|
Tủ Sách Đàm Đạo Tôn Giáo
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
Nội Dung
Lời Mở Đầu
Sách Tham Khảo

Chương Bảy
Niềm Tin Vào Một Ngôi Vị Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Trời
Về tín ngưỡng vào một Ngôi Vị Chúa Tể Càn khôn,
cần nghiên cứu riêng để nhận định vấn đề cho rõ ràng. Trong chương
sáu, ta đã đề cập đến Ý Thức Siêu Việt về một Nguyên Lý làm nền tảng
cho sự hiện hữu của vũ trụ. Đấy là ý niệm siêu hình của các nhà Đạo
học, Phật học, các triết gia như Chu Hi, Vương Dương Minh, và các nhà
thần bí (mystics) chiêm niệm theo đường lối phủ định (via negativa).
Sau đây, ta sẽ bàn về niềm Tin theo đường
lối khẳng định (via positiva) trong Thiên Chúa Giáo, trong thời kỳ
đầu của học thuyết Khổng giáo như Tứ thư, Ngũ kinh, và trong Ca dao,
tục ngữ của Việt Nam. Truyền thống cố hữu, phổ quát này vẫn còn tồn
tại cho đến ngày nay. Đặc điểm của tín ngưỡng này là lòng Tin vào Một
Đấng Tiêng Liêng, một “Đấng Tạo Hóa” toàn năng tạo thành vũ trụ và
muôn loài muôn vật. “Đấng đó” có một “Bản Vị” hay "Ngôi Vị", tương tự
như loài người chúng ta, mỗi cá nhân có một “nhân vị” (person,
personality) riêng biệt. Vả lại, ta có thể cầu khẩn, cúng bái, và
“Ngài” đáp ứng, nhận lời nguyện xin. Trong Chương hai, “Phương Pháp
Suy Luận Đông Tây”, đã trình bày về Ý Niệm Bản Vị như:”Hiện Hữu Như
Một Nhân Vị”. Ở đây, sẽ quảng diễn và áp dụng quan niệm đó để tìm
hiểu Thiên Chúa Ngôi Vị (Personal God).
Riêng đối với Thiên Chúa Giáo, cũng xin
lưu ý, sẽ không diễn giảng hết các đề mục, tín điều như trong sách
Thần học Giáo lý, chẳng hạn: Mầu nhiệm Một Đức Chúa Trời Ba Ngôi, các
Phẩm Tính của Thiên Chúa, hoặc năm đường lối chứng minh có Thiên Chúa
theo Thánh Tôma, v.v. Nhưng trong Chương Bảy này, chỉ xin trình bày,
hạn định vào một số đề tài để có thể so sánh, và đối thoại với các
tôn giáo khác. Do đó, sẽ gồm những đoạn sau:
Đoạn I. Thiên Chúa là Ngôi Vị
Đoạn II. Thiên Chúa Siêu Việt và Nội Tại
Đoạn III. Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, Chủ Tể
vũ trụ càn khôn
Đoạn IV. Trình bày ý niệm Ngôi Vị, Bản Vị
của Thượng Đế trong Khổng Giáo Nguyên Thủy
Đoạn V. Tìm hiểu về “Ông Trời” trong văn
chương bình dân, và văn chương bác học Việt Nam
ĐOẠN I. THIÊN CHÚA NGÔI VỊ (PERSONAL GOD)
Quan niệm Thiên Chúa Ngôi Vị là một đặc
thù của Thiên Chúa Giáo bắt nguồn từ Do thái giáo. Có thể nói ý niệm
Ngôi Vị không xa lạ đối với tín ngưỡng dân gian của Trung Hoa và Việt
Nam. Nhưng, những môn phái triết học chủ trương: Vạn vật nhất thể,
Thiên-Nhân hợp nhất, Tam Tài (Thiên-Địa-Nhân) theo khuynh hướng Nhất
Nguyên luận..., vì thiên về lý luận trừu tượng siêu hình, hoặc vì cho
rằng ý niệm về “Ngôi Vị” hạn chế tính chất siêu việt của Nguyên Lý
Tuyệt Đối... Bởi vậy, để giúp các tôn giáo Đông-Tây thông cảm và
xích lại gần nhau hơn, nên cần diễn giải thêm những đề tài sau đây:
1. Kinh nghiệm về Ngôi Vị trong đời sống
2. Định nghĩa danh từ và ý niệm về Ngôi Vị
3. Thần học hay đường lối Phủ Định (Theologia
negativa) và Diễn tả Ngôi Vị bằng phương pháp Tương Tự (Analogy)
4. Ý niệm Ngôi Vị bắt nguồn từ Thánh Kinh Cựu
Ứớc
1. Kinh Nghiệm về Ngôi Vị Trong Đời Sống
Một trong những kinh nghiệm cao quí mà
cũng là một huyền nhiệm là câu hỏi: Con Người là gì? Ta là ai? Cái gì
khiến ta chịu trách nhiệm về đời ta? Cái gì làm ta “KHÁC” kẻ “KHÁC”?
“Mình với Ta, dẫu Hai mà Một
Ta với Mình, dẫu Một mà Hai” (Tản Đà)
Đi từ kinh nghiệm về huyền nhiệm của bản
thân ta “Khác” với bản thân “Kẻ Khác”, con người siêu thoát vươn lên
bình diện vô biên siêu việt để nhận biết “Đấng Tối Cao” là Một Vị
Siêu đẳng “KHÁC” với mọi sự mọi loài. Dĩ nhiên, Đấng Tối Cao phải
vượt trên mọi cá nhân thường, vì “Ngài” là Đấng Tuyệt Đối, còn mỗi
người, mỗi vật chỉ là loài thụ tạo, tương đối. Khi dùng kinh nghiệm
bản thân để vượt lên cõi siêu nhiên, theo cách suy luận “Tương Tự”
(Analogy), không có nghĩa là ta hạ giá Đấng Tối Cao xuống hạng phàm
tục, ngang hàng với vạn sự vạn vật.
Trên bình diện kinh nghiệm Thần bí
(mystical), Đông cũng như Tây, Phật giáo cũng như Thiên Chúa giáo đều
linh cảm sự hiện hữu của Một Đấng Vô Hình, làm Nguyên Lý Siêu Việt,
là Nguyên Thủy qui tụ và phát sinh muôn vật muôn loài trong vũ trụ.
Vì trí khôn nhân loại có giới hạn, nên cách thức phát biểu và diễn tả
Nguyên Lý Tối Thượng đó luôn luôn là bất tương xứng, bất tương đồng.
Làm sao ta có thể dùng những hình ảnh, những danh xưng thuộc thế giới
tương đối, hữu hạn để biểu lộ những bí nhiệm của Thực Tại Siêu Việt
được? Do đó, các nhà thần bí, các đạo sĩ Đông phương ưa thích dùng
kiểu nói có vẻ “tiêu cực”, gọi là Phương thức Phủ định (via negativa)
để mô tả Nguyên Lý đó bằng những danh từ như: Vô, Vô Cực, Chân Như,
Chân Không Diệu Hữu, v.v., cốt ý bảo toàn tính chất siêu việt, vượt
không gian thời gian của Nguyên Lý Tối Thượng đó. Các nhà thần học
trong Do thái giáo, Thiên Chúa giáo, tuy cũng dùng Phương thức Phủ
định, gọi là 'Thần học Phủ định” (Negative Theology), nhưng thường
chuộng cách diễn tả tích cực hơn, gọi là “Thần học Khẳng định”
(Positive Theology) dựa theo phương pháp “Tương Tự”, chẳng hạn như
kinh nghiệm về “nhân vị” (person) của loài người, được vượt lên bình
diện siêu nhiên để gán cho Thiên Chúa là Một “Ngôi Vị Tuyệt Đối”,
trên hết mọi nhân vị. Bởi vậy, có thể nói, sự khác biệt về cách giải
thích và diễn tả giữa Đông và Tây, phát sinh từ những quan niệm về
văn hóa, và vũ trụ quan khác nhau: Đông Phương chú trọng tinh thần
cộng đồng, óc tổng hợp, còn Tây Phương đề cao cá nhân, nhân vị và óc
phân loại.
2. Quan Niệm Về Nhân Vị, Ngôi Vị, Bản Vị
Sau đây, sẽ bàn về: danh từ và ý niệm về
Nhân vị, hay Ngôi vị; tương quan giữa “Hiện Hữu” và “Ngôi Vị”. Ý
niệm này có phân chia, hạn chế và hạ giá Nguyên Lý Tuyệt Đối không?
a. Ý Nghĩa của danh từ Nhân vị hay Ngôi
vị
Nguyên tự Latinh “Persona” (Person,
Personality, Personal) dịch ra Việt ngữ là “Nhân Vị” hay Ngôi Vị. Chữ
“Nhân Vị”, xét về nghĩa đen, có thể gây ngộ nhận khi dùng danh xưng
đó áp dụng vào Thiên Chúa. (Theo cách chiết tự trong chữ Nho: Nhân
( )=người, Vị ( ) gồm có chữ nhân ( ) và chữ Lập ( ), nghĩa
là vị thế, địa vị, “chỗ đứng” của con người trong vũ trụ. Vì Thiên
Chúa không phải là người, nên không thể xếp loại cùng ngang hàng với
loài người được. Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt, nên phải có “chỗ đứng”
biệt lập, “KHÁC” và trên hết vạn sự vạn vật, dầu luôn luôn vẫn bao
trùm mọi vật mọi loài. Vậy để tránh ngộ nhận và để bảo vệ tính chất
siêu việt của Thiên Chúa, thiết tưởng nên dùng danh từ “Nhân Vị” cho
loài người, còn danh xưng “Ngôi Vị” dành riêng cho Thực Tại Tuyệt Đối,
cho Thiên Chúa, danh từ “Bản Vị” đôi khi dùng chung cho cả hai. Nên
nhớ rằng: việc dùng tất cả những ý niệm, những danh từ của loài người,
của thế giới tương đối, hữu hạn này để ám chỉ Nguyên Lý Tuyệt Đối,
đều là “bất đắc dĩ”, vì bất tương xứng. Do đó, nếu ta gột rửa được
tính cách thần-nhân-đồng-hình (anthropomorphism) bao nhiêu thì tốt
bấy nhiêu.
b. Ý Niệm về Nhân Vị, Ngôi Vị
Các triết gia Tây phương định nghĩa Nhân
Vị, Ngôi Vị (Persona, Person) là: một bản thể cá biệt thuộc loại có
trí khôn” (naturae rationalis individua substantia (Boethius)). Loài
có trí khôn nghĩa là biết đau khổ, biết hạnh phước và nhất là biết
tuân giữ các lề luật (Locke và Kant). Nhân vị là một cá nhân biết suy
tư và biết truyền đạt tư tưởng bằng lời nói. Nhân vị là một cá nhân
chịu trách nhiệm đối với các hành vi luân lý, tham gia chính trị, cải
cách xã hội và là “anh hùng tạo thời thế”. Bởi vậy, ý tưởng “Nhân Vị”,
“Ngôi Vị” thường đi đôi với quan niệm về LỊCH SỬ và về Ý CHÍ TỰ DO.
c. Tồn Hữu và Nhân Vị
Theo triết lý, quan niệm về Tồn-Hữu-học
(ontology), về Tồn-Hữu (Being), trong căn bản phải đi đôi với ý niệm
Nhân vị, Ngôi vị, Bản vị (Personal). Bởi vì “có” thì phải có “cái gì”
hoặc “cái gì” “có”, không thể “có” vu vơ, trống không, trống rỗng
được! Do đó, Tồn-Hữu phải là Ngôi Vị, và nền tảng sâu xa của Tồn-Hữu
chính là Ngôi Vị. Theo ý nghĩa này, chỉ có loài người mới thực sự có
“Nhân vị” hoàn hảo, vì có "Hữu-Thể" đầy đủ, nghĩa là có ý chí, tự do,
còn các loài khác như động vật, thực vật... chỉ được tham dự vào sự
Tồn-Hữu ở các cấp bậc kém hơn. Vì thế mới có câu: “Nhân linh ư vạn
vật”, con người cao trọng hơn các loài cầm thú, cỏ cây, sông núi...
vì có trí khôn. Còn loài động vật cao hơn loài thực vật, vì được
“tham dự” vào sự Tồn Hữu ở một cấp bậc cao hơn, nghĩa là có xúc giác,
biết đau đớn... Dầu chiếm được một địa vị cao quí trong vũ trụ, con
người vẫn cảm thấy mình là hữu hạn, nhỏ bé đối với trời đất bao la.
