THÀNH KÍNH TƯỞNG NHỚ

ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

 

Ngày 2 tháng 4-2006 là Lễ Giỗ đầy năm Đức Cố GH. Gioan Phaolô II lìa đời vào lúc 9 giờ 37 phút tối 2-4-2005. Nhân dịp nầy người viết xin tóm lược đôi điều về cuộc đời ngài, hầu thành kính nhớ đến vị lãnh đạo tinh thần luôn luôn thiết tha với nhân loại.

Người của Thiên Chúa.

Đức GH. Gioan Phaolô II, lúc sinh thời cũng như sau khi lìa thế, được dư luận trên thế giới xưng tụng bằng nhiều tước hiệu khác nhau, trong đó có cách gọi ngài là con người xuất chúng, một nhân vật danh tiếng, một danh nhân trên thế giới hay một vĩ nhân của thời đại... Mỗi cách gọi đều có lý do chính đáng, không những làm cho con người, nói chung, được thơm lây và, cách riêng, người Kitô-hữu, người Công Giáo, được hãnh diện vì có một vị lãnh đạo tinh thần đáng quý mến và đáng trọng nể. Theo Đức Cố Hồng y Ph. X. Nguyễn Văn Thuận, “lịch sử sẽ gọi Ngài là một vị Giáo Hoàng vĩ đại, một con người của Thiên Chúa và chỉ có con người ấy mới thật vĩ đại trước mặt Chúa.”

Đối với người viết, trong suốt cuộc đời gần 85 năm (18-5-1920 / 2-4-2005), Karol Józef Wojtyla Gioan Phaolô II luôn được hồng ân Chúa ban cho và, cách riêng, đã làm sáng tỏ ân huệ đó qua triều đại hơn 26 năm, từ 16-10-1978 đến 2-4-2005, trong vai trò lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo trên ngai Tòa kế vị Thánh Phêrô.

Vào dịp Lễ Kim Khánh 50 linh mục (1946-96), kỷ niệm cao điểm trọng đại trong đời ngài khi lãnh nhận Chức Thánh Linh Mục (1-11-1946), ngài xác tín: “Ơn Gọi làm LM là huyền nhiệm cao cả, một quà tăng hay hồng ân vượt vô hạn cá nhân con người.” (Gift & Mystery, 3). Đó cũng là hồng ân Thiên Chúa ban cho ngài từ sinh thời đến lìa đời, đặc biệt trong thời gian hơn 26 năm đảm nhận chức vụ Giáo Hoàng (1978-2005).

Nói đến Gioan Phaolô II, thường thường ai ai cũng nghĩ đến vị lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo hơn 1 tỷ giáo hữu; hoặc nhìn vào hình ảnh của một nhân vật có uy tín, có ảnh hưởng đến những vấn đề hệ trọng trên thế giới – hòa bình, chiến tranh, nghèo đói, lương thực, bệnh tật, gia đình, thân phận phụ nữ, trẻ em, nạn phá thai, nợ nần của các nước nghèo, toàn cầu hóa kinh tế, v.v.. Tư tưởng của ngài được lắng nghe, tìm hiểu, và bên cạnh những người nghe theo cũng có kẻ chống đối, nhưng, nói chung, được kính nể.

Tuy vậy, ít có ai nhìn thấy hay nghe nói về ngài mà nghĩ tới một con người bình thường, sinh trưởng trong một gia đình bình dân, hầu như vô danh trong xã hội Ba lan, và là con người từ nhỏ đến lớn đã phải gánh chịu biết bao gian khó, cực nhọc, đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Thế mà ngài đã vươn lên với niềm tin vững vàng và phó thác mọi sự vào hồng ân của Thiên Chúa. “Đừng Sợ”, lời kêu gọi được ngài lặp lại nhiều lần chính là kinh nghiệm sống trong đời ngài. Sau đây, người viết xin tóm lược về cuộc đời của ngài từ tấm bé (1920) đến khi lên ngôi giáo hoàng (1978).

