|
Nhập đề -
Chương Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
Chương V
ĐÊ CHÚNG CON MANG LẠI HOA TRÁI
Công việc đào tạo người tín hữu giáo dân
PHẢl LUÔN LUÔN ĐẠT ĐẾN MỨC TRƯỞNG THÀNH
57. Hình ảnh cây nho và cành nho trong Phúc
âm khai mở cho ta thấy một lãnh vực căn bản khác
của đời sống và sứ mạng người tín hữu giáo dân: lời mời gọi
phải lớn lên và không ngừng tăng trưởng để luôn mang lại
hoa trái. Chúa Cha săn sóc vườn nho của Ngài như một
người trồng nho siêng năng. Israen khẩn khoản van xin
Thiên Chúa ân cần hiện díện, với lời cầu nguyện như sau:
"Lạy Thiên chúa của vũ trụ, xin Ngài hãy trở lại! Từ
trời cao xin Ngài hãy nhìn xem, thăm viêng cây nho này. Xin
bảo vệ cây nho mà cánh tay quyền lực của Ngài đã trồng"
(Ps. 80.15-16). Đến phiên Ngài, Chúa Giêsu nói về công việc của
Chúa Cha: "Ta là cây nho thật, và Cha Ta là người
trồng nho. Cành nào ở trong Ta mà không sinh hoa trái,
Cha Ta sẽ chặt nó đí, cành nào sinh hoa trái, Ngài cũng
tỉa bớt đi cho càng sai trái hơn" (Jn. 15.1-2).
Sinh lực của các cành nho tùy thuộc vào sự
nối kết với thân cây, là Chúa Giêsu Kitô: "Ai Ở trong
Ta và Ta ở trong người ấy, người
đó sẽ sinh nhiều hoa
trái; vì ngoài Ta ra, các con chẳng làm gì được" (Jn.15.5).
Con người được Thiên Chúa kêu gọi trong sự
tự do của mình để triển nở, phát huy và mang lại hoa
trái. Con người không thể không đáp lại lời mời gọi đó,
không thể không chu toàn trách nhiệm của chính mình. Những
lời Chúa Giêsu sau đây nhằm nói đến trách nhiệm vừa
kinh hoàng vừa phấn khởi đó: "Nêú ai không ở trong Ta
sẽ bị quăng ra như cành khô héo, người ta sẽ thu lại
bỏ vào lửa mà đôt đi" (Jn.16. 6) .
Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa, Đấng kêu
mời, và người được gọi trong trách nhiệm của mình,
có thể và cần phải có một sự đào tạo toàn diện và liên lỉ
những tín hữu giáo dân, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng
đã dành một phần lớn công việc của mình để khai triển
vấn đề này. Đặc biệt, sau khi mô tả việc đào tạo người Kitô
hữu như "một tiên trình liên tục của cá nhân để trưởng
thành trong Đức Tin, và để nên giống với Đức Kitô theo ý
muốn của Chúa Cha dưới sự dìu dắt của Chúa Thánh Thần",
các Ngài đã quả quyết minh bạch rằng: "Việc đào tạo tín
hữu giáo dân phải nằm trong những ưu tiên của giáo phận,
và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ,
làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu
sỹ, giáo dân) quy hướng về cùng đích này".
(209)
KHÁM PHÁ VÀ SỐNG ƠN GỌl VÀ SỨ MỆNH CỦA RlÊNG MÌNH
58. Việc đào tạo các tín hữu giáo dân nhằm
mục tiêu cơ bản là tìm ra ơn gọi riêng tư của mỗi
người, để càng ngày càng tỏ lộ và làm cho mỗi người luôn sẵn
sàng hơn nữa để sống ơn gọi đó, hầu chu toàn sứ mệnh riêng
của mình.
Thiên Chúa gọi tôi và Ngài gửi tôi đến làm
người thợ trong vườn nho của Ngài, Ngài gọi tôi và
sai tôi đi để dọn đường cho nước Ngài đến trong lịch sử. Ơn
gọi và sứ mệnh cá biệt đó xác định phẩm giá và trách nhiệm
mỗi tín hữu giáo dân và kết thành giềng môi của chương
trình đào luyện. Công việc đó nhằm mục đích giúp chân
nhận phẩm giá của người tín hữu giáo dân trong niềm
hoan lạc và biết ơn, đồng thời giúp họ đương đầu với trách
nhiệm của mình một cách trung tín và đại độ.
Thật vậy Thiên Chúa đã nghĩ đến chúng ta từ
thuở đời đời, và Ngài đã thương yêu chúng ta như những nhân vị duy nhất và bất khả thay thế. Ngài gọi mỗi
người chúng ta bằng chính tên chúng ta, như người Mục Tử
tốt "gọi các con chiên của mình bằng chính tên chúng"
(Jn. 10.3). Nhưng chương trình đời đời của Thiên Chúa
chỉ được mặc khải cho mỗi người chúng ta trong tiến
trình phát triển lịch sử của cuộc sống và các biến cố của
mỗi người; một cách nào đó, nó tuần tự tiếp diễn ngày này
qua ngày khác.
Ngoài ra, trong đời sống của mỗi tín hữu
giáo dân, có những giai đoạn đặc biệt có ý nghĩa và mang
tính cách quyết định giúp ta chân nhận Lời Chúa gọi
và đón nhận sứ mạng Chúa giao. Trong những giai đoạn đó,
có thời kỳ của tuổi trẻ và tuổi thành niên. Tuy nhiên đừng
ai quên rằng Chúa như người chủ vườn nho trong dụ ngôn,
trong đường hướng Ngài đã cho thấy thánh ý của Ngài một
cách cụ thể và chính xác - gọi (chúng ta) vào tất cả
các giờ của cuộc sống. Do đó, phải luôn tỉnh thức, có nghĩa
là phải ân cần lắng nghe tiếng Chúa, đó chính là thái độ
căn bản và kiên trì của môn đệ Ngài.
