|
Có một thứ đạo xuất hiện ngay từ thuở
tạo thiên lập địa, vào lúc thủy tổ lòai người A-đam và E-và hiện diện
nơi vườn địa đàng: đó là “đạo tâm” hay “đạo làm người”. Trong muôn
lòai thụ tạo, duy chỉ con người mới có “tâm” để nhận biết “đạo”, là
thiên luật chi phối và vận hành vạn vật. Nói theo ngôn ngữ của Lão Tử
thì “đạo” là thực thể diệu huyền khởi nguyên vạn vật
[i];
nói theo Đức Khổng Tử thì “mọi người cùng trở về một tụ điểm mà
bằng những con đường khác nhau, trăm điều suy nghĩ nhưng cùng đi đến
chỗ nhất trí.”
[ii]
Nói theo cổ nhân thì “một gốc
sinh ra muôn vàn thứ, muôn vàn thứ qui về một gốc”
[iii];
còn nói theo thánh sử Gio-an thì “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời …
Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có
gì được tạo thành”
[iv]
Và nói theo chữ nghĩa của Aristote thì “đạo” là “nguyên nhân của
mọi nguyên nhân.”
[v].
Riêng lối giải thích thần học cho rằng “không có ơn cứu độ ở bên
ngòai giáo hội công giáo” thì nay đã trở nên lỗi thời lạc điệu bởi vì
hiện nay trên thế giới có gần 6 tỉ con người, thì không lẽ Thiên Chúa
chỉ yêu thương cứu độ 1 tỉ người theo đạo Thiên Chúa thôi sao?
[vi]
Bài viết này thử nhìn vào tôn giáo, qua lăng kính của một tín đồ công
giáo, để mong nhận ra “đạo tâm” là đạo nền tảng nơi con người (đạo
làm người), một thứ đạo phổ quát vượt lên trên hết mọi thứ đạo (công
giáo tòan cầu), với ước mong tìm về “hiệp nhất” theo ước nguyện của
Đức Ki-tô.
[vii]
TÔN GIÁO LÀ MỘT NHU CẦU
Con người không thể sống mà không có
tôn giáo như lời Thánh Âu Tinh:
“Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con
cho Chúa và lòng chúng con còn khắc khỏai mãi cho tới khi được an
nghỉ trong Chúa.”[viii].
Thời xưa cho đến thời nay, dù ở vào bất kì không gian hay thời gian
nào, con người luôn: “Tìm kiếm chân lí, khát khao sự thiện, thèm
muốn tự do, ngưỡng mộ cái đẹp, làm theo tiếng nói lương tâm.”
[ix].
Nỗi băn khoăn về nguồn gốc, về thiên nhiên, về hạnh phúc và khổ đau,
về sinh lão bệnh tử, về thiện ác tốt xấu, về mục đích cuộc đời, về
tương lai hậu vận, luôn gắn liền với thân phận làm người. Bao lâu con
người còn băn khoăn thắc mắc, thì bấy lâu con người còn cần đến tôn
giáo. Không có một chế độ chính trị nào, không có một tổ chức trần
gian nào, cho dù cung ứng mọi nhu cầu cho thân xác con người được ấm
no đầy đủ, thì những thực tại trần thế ấy vẫn không thể thỏa mãn nỗi
khát vọng tâm linh nơi con người. Lịch sử chứng minh đế quốc La Mã đã
từng chủ trương tiêu diệt Ki-tô giáo[x]
, cũng như đã từng có những chế độ chính trị độc tài muốn xóa bỏ tôn
giáo, nhưng đến nay tôn giáo vẫn tồn tại, còn đế quốc Rô-ma thì đã
biến mất và các chế độ chủ trương vô thần gần như đã bị tận diệt vì
không đủ sức thuyết phục nhân tâm. Còn nữa, cho dù tôn giáo, bao gồm
hàng ngũ người lãnh đạo và các tín đồ, có sa đọa đình đốn đến thế nào
đi nữa, thì nhu cầu tôn giáo luôn vẫn còn, bởi khát vọng tâm linh vẫn
luôn thôi thúc lòng người.
