2

Chiếc bánh thứ hai:

Phân biệt giữa Chúa và việc của Chúa.

 

 

Thật đúng vậy, Chúa Giêsu là một người bạn hay đòi hỏi, hay chỉ cho ta nhắm những mục đích cao cả, ... Hãy đạp đổ những rào cản của nông nỗi và sợ hãi bao vây các bạn!  Hãy nhận ra mình là những “con người mới”.

 

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 3)

 

 

      Lúc tôi còn là một linh mục sinh viên ở Roma, có một người đã bảo tôi:  “Đức tính lớn nhất của bạn là ‘hăng say nhiệt tình’, còn tính xấu tệ nhất là ‘hay tấn công’”.  Dù thế nào đi nữa, tôi là một người ham hoạt động:  hướng đạo sinh, tuyên úy tráng đoàn Lavang, cắm trại trên núi Bạch mã...  Một tư  tưởng thúc bách tôi mỗi ngày:  phải chạy đua với đồng hồ!  Làm tất cả những gì có thể được để củng cố và phát triển Giáo hội trong Giáo phận Nha Trang, trước khi thời gian khốn khó xảy đến, khi phải sống dưới chế độ cộng sản!

 

      Trọng tâm hoạt động của tôi là huấn luyện nhân sự:  gia tăng đại chủng sinh từ 42 đến 147 trong tám năm; gia tăng số tiểu chủng sinh từ 200 đến 500 trong bốn chủng viện; tu nghiệp các linh mục trong sáu giáo phận của Giáo tỉnh miền Trung; phát triển và huấn luyện các phong trào thanh niên, giáo dân, các hội đồng giáo xứ, mục vụ...  Tôi rất quí mến giáo phận đầu tiên của tôi là Nha Trang.

 

      Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Đức Phaolô VI bổ nhiệm.  Không kịp từ  biệt những ai đã từng hiệp nhất với tôi trong cùng một lý tưởng, cùng một quyết tâm, cùng chia sẻ hân hoan và thử thách.

 

      Đêm ấy 7-5-1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha Trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang - vì thương nhớ.  Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Đức Thánh Cha.

 

      Tiếp đến là gian khổ thử thách tại Sàigòn, là bị bắt đưa trở lại Nha Trang, nơi mà tôi đã bị biệt giam khắc nghiệt nhất, không xa Tòa Giám mục của tôi.  Sáng tối tôi nghe tiếng chuông nhà thờ chánh tòa như  xé nát tim tôi.  Đêm đến tôi nghe tiếng sóng biển vỗ cạnh buồng biệt giam.

 

      Từ Nha Trang tôi bị đưa trở lại Sàigòn, ở trại Thủ Đức, vùng Tam Hà, ngày đêm nghe không biết bao nhiêu tiếng chuông nhà thờ.  Đêm 1-12-1975, cùng với 1500 bạn tù đói, mệt, chán nản, còng tay hai người chung một khóa số 8, bước xuống gầm tàu “Hải Phòng” đậu tại bến Tân cảng gần cầu Xa lộ, để chở ra trại cải tạo Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phú, trong thung lũng núi Tam Đảo, mùa đông 1976-77 rét 2?C.

 

      Đặc biệt nhất là nỗi gian khổ của 9 năm biệt giam một mình với hai người gác, không bạn bè, không có việc làm, tôi ở trong một sự trống rỗng tuyệt đối, đến mức có thể điên đi được.  Tôi đi lại suốt ngày trong buồng giam, để vận động cơ thể kẻo nằm luôn thì tôi sẽ chết vì thấp khớp, viêm phổi.

 

      Nhiều lúc một mình, tôi bị đau khổ giày vò, tại sao đang lúc mình 48 tuổi, trưởng thành và khỏe mạnh, sau tám năm Giám mục tôi đã có nhiều kinh nghiệm mục vụ, lại phải vào phòng biệt giam, xa giáo phận những 1700 km?