Do đó, từ cảm nghiệm Bản Thân, tâm trí con người đã vươn lên cõi Siêu
Nhiên, đến Một Ngôi Vị Tuyệt Đối, cũng là Tồn-Hữu Tuyệt Đối, làm
nguồn gốc cho hết mọi Tồn-Hữu trong vũ trụ càn khôn, kể cả loài người.
Tuy là một Nhân vị hữu hạn, tương đối, thuộc loài thụ sinh, nhưng con
người luôn cảm tạ Đấng Tối Cao đã ban cho hồng ân, vinh dự được tham
gia vào sự Tôn-Hữu Tuyệt Đối, nghĩa là có lý trí và ý chí tự do.
(188)
Tuy cũng là một “ngôi vị”, nhưng “Ngôi Vị”
của Thiên Chúa hoàn toàn “KHÁC” với nhân vị của loài người. Thần Học
Thiên Chúa Giáo vừa chủ trương Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt trên hết
mọi sự mọi loài, vừa “ngự trị”, hiện hữu nơi con người và vạn vật,
nhưng “PHÂN BIỆT” (distinction), và nhấn mạnh sự “KHÁC BIỆT” giữa
Thiên Chúa Siêu Việt và loài thụ sinh. Tuy Thiên Chúa hiện hữu, tồn
tại nơi nhân loại, vạn vật, tuy Siêu Việt và Nội Tại luôn đi liền với
nhau, nhưng Ngài vẫn là Ngôi Vị “KHÁC” tất cả các ngôi vị khác.
d. Ý Niệm Nhân Vị, Ngôi Vị có Hạn Chế
hay Phân Ly NGUYÊN LÝ TUYỆT ĐỐI không?
Theo các thần học gia hay triết gia Thiên
Chúa Giáo, ý niệm về Nhân vị, Ngôi vị không phân ly, hạn chế Tồn Hữu
(Being) của Thiên Chúa, khác hẳn với thuyết Nhị Nguyên (dualism),
phân chia ra hai khởi nguyên căn bản đối lập nhau: một bên là Thiện,
bên kia là Ác.
Tín Lý quan trọng nhất và cũng là Mầu
Nhiệm cao siêu nhất trong Thiên Chúa giáo, tín điều “Một Thiên Chúa
Ba Ngôi” (Trinity, Tam Vị Nhất Thể Thiên Chúa) đã khẳng định rõ ràng
về Bản Thể Duy Nhất bất-khả-phân-ly của Hữu Thể Tuyệt Đối, tức Một
Thiên Chúa, đồng thời vẫn giữ được sự toàn vẹn của Ba Ngôi Vị: Thiên
Chúa Ngôi Cha, Thiên Chúa Ngôi Con, Thiên Chúa Ngôi Thánh Thần. Do đó,
đại mầu nhiệm này phi bác tất cả mọi hình thức nhị nguyên được gán
cho Thiên Chúa.
3. Phương Thức Phủ Định và Phương Thức
Tương Tự
Các nhà thần học và triết học đã dùng hai
phương thức suy luận cốt ý để bảo toàn tính cách Siêu Việt Tuyệt Đối
của Thiên Chúa: Phương thức Phủ Định và Phương thức Tương Tự. Ở đây
chỉ xin tóm lược hai phương thức này đã được giải thích sâu rộng
trong Chương Hai: Phương Pháp Suy Luận Đông-Tây.
a. Phương Thức Phủ Định
Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối, Siêu Việt,
khác hẳn loài thụ tạo, tương đối thì làm sao ta có thể dùng những sự
vật, hình ảnh, danh từ thuộc kinh nghiệm trong thế giới tương đối hữu
hình để miêu tả “Đấng Tiêng Liêng,Vô Hình Dung”, một cách tương xứng
được? Do đó, để bảo vệ tính cách siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa,
các nhà thần học, triết học, thần bí trong Thiên Chúa giáo đã dùng
một đường lối “Phủ Định” (via negativa), không phải muốn chối bỏ
chính Thực Tại Tuyệt Đối, nhưng chỉ có ý biểu lộ sự bất tương xứng
của những danh từ, danh hiệu rút ra từ thế giới tương đối để phác họa
những phẩm tính siêu đẳng của Thiên Chúa. Thánh Tôma, nhà thần học
trứ danh, cũng cho rằng trí khôn nhân loại không thể nào hiểu biết
được bản thể của Thiên Chúa Tuyệt Đối là gì cả. Chúng ta không thể
biết được Thiên Chúa là gì, có gì một cách khẳng định, tích cực,
nhưng ta có thể nói được Thiên Chúa “không phải là”, “không phải thế”,
một cách phủ định, tiêu cực (via negativa), tức là Thần học phủ định
(Theologia negativa). Ví dụ: Thiên Chúa là Bất-khả-ngôn (ineffability
of God). (189)
b. Phương Thức Tương Tự
Tuy biết là bất-tương-xứng, nhưng các
thần học gia, triết gia, thi sĩ, văn sĩ và dân chúng bình dân ưa
thích dùng phương thức khẳng định, tích cực (via positiva) để biểu lộ
sự cao cả vô biên của Đấng Tối Cao bằng những cách thế, ngôn ngữ của
loài thụ sinh. Thánh Tôma và các nhà thần học gọi cách diễn tả này là
“Phương Pháp Tương Tự” (analogia entis). Theo cách thức này, ta có
thể dùng kinh nghiệm của nhân loại “nói” về Thiên Chúa, nhưng chỉ
được hiểu là một cách “tương tự”mà thôi, chứ không phải hoàn toàn
“giống y như vậy”. Bởi vì Thiên Chúa, Đấng Siêu Việt Tuyệt Đối,
“KHÁC” với hết mọi loài thụ tạo thuộc thế giới tương đối này, nên tất
cả các ý tưởng, hình ảnh, ngôn ngữ.... dùng để mô tả vạn sự vạn vật
thì không thể xứng hợp để bàn luận về Đấng Siêu Việt Tuyệt Đối được!
Dầu nhìn nhận là bất xứng và thiếu sót, nhưng các nhà thần học, triết
học vẫn cho phương pháp Tương Tự là chính đáng vì hợp với trình độ
kiến thức của trí khôn loài người và giúp ta hiểu biết một phần nào (một
cách bất toàn) về Bản Tính Siêu Việt của Thiên Chúa. Khi dùng phương
pháp Tương Tự để bàn luận về Thiên Chúa, Thánh Tôma khuyên ta luôn
thêm vào thành ngư : “et magis”, nghĩa là: “còn hơn thế nữa”. Chẳng
hạn, nói rằng: “Đức Chúa Trời là Đấng phép tắc vô cùng” thì chưa đủ
mà phải hiểu thêm là “et magis”, “còn hơn thế nữa”, vì lời phát biểu
này chẳng qua là cách thức trí khôn hạn hẹp của nhân loại suy luận về
Một Đấng Siêu Việt, và ta không còn cách thức nào, danh từ nào khác
để diễn tả sự quyền phép cao siêu vô biên là như thế nào. Kỳ thực,
Bản Tính Siêu Việt đó vượt trên mọi sự hiểu biết, diễn tả của nhân
loại.
4. Nguồn Gốc Quan Niệm Ngôi Vị trong
Kinh Thánh
Kinh Thánh, nhất là Cựu Ước đã mượn những
danh từ thuộc loại thần-nhân-đồng-hình (anthropomorphism) nghĩa là
dùng những ý nghĩ, tình cảm, hành vi của loài người để ám chỉ theo
nghĩa “tương tự” những hoạt động của Thiên Chúa, chẳng hạn như: Thiên
Chúa nổi giận và trừng phạt, Ngài tha thứ và ân thưởng, Ngài là Cha,
là Vua, là Mục tử... Thiên Chúa cũng mặc khải “Tên” Ngài ra tự xưng
là “YaHWeH”, “Ta là Đấng Tự Hữu”. Các vị Thánh ký đã mượn những hình
ảnh thuộc nhân loại để diễn tả những phẩm tính của Thiên Chúa để
chứng tỏ Ngài không phải là Nguyên Lý trừu tượng, vô tri vô giác của
các triết gia suy luận ra, nhưng Ngài là Thiên Chúa Ngôi Vị đã phán
bảo cùng Tổ phụ Abraham, Giacob, Maisen,... và các tiên tri
(prophet). Đọc Kinh Thánh Cựu Ước, qua dòng lịch sử của dân tộc Do
thái, ta nhận thấy “bàn tay” (theo nghĩa ám tỉ) nhân hậu của Thiên
Chúa đã an bài và dẫn dắt dân Chúa đến một mục đích là chuẩn bị cho
Đấng Thiên Sai (Messiah) Đấng Cứu Thế sẽ hoàn thành ơn Cứu Độ trong
thời Tân Ước.
Trong Kinh Thánh Tân Ước, danh từ hy lạp
“Theos” dùng để chỉ Thiên Chúa. Chính danh từ đó đã được các triết
gia Hy lạp Plato và Aristotle thanh lọc khỏi nội dung đa thần để trở
thành một ý niệm siêu hình, trừu tượng về một Nguyên Lý Tối Thượng
của vũ trụ. Khi dùng danh xưng này, Kinh Thánh đã thay vào một nội
dung mới để chỉ Một Thiên Chúa Ngôi Vị, Đấng Sáng tạo vũ trụ, Chúa
của thời gian, và của lịch sử. Ngài đặt ra luật pháp và luôn luôn
giao tiếp, đối thoại với nhân loại qua những lời cầu kinh. Tột điểm
của việc mặc khải Thiên Chúa Ngôi Vị chính là việc Thiên Chúa giáng
trần, đầu thai nhập thể nơi “Con Người Đấng Cứu Thế “ như lịch sử ghi
chép. Sự kiện Nhập Thể giáng thế này chính là để biểu lộ
Tình-Yêu-Thương-Vô-Cùng của Một Thiên Chúa Ngôi Vị Siêu Việt (I Jn
4:16).
Thiên Chúa giáo là một tôn giáo độc thần,
chỉ tôn thờ Một Vị Thiên Chúa. Bất cứ loài thụ sinh nào, kể cả các
bậc thần thánh, mà ta đặt ngang hàng với Ngài, đều coi là thờ ngẫu
tượng (idolatry). Tính chất độc thần độc tôn dành riêng cho Thiên
Chúa Ngôi Vị được qui định rõ rệt trong việc phụng vụ, tế tự. Do đó,
danh xưng “thờ phượng” (adoration,worship) chỉ dành riêng cho Thiên
Chúa mà thôi. Còn các chư Thánh khác, kể cả Đức Bà Maria, thì dùng
chữ “tôn kính” (veneration), vì các ngài là loài thụ tạo, tự mình
không có quyền năng ban ơn giáng phúc, nhưng các ngài có nhiều công
nghiệp và sống đẹp lòng Chúa, nên có thể bầu cử một cách thần thế,
đắc lực cho ta. (190)
Nói tóm lại, tuy cũng trong một ý niệm
Ngôi Vị, nhân vị, nhưng Ngội Vị Thiên Chúa hoàn toàn “KHÁC” các nhân
vị của loài người. Thiên Chúa Giáo nhấn mạnh đến tính cách Siêu Việt
(Transcendence) của Thiên Chúa hơn là tính chất Nội Tại (Immanence)
của Ngài hiện hữu nơi vạn sự vạn vật, như sẽ bàn luận ở đoạn sau, tuy
rằng Siêu Việt và Nội Tại luôn luôn đi liền nhau.
