X

 Pater et Pastor

"Tôi là Cha và là Đấng Chăn chiên"

 Thầy dạy muôn dân

       Vừa lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Gioan XXIII phải sửa lại huy chương của Ngài. Theo tục lệ, huy chương của Đức Giáo Hoàng không có đề khẩu hiệu, nên Ngài dạy xóa câu "Obedientia et pax". Huy chương của Ngài có cái tháp là biểu hiệu của gia đình RONCALLI, 2 hoa huệ biểu hiệu của thánh Alexandro tử đạo, quan thầy địa phận Bergamo, con sư tử xòe cánh, đỡ quyển sách có đề ."Bằng an cho con, Marco, thánh sử của ta" (Pax tibi Marce, Evangelista meus), nhắc lại Ngài đã làm Thượng phụ Giáo chủ tại Venise. Người ta đã sửa chữa theo ý Ngài rồi đem bức vẽ vào trình Ngài. Đức Thánh Cha nhìn đi nhìn lại và bảo :"Cái gì cũng đẹp nhưng con sư tử trông sao dữ quá, Cha muốn sửa cho nó hiền kia !"

       Phải, Đức Thánh Cha Gioan XXIII là một vị Cha hiền, Ngài muốn cho cả con sư tử nơi huy chương của Ngài cũng hiền. Công việc của một vị Cha hiền là dạy dỗ con cái. Ngài đã dùng tất cả mọi dịp để ban bố lời chân thật hằng sống, nào là những buổi triều yết, nào những bài diễn văn cho các phái đoàn trí thức, thợ thuyền, khoa học, chính trị, mà nhất là trong những bức Thông điệp gởi cho toàn thể giáo dân khắp thế giới để giáo huấn họ một vấn đề quan trọng.

       Để lấy một tỉ dụ, ta chỉ dở báo Osservatore Romano xem Đức Thánh Cha đã đọc những diễn văn nào mỗi tuần :

1-8-1959    Đức Thánh Cha ban Thông điệp

                  "Sacerdotii nostri Primordia" kỷ niệm

            bách chu niên Thánh Gioan Maria

                  Vianney từ trần.

       10, 11-8-1950    Diễn văn cho các Chủ tịch Công

                        giáo Tiến hành các địa phận

                              nước Ý.

       17, 18-8-1959 Điện văn cho dân tộc Honduras.

19-8-1959   Sắc ngữ gởi hàng Giáo phẩm, giáo sĩ

            và dân Balan dịp lễ Đức Mẹ Mông

                  triệu.

       23-8-1959  Điện văn cho Hội nghị Quốc tế Hiệp     

                                   hội Thánh Mẫu lần thứ II.

       Vâng lời Chúa Giêsu dạy :"Chúng con hãy đi dạy dỗ muôn dân". Đức Thánh Cha luôn luôn chú trọng đến việc giảng dạy lời Thiên Chúa.

      

Thông điệp "Lên ngôi Thánh Phêrô"

       Bức Thông điệp thứ nhất của Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã ban ngày 29-6-1959, khởi đầu bằng mấy tiếng "Lên ngôi thánh Phêrô"  ( Ad Petri cathedram) dưới ba đề tài : Chân lý , Hợp nhất và Hòa bình trong tinh thần Bác ái.

       Mở đầu bức Thông điệp, Đức Thánh Cha nêu cao sứ mệnh của Giáo Hội, là cơ quan tiêu biểu để liên kết các dân tộc. Ngài phác họa các công việc sắp làm là Hội Công đồng Chung, tu bổ bộ Giáo luật cho Giáo Hội Đông phương, Hội đồng Địa phận La-mã. Tiếp đến Đức Thánh  giới thiệu ba đề tài chính của Thông điệp : Chân lý, Hiệp nhất và Hòa bình trong tinh thần Bác ái.

       Phần  I : Chân lý.

        Sự xuyên tạc Chân lý, khinh miệt chân lý, không biết đến chân lý nhất là chân lý mặc khải là nguyên nhân sinh mọi đồi bại của xã hội hiện thời.

           Phần II : Hợp nhất và Hòa bình.

       Trở về với chân lý, người ta sẽ nhận ra mối tình huynh đệ giữa loài người với nhau, giữa các dân tộc, giữa các giai cấp xã hội, gia đình, và như thế sẽ dễ dàng đi đến hào bình thực sự.

 

       Phần III : Sự duy nhất của Giáo Hội.

       Lúc sáng lập Giáo Hội, Chúa Giêsu chỉ muốn có một đoàn chiên và một Đấng chăn chiên, nên hiện nay Đức Giáo Hoàng tha thiết kêu gọi các Giáo đoàn ly khai hãy nghe lời Chúa phán mà trở về cùng Giáo Hội La-mã, để tất cả hợp nhất trong một đức tin, một quyền bính, một phụng tự. Muốn được hiệp nhất, ta hãy cầu nguyện theo lời Chúa đã cầu xưa :"Xin cho chúng nó hợp nhất" ( Ut unum sint !)

