Giớithiệu  Dẫnnhập  Lờitựa 1A  2A  3A  1B  2B  3B  1C  2C  3C  Kếtluận Thưmục

Kết luận

Giáo dân: Tổng lược nămthế kỷ của lịch sử

 

Suốt năm thế kỷ đầu tiên của lịch sử Kitô giáo, người giáo dân tiêu biểu những gì? Chúng ta đã từng thấy rằng trong "Tân Ước" không hề có người giáo dân. Vào đến cuối thế kỷ I, Clêmentê thành La mã lần đầu tiên xử dụng danh xưng "giáo dân", nhưng trong khuôn khổ nội dung của Cựu Ước. Sau đó, lịch sử lại làm thinh, không nghe nhắc đến sự kiện nầy. Như thế, ta có thể nói rằng Kitô giáo trải qua hai thế kỷ đầu không có bóng dáng người giáo dân. Phải đợi đến thời Clêmentê thành Alexandria, người giáo dân thực sự mới được khai sinh.

Vào cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ thứ III, những giáo dân đầu tiên xuất hiện. Họ không phải là những giáo dân theo nội dung ta thường biết ngày nay. Dĩ nhiên, giáo dân chỉ ý thức được vị trí của mình, một khi họ đối diện với một hàng giáo sĩ xuất hiện đồng thời với họ; tuy vậy, họ không phải là toàn khối những người kitô hữu, mà chỉ là một nhóm gồm những thành phần ưu tú: tín hữu đã chịu phép rửa, nam giới và chỉ có một vợ. Theo chủ trương của Tertulianô, họ có thể rửa tội, dâng Thánh lễ khi thiếu vắng hàng giáo sĩ. Quan niệm về giáo dân như một thành phần ưu tú, nam giới, chỉ cưới vợ một lần, tồn tại khoảng hơn 50 năm. Tuy vậy, mãi đến năm 300, hội nghị các Giám mục ở Elvirô vẫn còn lưu lại những hình ảnh của truyền thống nầy, khi tuyên bố rằng trong trường hợp khẩn trương và không có giáo sĩ, người tín hữu "còn bảo vệ toàn vẹn Bí tích rửa tội của mình và không cưới vợ hai lần, có thể rửa tội" (= Giáo luật số 38). Khi tình trạng độc thê hết còn là một điều kiện cần để được xếp vào hàng ngũ giáo dân, người giáo dân cũng không được quan niệm là đồng nghĩa với người tín hữu. Thật vậy, phụ nữ vẫn không được xếp vào thành phần giáo dân. Vào thời kỳ nầy phụ nữ vẫn chưa được quyền rửa tội. Mãi đến thế kỷ thứ IV, từ ngữ giáo dân mới minh nhiên áp dụng cho nữ giới. Khởi từ dạo đó, giáo dân mới được xem là tất cả những người kitô hữu không phải là giáo sĩ.

Nhưng đến thời Constantinô, lại xuất hiện một loại Kitô hữu mới. Trong đế quốc La mã, mặc dầu hoàng cung và các quan viên thuộc cấp đã thấm nhuần cuộc sống tôn giáo, cũng phải đợi hơn ba phần tư thế kỷ sau, hoàng đế mới bắt đầu cho rằng mình là một giáo dân. Ngược lại, chỉ cần một thời gian ngắn hơn thế, để thấy xuất hiện trong cộng đoàn dân Chúa Kitô, một loại người thứ ba đó là các đan sĩ và tu sĩ.

Giáo sĩ, đan sĩ và giáo dân: Vào thế kỷ thứ V, những phân loại qui mô của cộng đoàn dân Chúa Kitô được thiết định, và kể từ dạo đó đến ngày nay, tình trạng đó đã thực sự không có gì thay đổi. Nhưng suốt năm thế kỷ đầu tiên, những kẻ chính thức coi mình thuộc về hàng ngũ giáo dân là ai vậy? Thánh Justinô hiên ngang tuyên bố: "Tôi là kitô hữu, đó là vinh dự của tôi!". Thế thì những ai đã từng tự xưng "tôi đây là giáo dân"? Theo chỗ chúng tôi biết, chỉ có một lần có người đã tự cho mình ở vào vị thế nầy: người đó là hoàng đế Valentianô đệ I. Nhưng việc tự nhận danh hiệu giáo dân nầy dường như không phải là việc nhận lấy trách nhiệm để chu toàn trong Giáo Hội, đúng hơn đó chỉ là một duyên cớ để tránh né việc dấn thân vào công việc của Giáo hội nầy.