ĐOẠN II. THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT VÀ NỘI TẠI
Như trên đã trình bày về những hiểu lầm
giữa Tam giáo và Thiên Chúa Giáo khi Đông phương và Tây phương gặp gỡ
nhau. Vì thiếu nghiên cứu cẩn thận, thoạt tiên phía Tây phương đã vội
phê phán Tam giáo là theo “Nội-Tại đa thần” (pantheistic immanentism),
nghĩa là thờ quá nhiều thần phát xuất từ thiên nhiên như cỏ cây, cầm
thú và con người, v.v., thiếu ý thức về một Thực Tại Siêu Việt, thiếu
niềm tin vào một Vị Chủ Tể càn khôn. Có khi còn bình phẩm là theo
thuyết “bất khả tri” (agnosticism), nghĩa là không thể biết chắc được
những gì là siêu nhiên, nhưng chỉ có thể biết thực sự những hiện
tượng vật chất. Ngược lại, các đạo gia, khi mới tiếp xúc với Thiên
Chúa giáo, phê bình Đấng Tạo Hóa trong Kinh Thánh thiếu tính cách
siêu việt, vì hành động, tâm tình như một con người biết giận hờn,
thịnh nộ, ghen ghét, v.v., theo thuyết “thần-nhân-đồng-hình”
(anthropomorphism). Cho đến ngày nay, một số các học giả vẫn “ngại”
chấp nhận việc gán cho Thực-Tại Siêu-Việt bất cứ một danh xưng nào
như Thượng Đế, Thiên Chúa, v.v., vì sợ làm hạ giá "Nguyên Lý Tuyệt
Đối" xuống hạng phàm tục.
Đó là những hiểu lầm của cả hai bên cần
phải đánh tan. Kỳ thực, cả hai đều hướng thượng, đều cố gắng vươn lên
cõi Siêu Việt, cùng nhìn nhận một Thực-Tại Tuyệt-Đối (Tran-scendent),
đồng thời Nguyên-Lý Siêu-Việt đó cũng “ngự trị”, tồn hữu “Nội Tại”
(Immanent) nơi vạn sự vạn vật. Sau đây ta sễ tìm hiểu quan niệm thần
học của Thiên Chúa Giáo, đặc biệt theo Thánh Tôma, về “Thiên Chúa
Siêu Việt” trên hết mọi loài, mọi vật, đồng thời Ngài cũng hiện hữu
“Nội Tại” trong mọi vật mọi loài.
A. THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT (TRANSCENDENT)
Trước khi bàn luận về đề tài này, cần
phân trần cho rõ ràng để tránh ngộ nhận. Trong các sách Giáo lý phổ
thông để giảng dạy quần chúng, các tác giả thường dùng ngôn ngữ bình
dân, kiểu nói thông thường, mà các nhà thần học như Thánh Tôma... gọi
là Phương pháp Khẳng định (via positiva) và Tương Tự (analogia). Kiểu
nói này chính đáng, vì ta có thể dùng lý trí tự nhiên để minh chứng
Thiên Chúa tồn hữu, hiện hữu và tìm hiểu các phẩm tính của Thiên Chúa
như trong sách Giáo lý dạy: “Hỏi: Đức Chúa Trời là Đấng nào? – Thưa:
Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên trời đất, phép tắc vô cùng, thông minh
vô cùng, trọn tốt trọn lành, ở khắp mọi nơi...” Đây là ngôn ngữ của
loài người, trên bình diện tự nhiên, hữu hạn, tương đối. Nhưng khi đề
cập đến chính “Yếu Tính Tự Tại” (Essence in Itself), Bản Thể Siêu
Tuyệt (Supra-Substan-tiality), hoặc Thần Tính Trác Tuyệt (Eminence of
the Deity), trên cấp bậc siêu nhiên, siêu phàm thì ta khó có thể diễn
tả một cách tích cực, khẳng định được, nghĩa là ta không thể biết
thật sự “Bản Tính” Thiên Chúa “LÀ” gì, nhưng tốt hơn dùng phương pháp
phủ định (via negativa) để nói Chúa “KHÔNG LÀ”. Sau đây, sẽ trình bày
cách diễn tả theo đường lối phủ định của Thánh Tôma, của Dionysius
the Areopagite, và các nhà thần bí (mystics), cốt để bảo vệ tính cách
Siêu Việt Tuyệt đối của Thiên Chúa. Do đó, cần phải tìm hiểu ý nghĩa
thực sự của những thành ngữ có vẻ nghịch lý, “nghịch nhĩ” như: Thiên
Chúa Bất-Khả-Ngôn, Bất-Khả-Tri, Bất-Khả-Đạo, Vô-Hữu, Vô-Danh, Ẩn-Tính...
Thiên Chúa Bất-Khả-Ngôn
Kinh Thánh Cựu Ước xưng tụng Chúa là Vô
hình, Bất khả đạo (unknown) và Ẩn tàng. Yahweh phán với Mai Sen: Nhà
ngươi không thể thấy Nhan Ta được: vì đừng thấy Ta thì mới sống (Sách
Xuất hành 33:20), vì Thiên Chúa là Tuyệt đối thánh thiện vô cùng, còn
nhân loại là thuộc thế giới tương đối tội lỗi hèn hạ vô cùng, thì làm
sao con người sống nổi khi nhìn thấy Nhan Thánh Chúa mà không chết!
Tiên tri Iasia nói: Quả thật Chúa là Thần ẩn danh ẩn tính (a hidden
God), Thiên Chúa của Israel, Đấng Cứu Độ (Is 45:15). Trong Tân Ước,
Thánh Gioan viết: Thiên Chúa, không ai thấy bao giờ (Gioan 1:18).
Thánh Phao lô viết: “Như đã viết: Những điều mắt chẳng hề thấy, tai
không hề nghe, và đã không hề nhập tâm nơi một người phàm, những điều
Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Chúa” (1 Cor 2:9).
Theo Thánh Tôma, trí khôn nhân loại không
biết Chúa là làm sao, lại cũng không thể biết Chúa được. Chúa là
Bất-Khả-Đạo. Ngài viết: “Vậy, vì ta không thể biết Chúa là gì, nhưng
chỉ biết Chúa “Không phải” là, bởi đó, ta không có cách nào suy luận
xem Chúa như thế nào, nhưng ít ra biết được Chúa “không phải” như vậy”
(coi Summa Theologica I, q.3, prologus, I,q,a.7,ad. 1). Tại sao Thánh
Tôma lại chủ trương như trên? Ngài phân biệt có hai trình độ về tri
thức của con người. Trên cấp bậc tự nhiên, ta có thể dùng trí khôn,
lý trí để nhận biết “Có” Đức Chúa Trời và các phẩm tính của Chúa.
Nhưng trên cấp bậc siêu nhiên, trí khôn của loài thụ tạo không thể
hiểu biết được “Yếu Tính Tự Tại” ở nơi Chúa được. Dầu ta được nâng
lên bậc siêu nhiên nhờ Ân Sủng Chúa ban, thì Chúa vẫn là
“Bất-Khả-Tri” (unknown), vẫn là Ẩn náu. Vì ta không thể hiểu biết
được Bản Tính Siêu Việt của Chúa là gì, không biết xếp Chúa vào
“loại” (genus) nào, “hạng” (category) nào, nên không thể định nghĩa
Chúa là làm sao. Muốn định nghĩa bất cứ một sự vật gì, ta phải biết
xếp loại vật đó và các đặc điểm riêng, ví dụ: thế nào là một mẫu sư (sư
tử cái)? Mẫu sư thuộc loại “mèo”, rất dũng mạnh, là động vật bộ nhũ (có
vú), không có tóc râu rậm rạp như sư tử (đực), một mình săn mồi làm
thịt nuôi sư tử con (sư tử đực không nuôi con)... Do đó, việc định
nghĩa Thiên Chúa là điều không thể làm được, vì Chúa không thuộc bất
cứ loại nào trong trời đất, trong vũ trụ này, lại không có danh từ,
danh xưng nào dùng để đặt tên cho các loài tương đối lại có thể biểu
lộ một cách tương xứng với Yếu Tính Siêu Việt của Thiên Chúa. Vì thế,
Thánh Tôma và Dionysius mới gọi Chúa là “Bất-Khả-Ngôn”, “Vô Danh” (unnominable).
Thánh Tôma cũng giải thích thêm: con người có trí khôn suy nghĩ đi từ
thiên nhiên, tạo vật để nhận biết Chúa nhờ phương pháp tích cực,
khẳng định gọi là “Phương pháp trác việt” (way of eminence), nghĩa là
lấy những cái hiện hữu, những danh từ thông dụng để thăng cao, lý
tưởng hóa vươn lên cõi siêu việt vô biên để gán cho Thiên Chúa, chẳng
hạn, người ta có thể đặt tên “Chúa” là Chúa, là Thiên Chúa, Thượng Đế,
Ông Trời, v.v. Nhưng nên nhớ rằng những tên đó không diễn tả được
“Yếu Tính Thần Linh” của Thiên Chúa.
Đại Công Đồng Latêranô phán quyết: “Chúng
ta tin vững vàng và tuyên xưng không do dự rằng: chỉ có một Đức Chúa
Trời chân thật, vĩnh cửu, vô biên, toàn năng, bất-biến, bất-khả-tri
và bất-khả-ngôn” (ineffabilis, coi Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công
Giáo, 1994, số 202, 206).
Thiên Chúa là Siêu-Thực Thể
Khi suy luận về Thực Thể, Bản Thể, về Hữu
Thể Siêu Việt của Thiên Chúa vượt trên hết mọi loài thụ tạo, tương
đối, Dionysius gọi Chúa là “vô-hữu” (non-existent). Và Thánh Tôma
cũng chấp nhận kiểu nói đó. Dĩ nhiên, từ ngữ dùng theo kiểu phủ định
“vô-hữu”, hay “vô danh”, không có nghĩa là không có gì hết, hoàn
toàn hư vô trống rỗng, nhưng chỉ có ý thăng hóa tính cách siêu việt
vô hạn của ChúaToàn Năng mà “KHÔNG” một sự vật nào trong vũ trụ tương
đối này có thể diễn tả hay so sánh được Xét về yếu tính của sự tồn
hữu, hữu thể (esse, being), thì Hữu Thể của Thiên Chúa phải vượt trên
hết mọi tồn hữu khác, vì Bản Thể (substance) của Thiên Chúa vượt trên
hết mọi bản thể khác. Thiên Chúa là Đấng “Tự-Hữu, Tự-Hữu Tồn Tại,
Tự-Lập Tồn Hữu” (subsistent being, suum esse) còn vạn sự vạn vật đều
nhờ Chúa mà “có”, đều bởi Chúa mà ra. Sự tồn hữu của loài tương đối
thì biến đổi, nay còn mai mất. Con người có giấy khai sinh, khai tử,
lúc trẻ lúc già... Còn Thiên Chúa là Siêu-Tồn Hữu (Superesse), vì
“Chúa hằng có từ trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng
cùng. Amen.” (Kinh Sáng Danh), nghĩa là Tồn-Hữu của Chúa “đơn thường”
(simple), “đơn thuần” (pur), bất biến, vô thủy vô chung, trọn tốt
trọn lành vô cùng.