Karol Józef Wojtyla

Trong gia đình bình thường tại làng quê Wadovice, thân sinh, ông Karol Wojtyla (Voy-Tee-Wah), là thợ may, sau là quân nhân quân đội Áo rồi Ba lan và, thân mẫu, bà Emilia, một giáo viên, có ba người con: Edmund Wojtyla, con trai đầu sinh năm 1906; con thứ hai, bé gái Olga, sinh khoảng 1914, mất khi còn nhỏ; con thứ ba và là con trai thứ hai, sinh ngày 18-5-1920, Karol Józef Wojtyla, với tên gọi thân thương là Lolek. Gia đình Wojtyla cư ngụ tại một căn gác thuê của chủ nhân người Do Thái, khu cư xá số 2 đường Rynek, gọi theo dân địa phương là đường nhà thờ Wadovice. Trong hoàn cảnh khó khăn của Ba lan, gia đình Wojtyla rất vất vả những năm Lolek còn thơ ấu. Rồi chưa đầy 9 tuổi, Lolek mồ côi mẹ và, lúc lên 10, suýt nữa bị bạn bắn chết: Trong khi hai cậu bé đùa nghịch với nhau, bạn Boguslaw, lấy cắp súng lục và trong một trò chơi dại, nhắm tới Lolek và bóp cò! Anh ruột Edmund qua đời (1932) lúc Lolek 12 tuổi.

Từ cuối Hè 1939 đến đầu 1945 là thời kỳ Đức Quốc Xã thống trị Ba lan, hai bố con Wojtyla ở Krakow càng khốn khổ. Thế rồi vào tuổi 21 lại mồ côi cha: ông Karol qua đời ngày 18-2-1941. Như vậy, còn gì đau khổ cho bằng? Thế mà người lãnh nhận tất cả!

Về sau, trong cương vị giáo hoàng vào 1996, Gioan Phaolô II xác quyết rằng: “Thời gian sống với cha như gà trống nuôi con, Người được hồng ân thấy “gương của thân phụ (luôn luôn âm thầm sốt sắng cầu nguyện) như một cách nào đó là chủng viện đầu tiên, chủng viện tại gia của Người.” (Gift & Mystery, 20)

Từ tháng 3-1941, Wojtyla đi làm lao công trong xưởng hầm đá Zakrzówek và hoạt động Sân Khấu chui với Kotlakrzyk. Sau khi quyết định dứt khoát vào chủng viện Kraków, tháng 10-1942, người theo học các lớp chui về Thần Học tại Đại học Jagellonian, và chuyển đến làm công nhân tại nhà máy hóa chất Solvay. Ngày 29-2-1944, bị xe nhà binh đụng gần chết, phải điều trị tại bệnh viện. Tháng 8-44, vào chủng viện chui ở Tòa Giám Mục và chịu chức Linh Mục ngày 1-11-1946 như đỉnh cao hồng ân của cuộc đời. Hồng ân Chúa gởi đến qua Đức Hồng y Adam Stefan Sapieha đưa Wojtyla đến chức Giám Mục (4-7-1958), TGM (13-1-64), Hồng y (28-6-67), rồi Giáo Hoàng (16-10-1978).

Gioan Phaolô II, chứng nhân hồng ân

Việc hồng y đoàn chọn Karol Wojtyla làm giáo hoàng (16-10-1978) chứng tỏ hồng ân Chúa Thánh Thần tiếp tục ban cho Giáo Hội Công Giáo canh tân và đáp ứng, từ Công Đồng Vaticanô II (1962-65) mà Wojtyla, một GM thành viên, đã đóng góp rất tích cực. Do đó, triều đại GH (1978-2005) là thời kỳ đi vào thực thi đường hướng của Công Đồng. Thế nhưng ý Chúa rất nhiệm mầu: Biến cố 13-5-1981 do tên xạ thủ Mechmet Agca Ali mưu sát và Gioan Phaolô II nhờ phép lạ mà thoát chết, là mạc khải vừa tuyên rao danh thánh Đức Mẹ Fatima, vừa chứng tỏ cho nhân loại biết, đằng sau con người Giáo Hoàng, mọi việc đều trong tay Chúa – in manus tuas Domini, chứ một người chết đi sống lại (sau 13-5-81) và bệnh hoạn triền miên, kể cả bệnh tuổi già Parkinson, phải vào Dưỡng Đường Gemelli nhiều lần (đặc biệt 12 đến 28/7/1992; 29/4-27/5/1994; từ 1 đến 10/2/2005; 24/2/05; từ 30/3/05 cho đến khi qua đời 2/4/2005), sức con người hèn yếu không thể chịu đựng và đảm đương nổi. Sau đây là một số trích dẫn làm bằng chứng:

1. Các cuộc viếng thăm mục vụ

Đức Cố GH. Gioan Phaolô II đã thực hiện rất nhiều cuộc viếng thăm mục vụ :

Năm 1979: tại 7 quốc gia (Nam Mỹ; Hoa Kỳ; Ba lan; Âu Châu). 1980: 9 quốc gia (Phi Châu; Âu Châu; Mỹ La tinh). 1981: 4 quốc gia (Á Châu, Hoa Kỳ).