Dầu thế nào, không phải chỉ cần biết Chúa
muốn gì nơi mỗi người chúng ta trong những hoàn cảnh
khác biệt của cuộc sống. Nhưng phải làm đìều Chúa muốn,
đó là điều mà Maria, Mẹ Thiên Chúa nhắc nhở chúng ta như
đã nói với các người giúp tiệc cưới tại Cana: "Các
ngươi hãy làm những gì Ngài bảo " (Jn. 2:5) .
Và để hành động một cách hoàn toàn trung
tín với thánh ý của Thiên Chúa, cần phải có đủ khả
năng, và phát triển mỗi ngày một thêm khả năng này. Dĩ
nhiên, với ơn của Chúa: ơn Chúa không bao giờ thiếu, như
Thánh Lêô Cả đã nói: "Đấng đã trao cho anh em phẩm
chức, thì cũng sẽ cho anh em sức mạnh".
(210) Nhưng cũng cần
có sự hợp tác tự do và trách nhiệm của mỗi một ngườí
chúng ta.
Đây là công tác tuyệt vời và bận rộn đang
chờ đón mọi tín hữu giáo dân, những người Kitô hữu
không nghỉ ngơi: luôn ý thức hơn nữa những kho tàng phong
phú của Đức Tin và bí tích Rửa Tội và sống những ơn huệ
đó một cách hoàn hảo, như Thánh Phêrô Tông Đồ, khi nói
về sự sinh ra và lớn lên như là hai giai đoạn của đời
sống Kitô hữu, đã khuyên bảo chúng ta: "Anh em hãy giông
như những trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát Lối
Chúa, như một giòng sữa trinh trong làm cho anh em được lớn
lên để đi đến sự cứu độ,, (1 Pt. 2.2).
ĐÀO LUYỆN TOÀN DlỆN ĐỂ SỐNG TRONG HỢP NHÂT
59. Việe khám phá và thực hiện ơn gọi và sứ
mệnh cá nhân đối với người tín hữu giáo dân đòi
buộc phải được đào tạo để sống trong hợp nhất. Họ đã mang ấn
tín của sự hợp nhất này ngay trong chính bản tính của họ
là thành phần của Giáo Hội và công dân của xã hội loài
người.
Trong cuộc đời của họ không thể có hai lối
sống song song: một bên là "thiêng liêng" với những
giá trị và những bó buộc riêng; bên kia là "trần thê ',
nghĩa là gia đình công việc làm ăn, tương giao xã hội, dấn thân
làm chính trị, sinh hoạt văn hoá. Nhánh nho được ghép vào cây
nho là Chúa Kitô mang hoa trái trong tất cả các lãnh
vực sinh hoạt và cuộc sống. Thật vậy, tất cả các lãnh vực
của đời sống giáo dần đều quy hướng vào ý định của Thiên
Chúa, Ngài muốn tất cả chúng ta phải là "môi trường lịch
sử" để Đức ái của Chúa Kitô được mặc khải và thể hiện cho
vinh danh Chúa Cha, và phục vụ anh em mình. Tất cả các
sinh hoạt, các hoàn cảnh, các cuộc dấn thân cụ thể - khả
năng và liên đới trong công việc làm ăn, tình yêu và sự tận
tụy trong gia đình hay trong việc giáo dục con cái, dịch
vụ xã hội và chính trị, việc triển khai chân lý trong thế giới
của văn hoá - tất cả những việc đó là cơ hội được quan phòng
để thể hiên "việc thực hành liên tục Đức Tin, Đức Cậy
và Đức ái".(211)
Công Đồng Vaticanô II đã kêu gọi người tín
hữu giáo dân hướng đến sự hiệp nhất đó, và mạnh mẽ
tố giác tính cách nghiêm trọng của việc phân tách giữa
Đức Tin và đời sống, giữa Phúc âm và văn hoá: "Công Đồng
khuyến khích người Kitô hữu, công dân của nước trần thế
và Nước Trời, nên chu toàn công tác trần thế của mình một
cách nhiệt tình, trung tín, và vâng theo sự hướng dần
của tinh thần Phúc âm. Những ai, từng biết rằng mình
không có được nước vĩnh cửu dưới trần thế này, nhưng đang
tiến về vương quốc tương lai, lại cho rằng có thể coi
thường những nghĩa vụ làm người của mình, và không nhân ra
rằng chính Đức Tin, tùy vào ơn gọi của mỗi người làm cho
những nghĩa vụ đó trở thành một bổn phận khẩn thiết.
Những người như thế đi xa khỏi chân lý. Ngược lại,
những người tin rằng có thể quên mình hoàn toàn cho các sinh hoạt
trần thế, cho hành động như thể các sinh hoạt đó hoàn
toàn xa lạ với cuộc sống tôn giáo của họ, một cuộc
sống được họ giới hạn vào việc thực hành việc phụng tự và một
vài điều bó buộc có tính cách đạo đức cố định. Những
người này cũng lầm lẫn không kém. Tách rời Đức Tin mà họ
tuyên xưng khỏi cách xử sự hằng ngày của một số đông
Kitô hữu hiện nay kể là một trong những lầm lẫn nghiêm
trọng của thời đại chúng ta đang sống."