TÔN GIÁO LÀ GÌ ?
Để có thể hiểu về tôn giáo, xin nêu ra
3 định nghĩa từ 3 nguồn khác nhau. Tôn giáo được định nghĩa là:
1.
“Giáo lí lấy thần đạo mà lập ra giới
ước khiến người ta sùng bái và tín ngưỡng”
[xi].
2.
“Niềm tin vào sự tồn tại của một hay
nhiều thần thánh đã sáng tạo ra vạn vật và cho con người linh hồn để
tiếp tục tồn tại sau khi chết về thể xác”
[xii]
3. “Niềm tin và tác động sùng bái
một Thượng đế hay nhiều thần, một hệ thống đặc thù giải thích về niềm
tin và sự sùng bái đó, thường thì bao gồm lí tưởng luân lí, hay một
triết lí sống v…v…
[xiii]
Cả 3 định nghĩa nêu trên có thể hiểu
được như sau: Tôn giáo chia ra làm 2 phần: hình thức thờ phượng bên
ngòai là lớp vỏ, và tác động thờ phượng bên trong là tâm linh. Lớp vỏ
bên ngòai là cơ cấu tổ chức, cơ sở, phẩm trật, thánh kinh, truyền
thống, giáo lí, tín điều, bí tích, giáo luật, văn kiện, học thuyết
v…v … Và phần tâm linh sâu thẳm là phần“giống
hình ảnh Thiên Chúa”[xiv].
Nói đến tâm linh là nói đến khả năng yêu thương chỉ có nơi con người.
Có thể sánh ví lớp vỏ bên ngòai của tôn giáo là hiện tượng, tâm linh
là bản chất; lớp vỏ bên ngòai là phương tiện, tâm linh là mục tiêu;
lớp vỏ bên ngòai là hình thức, tâm linh là nội dung. Như thế mới hiểu
được tại sao Thiên Chúa là “Thần khí”, và Thiên Chúa cũng là
“ yêu thương”. Thần khí và yêu thương chính là “đạo tâm”, bởi
vì “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của thày ở điểm này: là
anh em có lòng yêu thương nhau.”
[xv]
“ĐẠO TÂM” TRONG TIN MỪNG
Đức Giê-su mặc dù mang thân phận Thiên
Chúa, nhưng khiêm hạ đến với trần gian như một người phàm, đem “đạo
tâm” đến để kiện tòan cuộc sống con người:
“ Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng
Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người
thờ đấng các người không biết, còn chúng tôi thờ đấng chúng tôi biết,
vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến- và chính là
lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa
Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai
thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ
thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật”
[xvi]
Vấn đề đặt ra là: nếu Đức
Giê-su hôm qua, hôm nay và mãi mãi luôn vẫn là hiện tại và là
một, thì khi nói với người thời nay, chắc chắn các cụm từ“trên
núi này” sẽ được thay thế bằng cụm từ “nơi thánh đường này”;
“Giê-ru-sa-lem” thay bằng “công giáo Rô-ma”; và
“thần khí” bằng “tâm linh” . Như thế, thờ phượng đích thực
theo Đức Giê-su phải là thờ phượng trong tâm linh, là “đạo tâm”,
theo giảng dạy của đấng “là
đường, là sự thật, là sự sống”
[xvii]
Các dẫn chứng dưới đây
giải thích thêm cho lập luận vừa kể:
- Chúa Giê-su kịch liệt lên án tập đòan
kinh sư và biệt phái quen thói giữ đạo hình thức (giả hình), nấp bóng
tôn giáo để được vinh thân phì da với nhiều đặc quyền đặc lợi.[xviii]
- Đức Giê-su truyền giảng “đạo tâm”
nơi “Bài Giảng Tám Phúc”
[xix].