 

      Một đêm thanh vắng, một tiếng từ đáy lòng nhắc nhở tôi:  “Tại sao con quẫn trí, hoang mang như  thế làm gì?  Con phải biết phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa.  Những gì con đã làm và tiếp tục làm như  kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên, kiến thiết thánh đường, cư  xá sinh viên, mở mang các thí điểm truyền giáo... tất cả những công tác ấy đều là những việc tốt lành, là việc của Chúa, nhưng không phải là Chúa!  Nếu Chúa muốn con trao tất cả các việc ấy trong tay Ngài, con hãy làm ngay, và hãy tin tưởng vào Ngài.  Chúa có thể làm tốt hơn con muôn nghìn lần; Ngài có thể trao việc của Ngài cho những người tài đức hơn con.  Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”

 

      Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa.  Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như  cơ thể không chịu đựng nổi.  Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi “một sự bình an mà thế gian không cho được”.

 

      Theo tính tự nhiên, những lúc chương trình đang thực hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động đang hăng say phải bó tay, nhiệm vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác!  Uất ức và chán nản!  Tôi tự hỏi:  Chúa gọi con “Hãy theo Thầy” hay “Hãy theo việc nọ, người kia?”  Để đó, Chúa sẽ liệu, Ngài sẽ giải quyết tốt hơn con là cái chắc.

 

      Ở trại Phú Khánh, tôi bị giam trong một phòng không có cửa sổ, phải đi qua 3 lớp cửa trong một hành lang mới đến khí trời.  Vào đó nóng cực kỳ, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man.  Có lúc người ta để đèn sáng như  ban ngày, lúc khác lại nằm trong bóng tối.  Buồng vừa nóng vừa ẩm, đến nỗi tôi xuống nằm dưới nền, còn nấm thì mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi.  Lúc nằm trong tối tăm, tôi thấy có một lỗ dưới vách, ánh sáng lọt vào, tôi lết đến, kê mũi vào đó để thở.  Lúc nào trời mưa, nước ở ngoài ngập, những con trùng ở ngoài bò vào, có cả giun và có lần có cả con rết dài; dù thấy vậy, nhưng tôi yếu mệt quá không làm gì được, tôi cứ để cho chúng bò quanh, ngày nào nước xuống, thì chúng lại bò ra.  Sau này hai linh mục bị giam cách tôi 2 lớp cửa, đã thuật lại cho tôi biết:  “Một hôm cô Thanh, cấp dưỡng, đã mỡ cửa cho chúng con ra đứng nhìn Đức Cha nằm dưới đất và bảo:  cho hai anh nhìn thấy ông Thuận, ông sắp chết!”  Nhưng trong cơn cơ cực này, Chúa đã cứu tôi!

 

      Tôi phải chọn Chúa chứ  không phải việc của Chúa:  Chính Chúa muốn cho tôi ở đây, chứ không phải nơi khác.

 

      Lúc tôi bị nhốt dưới khoang tàu Hải Phòng cùng với 1500 anh em tù nhân bị đưa ra Bắc, tôi đã thấy trên nét mặt của họ nỗi thất vọng, lòng căm thù.  Tôi chia sẻ đau khổ của họ.  Nhưng tôi lại nghe tiếng:  “Hãy chọn Chúa chứ  không phải việc của Chúa!”  Tôi đã thưa:  “Lạy Chúa, chính đây là nhà thờ chánh tòa của con.  Đây là dân Chúa trao cho con phục vụ, con phải làm cho Chúa hiện diện giữa những người anh em chán nản, cùng khổ này.  Đây là ý Chúa, nên con phải chọn”.

 

      Khi tôi lên trại cải tạo, giữa thung lũng núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phú, tôi gặp 250 anh em cùng một chuyến đi, đa số không Công giáo, tôi vẫn nghe tiếng ấy thúc bách:  “Hãy chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa. - Lạy Chúa, Chúa sai con đến đây để làm cho tình thương của Chúa hiện diện giữa các anh em con, giữa đói khát và giá lạnh, giữa lao động cải tạo nhọc nhằn và tủi nhục bất công.  Con xin chọn Chúa, không phải chọn công việc của Chúa.  Con chọn thánh ý Chúa, giờ đây con là tông đồ truyền giáo của Chúa”.

 

      Từ giây phút ấy, một sự bình an mới tràn ngập tâm hồn tôi, ở với tôi suốt 13 năm tù đày.  Tôi cảm thấy thấm thía sự yếu hèn của tôi; tôi lặp lại sự chọn lựa của tôi, lúc ấy không bao giờ Chúa để lòng tôi thiếu an bình.  Tất cả là hồng ân của Chúa.  Mỗi khi tôi tuyên bố:  “Vì Chúa, vì Hội thánh”, tôi phải thinh lặng trước mặt Chúa, và thành thật hỏi Chúa:  “Chúa thấy con hành động hoàn toàn vì ai?  Con đã chọn vinh danh Chúa, sống và hành động tuyệt đối vì Chúa?  hay Chúa là lý do thứ yếu, còn lý do khác mạnh hơn, con không tiện nói?”

