|
Chương 9 TRUYỆN MỘT TÂM HỒN.
Lần sau cùng người ta khiêng ông Martin đến phòng khách tu viện thì ông đã yếu lắm rồi, nói năng rời rạc, nhìn không nhận ra nữa. Khi đến lúc phải chia tay các con, ông ngước mắt lên, giơ bàn tay ra, một ngón tay chỉ lên cao, nghẹn ngào một lúc lâu mới thều thào nói được, “Hẹn gặp lại các con yêu dấu trên Thiên đàng, trên Thiên đàng!” Ông sẽ lên thẳng Thiên đàng, Têrêsa không hề nghi ngờ điều đó khi cha qua đời ngày 29-7-1894, tại Evreux, trong ngôi nhà nghỉ của ông Guérin. Léonie đã vào dòng Thăm Viếng tại Le Mans, chỉ còn mình Céline ở với ông, buồn vui lẫn lộn, vì sau khi cha mất, sợi dây ràng buộc cuối cùng của cô với thế gian đã bị cắt đứt, cô sẽ được tự do gia nhập Cát Minh với Maria, Pauline, và Têrêsa. Về phần mình, Têrêsa đón nhận cái chết của “Đức Vua” của cô một cách dũng cảm; cô vui vì ông được giải thoát, và cầu nguyện với cha như người ta cầu nguyện với một vị thánh. Cô van cha xin Chúa ban cho một dấu chỉ làm bằng chứng về hạnh phúc Thiên đàng của ông, dù cô không hề hồ nghi, đó là việc gia nhập Cát Minh của Céline. Một số nữ tu không mặn mà lắm với triển vọng có đến một Martin thứ tư gia nhập tu viện. Chúng ta đã thấy Têrêsa giữ kẽ ra sao vì có đến hai bà chị trong dòng, và các chị nhận thấy sự tránh xa đó do bởi khát vọng lên trọn lành của em, cũng phù hợp với luật dòng Cát Minh. Cho nên không có cơ sở nào để lo sợ rằng sự hiện diện của Céline sẽ kéo theo sự hình thành một phe gia đình muốn kiểm soát nhà dòng. Nhóm chống đối do một nữ tu đáng kính cầm đầu, bà cứng cỏi và cương quyết. Ở trong một tình trạng khó xử, Mẹ bề trên Agnes de Jesus không muốn vận động cho em mình, vì thế cơ hội của Céline rất là mỏng manh, và Têrêsa đã quay về Chúa với một lời cầu xin mãnh liệt tựa như một mệnh lệnh. Một bữa kia, lúc cám ơn rước lễ xong, Têrêsa quay về thì gặp Sơ không thuận kia, bà nói với cô trong nước mắt rằng bà đã thay đổi lập trường, và nay sẽ ủng hộ tích cực cho việc vào dòng của Céline. Điều này làm tiêu tan mọi e dè về phía Đức Giám Mục và ngài chỉ còn một việc là chấp thuận. Têrêsa viết cho Céline ngày 19 tháng 8: “Thật hạnh phúc khi thấy cha vẫn như xưa mà còn chan chứa tình phụ tử hơn. Cha mới chỉ về Thiên đàng trong một tháng thế mà tất cả các ước vọng của chị đã thành đạt.” Đây có lẽ là lần sau cùng Têrêsa viết thư cho chị. “Hãy đến đây, chị thân mến, chúng ta sẽ cùng chịu đau khổ với nhau, sau đó Chúa Yêsu sẽ đến đón một người về với Ngài, và những người còn lại sẽ chỉ còn ở trong chốn lưu đầy một thời gian ngắn ngủi nữa thôi”. Đây có phải là một mặc khải rõ ràng cho Têrêsa không? Cơn bệnh mà sau cùng đã cướp mất mạng sống của cô vẫn còn chưa lộ ra. Têrêsa viết tiếp: “Đừng lo lắng về lời tiên tri này; em chỉ đùa thế thôi, em đâu có đau yếu gì. Cơ thể em vững vàng như thép” - nhưng Thiên Chúa có thể dễ dàng bẻ gẫy thép như đập tan đồ sứ vậy. Têrêsa ví mình như một chú chó săn nhỏ miệt mài chạy theo con thỏ từ sáng sớm tới tối mịt. Mẹ bề trên và các chị tập sư là những thợ săn. Họ không thể chạy luồn dưới