       Phần IV : Những lời huấn dụ.

       Đức Thánh Cha ngỏ lời với từng giới và về từng vấn đề, để hoặc chỉ dẫn, khuyên giục, dạy bảo hoặc an ủi trong công việc tông đồ ... Ngài ngỏ lời với các Giám mục, các Linh mục, các Tu sĩ nam nữ, những người đau khổ nghèo túng, di cư tị nạn, những người bị bách hại vì đạo thánh, với tất cả mọi người. Cuối cùng Đức Thánh Cha khuyên tất cả hãy sống một cuộc đời đạo đức.

      

Thông điệp "Buổi đầu đời linh mục của ta"

       Thông điệp thứ hai, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã ban tên là "Buổi đầu đời linh mục của Ta" ( Sacerdotii nostri primordia). Bức Thông điệp nầy được công bố vào ngày 31-7-1959 vào dịp bách chu niên thánh Gioan Maria Vianney từ trần. Đức Thánh Cha đã  nêu cao gương sáng của cha xứ nghèo khó nầy. Đức Thánh Cha nhấn mạnh vào sự quan trọng và hiệu lực của các nhân đức khó nghèo, hãm mình, trinh khiết, vâng lời. Ngài đặc biệt kêu gọi các linh mục mến yêu sự cầu nguyện và phép Thánh Thể, nhất là Thánh lễ. Đức Thánh Cha dạy bắt chước gương tông đồ sốt sắng của thánh Vianney, trong việc giảng dạy và nhất là ngồi tòa cáo giải. Đức Thánh Cha không quên lưu ý các Giám mục và giáo dân về sự giúp đỡ họ có thể làm và phải làm cho các linh mục để tránh hai điều khổ các vị ấy thường phải chịu đựng là sống cô quạnh và nghèo túng.

      

Thông điệp "Một kỷ niệm tốt đẹp"

       Ngày 26-9-1959, Đức Thánh Cha Gioan XXIII ban một bức Thông điệp vắn, chữ đầu bức Thông điệp nầy là "Một kỷ niệm tốt đẹp" (Grata Recordatio). Đây là một lời kêu gọi toàn thể Giáo Hội cầu nguyện, nhất là trong tháng Mân Côi. Đức Thánh Cha chỉ những ý chính của lời cầu nguyện : Kỷ niệm Đức Thánh Cha Piô XII băng hà, và Đấng kế vị Ngài đắc cử (9-28 tháng 10 năm 1958). Tiếp đó Đức Thánh Cha nhắc đến các Địa phận Truyền giáo, đến công bình và hòa bình giữa các dân tộc, đến sự cần thiết phải công nhận Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, ban lề luật, là Đấng bênh các quyền lợi của con người, Ngài cũng nhắc đến Hội đồng địa phận La-mã và Công Đồng Chung.

      

Thông điệp "Thủ lĩnh các Chúa chiên"

       Thông điệp thứ tư của Đức Thánh Cha Gioan XXIII được công bố ngày 29-11-1959, chữ đầu là "Thủ lĩnh các Chúa chiên" (Princeps Pastorum) để kỷ niệm 40 năm ngày Đức Benedictô ban Thông điệp "Maximum illud", ngày 30-11-1959. Thông điệp Thủ lĩnh Chúa chiên nầy là một Hiến chương quan trọng về vấn đề truyền giáo, vì trong đó Đức Thánh Cha vạch cách tỉ mỉ rõ ràng tất cả những nguyên tắc và tôn chỉ ta phải theo để làm tông đồ cách hữu hiệu. Thông điệp nầy quan trọng vì nó giúp giải quyết những vấn đề khẩn thiết thời đại mới đã đặt ra.

       Ngài nhắc lại vị Giám mục Á châu trước tiên được tấn phong vào năm 1923 và vị Giám mục Phi châu trước tiên được tấn phong vào năm 1939. Đến năm 1959 ta đếm được 68 Giám mục Á  châu và 25 Giám mục Phi châu. Giáo sĩ bản quốc Á châu năm 1918 được 919 và năm 1957 lên đến 5.553 vị ; cũng trong thời gian ấy giáo sĩ bản quốc Phi châu đi từ con số 90 đến 1.811 vị.

       Bức Thông điệp Truyền giáo nầy chia làm hai phần :

       Phần I : Bàn về hàng Giáo phẩm và Linh mục bản

                       quốc.

