Chương 11

“VÀ ĐỂ CHA ĐƯỢC TÔN VINH NƠI CON”

    (Gioan 14:13)

  

   Căn bệnh vẫn gia tăng, ói mửa liên tục, khó thở, mất cảm giác. Têrêsa tiếp tục cuộc chiến đấu. Đau đớn đến chết đi được vì không thể chết như Mẹ Thánh Têrêsa Cả, người Tây Ban Nha, mà cô được mang tên của ngài. Đó là theo bản tính nhân loại, nhưng tiếng nói của hồng ân vẫn thầm thì “Xin cho ý Chúa được thể hiện.” Ồ, cô chưa bao giờ cho rằng mình là một vị đại thánh! Chúa hài lòng khi biến cô thành một cái bình chứa, đựng những điều tốt và Ngài sẽ còn làm như vậy để mang điều tốt đến cho cô và cho người khác, đặc biệt là cho người khác. Têrêsa chỉ cần biết như thế là đủ. Hạnh phúc của cô chính là nhìn ra sự bất túc của mình. Nhưng cô lo lắng không biết mình có thật sự khiêm nhường trong lòng hay không, và để đoan chắc điều này cô muốn bị người khác coi thường và hất hủi.

   Sơ Genevieve, tức chị Céline của Têrêsa, được cất nhắc làm phụ tá bệnh xá để có dịp ở gần và chăm sóc cô. Têrêsa e rằng chứng ho dai dẳng của mình sẽ làm chị mất ngủ, đó là lý do duy nhất khiến cô không bằng lòng với cái cấu xé trong lồng ngực của mình. Ngày 6 tháng 8 cô đau đến nỗi chỉ có thể thốt lên “Nếu người ta biết được tôi đau đớn thế nào!…Tôi sẽ ra sao đây nếu không có lòng mến Chúa?” Họ cho rằng cô rất nhẫn nại. Không phải cô đâu! Têrêsa chưa bao giờ kiên nhẫn được một phút trong đời mình. Sự nhẫn nại đó không phải là của cô. Têrêsa không giấu giếm những đau khổ khủng khiếp nhất của cô; tuy rằng ít nhất cô cũng chịu đựng chúng một cách ngoan cường. Hai tuần sau Têrêsa được chịu lễ lần cuối cùng. Mọi người tụ tập lại hát kinh thương xót, giọng trầm buồn của bài kinh cũng đủ làm cô ngất đi. Cô cảm thấy mình đã mất hết lý trí, cô kêu cầu xin Đức Mẹ giữ gìn lý trí của cô trong vòng tay của Mẹ. Không có phần nào trong thân xác cô mà không bị đau đớn quằn quại, cô xin mọi người cầu nguyện cho mình. Và khi thấy họ sốt sắng đọc kinh Têrêsa lại từ chối nhận những ơn ích đó mà xin dâng lên cho những tội nhân vốn cần đến chúng còn nhiều hơn cô. Tới lúc những đau khổ đó vượt qua sức chịu đựng nhân loại Têrêsa lại giành lấy cho mình ơn ích nơi sự cầu nguyện của người khác và đón nhận nó với một cảm giác rất mắc cở. Đâu là điều cô có thể than phiền? Phải chăng Chúa chỉ cho cô những thứ vừa sức chịu đựng của cô - mà bằng chứng rõ ràng nhất là cô vẫn chịu đựng chúng đấy sao.

   Vào ngày 25 tháng 8 cô rơi vào một tình trạng khốn quẫn không thể tả được. “Chúng ta phải cầu nguyện cho người sắp qua đờí! Ôi nếu như người ta biết được!” Rồi cô nói thêm “tôi gây ra nhiều rắc rối qúa - nhưng tôi không muốn được bớt đau khổ.” Kèm với đau đớn cô còn bị khát nữa. Đức Yêsu cũng đã phải kêu lên: “Ta khát.” Khi người ta cho cô một ly nước đá Têrêsa thốt lên “Ồ, tôi muốn được khát như thế này cơ. Đừng làm thế, cho tôi một giọt nước thôi. Lưỡi tôi vẫn còn chưa khô đủ mà!”

