|
TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI
của Đức Giáo
Hoàng Gioan Phao Lo II
Về ƠN GỌI và SỨ
MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong
Giáo Hội và giữa Trần Thế
Bản
dịch của Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Trung Tâm Anrê
Phú Yên, Học Viện An Đức
Nhập đề -
Chương Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
Gởi các Giám Mục
Các Linh mục và Phó tế
Các tu sĩ nam nữ
Tất cả tín hữu giáo dân
NHẬP ĐỀ
1.
"ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH CỦA
NGƯỜI TÍN HƯU GIÁO DÂN
(Chistifldeles laici) , trong Giáo Hội và thế
giới" đã được Thượng Hội Đòng
Giám Mục năm 1987 dùng làm đề tài thảo luận.
Mọi tín hữu đều thuộc về Dân Chúa và Dân
Chúa là những thợ làm vườn nho được đề cập đến
trong Phúc âm thánh Mathêu: "Nước
Trời giơng như chủ nhân vườn nho lúc tảng
sáng ra dí tìm thợ làm vườn nho. Ông
đồng ý trả cho họ một đồng
mỗi ngày và đưa họ vàolàm vườn nho mình" (Mt. 20:1-2).
Dụ ngôn Phúc âm mô tả trước mắt chúng ta vườn nho
mênh mông của Chúa và đoàn lũ người gồm đàn ông đàn
bà mà Ngài gọi và sai vào làm việc.
Vườn nho đó là toàn thể thế giới (Mt. 13:38),
và thế giới này phải được biến đổi theo ý
định của Thiên Chúa trong một viễn ảnh
của vương quôc
Người vào ngày thế mạt.
CÁC ÔNG CŨNG THẾ,
HÃY VÀO LÀM VươN NHO CHO TA.
2. "Vào lúc 9 giờ chủ nhân
lại ra và thấy nhiều người
khác còn đứng tại chỗ không có việc
làm. Ông bảo họ: "Các
ông cũng thế hãy vào làm trong vườn
nho cho Ta" (Mt.20.3-4).
Lời mời gọi của Chúa Giêsu, từ xa xưa ấy
trong lịch sử, vẫn còn luôn luôn vang dội
đến tai chúng ta: Ngài mời gọi hết mọi người
đến trong thế gian này.
Trong thời đại chúng ta, Giáo Hội sau Công Đồng Vaticanô
Il, như một lễ Hiện Xuống mới với ơn Chúa Thánh
Thần đổ xuống tràn trề, đã nhận thức sâu sắc về bản tính
truyền giáo của mình, và đã ngoan ngoãn lắng nghe tiếng
Chúa sai đí vào trần thế, như "bí tích
cứu rỗi mọi người" .(1)
Cả các ngươi nữa. Lời mời gọi không chỉ nói
với các Chủ chăn, linh mục, các tu sĩ nam nữ,
nhưng nói với hết mọi người: người tín hữu
giáo dân, cũng được Chúa mời gọi đích danh.
Họ cũng nhận một sứ mệnh đối với Giáo Hội và
đối với thế giới. Thánh Grêgôrió Cả cũng đã nhắc lại điều
đó khi chú giải dụ ngôn này trong bài giảng.