       Đức Thánh Cha dạy : nếu muốn thiết lập Giáo Hội bền vững khắp nơi thì phải giao phó việc điều khiển cho hàng giáo phẩm bản quốc. Nhưng muốn được thế, phải chú trọng đến việc đào tạo chủng sinh về đời sống thiêng liêng : huấn luyện cho chủng sinh sống thích hợp với hoàn cảnh, có tinh thần trách nhiệm và óc sáng kiến, biết quí trọng giá trị truyền thống của địa phương, hầu lúc làm linh mục họ có thể giao thiệp ngang hàng với giới trí thức, hoạt động Giáo Hội theo chỉ thị của Tòa Thánh, và luôn luôn nghĩ đến quyền lợi của Giáo Hội phổ quát trên tất cả.

      

       Phần II : Bàn về giáo dân.

       Họ có một vai trò quan trọng trong đời sống Giáo Hội, họ phải là chứng nhân hùng mạnh của chân lý bằng đức Bác ái, họ phải cộng tác và giúp đỡ Giáo Hội về tinh thần cũng như vật chất. Hàng linh mục có phận sự huấn luyện giáo dân thành những tông đồ sốt sắng tham gia công việc truyền giáo. Đức Thánh Cha bàn đến việc đào tạo cấp chỉ huy tông đồ giáo dân, phận sự của các phần tử ưu tú trong giáo dân đang nắm giữ những địa vị quan trọng trong xã hội, Ngài cũng tỏ nỗi lo lắng của Giáo Hội đối với các sinh viên Á Phi du học tại Âu châu.

      

Hội đồng địa phận La-mã

       Đức Thánh Cha là Giáo Hoàng chung của cả Giáo Hội, nhưng Ngài lại còn là Giám mục cai quản địa phận La-mã. Để giúp Ngài xem sóc địa phận đặc biệt nầy, có một Đức Hồng Y quản lý và 3 Giám mục phó quản lý Đại diện Đức Thánh Cha. Chúng tôi gọi La-mã là một địa phận đặc biệt vì nó đồng thời là Kinh đô của Giáo Hội. Tuy nó không rộng lắm, nhưng các Tòa Bộ của Tòa Thánh, các Giáo Hoàng Đại học, Giáo Hoàng Chủng viện, các nhà mẹ của các Dòng tu Nam Nữ đều ở trong địa hạt của nó. Suốt ngày, ta gặp các vị Hồng Y, Tổng Giám mục, Giám mục, Đức Ông, Linh mục, Tu sĩ, Nữ tu, đủ mọi màu da, ngôn ngữ, vận y phục đủ màu sắc. Thành La-mã lại là một đô thị có hai triệu dân, Kinh đô nước Ý, thành thử vấn đề luân lý, xã hội phải được chú trọng.

       Đức Thánh Cha đã triệu tập Hội Đồng Địa phận La-mã vì dĩ nhiên theo Giáo luật, Hội đồng là việc cần thiết và giúp ích cho đời sống Công giáo của giáo sĩ cũng như giáo dân. Ta cần phải xem lịch sử để biết tại sao Đức Thánh Cha khẩn cấp triệu tập Hội đồng Địa phận như thế.

       Từ 5 thế kỷ nay, nghĩa là từ Công đồng Trente chưa có Hội đồng Địa phận La-mã lần nào. Mặc dù sự hiện diện của Đức Thánh Cha tại La-mã có thể giải quyết rất nhanh chóng nhiều điều thắc mắc, nhưng còn nhiều khía cạnh khó khăn đòi buộc Đức Thánh Cha phải áp dụng giải pháp Giáo luật đã ấn định : Hội đồng Địa phận.

       Ngày trước, 3 Hội đồng La-mã đã được triệu tập trong những hoàn cảnh gay cấn và quan trọng nhất của lịch sử Giáo Hội : 2 Hội đồng đầu tiên vào thời các Giáo Hoàng lưu đày ở Avignon (Pháp) mới trở về La-mã. Hội đồng thứ ba họp tại nhà thờ thánh Eustachio năm 1461 đời Đức Piô II để tìm những giải pháp thích ứng với Phong trào Phục hưng đang sôi nổi ở Âu châu. Ngày nay trong thời đại nguyên tử, địa phận La-mã cũng cần có biện pháp thích ứng để thánh hóa giáo dân đang bị đời sống vật chất vô thần chi phối.

       Bộ Giáo luật có tính cách vừa quân chủ vừa dân chủ : Đức Giám mục là vị lập pháp độc nhất trong địa phận, nhưng các dự án do các tiểu ban dự thảo đệ trình lên, để một ủy ban Trung ương thảo luận rồi chính mình Đức Giám mục quyết định.

       Trong một buổi họp báo, Đức Hồng Y Traglia (Hồi đó làm Giám mục phó Quản lý Địa phận La-mã) đã cho biết : Hội đồng đã đặt 6 tiểu ban, các tiểu ban đã họp mất 124 buổi, cộng tất cả là 400 giờ ; Ủy ban Trung ương họp mất 41 buổi, cộng tất cả là 115 giờ.