Sau biến cố sinh tử 13-5-1981, ngài càng đi công du mục vụ nhiều hơn nữa:

1982: tại 12 quốc gia (Phi Châu, Mỹ La tinh và Âu Châu). 1983: tại 12 quốc gia (Nam-Trung Mỹ; Âu Châu). 1984: tại 10 quốc gia (Mỹ, Á Châu, Âu Châu, Canađa). 1985: tại 16 quốc gia (Mỹ La tinh, Âu Châu; Phi Châu). 1986: tại 10 quốc gia (Á Châu; Âu và Úc Châu). 1987: tại 7 quốc gia (Nam Mỹ, Âu Châu, Hoa Kỳ, Canađa). 1988: tại 11 quốc gia (Nam Mỹ; Âu Châu và Phi Châu). 1989: tại 13 quốc gia (Phi Châu; Âu Châu; Á Châu và Đông Timor). 1990: tại 14 quốc gia (Phi châu,; Âu Châu). 1991: tại 5 quốc gia (Âu Châu và Nam Mỹ). 1992: tại 6 quốc gia (Phi Châu). 1993: tại 11 quốc gia (Phi Châu; Âu Châu; Mỹ Châu; Các quốc gia từ Liên Xô cũ). 1994: tại Zagreb (Croatia, 10-11/9, khi chiến tranh còn kinh khủng). 1995: tại 12 quốc gia và LHQ (Á, Úc Châu; Đông Âu; Nam Phi; Hoa Kỳ và LHQ 5/9). 1996: tại 9 quốc gia (Nam Mỹ; Bắc Phi; Âu Châu. 1997: tại 6 quốc gia (Đông Âu; Paris; Mỹ La tinh). 1998: tại 4 quốc gia (Cuba 21-26/1; Phi Châu; Âu Châu). 1999: tại 7 quốc gia (Nam Bắc Mỹ; Đông Âu; Á Châu).

2000: tại Núi Sinai, Ai cập; Thánh Địa (Jordan, Palestin, Israel; Fatima (12-13/5). 2001: tại 6 quốc gia (Vùng Adriatic). 2002: 6 quốc gia (Âu Châu; Bắc / Nam Mỹ). 2003: tại 4 quốc gia. 2004: tại Bern, Thuy Sĩ (5-6/6) và đặc biệt tại Lộ Đức, Pháp (14-15/8) mừng 150 năm công bố Tín điều Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854-2004).

Ngoài việc thăm hơn 300 giáo xứ thuộc GP Rô ma, ngài thực hiện 245 cuộc công du, đi gần 1,2 triệu cây số, hơn 28 lần vòng quanh trái đất, hay 3 lần khoảng cách Trái Đất/ Mặt Trăng. Ngài đi như mục tử chăm sóc từng con chiên; chu toàn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng khắp nơi thắt chặt tình hữu nghị giữa các quốc gia và Tòa Thánh; cảm thông và đối thoại với các tôn giáo khác; trên hết đem hồng ân của Chúa cho muôn dân.

2. Ngày Giới Trẻ Thế Giới.

Năm 1983-84, nhân dịp 1950 năm Năm Thánh Ơn Cứu Chuộc (33-1983), Đức GH. Gioan Phaolô II cho dựng một cây Thánh Giá gần bàn thờ chính tòa Thánh Phêrô.

Ngày GTTG 1: Ngày 22-4-1984, Đức Thánh Cha trao cây Thập Giá cao 3,8 mét (gần 12,5 feet) cho các bạn trẻ Trung Tâm Giới Trẻ Lô-ren-sô ở Rô ma. Nhân dịp LHQ chọn 1985 làm Năm Giới Trẻ Thế Giới, Đức Thánh Cha mời các bạn trẻ khắp nơi đến Rô ma mừng lễ với ngài vào dịp CN Lễ Lá 31-3-85 và công bố Tâm Thư Dilecti Amici kêu gọi các bạn trẻ “tụ họp nhau, học hỏi kinh nghiệm, gia tăng sự khôn ngoan hầu có khả năng suy luận và phán đoán mọi sự thuộc về con người”.

