|
Vui mừng và Hy vọng
Kỷ niệm húy nhật 3 năm Đức
Hồng Y PX. Nguyễn văn Thuận
1. Những lời thú tội
Trước năm 1954, tôi chưa từng biết tên tuổi và
dung nhan linh mục Nguyễn văn Thuận, dù Ngài là linh mục phó giáo xứ
tại Tam Toà, một làng công giáo sát cạnh làng tôi đã từng sống và
lớn lên : phường Xóm câu, làng Đông hãi, thành phố Đồng hới, tĩnh lỵ
Quảng bình.
Qua những năm 1960, trong thời gian dạy học tại
trường Thiên hữu (Providence Huế), tôi chỉ nhớ có lần cha Tôn, cha
Bính và cha Trinh nói chuyện về Ngài, một linh mục vừa trẻ vừa đẹp
trai con ông bà Ấm bên Phú cam đã đậu Tiến sĩ từ Roma mới về, được
bổ làm giáo sư tại tiểu chủng viện Huế.
Sau thời gian đánh sập Đệ nhứt Cộng Hoà « cuả
nhóm tướng lãnh 1963 » chừng một năm, trong một buổi tối khoản đải
các quan khách và bạn hữu tại sân truờng Taberd Saigon, ăn mừng Ngài
vừa nhận chức Giám mục Nha trang, tôi may mắn được nhận diện Ngài và
đây là lần đầu tiên. Cũng như những người khác, tôi chỉ biết chào
Ngài với hai chữ « hân hoan » và Ngài cũng chỉ đáp lại hai chữ « cảm
ơn ». Tôi nhớ trong số quan khách tại buổi ăn mừng nấy có cả sự hiện
diện cuả cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu.
Tối hôm dó, kỷ sư Trần quang Ngọc, cựu dân biểu
thời Đệ nhứt Cộng hoà, cũng là chổ quen biết trong lúc tù đày và
trong nghề dạy học tại Huế và tại Saigon, có cho tôi biết Ngài nhận
chức Giám mục lấy khẩu hiệu « Vui mừng và Hy vọng » làm kim chỉ nam
trong nghiệp vụ rao giảng Tin Mừng. Cũng từ đây, tôi cứ nhớ cái khẩu
hiệu « Vui mừng và Hy vọng », mà đến nay mổi lần nghỉ lại tôi cảm
thấy xấu hỗ với chính tôi, rồi tự bảo : « Mình dốt mà chưa biết mình
dốt ».
Thật vậy, thoạt tiên khi tôi nghe cụm từ « Vui
mừng và Hy vọng », tôi nẩy ra trong trí một hoài nghi và thất vọng
!. Vì tôi cho nó quá tầm thường chẳng có gì là cao xa và khó hiểu cả
! Tôi cứ nghỉ rằng há lẻ một vị có cấp bằng tiến sĩ từ những nước
văn minh tân tiến trở về, chắc hẳn trong tương lai xứ sở phải có một
trọng trách lớn, mà lại đi lấy một khẩu hiệu quá đơn sơ làm đề cương
như vậy hay sao? « Vui mừng » thì sao mà tránh khỏi khi con người
được thăng cấp cao hơn. Còn « Hy vọng » thì con người ai lại không
hy vọng có ngày mình trúng được số độc đắc hoặc càng ngày mình càng
được có nhiều phẩm hàm cao hơn để lưu truyền về sau cho con cháu.
Sao ông tiến sĩ như Ngài lại không chọn một tiêu đề cao xa bóng bẫy
như hầu hết những nhà « trí thức lớn » cuả nước ta từ Pháp hay từ Mỹ
trở về thường « phô diễn » cho mọi người ngoài phố « nễ sợ » thêm
trước văn bằng đại học ngoại quốc ?.
Cũng rất may là sau 1968, khi ra được nước
ngoài, qua sự tiếp cận rộng rải với sách báo, tôi mới hiểu được phần
nào về khẩu hiệu « Vui mừng và Hy vọng » mà đức Giám mục Nguyễn văn
Thuận đã dùng làm kim chỉ nam.
Hôm nay nhân ngày húy giỗ 3 năm cuả Ngài, tôi
muốn nói ra những gì tôi không hiểu và cũng là lời thú tội trước anh
linh cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận qua tiêu đề « Vui mừng và Hy vọng ».
2.
Lời khẩn báo thánh thiện cuả Hồng y Nguyễn văn Thuận.