   Hai ngày sau cô chỉ vào một cái lỗ đen ngoài vườn phía dưới những cây hạt dẻ. “Tôi đang ở trong một cái hố thẳm như thế, cả về thân xác lẫn tâm hồn… Bóng đêm thật là dễ sợ; nhưng lòng tôi vẫn bình an.” Têrêsa khó khăn lắm mới làm dấu Thánh gía được. “Lạy Chúa xin thương xót con! Con chỉ còn biết xin như vậy thôi.” Nhưng Chúa có vẻ như chẳng hề xót thương.

   Nhân dịp kỷ niệm ngày khấn dòng của Têrêsa (8 tháng 9) một người bạn gởi tặng cô một bo bông hoa dại, và có một con chim cổ đỏ bay qua cửa sổ đến quanh quẩn bên giường làm cho Têrêsa thích thú. Cô làm hai vòng hoa đặt dưới hình Đức Mẹ Mỉm Cười. Rồi người ta lại cho cô hoa tím (không biết cô có thể ngửi thấy mùi hoa không? Rồi ngày hôm sau họ tặng một đóa hoa hồng, Têrêsa ngắt cánh của nó ra rải trên tượng chuộc tội mà cô luôn mang theo mình. Nhân đây Têrêsa nói những lời tiên tri này, “các sơ hãy gìn giữ cẩn thận những cánh hoa này vì một ngày kia nó sẽ hữu ích cho người khác.” “Giờ đây tôi hy vọng và tin tưởng rằng những ngày lưu đầy của tôi sắp qua đi,” Têrêsa nói thêm. Rồi một chiều kia có một con chim bồ câu đậu xuống và đứng trên bục cửa sổ kêu làm Pauline và Céline nhớ lại lời của sách Nhã ca 2,12-13: “Mùa đông đã đi qua. Cơn mưa cũng đã tạnh. Ta đã nghe thấy tiếng chim bồ câu vang lên trong miền đất này. Hãy chỗi dậy, bạn tình xinh đẹp của ta ơi và hãy đến!”

   Dù bề ngoài có một vài dấu hiệu suy giảm, bên trong căn bệnh vẫn tàn phá khủng khiếp, cho tới buổi sáng ngày 29 tháng 9, cái chết đã lộ mặt ra.

   Têrêsa hỏi Mẹ bề trên: “Phải chăng đây là kết thúc? Con phải làm gì để được chết? Con sẽ không bao giờ biết được phải chết như thế nào.”

   Pauline đọc kinh cầu Tổng lãnh Thiên thần Micae cho Têrêsa nghe và lời nguyện cho kẻ sinh thì. Bác sĩ đến xác nhận cô sắp lìa trần.

   “Có phải hôm nay không, thưa Mẹ?”

   “Đúng như thế.”

   Rồi cô nghe một sơ nói: “Hôm nay Thiên Chúa sẽ rất là vui đây” Têrêsa kêu lên “tôi cũng thế” nhưng niềm vui đó chỉ được một lát thôi, trong suốt ngày hôm đó cô bị dầy vò vì đau đớn và sợ chết, và đêm cuối đời thật là khủng khiếp. Và trong vật vã đó người ta nghe tiếng cô kêu lên, “Ôi, lạy Chúa, con xin vâng, xin vâng! Con muốn tất cả điều này.”

   Têrêsa đã đạt tới sự trọn lành. Tính tham lam muốn giành hết mọi cái về cho mình khi còn thơ bé đã quay qua chống lại chính cô. Tự cô đã chọn tất cả đau khổ này, sự tra tấn nơi thân xác, u sầu nơi tâm hồn, bất an về tinh thần, mà không mong có một sự đền bù nào. Têrêsa đã đi đến cuối đường đau khổ, bị tước đoạt tất cả, hư vô hoàn toàn. Căn nhà đã trống rỗng, toàn thể con người cô nay nằm trong tay của hồng ân Thiên Chúa.