hang, nhưng một con chó con như cô có thể chui vào bất kỳ đâu và cô có một cái mũi rất thính. Cô canh chừng kỹ lưỡng các con thỏ bé; cô không muốn làm hại chúng, khi đuổi theo chúng cô sẽ nói sự thật cho chúng nghe để chúng trở thành những gì mà người thợ săn muốn. Ngày 14-9 cô tìm được thêm một chú thỏ con, là chị Céline của cô trong gia đình trần gian và nữ tu Genevieve-Thánh-Nhan-Chúa trong dòng. Lúc trước có lần Céline nhận lời tham dự buổi khiêu vũ nhân một tiệc cưới. Điều này trái với khuynh hướng của cô, nhưng đối với một cô gái thì nó hấp dẫn biết mấy, và chỉ cần một bài nhẩy thôi cũng đủ cho cô ta quên hết đi mọi thứ khác. Lần đầu tiên có một chàng trai trẻ mời cô khiêu vũ và họ cùng nhau đi ra sàn. Têrêsa vẫn cầu nguyện cho chị. Rồi một điều không thể tin nổi đã xẩy ra, cả hai người bị cứng đờ người ra; chân họ như bị chôn xuống đất. Họ lâm vào một tình trạng ngớ ngẩn và cùng không muốn khiêu vũ nữa mà chỉ đi dạo thôi. Từ đó Céline mất hết cả lòng lưu luyến lạc thú thế gian, còn cô em Têrêsa thì cứ thúc dục chị hãy yêu Chúa Yêsu hết sức mình. Tình yêu của Thiên Chúa có một yêu cầu rất cao nơi ta, Thánh Yoan Thánh Giá nói rằng tình yêu đó “hành động rất mãnh liệt đến độ nó có thể tìm ra điều tốt trong mọi sự” - ngay cả đó là một buổi khiêu vũ đi chăng nữa. Khi hướng dẫn các tập sinh về mặt tự nhiên lẫn siêu nhiên Têrêsa tỏ ra một sự khéo léo, quân bình, vững vàng, và hiểu biết khiến các Sơ khác kinh ngạc. Cô dịu dàng khéo léo khi khiển trách, tránh đưa ra ý kiến cá nhân để không ngáng trở các tập sinh phát triển theo hướng có lợi cho họ. Cô phải trả một giá nào đó vì cô nghiệm ra rằng “con đường nhỏ của cô” là cách tốt nhất; nhưng khi cần cô vẫn đề cao những con đường khác, phó thác cho Chúa để Ngài dẫn đưa người tập sinh vòng trở lại con đường nhỏ theo một lối riêng. Điều làm cho cô đau lòng nhất là phải canh chừng và sửa lỗi cho người khác đang khi bản thân cô vẫn qúa bất toàn. Nhưng điều đó cần phải làm và cô làm nó đến nơi đến chốn; khi tìm ra một lỗi lầm Têrêsa không hề nương tay với nó. Một tu sĩ không được có các tình bạn đặc biệt, ngay cả với bề trên, chị không được than phiền, kẻo chính các chị sẽ bị người khác than phiền, không được nhờ ai làm điều chi cho mình mà không vì nhu cầu bắt buộc; chị phải làm tất cả những gì có thể làm được cho người khác mà không được đợi đến khi họ nhờ đến mình; chị phải tập thích những gì mình không thích, chịu đựng cái không thể chịu đựng được, đến mức hài lòng với nó và ngay cả tìm kiếm nó. Một trong những người đứng cạnh Têrêsa trong nhà thờ hay lắc tràng hạt kêu lách tách và cái âm thanh khó chịu đó khiến ta không thể hồi tâm được, nhưng Têrêsa đón nhận nó như một thứ giai điệu thích hợp cho việc cầu nguyện đặc biệt; cô gọi đó là “cầu nguyện trong chịu đựng”. Cô cười đùa với các tập sinh nhưng vẫn khiển trách họ nhẹ nhàng và vừa phải. Cô không bao giờ rút lại một lời trách cứ hay lo lắng vì đã làm cho ai đó phải buồn - thuốc đắng mới chữa được bệnh “đi theo người mới bị khiển trách để an ủi họ sẽ có hại nhiều