LÒNG NHIỆT THÀNH RAO GIẢNG CỦA PHAOLÔ

VÀ VẤN ĐỀ HIỆP NHẤT CÁC GIÁO HỘI KITÔ GIÁO HÔM NAY

 

Thánh Phaolô là một người Pha-ri-sêu, ông thuộc về một gia đình quyền thế và là công dân Rôma. Ông đã quyết chí tiêu diệt Hội Thánh của Chúa, nên sau khi chà nát và làm tan tác Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem, ông đã lên đường đi Đa-mát để lùng bắt những người trốn tránh ở đó. Dọc đường, ông được Chúa Giê-su hiện ra như sét đánh từ trời, ánh sáng chói loà đã làm ông mù mắt. Từ nay ông đã trở lại tin tưởng và phục vụ Chúa Ki-tô với một sự tận tụy vô cùng lớn lao trong lịch sử Giáo hội.    

1- Hành trình truyền giáo thứ nhất:

Ông Phao-lô rao giảng tại Đa-mát: ông loan báo Tin Mừng và làm cho người Do Thái hoang mang, các tín hữu hoảng sợ. Chính ông sẽ thuật lại biến cố Đa-mát trong 2 Cô-rin-tô 11,31-32. Ông trốn khỏi Đa-mát rôì lên Giê-ru-sa-lem làm quen với các Tông đồ và rao giảng Tin Mừng. Các Tông đồ đã chấp nhận ông, đồng ý cho ông rao giảng và tiếp xúc các tín hữu. Ông cũng là chứng nhân như các Tông đồ, vì ông đã thấy Đức Ki-tô phục sinh hiện ra và đã được sai đi (Cv 9,1-30). Ông ở Đa-mát lâu ngày rao truyền Đức Kitô. Người Do Thái tìm cách giết ông, ông bèn đi qua xứ A-ra-bi rồi trở về Đa-mát. Ông Ba-na-ba đưa ông đến An-ti-ô-khi-a. Tại đây ông bắt đầu rao giảng trong nhà hội của người Do Thái (x. Cv 11,25). Một số người Do Thái và rất nhiều người ngoại tin Chúa. Song có những người Do Thái không chịu tin đã gây nên một cơn bắt bớ và đuổi Phao-lô và Ba-na-ba ra khỏi thành. Phao-lô đã chữa lành một người bại chân nên dân chúng tưởng ông là một vị thần. Sau đó họ ném đá ông rồi bỏ đi, vì tưởng ông chết rồi. Có lẽ Ti-mô-thê đã chứng kiến mọi việc xảy ra. (x. 2 Tm 3,11). Giáo lý của ông Phao-lô hướng về ơn công chính hóa: nhờ Đức Tin chứ không phải Luật Mô-sê mà người ta được nên công chính.

 

2- Hành trình truyền giáo thứ hai:

Công việc của ông tại Hy Lạp (khoảng năm 50-53 sau Công Nguyên). Ông Phao-lô và ông Ba-na-ba chia tay nhau vì Ba-na-ba theo ông Mác-cô. Ông Phao-lô qua miền Xy-i-a và Ki-li-ki-a để làm cho Hội Thánh được vững mạnh. Tiếp theo ông đến Đéc-bê rồi Ly-tra. Ở đó có môn đệ tên là Ti-mô-thê là người Do Thái đã tin Chúa. Từ đó về sau ông Timôthê là bạn đồng hành của ông Phao-lô. Ông Phao-lô đi về miền Ga-lát; nhưng Thánh Thần đã ngăn ông lại. Ông liền đi qua miền My-xi-a rồi xuống Tơ-roa.

Ông Phao-lô làm chứng rằng Thiên Chúa đã ban Thánh Thần cho dân ngoại y như cho các Tông đồ, các tín hữu gốc Do Thái và thanh tẩy tâm hồn họ (x. Cv 15, 1-3; 22-29).

Sau Công Đồng Giê-ru-sa-lem, ông Phao-lô quyết rao giảng Tin Mừng cho lương dân. Hành trình truyền giáo lần này kéo dài tới ba năm (x. 15,36—18,22). Ông quay lại thăm các nơi đã được nghe giảng Tin Mừng. Ông không cứng ngắc trong nguyên tắc. Ở Phi-lí-phê, ông làm quen với những người Do Thái thông thạo buôn bán. Ông không muốn lệ thuộc vào ai về phương diện vật chất, ông thích sống tự lập để dễ xử trí hơn. Bị tù đày, Thiên Chúa khiến ông trở thành người giảng Tin Mừng, viên cai ngục và cả nhà ông chịu phép Rửa. Như vậy ở đâu người tín hữu cũng có thể giảng Tin Mừng được (x Cv 16,25-34).

 

3- Hành trình truyền giáo thứ ba:

Công việc của ông Phao-lô tại Ê-phê-sô (khoảng năm 54-57 sau Công Nguyên). Tại đây, ông Phao-lô làm công việc lạ lùng hơn hết trong tất cả cuộc đời lạ lùng của ông, ông ý thức Hội Thánh hiệp nhất. Ông đã biết xử dụng tài năng và kiến thức để giảng dạy về Đức Ki-tô. Phao-lô luôn rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái trước. Tại Ê-phê-sô, ông Phao-lô dùng một trường học làm trụ sở giảng dạy công khai từ nhà này đến nhà kia, cả ngày lẫn đêm trong ba năm, làm nghề riêng để tự túc. Ông được Chúa giúp đỡ bằng những phép lạ đặc biệt, rất nhiều người được chữa lành bệnh.