"Anh em thân mến,
anh em hãy kiểm điểm lại cách sông của mình, và
xét lại xem anh em có phải là nhữg
người thợ của Chúa. Mỗi người hãy
phán đoán việc mình làm và kiểm điểm xem
có phải là mình đang
làm việc trong vườn nho của Chúa". (2)
Công Đồng đã thừa hưởng một gía sản tín lý, linh hướng
và mục vụ vô giá, vì thế Công Đồng đã viết ra những trang
tuyệt diệu về bản tính, về phẩm giá, về linh hướng, về sứ
mệnh và trách nhiệm của ngườí tín hữu giáo dân. Và
các Nghị Phụ Công Đồng, đáp lại lời mời gọi
củn Chúa Kitô, đã lên tiếng kêu cầu mọi
người giáo dân, nam cũng như nữ vào làm việc
trong vườn nho của Ngài: "Thánh Công Đồng,lấy
danh nghĩa Chúa, hêt lờng kêu cầu mọi giáo dân hãy
tình nguyện và hăng hái đại độ đáp
lại lời mời của Chúa Kitô là Đâng chính
trong lúc này đang mời gọi họ một cách khẩn
khoản, cũng như đáp lại sự thúc dẩy của Chúa Thánh
Linh. Riêng với giới trẻ, họ phải cảm nghiệm rõ ràng là
tiêng mời gọi ấy đặc biệt dùng cho họ,
và tiếp nhận nó với
niềm hân hoan và lòng quảng đại. Chính Chúa dã dùng
Công Đồng để thôi thúc mọi giáo dân
mỗi ngày phải kết hợp với Ngài mật thiết hơn
và coi lợi ích của Chúa như chính
lợi ích của mình (Phil. 2:5), phải hợp tác
sứ mệnh Cứu rỗi của Ngài. Một lần nữa, Ngai
lại sai họ vào các
thị thành, các nơi chỗ mà chính Ngài sẽ đên
(Lc. 10.1; Ap-Act) (3)
Các ông cũng thế, hãy vào làm vườn nho cho Ta. Về
mặt thiêng liêng, những lời này đã
vang vọng suốt cả thời gian Thượng Hội Đồng
Giám Mục tại Rôma từ ngày 1 đến 30 tháng 10
năm 1987. Các Nghị Phụ theo vết chân của
Công Đồng, hơn nữa với kinh nghiệm bản thân cũng như
kinh nghiệm từ các Công đồng của toàn thể Giáo Hội; nhấtlà nhờ
sự đóng gúp dồi dào của các Thượng Hội Đồng trước,
các vị đã nghiên cứu một cách uyên thâm ơn gọi và sứ mệnh
của giáo dân trong Giáo Hội và thế giới.
Trong Thượng Hội Đồng này, còn có các vị đại
diện giáo dân nam nữ. Họ
đã đem lại cho Thượng Hội Đồng những đóng
góp quý giá. Trong bài giảng bế mạc, Thượng Hội
Đồng đã xác nhận : "Chúng ta cảm ơn
Chúa vì suôt khóa họp
Thượng Hội Đồng này không những chúng ta đã vui
mừng đón nhận sự tham dự của giáo dân (dự thính viên
nam nử), hơn nữa trong lúc bàn cãi còn được nghe tiếng
của những dại diện giáo dân khắp nơi
trên thế giới tới từ các
quôc gia khác nhau. Nhờ đó, chúng ta có dịp
lắng nghe những kinh nghiệm, ý kiên và đề
nghị của họ phát xuất từ lòng tha thiết với
quyền lợi chung" (4)
Duyệt lại những năm sau
Công Đồng, các Nghị Phụ đã có thể xác nhận được
việc Chúa Thánh Thán đang làm là tiếp tục canh tân Gìáo
Hội, tạo nên sức sống thánh thiện mới với sự tham gia của
một số đông tín hữu giáo dân. Víệc tham gia này được thể
hiện trơng nhiều hình thức. Thí dụ: hợp tác mới giữa lỉnh
mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân; tham dự tích cực vào phụng
vụ, vào việc rao truyền Lời Chúa, vào việc dạy giáo lý;
chu toàn một cách tốt đẹp những nhiệm vụ hay công tác
phục vụ trao phó cho tín hữu giáo dân; phát triển các
nhóm, các đoàn thể, các phong trào Công Giáo tiến hành và
thiện nguyện, và việc nứ giới tham gia một cách rộng rãi
và nổi bật vào đời sống Gỉáo Hộí, và sự phát triển của xã
hội.
Nhưng đồng thời, Thượng
Hội Đồng cũng không quên nhận thấy con đường
hậu Công Đồng của người tín hữu giáo dân không phải là
không có nhìêu chông gai nguy hiểm. Trong thực tế, có
thể nói đến hai thử thách mà không phải lúc nào họ cúng dễ
dàng vượt qua: đó là hăng say phục vụ đến độ quên sót bổn
phận riêng của mình trong phạm vi nghề nghiệp, xã hội,
kinh tế, văn hóa hay chính trị, hoặc tìm cách hợp-thức-hóa
để tách rời Đức Tin ra khỏi đời sống, đó là phân tách Phúc âm
ra khỏi hoạt động cụ thể trong những phạm vi xã hội.
