CHÚNG TA ĐƯỢC MỜI GỌI NÊN THÁNH

 

HÀ-MINH THẢO

Toulouse, France

 

Dân gian chúng ta, từ ngày xưa, luôn kính trọng những ‘thánh sống’ và tin yêu các bậc ‘hiển thánh’. ’Thánh sống’ là những người đang sống mà các hoạt động hằng ngày nhằm vinh danh Thiên Chúa và phục vụ đồng loại. ‘Hiển thánh’ là tín hữu Công giáo đã hoàn thành một cuộc sống ‘kính Chúa, yêu người’ nơi trần gian và, hiện tại, tận hưởng Nhan Thánh Chúa và cầu bầu cho chúng ta (Hội thánh thông công).

 

Chúng tôi xin phép đề cập đến hai trường hợp thời sự điển hình về Linh mục Henri Grouès (90 tuổi) và Thánh José Maria Escriva de Balanguer. Từ đó, chúng ta nghiệm xét xem mình có thể đạt tới mục tiêu của người Kitô hữu là được gọi nên Thánh không ?

 

ĐÔI HÀNG TIỂU SỬ

 

Linh mục Henri Grouès không ai xa lạ hơn là Abbé Pierre, vừa mừng 90 tuổi với các bạn đồng hành (compagnons) Emmaus hôm 04 tháng tám vừa qua. Abbé Pierre, sáng lập viên hệ thống các hiệp hội liên đới trợ giúp các người nghèo, vô gia cư, bất hạnh…, đang là nhân vật được dân Pháp ưa thích nhất. Trong 20 lần thăm dò dư luận của viện thống kê IFOP trong những năm qua, Cha đã đứng đầu 14 lần. Đó chỉ là hậu quả các công tác mà Cha hoàn thành để đáp Thánh Ý Chúa là thương yêu và phục vụ tha nhân.

Sinh tại Lyon ngày 05.08.1912 trong một gia đình giàu về tiền lẫn đức. Năm 1921, sau khi phân phát phần tài sản cha mẹ chia cho các hội từ thiện, Henri Grouès vào tu trong dòng nghèo khó “Capucins”. Thụ phong Linh mục năm 1938, lúc 26 tuổi.

Chiến tranh bùng nổ, năm 1939, Cha phải nhập ngũ và rời quân đội, năm sau, vì bị sưng phổi.

Khi làm Phó xứ nhà thờ Chánh tòa Grenoble, vì chứng kiến nạn độc tài, bất công áp bức, Cha đã tham gia kháng chiến thời Đệ nhị Thế chiến và đã đưa nhiều người Do thái thoát sang Thụy sĩ. Vì thế, Cha Henri Grouès mới có bí danh ‘Abbé Pierre’.

Năm 1949, Cha đã nhiều lầøn phẩn nộ và giúp những người vô gia cư cất những nhà dù bị cho là bất hợp pháp vì ‘trước khi có luật quốc gia, đã có luật tuyệt đối (luật nhân ái Thiên Chúa)’.

Mùa thu 1949, Abbé Pierre đã cứu thoát Georges, một người đang cô đơn và thất vọng sau 20 năm tù khỏi ý định tự tử. Cha đề nghị anh về ở với mình để, cùng nhau, xây dựng nơi tạm trú cho những người bất hạnh khác. Từ đó, Cộng đoàn Emmaus ra đời và căn nhà nơi Cha trú ngụ biến thành trung tâm Emmaus đầu tiên.

 

Mùa đông buốt giá 1954 tại Pháp, lạnh đến 20 độ âm, Abbé Pierre đã lên tiếng trên Radio Luxembourg báo động : ‘xin mọi người hay giúp đở vì một người đàn bà vừa chết cóng lúc 3 giờ sáng nay trên vĩa hè đại lộ Sépastopol, tay còn cầm án lệnh tòa cho phép trục xuất khỏi nhà… Để thảm trạng không tái diễn, từ đêm nay, những nhà có treo bảng ‘Trung tâm huynh đệ khẩn cấp’, các bạn đau khổ hãy vào đó ăn uống và ngủ nghỉ, tìm lại niềm hy vọng…

Trong 20 phút sau, người ta lầøn lượt kéo đến khách sạn Rochester, kệ nệ áo quần, chăn mền, trao các chi phiếu lẫn nữ trang… để cứu trợ.