hơn sinh lợi.” Nếu người đó bị cô đơn thì sẽ biết khiêm nhường và cầu xin ơn Chúa trợ giúp. Têrêsa nói ra điều cô nghĩ và không bao giờ nhọc công đi chinh phục người khác, cô luôn sẵn sàng chịu hiểu lầm. Cô thẳng thắn với các tập sinh và muốn họ thẳng thắn với mình, cho phép họ phê bình cô và chỉ ra những thiếu sót của cô. Nếu người ta coi thường cô thì Chúa sẽ lo cho cô. Têrêsa cứ để họ nói, ngay cả khi lời họ làm cô bị thương tổn hay nhàm chán. Các thiếu nữ Têrêsa có nhiệm vụ trông coi thường nhậy cảm, yếu đuối và bướng bỉnh, nhưng cô không bao giờ bỏ rơi một ai. Giống như Jean d’Arc, cô đang chiến đấu vì Nước Trời: Chúa sẽ nhận được chiến thắng còn phần cô sẽ nhận được thất bại. Một tập sinh tự hào vì thắng lý trong một cuộc tranh luận. Têrêsa thốt lên: “Em đi tìm thành công sao. Đó là một điều cần tránh. Tốt hơn là thưa với Chúa: “Con không tìm vinh quang cho con. Ngài là đấng xét xử và ban nó cho con”. Têrêsa làm bổn phận của mình khi phải tranh luận, cảnh cáo, nhắc nhở và rồi phó thác cho Chúa những tâm hồn cứng cỏi và bối rối. Khi chuông gõ là cô lập tức kết thúc lớp học, việc tuân giữ lề luật nơi cô còn hiệu qủa hơn mọi lời nói hùng hồn nhất. Một bữa nọ, nghe tiếng chuông báo đi đọc kinh là Têrêsa cắt ngang không nghe lời bộc lộ của một tập sinh đang gặp bối rối. “Chúa đang gọi em. Ngài muốn em phải mang lấy gánh nặng của mình.” Cô gái đáng thương bỏ đi với một con tim nặng trĩu nhưng lời nói của Têrêsa trở thành một lời cầu nguyện cho em và trong giờ cầu kinh một sự bình an kỳ lạ đã ôm ấp lấy em và tất cả bối rối đã tan biến hết. Chúa đã hoàn thành công việc mà Têrêsa đã bắt đầu. Dần dà sự đơn sơ với bản thân làm cho Têrêsa vui mừng với những thiếu xót của chính mình. Khi cô bất lực không làm gì được cho các đệ tử thì hy vọng của cô lại gia tăng thay vì tan biến đi vì đó là dấu hiệu cô nên tránh sang một bên và để cho ân sủng được tự do hành động; cô sẽ hỗ trợ họ bằng cầu nguyện và dâng lên cho Chúa sự bẽ mặt của mình. Cô cũng bị nhiều người thù ghét - không thể khác hơn được. Có những cay đắng, căm ghét, than phiền mà Têrêsa phải chịu đựng từ phía các đệ tử, các Sơ khác, và các bề trên. Cô làm tất cả để lướt thắng chúng - mà chỉ để tâm tới lẽ phải mà thôi - đôi lúc cô thành công. Tất cả những gì cô cần cho, cô đã cho đi, và để đổi lại cô chỉ xin mọi cái đều phải quy hướng về Chúa. Trong dự án phong thánh ta thấy tài năng thông cảm và nâng đỡ người khác của cô cũng mang về cho cô những người bạn tốt. “Đấng mà chúng ta chọn làm Hôn Phu Chí Thánh là đấng trọn lành tuyệt đối, tuy thế Ngài vẫn có một khiếm khuyết lớn , nếu tôi dám nói ra, là Ngài bị mù! Và không biết là làm toán! Nếu Ngài có thể thấy và làm toán chính xác, Ngài bắt buộc phải hủy diệt chúng ta vì tội lỗi của chúng ta. Nhưng tình yêu đã khiến Ngài thành mù lòa…để duy trì sự mù lòa và ngăn không cho Ngài làm tính ta phải biết cách chinh phục trái tim và cũng là yếu điểm của Ngài.” Ta không được lợi dụng điểm yếu này để phạm tội vô tội vạ; nhưng nếu ta phạm tội ta phải thành tâm thống hối