết gạo hết ông tôi.
Trong tiếng Việt, chữ tiền thường đi đôi với chữ bạc. Và theo sự suy diễn “ ngang hơn cua “ của gã, thì tiền chính là thủ phạm làm cho bạc tình bạc nghĩa.
Có tiền, người ta dễ thay lòng đổi dạ :
- Trong tay đã sẵn đồng tiên,
Thì lòng đổi trắng thay đen khó gì.
Thế nhưng không có tiền, người ta lại càng dễ đi tới chỗ lật lọng, quay phắt 180 độ :
- Hễ không điều lợi khôn thành dại,
Đã có đồng tiền dở cũng hay.
Có một bản tin trên báo Công an mang tựa đề là “ hợp đồng tình yêu “, nội dung như sau :
Châu Sa là một cô gái trẻ đẹp. Năm 17 tuổi, cô bỏ học đi làm vũ nữ. Được hai năm, cô gặp Tuấn, một người thành đạt trong lãnh vực kinh doanh địa ốc. Vì không muốn người mình yêu bị kẻ khác nhòm ngó, Tuấn đề nghị Châu sa làm vợ bé của mình.
Thấy Tuấn giàu có lại hào hoa phong nhã, phần vì ngán ngẩm với cảnh đời vũ nữ, Châu sa đồng ý với điều kiện Tuấn phải mua nhà, mua xe và hàng tháng phải cho 1000 đô để cô xài và gửi về giúp gia đình.
Để ngăn ngừa việc ông chồng hờ của mình nửa chừng chạy theo một bóng hồng khác, Châu sa thảo ra một bản hợp đồng ghi rõ việc cô sẽ chung sống với Tuấn 5 năm…Nếu ai bỏ ngang giữa chừng thì phải bồi thường cho đối phương 10.000 đô. Tuấn đã ký vào bản hợp đồng và chấp nhận tất cả những điều kiện, dù là vô cùng trắng trợn và thực dụng của Châu sa.
Từ đó Tuấn và Châu sa đã chung sống với nhau trong một tổ ấm trị giá 70 cây vàng mà Tuấn đã tậu cho cô vợ bé xinh đẹp của mình.
Thế nhưng chẳng ai học được chữ ngờ. Bản hợp đồng tình yêu của Tuấn và Châu sa chưa được ba tháng thì công việc làm ăn của Tuấn ngày càng xuống dốc. Số tiền 1.000 đô đối với Tuấn ngày xưa chỉ là chuyện nhỏ, thì nay lại trở thành gánh nặng.
Thấy số tiền Tuấn nộp cho mình hàng tháng cứ hao hụt dần, Châu sa cho rằng Tuấn đã thay lòng đổi dạ, nên quyết định dạy cho ông chồng hờ của mình một bài học vì tội đã dám vi phạm hợp đồng.
Cô photo bản hợp đồng rồi gửi cho gia đình Tuấn. Kết quả là vợ Tuấn nổi giận, kiên quyết đòi ly dị. Lúc này Tuấn như người bị dồn vào bước đường cùng. Thất bại trong công việc, vợ lớn đòi ly dị, vợ bé đòi tiền bạc. Tình yêu cùng sự si mê ngày xưa đã cạn. Trong lòng Tuấn chỉ còn lại niềm oán hận đối với cô vợ bé ngag ngược.
Ngày 20.7.1998, Tuấn mang acit đến nhà Châu sa, đầu tiên chỉ tính dọa cho hả cơn giận. Thế nhưng, sau một hồi lời qua tiếng lại, Tuấn không kiềm được sự nóng nảy của mình, nên đã vung tay tạt ca acit vào mặt Châu sa, khiến cô bị thương trầm trọng. Và thế là tiền hết, tình tan.
Cách đây mấy năm, một nguyệt san xuất bản tại Luân đôn có yêu cầu đọc giả đưa ra một định nghĩa về tiền bạc và cho biết đọc giả nào đưa ra câu định nghĩa hay nhất sẽ được thưởng.
Tòa soạn đã nhận được cả ngàn câu định nghĩa và đây là câu định nghĩa đã trúng giải nhất :
- Tiền bạc là giấy thông hành đại đồng, với nó chúng ta có thể đi bất cứ nơi đâu trên thế giới, trừ lên trời là không được, với nó chúng ta có thể mua được mọi sự, trừ hạnh phúc.
Còn lúc này, gã đang nghiền ngẫm một tư tưởng của Francis Bacon :
- Tiền bạc như phân bón, nếu không rải nó ra thì chẳng lợi ích gì.
Đúng thế, phân bón phải được tung vãi trên ruộng đồng thì cây lúa mới lớn lên, đâm bông và kết trái, nhưng nếu cứ xếp đống trong kho thì chăng ăn thua gì.
Còn tiền bạc tiêu dùng thì…ô hố…sao nhỉ ?
Kính mời thăm gia trang : www.chungnhanduckito.net/doithuong.htm
Gã Siêu
( còn tiếp nhiều kỳ )