- Ngày chung thẩm chính là ngày phán
xét về “đạo tâm”: ”Xưa ta đói các người không cho ăn … Ta
mình trần các người không cho mặc… Ta ngồi tù các người không thăm
viếng.”
[xx]
- Đức Giê-su không dẹp bỏ các giá trị
tôn giáo theo truyền thống của dân tộc Do Thái, nhưng ngài muốn tôn
giáo phải hướng về tình thương là “đạo tâm” hay “đạo làm
người” . Vì phụ mẫu Đức Giê-su là người Do Thái, nên việc tuân
phục các truyền thống đạo Do Thái là lẽ đương nhiên: Đức Giê-su chịu
cắt bì
[xxi];
bà Ma-ri-a và ông Giu-se dâng hiến trẻ Giê-su nơi đền thờ theo luật
Môi-sen
[xxii]
; hàng năm Người theo cha
mẹ trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua; và hằng vâng phục phụ
mẫu khi trở về Na-da-rét
[xxiii].
- “Đạo tâm” hay “đạo làm
người” hòa lẫn trong thiên nhiên, tự do không lệ thuộc, cùng phù
hợp trình độ và hòan cảnh của hết mọi người
“ Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe
tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi
thần khí mà sinh ra thì cũng vậy.”
[xxiv]
Cũng như: “ Không ai có thể
vào nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần khí. Cái bởi
xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần khí sinh ra là Thần khí.”
[xxv].
Như vậy, cần phải có cái nhìn như thế nào về tất cả các tôn giáo hiện
diện trên tòan cầu hiện nay ?
TÔN GIÁO LÀ PHƯƠNG TIỆN
Tôn giáo chỉ là phương tiện dẫn
đưa con người đến Thiên Chúa.
Tất cả mọi tôn giáo đều cần thiết bởi vì mỗi người, mỗi dân tộc, có
trình độ hiểu biết, điều kiện, hòan cảnh và môi trường khác nhau, nên
có nhu cầu và cần sự đáp ứng khác nhau. Các tôn giáo tồn tại được
theo dòng thời gian là vì đáp ứng được những nhu cầu khác nhau đó.
Thế giới hiện nay đang có nhiều tôn giáo và giáo phái. Điều này phản
ảnh rõ nét nhân lọai có nhiều nhu cầu khác nhau. Chẳng hạn như ở Nhật
chính phủ cho phép 180,000 giáo phái họat động, và ở Hoa Kì có lẽ có
tới cả hàng ngàn giáo hội hay giáo phái khác nhau. Như thế, ước mơ về
một tôn giáo hiệp nhất “ một đàn chiên theo một chủ chiên” là chuyện
không tưởng trên cõi đời này! “Đạo tâm” có thể giúp con người đi đến
“hiệp nhất” mà không khai trừ hay lọai bỏ tôn giáo hay giáo phái mỗi
người đang tham gia. “Đạo tâm” trở thành “công giáo tòan cầu”cho mọi
người, vì đã là người thì ai nấy đều phải vâng theo luật thiên nhiên
(thiên luật), là phải sống đạo làm người, cho dù người ấy có ý thức
hay không, muốn hay không muốn. Chính vì thế, tất cả mọi tổ chức tôn
giáo đều là phương tiện bên ngòai, giúp cho con người thể hiện “đạo
tâm”bên trong. Các tôn giáo có thể ví như các tấm bản đồ giúp
cho việc tìm đến mục tiêu. Có những bản đồ hòan chỉnh hướng
dẫn đầy đủ mọi chi tiết, thì cũng có những bản đồ đơn sơ khiếm
khuyết. Tấm bản đồ mỗi người có trong tay càng rõ ràng tỉ mỉ, càng
chi tiết và trong sáng nhiều chừng nào, thì sẽ giúp người coi bản đồ
không bị lầm lạc, mau đi đến đích, cùng tiết kiệm được năng lực, thời
giờ và tiền của. Nhiệm vụ của mỗi người trên trần gian là phải học
cho tốt và cho thuộc bài học của riêng mình, vì
“phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết
linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn.”[xxvi]
Chính vì thế mỗi người theo tiếng lương tâm, phải nỗ lực tìm cho được
tấm bản đồ tốt nhất, chính xác nhất, theo trình độ hiểu biết và hòan
cảnh của riêng mình, để xử dụng vào mục đích: tìm về nhà cha
[xxvii]
. Khi chưa biết đường đi nước bước và chưa biết đích đến, con người
cần đến bản đồ là phương tiện đi đường để tìm ra mục tiêu. Nhưng khi
đã “giác ngộ” và tường tận đường đi đích đến rồi, thì tấm bản
đồ không còn cần thiết nữa theo lời Thánh Phao-lô:
“Vì chưng sự hiểu biết thì
có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hòan hảo đến thì cái có
ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng
như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi
tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con.”
