IV

 Can đảm sống Phúc âm

 

Tôi hoàn toàn khám phá ra lại Giáo Hội là một hiền mẫu, mẹ của tôi. Là một kho tàng và đồng thời là một mầu nhiệm. Trước đây tôi không bao giờ thực sự chỉ trích Giáo Hội; nhưng rồi ngày kia, do một luồng ảnh hưởng báo chí chống lại giáo huấn của Giáo Hội, tôi đi vào dư luận của bao kẻ khác, để bắt đầu chống báng Giáo Hội, đánh giá Giáo Hội lẩm cẩm và lỗi thời. Tôi nhìn thấy Giáo Hội như là một vùng đất cấm đoán, thiếu tự do. Bằng chứng là những chuyện động trời do tác phong của một số nhân vật bên trong Giáo Hội gây nên. Trên mặt lịch sử, khách quan, có ngàn lý do để bàng hoàng, khó chịu trước thái độ của một vị Giáo Hoàng, Giám mục hoặc giáo dân nào đó, trong một vài bối cảnh của lịch sử. Nhưng nhìn bên ngoài mà thôi, thì không thấy cái gì cho rõ.

Phải đi xa hơn nữa. Đằng sau những bì phu ấy có Đức Kitô thực sự ẩn mình ở đấy. Có lần người ta gài bẫy Jeanne d'Arc, mấy vị xét xử và hành hình hỏi: "Như thế thì người nghe theo ai, Đức Kitô hay Giáo Hội ?". Cô trả lời một cách tuyệt vời :"Tôi nghĩ là Đức Kitô và Giáo Hội, chỉ là một". Dần dà, tôi đã khám phá lại Giáo Hội và nét đẹp ấy. Đối với tôi, nay Giáo Hội đã trở thành căn nhà tạo cho tôi tự do. Tình trạng nô lệ không phải ở nơi vùng đất mà tôi đã từng suy nghĩ. Tôi hư đốn và đánh mất chân tính của tôi, việc đó không do Giáo Hội, nhưng do tinh thần thế tục.

Điều giải phóng tôi, đó là giáo thuyết Giáo Hội về hôn nhân và phái tính, nghĩa là điểm bị tranh cải nhiều nhất trong giáo huấn của Hội Thánh. Bấy giờ tôi tự nghĩ :"Nếu Giáo Hội có lý về điều làm tôi khó chịu nhất, nếu Giáo Hội tuyên dương một chân lý giải thoát tôi, thì trái với điều tôi từng nghĩ, phải chăng Giáo Hội lại không có lý về các mục khác còn lại ?" Từ thắc mắc đó, tôi khiêm tốn bắt đầu học hỏi về Giáo Hội. Hẳn nhiên là tôi không hiểu hết, nhưng tôi luôn bắt đầu với nguyên tắc sau đây: "Phải chăng Giáo Hội đã có lý và tôi đã từng sai ?"

Mỗi một khi có một điểm nào đó trong Giáo Huấn Giáo Hội làm tôi khó chịu, thì đấy là vì tôi thiếu một chiều sâu siêu nhiên nào đấy để đi vào mầu nhiệm, vượt lên trên những điều nghịch thường hoặc thắc mắc. Chìa khóa để hiểu giáo huấn ấy, đó là luôn luôn yêu thương. Không phải yêu ủy mị nhưng tình yêu bị đóng đinh trên Thánh giá. Mọi cửa đóng kín không cho tôi hiểu nay nhờ khóa này mà mở toang ra. Ta không hiểu gì hết về sứ điệp của Giáo Hội, nếu ta chỉ cần quên trong một chốc lát rằng mình đang hướng theo một Đấng Thiên Sai chịu đóng đinh, là điều làm cho một số tín đồ tôn giáo phải khó chịu, là điên rồ cho kẻ không tin, nhưng đối với ai yêu thương Ngài, thì đó là sức mạnh và khôn ngoan của Thiên Chúa.