    

Hai quan điểm Giáo hội học khác nhau

Nếu thu hẹp nội dung chữ giáo dân vào khuôn khổ của những kẻ đã được đánh giá là giáo dân, hoặc những kẻ tự gọi mình như thế, thì lịch sử của hàng ngũ nầy sẽ làm cho nhiều kẻ thất vọng. Tuy nhiên, còn có một phương cách khác để đề cập đến vấn đề nầy. Khi ta xem giáo dân là tất cả những kitô hữu không phải là thừa tác viên bàn thánh. Nói cách khác phải định nghĩa người giáo dân một cách rộng rãi và thời thượng hơn. Trong khuôn khổ nầy, để tránh việc cưỡng bức lịch sử, ta cần phân biệt hai thời kỳ. Thời kỳ đầu chấm dứt  vào cuối thế kỷ II. Bấy giờ không có một văn bản thần học nào liên minh cho việc phân chia những thừa tác viên bàn thánh và dân Chúa còn lại làm hai khối riêng biệt cả. Nếu cứ đưa bừa vấn đề giáo dân vào thời kỳ nầy, chắc chắn ta sẽ gặp phải tình trạng bóp méo lịch sử một cách giả tạo. Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ thế kỷ thứ III, thời kỳ làm xuất hiện một kiểu mẫu giáo hội học khác.

Sự phân biệt giữa thừa tác viên bàn thánh và dân chúng xuất hiện và được liên minh bằng những chứng cứ như sau: - qua việc phong chức thánh phục vụ tế lễ, - qua mẫu mực tư tế Levi trong Cựu Ước hàm ngụ tương quan kinh tế đặc biệt giữa thừa tác viên bàn thánh và tín hữu, - và cuối cùng qua vai trò thanh tẩy của Thầy Cả Thượng phẩm do thái có quyền tha tội, bấy giờ  ý niệm hàng giáo sĩ được áp dụng để chỉ một nhóm thừa tác viên nhất định.

Những đường nét chính yếu của cơ cấu tổ chức Giáo hội vào thế kỷ thứ III hầu như giống với các cơ cấu nền giáo hội học đã chi phối sự phục hưng hàng ngũ giáo dân vào thế kỷ XX. Kể từ thế kỷ thứ III đến nay, mỗi lần nêu lên vấn đề vai trò giáo dân trong Giáo Hội, thì người ta cứ mãi áp dụng ý niệm giáo dân như là toàn khối kitô hữu không là giáo sĩ. Sự kiện đó khác với những gì đã xảy ra trong hai thế kỷ đầu tiên: Ngay từ lúc đầu, - tất cả các kitô hữu đều được gọi chung là "Kléros" dân riêng của Chúa, - không thể nói những chức vụ đa biệt hiện hữu vào thời nầy là giáo dân hay là giáo sĩ, - tất cả mọi người đều là thánh và là thành phần được tuyển chọn, - sự hợp thông của dòng giống kitô hữu, vượt lên trên những dị biệt của các chức vụ -, Vào đến thế kỷ thứ II, các thừa tác viên bàn thánh đã bắt đầu cấu thành một nhóm công tác đặc biệt, tuy vậy họ không tạo ra một ranh giới phân cắt cộng đoàn những kẻ đã chịu phép rửa làm hai, cũng không kẽ đường ranh qua một quan điểm thần học được minh định có qui mô. Suốt thế kỷ nầy, ý niệm về chức tư tế tác vụ không xung khắc với ý niệm về chức vụ tư tế phổ quát dành cho tất cả kitô hữu. Mặc dầu thánh Irênê đã cho rằng các vị niên trưởng là những vị thầy sở đắc ân huệ riêng về chân lý, thì ngài vẫn cho rằng tất cả các môn đồ của Chúa Kitô đều là thầy cả, và không một cá nhân nào đặc biệt có thể tự nhận mình là người duy nhất được quyền dâng lễ.

