Chương 1

DỊ ỨNG BAN ĐẦU.

  

    Muốn hiểu được sự thánh thiện thì thông minh thôi sẽ không đủ, muốn nhận ra nó thì còn cần hơn một sự nhậy bén, và không có một óc phán đoán nào dù tinh tường đến đâu có thể đánh gía nó. Anh có thể bỏ ra cả đời miệt mài nghiên cứu các sự lạ lùng trong Giáo hội, trong các tác phẩm tu đức và nơi các dấu lạ điềm thiêng mà anh chẳng hề đi đến đâu và không bao giờ biết được bản chất sâu kín của thánh thiện. Thật vậy, khi tìm hiểu sự thánh thiện theo cách đó, dựa theo quan điểm của một nhà khảo cứu khoa học là một dấu hiệu hoàn toàn đui mù trong lãnh vực này.

    Tôi đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời huyền nhiệm của nữ tu Têrêsa Lisieux và tôi nhận ra mình đang đứng đối mặt với ông Renan vĩ đại. Ông nhìn kỹ tôi từ trên xuống dưới và tỏ vẻ thương hại tôi. Ong hoàn toàn nhận thức được sự vượt trội của mình do học vấn uyên bác và sự am tường các môn nghệ thuật cao qúy. Ông cho rằng mình không thể sai lầm và chẳng ngần ngại đưa ra những lời tiên đoán. Ong cũng có đôi chút quan tâm về tín ngưỡng và còn giữ nơi mình một vài kinh nghiệm tôn giáo mù mờ bệnh hoạn.

   Theo ông, Công giáo chỉ là một hình thức tình cảm chủ nghĩa và như thế các nghi thức cầu kinh, âm nhạc, thi ca, và những anh hùng của nó phải được xếp hạng theo chủng loại trong một viện bảo tàng nơi ghi nhớ một qúa khứ tuy hay ho đấy nhưng đã lỗi thời, trong đó người ta để vào các đền thờ Ai Cập cổ đại, thi ca của Homer, sự hấp dẫn của Shakespeare, những khao khát của Rousseau. Nó sẽ thành một nơi vui thú cho những kẻ tò mò và duy mỹ. Ong nhìn nhận rằng Giáo hội đã có thời huy hoàng nhưng nay mọi cái đã khác đi.

   Ngay cả sự thánh thiện cũng không thoát khỏi lời kết án u sầu của ông. Ta hãy nghe ông nói: “Thánh thiện chẳng qua chỉ là một kiểu làm thơ và cũng giống như các hình thức thi ca khác, nó đã kết thúc và cáo chung.” Rồi ông nói thêm một cách hồ đồ: “Roma cứ tiếp tục phong thánh đi, ngoài ra họ còn có gì khác để làm đâu, nhưng nhân dân sẽ chẳng bao giờ phong thánh thêm cho ai nữa.” Chỉ ít lâu sau - mau đến độ chính cá nhân ông có thể biết đến chị - người nữ tu nhỏ bé ở Lisieux đã được toàn thể thế giới Công giáo tôn vinh mà chẳng cần đợi đến lúc vị Cha Chung tuyên dương. Nhưng ngài Renan đã chết mất rồi và như thế ông không phải nhìn nhận sai lầm của mình.

   Khi các vị học gỉa muốn đi thăm dò thế giới các linh hồn họ nên nhớ tới lời Đức Kitô nói với người phụ nữ Samarita ngồi tại giếng nước: “Nếu bà biết được hồng ân của Chúa...” (Ga 4:10). Sự thánh thiện quả là một thứ thi ca trào dâng đến vô tận, vì nguồn mạch của nó không ở trong văn chương hay trí tưởng tượng, nhưng từ trong chính cung lòng của Thiên Chúa hằng sống. Để tìm ra một vị thánh khác mà cũng được tức thời và nhất trí tuyên xưng mau chóng bởi Giáo hội như Têsêsa chúng ta phải trở lại với những thời kỳ anh hùng tử đạo của Kitô giáo. Chị được tôn vinh nơi lòng các tín hữu trước khi dự án phong thánh khởi sự. Các phép lạ mà Roma đòi hỏi trước khi công nhận nhân đức của ngay cả đối với các người con ưu tú nhất của nó đều được rút ngắn nơi chị, và chỉ có 50 năm chóng vánh trôi qua từ lúc chị sinh ra năm 1873 và lên đài vinh quang năm 1923.