[xxviii]
Tâm linh hay “đạo tâm”
vừa là gốc và cũng vừa là ngọn, vừa là khởi thủy và cũng vừa là đích
đến. “Đạo tâm” là đền thờ của Thiên Chúa, vì ai sống trong yêu
thương là sống trong Chúa. “Đạo tâm” không lệ thuộc hình thức
tổ chức, cơ cấu, tín điều, luật lệ hay qui tắc do con người đặt ra.
“Đạo tâm” là đạo hòan tòan bình đẳng, không bảng hiệu khoa
trương, không mặc cảm tự tôn, không cường điệu tự phong mình là nhất,
không hình thức lễ nghi, không khai trừ lọai bỏ bất cứ một ai, dù là
người đồng đạo hay khác đạo, có tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng. “Đạo
tâm” là chính lương tâm mỗi người: có “luật nhân quả”
là tiêu chuẩn được dùng để phán xét, có “bí tích yêu thương”
là dấu chỉ quyết định tương lai hậu vận đời người, vì “tất cả
chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng trước tòa Đức Ki-tô, để mỗi
người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm,
khi còn ở trong thân xác.”
[xxix]
“ĐẠO TÂM” LÀ SỰ “KẾT HIỆP MỘT CÁCH NÀO
ĐÓ VỚI ĐỨC KI-TÔ”
Công đồng Vatican II đã nhận định: “nhờ việc nhập thể, con Thiên
Chúa đã kết hiệp một cách nào đó với mọi người.”[xxx]
. Thông điệp “Đấng Cứu
Chuộc Con Người” (Redemptoris Hominis) cũng quả quyết: “Mọi người
không trừ một ai- đã được Đức Ki-tô cứu chuộc, bởi vì Đức Ki-tô
kết hiệp một cách nào đó với con người, với từng người một không
trừ ai, ngay cả khi họ không ý thức”
[xxxi].
Sách Giáo Lí Công Giáo cũng dạy : Lãnh nhận bí tích rửa tội có thể
hiểu bằng 3 cách: bằng nước (được rửa tội khi gia nhập đạo), bằng máu
(chịu chết vì đức tin), bằng lửa (lòng sám hối, ước ao cùng sống bác
ái): ” Tất cả những người không biết gì về Phúc Âm Chúa Ki-tô và
Giáo hội của Ngài, nhưng tìm kiếm chân lí và thực hiện thánh ý Chúa
như họ hiểu biết, thì có thể được ơn cứu độ.”
[xxxii]
. Sách GLCG còn nhấn
mạnh: “Thiên Chúa đã gắn chặt
ơn cứu độ vào phép rửa tội, nhưng ngài không bị trói buộc
vào
bí tích của mình.”
[xxxiii]
“Kết hiệp một cách nào đó”
với Đức Ki-tô phải được hiểu là lối sống“đạo tâm”, là sống yêu thương
bác ái, là sống đạo làm người. Điều thật sự quan trọng không
phải là tôn giáo, không phải là bí tích, mà là yêu thương.