Tôi xin đọc lại lời Ngài đã viết cách đây 30
năm, lúc bị quản thúc tại giáo xứ Cây Vong:
Cha lại đi thêm một quảng
đường
Chông gai, mịt mù và vô
định.
Trên đường Cha gặp lắm lữ
khách,
Cha đã xem tất cả là bạn,
Xem mọi biến cố là kinh
nghiệm quý báu,
Vì tất cả là hồng ân.
Thiết nghỉ mấy câu thơ trích dẫn « cũng chẳng
gì là khó hiểu », bất cứ một độc giả nào. Đây chỉ là một đề cương
trong mục vụ cuả một vị thừa tác chúa Jésus. Một chuyện rất bình
thường đối với tất cả các nam nữ tu sĩ. Nhưng theo tôi, những lời
thể hiện trong thời gian và không gian đặc biệt lao tù ở đây nói lên
sự tiên tri trên con đường rao giảng cuả Ngài rất nhiều chông gai
cản trở. Biết trước để tiên liệu những gì sẻ xẩy ra cho cá nhân
Ngài, cho con chiên cuả Ngài để tìm cách đối phó. Phải chăng đây
cũng là sự sắp đặt cuả Thiên chuá ? Cho nên Ngài rất vui mừng được
rảo bước trên con đường dài mịt mù vô tận kia. Vì đó chỉ là những
thử thách làm giàu kinh nghiệm cho hành động. Chính đó là Hồng Ân
Thiên Chúa thực sự đã ban cho Ngài. Vì vậy, chúng ta cũng không lấy
gì làm lạ trong những năm bị tù đày và hành hạ, Ngài vẫn « quyết
sống và dốc lòng sống cách thánh thiện từng ngày và từng giờ » theo
ý Chuá.
Ngày 12.3.2000 trong bài giảng đề tài “Hy vọng
là thách đố lớn nhất của thế gíới ngày nay” nhân ngày « Tĩnh Tâm Mùa
Chay Năm Thánh 2000 », cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã
nói: “Ngày nay, hy vọng có lẻ là thách đố lớn nhất. Ngài đã nhắc lại
lời nói cuả Charles Peguy: "Đức tin mà tôi thích nhất là hy vọng.”
Rồi Ngài bàn rộng thêm : « Đúng vậy, bởi vì trong hy vọng, Đức tin
được biểu lộ qua việc bác ái, mở ra con đường mới đi vào tận tâm hồn
của con người. Đức tin đó hướng người ta đến việc xây dựng một thế
giới mới, một nền văn minh tình thương và dẫn đưa cả thế giới đến
tận hưởng cuộc sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây chính là
cách thế mà Chúa Giêsu đã thực hiện và truyền đạt trong Tin Mừng. Và
đây cũng là ơn gọi của chúng ta. Như trong thời kỳ Cựu Ước và Tân
Ước, Thiên Chúa tiếp tục hành động nơi những con người có tinh thần
nghèo khó, nơi những kẻ khiêm nhường, và ngay nơi cả những người tội
lỗi biết thật lòng thống hối trở về với Thiên chúa ».
Vâng hy vọng là điều dễ mà khó nhất, bởi lẻ hy
vọng phải đi với tác hành. Nếu không thì hy vọng đó chẳng khác nào
như người muốn trúng số vé độc đắc nhưng không bao giờ dám mua giấy
số. Người đó đả mang một hy vọng hảo huyền !. Cũng như Ngài đã nói,
người thiên chuá giáo muốn phụng sự Đức tin thì trước hết tự mình «
đi tiên phong » biểu lộ lòng bác aí với kẻ khác. Có như vậy Đức
Tin mới sống động. Một thí dụ điển hình là trong đời tù đày cuả
Ngài, có lần Ngài đã chia một con cá kho để anh công an mang về nhà.
Một cử chỉ nhỏ nhoi khiêm tốn, nhưng đã làm anh công an kia biết thế
nào là lòng bác ái cuà người thiên chuá giáo. Đức tin sẻ chết, nếu
con người không dám hành động. Vì thế nên mọi hành động là « thách
đố lớn nhứt » trong nhiệm vụ truyền giáo.