(212)
Vì thế, Ta qủa quyết rằng một Đức Tin không
trở thành văn hóa là một Đức Tin "không được tiếp
nhận đầy đủ, không được suy nghĩ thấu đáo, không được
sống một cách trung tín." (213)
Các phương diện của việc đào tạo
60. Nhiều phương diện liên kết trong việc
đào tạo toàn diện người tín hữu giáo dân được lồng trong
tổng hơp của đời sống đó.
Không có gì ái ngại khi cho rằng việc đào
tạo đời sống thiêng liêng phải chiếm một vị trí ưu tiên
trong cuộc đời mỗi người, bởi vì mỗi người đều được gọi để
không ngừng lớn lên trong sự kết hơp mật thiết với Đức
Giêsu Kitô, trong sự hòa hơp với ý muốn của Chúa Cha, trong
việc tận tâm phục vụ anh em trong bác ái và công bình.
Công Đồng viết rằng: "Đời sống kết hơp chặt chẽ với Chúa
Kitô trong Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng những của ăn
thiêng liêng chung cho tất cả mọi tín hữu, đặc biệt sự hiệp
thông cách tích cực yào Phụng Vụ. Các giáo dân phải dùng những
của ăn đó đề khi chu toàn một cách hoàn hảo các nghĩa vụ
trần thế trong những điều kiện thông thường của cuộc sống,
họ không phân tách việc kết hơp với Đức Kitô và đời
sống của họ, nhưng lớn lên trong sự kếp hợp với Ngài,
đồng thời chu toàn các công việc của họ như ý muốn Thiên
Chúa." (214)
Việc dạy giáo lý cho người tín hữu ngày nay
càng lúc càng trở nên khẩn thiết, không phải chỉ do
những năng động tự nhiên thôi thúc việc đào sâu Đức
Tin, nhưng còn do việc cần thiết phải "chứng thực niềm
tin" mà họ ấp ủ trong mình khi đôi diện thế giới với các
vấn đề nghiêm trọng và phức tạp của nó. Do vậy, một lôí
dạy giáo lý có hệ thống, thích ứng riêng cho từng lứa tuổi và
hoàn cảnh sống khác nhau, và một cuộc cổ động văn hoá Công
Giáo sâu rộng được xem là tuyệt đôí cần thiết, để
đáp ứng những thắc mắc muôn thuở và những vấn đề mới mẻ
đang làm cho con người và xã hội ngày nay giao động.
Đặc biệt là làm sao cho người tín hữu giáo
dân, nhất là người dấn thân bằng những cách khác nhau
trong lãnh vực xã hội và chính trị, có được sự hiểu
biết chính xác hơn học thuyết xã hội của Giáo Hội, là một vấn
đề tôí ưu cần thiết, như các Nghị Phụ Thượhg Hội Đồng đã
nhiều lần đòi hỏi trong các lần phát biểu. Khi nói về
việc tham gia chính trị của người tín hữu giáo dân,
Thượng Hội Đồng đã diễn tả ý kiến của mình như sau: "Để các
gíáo dân có thể thể hiện tích cực dự án cao đẹp của mình
trong chính trị (có nghĩa là dự án làm cho các giá trị con
người và Công Giáo được nhìn nhận và ham mộ), không phải
chỉ khuyến khích họ là đủ, mà phải đem đến cho họ
những phương tiện cần thiết đề đào tạo lương tâm xã hội của
họ; đặc biệt trong học thuyết xã hội của Giáo Hội, chứa đựng
những nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phán đoán và
những hướng dấn để hành động (Thánh bộ Tín Lý, "Giáo
Huấn về Tự do Công Giáo và giải phóng", 72. Học thuyết
đó phải hiện diện ngay trong chương trình giáo lý căn
bản và phải được giải thích trong các khóa huấn luyện đặc
biệt cũng như trong các trường học và đại học. Nên lưu ý
rằng, học thuyết xã hội của Giáo Hội có tính năng động,
nghĩa là nó thích ứng với những hoàn cảnh, không gian và thời
gian khác nhau. Những chủ chăn có quyền và có bổn
phận đề nghị những nguyên tắc luân lý thuộc lãnh vực xã
hội cũng như trong các lãnh vực khác. Kitô hữu phải đặt
mình vào việc bảo vệ nhân quyền, dấn thân tích cực vào
các đảng phái chính trị đành riêng cho giáo dân".
(215)
Trong khuôn khổ của việc đào tạo toàn diện
và hợp nhất người tín hữu giáo dân, chúng ta phải
ưu tư tài bồi các giá trị con người; nó cần thiết cho
sinh hoạt truyền giáo và tông đồ. Chính trong ý nghĩa đó,
Công Đồng đã viết: "(Giáo dân) sẽ yêu thích nhiều khả năng
nghề nghiệp, ý nghĩa gia đình và công dân, và các nhân đức
liên quan đến đời sống xã hội như thanh liêm, tinh thần
công lý, thành thật, tế nhi, khẳng khái. Không có những
nhân đức đó thì không có đời sống Kitô hữu chân thật."
(216)
NHỨNG CỘNG TÁC VlÊN CỦA THlÊN CHÚA LÀ NHÀ GlÁO DỤC
61. Đào tạo tín hữu
ở những nơi đâu và bằng
phương tiện nào? Những ai và những cộng đoàn nào
được kêu gọi để đảm trách bổn phận đào tạo giáo dân một
cách toàn diện và hiệp nhất?