Chiều đó, Cha lại lên tiếng kêu gọi các tình nguyện viên để chở những người bất hạnh đến nơi  mà các lều vừa dựng lên hầu không một người lớn lẫn trẻ em phải ngủ trên vĩa hè qua đêm giá lạnh. Đúng 21 giờ như đã định, khoảng 500 xe cộ mới củ, tốt xấu đã có mặt để chở vô gia cư, dưới sự điều khiển của Abbé Pierre. Từ đó, Cha đã là hình ảnh một ‘Linh mục bác ái chăm lo cho người vô gia cư’ trong lòng dân Pháp : ‘Khi trẻ em chết vì cha mẹ không nơi trú ngụ, thì việc xử dụng nhà ở sai lạc hay bỏ trống là phạm tội sát nhân.’

 

Đầu mùa đông bất thường đó, dựa vào các dự đoán khí tượng, Abbé Pierre đã đề nghị Quốc hội biểu quyết một ngân khoản một tỉ francs để lo xây nhà cho người vô gia cư nhưng các dân biểu đã bác bỏ. Thế nhưng chỉ ba tuần sau, chính họ đã phải thông qua ngân khoản 10 tỉ để xây cất ngay 12.000 căn nhà cho người bất hạnh.

 

Địa vị đứng đầu danh sách những người được dân Pháp mến chuộng mà Cha đang nhận được đáng chúng ta lưu vì nước Pháp đang, từ từ, chối bỏ các giá trị Công giáo.

 

Một Linh mục khác, Cha José Maria Escriva de Balaguer, sinh ngày 09.01.1902 tại Barbastro (Tây-ban-nha) vừa được Giáo hội phong Hiển Thánh ngày 06.10.2002 (100 năm sau khi được sinh ra). Mội vị Thánh của thời đại chúng ta đã tạo lập OPUS DEI (Công Việc của Chúa). Một công trình bị cáo buộc nào là có liên hệ với chế độ Franco (hữu phái cực đoan), rồi là một ‘giáo phái kín’ chia xẽ quyền hành chánh trị hay, hơn nữa, đó là một loại ‘mafia’.

 

Thụ phong Linh mục ngày 28.03.1925, lúc 23 tuổi. Cha Escriva de Balaguer khởi đầu xây dựng Opus Dei từ năm 1928 vàthành lập chính thức ngày 14.02.1930. Sau đó, Thánh nhân lập Hội  các Linh mục Thánh giá, liên kết chặt chẽ với Opus Dei, hoạt động trong các Giáo phận. Năm 1946, Cha đến Rôma để phát triển Opus Dei tại Thánh đô Giáo hội và qua đời ngày 26.06.1975. Khi đó, Opus Dei đã hiện diện tại 80 quốc gia với khoảng 60.000 đoàn viên.

 

Opus Dei là một sức mạnh tinh thần lan rộng nhanh chóng nên đã gây nên sự ganh tị. Nhà cầm quyền Rôma nghi ngờ là một ‘hội kín’. Nhưng , nhờ ơn Cha Escriva de Balaguer phò trợ nên Opus Dei vượt qua mọi thửø thách. Ngày nay, Opus Dei có trường hợp các cấp, phục vụ cho giới trẻ mọi lứa tuổi. Các sáng kiến khác nhau của các đoàn viên đều được tôn trọng, khuyến khính để nhằm đi tới một mục đích chung: Niềm an vui và lạc quan trong đời sống. Nhờ đó, Kitô-hữu đủ sức bình thản vượt qua những nghịch cảnh hằng ngày để làm cho con đường tiến đến sự Thánh Thiện trở nên dễ yêu thương : kính Chúa và yêu Người trong an vui.

 

Ngày 17.05.1992, Đức Gioan Phaolô II tôn phong Chân phước cho Cha  Escriva de Balaguer. Sau 27 năm qua đời,  Chân phước Escriva de Balaguer được tôn phong Hiển Thánh trước sự hiện diện của khoảng 250 ngàn Giáo sĩ và Giáo dân kính mộ.

 

Đây là đấng Thánh thứ 468 do đương kiêm Giáo Hoàng tôn phong Hiển Thánh. Hiện tại Bộ Phong Thánh còn hơn 500 vị đang chờ đợi để được Giáo hội chính thức lên Bàn Thờ. Trong thời gian hiện tại, Bộ đang xúc tiến việc phong Chân Phước (hay Á Thánh, được tôn kính trong nước) cho Mẹ Têrêxa thành Calcutta có thể diễn ra mùa Xuân 2003.

 

Thánh José Maria Escriva de Balaguer được mệnh danh là vị ‘Thánh của công việc hằng ngày’. Tước hiệu nầy gợi ý cho mỗi người trong chúng ta suy nghĩ đến Lời Mời Gọi Nên Thánh.

 

ĐÁP ỨNG LỜI MỜI GỌI ĐÓ : KHÓ HAY DỂ ?