Phải chăng đây cũng là lời khẩn báo thánh thiện
cuả một vị tiên tri cho chúng ta biết trước rằng chính sự thể hiện
lòng « bác ái, tình yêu và đức khiêm nhường » trong mổi con người là
con đường dẫn tha nhân « vào tận tâm hồn cuả mình »? Là con Thiên
chúa, Ngài khuyên mọi tín hữu không nên ngã lòng, trái lại phải luôn
luôn kiên trì cùng nhau hiệp thông hy vọng và hành động.
3. Vui mừng và Hy vọng,
triết lý sống cuả Hồng y Nguyễn văn Thuận.
Khi vừa ra khỏi nước, Ngài cho biết đã nhận
được một lá thư của Mẹ Têrêxa ở Calcutta với những lời lẽ: “Điều
đáng kể không phải là số lượng công tác được hoàn thành, nhưng là
mức độ tình yêu mà ta để vào trong mỗi công tác.” Và Ngài nói : «
Kinh nghiệm đó đã củng cố trong tôi ý niệm là phải sống mỗi ngày,
mỗi phút giây của cuộc đời ta như là phút giây cuối cùng; hãy dẹp bỏ
những gì là phụ thuộc; chỉ tập trung vào những gì là chính yếu. Mỗi
chữ, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là những
phút giây đẹp nhất đời ta. Chúng ta phải thương yêu mọi người, chúng
ta phải tươi cười với mọi người mà đừng đánh mất một giây phút nào
».
Đến đây, chúng ta thấy rỏ Ngài đã chủ trương
một triết lý sống rất khác thường. Ngài dẫn chứng « mức độ tình yêu
» trong mọi công tác cuả Mẹ Terêxa, có nghĩa là Ngài luôn luôn xem
chông gai là Hồng ân Thiên chuá. Vấn đề tù tội, đối với Ngài, chỉ là
kinh nghiệm qúy báu để tạo nên những « giây phút đẹp nhứt » trong
đời.
Xét về phương diện nhân sinh quan, cụm từ « Vui
mừng và Hy vọng » bao hàm hai trạng thái rỏ rệt cuả con người do
Thiên Chúa tạo ra. Một đứa hài nhi vui mừng khi thấy vú mẹ, hoặc một
đứa trẻ con vui mừng khi nhận được cục kẹo, đó là những cái mừng
diễn tả một trạng thái ham muốn cuả bản năng. Một gia đình Louisiane
nào đó vừa thoát nạn cơn lốc Katrina cùng ôm nhau vui mừng vì được
thoát chết, đó là sự vui mừng diễn tả tình cảm tự nhiên cuả con
ngưòi, nghỉa là không thoát được cái bãn ngã. Những vui mừng nầy
khác hẳn với những Vui mừng mà đức Giám mục Nha trang muốn nói. Bởi
lẻ những Vui mừng kia không phải là những Vui mừng về Đức Tin, về sự
sống vĩnh cửu cuả tâm linh, của những con người như Ngài khi vừa
được phong chức Giám mục. Sự Vui mừng cuả Ngài có tánh cách thiêng
liêng, đúng như lời cuả Frère Roger, bề trên cộng đồng Taizé (Lyon)
khi nhắc đến Giám mục Nguyễn văn Thuận, đã nói với tôi trong dịp gặp
gở lần đầu: « Con rất vui mừng vì con nhận ra rằng Thiên Chuá đã tận
dụng con cả hồn lẫn xác ».
Còn Hy vọng cũng không phải là một đề tài «
suông», một cụm từ « khách sáo trống rỗng » mà là một cụm từ nói lên
đặc tính tự do chọn lựa cuả con người. Đây cũng là một đặc tính
nguyên ủy về sự thách đố cuả Thiên Chúa khi tạo nên con người: «
trước nguy nan gần kề, thử con người có nên từ chối hay chấp nhận
lời Mặc khải rao truyền » Theo tôi, hình như Hy vọng còn phổ biến và
quá dể dàng hơn Đức Tin. Cho nên là con người thì ai cũng Hy vọng
được. Hy Vọng là những thao thức giải tỏa mọi bức xúc cuả chính mình
trước sức sống xã hội. Chẳng hạn sự Hy Vọng, gần đây nhứt, là lời
hiệu triệu cuả cố Giáo hoàng Jean Paul đệ nhị. Ngài đã từng Hy Vọng
một thế giới khác với thế giới cộng sản và tư bản, bởi lẻ cả hai thế
giới nầy thiếu hẳn tình thương, thiếu hẳn sự bình đẳng giửa con
Người.