       Họ đã soạn tất cả 800 khoản luật, chia làm 3 sách : quyển nhất nói về các luật chung ; quyển hai nói về các Giáo sĩ, tu sĩ Nam Nữ, Giáo dân ; quyển ba nói về việc quản trị tài sản của Giáo Hội.

       Sau lúc tra cứu bàn luận kỹ càng, 800 khoản luật trên được sửa chữa và sắp thành 770 khoản, trong 3 quyển.

       Ngày 25 tháng 01 năm 1960, tại đền thờ thánh Gioan Lateranô, Đức Thánh Cha Gioan XXIII họp khóa nhất của hội đồng Địa phận La-mã : ngày 26 và 27 Ngài tiếp tục họp khóa 2 và khóa 3.

       Trong khóa nhất, sau khi cử hành các lễ nghi thường lệ, Đức Thánh Cha đã giảng một bài bằng tiếng Latinh, hai ngày sau Ngài giảng bằng tiếng Ý. Đại ý bài giảng ngày đầu là linh mục phải nên thánh vì địa vị cao cả của họ đòi buộc. Ngày thứ hai Đức Thánh Cha giảng về đời sống Tông đồ, linh mục phải tu luyện 3 điều : đầu óc, quả tim và cái lưỡi : đầu óc linh mục phải có chân lý và giáo lý đầy đủ, đồng thời có một nền văn hóa cao ; quả tim linh mục phải kính mến Thiên Chúa và yêu thương các linh hồn. Đến đây Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến đức trinh khiết cần thiết và quí trọng thế nào cho các linh mục ; cái lưỡi của linh mục "phải biết làm thinh và phải biết nói đúng đắn lúc cần, đó là dấu chỉ người khôn ngoan và trọn lành".

       Trong khóa 3 Đức Thánh Cha đã giảng về vấn đề : Linh mục là Đấng chăn chiên.

       Mỗi ngày, sau lúc Đức Thánh Cha giảng thì một giáo sĩ đọc một số các khoản luật. Lẽ đáng nghe đọc xong thì bàn cãi tiếp theo, nhưng vì số người tham dự đông quá (1.000 vị), nên Đức Thánh Cha dạy : mỗi người viết ý kiến của mình, trình lại với ủy ban Trung ương, các đề nghị của họ sẽ được chú trọng thẩm xét trước khi công bố thực thọ bản hiến pháp của Hội đồng Địa phận.

       Mặc dù Hiến pháp ấy chỉ có hiệu lực đối với địa phận La-mã, nhưng Đức Thánh Cha mong nó cũng ảnh hưởng đến cả Giáo Hội.

      

Công Đồng Vatican II

       Ngày 24 tháng 01 năm 1960, tờ nhật báo Công giáo tại Bologna tên là L'Avenire d'Italia đã đăng một tài liệu rất quí giá. Đó là bức thư đề năm 1927 của Đức Cha RONCALLI, Kinh lược Tông tòa tại Bảo gia Lợi, gởi cho Đức Hồng Y Nasalli-Rocca, Tổng Giám mục thành Bologna, dịp Đại Hội Thánh Thể toàn quốc tại thành nầy :

       "Tôi cảm thấy một điều thôi thúc tôi, là khiêm tốn và sốt sắng cầu xin Đức Hồng Y làm sao cho trong cuộc Hội nghị Thánh Thể Toàn quốc sắp đến, liền với ý cầu nguyện truyền giáo, mà thế nào cũng được nhắc đến, người ta phải quan tâm đến việc tông đồ cho các giáo đoàn Hiệp nhất.

       "Nếu với một kinh nghiệm ngày nay, tôi có đủ thời giờ để nói và viết, tôi rất có thể trình bày tất cả sự quan trọng của vấn đề ấy, vấn đề mà Đức Thánh Cha cứ nhắc đi nhắc lại. Không bao lâu nữa vấn đề ấy sẽ đánh động trí óc và con tim của giáo dân Ý hơn ngày nay ...".

       Theo lời Đức Cha RONCALLI trong bài điếu văn dịp đọc Đức Piô XI thăng hà, thì giữa Ngài và Đức Piô XI có những niềm tâm sự, những chương trình hoạch định, những bí nhiệm mà vì hoàn cảnh, Ngài chưa có thể tiết lộ ra được.