   Cô cầu nguyện trong tuyệt vọng; đó là cơn đau đớn cùng cực, không được dù chỉ một thoáng thuyên giảm và an ủi, nó kéo dài lê thê qua thêm một ngày nữa. Têrêsa không thể nghỉ được nữa, cô phải ngồi trên giường, bám ghì vào sự sống với tất cả sức mạnh của mình. “Có lẽ nó còn kéo dài thêm nhiều tháng nữa! Ngày mai còn xấu hơn. Được rồi, như thế sẽ tốt hơn!” Rồi cô lại bị dao động.

   “Nếu đây chỉ là màn giáo đầu thì chính cái chết sẽ còn ra sao đây?…

   “Chén đắng con uống đã đầy tràn…”

   “Lạy Chúa, Ngài qúa nhân hậu biết bao! Vâng con biết rằng Ngài rất tốt lành…”

   Vào 3 giờ chiều Têrêsa giang hai tay ra, nhìn vào hình Đức Bà Núi Cát Minh và nói với Mẹ bề trên, “Xin hãy dâng con cho Đức Mẹ mau lên và hãy chuẩn bị cho con được chết lành.”

   Mẹ Maria Gonzala trấn an cô, nói rằng Têrêsa khiêm nhường hãy phó thác cho tình yêu lân tuất của Chúa. Lần này Têrêsa nói với vẻ đơn sơ duyên dáng: “Con không bao giờ phải hối tiếc vì đã tận hiến cho Đấng Tình Yêu.” Liền sau đó cô phải kêu lên, “tôi không bao giờ ngờ được rằng là có thể chịu đựng những đau khổ to lớn như thế này.” “Tôi không thở được và cũng chẳng chết được,” và đứng giữa cái sống và cái chết Têrêsa lại tái dâng mình làm của lễ, “tôi hoàn toàn vui lòng tiếp tục chịu đau khổ.”

   Vào khoảng 5 giờ chỉ còn Mẹ Agnes ở với Têrêsa, bà thấy có một sự thay đổi bat chợt hiện lên khuôn mặt cô nên vội đi kéo chuông, cả cộng đoàn vội vã chạy đến bệnh xá. Têrêsa mỉm cười nhìn từng người một rồi hướng mắt lên tượng chuộc tội, rõ ràng là đã đến lúc sinh thì, nhưng cơn hấp hối lại kéo dài rất lâu. Khi tiếng chuông báo đọc kinh truyền tin ngân lên lúc 6 giờ Têrêsa nhìn lên hình Đức Mẹ Mỉm Cười với vẻ van nài; rồi lại đến 7 giờ, thấy mọi người đứng đó qúa lâu Mẹ bề trên liền xin họ giải tán.

   “Đây có phải là kết thúc chưa, thưa mẹ? Không hề gì, con không muốn chấm dứt vội vã những đau khổ của con.” Và Têrêsa lại quay sang nhìn Thánh giá đang cầm trên tay: “Con yêu Chúa, lạy Chúa, con yêu Chúa…”

   Sau đó đầu cô nhẹ nhàng ngả ra phía sau. Hình như đã chết rồi, Mẹ bề trên gọi các nữ tu đến và khi họ qùy gối chung quanh giường thì khuôn mặt Têrêsa đã lấy lại nét trắng tinh của bông hoa huệ khi cô mạnh khoẻ. Mắt cô đã bất động hướng lên nhưng vẫn tràn trề sức sống và bàng bạc một niềm hạnh phúc siêu việt. Mẹ Agnes làm chứng nhìn thấy đầu của Têrêsa vẫn động đậy “như thể có một luồng sáng lòng mến phát ra.” Chắc chắn đó là phúc lạc đời đời. Đó là cứu cánh cho đức tin của Hội thánh, của từng người tin mà chính người đó phải đi đến cùng, theo như nội dung của Kinh Tin Kính. Rồi Têrêsa nhắm mắt lại và qua đời. Lúc đó là 7g20 chiều ngày 30 tháng 9 năm 1897; chị được 24 tuổi và 9 tháng.

   Có lần người ta cho Têrêsa xem một tấm hình của chị, chị mỉm cười mà nói: “Đó chỉ là cái phong bì mà thôi. Có ai xem được lá thư bên trong không? Tôi muốn xem lá thư đó.”