    

Những thừa tác viên giáo dân đích thực

Nếu trong tác phẩm Irênê, các vị niên trưởng và các môn đồ linh thiêng đưpơc liên kết"dễ dàng như thế, thì ngược lại kể từ Clêmentê thành Alexandria đến Origène tất cả các học giả trong thời nầy bắt đầu cân nhắc, so sánh phẩm trật siêu nhiên và phẩm trật theo qui chế tổ chức. Dĩ nhiên họ đã tìm cách tương đối hóa tầm quan trọng và quyền hành của phẩm trật dựa vào qui chế, nhưng không bao giờ họ đi đến việc chống đối nền tảng cố hữu của một hàng giáo sĩ Kitô giáo cả. Kể từ thế kỷ thứ III trở đi, giáo hội học đã đưa ra một định đề tất yếu về một cộng đoàn dân Chúa chia tách làm hai nhóm: giáo sĩ và giáo dân.

Các Giám mục thời nầy chưa hành xử tất cả các chức vụ có ích cho sinh hoạt cộng đoàn, vì giáo sĩ được quan niệm là thừa tác viên được phong chức để chỉ phục vụ bàn thánh mà thôi. Do quan niệm nầy, có những thừa tác viên giáo dân, - nghĩa là những cá nhân không được phong chức thánh - đảm trách một cách lâu dài và liên tục một dịch vụ hữu ích cho cộng đoàn. Các bậc kỳ cựu nhất và được biết đến nhiều nhất hẳn là những nhà mô phạm và những vị tiến sĩ. Nhưng có những nhà mô phạm giáo dân không có nghĩa là chức vụ nầy chỉ dành riêng cho giáo dân, bởi vì giáo sĩ hay giáo dân đều có thể hành xử chức vụ nầy. Chức vụ giáo huấn trong khuôn khổ được xem như là một thừa tác vụ độc lập, dần hồi biến mất, và từ hậu bán thế kỷ thứ III, người ta không còn thấy có những giáo dân thật sự làm nhà mô phạm nữa. Tình trạng đó cũng xảy ra cho chức vụ thầy dạy giáo lý; chức vụ nầy sau đó được dành cho các linh mục được gọi là "Linh mục dạy giáo lý! hoặc đôi khi còn gọi là "linh mục tiến sĩ".

Vào đầu thế kỷ thứ III, thì chức vụ đọc sách đã mất vai trò giảng giải, và chỉ hạn hẹp vào việc đọc sách mà thôi. Nhưng qua chức nầy, ta thấy xuất hiện lần đầu tiên một chức vụ giáo dân hướng về sự qui nhập vào các thừa tác viên tế lễ. Từ giữa thế kỷ thứ III, chức vụ đọc sách có đôi lúc được xem là giáo sĩ, nhưng qui chế chính xác của nó xem ra còn trong vòng tranh cãi, cho đến thời thánh Augustinô. Đến lúc nầy, người ta bắt đầu xếp chức vụ nầy vào số "những viên chức của Giáo hội". Đến thời Cyprianô, ngoài việc đọc sách, vị nầy có thể hành xử các chức vụ thủ thư, bí thư hay đưa thư. Dần dà, chức vụ đó mất đi thế giá lúc ban đầu và sẽ được xếp vào cấp thấp hơn các vị phụ phó tế. Các vị phụ phó tế nầy, theo các tác giả cuốn "Truyền thống Tông đồ", thì vẫn được xem là giáo dân. Họ phục dịch cho các vị phó tế, có thể giúp các vị đó trong việc tế lễ, các công tác từ thiện hay quản trị. Họ cũng có thể được cử làm người đưa thư cho các vị đọc sách. Kể từ hậu bán thế kỷ thứ IV, họ được xếp vào hàng giáo sĩ và được xem là cao cấp hơn các vị đọc sách.

Các vị trừ quỷ không phải là giáo sĩ; họ là thừa tác viên linh khởi, được hưởng ơn chữa bệnh tật. Vị thế của họ thay đổi tùy vùng và tùy Giáo hội. Nhưng không bao lâu, chức vụ nầy mất đi vai trò đích thực lúc ban đầu và được kết nhập vào các nấc thang của giáo sĩ, như một giai đoạn trong tiến trình thăng tiến lên một chức vụ khác cao hơn. Trong một vài trường hợp, những vị trừ quỷ nầy hoàn toàn không hề được nghe nhắc đến nữa. Những kẻ hành xử chức vụ giáo huấn, những chức vụ phụng vụ thứ yếu hoặc á-phụng vụ, cũng như ơn riêng chữa lành bệnh tật, có thể được xem là thừa tác viên giáo dân, nếu ta lồng chúng vào cái nhìn của ta ngày nay. Nhưng, phải lưu ý là vào đến thế kỷ thứ III, có một ơn riêng luôn được xem là vượt lên trên sự phân chia giáo sĩ và giáo dân: đó là ơn làm chứng tá cho đức tin. Thật vậy, biên giới tạo ra do việc phong chức thánh không chi phối những vị đã từng chịu khốn khổ vì đạo: do việc tuyên xưng đức tin, những vị nầy hưởng được vinh dự của chức vụ linh mục. Nhưng tình trạng đặc biệt đó không tồn tại được bao lâu. Kể từ cuộc bách hại của Dêciô, Cyprianô sẽ khôn khéo đặt lại vấn đề đặc ân đã cho phép các vị đó vượt lên trên biên giới giáo sĩ và giáo dân.