Hy Vọng cũng không hẳn là mục đích (objectif)
như trong tuyên ngôn cuả các đoàn thể chính trị đảng phái, mà là một
điều ắt cần cho sự sống (un besoin vital). Khi bảo rằng Hy Vọng còn
dể dàng hơn là Đức Tin và như thế thì khi nói Hy Vọng rằng đừng tin
cậy vào ai (cũng như đừng tin vào nội dung bài nầy) tức là người kia
hoàn toàn Nghi Ngờ. Xin thưa thực chất sự Nghi Ngờ tức là bắt đầu có
Hy Vọng. Trí óc con người bắt đầu nghỉ rằng « việc đó sẻ có thể xẩy
ra », không chóng thì chầy.
Đi xa hơn nữa, phải chăng Nhà thờ Thiên chúa
giáo là một chướng ngại như một số người Việt đã nêu trên sách báo ?
Xin hảy hy vọng rằng « ý nghỉ đó là sai trái ».Thực ra, trong cộng
đồng Việt nam chúng ta chỉ có một số ít người vì vướng mắc tự ty mặc
cảm, nên từ ngày ông Ngô đình Diệm về cầm quyền trong nước mới đẻ ra
luận điệu nầy!. Tôi xin những người nấy hiểu cho rằng Nhà thờ Thiên
chuá giáo là dấu chỉ Hy vọng cuả tình yêu, cuả tự do chọn lựa. Cũng
như nhà chùa Phật giáo là nơi thể hiện tấm gương Bi, Trí, Dũng cuả
đức Như Lai. Hoặc như mọi người Việt hôm nay khi nhìn vào sự thăng
tiến cuả nhân loại, mọi người đều « hy vọng » một nước Việt nam
thanh bình, tự do, bình đẳng và thịnh vượng.
Trong « Le sens biblique de la laïcité » (les
Éditions du Cerf 1989), Giuseppe Barbaglio, một nhà thần học, khi
bàn về Đức Tin đả viết: « Nhà thờ (Thiên chuá giáo) không chuyển vận
trong một thế giới cách biệt hoặc trong một vũ cầu cao hơn. Nhà thờ
(Thiên chuá giáo) sống trên trái đất nầy. Mọi tín hữu thiên chúa
giáo đều chung cật với tha nhân...Cùng nhau đồng hành trên con đường
khó khăn (đầy chông gai) quyết tiến tới vinh quang và hạnh phúc.
...Con người thiên chuá giáo trao mình (xác lẫn hồn) cho Thiên chuá
và cho sư năng động (sắp đặt) cuả Chuá ở chốn Thiên đàng. Nhưng
trong thực tế, đời sống là một mô cơ phức tạp gồm cả « chọn lựa và
quyết định », trong đó con người (cố) thể hiện Đức Tin cuả mình,
(hầu) làm chứng cho hy vọng và biến tiềm năng thành hiện thực sức
năng động tình yêu. » (L'Église n'est pas transportée dans un monde
à part ou dans une sphère supérieure. Elle vit sur cette terre. Les
croyants sont au coude à coude avec les autres hommes. [...] Ils
marchent sur un chemin difficile, vers la gloire et le bonheur.
[...] L'homme chrétien s'en remet totalement à Dieu et à la
dynamique de son Royaume. Mais concrètement, sa vie est un tissu
complexe de choix et de décisions dans lesquels il incarne sa foi,
témoigne de son espérance et actualise le dynamisme de son amour).
Quả thật cái lối diễn giải nầy rất hợp với bản tính « vui mừng và hy
vọng » cuả con người bằng da bằng thịt muôn thuở vậy.
Hy vọng làm mào đầu cho mọi sự giải phóng con
người, kể cả sự giải phóng chính trị hay tôn giáo. Trong trường hợp
đó, không có một thế lực nào giử mải được con người trong một vũ cầu
riêng biệt. Những biến chuyển chính trị và tôn giáo xưa nay trên
khắp hoàn vũ đã làm chứng điều đó. Trước viễn cảnh nầy, chúng ta
người Thiên chuá giáo, đừng sợ ý nghỉ « hoà đồng » với những tôn
giáo khác, hoặc với những tổ chức chính trị cuả xã hội trong biểu
kiếng lịch sữ, nghĩa là người Thiên chuá giáo « yêu cái Hoà chứ
không phải cái Đồng ». Hoà nhưng vẫn giử sắc thái người con Thiên
chuá. Xưa nay, từ tu sĩ đến tín hữu thiên chuá giáo chúng ta đều «
Vui mừng và Hy vọng » trong lời rao giảng lòng bác ái, bởi lẻ, như
Thiên chuá đã an bài, trước hết con người phải chấp nhận sự liên đới
hiện hữu với đồng loại. Chính nhờ có sự Hy vọng mà hôm nay, trong
buổi kỷ niệm ngày húy nhật cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận, trên khắp thế
giới, đã tập họp giửa chúng ta những người bạn khác tôn giáo trong
tinh thần tương kính. Theo tôi, những nhà lãnh đạo Việt nam, từ tôn
giáo đến chính trị, nên lấy đề cương « vui mừng và hy vọng » để hành
tác trong sứ nghiệp cuả mình.