Cũng như việc giáo dục con người liên hệ
mật thiết vào tương quan của tình mầu tử, việc đào tạo
ngườí Kitô hữu cũng bám rễ và hút lấy nguồn sinh lực nơi
Thiên Chúa: Ngài là Người Cha yêu thương và giáo dục
con cái. Vâng, Thượng Đế là nhà giáo dục lớn lao và cao cả
đôi với Dân Ngài, như đoạn văn kỳ diệu sau đây trích từ
Bài ca của Môisen: "Nơi hoang vu, trong cảnh cô quạnh
bao la của sa mạc, Ngài nhận nó làm con: Ngài bao bọc,
Ngài nuôi dưỡng nó. Ngài gìn giữ nó như con ngươi của mắt
Ngài. Như đại bàng canh chừng ổ chim con, bay lượn bên
trên đàn con dại. Ngài trương đôi cánh và nhắc nó lên.
Ngài nâng nó đặt lên bộ lông của Ngài. Chúa là vị độc nhất
dần dắt nó, chứ không phải là một Chúa nào khác" (Dt.
32:10-12, xem 8. 5).
Công trình giáo dục của Thiên Chúa được mặc
khải và hoàn thành trong Chúa Giêsu là Thầy dạy, và
tác động bên trong tầm hồn của tất cả mọi người, nhờ sự
hiện diện linh động của Chúa Thánh Thán. Giáo Hội Mẹ chúng
ta được gọi để kết hợp với công trình giáo dục của
Chúa, bằng chính danh nghĩa của mình cũng như bằng các giáo
huấn và hành động của mình. Chính vì thế mà nhứng tín
hữu giáo dân được đào tạo do bởi Giáo Hội và trong Giáo
Hội, trong sự hợp thông và công tác hổ tương giữa tất cả
các phần tử của Giáo Hội: linh mục, tu sĩ và tín hữu giáo
dân. Nhờ vậy, toàn thể cộng đoàn Giáo Hội trong sự khác biệt
giữa các phần tử của mình, nhận lầý nguồn phong phú của
Thánh Thần và cộng tác vào kho tàng ơn ích đó. Chính
trong ý nghĩa này Methodius thành Olympo đã viết: "Những
người chưa hoàn hảo được đón nhận và đào tạo bởi những
kẻ hoàn hảo hơn, như trong lòng bà mẹ, để họ được cưu
mang và khai sinh nhờ sự cao cả và đẹp đẽ của nhân
đức". (217) Sự kiện đó đã xảy đên cho Thánh Phaolô, từng được các
Kitô hưũ hỉểu biết hơn (qua chính nhần vật Anania) đón
nhận và đưa vào Giáo Hội, và sau đó, đến phiên Ngài, đã trở
nên toàn hảo và làm cha linh hướng cho biết bao nhiêu
con cái khác!
Công trình giáo dục trước hết là một sự
kiện của Giáo Hội hoàn vũ, trong đó Giáo Hoàng đóng vai
trò giáo dục quan trọng hơn cả đôi với tín hữu giấo dân.
Vì là người kế vị Thánh Phêrô, Ngài nhận lấy trách vụ "làm
cho anh em mình vững mạnh trong Đức Tin" , khi dạy dỗ
cho tất cả các tín hữu những yếu tố cán thiết của ơn gọi
và sứ mệnh làm người Kitô hữu và làm con cái Giáo Hội.
Người tín hữu giáo dân không những cần phải lắng nghe với thái
độ tuân phục và mến chuộng những lời Ngài nói mà thôi,
mà còn phải lắng nghe những lời dạy được ban bố qua các
văn kiện của các Thánh bộ trong Giáo Hội.
Giáo Hội duy nhất và phổ quát hiện diện
trong mỗi một phần tử khác nhau của thế giới, trong các
Giáo Hội địa phương. Trong mỗi Giáo Hội đó, Giám Mục
mang trách nhiệm riêng đối với các tín hữu giáo dân,
ngài phải đào tạo họ qua việc loan tin mừng, cử hành bí tích
Thánh Thể và các Bí Tích khác, sinh hoạt và hướng dấn
đời sống công giáo của họ.
Giáo xứ được thiết lập và hoạt động trong
lòng Giáo Hội địa phương hay Giáo phận, mang một vai
trò thiết yếu trong việc đào tạo trực tiếp những tín hữu
giáo dân. Thật vậy họ đạo có cơ hội gặp gỡ dễ dàng từng
người và từng nhóm, nên được kêu gọi để đào tạo các phần
tứ của mình biết lắng nghe Lời Chúa, tham dự phụng vụ,
đôí thoại trực tiếp với Thiên Chúa, dấn thân vào công tác bác ái đôí với anh em, và cảm nhận cách trực tiếp và cụ
thể hơn ý nghĩa sự hiệp thông của Giáo Hội và trách mhiệm
truyền giáo.
Bên trong một số giáo xứ, nhất là những
giáo xứ lớn và tản mác còn có sự hiện diện của những cộng đoàn giáo hội nhỏ. Chúng có thể rất hữu ích trong việc
đào tạo những người Kitô hữu, vì nhờ đó ý thức và kinh
nghiệm về sự hợp thông và sứ mệnh Giáo Hội được thể hiện một
cách sắc bén và sâu đậm hơn. Cũng như các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng đã từng tuyên bố, một hình thức hổ trợ khác
được cống hiến qua việc dạy giáo lý sau bí tích Rửa
Tội dưới hình thức lớp giáo lý khai tâm nhằm trình bày lại cho
những người lớn một vài yếu tố của Nghi thức Khai tâm
đời sống Công Giáo, giúp họ đón nhận và sống những ơn
phong phú và kỳ diệu của phép Rửa tội họ đã lãnh nhân,
cũng như những trách nhiệm phát sinh từ ân huệ đó.