       Ngài đã cầu nguyện, đã nuôi ý nguyện ấy trong tâm hồn, đã suy nghĩ liên hồi. Ngày 25 tháng Giêng năm 1959, sau lúc ngự tòa dự lễ trọng tại đền thờ thánh Phaolô Ngoại thành để bế mạc tuần cầu nguyện hiệp nhất, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đi vào Tư thánh với 17 vị Hồng Y.  Giáo dân tản mác ra về, hay đứng sau lưng đền thờ bên cạnh chiếc xe Đức Thánh Cha để hoan hô Ngài khi bước lên xe. Tại Tư thánh, Đức Thánh Cha cho Đức viện phụ và các Tu sĩ dòng Benedictô cai quản đền thờ bái kính, đoạn trước mặt 17 vị Hồng Y, Ngài tuyên bố :

       - Hội Công Đồng chung cả Giáo Hội :

       - Hội Đồng địa phận La-mã

       - Tu bổ Giáo luật ;

       - Sắp công bố bộ Giáo luật riêng cho Giáo Hội Đông

             phương.

       Mười một giờ trưa, Đài phát thanh Vatican loan báo các điều Đức Thánh Cha vừa tuyên bố. Lúc ấy dân chúng La-mã mới biết : mọi người ngơ ngác nhìn nhau, vừa vui mừng vừa kinh khủng. Vị Giáo Hoàng 78 tuổi nầy, sau 3 tháng trên ngôi thánh Phêrô đã quyết làm những điều cả thể lớn lao nhất của lịch sử Giáo Hội thế kỷ 20. Sau lúc tuyên bố, Đức Thánh Cha vẫn mỉm cười vui vẻ, vẫy tay chào và chúc lành cho Giáo dân hoan hô Ngài hai bên đường. Ngài không biết Ngài vừa làm một công việc khiến cả thế giới rúng động sao ? Ngài biết lắm chứ ! nhưng Ngài không ngạc nhiên vì Chúa quan phòng đã cho Ngài nghiền ngẫm vấn đề nầy trên 30 năm nay rồi.

       Tin Công đồng chung vừa phát ra, vang âm từ khắp thế giới vọng lại. Ta hãy xem phản ứng của mọi tầng lớp, mọi khuynh hướng trên thế giới :

       Đức Hồng Y Montini đã tuyên bố :"Công đồng chung là biến cố quan trọng nhất của Giáo Hội trong thế kỷ 20 nầy".

       171 Giáo đoàn phân ly khỏi Giáo Hội La-mã đã tỏ vẻ hân hoan đón tiếp tin Công đồng chung sắp mở, họ thuộc các giáo đoàn : Chính Thống, Thệ phản, Anh giáo ở 83 nước.

       Chúng ta có thể chia ý kiến hoặc riêng từng Giáo đoàn, hoặc một số trưởng Giáo đoàn làm hai hạng. Cả hai bên đều tán dương công việc của Đức Thánh Cha Gioan XXIII, họ cũng công nhận chỉ có mình Ngài đủ uy tín đứng lên kêu gọi Hợp nhất. Nhưng một bên chỉ ủng hộ theo nguyên tắc như Giáo chủ Chính thống thành Constantinople: Đức Cha Siméon, Bác sĩ Joost de Blank, Tổng Giám mục Thệ phản ở Cap ; Mục sư Boegner Trưởng Giáo hội cải tân ở Pháp.

       Dư luận thứ hai cũng tán thành, nhưng họ nghĩ rằng Công đồng chung sẽ là bước đầu dẫn đến Hiệp nhất thôi. Sự chia rẽ đã quá lâu, nên cần phải dọn đàng lâu ngày, ấy là ý kiến của các Đức Cha Iakovos, Tổng Giám mục Chính thống Hy lạp, xem sóc tín đồ ở Mỹ ; Đức Cha Bashir Tổng Giám mục Chính thống theo nghi thức Syria, xem sóc các tín đồ ở Bắc Mỹ.

       Dĩ nhiên Công đồng chung sẽ gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại cho sự Hiệp nhất, tỉ dụ : lòng tự ái không muốn nhận mình đã sai lạc ; không muốn nhận  các chức mình đã chịu đều bất thành vì không do Giám mục tấn phong. Một điểm khó khăn khác là đa số tín đồ Chính thống ở sau bức màn sắt sẽ lấy ai Đại diện có quyền ăn nói thay cho tất cả Chính thống hoặc Thệ phản? Một điểm khó khăn nữa là phân ra nhiều giáo đoàn quá không lệ thuộc nhau, tỉ dụ nguyên nước Mỹ đã có độ 300 giáo đoàn Thệ phản.