4.
Lời nhắn gửi hay là lời cảnh tĩnh sau cùng cuả Hồng Y Nguyễn văn
Thuận?
Năm 1997, tại Sydney, tôi cùng frère Nhơn
(nguyên hiệu trường trường mù Lasan Saigon trước 1975) đến thăm bà
Cụ Cố vừa bình phục sau cơn bạo bệnh, tình cờ gặp Ngài cũng từ Rome
mới qua Úc để thăm Cụ Cố, thân mẫu cuả Ngài. Trong lần nầy, tôi có
dịp được thưa chuyện với Ngài nhiều hơn. Tôi có nhắc lại những việc
làm cuả các nhóm Nhân quyền Pháp-Bỉ-Đức, nhóm Nghiệp đoàn Anh quốc
và nhóm Cầu nguyện cho Ngài trong phong trào Taizé, suốt thời gian
Ngài đang bị cầm tù trong nước. Ngài tỏ ra dấu hiệu cảm động, nhưng
nhứt thiết không một lời oán trách những gì đã đi qua trong đời
Ngài. Trước khi từ giả, Ngài có biếu tôi một tràng chuổi và một
tượng nhỏ. Nhưng tự nhiên Ngài cầm chặt tay tôi và nói : « Xin hảy
nghỉ lại vấn đề tự do tôn giáo tại Việt nam hôm nay. Các Đức Cha bấy
lâu muốn thành lập một đoàn thanh niên công giáo để phụng sự Giáo
hội hữu hiệu hơn, nhưng không bao giờ được chính phủ chấp nhận.
Trong khi đó, tại Saigon chỉ có đoàn Thanh niên Hồ chí Minh được
thành lập và được hoạt động. Như thế tại Việt nam vấn đề tôn giáo có
tự do như bà con tin hay không ? »
Năm 1970, trong thư luân lưu “Sứ mạng Chúa Kitô
là sứ mạng của chúng ta”, Ngài đã nới với đoàn chiên của Ngài và
nhấn mạnh rằng « Cộng Đồng Vatican II cuả Giáo Hoàng 23 là cánh cửa
mở rộng trên thế giới” để nhìn xem, để đón tiếp, để yêu thương. Ngài
xác quyết:
- Chỉ là người Công giáo thật, những ai biết mở
rộng lòng cho mọi người
- Chỉ là người Công giáo thật, những ai để cho
lòng yêu thương của Chúa vang dội trong quả tim mình.
- Chỉ là người Công giáo thật, những ai khoan
dung với mọi người vì nhớ lại lòng lân mẫn Chúa đối với mình.
- Chỉ là người Công giáo thật, những ai nhìn
thấy mọi người là anh em mình, không kể giai cấp, màu da, tôn giáo,
chính kiến.
Bởi lẻ Tinh thần Công giáo và Tinh thầnTruyền
giáo là Một.
Phải chăng đó cũng là những lời trối trăn của
cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận đã để lại cho chúng ta ?.
Nếu đúng thì chúng ta hảy hiệp lực cầu xin Thiên Chuá cho mọi người
tín hữu hôm nay và mai sau « vui mừng hy vọng » làm được những việc
đó.
Gs.
Lê Hùng, Bruxelles
16/9/2005, mùa giổ 3 năm Cố Hồng y Nguyễn văn
Thuận.
Tiểu sữ Cố
Hồng Y Phanxicô Xaviê NGUYỄN VĂN THUẬN
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh
ngày 17.4.1928 tại Phú Cam, thuộc Tổng Giáo phận Huế, tỉnh Thừa
Thiên, Việt Nam. Gia đình ngài có 8 anh chị em, 3 trai và 5 gái.