Tôi thấy ngày nay Giáo Hội không phải yếu nhược vì già lão, như người ta thường nói, nhưng vì rụt rè. Nhất là Giáo Hội Tây phương. Một cái gì dửng dưng, vô cảm làm cho người ta không còn tin vào sức năng động của Phúc Âm. Emmanuel Mounier từng nói rất đúng rằng chúng ta cần "Một Kitô Giáo ngoài trời" : "Kitô giáo của chúng ta không nhập thể nỗi sẽ sụm xuống trong một cuộc chiến hoặc suy bại từ từ trong cuộc sống thoải mái, điều đó sẽ khó lòng thoát khỏi sự phê phán của lịch sử".

Người ta không còn tin những gì Thánh Kinh nêu lên và đòi hỏi ở nơi mỗi người. Người ta không để cho Đấng đã Phục Sinh yêu thương, không để cho đời sống các thánh và những kẻ làm chứng về tình yêu Thiên Chúa quấy rầy mình. Nhất là người ta không tin rằng Chúa đòi hỏi nơi mỗi người một câu trả lời về đức tin, một cách rõ ràng. Những lời nói quanh co, những lý lẽ chúng ta nêu lên để trì hoãn câu trả lời này sẽ hụt chân, khi ta gặp tình yêu. Cần có những người chứng cho tình yêu ấy, để hô to tình yêu giữa thế giới, qua cái nhìn, cử chỉ, lối tiếp đón ân cần đối với kẻ khác. Cần có những chỗ nghèo cho tất cả những người nghèo. Những chỗ để tình yêu tuôn trào lai láng.

Khi tôi làm việc ở Vatican, tôi mới biết được Giáo Hội không giàu chút nào. Người ta tính từng tờ giấy. Muốn có một máy điện toán, là cả một vấn đề, lương bổng cũng rất sít sao. Kinh nghiệm đó đi ngược lại một vài tiên kiến bấy lâu. Hẳn có những ngôi nhà cao đẹp. Nhưng bao nhiêu chi phí để tu bổ ! Về mặt tài chánh mà nói, đây là món quà có tẩm thuốc độc.

Tôi mong sao giảm bớt các ủy ban và các buổi hội họp, để có thêm cầu nguyện và can đảm trong Giáo Hội mà tôi yêu. Người ta thường nêu lên vai trò của đức cẩn trọng, nhưng kỳ thực  đó chỉ là sợ hãi. Sự điên rồ nơi sứ điệp Phúc Âm chết ngộp vì bị từng đống giấy đè lên. Tôi nhớ đến một linh mục Việt Nam, sau chín năm tù mới được thả tự do, chạy khắp nẻo đường để nói về Chúa Giêsu cho các bạn trẻ. Và khi tôi nói với vị ấy :"Nhưng coi chừng người ta bắt thì chết !" Ngạc nhiên, linh mục trả lời: "Anh không thấy sao, ở đây các bạn trẻ không biết đến Chúa Giêsu". Vài tuần sau đó, vị này lại bị bắt giữ.

Và ở Campuchia, một cô bé đi bộ bảy trăm cây số để đón Mình Thánh Chúa trong một thánh lễ "chui", đem Chúa Giêsu về cho mẹ đang ở tù ... Và Mẹ Têrêxa, trong lúc chiến tranh bom đạn đã đến thăm vùng Beyrouth bị Syria chiếm ; người ta hỏi mẹ có đến không, mẹ trả lời: "Nhưng mấy trẻ này cần giúp đỡ, cần săn sóc và yêu thương !" Can đảm để sống Phúc Âm như thế, trong vùng trời Tây âu được gọi là "Kitô giáo lâu đời" của chúng ta, dường như quá hiếm hoi.

Người ta nhắc đến một cuộc khủng hoảng về ơn gọi tại Âu Châu. Câu hỏi này thường nêu lên không đúng. Trước hết không phải là câu hỏi nêu lên cho các bạn trẻ để họ đáp lời mời của Chúa. Nhưng phải ưu tiên nêu lên cho mỗi Kitô hữu, cho mỗi cộng đoàn tôn giáo để họ xét lại lối sống của mình dưới ánh sáng của Phúc Âm và những lời dạy thực sự trong ấy. Đức Gioan-Phaolô II nêu lên lời chất vấn ấy trong thời buổi hôm nay: " Tôi khích lệ tất cả môn đệ Chúa Kitô, từ trong gia đình đến các địa phận, từ các họ đạo đến các dòng tu, phải thành thực xét mình về tinh thần liên đới đối với những người nghèo".