       Ngày 17-5-1959 báo Osservatore Romano đã công bố tin Đức Thánh Cha thành lập Ủy ban tiền dự bị Công đồng chung. Trưởng ban là Đức Hồng Y Tardini, Quốc Vụ Khanh. Thư ký ủy ban Trung ương là Đức Ông Felici, thuộc Tòa Thượng Thẩm của Tòa Thánh. Ủy ban Trung ương điều khiển 10 tiểu ban, mỗi tiểu ban lại đặt dưới quyền của một vị có trọng trách trong một Thánh Bộ, thường là các Tổng Giám mục, Giám mục hay Đức Ông thư ký của  Thánh bộ. Như thế các vị chuyên môn nầy sẽ sắp đặt kỹ càng trước những điều phải làm. Họ cũng hiểu biết tình hình, các biến chuyển và các khó khăn mỗi vấn đề nêu lên khắp thế giới. Trong 12 Thánh Bộ đã có 10 Bộ quan trọng trong 10 ủy ban ; 2 Bộ kia chuyên về việc quản trị và lễ nghi ở đền thờ thánh Phêrô, nên không có tính cách phổ quát và không liên can đến Công đồng chung.

       Có thể tóm tắt công việc của ủy ban tiền dự bị Công đồng chung trong 4 điểm :

       1-Tiếp xúc với hàng Giáo Phẩm khắp thế giới để nghe họ bàn cãi và đề nghị ;

       2-Nhận các đề nghị của các Tòa bộ của Tòa Thánh ;

       3-Nhận các đề nghị của các khoa Thần học, Giáo luật trong các Đại học Công giáo đệ trình lên ; vạch chương trình chung để theo đó mà thảo luận trong Công đồng chung ;

       4-Đề nghị thành phần của các ủy ban sẽ hoạt động trong giai đoạn dự bị Công đồng chung.

       Sau lúc Ủy ban tiền dự bị thành lập, họ đã bắt tay vào công việc ngay. Việc trước hết là gởi thông cáo cho các Giám mục khắp thế giới, trong đó có sẵn các câu hỏi. Hạn trả lời cuối cùng là ngày 30-4-1960. Ủy ban Trung ương đã đặt 9 vị chuyên môn nhận các câu trả lời, giúp các tiểu ban khảo sát và xếp đặt các phúc trình. Những bản phúc trình quan trọng được đệ lên Đức Thánh Cha. Trong một số báo Osservatore Romano, chúng tôi đã thấy in hình 2 bản phúc trình đã được Đức Thánh Cha xem xét và phê bình ở dưới :"Đã xem kỹ, có những điều rất hay và rất hữu ích". Xem đó đủ biết Đức Thánh Cha rất chú trọng trực tiếp hoạt động điều khiển công việc ủy ban Trung ương.

       Kỳ hè năm 1960, sau lúc nhận đủ phúc trình của hàng Giáo phẩm cũng như của các Đại học Công giáo khắp thế giới Đức Thánh Cha tuyên bố chấm dứt giai đoạn tiền dự bị Công đồng chung.

       Theo sự khảo sát của ủy ban tiền dự bị và lời họ đề nghị, Đức Thánh Cha liền đặt Ủy ban dự bị. Ủy ban nầy trước hết gồm các Hồng Y điều khiển các tiểu ban ; sau các Hồng Y là các Giám mục lỗi lạc trên thế giới, vì đã từng chuyên môn, hoặc đã từng sống trong các trường hợp liên can đến vấn đề phải bàn cải. Đức Thánh Cha cũng chọn vào Ủy ban các nhà Thần học, Giáo luật học danh tiếng khắp thế giới. Ngài cũng chọn mỗi xứ một Giám mục Đại diện trong Ủy ban dự bị. Hiện giờ thành phần các Ủy ban ấy cũng chưa đủ, vì Đức Thánh Cha còn tiếp tục chọn Đấng nầy, vị kia vào các tiểu ban.

       Vì Công đồng chung đang ở giai đoạn dự bị, nên chúng tôi chỉ tóm tắt công việc cao cả của Đức Thánh Cha trên mấy trang giấy nầy, mong có những sách khác sẽ trình bày rõ ràng lúc Công đồng chung hoàn thành.

       Dưới đây là một ít điểm chúng ta tạm biết được theo lời Đức Hồng Y Tardini tuyên bố với các nhà báo ngày 30-10-1959:

      

       Tên : Công Đồng Vatican II

       Địa điểm : Đền thờ thánh Phêrô.

       Thời giờ : Có lẽ sẽ khai mạc và ngày mồng 8-12 (lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm) chưa định vào năm nào, đoán là năm 1962.

       Thời hạn : Hy vọng sẽ vắn, vì đã dứt khoát được trước nhiều vấn đề, nhờ sự hoạt động của các ủy ban.

       Tiếng nói : Chắc chắn sẽ dùng Latinh, mặc dù không khỏi khó khăn, nhưng Latinh là tiếng chung của Giáo Hội, lại rõ ràng, gọn ghẽ.

       Bảo trợ : Đặt dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ.