   Ông Phao-lô dự định đi La-mã sau khi làm xong công việc lớn lao tại Ê-phê-xô, đã rao truyền Chúa Ki-tô khắp cả Tiểu Á và Hy Lạp. Ông không ngờ rằng mình sẽ đi tới La mã như một tù nhân bị xiềng xích (x. Cv 19). Ông Phao-lô ở La-mã ít là hai năm, dù là tù nhân, nhưng ông được phép ở trong căn nhà thuê, có lính canh (x. Cv 28). Ông được tự do tiếp khách và giảng dạy về Đức Ki-tô. Hai năm ở La-mã ông đã thành công lớn lao, có ảnh hưởng tới cả cung vua (x. Pl 4,23). Trong khi ở đó, ông đã viết các thư Ê-phê-xô, Phi-lip-phê, Cô-lô-xê, Phi-lê-môn, và có lẽ cả thư Do Thái nữa. Ông đã trở lại Hy Lạp khoảng năm 65 đến 67 sau Công Nguyên. Trong thời gian này ông viết thư Ti-mô-thê và Ti-tô. Ông lại bị bắt và lại bị đưa về La mã rồi bị chém đầu khoảng năm 67 sau Công Nguyên.

 

4- Nhu cầu hiệp nhất giữa các Giáo hội Kitô giáo hôm nay: 

Suốt đời ông Phao-lô dạy người dân ngoại rằng: họ có thể làm môn đệ Chúa Ki-tô mà không cần phải theo đạo Do Thái. Ông không muốn thấy hai Hội Thánh, một dân ngoại và một Do Thái, song chỉ muốn thấy có một Hội Thánh trong Chúa Ki-tô. Đối với ông, Chúa Ki-tô là Đấng Tối Cao, có quyền phép để giải quyết mọi vấn đề của loài người thuộc mọi chủng tộc, màu da và có thành kiến khác nhau để làm cho hòa hiệp với Thiên Chúa (x. Ep 3,10; 5,22 – 6,9).

a/ Hội Thánh duy nhất là một Thân Thể (x. Ep 4,1-16). Đây là một cơ cấu phức tạp, có nhiều cơ năng, mỗi phần ở vị trí riêng, họat động hòa hợp với nhau và có nguyên tắc căn bản là sự yêu thương. Chính Chúa Kitô là cái đầu và năng lực điều khiển tất cả.

b/ Vì Thân Thể có nhiều chi thể, tài năng và tâm tình khác nhau, nên điều kiện căn bản để có sự điều hành tốt là tinh thần khiêm tốn và chịu đựng lẫn nhau giữa các Giáo hội.

c/ Mục đích của Thân Thể là bồi đắp cho mọi chi thể tới mức có hình ảnh trọn vẹn của Đức Ki-tô (x. Ep 4,12-15). Có thể ứng dụng cho các cá nhân và toàn thể Hội Thánh. Bậc thơ ấu của Hội Thánh sẽ qua đi, bậc thành nhân của Hội Thành sẽ tới (nghiên cứu 1 Cr 12, 13 và các đoạn tương đồng).

d/ Hội Thánh đã trên hai ngàn năm, nhưng về phương diện duy nhất vẫn còn ở giai đoạn thơ ấu. Ông Phao-lô luôn chống lại những phần tử chủ trương bè phái trong các Hội Thánh địa phương, cùng mối bất hòa giữa các Giáo hội với nhau. Hội Thánh hữu hình sẽ có sự duy nhất, nếu người ta bỏ tính vị kỷ và kiêu căng để chống lại sự hiệp nhật này. Lúc nào cũng có sự hiệp nhất trong Hội Thánh vô hình giữa các tín hữu đích thật của Chúa.

Mới đây được nghe tin Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã kiên nhẫn và quyết tâm 3 lần cử đại diện đến gặp gỡ Giáo hội Đông Phương, để bàn về hiệp nhất. Hy vọng trong thề kỷ 21 này, sự hiệp nhất trong các Giáo hội sẽ được trọn vẹn như lời cầu nguyện của Chúa Ki-tô (x. Ga 17) và sẽ thành hình đầy đủ thân mình của Đức Ki-tô nơi trần gian.

 

Kết luận:

Chúa Giê-su Ki-tô chỉ muốn: “Tôi còn có nhiều chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về… và để tất cả nên một… để họ cùng ở trong chúng ta…” (Ga 10,16 và 17, 21). Thánh Phaolô đã tha thiết xin: “Tôi khuyên anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau” (1 Cr 1,10). Mỗi tín hữu, mỗi Giáo hội Kitô giáo được mời gọi thực hiện ước nguyện của Chúa chúng ta.

Phó tế GB Nguyễn Văn Định (Huyền Đồng)