Nói tóm lại, nếu Thánh Tôma gọi Chúa là “Vô-Hữu”,
thì không phải là không “Có” Chúa, nhưng cốt ý bày tỏ tính cách siêu
việt tuyệt đối của Chúa trên mọi “cái có” của vạn sự vạn vật. Thánh
Tôma đã khéo lý luận đi từ phương pháp phủ định (via negativa) chuyển
sang phương thức trác việt (via eminentiae) để minh chứng vạn sự vạn
vật đều nhờ Chúa mà “có”, nhưng chính Chúa lại “không có” giống như
mọi loài, mà là “CÓ” một cách tuyệt hảo.
Các triết gia và các thần học gia như
Thánh Tôma đã dùng lý trí, lý luận, đặc biệt đi từ Phương pháp suy
luận Phủ định để tiến lên Phương pháp Trác việt, để khẳng định sự HỮU
tuyệt vời của Chúa. Khi suy luận để tìm Chân Lý, trí khôn nhân loại
cần phải phân biệt, phân tích các sự kiện, các lý lẽ và dùng các kỹ
thuật, phương pháp, để thí nghiệm, nghiên cứu. Nhưng kỳ thực, theo
nhà thần học Dionysius, sự Trác Việt của Thiên Chúa vượt trên hết mọi
phân loại, mọi thứ hạng (categories). Bản Thể đơn thuần của Thần Tính
Thiên Chúa “CÓ TRƯỚC” (prior) mọi sự hiện hữu, (being), mọi loài, mọi
vật, mọi phân chia ra một/ra nhiều, mọi phân biệt phủ định/khẳng định,
mọi hữu hạn/vô hạn, mọi hữu định/vô định. Nói cho cùng lý, Thần Tính
Thiên Chúa phải “Có Trước” cả con số “MỘT”, vì đã có một thì phải có
hai, đã có hai thì có ba, và như thế thành ra đa tạp. Do đó, Thiên
Chúa là Siêu-Duy-Nhất (Super-Unity). Tại sao nhà thần bí Dionysius
lại chủ trương như vậy? Tới đây ta mới lĩnh hội được ý nghĩa sâu xa
của suy luận này, vì nó giúp ta nhìn nhận “CÓ” một trật tự siêu nhiên
về các Chân Lý Siêu Nhiên mà trí khôn nhân loại không thể suy luận
khám phá ra được. Bởi vậy, cần phải chính Thiên Chúa “Mặc Khải”
(Revelation) những Chân Lý Siêu Nhiên đó cho loài người.
Sự ĐỒNG NHẤT Tuyệt đối nơi Thần Tính
Trác Việt của Thiên Chúa
Thánh Tôma coi mọi hình thức của
Nhị-Nguyên (duality), nghĩa là phân chia ra chủ-thể (subject) và
đối-tượng hay khách-thể (object) là khuyết điểm, bất hoàn toàn, là
thuộc tiềm năng (potentiality). Tại sao vậy? Vì trí khôn nhân loại
hạn hẹp không thể tức khắc thấu triệt một vấn đề được, nên cần phân
biệt chủ thể là người suy tư với các quan niệm, ý kiến, và đối tượng
là những sự vật để nghiên cứu, chẳng hạn các nhà bác học quan sát,
phân loại các sự vật trong thiên nhiên, đặt ra các giả thiết, rồi thí
nghiệm sửa đổi nhiều lần thành các định lý khoa học. Khi muốn tự kiểm
thảo, tự vấn lương tâm hay tự xét mình, con người như tự tách biệt
nội tâm của ta ra: một bên ta là “chủ thể” chủ nhiệm, và như đẩy xa
ra bên kia đời sống của ta để có thể nhìn rõ các tư tưởng, lời nói,
hành vi cử chỉ về dĩ vãng, hiện tại và các dự phóng về tương lai, xét
về nhiều phương diện khác nhau như học hỏi, hành nghề, tài chánh,
v.v. Ta cần xem xét về nhiều khía cạnh như vậy, may ra mới có thể
thấu triệt vấn đề.
Thiên Chúa là Động-Lực Thuần-Nhiên (Actus
Purus, Pure Act), nghĩa là vô cùng hoàn hảo, vĩnh cửu, tuyệt đối, là
loại trừ tiềm-lực chưa được hiển hiện ra, không cần phát triển thêm
gì nữa. Đó là định nghĩa của Thánh Tôma về Bản Tính Thiên Chúa. Trái
lại, các tồn hữu khác như nhân loại, cầm thú, cỏ cây chỉ là Tiềm-Năng
(potentiality, potentia), nghĩa là bất toàn, mới có tiềm lực mà thôi
nên cần phát triển các tài năng thêm lên mãi, thay đổi từ trạng thái
này sang tình huống khác.
Theo quan điểm của các thần học gia theo
học thuyết Thánh Tôma, thì có hai ý kiến về Bản Tính Thiên Chúa: Chúa
là Tồn-Hữu Tự-Lập (self-subsistent being, Ipsum esse subsistens),
nghĩa là Chúa tự mình mà có, vì Chúa là nguyên nhân của mọi sự hiện
hữu, và mọi sự tồn tại trong Chúa. Chúa là Trí-Lực Tự-Lập
(self-subsistent Intellection, Ipsum intelligere subsistens), nghĩa
là Chúa tự hiểu biết chính mình, vì nơi Chúa không phân chia chủ thể
và đối tượng, không có gì là tiềm năng, nhưng là Động-Lực Thuần
Nhiên, nên Trí-Lực của Chúa và đối tượng cũng là một. Chúa hiểu biết
Mình qua chính Mình. Chúa biết Mình qua Bản-Tính (essence) Mình, và
Bản-Tính Chúa là Tồn-Hữu (existence) Chúa. Do đó, Trí-Lực (intellect)
Chúa là Động-Lực Thuần-Tuý (pur Act) về hiểu biết, nghĩa là Chúa hiểu
biết chính Mình một cách minh nhiên, vì mọi sự “hiển hiện” rõ ràng
lập tức, vượt không gian thời gian, không phân biệt dĩ vãng, hiện
tại, tương lai. Trong Chúa không có gì là phức tạp, nhưng Đơn-Thuần,
vì trong Chúa, không có phân biệt: Trí-Lực Chúa, sự hiểu biết và muôn
loài có thể hiểu biết được, vì hết thảy những điều đó chẳng qua là
chính Bản-Tính Chúa (His essence) mà thôi. Bởi vậy, theo Thánh Tôma,
Bản-Tính-đối tượng và Trí-Lực-chủ thể hoàn toàn đồng-nhất làm một ở
nơi Chúa. Nơi Chúa Ý Chí hay Ý Muốn (will), và Tình Thương (Love) của
Chúa cũng là Thượng Trí, Khôn Ngoan của Chúa và cũng là Bản Tính của
Chúa: tất cả đều tuyệt đối đồng nhất, không phân biệt Ý Chí tách khỏi
Trí-Lực và Bản-Tính. Do đó, sự Khôn-Ngoan (tức Trí-Lực) của Chúa,
đồng thời cũng là Bác-Ái (Ý Chí) của Chúa.
Thánh Gioan, người môn đệ Chúa yêu, đã
được gục đầu bên Trái Tim Chúa và cũng là nhà thần bí đã cảm nghiệm
được mầu nhiệm của Tình Yêu, nên đã viết: “Thiên Chúa là Tình Thương”
(I Gioan 4:8). Tại sao vậy? Việt nam có câu “vô tri bất mộ” (không
biết thì không mến). Nơi tâm lý con người, chỉ khi nào ta biết được
giá trị, và sự tốt đẹp của một vật, chẳng hạn, một bông hoa, thì mới
phát sinh lòng yêu thích muốn hái lấy để thưởng thức. Nơi bản tính
nhân loại có sự phân biệt bông hoa (khách thể) và người ngắm hoa (chủ
thể). Nhưng nơi Bản Thể Tuyệt Hảo Đơn Thuần của Thiên Chúa thì khác.
Nơi Chúa không phân chia chủ thể/đối tượng. Nơi Chúa, Ý Muốn không
phân biệt với Thượng Trí, không khác với Bản Tính. Sự Khôn Ngoan
Thượng Trí vô hạn của Chúa Hiểu Biết chính Bản Tính vô cùng hoàn hảo
của chính Mình, thì đồng thời cũng phát sinh Tình Bác Ái vô biên. Do
đó, Chúa không thể không Yêu Mến được, vì Bản Tính Chúa là Yêu
Thương, là Thiện Hảo vô cùng! Tương tự như chén nước đầy tràn, sự
Thiện Hảo tự nó lan tràn ra chung quanh (Bonum sui diffusivum), nghĩa
là vì Chúa Yêu Mến vô cùng, nên Tình Bác Ái đó tràn lan xuống cho
nhân loại và vạn sự vạn vật trong vũ trụ này để mọi tạo vật được
hưởng nhờ vào sự Thiện Hảo của Chúa.(191)
B. THIÊN CHÚA NỘI TẠI (IMMANENT)
Thần học Công Giáo chủ trương Thiên Chúa
vừa Siêu-Việt vừa Nội Tại, vì Nội Tại của Chúa là hậu quả đi liền với
Siêu-Việt của Chúa. Tại sao? Bởi vì, nếu Chúa không hiện diện nơi vạn
sự vạn vật (Nội Tại), thì sự Siêu-Việt của Chúa bị hạn chế và hậu quả
là Chúa không còn là quyền năng Tuyệt-Đối nữa mà chỉ là tương đối.
Chúa là Siêu-Việt, nên hậu quả là Chúa bất-khả-tri, và bất-khả-ngôn,
nhưng đồng thời Chúa cũng hiện hữu thâm sâu “Nội Tại” trong mọi loài
thụ tạo, đặc biệt trong các Linh-Hồn. Do đó, có thể gặp được Chúa
trong nơi thâm cung của Linh Hồn.
Theo Thánh Tôma, ta sẽ bàn luận về Thiên
Chúa Nội Tại, vì hai lý do:
1. Thiên Chúa Toàn Tại, hay Chúa ở khắp mọi
nơi
2. Cách thế đặc biệt Chúa hiện hữu nơi tạo
vật có trí khôn
1. Thiên Chúa Toàn Tại, Ở Khắp Mọi Nơi
Thánh Kinh gọi Chúa là “Đấng Ẩn Náu”
(Hidden God), nên các Thánh Giáo Phụ như Thánh Âucơtinh, Grêgôriô,
Hilariô,... chủ trương rằng: công cuộc “khám phá” đi tìm gặp Chúa là
trở về với nội tâm của từng người. Thánh Tôma cũng viết: “Chúa ở
trong vạn sự vạn vật và ở nơi sâu thẳm của mỗi loài”. Tại sao? Vì vạn
vật được tham dự vào Bản Thể của Chúa, và sự vật nào tham gia càng
nhiều vào Bản Thể Chúa thì Chúa ngự trị càng mật thiết hơn.
Thánh Bônaventura, Thầy dạy của Thánh
Tôma, đưa ra hai lý do để biện minh tại sao Chúa hiện diện nơi vạn
vật: “một phần, vì Chúa Hoàn Hảo vô cùng, phần khác, vì vạn sự vạn
vật nghèo nàn. Chúa bao la bát ngát vô biên, quyền thế vô cùng, và
trên hết vì lý do: Chúa Đơn Thuần vô cùng, không bị giới hạn, hạn
chế: vì mênh mông bát ngát, nên gặp thấy nơi mọi sự mọi loài. Vì Đơn
Thuần tuyệt đối nên cũng quyền năng vô hạn và Chúa có quyền năng trên
muôn loài: và quyền năng Chúa và bản thể Chúa cũng là một: do đó,
Chúa phải ngự trị nơi vạn sự vạn vật”.
Thiên Chúa phải hiện diện nơi loài thụ
tạo, vì chúng không phải là “động lực thuần nhiên”, nhưng là “ngẫu
nhiên” (contingent), lúc có lúc không, nên cần Chúa nâng đỡ, phù trì
luôn thì mới tồn tại được. Do đó, Chúa hiện diện nơi vạn vật như là
nguyên nhân chủ động (efficient cause) của vạn vật.