Chúng ta hãy đặt vấn đề một cách nghiêm túc. Ngày nay chúng ta đem lại cái gì cho các bạn trẻ ? Chúng ta có đáp ứng được những gì họ đã đòi hỏi không?  Tôi nhớ có một cô bạn trẻ hỏi tôi :"Tôi không cần thảo luận, lý thuyết gì cả. Tôi cần một Thiên Chúa lôi tôi ra khỏi hố thẳm của khắc khoải và sự chết, và giải thích chính con người của tôi. Một Thiên Chúa cứu tôi khỏi tăm tối và dẫn tôi đến ánh sáng. Tôi cần đến một vị Cứu độ thật sự".

 

Những nhân chứng tên tuổi cho thời đại chúng ta

 

Có hai phẩm trật trong Giáo Hội : Phẩm trật phục vụ, thừa tác, đó là phẩm trật được truyền chức thánh, và phẩm trật thánh thiện. Một bên truyền đạt sứ điệp từ chính Chúa Kitô, bên kia lại sống sứ điệp ấy, trong một cuộc sống tràn đầy. Phẩm trật thánh thiện này như nhạc được đàn lên, hát lên, còn phẩm trật đầu như bản nhạc viết lên trên giấy với những nốt nhạc. Đối với một hòa âm, bản nhạc cần phải hay, đầy đủ và đúng nốt. Nhưng bản nhạc chưa đủ để làm cho ta thưởng thức nhạc. Còn phải nghe, cần phải thấy nhạc được rung lên thành âm sắc. Đó là vai trò các thánh. Hai phẩm trật này không đối kháng nhau; chúng bổ sung. Chúng có thể kết hợp trên một con người.

Ngày nay, cần có những vị thánh, nghĩa là những người điên của Thiên Chúa. Một nhận xét của Antôn Chevrier, người sáng lập các linh mục Prado ở Lyon, làm tôi giật mình :"Các thánh không hề lý luận nhiều đến thế. Họ sống theo từng lời dạy của Phúc Âm. Và vì có nhiều người lý sự quá nên các thánh cũng quá hiếm !" Chúng ta thành thực cám ơn mẹ Têrêxa, ngày nay, đã dám chỉ cho chúng ta thấy rằng Phúc Âm hữu hiệu khi ta tin thực và phó thác cho Thiên Chúa để Ngài hành động.

Nói đến các nhân chứng, hơn chục khuôn mặt xuất hiện trong trí tôi, trẻ có già có, nhưng ai cũng chiếu tỏa suối an bình và rạng rỡ hân hoan phát xuất từ đáy lòng họ, nơi mà Chúa cư ngụ, Những khuôn mặt trong chính giới, những Kitô hữu chân thành, cũng làm cho lòng tôi rộn lên niềm vui. Tôi nghĩ đến Robert Schuman, là một trong những nhân vật gầy dựng nên Cộng đồng Âu châu Than-Thép. Than, thép đã từng là dụng cụ chiến tranh. Với hai Kitô hữu đầy xác tín khác nữa, đó là Alcide de Gaspari và Konrad Adenauer, họ đã đưa lời Thánh Kinh vào sinh hoạt lịch sử: " Họ sẽ lấy kiếm để đúc thành lưỡi cày" (Is 2, 4).

Còn Edmond Michelet, Bộ trưởng Tư pháp dưới thời  Tổng Thống Tướng De Gaulle, cuộc sống ông gương mẫu đến độ người ta tự nhủ thầm đây hẳn là ơn phúc nhập cuộc. Có nhiều nhân vật chính trị mà tôi biết, cho thấy trước hết họ là bạn hữu của Thiên Chúa. Những nhà kỹ thuật hoặc nhà khoa học như Pasteur, James Clerk Maxwell, Ampère hoặc Planck đã thể hiện đức tin của mình trong cuộc sống, và nhờ thế đưa đức tin hiện diện trong tất cả các lãnh vực. Tôi cũng nghĩ đến một khuôn mặt lừng danh đó là chân phước Frédéric Ozanam.