    

Phụ nữ bị xếp đứng ngoài lề nền thần học về giáo dân

Cho đến nay, chúng ta không bàn đến những thừa tác vụ của các giáo dân phụ nữ. Lý do là vào thế kỷ thứ III, phụ nữ bị xếp đứng ngoài lề của sự phân chia giáo sĩ và giáo dân. Các trinh nữ và bà góa là những tình trạng sống mà thôi. Các bà góa được xếp cạnh với hàng giáo sĩ trong khuôn khổ kinh tế, vì các bà được cộng đoàn nuôi dưỡng nhờ vào sự dâng cúng của giáo dân. Các bà có thể được trọng vọng và có thể đảm trách các công tác từ thiện, nhưng không bao giờ các bà được phong chức thánh và được xem là thành phần của hàng giáo sĩ. Mặc dù, bà góa có chỗ ngồi riêng trong hội đường, được giao phó một phận vụ đặc biệt là đọc kinh cầu nguyện, được những kẻ sám hối đến nghiêng mình, y như các linh mục, nhưng các bà cũng bị cấm không được rửa tội giống như các phụ nữ khác. Như vậy, bà góa không thể được xem là giáo sĩ và cũng không phải là giáo dân.

Tình trạng mập mờ của bà góa chỉ có thể được xem là một biến cố nhất thời của lịch sử. Trong quá khứ, qua các bản văn Tân Ước, phụ nữ hành xử các chức vụ bác ái, đảm đương các công tác từ thiện, biến nhà mình thành nơi tụ họp của kitô hữu, tiếp đón nuôi dưỡng các tông đồ, tham dự vào việc truyền bá Phúc âm, cộng tác viên của Phaolô, và ngay cả giảng dạy mà không cần đòi một tước vị nào đặc biệt, - hoặc một thừa tác vụ nào nhất định. Trong thư gửi Timothê, các bà chiếm một vị thế có thể so sánh với vị thế của các "phó tế", nhưng không có được một tên gọi đặc biệt nào dành cho họ, nhất là không thể tham dự vào một "hàng ngũ trọng vọng", như các vị đồng sự thuộc nam giới. Mặc dầu các phụ nữ đã đảm đương các phận vụ không thể chối cãi trong việc phục vụ cho cộng đoàn suốt thời kỳ các thánh tông đồ, họ vấn đứng ngoài lề tiến trình xây dựng phẩm trật Giáo hội, cũng như mãi đến thế kỷ thứ III, các bà sẽ đứng ra bên lề của cơ chế giáo sĩ và giáo dân. Cho đến ngày nay, dầu phụ nữ được xem là giáo dân, có thể hành xử chính những chức vụ của các nam giáo dân, nhưng các bà không thể đạt được cùng một qui chế dành cho nam giáo dân trong khuôn khổ "những thừa tác vụ giáo dân", mà Giáo Hội Công giáo muốn phục hồi.

    