Thánh Bonaventura dùng hình ảnh "quả cầu
tròn" để cắt nghĩa ý nghĩa Chúa “Toàn Tại” vì Chúa Đơn Thuần vô cùng:
“Vì Chúa Đơn Thuần và rộng lớn vô cùng, nên cái toàn thể ở trong mọi
sự và cái toàn thể ở ngoài mọi sự, và vì thế, có thể tưởng tượng như
quả cầu tròn, mà tâm điểm ở khắp nơi và chu vi thì không biết ở đâu.
Vì Chúa là Động Lực hiển hiện và bất biến tuyệt đối, luôn bền vững
không lay chuyển nhưng làm cho vũ trụ vận hành. Vì Chúa là hoàn hảo
và bao la vô cùng, nên Chúa ở trong mọi vật mà không bị bao gồm trong
đó; Chúa ở ngoài mọi vật mà không phải bị loại ra ngoài; Chúa cao
trên hơn mọi vật mà không xa vời; Chúa ở dưới mọi vật mà không phải
nằm liệt. Vì Chúa là Duy Nhất Tuyệt Trác và gồm đủ mọi dạng thức, nên
Chúa là mọi sự trong mọi sự: vạn vật thì đa tạp nhưng Chúa chỉ là
Một: đúng vậy, vì Chúa là Duy Nhất Đơn Thuần vô cùng, là Chân Lý
trong sáng vô biên, và là Thiện Hảo chân thành vô tận, nên mọi thông
truyền, giao kết đều ở trong Chúa, vì lý do đó “mà vạn sự vạn vật có
là “nhờ Chúa, bởi Chúa và trong Chúa” (Rom II:36).
Thánh Tôma cũng biết biểu tượng “quả cầu
tròn”, nhưng Ngài giải thích về sự Nội tại của Chúa nơi thụ tạo như
sau: Chúa hiện hữu mật thiết nơi vạn sự vạn vật, không phải là thành
phần của bản thể của những vật đó, hay là phụ thể, ngẫu nhiên
(accident), nhưng là Vị Chủ động (agent) hiện hữu nơi vạn hữu để tác
động trên chúng. Chúa Siêu Việt nhưng đồng thời cũng Nội Tại trong
muôn loài vì Chúa là Nguyên Nhân ban sự hiện hữu cho chúng, vì chúng
"có" là nhờ Chúa:” Chúa vượt trên mọi sự vì Bản Thể Trác Tuyệt, nhưng
Chúa ngự trị trong muôn loài vì Chúa là Cội Nguồn của tồn hữu vạn
vật”. Chúa ngự trị nơi các vật thụ tạo vì chúng không tự mình mà “có”
được và cũng không thể tiếp tục tồn hữu nếu không có Chúa hoạt động
và hỗ trợ để chúng tồn tại. Chúa luôn bao bọc che chở chúng, và vì
vậy, có thể nói mọi sự mọi vật tồn hữu trong Chúa. Thánh Tôma cũng
dùng biểu tượng “nét mặt và gương soi”, để sánh ví giúp ta tìm hiểu
sự hiện diện của Chúa trong vạn vật: một khuôn mặt mà chiếu ra nhiều
“hình “ trên những tấm gương khác nhau, nhưng cũng bởi một khuôn mặt
mà thôi. Cũng vậy, người ta thì “bá nhân bá tính”, mỗi người tin một
khác, nhưng đã là “người” thì ai cũng đồng ý về những nguyên lý căn
bản siêu hình hay thực hành như: nhân loại có lý trí, hiểu biết, tình
yêu..Đó là những “hình ảnh “ của Chân Lý Tuyệt Đối phản chiếu một
cách phổ quát nơi tâm trí nhân loại. Do đó, Kinh Thánh mặc khải cho
biết :con người toàn vẹn gồm xác và hồn là “hình ảnh của Thiên Chúa”
(Sáng Thế. 1:26..), vì Chúa cho con người cộng tác và cai quản vũ
trụ: “Nhân linh ư vạn vật”. Thánh Tôma giải nghĩa thêm: Hình ảnh chỉ
là sự bắt chước một vật nào đó, bản chất của hình ảnh không ngang
hàng với chính con người, hay vật đó. Bởi vậy, con người chỉ là hình
ảnh, là “tương tự” (similitudo, likeness)bất toàn về sự hoàn hảo vô
cùng của Chúa. Con người không phải là Chúa, không ngang hàng bằng
Chúa, nhưng chỉ là”hình ảnh Chúa”mà thôi! Cũng có thể dùng một kiểu
sánh ví khác, giúp ta hiểu về mối tương quan giữa Chúa và nhân loại,
ví dụ: trăng sáng chiếu xuống trăm nghìn mặt nước như biển, sông,
hồ...tạo thành muôn nghìn hình “mặt trăng “ giống nhau, nhưng cũng
chỉ có một trăng rầm mà thôi!
2/ Mọi loài Thụ Tạo Tham Dự vào Bản Thể
Thiên Chúa bằng nhiều cách thức khác nhau.
Việc Chúa hiện diện nơi vạn sự vạn vật,
hay mọi loài thụ tạo “tham dự” (participation) vào Bản Thể Chúa, theo
Thánh Tôma, thì có nhiều cách thức khác nhau, trên bình diện tự
nhiên. Thực ra, chỉ có loài có trí khôn, mới đáng được gọi là "hình
ảnh" của Chúa; nhưng loài không có trí khôn, cũng có thể là "hình
ảnh" của Chúa, vì chúng cũng "tham dự" vào sự "giống" Chúa, một phần
nào, tùy theo cấp bậc của chúng. Xét về lý do tồn hữu (sub ratione
entis), thì Chúa là Tồn Hữu Tuyệt Đối, Hoàn Hảo, còn sự tồn hữu của
mọi loài thụ tạo chỉ là bất toàn, nhưng chúng cũng có một mối “tương
tự” với Chúa, nghĩa là Chúa "CÓ", và vạn vật cũng "có", nên hết thảy
đều được tham gia một phần nào, với một cấp độ nào, vào hình ảnh của
Chúa. Xét về lý do sự sống (sub ratione vitae), tất cả các sinh vật
đều được tham dự vào sự “tương tự”, là hình ảnh Chúa, vì chúng cũng
có sự sống. Xét về lý do sự khôn ngoan (sub ratione sapientiae),
loài có trí khôn đều được tham gia vào sự tương tự với Chúa, vì chúng
có lý trí. Thực ra, chỉ có loài người có trí khôn mới đáng gọi là
“hình ảnh của Chúa”.
3/ Loài có Trí Khôn Tham Dự vào Bản Thể
Thiên Chúa bằng những cách thức nào?
Theo Thánh Tôma, loài người có trí khôn
được tham dự vào sự tương tự với Chúa, là hình ảnh Chúa bằng ba cách
thế: một là, theo khuynh hướng tự nhiên, con người có thể hiểu biết
và yêu mến Chúa được, đó là yếu tính của lý trí con người: đã là
người thì ai cũng có khả năng ấy; hai là, dầu một cách bất toàn, con
người hiện tại, thường vẫn hiểu biết và yêu mến Chúa; do đó, con
người là hình ảnh Chúa vì con người cố gắng thuận theo Ân Sủng Chúa
ban; ba là, con người biết và yêu mến Chúa một cách hoàn hảo: đó là
con người được tham dự vào hình ảnh vinh quang của Chúa
Ta nên chú ý đến quan niệm thần học của
Thánh Tôma về sự Cứu Độ, đã ảnh hưởng đến các giáo thuyết hiện đại về
“tự do tôn giáo và giá trị của các tôn giáo ngoài-Thiên Chúa Giáo. Đó
là “Học Thuyết Thánh Tôma về Siêu Việt” (Transcendental Thomism).
Theo học thuyết này, Chúa hành động trong vũ trụ này qua các “đệ nhị
nguyên nhân” (secondary causes), tức là các loài thụ tạo. Chúa là Đệ
Nhất Nguyên Nhân (First Cause, Prima Causa), là Đệ Nhất Tác Nhân
(First Agent, Primum Agens), nhưng Chúa không trực tiếp”can thiệp”
vào thế giới này, theo nghĩa Chúa làm ngưng trệ hay sửa đổi sự vận
chuyển, vận hành bình thường của các biến cố trong vũ trụ. Là “Nguyên
-Động-Lực, Chúa “can dự” vào loài thụ tạo, theo nghĩa Chúa “hiện
diện” ngay từ lúc khởi thủy nơi vũ trụ, và vũ trụ luôn qui hướng về
Chúa rồi. Do đó, mọi hành động của con người được hoàn toàn tự do,
nhưng đồng thời tự căn bản chúng đã bắt nguồn nơi Ân Sủng, hay sự
hiện diện của Chúa. Theo học thuyết này, trên bình diện tự nhiên,
(không có Ân Sủng siêu nhiên mà Chúa tự ý ban), con người “đã có "
khả năng để nhận biết và yêu mến Chúa rồi, vì đấy là khuynh hướng tự
nhiên,nơi bản tính con người. Thánh Tôma gọi khả năng đó là “Tiềm
Năng Phục Tùng” (potentia obedientialis, obediential potency), nghĩa
là từ trong căn bản, con người cởi mở, hướng về và có thể tiếp nhận
Ân Sủng siêu nhiên. Tại sao gọi là “phục tùng” vâng lời ? Vì con
người không có quyền khiếu nại, đòi buộc Chúa, nhưng phải tùng phục
tùy Chúa ban thì mới tiếp nhận được. Cái “tiềm năng căn bản” đó, nhà
thần học nổi tiếng thế kỷ 20, Karl Rahner (1904-1984) đặt tên là”tồn
tại siêu việt” (supernatural existential), nghĩa là sự biến đổi
thường xuyên nơi đời sống con người (existential) nơi thâm tâm con
người, nhờ đó, con người được cải hóa từ nội tâm để qui hướng về
Thiên Chúa (supernatural). Đây không phải là chính Ân Sủng, nhưng mới
chỉ là “lời mời”để cung cấp Ân Sủng mà thôi, vì con người có thể tự
do tiếp nhận hay từ chối Ân Sủng. Danh từ Ân Sủng (gratia, grace) các
nhà thần học dùng để chỉ Thiên Chúa”Tự-Thông -Truyền chính Mình”
(Self-Communication), như một Ân Huệ để nhân loại được nên thánh
thiện, công chính, và được hạnh phúc trường sinh bất diệt. Ân Sủng
hay sự Tự-Thông-Truyền này là một hành vi tuyệt đối tự do của Chúa
ban cho loài thụ tạo hữu hạn, vì Chúa là Tình Yêu Thương vô biên (1
Gioan 4:8) tràn ra. Tự “bản tính tự nhiên” (nature), con người không
có quyền đòi hỏi Ân Sủng siêu nhiên đó
Nói tóm lại, các thần học gia theo Học
thuyết Thánh Tôma về Siêu Việt muốn nhấn mạnh về hai điểm: một là, Ân
Sủng là một Hồng Ân Chúa hoàn toàn tự ý ban cho, vì Tình Yêu vô biên
và vì Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa giáng thế làm Người, tự bản tính
tự nhiên, nhân loại không có quyền đòi hỏi; hai là, Thiên Chúa cũng
tạo dựng bản tính con người, tự trong căn tính đã có sẵn tiềm năng
hướng về sự hiểu biết và yêu mến Chúa. Do đó, mỗi người đều có “tiềm
năng căn bản “ đó, và rất nhiều người, có thể hầu hết đã “hiện thực”
(actualized) tiềm năng ấy, bằng cách tiếp nhận Ân Sủng. Cũng vì lý do
đó, có ý kiến cho rằng: mọi người, dầu ở ngoài Đạo Mặc Khải (Thiên
Chúa Giáo), cũng có thể nhận biết và yêu mến Chúa vì “Chúa đã hiện
hữu trong tâm trí họ rồi” (graced nature)
4/ Thiên Chúa Hiện Diện cách Đặc Biệt nơi
Loài có Trí Khôn
Như trên đã trình bày quan niệm thần học
của Học thuyết Thánh Tôma về Siêu việt, thành ngữ “Tồn tại Siêu việt
(supernatural existential) cũng có nghĩa là Thiên Chúa vừa Siêu Việt
trên vạn vật, đồng thời Tồn Hữu nơi mọi loài
Theo Thánh Tôma, có ba cách thức Chúa kết
hiệp(mode of union): một là, trên bình diện tự nhiên, đối với hết mọi
loài, Chúa ở trong chúng bằng bản tính tự nhiên(nature), nghĩa là
bằng uy quyền, hiện hữu và yếu tính; hai là, đối với các vị thánh
nhân, Chúa kết hiệp bằng Ân Điển; ba là, Chúa kết hiệp nơi Chúa Cứu
Thế bằng cách thế độc nhất, các thần học gia đặt tên là “Nhiệm-Hiệp”
(hypostatic union)
Xét theo phương diện “tương tự”
(secundum similitudi-nem), vì Chúa là Thiện Hảo vô cùng, bởi vậy, hễ
vật nào là tốt lành, thiện hảo, thì “giống như “ được chung phần vào
sự Thiện Hảo của Chúa: Chúa ở trong những vật ấy bằng yếu tính, hiện
hữu và uy quyền. Đây là cách thế chung cho mọi loài, trên bình diện
tự nhiên. Chúa hiện diện nơi vạn vật bằng yếu tính(essence), vì uy
quyền của Chúa đồng nhất với Yếu Tính của Chúa; Chúa hiện diện nơi
vạn vật bằng hiện hữu (presence), vì Chúa đang hoạt động nơi vạn vật
như Tác nhân, và bằng một cách nào đó, tác nhân phải hiện diện nơi
công trình của họ; Chúa hiện diện nơi vạn vật bằng uy quyền(po wer),
vì uy quyền Chúa bảo toàn cho muôn loài tiếp tục hoạt động.