       Tham dự : a)- có quyền bàn định : 2700 Hồng Y, Tổng Giám mục, Giám mục Chính tòa, các Tu viện trưởng biệt hạt, các Tu viện trưởng của các liên tu viện : các Bề trên Cả các dòng Giáo sĩ không thuộc quyền Giám mục, các Giám mục tước hiệu.

       b)- có quyền tư vấn : các nhà Thần học, Giáo luật học v.v...

       c)- Quan sát viên : Các Đại diện của các Giáo đoàn Ly khai có thể được mời với tư cách quan sát viên.

       Mục đích : Theo ý Đức Thánh Cha Công đồng chung sắp đến không thiên về vấn đề Tín lý. Mục đích chính của Công đồng chung là giúp giáo dân thêm đức tin, cải thiện đời sống, thích nghi kỷ luật của giáo sĩ và giáo dân với nhu cầu và phương pháp của thời đại ta, đồng thời kêu mời các giáo đoàn ly khai hợp nhất, thành một đoàn chiên và một Chủ chiên, đó là điều mọi dân tộc mong ước.

       Ngày lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thánh ( 2-2-1960) trước lúc nhận những cây nến quí, mà các đại diện chủng sinh và tu sĩ đến dâng, Đức Thánh Cha đã đọc một diễn văn vắn tắt :"Các cây nến quí nầy sẽ được gởi cho các đền thờ danh tiếng khắp thế giới, để kêu gọi giáo dân cầu nguyện cho Công đồng chung có kết quả". Ngài cũng tỏ ra cho họ biết : ‘’Sáng mai nay lúc dâng Thánh lễ, Cha đã hiến dâng mạng sống Cha cho Chúa, hầu Công đồng chung được kết quả". (Năm nay Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã gửi một trong những cây nến quý ấy dâng kính Đức Mẹ Lavang).

      

Tăng số các Hồng Y

       Năm 1586 Đức Sixtô V đã ban một sắc chỉ định số Hồng Y là 70 vị. Suốt 4 thế kỷ, Giáo Hội vẫn theo lối ấy. Năm 1946 Đức Thánh Cha Piô XII đã bảo rằng có thể sửa chữa Sắc chỉ ấy, nhưng năm 1953, lúc cử các Hồng Y mới, Ngài cũng không đi quá con số 70.

       Sáng 17-11-1958, Đức Thánh Cha vào phòng Quốc Vụ Khanh và tuyên bố đặt Đức Ông Tardini làm Quốc Vụ khanh của Ngài  (chức nầy giống chức Bộ Trưởng Ngoại giao), ban trưa báo chí đang sôi nổ loan tin ấy, thì lúc 2 giờ chiều Đài phát thanh Vatican báo tin Đức Thánh Cha đặt thêm 23 vị Hồng Y ! Thực là đột ngột, hơn thế, số Hồng Y bây giờ 75 vị, không còn là 70 như trước nữa.

       Chúng ta nhận thấy ở đây tất cả con người của Đức Gioan XXIII. Ngài thinh lặng và hoạt động. Không cần tuyên bố hay ban một qui chế Giáo Hoàng nào. Đặt số Hồng Y lên 75, tự nhiên luật hạn định số 70 kia bị bãi bỏ.

       Một năm sau, ngày 15-11-1959, Ngài đặt thêm 8 vị Hồng Y mới ; đến ngày 3-3-1960 Ngài đặt thêm 7 vị Hồng Y mới nữa. Ngài cũng tuyên bố là Ngài đặt thêm 3 vị nữa mà Ngài chưa rao tên ( in petto). Tên những vị nầy sẽ được công bố lúc nào Đức Thánh Cha muốn. Chừng ấy họ sẽ được liệt ngang hàng với những đấng đã được công bố ngày 3-3-1960. Nếu Đức Thánh Cha thăng hà trước khi công bố, thì không có luật nào buộc Đức Giáo Hoàng kế vị phải đặt họ lên chức Hồng Y.

       Sau ngày 3-3-1960, số Hồng Y lên đến 85 vị, thuộc 28 quốc tịch khác nhau.

       Âu châu 60 vị : Ý 33 ; Pháp 8 ; Tây Ban Nha 4 ; Đức 3 ; Bồ Đào Nha 2 ; Anh 2 ; Các nước Áo, Bỉ, Hung, Ái Nhĩ Lan, Ba lan, Hòa Lan mỗi nước một vị.

       Bắc Mỹ  8 vị : Hoa Kỳ 6 ; Gia Nã Đại 2.

       Năm Mỹ 9 vị : Ba Tây 3 ; Á Căn Đình 2 ; các nước Cuba, Equateur, Mễ Tây cơ, Uraguay mỗi nước 1 vị.

       Phi châu : 1 vị ở Tananyika.