Các chức vụ cộng đồng của dân Chúa Kitô và các chức vụ tùy hoàn cảnh của tín hữu

Những thừa tác viên giáo dân hành xử những chức vụ cá biệt; nhưng trong sinh hoạt Giáo hội, còn có những chức vụ được toàn dân Chúa đảm đương một cách cộng đồng. Dân chúng được kêu gọi để tham gia vào việc chọn lựa các giáo sĩ, đặc biệt là chọn lựa Giám mục. Vào thế kỷ thứ IV, việc tuyển chọn Giám mục đóng một vai trò quyết định. Dân chúng còn đóng vai trò phân xử, khi tiếp nhận lại những kẻ sám hối vào cộng đoàn. Sau hết, hội đồng hoặc những vị đại biểu giáo dân có thể được tham khảo trong cuộc tranh luận thần học tế nhị hoặc quan trọng đặc biệt. Dĩ nhiên, trong tất cả các trường hợp trên, dân chúng là dân hoặc hội đồng của một giáo hội địa phương. Tình trạng củng cố các cơ chế của hàng giáo sĩ, cũng như sự phát triển các tổ chức và các quyết định vượt lên trên khuôn khổ địa phương sẽ phối hợp và biến cải những hội đồng quyết nghị thành những hội đồng tham vấn mà thôi; và không lâu sau đó chúng chỉ còn là những phòng đăng lục. Tuy nhiên, dầu chức vụ cộng đồng cuối cùng trở thành hư danh, chức vụ dân chúng đó xem ra lại ít phù du hơn những chức vụ giáo dân cá biệt. Khả năng tham dự của dân chúng vẫn luôn tồn tại và còn tồn tại đến ngày nay, trong nghi thức các cuộc phong chức thánh dưới một hình thức tượng trưng.

Ngoài những chức vụ được thể hiện trong các buổi tụ họp, còn cần phải nhắc đến những chức vụ không định rõ, trải tràn ra trong sinh hoạt của dân Chúa. Bất cứ kitô hữu nào cũng có thể hành xử những chức vụ nầy, mỗi khi có hoàn cảnh thuận lợi, hoặc khi thấy cần kíp. Việc truyền giáo nằm trong khuôn khổ những chức vụ nầy: - Các công tác tông đồ được giới bình dân đảm trách (những người thợ thủ công khiêm tốn, những nô lệ, những kẻ bị bắt bớ tù đày), - Công tác tông đồ trí thức trong giới thức giả, - công tác tông đồ có tính cách tư nhân, tại gia, hoặc trái lại trong khuôn khổ "chính trị", rao truyền đạo Chúa Kitô trong những vùng đất xa lạ, hoặc chiến đấu để bảo vệ sự chính thống của đức tin ngay trong đế quốc. Giáo dân, nam nữ đều được phép và đã thực hiện tất cả những hình thức công tác tông đồ đó. Việc đỡ đầu là tình trạng nối dài công việc truyền giáo. Chiếm một tầm quan trọng rất lớn, khi việc dạy giáo lý trước khi rửa tội kéo dài nhiều năm. Công việc nầy cũng thế, là công việc chung của nam và nữ giáo dân. Tất cả những chức vụ "tùy hoàn cảnh" đó đều qui thuộc vào chức vụ do dân Chúa đảm trách trong tương quan đối với thế gian. Những chức vụ đó tồn tại qua thời gian đến nỗi có thể nói rằng công tác tông đồ truyền giáo là chức vụ đặc biệt của giáo dân. Chúng ta lại gặp một tình trạng khá mâu thuẩn; một khi việc kế tục các thánh Tông đồ được xem là phần riêng của Giám mục, nhưng thừa tác vụ tông đồ truyền giáo lại là cá tính của hàng ngũ giáo dân hoặc của tín hữu.

    

Nền thần học giáo dân phải chăng là một ngỏ bí?

Ngày nay chúng ta có khuynh hướng kết hợp một cách đơn giản người giáo dân với người tín hữu, hàng ngũ giáo dân với dân Thiên Chúa. Ngay từ đầu, không phải vậy. Giáo dân chỉ tượng trưng cho một phần tử của dân Chúa, được phân biệt với hàng giáo sĩ. Người ta có thể tự hỏi phải chăng, do từ quan điểm nguyên thủy nầy, nền thần học giáo dân đã không gặp ngay một sự lấn cấn nào đó rồi hay không. Về mặt lý thuyết, từ trong ý định của nó nền thần học về giáo dân không loại bỏ một tín hữu nào cả, tuy nhiên nó có nguy cơ gặp phải sự phân chia mới giữa những chiến sĩ sinh hoạt có sự ủy nhiệm của hàng giáo phẩm, những thừa tác viên giáo dân được qui chế nhìn nhận và số tín hữu còn lại. Giữa một khối tín hữu thông thường chỉ mong được "cai trị" và một nhóm nhỏ những "giáo dân đích thực", có thể gần như đứng vào hàng ngũ giáo sĩ, nền thần học về giáo dân thật khó mà quyết định được những việc lựa chọn cần thiết nhằm đưa ra vai trò cá biệt của người giáo dân một cách cụ thể.