Xét về phương diện Thực Thể (secundum
substantiam), đây mới là cách thế đặc biệt Chúa hiện hữu nơi linh hồn
các thánh nhân bằng Ân Sủng, trên bình diện siêu nhiên (supernatural
order). Đối với linh hồn các thánh nhân, Chúa hiện diện, chẳng những
vì “tương tự” mà thôi, nghĩa là bằng tác động; nhưng bằng đức tin và
bác ái nữa.
Xét về phương diện Tồn Hữu (secundum
esse, being). Không những Chúa chỉ tác động, nhưng kết hiệp bằng “Tồn
Hữu”. Trong cách thức này, Chúa ở trong Chúa Cứu Thế, gọi là “Nhiệm
Hiệp” (hypostatic union). Đây cũng là cách thế chung cục về sự hiện
diện của Chúa
Nhà thần học Cajetan (1469-1534) đã viết
một sách chú giải về bộ Summa Theologica của Thánh Tôma, cũng chủ
trương: Chúa hiện diện nơi mọi tạo vật một cách tổng quát, vì Chúa là
nguyên nhân chủ động, thành sự, hữu hiệu (effective) trên mọi loài
mọi vật; còn nơi các thánh nhân thì Chúa là đối tượng (objective) của
sự nhận biết và yêu mến, nhờ Ân Sủng Chúa ban cho. Do đó, lý do chính
của cách thức đặc biệt Chúa ngự trị trong linh hồn các thánh nhân là
nhờ Ân Sủng Thánh Hóa (Sanctifying Grace), các ngài đã chiếm hữu,
hưởng thụ, và cảm nghiệm được Chúa.Trong cách thế đặc biệt này, linh
hồn như chứng nghiệm (experimental) thấy Chúa là đối tượng đáng hiểu
biết, đáng hưởng thụ (ut objectum experimentaliter cognoscibile et
fruibile) .Bởi vậy, Chúa hiện diện một cách chân thực trong linh hồn
người công chính, tuy sự cảm nghiệm này có thật, như thể linh hồn
được "chạm" tới Chúa( quodam experimentali tactu) nhưng cảm nghiệm
này vẫn còn tối mờ, chẳng khác nào như khi ta biết được có linh hồn,
nhưng chưa nhìn thấy linh hồn.
Sự nhận thức do chứng nghiệm được Chúa
ngự trong linh hồn là sự nhận thức bởi đức Tin , nhưng cũng bởi ân
huệ khôn ngoan Chúa ban, như là một thứ “vị giác”, (tasting) , và là
cảm nghiệm thấy Chúa trong nội tâm; sự khôn ngoan này phát xuất từ sự
kết hiệp và sự đồng-bản-tính (connaturality) với Chúa( ex quadam
intima experientia divinorum). Đây là cảm nghiệm về chính Chúa, và
linh hồn được kết hợp với Chúa, nhờ sự đồng-bản- tính nào đó(a
certain connaturarity) với Chúa là nguyên lý ban sinh lực cho đời
sống, bây giờ và từ trước, vẫn là sự sống của sự sống chúng ta, linh
hồn của linh hồn chúng ta (tamquam vivificante nos, sicut si esset
vita vitae nostrae et anima animae nostrae). Chính cách thức đặc biệt
Chúa ngự trị trong linh hồn người công chính, gọi là “Đền Thờ” Chúa
Thánh Thần (indwelling of the Holy Spirit).(192)
ĐOẠN III. THIÊN CHÚA TẠO HÓA
Gọi là Thiên Chúa Giáo, vì Đạo này tin
vào một Vị Chúa Tể tạo dựng vũ trụ càn khôn, và cũng xác nhận: vũ trụ
này có một khởi thủy và một cứu cánh
Giáo thuyết sáng tạo được diễn tả trong Kinh
Thánh Cựu Ước, bộ Ngũ Kinh (pentateuque) gồm năm quyển; quyển đầu là
Sách Sáng Thế (Genesis). Ở đây, không chủ ý chú giải Sách Sáng Thế
theo phương pháp khoa học Kinh Thánh, hay theo thuyết biến hóa
(evolutionism), nhưng chỉ đứng về phương diện triết học, thần học,
rút ra những nguyên lý làm nền tảng cho niềm Tin vào một Đấng Tạo
Thành vũ trụ càn khôn. Ta sẽ lần lượt trình bày: 1/ Sáng tạo từ Hư
vô, Sáng tạo bằng “Lời”' 2/ Thuyết Sáng tạo đặt căn bản trên quan
niệm Bản vị, nhân vị, 3/ Cứu cánh của vũ trụ được tạo dựng là qui
hướng về Chúa Cứu Thế
1/ Thiên Chúa Sáng Tạo từ Hư Vô, Sáng Tạo
bằng “Lời”
Tính chất thiêng liêng siêu việt của công
cuộc tạo thành được biểu lộ trong quan niệm “Sáng Tạo từ Hư Vô”
(creatio ex nihilo). Thành ngữ này xuất hiện trong Kinh Thánh Cựu
Ước, sách II. Macabê, 7:28 :" Hỡi con, mẹ xin con hãy ngước nhìn trời
đất mà xem tất cả mọi sự vật trong đó, và hãy biết rằng Thiên Chúa đã
làm ra chúng, không phải do vật gì đã có trước và về loài người thì
cũng như thế”. Quan niệm “Tạo dựng từ Hư Vô” biểu lộ uy quyền tuyệt
đối, siêu việt của “Lời” Thiên Chúa
Theo Kinh Thánh và chú giải của thần học
thì việc tạo dựng vũ trụ do “LỜI” (Verbum, Logos, Word) uy quyền vô
biên của Đấng Tạo Hóa: “ Thiên Chúa Phán một Lời: “ Hãy có ánh sáng,
và ánh sáng có... (Sáng thế ký, Genesis: 1:3..). Dĩ nhiên, “Lời” của
Chúa chỉ quyền năng, sức mạnh vô biên của Đấng Tạo Hóa, khác với lời
nói của nhân loại. Lời của Chúa phát ra bởi một Ngôi Vị Siêu Việt,
khác với lời nói của người phàm. Hơn nữa, quan niệm sáng tạo vũ trụ
bằng Lời biểu thị sự linh thiêng cao cả của Thiên Chúa, nghĩa là Ngài
không cần phải"nhúng tay vào bùn đất” để nhào nặn nên những hình thù
của loài thụ tạo. Sức mạnh và uy quyền của “Lời” khiến muôn vật tồn
hữu, hiện hữu mà Ngài vẫn là Chúa Siêu Việt trên hết mọi loài. Không
có “LỜI” thì không có vạn sự vạn vật( coi: Gioan, 1:3)
Mặt khác, quan niệm về “Lời” Thiên Chúa
dẫn đến ý niệm Thiên Chúa là Ngôi Vị, vì bản thể của Lời là một Ngôi
Vị. Dĩ nhiên, Lời của Chúa có quyền năng vô cùng, nên “khi Chúa phán
một Lời thì liền có trời đất”, nghĩa là lúc đó vạn sự vạn vật phát
xuất bởi “Lời”, và đều qui hướng về Nguyên Thủy là Thiên Chúa Ngôi
Vị. Do đó, Ngôi Vị Thiên Chúa được phản ánh trên tất cả các loài thụ
tạo. Vì lý thuyết về sáng tạo đặt căn bản trên quan niệm ngôi vị, nên
Sáng tạo và Ngôi vị đi liền nhau cũng như tồn hữu đi đôi với ngôi vị.
Cũng như đồ vật “có” là bởi có “ai” đó” làm ra, nó không thể “tự
nhiên”, bỗng nhiên mà “có” được. Đi từ vật nhỏ mọn, tầm thường trước
mắt, rồi suy rộng ra vũ trụ càn khôn thì cũng “tương tự” như vậy. Bởi
vậy, vũ trụ này “có” là do bởi một Ngôi Vị Tuyệt Đối đã tạo thành nên
nó.
Dĩ nhiên, Thiên Chúa là bất-khả-ngôn, vì
Ngài là Thực Tại Tuyệt Đối, ta không thể hiểu, không tài nào diễn tả
được Bản Tính của Chúa. Ta cũng không thể hiểu được công việc sáng
tạo vũ trụ của Ngài nữa! Vũ trụ này vẫn là một huyền bí, không thể
thấu triệt được. Do đó, khi đọc Kinh Thánh, ta thấy Thiên Chúa được
sánh ví như “ông thợ gốm”, như “bác thợ mộc”..., thì phải hiểu một
cách “tương tự” với những hành động của nhân loại. Thật sự, sự tồn
hữu và hành động của Đấng Tạo Hóa là độc nhất vô nhị, khác với sự tồn
hữu và hành động của loài người. Tất cả những lý luận triết học, thần
học, những ý tưởng, hình ảnh hay ngôn từ để diễn tả về Thiên Chúa đều
phải hiểu một cách tương tự mà thôi! Nếu nói Thiên Chúa là Nguyên
Thủy, là Nguyên Do đệ nhất (prima causa) của vũ trụ càn khôn, thì
cũng phải hiểu theo nghĩa tương tự.
Theo quan điểm triết lý của nhà sinh-vật
-học Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955), vì vũ trụ là phản ánh
của một Ngôi Vị Siêu Việt, nên vũ trụ cũng mặc lấy ít nhiều nét ngôi
vị của Ngôi Vị Tuyệt Đối ấy. Tính chất ngôi vị thấm nhuần vào trong
tạo vật do Đấng Tạo Hóa tác thành. Tuy cũng là tạo vật, nhưng chỉ
nhân loại mới có tính chất nhân vị đầy đủ hơn các loài thụ tạo
khác:”Nhân linh ư vạn vật”. Trong hai cuốn sách “Le Phenomène humain”
(1938-40) và Le Milieu divin (1957), Teilhard de Chardin đã có thể
dung hòa hai quan niệm về tâm linh: một la, quan niệm Đạo lý Đông
Phương chủ trương “Vạn vật đồng nhất”, nghĩa là cái “tôi” đã mất để
đồng nhất với vũ trụ thành một thực thể vô-bản-vị (impersonal); hai
là, quan điểm Ngôi Vị Tây Phương, đặc biệt của Thiên Chúa Giáo nhấn
mạnh: vũ trụ vạn vật phải qui hướng về Thiên Chúa, về Chúa Cứu Thế
(Christocentrism) là Ngôi Vị Thiên Chúa và là Tâm Điểm, Tột Điểm của
đời sống.