(218)
Trong việc đào tạo mà tín hữu giáo dân lãnh
nhận trong giáo phận hoặc trong giáo xứ của mình, đặc
biệt về những điều liên quan đến ý nghĩa cuộc sống hiệp
thông và sứ mệnh của mình, sự nâng đớ mà các phần tử khác
nhau trong Giáo Hội liên đới thực hiện cho nhau mang tính
cách quan trọng đặc biệt. Sự nâng đỡ này giúp khám phá và
đồng thời giúp thể hiện mầu nhiệm của Gìáo HỘÌ là Mẹ và là
Thầy giáo dục. Cảc linh mục và các tu sỹ phải giúp
tín hữu giáo dân trong công trình đào tạo của họ. Trong
đường hướng đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã yêu cầu các
linh mục và các ứng viên vào các chức Thánh phải
"chuẩn bị chu đáo để có đủ khả năng tiếp ứng ơn gọi và sứ
mệnh của giáo dân".(219) Vê phần mình, chính tín hữu giáo
dân cũng có thể và phải giúp các linh mục và các tu sĩ
trong bước đường thiêng liêng và mục vụ của họ.
Những môi trừơng giáo dục khác
62.
Gia đình công giáo, như là "Giáo Hội
tại gia" cũng cần thành một trường học tự nhiên và cơ bản
trong việc đào tạo Đức Tin: bậc làm cha mẹ nhận nơi bí
tích Hôn nhân ân sủng và tác vụ giáo dục Công Giáo đôi
với con cái mình, làm chứng trước con cái họ và thông đạt
những giá trị con người và đồng thời giá trị tôn giáo. Khi
tập nói những tiếng đầu tiên, trẻ con cũng học ca tụng Thiên
Chúa, Đấng mà chúng cảm thấy gần gũi như người cha đầy
yêu thương và ân cần; khi học biết những cử chỉ thân ái
đầu tiên, trẻ em cũng học tiếp nhận kẻ khác và nhận ra ý
nghĩa cuộc sống con ngừơl trong sự trao ban chính mình.
Chính cuộc sống thường ngày của một gia đình Công Giáo chân
thực tạo thành "kinh nghiệm Giáo Hội" đầu tiên nhằm
giúp trẻ con vững mạnh phát triển trong việc hội nhập
tích cực và có trách nhiệm vào một cộng đoàn Giáo Hội rộng
lớn hơn và vào xã hội. Vợ chồng và cha mẹ Công Giáo
càng ý thức rằng "Giáo Hội tại gia" của mình tham dự vào
cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội hoàn vũ, thì con cái họ
càng có thể được đào tạo để hiểu "ý nghĩa của Giáo Hội", và
chúng càng ý thức sự cao đẹp của việc hiến dâng sức lực
mình để phục vụ Nước Chúa.
Những trường học và đại học công giáo, cũng
như những trung tâm canh tân đời sống thiêng
liêng ngày nay đang gia tăng số lượng và ngày càng trở
thành quan trọng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nêu lên cho
thấy rằng, trong khung cảnh xã hội và lịch sử ngày nay
chúng ta đang sống, được chứng kiến một cuộc biến đổi văn
hóa sâu rộng, việc tham gia của phụ huynh Công Giáo và
đời sống của học đường chưa lấy gì làm đủ. Cần phải
chuẩn bị các tín hữu giáo dân để họ hiến thân vào công tác
giáo dục như hiến thân vào một công tác của chính Giáo
Hội. Cần thành lập và phát tnển "những đoàn thể giáo dục"
gồm thành phần phụ huynh, nhà giáo, linh mục, tu sĩ,
nam nữ, và đại diện giới trẻ. Và để trường học có thể thi
hành chức phận giáo dục của mình một cách xứng đáng, các
tín hữu giáo dân cần phải ý thức rằng việc dấn thân đòi
buộc mọi người, cũng như cổ động cho mọi người biết về
quyền tự do giáo dục thật sự, kể cả việc (thể hiện nền tự do
đó qua phương tiện của qui chế lập pháp dân sự thích
ứng.(220)
Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tỏ ra ưu ái và
khích lệ tất cả những tín hữu giáo dân, nam nứ,
đang đảm trách công tác giáo dục trong trường học hay các
cơ sở huấn luyện, với một tinh thần công dân và Kitô
hữu sâu sắc. Ngoài ra, các Ngài đã nhấn mạnh rằng các
tín hữu giáo dân làm giáo viên hoặc giáo sư tại các trường
học khác nhau, Công Giáo hay không Công Giáo, cần gấp trở
thành những người chứng trung thực của Phúc âm, bằng
gương sáng của đời mình, khả năng và lương tâm chức
nghiệp, cảm hứng Công Giáo trong việc giảng dạy - dĩ
nhiên - cần tôn trọng tính cách độc lập của các ngành và bộ
môn khoa học khác nhau. Vấn đề đặc biệt quan trọng là
việc nghiên cứu khoa học và kỹ thuật do các tín hữu giáo
dân đảm trách phải lấý việc phục vụ con người toàn diện
với các giá trị và yêu sách của nó làm tiêu chuẩn: Giáo Hội
trao phó cho các tín hữu giáo dân này nhiệm vụ giải thích
cho mọi người hiểu được mối tương quan mật thiết giữa Đức
Tin và khoa học, giữa Phúc âm và văn hóa con người.