       Á châu 6 vị :  Syrie ; Arménie ; Ấn độ ; Trung hoa ; Nhật bản ; Phi luật tân mỗi nước một vị.

       Úc Châu : 1 vị

       Xét theo tuổi, thì hiện giờ tuổi trung bình của các Hồng Y là 69, vị niên trưởng là Đức Hồng Y Dalla Costa ( Florence) thọ 87 tuổi ; vị trẻ nhất là Đức Hồng Y Doepfner ( Bá Linh) 46 tuổi.

       Xét theo phẩm, trong 85 vị, có 6 vị thuộc phẩm Giám mục, 68 vị thuộc phẩm linh mục ; và 11 vị thuộc phẩm phụ tế.

       Trong số 85 Hồng Y, có 12 vị do Đức Piô XI đặt ; 35 vị do Đức Piô XII ; Đức Gioan XXIII  đặt 38 vị.

       Các Hồng Y thuộc hàng Giáo sĩ triều, chỉ có 5 vị thuộc Giáo sĩ dòng.

       33 Hồng Y làm việc bên cạnh Giáo triều La-mã, các vị khác quản trị địa phận.

       Tại sao Đức Thánh Cha đặt thêm nhiều Hồng Y như thế ?

       Theo thiển ý chúng tôi, Đức Thánh Cha muốn cho Hội Hồng Y tượng trưng cho tất cả các dân tộc, đúng theo tính cách phổ quát của Giáo Hội. Ngài muốn thêm số Hồng Y làm việc tại Tòa Giáo triều, để giảm bớt công việc cho các vị lớn tuổi, mấy lâu nay phải gánh nhiều công việc, đảm đương trách nhiệm nặng nề ở 2, 3 Thánh bộ một lượt. Đức Thánh Cha cũng muốn thêm số Hồng Y không thuộc quốc tịch Ý tại Giáo triều, hiện giờ ta thấy 1 vị Á Căn đình, 1 vị Mỹ, 1 vị Đức , 2 vị Pháp và 1 vị Arménia.

       Với 33 Hồng Y hiện diện tại La-mã, Đức Thánh Cha mong công việc các Ủy ban dự bị Công đồng chung sẽ kết quả mỹ mãn hơn và nhanh chóng hơn, vì do những Đấng chuyên môn và giàu kinh nghiệm phụ trách.

       Các vị Hồng Y ở cạnh Giáo triều đã chuyên môn những gì ? Đã hay rằng một lúc được Đức Thánh Cha tôn lên địa vị ấy, các Hồng Y phải là những đấng thông minh, thánh thiện, xuất sắc trong hàng Giáo phẩm. Nhưng muốn thấy cách cụ thể, ta hãy xem vào các vị ở Giáo triều : các Hồng Y Tisserant, Morano, Bea là những nhà bác học. Những vị sau đây là những nhân vật lão luyện trong các vấn đề giáo lý, Giáo luật, vì họ đã thâm niên đảm nhận những chức vụ quan trọng trong các Thánh bộ, như Đức Roberti, thư ký Thánh bộ Công đồng từ năm 1946, Đức Bracci, thư ký Thánh bộ Bí tích từ năm 1935 ; Đức Tardini đã làm việc ở Văn phòng Quốc vụ khanh mãi từ năm 1929 ; Đức Confalonieri, thư ký Thánh bộ Đại học và Chủng viện từ năm 1946, Ngài cũng đã làm bí thư cho Đức Piô XI suốt mười mấy năm ; Đức A. Cicognani làm việc ở Cơ-mật-viện từ 1910-1914, ở Thánh bộ Giáo Hội Đông phương từ 1923-1928, Khâm sứ Tòa thánh ở Hoa Kỳ từ 1933-1958. Những vị khác từng sống trong trường ngoại giao là Đức Chiarlo đã ở Pérou, Balan, Bolivie, Costarica, Ba tây ; Đức Cento đã ở Venezuela, Pérou, Bỉ, Bồ đào nha ; Đức Fietta đã ở Haiti, Domingo, Á căn đình và Ý ... Đây chỉ là một ít tỉ dụ.

       Các Đức Hồng Y là những vị lão thành mà còn sáng suốt khỏe mạnh, đã dày công nghiệp với Tòa thánh. Các Ngài sẽ mang theo sự hiểu biết, lòng yêu mến các dân tộc các Ngài đã quen. Các Ngài sẽ bênh vực các dân tộc ấy cũng như được Giáo phẩm, giáo sĩ và giáo dân các nước ấy ghi sâu những kỷ niệm đầy thiện cảm, mà lúc làm Đại diện Tòa Thánh các Ngài đã để lại. Các Hồng Y nầy là những vị Cố vấn sáng suốt của Đức Thánh Cha, đồng thời là tiếng nói của nhiều dân tộc xa xăm giữa giáo triều.