Đối với Teilhard de Chardin, vũ trụ này
là một vũ trụ có “bản vị” và là vũ trụ đang trở thành bản vị (a
personal Universe and a personalizing Universe). Bởi lẽ “vũ trụ rất
mênh mông bát ngát, chúng ta sẽ bị lạc mất nếu vũ trụ không qui tụ về
một Bản Vị, Ngôi Vị”. Tất cả vũ trụ này đồng qui về một mối, nhưng
cái mối đồng nhất đó không phải là “bến bờ vô hạn”, không phải là
mông lung mờ mịt, nhưng mối đó là một Ngôi Vị Tuyệt Đỉnh. “Thiên Chúa
đã tự mặc khải ở mọi nơi như là “cảnh vực bao la bát ngát” chỉ vì
Chúa là “Cực Điểm” (Ultimate Point) mà mọi tạo vật phải qui tụ về”.
Cảnh vực thần linh (le Milieu divin) bao la bát ngát tới đâu, thật
sự, vẫn cần phải có một Tâm Điểm. Và theo Teilhard de Chardin, Tâm
Điểm của vũ trụ chính là Chúa Cứu Thế, “Ngôi Lời của Thiên Chúa
(Verbum Dei) (193).
2/ Vũ Trụ Đồng Qui về một mối là Chúa Cứu
Thế
Đối với Teilhard de Chardin, quan niệm
“vạn vật đồng nhất”của Đông Phương và quan niệm “vũ trụ bản vị, ngôi
vị” không mâu thuẫn nhau. Tính chất bản vị của vũ trụ đặt nền tảng
nơi Đấng Tạo Hóa, là Ngôi Vị Tuyệt Đối. Chính Thực Thể Tuyệt Đối đó
đã ban cho mỗi loài được có một bản vị, còn Thiên Chúa là Một
Siêu-Đẳng-Ngôi-Vị. Qua tác phẩm của nhà cổ-sinh-vật-học
(paleontologist) đã thực hiện những công trình khảo cổ tại Trung Hoa,
ta nhận thấy tư tưởng này: Vũ trụ đang biến hóa theo chiều hướng
bản-vị-hóa. Nhân loại và vũ trụ được bản-vị- hóa đang đồng qui về
“một mối đồng nhất” là Ngôi Vị Tối Cao, chính là Chúa Cứu Thế.
Tại sao sự sáng tạo nên vũ trụ lại liên
quan mật thiết, nội tại với Chúa Cứu Thế, và với sự Cứu Độ?
Theo cách suy luận thần học của nhà thần
học Karl Rahner và Karl Barth thì Cựu Ước tức là Giao ước ký kết giữa
Thiên Chúa và dân Chúa tuyển chọn (dân Dothái) đã được thực hiện thi
hành ở Tân Ước nơi chính Con Người của Đấng Cứu Thế, vì là “LỜI” của
Thiên Chúa. Thánh Gioan đã diễn tả chân lý đó trong Phúc Âm theo
Thánh Gioan, đoạn I, câu 1-3, 14: Sau đây là bản dịch ra cổ văn Trung
Hoa do học giả nổi tiếng thời cận đại là Ngô Kinh Hùng thực hiện,
trong đó ông dùng nhiều thành ngữ, danh từ, điển tích cổ văn để
“chuyên chở” một nội dung mới của Thiên Chúa Giáo, chẳng hạn chữ
“ĐẠO”. Danh từ này bao hàm nhiều ý nghĩa: “đạo” là đường, “đạo” là
bổn phận tùy theo địa vị, cấp bậc như: đạo vợ chồng, đạo làm con..’
“đạo” là lời nói, như đàm đạo. “Đạo”là nguyên lý siêu việt trong
triết lý như “Đạo” (Đạo Đức Kinh) của Lão Giáo...Khi dịch đoạn sách
Phúc Âm của Thánh Gioan, Ngô Kinh Hùng đã dùng chữ “ĐẠO” (Logos,
Verbum, Word of God), để ám chỉ Đấng Cứu Thế là “LỜI” của Thiên Chúa
phán ra, vì chính Ngài cũng là Thiên Chúa giáng trần để mặc khải,
biểu lộ những mầu nhiệm cao siêu cho nhân loại’ cũng có thể hiểu chữ
“ĐẠO” theo ý nghĩa siêu hình, vì Chúa Cứu Thế là Nguyên Lý Tuyệt Đối,
là Nguyên Thủy và là Cứu cánh (Alpha and Omega) của vũ trụ và nhờ
Ngài mà vũ trụ được tạo thành:
“Thái sơ hữu ĐẠO, dữ Thiên Chủ giai, ĐẠO
tức Thiên Chủ, tự thủy dữ giai. Vi ĐẠO vô vật, vật nhân ĐẠO sinh,
thiên địa vạn hữu tư ĐẠO dĩ thành. Tư ĐẠO chi nội, uẩn hữu Sinh Mệnh,
Sinh Mệnh tức Quang, sinh linh sở bẩm. Quang chiếu minh minh, minh
minh bất lĩnh...Duy Bỉ Chân Quang, phổ chiếu sinh linh, phàm sinh ư
thế, tư chi dĩ minh... ĐẠO thành nhân thân, cư ngã sài trung, ngô sài
thân đổ, khổng đức chi dung, duy nhất Thánh Tử, vô thượng Quang Vinh,
diệu sủng chân đế, sung dật quyết cung.”. (Gioan,I:1-5,9,14) Bản dịch
Việt ngữ:” Lúc khởi nguyên đã có (NGÔI)LỜI, và (NGÔI) LỜI ở nơi Thiên
Chúa, và NGÔI LỜI là Thiên Chúa, Ngài đã ở cùng Thiên Chúa từ nguyên
thủy. Không có NGÔI LỜI thì không có vạn vật, vạn vật nhờ NGÔI LỜI mà
sinh ra, trời đất muôn loài tồn hữu nhờ NGÔI LỜI mà thành sự. Trong
NGÔI LỜI có tiềm tàng SỰ SỐNG, SỰ SỐNG là SỰ SÁNG cho nhân loại. Sự
Sáng chiếu trong u tối, mà u tối không thấu triệt được để lãnh nhận
sự Sáng...Chỉ có Ngài là sự Sáng đích thật, chiếu cho mọi người, sinh
nơi trần thế, nhờ vậy mà được sáng.... Và NGÔI LỜI thành xác người
phàm, cư ngụ ở giữa chúng ta, chúng ta đươc thấy Vinh Quang cao cả
của Ngài, Vinh quang mà Chúa Cha ban cho Thánh Tử duy nhất, tự nơi
mình tràn đầy Ân Điển và Chân Lý”(194) .
Suốt dòng lịch sử của vũ trụ và của nhân
loại, Thiên Chúa biểu lộ, mặc khải quyền năng qua những kỳ công mà
khoa học mỗi ngày vẫn khám phá ra những bí mật và qua các vị “Phát
ngôn” (prophet) của Chúa, thường gọi là tiên tri, ngôn sứ. Nhưng đến
thời gian đã định, Thiên Chúa đã sai Thánh Tử cũng chính là Ngôi Hai
Thiên Chúa nhập thể để mặc khải, phát biểu, phán dạy những chân lý là
sự Sáng dẫn đưa nhân lọai đến sự Sống vĩnh cửu. Bởi vậy, theo ý nghĩa
của đoạn Phúc Âm trên: muôn tạo vật được tạo dựng bởi Lời Thiên Chúa,
và vũ trụ này được cứu độ cũng là nhờ NGÔI LỜI NHẬP THỂ. Vì lý do đó,
tất cả vũ trụ đều qui hướng về Chúa Cứu Thế như Tâm điểm Tuyệt đỉnh.
Hơn nữa, việc sáng tạo vũ trụ và nhân loại do Ngôi Lời mà có, cũng
chính là điều kiện để Ngôi Lời có thể Nhập Thể, nghĩa là mặc lấy xác
phàm để cứu độ sinh linh và vũ trụ.
Vì lý do sâu xa và bí nhiệm nào mà Thiên
Chúa đã thực hiện chương trình sáng tạo và cứu độ qua sự Nhập Thể của
Ngôi Lời?
Thưa, chính là Tình Thương vô hạn của
Thiên Chúa là động lực của công trình sáng tạo và cứu độ. Bản Thể của
Thiên Chúa là Tình Thương vô vị lợi (Agape) .Tình Thương vị tha, vô
hạn không phải là một động lực ở ngoài Thiên Chúa, nhưng chính tự Bản
Thể. Thiên Chúa hoàn toàn tự mãn, và viên mãn, chỉ vì Tình Thương vị
tha vô bờ bến mà tạo dựng nên vũ trụ và nhân loại, khác biệt với Ngôi
Vị Thiên Chúa. Cũng vì Tình Thương vị tha vô hạn đó mà Thiên Chúa đã
sai Ngôi Lời nhập thể giáng thế để cứu độ chúng sinh. Chính Ngôi Lời
Thiên Chúa đã mặc khải Tình Thương vị tha vô biên khi Nhập Thể, chịu
Tử Nạn trên Thập giá, và Phục Sinh vinh hiển.
Chỉ vì Tình Thương vị tha vô biên mà Ngôi
Lời, tức Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự hạ mình xưống, “tự-hư-vô-hóa”
(kenosis, emptying of Christ) làm phận tôi tớ hèn hạ..Thư của Thánh
Phaolô gửi Philiphê II:6-8, đã diễn tả quan niệm tự khiêm tự hạ, tự
hư vô vì Tình Thương như sau:
“Ngôi Lời đồng bản tính với Thiên Chúa, nhưng
chẳng nghĩ mình ngang hàng với Thiên Chúa. Mà hạ mình (Kenosis,
Self-Emptying, Self renunciation) nhận làm hạng tôi đòi, phàm nhân.
Và khi đã mặc lấy hình thể phàm nhân rồi, Ngôi Lời Thiên Chúa còn tự
hạ hơn nữa, là đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”.
Nói tóm lại, chỉ vì Tình Thương vị tha vô
hạn tự trong Bản Thể Thiên Chúa (Thiên Chúa = Tình Thương)mà Ngôi Lời
Thiên Chúa đã tự hạ mình Nhập Thể để cứu độ nhân loại tội lỗi. Cũng
chính bởi Tình Thương vị tha vô biên đó mà Thiên Chúa, qua trung gian
của Ngôi Lời Nhập Thể, đã sáng tạo nên nhân loại và vũ trụ càn khôn.
Do đó, quan niệm cứu độ và sáng tạo liên hệ với nhau vì đều phát xuất
từ một Tình Thương vị tha vô hạn, và đều qua Trung gian của Chúa Cứu
Thế là Ngôi Lời Thiên Chúa.
ĐOẠN IV. NIỀM TIN VÀO MỘT VỊ THƯỢNG ĐẾ
Trong chương sáu, đã đề cập đến quan
niệm triết lý, siêu hình của các triết gia, các nhà Đạo Học, Phật Học
về Một Nguyên Lý Tuyệt Đối trừu tượng, làm nền tảng cho sự hiện hữu
của vạn sự vạn vật. Trong chương bảy và trong đoạn này, sẽ bàn luận
về niềm Tin vào Một Vị Chúa Tể càn khôn, tạo thành vũ trụ càn khôn,
mà theo Truyền Thống dân gian Trung Hoa gọi là THƯỢNG ĐẾ, THIÊN đã
được Đức Khổng Phu Tử san định trong Tứ Thư Ngũ Kinh, và theo Truyền
Thống dân gian Việt nam, đặc biệt trong Ca dao, Tục Ngữ.., mà mọi
người dân Việt, bất kể thuộc tôn giáo nào, thường gọi là “ÔNG TRỜI”.