   Giờ đây cuối cùng chị đã thấy. Lá thư đó được hun đúc, trui rèn và hoàn tất bởi Đức Chúa của chị. Lá thư đó đã được mở ra trước nhan Thiên Chúa Toàn Năng và Thánh ý của Ngài đã muốn sứ điệp của lá thư đó phải được lập tức lan tỏa khắp thế gian. Người chiến sĩ trẻ tuổi này đã chiến thắng bản thân nay nhận nhiệm vụ mới là chiến thắng thế giới như lời Kinh thánh (1Yn 5:4): “Bất cứ ai sinh ra bởi Thiên Chúa thì đều chiến thắng thế gian”. Từ chiếc áo dòng mầu nâu chị đã rắc hoa hồng xuống như mưa - không phải là hoa hồng bằng giấy, bằng thạch cao, bằng sứ hay cẩm thạch, nhưng chính là những bông hoa hồng sống, mầu trắng hay mầu đỏ như máu, hoa hồng của đau khổ, hy sinh và trong sạch (các họa sỹ tự trọng không bao giờ dám vẽ chúng ra). Chị dương cao ngọn cờ chiến thắng một bên là khuôn mặt tươi cười của Con Trẻ Hài Đồng Yêsu, một bên là khuôn mặt hấp hối của Đấng Chịu Đóng Đinh. Chị không cổ vũ cho một lòng sùng kính dựa theo tình cảm và không đưa ra một gương mẫu yếu ớt ủy mị, mọi cái đều mãnh liệt. Nước Trời phải dùng đến bạo lực mới chiếm nổi (Mt.11:12). Nơi chị có bản chất mãnh liệt của Thánh nữ Catarina thành Siena và Jean d’Arc, và con đường nhỏ của chị là một con đường anh hùng - không là gì khác hơn một lòng yêu Chúa cực độ và hoàn toàn thuộc về Ngài cho tới những tư tưởng và hành động nhỏ bé nhất; để trở nên một trẻ nhỏ như thế các bạn cần phải nghiền nát chính mình đi như thể lúa mì tan ra trong một cái cối xay.

   Nơi một con người mà trong phần lớn cuộc đời không hề được Chúa ban cho những an ủi cụ thể thì không có chỗ cho tính đa cảm, cho sự đơn sơ giả tạo, và mất công sức làm ra những bông hoa gỉa. Lối ví von “làm mưa hoa hồng” chỉ nhằm chinh phục những người lãng mạn, duy mỹ. Thật ra “những bông hồng này” chính là ân sủng, và ân sủng không phải trả gía rẻ mà có được. Để được sinh hoa kết trái sung mãn nó cần đến một sự tử đạo nơi tâm hồn ta.