Suất thời gian nghìên cứu, Thượng Hội Đòng luôn luôn đề cập đến Công Đồng
Vaticanô II, vì các giáo huấn của Công Đồng về vai trò giáo dân, mặc dù đã sau hai chục năm vẫn luôn hơp thời một
cách lạ lùng, mang dâu chỉ của lời tiên tri: Một giáo huấn
như thế có thể soi sáng và hướng dẫn để giải đáp vấn đề
mới của thời đại hôm nay. Thật vậy,
các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã vạch rõ được những con đường chắc
chắn để "lý thuyết" phong phú về vai trò giáo dân, từng được Công Đồng
trình bày, được "áp dụng" trong Giáo Hội. Mặt khác, cũng có những vấn
đề phải đặt ra vì tính cách "hơp thời", nói một cách khác, là các vấn
đề hậu công Đồng. Ít nữa theo nghĩa thời gian, những vấn đề này, các
Nghị Phụ đã đặc biệt chú trọng đến suốt trong thời gian bàn cãi và suy
nghĩ. Trong những ván đề đó, phải nói đến những liên hệ giữa các
thừa-tác-vụ và chức-vụ của người tín hữu giáo dân hiện tại và trong
tương lai, sự bành trướng và triển nở các "phong trào" mới bên cạnh
các hình thức hiệp hội giáo dân đã có, và vị thế cùng vai trò của phụ
nữ trong Giáo Hội cũng như trong xã hội.
Sau khi đã sốt sắng hoàn thành công việc với đầy khả năng và thiện tâm
thiện chí, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã bày tỏ và xin Ta, vào một
thời điểm thuận tiện, trình bày cho Giáo Hội hoàn vũ một tài liệu tóm
lược, đúc kết về hàng giáo dân Công Giáo.(5)
Bức Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng và Công Đồng này muốn làm bật nổi
giá trị công việc của Thượng Hội Đồng, từ "các đường hướng" (Lineamenta)
đên "phương tiện làm việc" (Instrumentum laboris), từ bản tường trình
nhập đề đến các lời phát biểu của mỗi Gíám Mục và giáo dân, cả đến
biên bản đúc kết sau cuộc tranh luận chung, từ những cuộc thảo luận và
tường trình của các nhóm nhỏ cho đến "đề nghị", và cả sứ điệp kết thúc.
Tài liệu này của Ta không nằm ngoài lề Thượng Hội Đồng Giám Mục, nhưng
là những lời diễn tả mạch lạc và trung thực của Thượng Hội Đồng; là
hoa trái của việc làm tập thể mà giai đoạn chót là soạn thảo một bản
tường trình, nhờ những đóng góp của Hội Đồng Văn Phòng Tổng Thư Ký
Thương Hội Đồng và của chính Văn Phòng
Mục đích của Tông Huấn này là khơi dậy và nuôi dưỡng một ý thức rõ
ràng hơn về ân huệ và trách nhiệm mà mọi tín hữu giáo dân lãnh nhận
trong sự thông hiệp, và sứ mệnh của Giáo Hội.
NHỨNG NHU CẦU KHẨN THlẾT
CỦA THẾ GlỚl NGÀY
NAY: "TAl SAỌ CÁC NGUỜl ĐỨNG ĐÂY
SUỐT NGÀY MÀ CHẲNG
LÀM Gì?"
3. Ý nghĩa
căn bản của Thượng Hội đồng, và kết quả rất
quý giá và rất mong đợi của nó, là dẫn đưa
tín hữu giáo dân đến lắng nghe Đức Kitô đang
mời gọi họ vào làm việc trong vườn nho của
Ngài, và cộng tác một cách hăng say đầy ý
thức trách nhiệm trong sứ mệnh của Giáo hội, giữa
giai đoạn vừa rực rỡ cũng
vừa bi thảm của lịch sử, trước
ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên.
Những hoàn cảnh đổi mới trong Giáo Hội cũng như của
thế giới, trong thực tại xã hội, kinh tế chính trị và văn hóa
hôm nay đòi hỏi một cách đặc biệt hoạt động của người tín
hữu giáo dân. Nếu trước đây ai làm ngơ bổn phán này là
điều không thể chấp nhận được, thì hiện giờ thái độ lại
càng đáng bị khiển trách hơn . Không ai được phép
ở không, không làm
gì.
Chúng ta hãy đọc lại dụ ngôn Phúc âm: "Vào
lúc năm giờ chủ
nhân lại đi ra, ông còn gặp một số
người khác đứng
đấy và người bảo họ: "Tại sao
các ông Còn đứng
đây, suốt ngày
không làm gì cả. " Họ trả lời. "Vì
không ai mướn chúng tôi".