trong yêu mến, và Chúa cũng sẽ quên đi. Với những bài học như vậy Têrêsa làm người nghe không bị nhàm chán, mà được khích lệ khi ngã lòng, nhưng chưa chắc mọi người ngay cả những tập sinh xuất sắc và thông minh nhất có thể hiểu giáo huấn của cô đến nơi đến chốn. Cung cách sinh động, cách lên xuống giọng của cô làm họ thấy vui, nên cười nhiều, còn chính chân lý mà cô muốn loan truyền thì lại không được để ý. Tại một buổi giải trí ban chiều trong mùa Giáng sinh 1894 Têrêsa đang nói chuyện với hai chị là Mẹ Agnes và sơ Maria về những kỉ niệm Giáng sinh trong qúa khứ. Cô có một trí nhớ đặc biệt và thích nhắc lại những ngày xưa vì chúng là bằng chứng về những điều lạ thường Chúa làm cho cô. Khi nghe cô kề một cách say sưa ta chỉ việc hình dung ra ngôi nhà Les Buissonnets, họ hàng cùng bạn bè, và cô bé Têrêsa có đôi mắt xanh lơ mở to, mái tóc bồng bềnh, lúc vui lúc buồn, đa cảm và trầm tư, tốt bụng và dễ thương. Cô bé đó là em gái của các chị và một ngày kia sẽ thành một vị Đại Thánh như thân phụ của họ đã tiên báo. Nghe em nói Sơ Maria xúc động vì những lời kể du dương và có lẽ do một Thiên Thần tốt lành gợi ý, Sơ bỗng thốt lên, “Thưa Mẹ bề trên, tại sao ta không nói Têrêsa viết lại tất cả những điều này!” Sao lại phải viết? Tâm trí cô đã chẳng bị tràn ngập bởi muôn vàn bổn phận rồi sao? Cô đã phí qúa nhiều thời gian nói về mình rồi, nay còn viết ra làm chi nữa? Đó là ý kiến của cô đối với đề nghị này và Mẹ Agnes cũng đồng ý. Nhưng Sơ Maria vẫn kiên trì: nào là vì sự trân trọng đối với qúa khứ, lòng biết ơn với những người đã mất, vì ích lợi cho cộng đoàn, còn vì gì nữa thì chỉ có Chúa mới biết. Có lẽ rằng Sơ Maria còn phải tranh luận gay go nhiều điều lắm mà nay ta không biết được vì sau cùng Mẹ bề trên chấp thuận và buộc Têrêsa vì đức vâng lời phải dùng thời gian rảnh rỗi theo cách này. Mẹ còn ấn định ngày Têrêsa phải nộp bản thảo, trong vòng một năm, vào ngày 20-1-1896. Điều trước tiên Têrêsa làm là qùy xuống và dâng công việc này cho Đức Mẹ, “ngõ hầu cô không viết ra một điều gì phật lòng Đức Mẹ.” Sau đó cô nhận một cuốn tập học sinh và qùy xuống viết trên một cái bàn nhỏ, theo một giọng văn đơn sơ, bắt đầu tự thuật về đời mình mà một ngày qua đó thế giới sẽ được biết về sự thánh thiện của Têrêsa. Đây không phải là viết văn, cô chỉ quan tâm đến việc tạo cho các chị của mình, và có thể một ít người khác, một cơ hội để yêu mến Chúa hơn qua việc duyệt lại những gì Chúa đã làm cho cô. Với những độc gỉa như thế cô chọn cách nói của một đứa trẻ thưa chuyện với những phụ huynh của mình, đơn sơ và chân thành trong giới hạn của nó. Những trang giấy bàng bạc những loại hoa mà họ yêu thích, những tiếng than thở, những cảm xúc, những khát vọng vươn lên, rất thân thương và hữu ích cho họ trong việc cầu nguyện; các kỉ niệm nối tiếp nhau tuôn tràn, chảy ra theo ngòi bút Têrêsa; không có dấu hiệu nào của làm văn - nó chính là sự tuôn chảy của một tâm hồn. Đó chính là khuyết điểm cũng như nét duyên dáng của phần đầu trong “Một Tâm Hồn” kết thúc với việc gia nhập Cát Minh của