Ngài là con cả. Thân phụ của ngài là Cụ Nguyễn Văn Ấm, qua đời ngày
1.7.1993 tại Sydney, Australia. Thân mẫu ngài là Cụ Bà Elisabeth Ngô
Đình Thị Hiệp, con gái của Cụ Ngô Đình Khả và là em Đức Tổng Giám
Mục Ngô Đình Thục và Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bà cũng đã qua đời
vào ngày 28.1.2005 tại Sydney, Australia, thọ 102 tuổi.
Năm 1939 ngài vào học Tiểu Chủng Viện An Ninh,
Cửa Tùng, Quảng Trị. Học xong tiểu chủng viện, năm 1947 ngài vào Đại
Chủng Viện Phú Xuân ở Huế. Ngày 11.6.1953 ngài được Đức Giám Mục
Urrutia phong chức Linh mục. Sau đó ngài được bổ nhiệm làm Cha Phó
giáo xứ Tam Tòa, một giáo xứ lớn ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Giáo xứ Tam toà lúc này do Linh mục Nguyễn Văn Tâm làm chánh xứ. Đầu
năm 1954 ngài bị bệnh phải về Huế chữa bệnh. Sau khi lành bệnh, ngài
đi làm Cha Phó giáo xứ Phanxicô Xavie ở Huế. Giáo xứ này do Linh mục
Darbon, quen gọi là Cố Triết, làm chánh xứ. Khi giáo xứ Phanxicô
Xavie được trao cho giáo dân Việt Nam, ngài được cử làm quản xứ,
kiêm Tuyên Úy lao xá Thừa Thiên, Tuyên Úy trường Pellerin, và Tuyên
Úy Bệnh Viện Huế. Năm 1955 ngài lập Tráng Đoàn La Vang.
Năm 1956, ngài được qua Roma theo học Phân khoa
Giáo luật thuộc Đại học Giáo hoàng Urbaniana thuộc Bộ Truyền Giáo từ
năm 1956 đến 1959. Ngài đậu tiến sĩ Giáo luật năm 1959 với luận án
“Tuyên úy quân đội trên thế giới” với kết quả “maxima cum laude”.
Ngài trở về làm giáo sư Tiểu Chủng Viện Phú Xuân, Huế. Năm 1962, khi
Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện được thành lập để thay thế Tiểu Chủng
Viện Phú Xuân, ngài được cử làm Giám Đốc chủng viện mới này kiêm
Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế.
Ngày 5.7.1957, Đức Giáo Hoàng Pio XII ban hành
Sắc Chỉ Crescit Laetissimo thành lập giáo phận tông tòa Nha Trang
gồm hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận thuộc giáo phận Quy Nhơn và hai
tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy thuộc giáo phận Sài Gòn. Đức Giám Mục
Marcel Piquet, thường được gọi là Đức Cha Lợi (1888-11/7/66).
Ngày 4.5.1967, Tòa Thánh giao giáo phận Nha
Trang lại cho hàng giáo phẫm Việt Nam và bổ nhiệm đức Giám mục
Nguyễn Văn Thuận làm Giám Mục Việt Nam tiên khởi của giáo phận này.
Lễ phong chức được tổ chức vào lúc 5 giờ chiều ngày 24.6.1967 tại
Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện do Đức Khâm Sứ Tòa Thánh Angelo Palmas
chủ phong, Đức Giám Mục Phạm Kim Điền và Đức Giám Mục J.B. Urrutia
thụ phong. Chiều ngày 10.7.1967, ngài nhận chức Giám Mục Nha Trang
do Đức Khâm Sứ Palmas chủ lễ. Ngài lấy khẩu hiệu “Gaudium et Spes”
(Vui mừng và Hy Vọng).
Trong thời gian làm Giám Mục Nha Trang, ngài đã
thực hiện những công việc sau đây:
1.- Thành lập Hội Đồng Giáo Dân gồm 1200 vị
được bầu từ cấp giáo xứ, giáo hạt và giáo phận với nhiệm kỳ 3 năm.
Các thành viên đều được huấn luyện và tĩnh tậm hàng năm.
2.- Củng cố các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành và
hướng dẫn phát triển.
3.- Thành lập “Trung Tâm Văn Hóa Chàm” tại Ninh
Thuận năm 1968 và cho ấn hành sách Tin Mừng thánh Luca và thánh
Marcô bằng tiếng Rơglai, và Tự Điển Chàm – Việt – Pháp.