Ngài bảo: "Các ông
cũng thế, hãy vào làm vườn nho
của Ta" (Mt. 20. 6- 7).
Khi mà trong vườn nho của Chúa đầy tràn công việc đang
đợi chờ tất cả chúng ta, thì không ai được
biếng nhác. "Chủ nhân vườn nho" lại còn khẩn
khoản đi mời lại: "Các
ông cũng thê, hãy vào làm vườn nho cho Ta".
Chắc chắn lời của Chúa vẫn vang vọng trong thâm tâm
của mỗi người Công Giáo. Bỡi vì mỗi người đã được trở nên
giống như Đức Kitô nhờ Đức Tin và các bí tích khai tâm
Kitô giáo, đã được ghép vào Giáo Hội như một phần thân
thể sống động và đã trở nên một công dân linh
hoạt của sứ mệnh cứu rỗi. Tiếng gọi của Chúa
cũng đã được lưu truyền qua các biến cố lịch
sử Giáo Hội và nhân loại, như Công Đồng nhắc
nhở chúng ta: "Dân Chúa nhờ Đức Tìn thúc
đẩy biết rằng Thánh Linh Chúa chiếu sáng khắp vũ trụ
đang hướng dân mình, đã cố gắng nhìn nhận trong các
biến cô, những đòi hỏi và ước vợng của thời đại chúng ta,
và cũng là những đòi hỏi, uớc vọng
của mình, đâu là dấu chỉ chân thật của sự
hiện diện và ý định Thiên Chúa. Bởi vì Đức
Tin cho chúng ta một ánh sáng mới, để nhìn xem
mọi sự và
giúp chúng ta biết được ý muôn của Chúa về ơn
gọi toàn diện của con người, hướng tâm trí đi tìm những
giải pháp hoàn toàn nhân bản". (6) (Vui
Mừng và Hy Vọng -Gaudium et Spes 11)
(7)
Phải can đảm nhìn vào bộ mặt của thế giới này, là thế
giớí của chúng ta, với tất cả những giá trị, những vấn đề
của nó, với tất cả những lo âu những hy vọng, những thành
qủa chinh phục và những thất bại của nó: một thế giới với
hiện tình kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa đầy dẫy các
vấn đề và khó khăn nguy ngập hơn cả tình trạng được mô
tả trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng. Dù sao, đây là vườn nho, là mảnh đất mà người tín hữu giáo
dân
đươc goi để sống sứ mệnh của mình. Chúa Giêsu muốn cho
họ như Ngài đã muốn cho các môn đệ của Ngài, trở nên
muối đất và ánh sáng của thê gian (Mt. 5.13-14).
Nhưng "địa cầu", "trần thế" mà người tín hữu phải là
"muối mặn", phải là "ánh sáng", bộ mặt nó như thế nào?
Thế giới hôm nay thay đổi mau lẹ, có nhiều tình trạng
khác biệt nhau nên có nhiều cách đặt vấn đề. Vì thế phải
thận trọng không nên "vơ đũa cả nắm", cũng không nên
đơn-giản-hóa quá đáng. Nhưng cũng có thể ghi được một
vài khuynh hướng đang phát sinh trong xã hội ngày nay.
Cũng như trong cánh đồng Phúc âm cỏ dại và giống tốt
cùng đồng thời mọc lên, trong lịch sữ là hí trường của tự
do con người cũng thế, điều thiện, điều ác, bất công và công
lý, lo âu và hy vọng cùng đi song đôi, có khi lại quyến chặt vào nhau.
Tục hóa và nhu cầu tôn giáo
4. Làm sao chúng ta không nghĩ đến tình trạng lãnh
đạm đối với tôn giáo đang phổ biến không ngừng và thuyết
vô thần dưới nhiều hình thức khác nhau, nhất là dưới hình
thức rất phổ thông là phong trào tục hóa? Con người say
mê theo những cuộc chinh phục ngơp trời của khoa học,
kỹ thuật tung hoành không giới hạn, và nhất là lâng lâng
theo chước cám dỗ, một chước cám dỗ vừa rất cũ nhưng
vẫn mới luôn, là muốn đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa
(Gn. 3:5) bằng việc sử dụng tự do của mình một cách bừa
bãi. Con người như thế đã tự chặt đứt căn rễ sâu xa tôn
giáo của mình; họ đã bỏ quên Thíên Chúa, cho rằng Thiên
Chúa không có một ý nghĩa gì đỗi với cuộc sống của họ,
hoặc chối bỏ Ngài để sấp mình thờ lạy đủ mọi thứ "tà thần" .