   Thi thể của nữ tu Têrêsa được bọc trong một cái áo choàng lớn mầu trắng, một vòng hoa hồng trắng quấn quanh đầu chị, tay chị cầm một cành thiên tuế chiến thắng. Chị nằm đó, không che mặt, đàng sau chấn song của nhà nguyện, để cho bạn bè và họ hàng, những người quen biết hoặc xa lạ đến viếng lần sau cùng. Cái chết của một nữ tu đan viện chẳng có gì là quan trọng, nhưng nơi một tỉnh lẻ, dù đó có là nơi chẳng mặn mà gì với tôn giáo như Lisieux, nó vẫn là một biến cố khá nổi bật, nhất là khi người nữ tu đó còn rất trẻ và là người địa phương. Trong suốt cuộc sống đan viện của nữ tu Têrêsa, chị bị một số nữ tu khác hiểu lầm, ganh tỵ, ghét bỏ, nhưng cái chết kéo dài và cuộc chiến thắng sau cùng của chị đã làm họ cảm động. Vài người đoan quyết đã ngửi thấy mùi thơm của hoa huệ và hoa tím chung quanh xác chị; một chị dòng kia vốn khắc nghiệt với Têrêsa, qúa hối hận đã áp trán mình vào chân Têrêsa, và được khỏi ngay chứng bệnh thiếu máu. Ơ một tỉnh lẻ thì điều này lan ra rất mau và khi các sơ làm bếp đi chợ thì chắc hẳn các chị không thể giữ kín câu chuyện về một vị Thánh nhỏ của chúng ta. Người ta có thể tin hay không nhưng khi nữ tu qúa cố này là con gái út của ông Martin mà đã dâng cả 5 đứa con cho Chúa, riêng Têrêsa thì đã vào dòng lúc mới có 15 tuổi, bấy nhiêu cũng đủ dấy lên bao thương cảm và tò mò nơi các tín hữu đạo đức. Nhiều người tuốn đến nhà nguyện lấy ảnh tượng và tràng hạt chạm vào thi thể thánh thiện của chị, nhưng chỉ có rất ít người ngoại trừ thân nhân và một số giáo sĩ theo sau quan tài trên con đường dốc giữa hai hàng cây đưa xác cô đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang thị xã. Trong khi các nữ tử Cát Minh hát kinh Têrêsa được chôn cất tại khu dành cho các nữ tu ở một triền dốc cao. Một cây thánh giá gỗ được cắm trên mộ trên đó ghi tên và lời hứa của chị: “Trên Thiên đàng tôi sẽ làm ơn ích cho trần gian.” Ngày nay nơi đó được thay thế bởi một bia kỷ niệm vì thi hài của chị đã được dời đi chỗ khác, nhưng nó vẫn là một nơi thú vị để đến thăm và chiêm ngắm của miền Normandie xinh đẹp, phong phú và thanh bình. Trong một thời gian, lòng đất mẹ mà Têrêsa rất yêu qúi và đã khước từ những lạc thú của nó, đã giang tay đón nhận thân xác tàn tạ của cô; nhưng chỉ trong hai năm đã có bao thỉnh nguyện, kêu cầu và tạ ơn đã tích tụ trên ngôi mộ đó qua những lá thư gởi đến nhà dòng, những thánh giá và tràng hạt được đặt trên mộ như thể muốn nhờ đến chị mà tiếp xúc được với Thiên Chúa hằng sống. Chính từ đó mà sự ngưỡng mộ của quần chúng dành cho chị được khai sinh.

   Cái chết của chị đã làm thay đổi bộ mặt của nhà dòng Lisieux. Những người hồ nghi nay đã tin, những ganh ghét đã lắng xuống, và trong u buồn các nữ tu đã phục hồi sự đồng nhất của tình chị em. Thái độ của Mẹ bề trên đã đổi khác. Bà không hồ nghi gì về sự thánh thiện của Têrêsa và quả quyết rằng khi cầu nguyện trước di ảnh của chị, bà đã nghe Têrêsa nói chuyện với bà. Bà không cho biết thêm điều gì mà chỉ nói rằng: “Chỉ mình tôi mới biết là tôi mắc nợ Têrêsa nhiều như thế nào.” Thay vì gởi cáo phó đến các nhà dòng Cát Minh khác, Mẹ Maria Gonzaga quyết định gởi cho họ những bản sao Truyện Một Tâm Hồn, và thêm vào đó những ghi chép về những giờ phút cuối cùng của Têrêsa. Sau đó cuốn sách được in ra và vào tháng 10 tiếp theo nó bắt đầu nói về tên chị, về cuộc đời của chị, và lời chị hứa cho các sĩ tử Cát Minh trên toàn thế giới. Nó được phiên dịch và truyền bá rộng khắp và chẳng mấy chốc không có bằng hữu nào của dòng Cát Minh mà lại không biết về hồng ân Chúa ban cho nhà dòng vốn được khai sinh dưới áo khoác của Êlia và được Thánh Têrêsa Cả cải tổ. Cho nên người ta quyết định xuất bản cuốn sách.

   Nó dấy lên một hiệu qủa tức thì và mạnh mẽ, một dòng sông người gồm các tu sinh tuốn đến Lisieux từ trong nước Pháp, Ai-len, Ý, Bồ Đào Nha, Achentina. Tu viện bị qúa tải và nhiều người phải đến ở tại các tu viện khác. Trong số họ có nhiều tu sĩ đạo hạnh mà về sau trở thành tu viện trưởng tại Lisieux như Sơ Maria Angela, Sơ Têrêsa Thánh Thể, Sơ Têrêsa Thánh Tâm. Hàng giáo sỹ cũng bị lôi cuốn không kém, ở đâu người ta cũng bàn tán về trẻ nhỏ thánh thiện này. Nhưng thần hứng và phép lạ của việc tông đồ trên toàn thế giới của Têrêsa đã lan toả khắp thế giới trước khi hàng giáo sỹ chú ý đến. Chị đã nói rằng: “Tôi sẽ trở lại trần gian,” và chị đã làm điều đó.