4.- Thành lập Viện Lâm Bích năm 1969 dành cho
các ơn gọi muộn.
5.- Thành lập Ban Công Lý và Hòa Bình ngày
1.1.1969.
6.- Thành lập Phong Trào Cursilos và Phong Trào
Focolare.
7.- Thành lập Phong Trào Học Hội Kitô giáo.
8.- Công bố “Quy Chế Giáo Dân”.
9.- Phát hành tuần báo Dấn Thân.
Trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã giữa
các chức vụ sau đây:
- Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình
- Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội (1967 -
1975)
- Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển Việt Nam (1967 -
1975)
Đặc biệt, ngài đã dại diện Hội Đồng Giám Mục
Việt Nam đến Manila dự Hội Nghị Giám Mục Á Châu ngày 24.11.1970.
Trong hội nghị này, ngài đã đại diện Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
trình bày đề tài “Các vấn đề chính trị tại Á Châu và những giải pháp
liên hệ.” để giúp các Giáo Hội Á Châu dự phóng con đường truyền giáo
có thể triển khai trong nhiều thập niên.
Đối với Giáo Hội hoàn vũ, ngài được chọn làm Cố
vấn Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân từ năm 1971 đến 1975. Trong những
lần đi họp Hội Đồng này, Ngài đã có dịp gặp Đức Tổng Giám Mục Karol
Wojtyla (tức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sau này), lúc đó là Tổng
Giám Mục Giáo phận Cracovia (Ba Lan), để học hỏi các kinh nghiệm mục
vụ trong những giai đoạn khó khăn dưới chế độ cộng sản ở Ba Lan.
Ngài cũng được bổ nhiệm làm cố vấn, rồi thành viên của Bộ Rao Giảng
Tin Mừng Cho Các Dân Tộc và thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí
Tích.
Tháng 4 năm 1975, khi đoán biết miền Nam sẽ rơi
vào tay Cộng Sản, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã 5 lần đề nghị
Đức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Henri Lemaitre, xin Tòa Thánh cử
Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục Saigon với hy vọng
sự khôn ngoan của ngài có thể đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những
cơn khó khăn sắp đến. Cuối cùng, chiếu theo đế nghị của Đức Khâm Sứ,
ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã phong ngài làm Tổng Giám Mục hiệu tòa
thành Vadesitana rồi ngày 24.4.1975 bổ nhiệm ngài giữ chức Phó Tổng
Giám Mục Giáo Phận Saigon với năng quyền kế vị. Đức Cha Nguyễn Văn
Hòa được cử làm Giám Mục Nha Trang thay thế ngài. Lễ bàn giao được
tổ chức tại Nha Trang ngày 7.5.1975. Ngày 8.5.1975 ngài về Sài Gòn
nhận nhiệm sở mới. Không ngờ sự bổ nhiệm này đã đem đến cho ngài
những hậu quả thương đau, nhưng cũng đưa ngài lên những địa vị quan
trọng trong Giáo Hội về sau.
Ngày 27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố
Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy
Ban Quân Quản gởi cho ngài một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư
trú trước ngày 30.4.1975.
Ngày 15.8.1975, công an đến bắt ngài đưa ra Nha
Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang mà đưa đến
quản thúc tại giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh,
tỉnh Khánh Hòa. Ít lâu sau, ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh,
Nha Trang.
Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú
Khánh đưa ngài vào trại Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù
nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, được đưa xuống tàu
Trường Xuân đi ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt giam trong 9
năm ở nhiều trại khác nhau, và bị quản chế 3 năm. Trong năm tù thứ
nhất (1976), ngài đã viết cuốn “Đường hy vọng”. Cuốn sách này được
Ngài coi là di chúc tinh thần của ngài gửi tới mọi người công giáo
Việt Nam trong và ngoài nước. Ngày 23.11.1988, ngài được trả tự do
và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Ngày 27.3.1989
ngài bị trục xuất khỏi Việt Nam và qua Roma.
Ngày 21.11.1994, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm
làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình. Đây là
lần đầu tiên một giáo sĩ Việt Nam được bổ nhiệm vào một chức vụ quan
trọng tại Tòa Thánh Vatican. Năm 1998 ngài được bổ nhiệm làm Chủ
Tịch của Hội Đồng này (ngang hàng Bộ Trưởng). Ngài tuyên bố:
“Tôi mơ ước một Giáo Hội là chứng nhân của hy
vọng và tình thương, bằng những hành động cụ thể, như khi chúng ta
thấy Đức Giáo Hoàng tiếp nhận tất cả mọi người: Chính Thống, Anh
giáo, Calvin, Luther... trong ơn thánh của Chúa Giêsu Kitô, tình
thương của Chúa Cha và sự hiệp thông của Thánh Thần được sống trong
kinh nguyện và trong sự khiêm tốn.”