 

Thật vậy, khi nhận lãnh Bí tích Rữa Tội, mỗõi người trong chúng ta đã vui và sẳn lòng chọn theo Chúa và cùng hành trình với cộng đoàn để cùng nhau trao đổi kinh nghiệm sống Đức Tin, chia xẽ những khó khăn, nâng đở nhau trên đường lữ thứ trầâøn gian… và điều chắc là chúng ta, một lúc nào đó, phải từ cỏi đời nầy. Khi đó, chúng ta sẽ biết ngay là mình có đạt được mục đích mà mình đã tự do thuận nhận để trở thành người Công Giáo. Như vậy, nên thánh phải là con đường chung của mọi Kytô hữu, không trừ một ai. Con đường nên thánh không dành riêng cho một lớp người nào và cũng không phải là độc quyền của những người được Chúa gọi tận hiến cách riêng trong đời sống linh mục, hay tu dòng.

 

Tại các giáo đường Công Giáo ở Việt Nam, trước Thánh  Lễ, thường đọc kinh Chúa nhật, trong có nhắc ‘Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn’ và kết thúc : mười điều răn ấy tóm về hai điều này, trước kính mến  Đức Chúa Trời  trên hết mọi sự, sau lại yêu người ta như mình ta vậy. Hay ngắn gọn hơn là ‘kính Chúa, yêu người’. Bình thường, chúng ta hay bảo nhau : việc nói thì dễ, nhưng việc làm thì không dễ.

 

Tuy nhiên, xin đừng bi quan. Tước hiệu ‘Thánh của công việc hằng ngày’ gắn cho Thánh Escriva de Balaguer vì Ngài chỉ dạy cho chúng ta : sự thánh thiện không là đặc ân cho một số ít, riêng cho những đặc sủng khác thường, nhưng là một sự thật mọi người đạt tới được, mà không cần đi xa hay bỏ nghề nghiệp của mình, không cần phải từ bỏ những tình yêu hay những giấc mơ lớn lao. Mọi người có thể thánh hóa bản thân bằng chính làm tốt công việc hay hoàn thành trách nhiệm được giao pho thường nhật. Chúa Kitô ghi nhận sự cố gắng của từng người, tùy theo khả năng, sức khỏe Chúa giao cho từng cá nhân. Nguời muốn chúng ta trở thành tốt lành không qua những công việc khác thường, trái lại bằng những công việc chung thường làm hằng ngày trong đời sống, nhưng cách làm phải khác thường.

 

Giáo hội chỉ tuyên phong Hiển Thánh cho những những người vào Nước Trời và làm phép lạ nơi người tại thế. Giáo hội hiện hữu gần 2000 năm, hằng tỉ người đã sống âm thầm đời Kitô hữu ‘kính Chúa, yêu Người’ và đươc gọi về Nước Trời.

 

Cùng nhau, chúng ta hãy mở Sách Lễ ngày mừng Lễ Các Thánh Nam Nữ, Thánh Gioan viết trong sách Khải huyền : “ … trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta. Va øtôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel. Sau đó, tôi đã thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế… Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đền, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên. ”

 

Đoạn Sách Thánh nầy xác nhận số người lên Thiên đàng là hằng hằng lớp lớp. Chính vì thế Giáo Hội đã dành ngày 01 tháng 11 hằng năm để Kính Trọng thể tất cả các Thánh Nam Nữ của Giáo hội Công Giáo (từ các Thánh Anh Hài, ‘người trộm lành cùng bị  đóng đinh với Chúa’, … đến những người công chính vừa lìa trầøn gian’).

 

Kế đến, trong Phúc Âm, Thánh sữ Mathêô đã tường thuật việc Chúa Giêsu giảng ‘Tám Mối Phúc Thật’, còn gọl là bài giảng Trên Núi. Đó là những chỉ dẩn mà chính Đức Kitô đề nghị chúng ta thực hành hay phải gánh nhận để nên Thánh. Chúng ta có tự do hoàn toàn để chấp nhận hay từ chối.

 

Đọc xong đoạn Tin Mừng Đức Kitô nầy, chúng tôi không thể không nghẹn nghào tưởng nhớ đến Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận. Nhìn lại những gương lành Người đã làm và những sự dữ mà Ngài  đã gánh chịu nơi Quê Hương chúng ta và bởi những người được gọi là ‘đồng bào’ Việt Nam.

Quả thực,  Đức Hồng Y đã hoàn tất dũng cãm Bát Phúc ấy để… “Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời”.

 

Bên Thiên Chúa, chắc chắn Đức Hồng Y không quên Dân Tộc và các Tôn Giáo Việt-Nam.