   Tôi không đủ khả năng tóm tắt dù rất sơ sài cuộc sống thứ nhì của Têrêsa trên thế gian và mối quan hệ thân thương của chị với những người đang sống trong một trăm năm qua. Chỉ trong vòng 36 năm sau khi chị qua đời những phép lạ can thiệp, chữa bệnh, hoán cải trở lại đạo, cảnh cáo, thị kiến, đã được cô đọng một cách không đầy đủ trong 7 bộ sách có tựa: “Những cơn mưa hoa hồng” - mà đây chỉ là một giọt nước của dòng chảy những lời tạ ơn tuôn đến Lisieux. Sơ Têrêsa có mặt khắp chốn và không bỏ sót một ai. Một tu sĩ nam nổi tiếng đạo hạnh, ở tuổi 66 bắt đầu lại từ đầu con đường trọn lành dưới sự hướng dẫn của Têrêsa. Một linh mục trẻ bị lao giai đoạn cuối được tức khắc khỏi bệnh và từ đó trở đi rất khoẻ mạnh. Một cô bé mù bỗng nhìn thấy Têrêsa và ngay lập tức được sáng mắt ra. Một Bà Nhất của một đan viện bên Italia, không có tiền thanh toán các hoá đơn, tìm thấy số tiền cần thiết trong một ngăn kéo. Một mục sư của giáo hội Trưởng Lão tại Edinburgh nhờ Têrêsa mà trở lại đạo Công giáo, ông đã đến sống trong ngôi nhà cũ của Têrêsa tại Alecon. Một kỹ nghệ gia Anh vốn rất hà khắc với công nhân, trong một sớm một chiều bỗng trở thành bạn và giúp đỡ họ, ông lại còn giảng đạo cho họ nữa. Một đứa trẻ giữa đám cháy không bị chết, một cái xe hơi sắp đâm xuống vách núi bỗng đứng lại vì người ta kêu tên chị. Một trong những cánh hoa lúc trước Têrêsa đặt lên cây Thánh giá của chị đã chữa khỏi ung thư lưỡi cho một người. Chỗ này chị xuất hiện tặng một bông hoa thủy tiên cho một bà mẹ tưởng sắp phải chết vì sinh con và làm cho bà được mẹ tròn con vuông. Chỗ kia một bộ lạc Phi châu phá đi các ngẫu tượng của họ khi nhìn thấy bức tượng của chị đặt trong một căn chòi. Hiếm có một quốc gia nào mà phép lạ của Têrêsa không vươn tới và người ta không kêu cầu tên chị. Sự thánh thiện của chị thật hiển nhiên và các việc kỳ diệu chị làm không thể chối cãi được. Tiếng nói của quần chúng không thể làm ngơ được nữa.

   Tháng 8 năm 1910, Giám Mục giáo phận Bayeux bắt đầu cuộc điều tra tin tức về Têrêsa kéo dài một năm. Ngày 10/12/1913, Uy Ban Phụng Vụ chấp thuận những bài viết của Têrêsa. Ngày 10-6-1914, Thánh Giáo Hoàng Piô X đưa ra dự án phong thánh cho chị. Rồi thế chiến thứ nhất nổ ra, người ta xếp nó qua một bên. Têrêsa đi xuống các chiến hào, che chở chỗ này, an ủi chỗ kia, kéo người này ra khỏi hố trước khi nó xụp xuống, nắm tay người nọ khi anh đi lạc vào khu quân địch. Chị cúi mình trên những người sắp chết, hàng ngàn người cho rằng nhờ chị mà họ được cứu sống, và một số còn đông hơn tin rằng họ tìm được đức tin là nhờ chị. Họ là các phi công, lính bộ binh, pháo thủ, người khiêng cáng, phần lớn là người Pháp. Không ai bất mãn vì Têrêsa dành ưu tiên cho quê hương và nâng đỡ đồng bào mình khi họ bị đe dọa. Nhưng các linh hồn còn cao qúy hơn. Một lính Đức bị cụt cả hai chân nằm đợi chết giữa quân Pháp, cha tuyên úy người Pháp đề nghị anh kêu xin Têrêsa giúp đỡ, anh chưa bao giờ nghe về chị, nhưng vẫn sốt sắng làm theo. Têrêsa hiện ra trước mắt anh và anh được cứu sống. Như thế khi trở về quê hương anh sẽ là một chứng nhân của những việc kỳ diệu của Têrêsa.