 

      Đây là một sự chọn lựa tuyệt vời, nhưng không phải dễ dàng.  Đức Gioan Phaolô II kêu gọi các bạn:

 

Các bạn trẻ thân mến, như  các môn đệ thuở ban đầu, hãy theo Chúa Giêsu!  Đừng sợ lại gần Chúa ... Đừng sợ ‘cuộc sống mới’ mà Chúa muốn trao cho các bạn vì chính Ngài cho các bạn đủ sức đón nhận và thực hiện cuộc sống ấy, Ngài ban ân sủng của Ngài và Thánh thần của Ngài cho các bạn.

 

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 3)

 

 Đức Thánh Cha lại lấy gương thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu để soi sáng các bạn trẻ:

 

Hãy cùng Têrêxa tiến lên trên đường khiêm nhường và đơn sơ, trong tinh thần Công giáo trưởng thành, trong trường học của Phúc âm.  Hãy cùng Têrêxa sống trong “quả tim” của Hội thánh, và triệt để chọn Đức Kitô.

 

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 9)

 

Cậu bé trong Phúc âm đã có sự  chọn lựa triệt để ấy, cậu đã hiến dâng tất cả:  Năm chiếc bánh và hai con cá, trong tay Chúa Giêsu với lòng tin tưởng.  Thế rồi Chúa Giêsu đã làm “việc của Chúa”:  với chừng ấy, Ngài đã nuôi cả năm ngàn, cả vạn người!

 

Cầu Nguyện

 

Chúa và việc của Chúa

 

Vì lòng thương vô hạn,

      Chúa gọi con theo Chúa,

      làm con Chúa, làm môn đệ Chúa.

Rồi Chúa trao cho con một sứ mạng.

Không ai giống ai, nhưng cùng một mục đích

      làm tông đồ, làm chứng nhân cho Chúa.

Tuy nhiên, kinh nghiệm bản thân cho con thấy,

      nhiều lần con lẫn lộn hai điều này:

Chúa và việc của Chúa.

Chúa trao cho con công việc của Chúa,

      cao trọng có, khiêm tốn có,

      tầm cỡ có, bình dân có.

Con làm mục vụ giáo xứ,

      mục vụ giới trẻ, mục vụ học đường,

      mục vụ nghệ thuật, mục vụ gia đình,

      mục vụ thanh niên, mục vụ lao động,

      mục vụ truyền thông.

Con đổ vào đó tất cả nhiệt tình,

      tất cả những gì có thể được.

Con không tiếc một điều gì, kể cả mạng sống con.

Giữa lúc con tận tụy, hăng say như  thế,

      con gặp thất bại ê chề.

Vì người ta vô ơn, vì không ai chịu cộng tác,

      vì bạn bè hiểu lầm, vì bề trên không nâng đỡ,

      vì bịnh tật ốm đau, vì thiếu phương tiện...

Có lúc con đang trên đà thành công rực rỡ,

      mọi người hân hoan ca ngợi con, quyến luyến con.

Thì đùng một cái,

      con phải thuyên chuyển,

      nhận nhiệm vụ mới.

Con choáng váng như  rơi vào đêm tối.

Sao Chúa bỏ con?

Con không muốn bỏ dở việc Chúa,

      con phải làm cho hoàn thành việc Chúa.

Phải xây xong thánh đường, tổ chức xong hội đoàn...

Tại sao người ta phá việc Chúa?

Không ủng hộ việc Chúa vô cùng chính đáng?

Nhưng trước bàn thờ

      Bên Mình Thánh Chúa,

      con nghe Chúa Giêsu bảo con:

“Con hãy theo Chúa, chứ không phải theo việc của Chúa!”

“Nếu Chúa muốn, con hãy trao việc Chúa lại trong tay Chúa,

Chúa sử dụng ai tiếp tục, mặc ý Chúa.

Có Chúa lo, mà Chúa lo thì muôn vạn lần hơn con lo.

Con hãy chọn một mình Chúa”.

 

Biệt giam tại Hà Nội

ngày 11-2-1985

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

hiện ra tại Lộ Đức