“Đạo tâm” là tôn giáo tốt nhất, dễ hiểu nhất, tự do nhất, dễ được mọi
người chấp nhận nhất, vì “đạo tâm”dễ đưa mọi người đến gần Thiên Chúa
mà không bị lệ thuộc bởi những gì do con người lập ra. Ở đâu có yêu
thương thì ở đấy có “đạo tâm”, ở đâu có “đạo tâm” thì ở
đấy có Thiên Chúa. Con người sống là sống với tha nhân, nên
những việc
đạo đức người công giáo quen làm như đi nhà thờ, gia nhập đòan thể,
tham gia sinh họat xứ đạo, lãnh nhận các phép bí tích, là những việc
nên làm, vì đó là cơ hội thể hiện “đạo tâm”, làm giàu tương quan tình
người, và là môi trường tốt giúp cho “đạo tâm” được thực hiện cùng
tha nhân, với tha nhân, và cho tha nhân. Tuy nhiên khi lồng sinh họat
tôn giáo vào các mục tiêu thương mại như “xin khấn hay xin lễ đời
đời”, cũng như lời phát biểu cho rằng “việc lãnh nhận đầy đủ các
phép bí tích trước khi qua đời là dấu chỉ được ơn cứu
rỗi” tại các tang lễ của người công giáo Việt Nam
[xxxiv],
thì cần phải được thận trọng xét lại, vì lối phát biểu ấy thiếu khôn
ngoan và tế nhị, lỗi đức ái đối với cả người công giáo lẫn người
ngòai công giáo, dễ khiến người tham dự tang lễ hiểu rằng những ai
không được gặp linh mục trước khi qua đời, hay không được chịu các
phép bí tích của đạo công giáo, là những kẻ vô phước không nhận được
ơn cứu rỗi! Được cứu rỗi
hay không là tùy thuộc vào“ yêu thương”, tùy thuộc vào thứ “tình cho
không biếu không”, biết chấp nhận thua thiệt trong thân phận làm
người để tìm đến mục tiêu cao đẹp hơn, như Đức Giê-su đã chịu nạn
chịu chết treo trên thập tự để chuộc tội lòai người. Đời sống cùng
lời giảng dạy của Đức Giê-su thể hiện rõ một thứ “tình cho không biếu
không” hòan hảo nhất, và đấy là cách thế biểu lộ nhân tính cao cả
nhất của Đức Giê-su trong suốt cuộc đời 33 năm dương thế. Chính vì
vậy, khi người công giáo tuyên bố dùng phương tiện làm mục đích, lấy
giáo hội hay các bí tích làm điều kiện để được ơn cứu rỗi, thì hiển
nhiên họ đã đi ngược lại giáo lí công giáo, ngược lại tuyên ngôn của
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, ngược lại giáo huấn của công đồng
Vatcan II, và nhất là ngược lại lời giảng dạy của Đức Giê-su trong
Tin Mừng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là đấng yêu thương vô cùng, thánh
thiện vô cùng, công bằng vô cùng, khôn ngoan vô cùng … thì không lẽ
“Đấng Vô Cùng” ấy chỉ thương riêng một thiểu số người công
giáo trên cõi đời này hay sao? Kết hiệp một cách nào đó
với
Đức Ki-tô chính là sống “đạo tâm”, là “đạo yêu thương”,
và là chìa khóa để vào nước trời.
THAY LỜI KẾT
Văn hào Pháp Antoine de St. Exupery có
nói: “Nếu bạn muốn xây dựng một con tàu, thì chẳng thà là bạn
dạy thiên hạ ước ao khỏang trời vô biên bất tận ngòai biển khơi, hơn
là lùa người đi tìm ván đóng, cũng như chỉ định cho họ công việc phải
làm”. Xây dựng con tàu giáo hội là việc làm của tất cả mọi
tín đồ, bất kể là tu sĩ hay giáo dân, vì tín đồ là giáo hội
[xxxv].