   Trong những năm qua toàn thể thế giới, lòng tràn ngập niềm vui và tay nặng trĩu bao hồng ân, đã ca ngợi và không ngừng cầu khẩn chị như chưa bao giờ có. Để trả lời cho câu hỏi có biến cố vĩ đại nào, những ơn thiêng nào, phép lạ nào, thị kiến nào trong cuộc sống chị đã báo trước cho sự mến mộ kỳ diệu này nơi quần chúng thì ta có ngay câu trả lời đó là sự thinh lặng, sự âm thầm và chính sự hư vô của chị. Chị đã sống ẩn khuất không một ai biết đến ngoại trừ một vài người bạn và thân nhân, và cho đến ngày qua đời việc tông đồ của chị vẫn là một bí mật trong bốn bức tường tu viện. Đó chính là đieu vĩ đại nhất, rõ ràng nhất, mãnh liệt nhất nơi các phép lạ của chị.

   Ta không thể nào tìm ra một lời giải thích tự nhiên nơi sự tôn vinh chị. Hơn nữa không có lời giải thích nào có thể đầy đủ, ngay cả theo ý tôi, dù đó là cuốn “Một Tâm Hồn” ghi lại niềm tin của chị mà sau khi chị qua đời đã được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ. Tôi không muốn đánh giá thấp tầm quan trọng hay ảnh hưởng của nó. Dù cho người ta có ra sức quảng bá nó tới đâu, và nó có dấy lên lời mời gọi nào đó nơi các linh hồn, dù cho nó có một sự thành công bề ngoài nơi thế giới Kitô giáo ra sao đi nữa, thì cuốn sách khiêm tốn này mà bề ngoài chẳng khác gì hằng hà sa số sách đạo đức khác có thể nào có sức mạnh khơi dậy một ngọn sóng thần kỳ sốt mến và nhiệt thành đến thế, như một que diêm đốt lên vô vàn ánh lửa, đúng hơn là những khối mìn cùng nổ tung một lúc trên năm châu bốn biển, trừ khi có bàn tay Thiên Chúa nơi đó ?

   Lý do đầu tiên và đầy đủ của sự lôi cuốn nơi trẻ nhỏ này là chính Thiên Chúa đã gieo vào đây một hồng ân huyền nhiệm nơi những trang sách của chị, như một bông hoa ép trong một cuốn sách đã mất đi hương thơm mà vẫn giữ được vẻ duyên dáng của nó, hồng ân này sẽ có khả năng mở tâm hồn con người ra trước linh đạo của chị. Đó chính là Thiên Chúa tác động trực tiếp trên con người bơ vơ cần được khai sáng. Có lẽ Đấng Toàn Năng đã muốn rằng không bài học nào tuôn ra từ ngòi bút Nữ tu Têrêsa lại không được đi kèm với đau khổ, hy sinh, kho tàng lòng mến, sự bị tước đoạt cuộc sống khi còn rất trẻ của chị, và hôm nay nó vẫn tuôn ra trọn vẹn cho thế gian đói khát này.

   Con người luôn bị khủng bố và chiến tranh đe dọa, bị thử thách khắc nghiệt về tâm linh và thể chất nên đói và khát hồng ân này. Một cô gái qua đời vào năm 24 tuổi tại một đan viện Cát Minh nhỏ miền Normandie nơi chưa hề có tiếng tăm gì về những điều cao siêu. Người dân tại đó sống thoải mái và còn uống rượu thoải mái hơn. Trouville và Deauville là hai nơi nổi tiếng sản xuất và tiêu thụ rượu chẳng xa đó bao nhiêu, các nông dân tha hồ mua bán và uống rượu. Thi hài của Nữ tu Têrêsa được mang chôn tại nghĩa trang của thị xã có vài người bạn theo sau mà chẳng được mấy người quan tâm. Nhưng khi người ta chưa kịp lấp xong mộ thì hương thơm tốt lành của chị đã lan tỏa.