Céline, nhưng từ đó trở đi giọng văn của Têrêsa đã thay đổi và trở nên trầm tĩnh hơn. Cô lại viết theo một lối khác hẳn về cuộc đời mình khi Mẹ Maria Gonzaga lại trở thành bề trên. Ta đừng quên rằng phần đầu tiên cô viết cho Pauline, là “bà mẹ nhỏ” thưở bé của Têrêsa cho nên tình cảm đã pha trộn với sự bộc lộ siêu nhiên. Têrêsa có rất ít thời giờ để viết; cô không được miễn trừ bất kỳ một nhiệm vụ bình thường nào, như vẫn phải hát kinh trong nhà thờ, nguyện ngắm, làm phụ tá nhà tập, hội họp, vẽ, quét nhà, soạn thánh ca, đôi khi giặt ủi, cô phải tìm ra một khoảng thời gian hai tiếng mỗi ngày để viết giữa những công việc đó, mà lúc nào cũng bị người khác quấy rầy. Một nhà văn sẽ nói gì khi phải làm việc trong một điều kiện như thế? Hơn nữa, Sơ Têrêsa để toàn tâm toàn trí vào những gì cô đang làm, dù chúng không hấp dẫn, không quan trọng, mà lại chẳng dễ dàng. Cô tin rằng lau nhà cho sạch vì Chúa thì sẽ làm Ngài hài lòng như cầu kinh sốt mến nhất. Một người khác khi làm những việc còn ít hơn việc cô làm sẽ kiệt sức, mà Têrêsa cũng thế, cô nhắm tới sự chết đi cho bản thân. Mới 22 tuổi Têrêsa đã đạt tới sự trọn hảo của một vị Đại Thánh, thế mà thật kinh ngạc, ngoài mấy người chị ra, không ai thấy lờ mờ được điều này. Họ không thấy sự tốt lành của cô, hay đúng hơn bản chất của cô là như thế, có gì khác thường đâu. Họ không thấy những trận chiến thường xuyên của cô; sự điềm đạm của cô đã che khuất nó. Vì Têrêsa luôn tươi cười cho nên người ta cho rằng cô được đầy ơn an ủi. Một số còn ghen tỵ với cô. Một số ít hơn nhận ra điều này thì kinh hoàng về sự từ bỏ mình của cô và không muốn nhìn nhận nó kẻo chính họ sẽ bị thôi thúc noi gương cô. Họ cảm thấy nên để cô sống bình thường: một nữ tu trẻ dễ chịu, chu toàn lề luật, coi sóc tốt các tập sinh, có tài kể chuyện, vẽ đẹp, làm thơ hay nhưng dứt khoát không phải là một vị Thánh. Têrêsa đã đạt được mục đích: các nữ tu khác không để ý đến cô. Ngay cả bạn tâm giao duy nhất của cô là Chúa cũng làm như không để ý đến cô. Dù cô đã sống trọn vẹn cho Ngài. Chúa càng dấu mặt thì cô lại càng tìm kiếm, Ngài càng làm ngơ thì cô lại càng biến thân mình thành một của hy lễ. Nói một cách khác, không nên qúa phóng đại tình trạng bị bỏ rơi của Têrêsa vì khi cô là một tập sinh cô đã thú nhận trong chốn riêng tư với Mẹ Agnes: “Có nhiều khi trong sự tĩnh mịch ban chiều trong khu vườn vào mùa hè, con có được một sự chiêm niệm hoàn hảo, tâm hồn con trở nên một với Chúa, và có thể làm các hành vi yêu mến một cách dễ dàng, con cho rằng đó là những ân sủng mà Mẹ Thánh Têrêsa Cả gọi là: ‘sự bay bổng của tinh thần’… Con cảm thấy có một tấm màn chắn con lại với thế gian, và ao choàng của Đức Mẹ đã hoàn toàn che phủ lấy con. Con không còn thuộc về thế gian này, và con đã làm những gì con phải làm rồi… như thể thân xác con được cho con mượn chỉ vì mục đích này.” Têrêsa có thể sống trong bình an sâu sa trong nhiều ngày rồi cô chợt tỉnh giấc. Trong thánh lễ vào ngày kính Chúa Ba Ngôi, 9-6-1895, Têrêsa đã “dâng mình một cách đặc biệt như của lễ toàn thiêu