Tôi yêu mến Đức Giê-su vì Người thật là một nhân vật kì diệu trong
lịch sử lòai người, chẳng vậy mà đã có biết bao nhiêu con người đã
–đang- và sẽ tìm thấy ý nghĩa chân thực cho đời mình, bằng cách sống
theo tấm gương tuyệt vời của Đức Giê-su! Đời dương thế của Đức Giê-su
là những chuỗi ngày ẩn dật suốt trong 30 năm. Vào 3 năm giảng dạy
cuối đời, Người không hề muốn nắm giữ một vai trò nào trong các hội
đường Do Thái hay tại thành thánh Giê-ru-sa-lem. Đạo Người giảng dạy
là đạo tình thương, và các phép lạ Người làm cũng làm vì yêu thương,
muốn đứng về phía người nghèo, những kẻ thấp cổ bé miệng, những người
bị hất hủi, những kẻ tật nguyền linh hồn hay thân xác, những người cô
thân cô thế, những kẻ bị xã hội lòai người lánh xa ruồng bỏ. Đức
Giê-su không khiếp sợ cường quyền, không bị mê hoặc trước bả vinh hoa
phú quí trần gian. Người lên án thậm tệ tập đòan giáo sĩ và kinh sư,
những kẻ sống giả hình ăn trên ngồi trước chỉ nói mà không làm, chất
gánh nặng lên vai người khác, còn bản thân họ và những người thuộc
giai cấp như họ thì ăn trắng mặc trơn; họ là những kẻ lợi dụng tôn
giáo để “buôn thần bán thánh”, cũng như đưa chính trị vào tôn giáo để
củng cố quyền lực và địa vị
[xxxvi]
Người đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình, qua cái chết
phanh thây như kẻ tội đồ trên thập tự giá.
Tôi từng tự hỏi tại sao Đức Giê-su đã
không để lại “ngọc xá lợi”[xxxvii]
nơi trần gian, để người đời đỡ phải lí luận tranh cãi, cũng như khỏi
phải tìm cách lí giải Thánh Kinh theo chiều hướng và chủ trương của
giáo hội mình? !
Tôi từng tự hỏi tại sao các nhà truyền
giáo Tây phương đã dám can đảm hi sinh cả tính mạng mình khi vượt
biển băng ngàn đi truyền đạo tại các nước xa xăm như Việt Nam, nhưng
họ đã để lại vết nhơ về những tranh cãi vô ích liên quan đến việc thờ
cúng ông bà tổ tiên theo “đạo làm người” ?!
Tôi từng tự hỏi tại sao những người có
chung niềm tin vào Kinh Thánh, cùng tin vào Đức Giê-su Ki-tô, mà sao
lại để xảy ra biến cố li giáo giữa giáo hội công giáo Rô-ma với giáo
hội Đông phương
[xxxviii],
cũng như với tu sĩ thông thái và khổ hạnh Martin Luther[xxxix];
và từng chuỗi các tôn giáo dần dần mỗi ngày mỗi tách rời nhau kể từ
đó cho đến nay ?!
Giờ đây tôi xác tín: “Đạo tâm”
hay “đạo yêu thương” là đạo do chính Chúa Giê-su sáng lập
thuận theo “Thiên ý”. Vì lượng yêu thương vô cùng vô tận,
Thiên Chúa muốn dạy lòai người“đạo tâm”để lòai người biết
“ước ao khỏang trời vô biên bất tận ngòai biển khơi”, hơn
là chỉ biết co ro cúi đầu nhận lệnh. “Đấng Tạo Hóa thì to lớn
vĩ đại hơn “con tàu” do tay người phàm làm ra”, và
“Đạo
tâm” là “đạo gốc” sinh ra mọi tôn giáo
[xl].