   Thiên hạ bắt đầu nói về chị, trước hết ở miền này rồi sang vùng khác, ở nước Pháp và toàn thể Au châu, ở Cựu lục địa và sang Tân lục địa, tên chị ở trên môi miệng người tin cũng như người không tin, những người vẫn còn nhớ đến danh Đức Kitô và những người  đã quên mất. Tại sao chị lại được chọn mà không phải là những người đương thời có nhân đức đã được quần chúng ngưỡng mộ, các ngài phục vụ người nghèo, các vị đi truyền giáo, các tông đồ, tử đạo, các qúy ông qúy bà thánh thiện thuộc đủ mọi tầng lớp? Tại sao lại là Têrêsa? Chị đã làm gì cụ thể để chúng ta sờ tay vào được không? Có ai biết được thành qủa nào của chị? Thế mà mọi người đều kêu tên chị. Chỉ cần lời của chị: “Trên Thiên Đàng tôi sẽ làm mọi điều tốt đẹp cho thế gian.”

   Người ta hay lập lại, loan truyền lời đó. Nhưng nó có đáng tin hay không? Thế mà người ta đã tin và phải tin lời đó. Tại sao lại phải tin? Đó là vấn đề của tình yêu mà tình yêu thì không lý giải được. Trước khi đi xa hơn tôi phải thú nhận một điều. Tôi chỉ ngưỡng mộ vị thánh Têrêsa thứ nhì mới đây thôi (Thánh Têrêsa thứ nhất là Thánh Têrêsa Avila). Và tôi muốn viết cuốn sách này trước hết cho giới độc giả, Công giáo cũng như không Công giáo, dị ứng với sự lôi cuốn của chị cũng như tôi đã từng. Cưỡng lại trào lưu chung của quần chúng là một điều không dễ dàng. Đàng khác thái độ hoài nghi cho ta thời gian cân nhắc vô tư về chị, người mà sự thánh thiện đã được công nhận.

   Tôi không cho rằng mình nói ra một cái gì đó mới mẻ về một chủ đề đã hao tốn bao nhiêu giấy mực rồi, nhưng kinh nghiệm cá nhân của tôi có thể hữu ích cho những người khác. Đầu tiên tôi biết về Nữ tu Têrêsa qua các bức tượng. Đương nhiên là những hình thù mầu mè thô thiển như thế chẳng thể nào cảm hoá được một người am tường và biết đánh gía nghệ thuật. Trong những ngày đó tôi đi tìm trong Giáo hội cái đẹp cũng như chân lý. Tôi vẫn còn mầy mò với chân lý nhưng khi nói về cái đẹp, dưới những chuẩn mực của thế gian, thì những bức tượng này chưa thể đi tới đâu, dù rằng nó có thể ích lợi cho việc cầu nguyện. Rồi tôi đọc cuốn Một Tâm Hồn.

   Tôi không biết mình đến với cuốn sách này qúa sớm hay quá muộn. Tôi không chê mà cũng chẳng thích nó; chỗ này chỗ khác nó còn làm tôi cáu giận (xin thứ lỗi cho tôi). Lần đọc đầu tiên tôi cảm thấy dửng dưng. Có lẽ vì tôi không thể nào nhìn ra giá trị của “con đường nhỏ” và cũng có lẽ là vì tôi đã tìm thấy điều đó trong đời sống và huấn giáo của các thánh khác, hoặc trong chính Phúc Am, vì nó đã bàng bạc trong từng câu của Kinh Thánh. Các nhà linh đạo chỉ trình bày nó theo một cách khác và các thánh chỉ tái thể hiện những gì Đức Kitô đã nói và đã làm. Lời nói cũng như việc làm của Ngài không ai sánh được vì bản thể của Ngài chính là sự hoàn thiện. Khi Ngài phán: “Nếu các ngươi không trở nên như trẻ nhỏ” (Mt.18:3). Ngài đã chỉ ra con đường thơ bé của Thánh Giles Tu Viện Trưởng, Người Hèn Mọn Thành Assisi, Cha Sở Ars, Thánh Germaine Chăn Cừu. Còn Thánh Têrêsa Hài Đồng Yêsu chỉ thuộc hạng hậu bối theo bước họ và nhắc nhở chúng ta điều mà chúng ta dễ lãng quên.

   Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của các Thánh xuyên qua lịch sử là tái hiện trong trang phục thời đại những chân lý cổ điển mà qua thời gian người ta hay nhàm chán. Cho nên chúng ta thấy qua Thánh Phanxicô mặc áo may bằng bao bố, và cha Maria Vianey trong áo dòng cũ mèm, Têrêsa Martin trong bộ áo rước lễ lần đầu theo thời trang năm 1885- và một thế giới bàng hoàng nhận ra sự khiêm tốn, khó nghèo, đơn sơ mà nó đã từng thấy nơi Đức Kitô hàng ngàn năm về trước. Vì thế Têrêsa không hề dạy tôi điều gì mới về sự đơn sơ, từ bỏ mình, về con đường thơ ấu mà tôi cũng đã tìm thấy nơi Thánh nữ Germaine, Thánh Giles, Thánh Phanxicô, Thánh Gioan Vianey, và nhiều vị khác.

   Nếu tôi đã đọc cuốn sách của chị đến hết có thể tôi thấy được gì hay ho đó, rủi thay tôi lại bỏ lưng chừng. Tôi không thất vọng và tiếc nuối. Tôi tự nhủ rằng mình phải kính trọng tất cả các Thánh, nhưng giữa muôn vàn Thánh Nhân chúng ta được tự do ngưỡng mộ và chọn ra những vị tiêu biểu cho thời đại, quê hương, cá tính của mình. Têrêsa không phải dành cho tôi. Tôi không phủ nhận rằng chị đã sống cùng thời với tôi, cái thời mà chính tôi lại cảm thấy lạc lõng. Những hình thức ủy mị bề ngoài sùng kính vị Thánh trẻ làm tôi phát điên lên và càng che mắt tôi không thấy được sự vĩ đại và độc đáo của chị.

   Có rất nhiều hoa hồng và cũng có rất nhiều loại hoa khác. Tôi có thể thấy một mình hoa hồng và dĩ nhiên là các gai nhọn ẩn phía dưới nữa. Mà làm gì có những ông Thánh không có gai. Tôi kính trọng bức tượng của chị, mà chỉ kính nhi viễn chi thôi. Tuy nhiên những phép lạ của chị khiến tôi băn khoăn. Tôi biết đến những thân xác được chị chữa lành, những tâm hồn mà chị đã cảm hóa, những học gỉa đã qùy gối trước chị, những nhà thần học uyên thâm đã từng bay bổng đến những đỉnh cao với Thánh Yoan Thánh gía và Thánh Têrêsa Cả lại đi nghiền ngẫm những lời của chị. Tôi thấy rằng chị là nơi nương tựa của những người bạn thân đã qua chị mà đến với Đức Kitô và được sống trong Ngài tốt hơn nhờ chị.

   Phải cố gắng ghê gớm lắm tôi mới đọc nổi cuốn sách đó một lần nữa. Cuối cùng tôi đi đến Lisieux tay cầm cuốn Một Tâm Hồn, cương quyết tìm hiểu mọi thứ, đọc mọi thứ, soi mói mọi thứ kể cả nơi nhà nguyện đặt thi hài của chị. Tôi biết rằng tôi sẽ làm nhiều người lúng túng và tôi phải xin lỗi họ trước. Nhưng tôi phải chỉ ra rằng sự dị ứng mà những người như tôi sẽ gặp phải kẻo việc làm của tôi hóa ra vô ích. Những người khác sẽ bị sốc khi đọc tôi nhưng lòng sùng kính của họ với Thánh Têrêsa chẳng phải vì thế mà bị sứt mẻ đâu. Và đó mới chính là vấn đề.