(221)
Chúng ta đọc thấy đoạn văn này: "Thượng Hội
Đồng này kêu gọi đến vai trò rao giảng của các
trường học và đại học Công Giáo và ca ngợi sự tận tâm của các
giáo chức và thành phần giáo sư, phần lớn ngày nay là
giáo dân, để họ có thể đào tạo tại các cơ sở giáo dục Công
Giáo những con người, nam cũng như nữ, biết thâm nhập:
"điều răn mới". Sự hiện diện đồng thời của các linh mục và
giáo dân, cũng như nam nữ tu sĩ cống hiến cho sinh viên
một hình ảnh sống động của Giáo Hội, và làm cho họ ý
thức dễ dàng hơn kho tàng phong phú đó. (Bộ Giáo dục Công
Giáo, "Người giáo dân trong ngành giáo dục, chứng tá
Đức Tin trong các trường học").(222)
Các nhóm, các hiệp hội và các phong trào
cũng có một chỗ đứng trong việc đào tạo các tín hữu
giáo dân. Thật thế, mỗi một tập thể có những phương pháp riêng,
tất cả có thể cống hiến một lôí đào tạo đi sát với chính
kinh nghiệm của đời tông đồ. Chúng lại có cơ hội để bổ túc,
cụ thể và chuyên biệt hóa công việc đào tạo mà các thành
phần trong đó thu thái được do những bậc thầy khác nhau và
đoàn thể khác nhau.
VlỆC ĐÀO TẠO HỖ TƯƠNG GlỮA: CHO VÀ NHẬN
63. Công trình đào tạo không phải là đặc ân
của một nhóm người, nhưng là một quyền lợi và bổn
phận của mọi người. Vê vấn đê này, các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng đã yêu cầu " phải làm sao để mọi người , nhất
là những kẻ nghèo khó có thể hưởng được công trình đào tạo,
để mọi người chính mình có thể trở thành những nguồn đào
tạo cho tất cả"; và các Ngài nói thêm: "Đối với việc
đào tạo, nên xử dụng các phương thế thích ứng giúp cho Kitô
hữu thể hiện hữu hiệu hơn ơn gọi toàn vẹn làm người và
làm Kitô hữu nơi họ." (223)
Để thực thi một đường lôí mục vụ thật sự
hữu hiệu, cần cổ động việc đào tạo những nhà giáo dục
bằng cách tổ chức các chương trình và các trường chuyên môn.
Đào tạo những người để sau đó đến phiên họ lại đào tạo
các tín hữu giáo dân khác là một yêu sách tôí cần thiết để
bảo đảm công việc đào luyện sâu rộng, toàn thể những
người tín hữu giáo dân.
Trong công trình đào luyện, cần lưu ý đặc
biệt đến văn hóa địa phương, thể theo lời yêu cầu công
khai của Thượng Hội Đồng "việc đào tạo các Kitô hữu sẽ phải
lưu ý nhiều hơn nữa về nền văn hóa địa phương, vì chính
nền văn hóa đó đóng góp vào việc đào tạo; và công việc
đào tạo phải hướng dẫn ta thẩm định các giá trị đã hàm
chứa trong nền văn hóa cổ truyền cũng như những gìá trị
tìm thấy trong nền văn hóa tân thời. Phải lưu ý đến tình
trạng có nhiều nền văn hóa khác nhau, có thể đang cùng
sinh tồn trong một dân tộc, trong một quốc gia. Giáo Hội
Mẹ và Thầy của các dân tộc, phải cố gắng cứu vãn (nếu có
trường hợp đó xảy ra) nền văn hóa của các nhóm thiểu số
đang sống ở giữa các quốc gia rộng lớn."
(224)
Trong công trình đào tạo, một vài điều xác
tín đặc biệt được xem là cần thiết và hữu ích. Trước hết
cần xác tín rằng không thể có việc đào tạo thật sự và
hữu hiệu nếu mỗi người không tự đảm trách và khai triển
trách nhiệm đào tạo chính mình. Vì tất cả các công trình
đào tạo thiết yêú phải là "tự đào tạo lầý mình".
Sau đó, xác tín rằng mỗi người trong chúng
ta là kết qủa và là nguyên tắc của việc đào tạo:
Chúng ta càng được đào tạo hoàn hảo bao nhiêu, thì chúng ta
lại càng có khả năng đào tạo kẻ khác bấy nhiêu.
Điểm quan trọng đặc biệt là nên ý thức rằng
công trình đào tạo, dĩ nhiên không thể bỏ qua việc cần
đến trí thông minh con người nhờ vào các phương tiện và
phương pháp của các nền khoa học nhân văn. Nhưng nó chỉ
có thể hữu hiệu một khi ta sẵn sàng tiếp nhận tác động
của Thiên Chúa. Chỉ có cành nào không sợ để cho người
làm vườn nho cắt tỉa mới mang nhìêu hoa tráì cho
chính mình và cho kẻ khác.l
TIẾNG GỌI VÀ LỜI CẦU NGUYỆN
64. Để kết luận văn kiện hậu Thượng Hội
Đồng này, một lần nữa Ta nhắc lại lời mời gọi của
"Người chủ vườn nho" mà Phúc âm nói đến: Các người cũng
thế, hãy đi đến vườn nho của Ta. Ta có thể nói ý hướng của
Thượng Hội Đồng về ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân thực
sự nằm trong lời mời mà Chúa nói với tất cả mọi người,
và đặc biệt với người tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ.
Những công việc của Thượng Hội Đồng đã đem
lại cho tất cả các vị tham dự một kinh nghiệm
thiêng liêng sâu đậm: kinh nghiệm của Giáo Hội, dưới ánh
sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, hằng lưu ý tìm tòi và
đón nhận lời kêu gọi liên lỉ của Chúa, để đem lại cho
thế giới ngày nay một lần nữa cuộc sống thông hiệp của mình
và sức năng động của sứ mệnh cứu độ nơi mình. Công việc
đó được thể hiện qua việc chân nhận chỗ đứng và vai trò
đặc biệt của người tín hữl giáo dân.