Chủ thuyết tục hóa hiện tại, là một hiện tượng rất
nghiêm trọng. Không những nó làm tổn thương đến cá
nhân, nhưng còn đến cả những cộng đồng, như Công Đồng
đã ghi; "Nhiều đoàn lũ ngày càng đông đảo rời xa tôn giáo
trong đời sông thực tê".(8) Chính Ta cũng đã nhiều lần nhắc nhở, hiện tượng tục hóa
đã đánh ngã nhiều dân tộc có truyền thống Công Giáo
rất xa xưa, và hiện tượng này đòi hỏi phải cấp tốc có một tổ chức truyền giáo mớí.
Nhưng, ước vọng và nhu
cầu tôn giáo không thể hoàn toàn mai một. Lương tâm
mỗi người khi họ có can đảm đương đầu với những ván
nạn rất hệ trọng của cuộc sống, nhất là vấn nạn về ý
nghĩa cuộc sống, ý nghĩa đau khổ và sự chết, họ không thể
ngần ngại kêu lên như thánh Augustinô: "Lạy Chúa,
Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế tâm hồn con
khơng thể an nghỉ cho đến khi được
nghỉ an trong Chúa".(9) Như vậy, thế giới hôm nay, dưới nhiều hình thức ngày
càng phổ bìến, ngày càng linh động, họ đã làm chứng rằng
con người đang mở mắt nhận ra cuộc sống có cái gì thiêng
liêng và siêu việt, trở về với ý thức thần thánh qua việc cầu
nguyện, và đòi hỏi tự do kêu cầu danh Chúa.
Nhân vị con ngườì: Phẩm giá bị chà đạp và
được ca tụng.
5. Chúng ta hãy nghĩ
đến vô số điều xúc phạm đến phẩm giá con người. Khi phẩm
giá con người là hình ảnh sống động của Thiên Chúa
không được nhìn nhận và yêu thương (Jn. l:26), thì họ bị
trở nên công cụ, nô lệ cho bạo quyền dưới nhiều hình thức
thật sai lạc và bỉ ổí. "Kẻ cường bạo" này mang nhìêu bộ mặt
khác nhau: nó là ý thức hệ, là quyền lực kinh tế, hệ thống
chính trí bất nhân, kỹ thuật chuyên chế khoa học, hoặc bá
chủ "phương tiện truyền thông xã hội". Lại một lần nữa
chúng ta thấy trước mắt một số lớn anh chị em chúng ta;
quyền lợi căn bản họ bị cướp đoạt, có
khi là do hậu qủa của thái độ dung túng qúa đáng, có khi là do bất công trắng
trợn của nhung bộ nhân luật: chẳng hạn quyền được sống,
quyền được bảo vệ thân xác toàn vẹn, quyền có nhà ở, việc
làm, quyền lập gia đình và sinh sản con cái với trách nhiệm
làm cha mẹ, quyền tham gia vào đời sống xã hội và
chính trị, quyền hưởng tự do lương tâm và tự do tôn giáo.
Ai có thể kể cho hết số
những trẻ thơ không được chào
đời vì đã bì bóp chết
trong lòng mẹ, những trẻ em bì bỏ rơi
hoặc bị cha mẹ bạc đãi,
nhứng người con lớn lên cô đơn,
thiếu tình thương và
không được giáo dục ? Nhiều nơi,
không có việc làm và
thiếu cả những phương tiện tôl thiểu
để sống một đời sống
xứng đáng là con người. Ngay quanh
nhứng đô thị lớn, vần
còn thấy nổi lên những xóm nghèo
tận mạt, trong đó con
người phải sống trong cùng cực khốn
khổ cả về thể xác lẫn
tinh thần luân lý.
Nhưng tính cách thần
thánh của nhân vị con người
không thể tiêu diệt
được, cho dầu nó phải luôn luôn bị
khinh thị và xúc phạm:
vì nền tảng bất di dịch của nó chính
là Thiên Chúa là Đấng
Tạo Hóa và là Cha; bởi thế tính
cách thần thánh của
nhân vị vẫn luôn cần được tôn trọng.