Theo nguyện vọng và sáng kiến của các bạn trẻ, ngày 20-12-1985, cùng họ, ngài thành lập Những Ngày Giới Trẻ Thế Giới bằng lời công bố:

Không ai tạo nên Ngày GTTG mà chính các bạn trẻ lập ra hầu tìm kiếm ơn gọi của họ. Những gì Cha nói với các con không quan trọng bằng những gì các con nói với Cha..”

Ngày GTTG 2: tại Buenos Aires, Argentina (11-12/4/87)

Ngày GTTG 3: tại Santiago de Compostela, Tậy ban nha (15-20/8/89)

Ngày GTTG 4: tại Czestochowa, Ba lan (10-15/8/91)

Ngày GTTG 5: tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ (10-15/8/93)

Ngày GTTG 6: tại Manila, Phi-lip-pin (10-15/1/95)

Ngày GTTG 7: tại Paris, Pháp (19-24/8/97)

Ngày GTTG 8: tại Rô ma, Ý vào Năm Đại Thánh 2000 (15-20/8/2000)

Ngày GTTG 9: tại Toronto, Ca na đa (23-28/7/2002)

Ngày GTTG cũng còn gọi theo số năm kể từ 1985. Ví dụ: NGTTG tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ (1993) là NGTTG kỳ 8; tại Paris, Pháp (1997) là NGTTG kỳ 12; tại Tô-rôn-tô, Canada (2002) là kỳ 17, và NGTG vừa qua tại Đức là NGTTG kỳ 20 (1985/2005).

3. Tóm lược các việc khác ngài đã làm

- Giáo huấn: Ngài đã ban hành 14 thông điệp, 11 Tông huấn, 42 Tông thư và 11 Tự sắc, hằng trăm Sứ điệp, Tâm thư, nhất là các Thư gửi các Linh mục vào Thứ Năm T. Thánh.

- Đại hội Hồng Y đoàn: Ngài đã mở 9 lần và phong tất cả 232 Hồng y, trong số có 117 vị 80 tuổi trở xuống, được quyền bầu giáo hoàng vào năm 2005.

- Ngài đã phong hơn 3.500 GM trong số khoảng 4.200 GM hiện nay trên hoàn vũ.

- Ngài chủ tọa 15 Thượng Hội Đồng Giám Mục: 6 Thường Lệ, 1 Ngoại Lệ và 8 Đặc biệt.

- Hằng năm, trung bình ngài gặp gỡ độ 1 triệu khách hành hương, trong số có 500.000 người trong các buổi Triều Yết Chung hằng tuần và trong các dịp đại lễ quanh năm.

- Tích cực hoạt động “Hiệp Nhất Kitô Giáo”; tham dự Ngày Thế Giới cầu nguyện cho Hòa Bình tại Assisi với các lãnh đạo tinh thần của các Tôn giáo bạn; thăm đền thờ Do Thái Giáo – synagogue tại Ro ma (13-4-1986).

- Trong 26 năm, ngài đã phong chân phước cho 1.339 Á Thánh qua 143 lễ nghi, và phong Thánh 483 vị qua 52 lễ nghi, tại Rô ma hay tại địa phương quê hương của các vị.

Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng lâu năm thứ ba (26n5th16ng), sau Đức GH. Pi-ô IX (1846-1878, hay 31 năm, 7 tháng, 17 ngày), và dài nhất là Giáo Hoàng tiên khởi Phêrô. Ngài lìa đời vào Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa, lúc 9:37 giờ tối 2-4-2005 và từ 4-4 được đặt tại VCTĐ Th. Phêrô cho hàng triệu người đến kính viếng. Ngài được an táng vào Thứ Bảy 8-4-05 tại hầm mộ VCTĐ Th. Phêrô, nơi mộ cũ của Á Thánh Gioan XXIII. Xin vì Lòng Thương Xót Chúa cho LH Karol Józef Wojtyla-Gioan Phaolô II lên Thiên Quốc và xin Ngài cầu khẩn, phù hộ cho mọi người. Requiescat in Pace. Amen.

Trần Văn Trí (4-2006)