Thượng Hội Đồng này mà Tông Huấn của Ta
muốn phổ biến cho các Giáo Hội rải rác khắp thế
giới, sẽ có hiệu quả bằng hành động tiêp nhận thực sự của toàn
Dân Chúa, và đặc biệt các tín hữu giáo dân.
Vì thế, Ta kêu gọi tất cả và mỗi một người
hãy luôn làm cho ý thức của mình về cuộc sống Giáo Hội
được sống động trong tầm hồn và trong đời sống của mình, ý
thức mình là phần tử của Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô,
tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông và sức-năng-động trong
công tác tông đồ và truyền giáo của Giáo Hội.
Điều quan trọng hơn hêt là, tất cả Kìtô hữu
phải ý thức về phẩm gìá kỳ diệu mà bí tích Rửa Tội đem
lại cho họ: nhờ ân sủng, chóng ta được gọi để trở nên những
ngườí con sủng ái của Chúa Cha, những chi thể gắn
líền với Chúa Kitô và Giáo Hội Ngàì, nhưng đền thờ sống
động và thánh thiện của Chúa Thánh Thần. Một lần nữa, một
cách xúc động và đầy lòng biết ơn, chúng ta hãy lắng
nghe những lời nói cúa Thánh Gioan Tông Đồ Thánh Sử:
"Anh em hãy xem tình yêu mà Chúa Cha đấ ban eho chúng
ta lớn lao ngày nào, đên nỗi chúng ta được gọi làm con
cái của Thiên Chúa, và chúng ta là con thật!" (1 Jn.
3:l).
"Đìêu mới lạ này của Công giáo" ban cho các
phần tử Giáo Hội đối với mọi người là nền tảng của
việc tham dự vào chức tư tê, rao giảng và vương giả của
Chúa Kitô, và cũng là nền tảng của ơn gọi ơn thánh trong
tình yêu. Điều mới lạ đó được biểu lộ và thể hiện trong
những người tín hữu giáo dân thể theo "tính cách trần thể'
, là đặc nét riêng tư và cá biệt của họ".
Ý thức Giáo Hội bao gồm sự hìểu biết về Mầu
Nhiệm Gìáo Hội Hỉệp Thông, đồng thời vởi ý thức
gỉá trì Công Gìáo của mọi người. Đó là một khía cạnh
căn bản và quyết định cho đời sóng và sứ mệnh của Giáo Hội.
Đôí với mọi người cũng như từng người một, lời cầu khẩn
khoản của Chúa Giêsu trong buổi Tiệc ly: "Xin cho họ
nên một! " (Jn.17.21), phải trở nên một chương trình bó
buộc không thể sao lãng trong đời sống và hành động hằng
ngày.
Ý nghĩa sống động của việc thông hiệp trong
Giáo Hội là ơn của Chúa Thánh Thần, đòi hỏi ta một
sự đáp ứng tự do. Nó sẽ làm nẩy sinh hoa trái quí giá,
tức là việc phôí hơp nhịp nhàng, trong Giáo Hội "duy nhất và
Công Giáo", tính cách khác biệt phong phú của các ơn gọi và
các hoàn cảnh sống, các đoàn sủng, các thừa-tác-vụ, các
công tác và trách nhiệm; hoa trái đó cũng là việc hợp tác đầy
xác tín và quyết tâm hơn nơi các nhóm, các hiệp hội và các
phong trào của các tín hữu giáo dân trong việc liên đới
chu toàn sứ mạng cứu độ chung của chính Giáo Hội. Sự hiệp
thông đó, tự nó đã là một dấu chỉ lớn lao đầu tiên sự hiện
diện của Chúa Kitô Cứu Độ nơi trần thê, đồng thời, nó trợ
lực và khích lệ hoạt động tông đồ trực tiêp và sinh hoạt
truyền giáo của Giáo Hội.
Trước ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên,
toàn thể Giáo Hội, Chủ chăn, cũng như tín hữu, phải nhận
ra một cách mạnh mẽ hơn nữa trách nhiệm của mình là
vâng theo mệnh lệnh của Chúa Kitô: "Các con hãy đi khắp
thế giới và rao giảng Tin Mừng cho muôn dân" (Mk. 16.15),
là tái tạo một phương pháp truyền giáo mới. Giáo Hội được
giao phó để thực hiện một công trình có tầm vóc lớn
lao, khó khăn và cao cả: đó là việc tiến hành "một hình thức
rao giảng Phúc âm mới" mà thế giới ngày nay đòi hỏi một
cách cấp thiết. Tín hữu giáo dân phải thấy rằng mình là
phần tử tích cực trong công cuộc đó. Họ được gọi để loan báo
và sống Phúc âm, bằng công tác phục vụ con người và xã
hội trong tất cả những giá trị và đòi hỏl của nó. Thượng Hội Đồng các Giám Mục, đấ được tổ
chức vào tháng Mười năm Thánh Đức Mẹ, đặc biệt giao
phó các công việc của mình vào sự cầu bầu của Thánh Nứ
Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Nay Ta cũng xin chính Ngài
cầu bầu cho các thành quả của Thượng Hội Đồng được gặt
hái những hoa trái thiêng liêng. Đến phần cuôí văn
kiện hậu Thượng Hội Đồng này, hiệp thông với các Nghị Phụ
và các tín hữu giáo dân hiện diện trong Thượng Hội Đồng,
và với tất cả các thành phần khác của Dân Chúa, Ta dâng
lên Đức Trinh Nữ lời khẩn cầu sau đây:
Lạy Nữ Trinh rất thánh,
Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội,
Chúng con vui mừng và phấn khởi,
Hiệp thông với lời kinh Ngợi Khen của
Mẹ,
Một bài ca tình yêu và cảm tạ.