   Với những chứng cứ mới, dự án phong thánh lại được nối tiếp sau chiến tranh. Ngày 14 tháng 8 năm 1921 Đức Bênêdictô XV tuyên bố rằng Têrêsa đã có những nhân đức anh hùng. Ngày 11 tháng 2 năm 1923 Đức Piô XI bắt đầu cứu xét các phép lạ Têrêsa làm. Ngày 29 tháng 4 chị được tuyên phong Chân phước trong sự hồ hởi đón mừng. Rôma đã châm chước nhiều thủ tục khi nhanh chóng công nhận Têrêsa. Từ nay chị đã có ngày lễ mừng và những Thánh lễ tôn kính tại các nhà thờ trong giáo phận Bayeux và trong nhà nguyện của dòng Cát Minh trên toàn thế giới.

   Nhưng như thế đối với Têrêsa vẫn chưa đủ. Chị không bằng lòng giới hạn mình trong một địa phận nhỏ và ngay cả trong một dòng lớn. Chị đã và vẫn còn nói: “Tôi chọn tất cả.” Tín hữu khắp mọi nơi đang cần đến sự trợ giúp của Têrêsa. Chị làm thêm nhiều phép lạ gấp bội, kéo thêm nhiều tội nhân trở lại, và hai năm sau dự án phong thánh hoàn tất bằng việc long trọng tuyên phong Hiển Thánh ngày 17 tháng 5 năm 1925. Từ đầu năm 1927 người ta ghi nhận hiệu qủa tông đồ của các việc Têrêsa làm, ngày 3 tháng 10 năm đó, trong toàn thể giáo hội Công giáo, dưới một cái tên mà nay trở thành bất tử trên Thiên đàng “ Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Yêsu và Khuôn Mặt của Chúa” sẽ là quan thầy các xứ truyền giáo và công việc Tông đồ tại nước Nga. Chữ T đầu tiên trong tên chị đã thực sự toả sáng giữa các vì sao. Têrêsa đã chinh phục thế giới.

   Ta không cần phải nói về sự ăn mừng tại Lisieux và những tôn vinh người ta dành cho chị, về những dòng người hành hương liên tu bất tận, về sự thay đổi bộ mặt của nhà nguyện đan viện. Một ngôi thánh đường đồ sộ được Giáo hoàng ban phép sẽ vươn lên ngự trị nơi bầu trời của thị xã để làm chứng cho sức mạnh thiêng liêng của một Vị Thánh Têrêsa Mới. Việc thương mại hóa Lisieux chỉ là một cái gía mà nơi hành hương nào cũng phải trả mà ở đây ta không nên mất công nói về những cái lố bịch của nó. Tuy nhiên rất nhiều người khám phá rằng họ chưa bao giờ cầu nguyện sốt sắng hơn khi họ cầu nguyện tại Lisieux, vì ở đó họ cảm nghiệm được sự nâng đỡ của một vị Thánh vĩ đại nhất đương đại. Têrêsa giống như một Thánh Phanxicô khác trao cho chúng ta một sứ điệp Tin Mừng mới mà vẫn không sửa đi một chấm một phẩy Tin Mừng Cứu Rỗi của Đức Yêsu Kitô. “Trừ khi các ngươi hoán cải và trở nên giống như một trẻ nhỏ, các ngươi sẽ không được vào Nước Thiên Chúa” (Mt 18:3).