   Ngôi nhà nguyện Cát Minh tại Lisieux nằm cuối một cái sân hẹp nhìn bên ngoài rất khô khan. Bước chân vào ta sẽ chẳng thấy có gì lôi cuốn cả. Nếu bớt mầu mè đi có lẽ nó còn đẹp hơn, có nhiều trang trí thừa thãi vô duyên, nhưng thôi ta cũng nên châm chước đi. Nhưng khi quay sang bên phải để chiêm ngưỡng di hài Thánh nhân người ta lập tức phải khó chịu vì cái lố bịch của một nơi có vinh dự chứa đựng Thánh tích. Mái vòm nhái kiểu phục hưng và những cửa sổ vô duyên của nó cũng thô kệch như những bài trí khác nơi đó. Nơi đặt thi hài thì mầu mè, vụng về, không đẹp tí gì.

   Tôi cũng chẳng thích thú lắm với bộ đồ nhung thêu mặc cho bức tượng vị Thánh đặt nằm trong chiếc hòm kính có đính vàng. Dĩ nhiên sẽ hay hơn nếu họ mặc vải len cho khối cẩm thạch bóng lộn, tạc hình người được tôn sùng hết mức này; nhưng ở Tây Ban Nha và Ý họ đã chẳng đeo các loại châu báu qúy giá và mặc vào các loại vải lấp lánh như các ông hoàng bà chúa trên sân khấu cho các vị tử đạo là gì; xét cho cùng thì các ngài đã đến nơi vinh quang thì họ cứ thoải mái tôn vinh các ngài. Điều tôi không thể chịu được là các vị Thiên Thần canh giữ cung thánh, có đến hai vị to tướng và một vị khác mang hình một em bé đánh đàn, họ được khắc mập ú trong một khối cẩm thạch trắng bệch cơ hồ họ sắp chảy ra thành đường khi bạn nhìn vào họ. Em bé một tay cầm đàn hạc một tay cầm hoa, và em gẩy đờn bằng hoa ư ?!

   Để làm cho cái lố lăng này được tối đa, nhà điêu khắc, hẳn là phải có tên tuổi lắm, đã khắc hình các bông hồng rải rác trên những bậc thang và giữa hình vẽ một đám mây dầy đặc đó, ông để vào một cái Thánh Gía bằng đồng to kềnh. Tôi không muốn dừng lại nơi hoa văn trên những bức tường trông như những tấm màn xanh nhạt làm bằng vữa mà người ta tô điểm lên những bông hồng. Bầu khí chung của nơi lưu niệm này, sự mầu mè và cải lương của nó cũng như lòng nhiệt thành ngưỡng mộ của quần chúng đã tạo nên vẻ loè loẹt thống nhất của bức tranh.

   Bức tượng Đức Mẹ do Bouchardon tạc vốn đã có lúc mỉm cười với Têrêsa được đặt ở phía sau ít được người ta chú ý giữa một khung cảnh xa hoa. Ở đây người ta không cho đốt nến, các ngọn đèn điện đã thay thế chúng. Chúng ta đang ở trong phòng khách của những tay trưởng gỉa học làm sang vốn bỏ ra rất nhiều tiền để sắm cho bằng được những món đồ gỗ cổ cho nó sang.

   Đúng là buồn cười nếu bạn có đủ can đảm để cười. Nó làm cho người tham quan mắc cở về quê hương và thời đại của mình, mắc cở vì phải đi vào một nơi lố lăng như thế. Anh cảm thấy ngứa ngáy muốn đập phá. Anh thấy thương thay cho Têrêsa và muốn chị tha thứ cho những xúc phạm này ... Hãy nhắm mắt lại và suy tư. Hãy quên đi nhà điêu khắc đó và những người vì thiện chí thôi đã chỉ thị cho ông phải đục thế nọ khắc thế kia. Hãy ngửi thấy hương thơm của các bông hồng thật mà người ta để đầy trong phòng, mỗi sáng họ đều thay hoa mới. Hãy nắm bắt được những hương thơm nhân đức phát ra từ bộ di cốt này. Hãy quên đi điều bạn thích hay không thích và quên mình đi đến độ phải chấp nhận những cái ngớ ngẩn.