Cũng nhờ thế mà hiện
nay ý thức về phẩm giá của con
người ngày càng được
minh định và phổ biên sâu rộng. Một
luồng khí lành mạnh tốt
đẹp đang thổi đên và bao trùm các
dân tộc trên thế giới giúp ý thức hơn về phẩm giá con người:
con người không phải là
"một sự vật" hay "một đồ vật" mà
người ta có thể sử dụng,
nhưng nó luôn luôn và độc nhất
là một "chủ thể" có
lương tri và tự do, được mời gọi sống
với tinh thần trách
nhiệm trong xã hội và lịch sử, được đặt
định để hướng về giá
trị thiêng liêng và tôn giáo.
Có
thể xác quyết được rằng thời đạl chúng ta là thời
đại của nhứng "chủ
nghĩa nhân bản". Ngược lại, những
chủ nghĩa phát xuất từ
vô thần và tục hóa lại chủ trương
trái ngược, hạ bệ và
tiêu diệt con người, những chủ thuyết
suy tôn con người quá
đáng đến nỗi rơi vào những hình
thức tôn thờ thần tượng.
Tuy nhiên cũng có những chủ
thuyết đi đúng theo sự
thật, nhìn nhận tính cách vừa cao
cả vừa khốn khổ của con
người, nâng đỡ và hổ trợ phẩm
giá toàn diện của con
người.
Chúng ta có thể nhận ra
dấu hiệu và kết qủa của những
phong trào nhân bản ấy
là con người càng cảm thấy cần
nhu cầu hợp tác. Rõ
ràng đó là một trong những nét đặc
biệt của nhân loại hôm
nay, một "dấu thời gian" chân chính
đang chín mùi trong
nhiều địa hạt, nhiều lãnh vực khác
nhau: nhất là trong
giới phụ nữ, trong giới thanh niên,
trong phạm vi gia đình,
học đường, cũng như trong lãnh
vực văn hóa, kinh tế,
xã hội và chính trị. Nhận lãnh một
vai trò, tự tạo cho
mình thành vị sáng lập một nền văn hóa
nhân bản, đó là một đòi
hỏi đối với cá nhân và chung cho
toàn thể các dân tộc.(10)
Tranh chấp và hòa bình
6. Chúng ta cũng không
thể bỏ qua một hiện tượng
được coi như dấu chứng
của ngày nay: có lẽ hơn bất cứ giai
đoạn nào của lịch sử,
nhân loại hôm nay đang bị lung lay
vì tranh chấp. Đây là
một hiện tượng mang nhiều hình
thức, nó không chỉ là
sự đa diện chính đáng tùy tâm trạng
hay sáng kiến, nhưng là
sự chống đối gây thương tổn giữa
người với người, nhóm
này với nhóm khác, giữa tầng lớp
này với tầng lớp khác,
giữa quốc gia này với quốc gia khác,
và giữa khối này với
khối khác. Sự chống đối này lộ diện với nhiều hình thức của vũ lực, của khủng bố, của chìến
tranh. Một lần nữa, nhưng lần này là một con số đông đảo,
nhiều nhóm người vì muốn phô trương "tôí cao quyền lực"
của mình, đã lập lại kinh nghiệm điên cuồng xây "Tháp
Babel" (Gn. 11:1-9); là một hành động chỉ tạo ra hỗn loạn,
đấu tranh, chia rẽ và áp bức. Gia đình nhân loại vì thế mà
phải đảo lộn và xâu xé một cách thê thảm.
Mặt khác, chúng ta thấy xuất hiện một cách mạnh mẽ
không thể đè bẹp được, ước vọng của mỗi người, của các
dân tộc được lợi ích vô giá của hòa bình trong công chính.
Một trong Tám Mối Phúc Thật của Tin Mừng: "Phúc
cho ai xây dựng hòa bình" (Mt. 5.9) tìm thấy trong nhân loại thời đại chúng ta một âm vang mới mẻ và đặc biệt:
Toàn thề nhân loại ngày nay sống, chịu đau khổ, và lao
động để mang lại hòa bình và công chính. Việc tham dự
của nhiều người và nhiều hội đoàn vào đời sống xã hội ngày
nay đang tiếp nối nhau cách không ngừng như những
phương thế để đem niềm khao khát hòa bình trở thành một
sự thật. Trên cùng một con đường, chúng ta bắt gặp nhiều
tín hữu giáo dân đang quảng đại dấn thân trong nhiều lãnh
vực hoạt động chính trị và xã hội dưới nhiều hình thức
chính trị khác nhau, hoặc một số khác đóng góp ít nhất
một cách vô vị lợi vào những hoạt động này.