   “Chúng tôi không phải là con nít”, tính tự mãn của chúng ta sẽ trả lời như thế, muốn trở nên như con trẻ chúng ta cần phải từ bỏ mình đi. Têrêsa sẽ giúp chúng ta. Chị đã hủy diệt sự tự mãn và tự cao của chị, đã phá tan chính con người, phá tan tâm hồn, tinh thần, con tim, thân xác của chị đi với ơn Chúa giúp.

   Khi người ta mở quan tài của Têrêsa ra vào ngày 6 tháng 9 năm 1910, thân xác chị đã bị tiêu tan như phần lớn xác các vị Thánh khác; chỉ có vài lóng xương còn xót lại, và chúng tiếp tục mục rữa cơ hồ như căn bệnh tàn bạo đã cướp đi mạng sống của chị vẫn tiếp tục hoành hành nơi di hài đang tan rã này. Nhưng một số chứng nhân của cuộc khai quật quả quyết rằng họ đã ngửi thấy một hương thơm phát ra từ nắm xương tàn của Têrêsa và nó vẫn thoang thoảng tại khu đất đó trong nhiều tháng trời. Nắm hài cốt này được chính thức nhìn nhận là của Têrêsa vào năm 1917, và vào ngày 26-3-1923 nó được long trọng rước vào thị xã với sự tham dự của 50.000 người. Trước khi họ di chuyển hài cốt, một người phụ nữ đến từ thành phố Angers đặt đứa con bị bại liệt của bà ta trên nắp quan tài, đứa bé gái lập tức nhảy lên, chạy theo đám rước và ca hát. Còn có 3 phép lạ khác xẩy ra trong hôm đó. Như thế sự “hư vô” của Têrêsa đã quay về ngự trị vĩnh viễn nơi đan viện nay đã nổi tiếng khắp nơi vì ở đó Đấng Tình Yêu đã đốt cháy chị, chị hãy an nghỉ trong bình an ở đó chờ đợi vinh quang phục sinh của ngày cánh chung.

   Và chúng ta những người của một trăm năm sau khi Têrêsa qua đời, sống ở một nơi rất xa và hoàn toàn khác với thành Lisieux, dù rằng chị đã từng ao ước được đến, sống và tử đạo tại đất nước Việt Nam này, ai dám nói rằng chúng ta không ngửi thấy được hương thơm lòng mến của chị lan toả đến. Vì bàng bạc sống quanh ta có bao nhiêu người mẹ, người vợ, người chị, người em, người con, nhờ Têrêsa mà hiểu được rằng cái cuộc đời tầm thường của họ quay đi quẩn lại trong một góc bếp vẫn là những con đường lớn của Lòng Mến đủ sức thoả mãn tất cả những khát vọng thâm sâu nhất, to tát nhất của một con người. Tôi đã gặp một em bé gái 8 tuổi, rất xinh đẹp và ngoan ngoãn nhưng phải nằm chờ chết trong nhà thương vì một chứng bệnh nan y khủng khiếp. Em quằn quại trong đau đớn, cả cuộc đời đã xụp đổ, thế mà khi tôi kể cho em về khát vọng của Têrêsa muốn làm mưa hoa hồng cho trần gian sau khi chết, mắt em sáng lên vì em hiểu rằng không ai và không hoàn cảnh nào có thể đặt ra một giới hạn cho những giấc mơ của em. Trong cõi đời đời Têrêsa không bao giờ phải cô đơn như những ngày sống trên trần gian. Chị có rất nhiều người bạn, có khi trẻ hơn chị rất nhiều, đang cùng tham gia làm mưa hoa hồng xuống cho trần gian. Têrêsa vẫn làm chúng ta ray rứt vì Lòng Mến của chúng ta vẫn qúa hời hợt, chúng ta vẫn chưa biết được sự ngọt ngào của hư vô vì không dám hoàn toàn ném mình cho vòng tay Thiên Chúa như một đứa trẻ lao vào lòng cha mình. Têrêsa vẫn còn đó, vẫn làm mưa hoa hồng. Phải chi, nhờ ơn Chúa giúp, chúng ta biết giơ tay đón nhận.