cho tình yêu lân tuất Chúa Yêsu”. Phép công bằng của Chúa cần một của lễ đền tội tương xứng - nhưng có ai nghĩ đến việc dâng mình cho tình yêu của Ngài chưa? “Ở đâu Chúa cũng bị hiểu lầm và khước từ.” Tâm hồn con người quay về các loại thụ tạo, họ tìm kiếm hạnh phúc nơi những cái mỏng dòn, chỉ kéo dài được một khoảnh khắc.” “Ôi lạy Chúa, tình yêu bị chối từ của Chúa vẫn còn bị đóng khung trong cõi lòng của Chúa?” Ngài sẽ hoan hỉ thiêu đốt các linh hồn trong ngọn lửa đó để tỏ ra lòng nhân hậu vô biên trong lòng mình ra. Nếu Ngài hài lòng về việc xét xử công bằng thế gian thì tình yêu lân tuất vươn tận trời cao của Ngài còn to lớn hơn gấp bội. “Lạy Chúa Yêsu, con muốn làm nạn nhân hạnh phúc bị thiêu đốt của tình yêu Chúa!” Nhưng một tu sĩ thì không được tự do dâng mình cho ngay cả Chúa mà không có phép của bề trên. Có thể rằng Mẹ Agnes coi việc dâng mình cho tình yêu này là qúa đáng và không quan trọng, một trò con nít, khi Mẹ mỉm cười chấp thuận. Để ràng buộc mình với điều đã cam kết Têrêsa viết nó ra một tờ giấy, như người ta viết ra di chúc của mình, cô kẹp tờ giấy đó vào cuốn Kinh Thánh đi đâu cũng mang theo. Vinh quang của Thiên Chúa và của Giáo Hội, sự cứu rỗi các linh hồn, việc thể hiện ý Cha ở trên trời là những mục tiêu của Têrêsa, ngoài ra cô còn muốn trở nên Thánh. Nhưng cô nhận ra sự yếu đuối của mình và xin rằng chính Chúa sẽ là sự thánh thiện của cô, vì công nghiệp của Chúa Yêsu, của Mẹ Maria, của các Thánh. Cô còn xin Chúa tước mất tự do phạm tội của cô đi. Têrêsa mong đợi Thiên Đàng nhưng không tu thân tích đức để chiếm lấy nó. Cô chỉ muốn tình yêu và sự đẹp lòng Chúa; cô muốn được tử đạo cho tình yêu cực thánh. “Chớ gì sự tử đạo này chuẩn bị cho con ra trước mặt Chúa vào lúc con chết và làm cho con được đi thẳng vào vòng tay của tình yêu nhân hậu của Chúa… Con mong sự dâng hiến này sẽ được lập lại theo từng nhịp tim của con, ôi lạy Đấng-Yêu-Dấu, cho tới khi bóng tối tan biến đi, con được đối diện với Chúa để bầy tỏ tình yêu của con đến muôn đời.” Trong bản dâng mình đó cô còn ký tên: “Một nữ tu Cát Minh bất xứng.” Cô thường lập lại việc dâng mình này nhưng giữ kín chỉ cho hai tập sinh biết thôi; giả như họ đều biết họ sẽ cười cô. Ngọn lửa tình yêu mà Têrêsa khao khát sẽ phủ bóng trên cô một cách thần bí mà lại cụ thể tựa như mũi tên mà Thiên sứ đã đâm vào tim Thánh Têrêsa Avila. Một ít hôm sau, khi giơ tay làm dấu Thánh giá, Têrêsa cảm thấy như có một mũi tên lửa thiêu cháy mình khiến cô cảm thấy sắp chết. Têrêsa không biết nói sao về sức nóng khủng khiếp của nó. Một thứ quyền lực vô hình nào như bao trùm cô với lửa. “Nóng làm sao và hạnh phúc làm sao… nếu nó kéo dài thêm một tí nữa thôi, thì linh hồn tôi sẽ lìa khỏi xác.” Sau đó Têrêsa lại quay về sự khô khan cố hữu của mình. Nhưng Đấng Tình Yêu đã đến với cô và cô sẽ sống, theo lời Cha Martin, không ngừng trong việc thực thi lòng mến mà không cảm thấy niềm vui của nó. Điều đó không quan trọng, vì cô không còn là Têrêsa nữa; Đức Yêsu đã sống và cảm thấy trong cô. Chỉ có một mình Ngài mà thôi.
|