Trong chức vụ được trao phó, ngài đã được mời
đi giảng và thuyết trình ở nhiều nơi và cho nhiều giới khác nhau,
như tại nhà thờ chính tòa Paris vào một Mùa Chay, hoặc nói chuyện
tại các đại học công giáo trên thế giới, hoặc nói chuyện với giới
trẻ như tại Mễ Tây Cơ vào tháng 5 năm 1998 với hơn 50.000 bạn trẻ
tham dự. Ngài cũng được mời đến thuyết giảng tại Hoa Kỳ nhiều lần và
có dịp nói chuyện với nhiều cộng đoàn và đoàn thể của người Việt hải
ngioại. Ngày 11.5.996, ngài được Đại học Dòng Tên ở New Orleans,
Louisiana, Hoa Kỳ, trao tặng bằng tiến sĩ danh dự. Bộ Truyền Giáo
cũng đã ủy thác cho ngài thi hành các cuộc thăm viếng và kiểm tra
các chủng viện tại một số nước ở Phi Châu.
Ngài cũng đã nhận được những huy chương đề cao
cuộc sống chứng tá về các hoạt động kiến tạo hòa bình của ngài: Ngày
9.6.1999, Chính Phủ Pháp đã trao tặng ngài huy chương “Commandeur de
l'Ordre National du Mérite“. Ngày 12.12.2000, Hội “Cùng Nhau Xây
Dựng Hòa Bình” đã trao tặng ngài huy chương hòa bình tại Tòa Thị
chính Rôma. Tại Torino, ngày 20.10.2001 ngài lãnh giải hòa bình của
tổ chức SERMIG (Hiệp Hội Truyền Giáo Của Giới Trẻ). Ngày 9.12.2001,
Trung Tâm Nghiên Cứu G. Donati cũng đã trao tặng ngài giải thưởng
hòa bình năm 2001.
Trong Tuần Tĩnh Tâm Mùa Chay của Giáo triều
Rôma năm 2000, ngài được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử thuyết
giảng. Sau khi nghe những bài giảng của ngài trong đó có những chứng
tá về những năm sống trong tù ngục, ngày 18.3.2000 Đức Giáo Hoàng đã
viết cho ngài một văn thư nói lên những lời tâm tình sau đây: “Tôi
đã ước mong rằng trong năm Đại toàn xá này, có một chỗ đặc biệt được
dành cho chứng tá của những người đã chịu đau khổ vì đức tin, đã trả
bằng máu sự gắn bó của họ đối với Chúa Kitô và Giáo hội, hoặc chịu
đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ loại.” (Chứng
nhân hy vọng, tr. 8). Sau đó, ngài được Đức Thánh Cha tiếp riêng và
tặng một chén lễ. Ngài đã nói với Đức Thánh Cha như sau: “Cách đây
24 năm, khi cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong
lòng bàn tay, tôi không bao giờ tưởng tượng, ngày hôm nay Đức Thánh
Cha tặng tôi một chén lễ mạ vàng. Thiên Chúa thật cao cả và Tình
thương của Ngài cũng cao cả” (Chứng nhân hy vọng, tr. 12.13).
Ngày 21.2.2001, trong cuộc họp của Mật Viên Các
Hồng Y, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã trao mũ Hồng Y cho ngài và
đặt ngài làm Hồng Y Phó Tế, Hiệu Tòa Nhà Thờ Santa Maria della Scala
(Đức Mẹ tại các bậc thang). Nhà thờ này do các Cha Dòng Đức Mẹ Núi
Carmelo coi sóc, nằm tại vùng Trastevere, Rôma.
Ngài đã qua đời lúc 18 giờ ngày 16.9.2002 tại
Rôma.
(*) phỏng theo tài liệu sữ cuả Lử Giang, Tam
toà, Quảng bình.
Gs.
Lê Hùng, Bruxelles,16/9/2005.
Kỷ niệm giỗ húy nhật 3 năm cố Hồng Y Phanxicô
Xaviê Nguyễn Văn Thuận
|