Có lẽ chính khó khăn nầy đã khai sinh ra một nền thần học về dân Thiên Chúa. Dĩ nhiên, nêu lên những nhiệm vụ đặt để cho tất cả kitô hữu thì dễ hơn là tìm cách thiết định một nhiệm vụ độc đáo dành riêng cho những kẻ không là giáo sĩ, và chỉ dành riêng cho họ mà thôi. Nhưng nền thần học về giáo dân không thể nào được lẫn lộn với nền thần học về dân Thiên Chúa, bởi vì nền thần học đó nhất thiết phải chấp nhận định đề về một sự phân chia làm hai trong nội bộ dân nầy. Nó loại hàng giáo sĩ ra ngoài nội dung của nó và không nhằm nghiên cứu hết tất cả kitô hữu. Hẳn nhiên, nền thần học đó có công rất lớn vì đã nhắc nhở cho những kẻ đã chịu phép rửa bình thường ý thức rằng chính họ cũng được kêu gọi để hành động để trở thành muối đất. Trong mục tiêu nhằm gây ý thức nơi người tín hữu về bản sắc cá biệt của họ, nền thần học về giáo dân đã tạo ra cho họ một nhân cách, đó là người giáo dân, và thúc giục họ làm triển nở nhân cách nầy. Nhưng, đồng thời, nó buộc phải tạo ra những giới hạn của con người kitô hữu và sinh hoạt của nó. Dường như chính vì tình trạng nhập nhằng nầy, muốn có một nền thần học về giáo dân nhằm khai thông những giá trị tích cực lại là một việc còn quá nhiều khó khăn.

Như thế, nền thần học về giáo dân phải chăng đã lâm vào ngỏ bí? Ta biết rằng việc khai sinh ra nền thần học nầy vào thế kỷ thứ III đã tiên báo và đánh dấu một sự thay đổi về giáo hội học. Nó đã giúp một ít kitô hữu nhận thức rằng mình còn là thành phần của dân Chúa, mặc dầu hàng giáo sĩ bắt đầu chiếm phần hết các vai trò trong cuộc sống của cộng đoàn. Việc khai sinh ra những giáo dân nằm vào thời kỳ Kitô giáo sơ khai, lúc mà Giáo Hội cảm thấy cần cố gắng bắt kịp đà tăng trưởng dân số của các cộng đoàn, nhưng phân vân không biết nên khẩn trương tăng gia con số giáo sĩ có khả năng hướng dần làn sóng tín hữu đó, hay phải tạo ra một lối sinh hoạt năng động bên trong khối tín hữu bằng cách xử dụng những "giáo dân linh hoạt". Việc phục hưng hàng ngũ giáo dân vào thế kỷ XX lại xuất hiện trong khuôn khổ của một cuộc chạy đua chống lại tình trạng "bỏ đạo". Chúng ta cũng gặp phải những băn khoăn tương tự: Nên huy động các tín hữu còn lại hay tạo ra những người phụ tá cho hàng giáo sĩ đang thiếu hụt, việc nào khẩn trương và nên làm hơn? Ta nhớ lại sự kiện nầy, vào thế kỷ thứ III, những thừa tác vụ giáo dân có tính cách cá biệt đã không tồn tại quá 50 năm. Việc đó không nhất thiết phải đưa đến kết luận rằng nền thần học giáo dân (nói một cách tích cực) đang đi vào nỏ bí. Xuất hiện rồi lại tái xuất hiện vào những thời kỳ có biến động, nền thần học đó hổ trợ việc chuyển đổi các tín hữu đi từ hình thái Giáo hội học nầy đến một hình thái Giáo hội học khác. Đây không phải là một ngỏ bí, mà là con đường rẽ tạm thời, giúp con người tiếp tục đi lại sinh hoạt, một khi con đường cũ đang thời sửa chữa và tái tạo không thể xử dụng được. Là nền thần học của công trường và của giao thông công cộng, nền thần học về hàng ngũ giáo dân hẳn nhiên phải là một nền thần học vì lợi ích công cộng, vì sự cứu độ của mọi người, một khi nhịp độ biến đổi của thế giới buộc kitô hữu phải tiếp tục tiến bước, dầu những đường mòn ngày xưa, nay ở vào tình trạng lỗi thời, gập ghềnh khó đi. Nền thần học như thế phải chăng đang chờ đợi một đường hướng giáo hội học mới!

Giớithiệu  Dẫnnhập  Lờitựa 1A  2A  3A  1B  2B  3B  1C  2C  3C  Kếtluận Thưmục