Chúng ta cần những vị thánh mới, và không phải chỉ tìm thấy trong các đan viện. Trong tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội, chính trị và kinh tế, người ta cần chuyển những đòi hỏi của Phúc Âm thành hành động cụ thể. Khuôn mặt thánh Gandhi có thể giúp họ ý thức. Trong Giáo Hội chúng ta có những anh hùng rao truyền Phúc Âm; những Giám mục xuôi ngược đi khắp địa phận của mình, gậy cầm trên tay gặp gỡ các cộng đoàn, các trẻ em trong các trường học. Các linh mục, các giám mục trong các xứ phía Đông hoặc ở Trung quốc, đã là những vị tử đạo vì đức tin, trong các nhà tù, các trại tập trung. Tôi muốn lên tiếng cám ơn họ. Cám ơn đã lôi tôi ra khỏi nếp cũ để theo gương yêu thương của họ.

Một vài đoạn trong sách Khải Huyền đến với tôi, như có giá trị thời sự. Một đoạn nói về tình trạng nguội lạnh trong bức thư gởi Giáo Hội Laodicée (Kh 2, 14-22) làm tôi lưu ý. Nếu thế giới bệnh, có lẽ vì sự nguội lạnh này nơi tâm hồn Kitô hữu, dần dần làm cho toàn thế giới giá lạnh. Yếu tố chính chữa lành thế giới là phải đốt lửa đức tin lên lại. Phục hoạt và canh tân cuộc sống đạo nhiệt thành, đó là phương thuốc trị tình trạng liệt nhược hôm nay.

Một bé gái ngồi trước lò sưởi trong phòng khách gia đình. Lửa tắt dần. Cô kêu to lên :"Ba, xem kìa ! Lửa nguội rồi! " Đúng thế, lửa của Thánh Thần có đấy, nhưng nguội đi trong chúng ta. Chúng ta thường "che bít" quá kỹ, với tỷ lệ cách nhiệt mà các công ty xây cất hẳn phải thèm ! Chỉ cần một cái nhìn tuyệt diệu của một trẻ thơ hoặc một nụ cười trên khuôn mặt nhăn nheo đầy nếp để làm tung vỡ bì phu kiên cố đó.

Cốt lõi của việc chuẩn bị Năm Thánh 2000 không phải là xuất bản nhiều tài liệu hoặc nhân tăng các lý thuyết. Nhưng là thắp lên lại ngọn lửa đức tin, đức trông cậy và đức ái. Cần một bước nhảy qua vùng trời tự do và yêu thương, xác tín về sự hữu hiệu của Phúc Âm, và còn hơn thế nữa về nguồn phong phú vô cùng của Phúc Âm.

 

Vị thế Mẹ Maria

 

Việc tôn kính Mẹ Maria dường như được phục hoạt trong cuộc sống đức tin ngày nay. Đối với tôi, Mẹ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Lúc Chúa chết, Ngài nói với Mẹ Ngài trên Thánh giá: "Thưa Bà, này là con Bà", và Ngài cũng nói với người môn đệ Ngài thương (Phúc âm không viết là Gioan) :" Này là Mẹ con". Tức khắc, người môn đệ ấy đã đón tiếp Mẹ Maria về nhà mình. Người môn đệ mà Chúa Giêsu yêu, đó là mỗi người chúng ta. Chúa đã ban cho Giáo Hội điều quí giá nhất. Không phải là một mối lo nào đó hết sức vật chất như : trả giùm bảo hiểm xã hội cho Bà, nếu không thì không biết bà xoay xở cách nào được ! Trong xã hội thời ấy, trong mỗi đại gia đình có một người để lo cho các bà góa và các trẻ mồ côi, chu toàn công việc tương trợ trong gia đình. Mọi sự đều được sắp xếp rồi. Chúa Giêsu muốn nói đến một điều khác. Đó là Ngài trao phó Mẹ Ngài cho chúng ta để Mẹ sinh chúng ta ra lại trong cuộc sống mới làm con Chúa. Ngài đã sinh Con Một của Chúa, Mẹ sẽ sinh tất cả những ai nhờ Con Mẹ sẽ được làm con trai, con gái của Chúa.