   Nhưng lý trí bạn vẫn còn đó. Tại sao Chúa cho phép điều đó? Tại sao Têrêsa cho phép? Tại sao Chúa để cho trần tục thao túng và làm cho nơi thánh thiện này đứng hàng đầu quái dị trong nghệ thuật Công giáo của thế kỷ 20? Tại sao linh hồn không còn liên hệ với thân thể và tinh thần chẳng nói gì với xác thịt? Sau một thời gian dài suy nghĩ bạn sẽ phải công nhận rằng sự sùng kính nữ tu Têrêsa còn liên quan với những thứ bề ngoài cùng với những điều trên. Ở Lisieux còn có một Vương Cung Thánh Đường lộng lẫy. Còn có ngôi nhà Les Buissonets gây nhiều cảm xúc. Còn có một nghĩa địa trong đó có một khu riêng dành cho các nữ tu Cát Minh nằm trên một sườn dốc cao có nhiều cây táo xanh tươi nhất trong thung lũng.

   Trên tất cả còn có lòng sùng kính, một lòng sùng kính thật sự của những người dân thường tuôn đến và làm thay đổi khuôn mặt của ngôi nhà nguyện từng giờ từng phút trong ngày. Trước sự hiện diện của vị thánh trẻ nhỏ bé và Thiên Chúa của chị thì những lệch lạc, bất toàn, những hoa văn và những cái linh tinh kia không còn quan trọng. Chúng chỉ là những phương tiện thôi mà lời cầu nguyện còn đi xa hơn chúng rất nhiều. Tuy thế trước khi chào thua chúng ta cố lý giải thêm một lần rằng tất cả những cái này có thực sự cần thiết không? Chúng ta có thể bỏ qua chúng được không? Có lẽ chúng ta không thể.

   Những kẻ trong chúng ta bị dị ứng bởi những cái bên ngoài chỉ là một thiểu số. Têrêsa thuộc về thời đại của chị; theo khía cạnh nhân loại và trần gian, chị đã trở thành một tiêu chuẩn cho họ, sự sùng kính mà chị dấy lên cần có một hình thức bên ngoài cần thiết. Để tìm ra con đường đi vào điều huyền nhiệm cháy bỏng nơi tâm hồn của chị, thời đại của chúng ta cần đến một thứ triển lãm giả tạo này, những mùi hương rẻ tiền, thi ca lãng mạn, những tấm thiệp Giáng sinh in bông hồng, những bức tượng na ná như những bức tượng cẩm thạch trang trí nơi các khách sạn sang trọng.

   Chúng ta chẳng cần phải bài bác chúng vì chúng chẳng có làm gì hại đến Têrêsa. Lối sống ở Lisieux, sở thích của những kẻ hâm mộ chị và các nữ tu đạo đức đề cao những phép lạ của người chị em mình đều thuộc về chị, gia đình chị, và thế giới của chị. Chị chẳng có cách nào phủ nhận chúng. Chúng hiện diện khắp Au châu và Mỹ châu và được quần chúng ưa thích. Chúng còn ngự trị lâu dài vì chúng đi thẳng vào đám đông và ta không thể làm ngơ rằng họ thích như vậy. Thiên Chúa đã ban cái thế gian như thế cho Têrêsa và chị đã đón nhận nó. Tôi không có ý nói rằng chúng ta có được những vị Thánh xứng đáng với chúng ta. Chúng ta không bao giờ xứng đáng với những vị Thánh chúng ta có. Nhưng chúng ta được ban cho những vị Thánh mà bề ngoài hấp dẫn chúng ta nhất.