Cùng với Mẹ, chúng con cảm tạ Thiên
Chúa,
"Tình yêu của Ngài trải qua đời nọ đên
đời kia"
Cảm tạ Chúa vì ơn gọi vinh quang,
Và vì nhiều sứ mệnh Chúa đã giao phó cho
người tín hữu giáo dân,
Chúa gọi họ, gọi đích danh từng người
một,
để họ sống thông hiệp tình yêu
và thánh thiện với Chúa,
để họ liên kết vđi nhau trơng tình anh
em
trong đại gia đình con Chúa.
Chua cũng sai họ đi chiếu giãi
ánh sáng của Đức Kitô,
và đôt ngọn lửa của Thần Linh Thiên Chúa
trong tât cả các lãnh vực
của cuộc sống trần thế
bằng chính đời sống Phúc âm của mình.
Lạy Trinh Nữ của bài ca Ngợi Khen,
xin hãy đổ đầy tâm hồn họ
lòng biết ơn và niềm hứng khởi
đôí với ơn gọi và sứ mệnh này.
Mẹ đầy khiêm tốn và độ lượng,
là "Nữ Tỳ của Thiên Chúa"
xin trao ban cho chúng con lòng khao
khát
phục vụ Thiên Chúa và cứu độ
thế giới của Mẹ.
Xin mở rộng lòng chúng con,
để đón nhận những chân trời bao la
của Nước Chúa
và của việc truyền bá Phúc âm
cho mọi tạo vật.
Môí từ tâm của Mẹ
không ngừng lo lắng
khi chứng kiến nhiều nguy nan,
nhiều sự dữ vô kể,
đang đè nặng trên anh chị em chúng con
trong thời đại hôm nay.
Nhưng Trái Tim của Mẹ cũng lưu ý đến
nhiều sáng kiên,
được khởi xướng để thực hiện những lợi
ích
những nguyện vọng lớn lao
thực hiện các giá trị
và những tiến bộ khả quan
phát sinh hiệu quả Cứu Độ.
Lạy Đức Trinh Nữ can trường,
xin thêm sức mạnh cho tâm hồn chúng con.
Xin hướng niềm trông cậy của chúng con
vào nơi Chúa,
để chúng con thắng vượt
được tất cả những trở ngại
mà chúng con gặp phải
trên bước đường hoàn thành sứ mệnh của
chúng con
Xin dạy chúng con biêt sống
những thực tại trần thế, với tinh thần
sâu sắc
và trong niềm hy vọng hoan hỷ
Ngày Nước Chúa đên,
và ngày Trời Mới và Đất Mới được mở ra.
Mẹ cùng với các Tông Đồ cầu nguyện,
nơi nhà Tiệc Ly trông chờ Thánh Thần Chúa hiện xuống,
Mẹ hãy xin Ngài, ngự xuống tràn đầy
trên tất cả tín hữu giáo dân nam nữ,
để họ hết lòng đáp lại ơn gọi và sứ mệnh
của họ.
Như cành nho của cầy nho thật,
được gọi để mang nhiều hoa trái
cho cuộc sống trần thế.
Lạy Mẹ Đồng Trinh,
Mẹ hãy dẫn dắt và nâng đỡ chúng con
để chúng con luôn sống
như những người con nam, nữ
của Giáo Hội của Con Mẹ,
và để chúng con có thể tiếp tay
vào việc xây dựng nền văn minh của chân
lý
và của tình yêu trên thế giới,
theo ước nguyện của Thiên Chúa
và để làm Sáng Danh Ngài muơn đời. Amen
Ban hành tại Rôma cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô,
ngày 30 tháng 12 năm 1988 Lễ Thánh Gia Chúa
Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse
Năm thứ Mười Một triều đại
Giáo Hoàng của Ta
JOANNES PAULUS PP II
CHÚ THÍCH
209- Propositio 40
210- "Dabit Virtutem, qui contulit
dignitatem " ( = Đấng đã ban cho các ngươi phẩm giá đó, thì cũng
ban cho sứ mạng)- (Thánh Lêo Cả, Serme. II,1.)
211- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam
Actuositatem, 4
212- Vaticanô II- Hiến chế Gaudium et Spes,
43, xem SL. Ad Gentes 21; Phaolô VI- T.H: Evangelii
Nuntiandi, 20; AAS 68 (1976) 19.
213- Gioan-Phaolô II- Diễn văn đọc trước
những người tham dự Hội nghi của phong trào dấn thân
văn hóa trong Giáo hội (M.E.I.C) (16-01-1982). Insegnamenti V,1 (1982) 131. Cũng xem thư gửi Hồng Y Agnostinô
Casaroli, Quốc vụ khanh, thiết định qui chế của Hội đồng
Giáo hoàng về Văn hóa (20-5-1982): AAS 74 (1982), 685- Diễn văn đọc trước Cộng đồng đại họe Louvain ( 20- 5-
1985): Insegnamenti
VIII -1 (1985) 1591.
214- Vaticanô II- Sắc lệnh Apostolicam
Actuositatem, 4
215- Propositio 22. Cũng xem
Gioan-Phaoloâ II, Tđ. Sollicitudo rei
Socialis, 41, AAS 80 (1988) 570-572.
216- Vaticanô II- Sắc lệnnh
Apostôlicam Actuositatem,
217- Thánh
Mêthôđô Olympê- Symbolisio
II,8.
218- Xem Propositio 11
219- Propositio 40
220' Xem Propositio 44
221- Propositio 45
222- Propositio 44
223-
Propositio 41
224- Propositio 42
Nhập đề -
Chương Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
|