ĐỨC GlÊSU KlTÔ, HY VỌNG CỦA NHÂN LOẠl.
7. Hiện tại và tương lai một cánh đồng rộng lớn cần
nhiều canh tác đang xuất hiện trước những công nhân được
gởi tới bởi "chủ nhân" để làm việc trong vườn nho Ngài.
Trong cánh đồng mà Giáo Hội đang hiện diện và hoạt
động này gồm mọi người chúng ta chủ chăn, linh mục, phó
tế, nam nứ tu sỹ và tín hữu giáo dân. Có những tình trạng
trái ngược được lưu tâm cách sâu xa ảnh hưởng đến Giáo
Hội: Chúng tác dụng một phần nào sinh hoạt nhưng không
làm tê liệt hoặc hạn chế thành quả của Giáo Hội. Bởi vì
Thánh Linh, Đấng ban cho Giáo Hội sự sống, sẽ nâng đỡ
hoạt động của Giáo Hội.
Mặc dù có nhiều khó khăn, đình trệ và mâu thuẫn đủ
loại do giới hạn của con người, do tội lỗi và Thần Dữ, Giáo
Hội hiểu rằng mọi nỗ lực của nhân loại để tạo sự hiệp thông
và tham gia hợp tác, rồi ra cũng được đền đáp qua việc can
thiệp của Đức Giêsu Kitô, vị Cứu Tinh của nhân loại và
thế giới.
Giáo Hội biết rõ mình được Đức Kitô sai đến như "dấu
hiệu và phương thế của sự kêt hợp mật thiêt với Thiên Chúa và sự hợp nhất của toàn nhân loại"
(11)
Vì thế bất chấp mọi biến cố, nhân loại có thể cậy trông,
và phải hy vọng: chính Chúa Kitô là Phúc âm sống động,
là Tin Mừng đem lại vui mừng mà Giáo Hội, loan báo cho
chúng ta mỗi ngày, và chính Giáo Hội đã trở thành chứng
nhân cho mọi người.
Trong việc loan truyền và trình bày nhân chứng này,
người tín hữu giáo dân chiếm một chỗ độc đáo và không
thay thế được: nhờ họ, Giáo Hội Chúa Kitô được hiện diện
trong nhiều địa hạt khác nhau giữa thế giới như dấu hiệu
và nguồn mạch hy vọng và tình yêu.
+ Giáo Hoàng Gioan Phaolo II
CHÚ THÍCH
1- Vaticanô II - Lumen Gentium, số 48.
2- Thánh Grêgôriô Cả - Bài giảng I, XIX, 2.
3- Vaticanô II - Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân
Apostolicam
Actuositatem, SỐ 33.
4- Gioan-Phaolô II - Bài gíảng lễ bế mạc kỳ
Thượng Hội Đồng Giám Mục VII - (30.10.1987). ASS 80
(/988), 598.
5- Xem Propositio 1.
6- Vaticanô II - Hiến chế Mục vụ Gaudium et
Spes, số 11
7- Sau khi quả quyết lại "tầm quan trọng và
thời sự của Hiến chế Gaudium et Spes". Các Giám mục
tham dự Thượng Hội đồng nói tiếp: "Tuy thế, chứng
tôi nhận thấy những dấu chỉ ngày nay có phần khác với
các dấu chỉ thời Công đồng, và còn mang nhiều vấn đề và
nhiều nỗi khắc khoải lớn hơn. Thật thế, đâu đâu cũng thấy
gia tăng tình trạng đói khát, bỉ áp bức, bất công, chiến
tranh đau khổ và nhiều loại bạo hành khác". (Relatio finalis II D1).
8- Vaticanô II - Gaudium et Spes, số 7.
9-Thánh Augustinô - Confessiones, 1,1.
10 Xem Instrumentum laboris " ơn gọi và sứ
mạng của giáo dân trong Giáo hội và giữa trần thế,
20 năm sau Vaticanô II ' 5-10.
11- Vaticanô II - Hiến chế Lumen
Gentium, số 1 .
Nhập đề -
Chương Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
|