Như thế, nếu như không muốn nhìn thấy thế giới lòai người phải đi đến
chỗ bị tận diệt do xung đột và tranh dành hơn thua, các tôn giáo
có chung một sứ mệnh là phải tìm về cội nguồn
[xli],
cùng nắm tay nhau tìm đến mục tiêu chung là truyền
bá “đạo tâm”, là đạo phổ quát, là đạo từ Trời, đang khi
vẫn có thể duy trì bản sắc riêng của từng tôn giáo. Nói theo ngôn ngữ
thời thượng thì “đạo tâm” là “đạo công giáo tòan cầu”
vậy.
LỄ PHỤC SINH 2005
Ông Nguyễn Đông-Khê
[i]
“Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh.Vô
danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu” (Đạo có thể
gọi được là đạo, không phải là đạo “thường hằng”. Danh có thể gọi
được là danh, không phải là danh (tên). Vô danh là gốc của trời
đất. Hữu danh là mẹ của vạn vật.) (Đạo Đức Kinh)
[ii]
Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự (Hệ từ hạ, V)
[iii]
“Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản
[vi]
Theo bản thống kê Vatican thì có trên 1 tỉ người công giáo trên
tòan thế giới. Có 450,000 người được phong chức, phần lớn trong
số người này là linh mục, được chỉ định điều hành 99.5 % giáo
hội. Như thế một người được truyền chức thì coi sóc 2,444 tín
đồ. Vậy thì đâu có thời giờ để thăm viếng các gia đình, tổ chức
sinh họat trong giáo xứ, thi hành bí tích xức dầu bệnh nhân, hay
hội thảo mục vụ liên quan đến việc điều hành cộng đồng Ki-tô hữu
trong vai trò linh mục? Việc thiếu hụt linh mục rất phổ biến
trong tình trạng hiện nay. Chính vì thế mà việc nhấn mạnh đến
việc lãnh nhận các phép bí tích để được cứu rỗi trở nên “lố bịch”
vì có nhiều tín hữu cả đời không gặp linh mục (tình trạng các
giáo hội chịu bách hại), hay chỉ gặp linh mục một vài lần trong
đời người (tình trạng các nước Âu châu).
[x]
Cuộc bách hại bắt đầu từ năm 64 thời Hòang đế Nê-ron kéo dài cho
đến năm 314 với chiếu chỉ Milan tha đạo dưới thời Hòang đế
Constantin.
[xi]
Nguyễn Văn Khôn, Hán Việt Từ Điển
[xii]
Viện Ngôn Ngữ Học, Từ Diển Anh Việt, 1993
[xiii]
Webster’s Student Dictionary: “Belief in God or a group of gods
to be worshiped; a particular system of such belief and worship,
often including moral ideals, a philosophy of life, etc.”
[xviii]
Mt 23:1-36; Mc:12:38-40; Lc 11: 39-48 và 20:45-47
[xix]
Mt 5:3-12; Lc 6:20-23
[xxxii]
SGLCG Số 1258, 1259 và 1260
[xxxiv]
Lối phát biểu này rất phổ biến từ các linh mục lãnh đạo cộng đồng
Việt Nam .
[xxxvi]
Xem Mt 23:1-29; Mc 12:38-40; Lc 11:39-48 và Lc 20:45-47
[xxxvii]
Dấu chứng thân thể như xương, răng , quần áo, đồ dùng, chữ viết …
[xxxviii]
Giáo hội Đông Phương tách rời khỏi giáo hội Tây phương Rô-ma (vào
năm 1053) cũng vì tranh cãi hơn thua về việc xử dụng ‘bánh không
men” hay có men trong thánh lễ.
[xxxix]
Martin Luther đưa ra thông cáo Wittenberg (Oct. 30, 1517) gồm 95
đề tài với mục đích ngăn chặn việc mua bán ân xá để gây quĩ xây
tòa giám mục Mainz và kiến thiết đền thánh Phê-rô ở Rô-ma. Rút
cục , ông tuyên bố li khai khỏi giáo hội công giáo (Oct.12, 1520)
trước áp lực của tòa thánh.
[xl]
Nhất bản tán vạn thù
[xli]
Vạn thù qui nhất bản
|