   Các linh hồn đâu có bị thiệt hại gì vì sự không biết thưởng ngoạn nghệ thuật của quần chúng. Đức Kitô không chỉ chết cho các nghệ sĩ và các người sành điệu. Họ có thể đến Chartres và khi quay về một số trong đám họ có thể được hoán cải. Nhưng đám đông ùa đến Lisieux cảm thấy như thể ở nhà, mọi thứ ở đó đều làm họ kinh ngạc và thích thú, và khi trở về họ mang theo cái hay và cái dở của nó đến khắp mọi miền trên thế giới. Bầu khí thoải mái như ở nhà khơi dậy lòng nhiệt thành và tin tưởng nơi họ vì họ vẫn được tự do, dù chẳng để ý đến điều này, không bị ràng buộc bởi những cái tầm phào bề ngoài đã lôi cuốn họ đi đến đó. Khi cầu nguyện họ cảm thấy Nữ tu Têrêsa ẩn mình nơi những bông hoa hồng nhí nhố  và hình những đám mây vẽ trên tường lòe loẹt, chị ở đàng sau những sáo ngữ trống rỗng hay những biệt hiệu người ta đặt cho chị mà đã làm lu mờ đi cái tinh tuý nhất của câu chuyện về chị: Têrêsa, sự hiến thánh của một thân thể hao mòn vì bệnh tật, một tâm hồn bị xâu xé và một ý chí quyết tâm trong những hy sinh liên lỉ, người đã sống và chết với một tình yêu chỉ mang lại cho mình toàn là đau khổ.

   Đó mới là cái đứng đàng sau nụ cười của chị. Tôi đã đọc kỹ “Một Tâm Hồn” một lần nữa và thấy hiển nhiên điều này. Người ta phải pha mứt vào bột vì đám đông đâu có chịu một liều thuốc qúa đắng. Chính chị đã pha nó một ít. Tu viện Lisieux đã pha thêm, có lẽ qúa nhiều, và họ đã làm một cách xuất sắc vì có rất nhiều tâm hồn thấy nơi đó thật dễ chịu. Tôi nói điều này cho những người khác, họ bị dị ứng với mứt như tôi, không chịu được một thứ nghệ thuật rẻ tiền, phải bỏ chạy dưới một cơn mưa hoa hồng. Vì họ tôi sẽ bỏ qua không nói về những vòng hoa nơi những cuốn sách tán dương chị qúa mức, tôi phải lấy đi những cái hỗn mang nơi các bức tường của ngôi nhà nguyện của chị, gạt đi những tấm hình mà họ đã sửa đi sửa lại, dù vô tâm hay cố tình, để chị được đẹp ra.

   Tôi ước gì mình có thể đi xa hơn để trình bầy nơi những trang sách này không gì khác hơn là tâm hồn cháy bỏng bị Chúa chiếm hữu của chị, đó là lửa và sức mạnh mà trong trường hợp của Thánh Têrêsa Cả, vinh quang của nước Tây Ban Nha, thiên tài thi sĩ, là sự vượt trội, nếu ta có thể dùng chữ đó, vượt trội trong kiên trì, trong khó khăn, theo thiển ý tôi thì vị thánh Têrêsa Cả còn mềm mỏng hơn. Nhưng tôi không thể chỉ viết về tâm hồn của chị. Để làm cho người ta hiểu về chị, ta phải để chị quay lại trong xác phàm của thời đại và môi trường sống của chị, giữa những người thuộc tầng lớp tiểu trung lưu đã mang lại một bối cảnh cho đời sống của chị, và để đáp trả, chị đã làm họ hài lòng về chị biết bao và nhắc nhở họ về ơn gọi cao cả nhất của họ. Về điểm này tôi phải nhân nhượng và xuất thân của tôi là một thuận lợi, vì cũng như Nữ tu Têrêsa Lisieux tôi sinh ra trong giai cấp tiểu tư sản tại một thị trấn miền quê vào cùng một thời gian.

   Nếu tôi cứ ở mãi tại đó có lẽ tôi đã có cùng một sở thích về nghệ thuật tôn giáo như gia đình của chị, tu viện của chị, các người ái mộ chị, nói một cách khác, giống như chị. Nếu cứ như thế có khi còn tốt hơn cho tôi.