Người ta thường nghĩ là sùng kính Đức Mẹ là việc làm tùy nghi. Nhưng lời Chúa Kitô trên Thánh giá dường như chắc chắn, rõ ràng, không quanh co. Một số anh em Kitô hữu chúng ta quả quyết là phải trực tiếp đi đến Chúa Giêsu, không cần qua trung gian. Nhưng chúng ta cần biết việc này, Chúa muốn đến gấp để cứu chúng ta. Và khi gấp, thì người ta dùng đường tắt. Mẹ Maria đúng là "con đường tắt ấy" để nối kết con người với Thiên Chúa. Mẹ là cửa mở cho Thiên Chúa đến trần gian, Mẹ sẽ là cửa cho trần gian lên trời. Nếu chúng ta muốn mau mau được gặp Chúa, Mẹ Maria không phải con đường vòng vòng, nhưng là con đường tắt của con người chạy đến Chúa. Mẹ chỉ ở đấy theo lời nhắn của Chúa Giêsu để ban Con Mẹ cho chúng ta.

Trong Kinh Thánh, Mẹ hiện diện trong tất cả mọi giai đoạn quan trọng của lịch sử Ơn Cứu chuộc. Trong lịch sử Giáo Hội, Mẹ đã luôn có mặt để bảo vệ Đức Kitô. Trong các Công đồng đầu tiên, khi người ta nói Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa, thì các Công đồng quả quyết Maria là Mẹ Thiên Chúa. Khi người ta nói Chúa Giêsu không phải là một người thật, thì xuất hiện những bức tranh đá, tranh gỗ ... trong các nhà thờ cho thấy Maria cho Chúa Giêsu bú. Mẹ Maria đã được mời đến để bảo vệ vừa Thiên tính vừa Nhân tính của Đức Kitô trong một ngôi vị duy nhất.

Chúng ta tin Chúa Kitô sẽ đến lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Cuộc trở lại trong vinh quang ấy được Maria chuẩn bị. Mẹ đã từng chuẩn bị lần Chúa đến đợt đầu, Mẹ cũng là Mẹ trong lần Chúa đến lần thứ hai. Hơn nữa, cuộc chiến tối hậu sẽ diễn ra chung quanh Mẹ. Chính Mẹ là người phụ nữ trong sách Khải Huyền, người đạp đầu con rắn "là kẻ thù truyền kiếp".

Trong đời sống riêng tư của tôi, Maria là bà mẹ dịu hiền, mẹ ấp ủ tôi trong cuộc sống siêu nhiên. Đó là Maria đã nói :"Xin Vâng" (Fiat). Nhưng tôi ưa gọi Mẹ, hiệp lời với Giáo Hội :"Maria, nguồn an vui của chúng con". ễ tiệc cưới Cana, Mẹ nói :"rượu hết rồi". Trong Thánh Kinh, rượu là tượng trưng của niềm vui. Mẹ quay lại với Chúa Giêsu để tâm sự với Ngài :" Họ hết rượu", trong ngôn ngữ siêu nhiên, có nghĩa là: "Con người đã mất nguồn vui. Con ban cho họ niềm vui đi !" Mẹ biết chỉ có Con Mẹ mới đem lại niềm vui thật cho tâm hồn con người. Giờ chưa đến. Chúa Giêsu sẽ không đem lại niềm vui nơi những buổi cưới hỏi tiệc tùng con người. Ngài sẽ không thực hiện việc đó khi đổi nước thành rượu, nhưng Ngài sẽ thực hiện vẹn toàn khi đổi rượu thành Máu của Ngài. Máu giao ước mới và vĩnh cửu, Máu của tiệc Con Chiên. "Các người hãy làm điều Ngài nói". Maria chỉ cho chúng ta biết phải đón nhận niềm vui là dấu hiệu riêng của Kitô hữu. Tôi nghĩ đến một người nghiện ma túy có lần đã nói :"Nếu Thiên Chúa của người Kitô hữu là thật, hẳn tất cả họ phải nhảy mừng, vì một Thiên Chúa đem lại cho cuộc đời một ý nghĩa, và như thế mọi sự lại hoàn toàn khác !"