Truyền Thống cố hữu này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, mà đặc điểm
là niềm Tin vào Một Đấng Toàn Năng tạo thành vũ trụ và muôn vật muôn
loài.
Theo các học giả am tường về tôn giáo và
các nhà nghiên cứu về văn minh Trung Hoa như L. Wieger, L. Legge..
Trần Trọng Kim, Julia Ching.., ngay từ khi lập quốc, nghĩa là từ đời
Nghiêu (2356 B.C), Thuấn (2255 B.C) vẫn có hai dòng tư tưởng giải
nghĩa về nguồn gốc của vũ trụ và của con người. Tuy ai cũng đều tin
vào Hóa Công như là Nguyên Nhân Đệ Nhất sinh thành ra vũ trụ càn
khôn, nhưng theo niềm tin tự nhiên của đại đa số dân chúng, thì vẫn
thường gán cho Cỗi Nguồn cao cả đó như “Một Đấng”, rất đáng kính,
đáng sợ, đáng tôn thờ, vượt trên hết mọi loài mọi sự; đồng thời, đi
song hành lại có luồng tư tưởng nghiêng về lý luận trừu tượng, siêu
hình (ngày xưa gọi là”Hình-nhi-Thượng -học”), quan niệm “Đấng ấy” là
một Nguyên Lý Siêu Việt. Khuynh hướng này khai triển mạnh vào thời
nhà Tống, chịu ảnh hưởng của Lão giáo và Phật giáo, do các môn phái
Lý Học, Đạo Học của Chu Hy và Tâm Học của Vương Dương Minh
Tuy phân biệt hai truyền thống Trung Hoa
và Việt Nam, nhưng thật sự, hai truyền thống này cũng là một, vì cùng
đặt niềm Tin vào Một Vị Chủ Tể mà người ta có thể lễ bái, đối thoại,
cầu khẩn để xin thi ân giáng phước. Cách thế để biểu lộ lòng tôn
sùng, kính sợ "Đấng ấy" thường mượn những ngôn từ, hình ảnh theo
phương pháp "loại suy" hay “tương tự”,(analo gy, giống như con người,
gọi là “thần nhân đồng hình”), nhưng phải hiểu là "Đấng ấy" ở bậc cao
siêu vô cùng. Chẳng hạn, "Vị Thiên" hay "Ông Trời" có thể nghe, xem,
nổi giận, thưởng phạt....Vì hai truyền thống rất gần nhau, nên những
đặc tính, phẩm tính gì của Vị Thượng Đế hay Thiên trong truyền thống
Trung Hoa, thì cũng đúng với niềm Tin của người Việt nam, vì các danh
từ Thượng Đế hay “Ông Thiên”, "Ông Trời", vẫn thường dùng trong ngôn
ngữ của dân chúng Việt nam. Vả lại, giới sĩ phu Việt Nam, suốt mấy
ngàn năm, vẫn nghiền ngẫm Tứ Thư Ngũ Kinh:" Sớm nghiền kinh sử, tối
bàn văn chương” (Phan-Trần), nên đã chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của
văn hóa và tư tưởng Trung Hoa
Trong Đoạn này, ta sẽ lần lượt xem xét
những điểm như: 1/ Danh xưng chỉ Đấng Tối Cao
2/ Thượng Đế trong Tứ Thư Ngũ Kinh,
trong Nho Giáo thời nguyên thủy
3/ Nhà truyền giáo, cũng như học giả
tây phương, đặc biệt Linh Mục Mateo Ricci đã phê phán thế nào về niềm
tin vào Vị Thượng Đế, về danh hiệu “THIÊN” trong cuốn sách thời
danh"Thiên Chủ thực nghĩa”?
1. DANH XƯNG CHỈ ĐẤNG TỐI CAO
Những danh xưng danh hiệu chỉ về Một Ngôi
Vị Tối Cao, Một Đấng Thiêng Liêng, tuy thuộc ngôn ngữ thông thường,
bất xứng, nhưng đã được siêu việt hóa về ý nghĩa và nội dung, để ám
chỉ và biểu lộ một cách “tương tự”, lòng Tin tưởng sâu xa về Một Vị
Chủ Tể càn khôn, tạo thành vũ trụ
Trong Tứ Thư Ngũ Kinh do Đức Khổng Tử san
định,_ Ngài chỉ tường thuật những điều đã truyền tụng từ lâu đời
trong dân gian, chứ Ngài không sáng tác ra, “thuật nhi bất tác”,_ và
trong các sách cổ điển dùng làm sách giáo khoa để thi tuyển học sinh
ở Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản, ta nhận thấy những danh
xưng như: Đế, Thượng Đế, Thiên, Thiên Chủ, Hoàng Thiên, Thượng Thiên,
Hoàng-Thượng Đế, Thiên-Hoàng Thượng Đế....Đặc biệt, thử tìm hiểu
nguyên tự, nghĩa thường và nghĩa tôn giáo của các chữ: ĐẾ, THƯỢNG ĐẾ,
THIÊN, (ÔNG TRỜI.)..
a/ ĐẾ, THƯỢNG ĐẾ :
Theo nguyên tự, chữ ĐẾ là hình vẽ của một
người mặc áo thụng:
(nét ( ) chỉ chữ thượng( ) là bề trên;
sau này người ta thêm hai tay hình ; và Lý Tư đổi phần dưới ra chữ
thích( ), rồi rút gọn lại thành chữ ngày nay). Chữ Đế chỉ vua, nhưng
còn có ý nghĩa về tế tự vì các nét chữ giống như lần nứt trên xương,
coi như lời “Sấm ký” (oracle bones)
ĐẾ, nghĩa là vị Hoàng Đế cai trị một đế
quốc. ĐẾ trước hết là Vị Thần của triều đại thời cổ, đời nhà THƯƠNG
vào khoảng 1766 (BC, trước Chúa Cứu Thế), hoặc theo khoa khảo cổ mới
khám phá các di tích thì vào khoảng 1300 BC. ĐẾ chính là Vị Thần của
gia tộc nhà Thương theo tôn giáo thờ cúng Tổ Tiên. Vị Thần ĐẾ được
thay thế bằng THIÊN khi nhà CHU lên thay quyền nhà Thương.
b/ THIÊN
Vào thế kỷ 1, người ta phân tích chữ
THIÊN ( )làm hai phần: nét ( ) nhất=một, nét ( ) đại=lớn, ngụ ý
chỉ Thiên là Một Đấng Vĩ Đại. Chữ này cũng thuộc loại “xương sấm ký”
.
Nhưng theo cách giải thích của Linh Mục
WIEGER ngày nay được nhiều nhà khảo cổ công nhận, thì chữ THIÊN ( ),
theo nguyên tự, nét ( ) chỉ không trung bao la và hình ( ) chỉ hình
người giang hai tay, hai chân: hội ý có ý chỉ THIÊN là Một Vị Duy
Nhất ở trên hết mọi người, Vị THIÊN ở trên cai quản mọi người ở dưới.
Vị Thần THIÊN thuộc dòng họ nhà CHU
(1111-249 B.C). Cũng trong đời nhà Chu, hai truyền thống Đế và Thiên
phối hợp với nhau vì dân chúng nhà Thương và nhà Chu cùng chung một
văn hóa và chủng tộc. Do đó, mọi người đều nhìn nhận Vị Thần Thượng
Đế hay Thiên là cao trọng hơn hết mọi thần khác, kể cả các thần tổ
tiên. Vị Thần tối cao đó, người ta có thể cầu khẩn, cúng bái. Thượng
Đế hay Thiên là Đấng phán quyết, phân biệt điều thiện, điều ác trong
đời sống luân lý. Ngài là Vị Thần tối thượng mà các tổ tiên cũng phải
qui phục. Trong việc cầu nguyện hay phụng tự, có thể dùng chung danh
hiệu Thượng Đế hay Thiên đều được cả vì cùng chỉ Một Vị Thần Tối Cao.
Danh từ “Địa” (Đất) như trong danh từ kép
“Thiên-Địa” (Trời-Đất), cần được giải thích như thế nào? Trong Kinh
Thi và Kinh Thư, danh xưng THIÊN thường xưất hiện riêng biệt, độc
lập, nhưng danh từ “Địa” (Đất) khi dùng thì lại ghép với chữ 'Thiên”.
Theo các nhà khảo cổ, ngay từ thời nhà Chu (1122-255B.C), việc tế tự,
cầu kinh luôn dâng lên Vị Thiên hay Thượng Đế như trong lễ nghi “Tế
Thiên (Trời)”, vì Thiên là Đấng Tạo Hóa dựng nên vữ trụ, nhân loại,
và các tổ tiên. Sau này, vì ảnh hưởng của môn phái triết lý Âm-Dương,
nên chữ Địa (Đất ) mới thấy ghép vào danh từ Thiên, đặc biệt trong
khái niệm về việc sáng tạo vũ trụ. Trong phần "Dịch Truyện" của kinh
Dịch, thuyết Âm-Dương đã xâm nhập vào Khổng Học nguyên thủy. Theo
thuyết Âm-Dương, quẻ “kiền” chỉ thiên hay cha, giống đực, quẻ “khôn”
chỉ đất hay mẹ, giống cái. Vũ trụ này được dựng nên là do sự phối hợp
của âm-dương hay kiền-khôn (càn -khôn). Thuyết Âm-Dương còn nhấn mạnh
đến vai trò của Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tạo nên mối liên
quan giữa thiên giới và hạ giới (con người). Do đó, phát sinh ra
nhiều điều mê tín hoang đường, chẳng hạn như: vũ trụ này được tạo
thành, ít ra một cách tượng trưng, do sự phối hợp của âm-dương, của
quẻ “kiền-khôn”. Nhiều điều hoang mang đặt ra như: vũ trụ này do Một
Vị Hóa Công sáng tạo hay do Hai thế lực đối nghịch nhau lập nên? Vũ
trụ này do Đấng Tạo Hóa an bài hay là nó tự đột phát, tự biến hóa?
Theo lịch sử triết học Trung Hoa, ảnh hưởng của phái Âm-Dương không
bền bỉ và mạnh mẽ đối với các triết gia thuộc phái Lý Học của Chu Hy
hay Tâm Học của Vương Dương Minh, nhưng vì những điều mê tín, pha
trộn với quan niệm đa thần, phiếm thần...sai lạc khỏi niềm tin nguyên
thủy vào Một Vị Thượng Đế, Chủ Tể vũ trụ, nhân loại và Tổ Tiên..., đã
là lý do phát hiện luồng tư tưởng “phủ nhận” Thượng Đế trong triết
học sử Trung quốc, chẳng hạn như Tuân Tử (238 B.C?)
Nói tóm lại, qua ý nghĩa của các danh
hiệu Thượng Đế hay Thiên, ta nhận thấy ý niệm về “Ngôi Vị”, “Hữu Ngã”
(personal character of God) do những lời cầu kinh, lễ bái dâng lên
Thượng Đế hay Thiên. Đấng Thượng Đế là Vị Hóa Công tạo dựng vũ trụ và
nhân loại, là Chủ Tể của lịch sử, Căn nguyên của các mệnh lệnh luân
lý, Đấng phán xét, thưởng người lành, phạt kẻ dữ...như các lời dẫn
chứng của Tứ Thư Ngũ Kinh.(195).
Vấn đề ý nghĩa của các danh xưng để chỉ
Đấng Tối Cao đã gây nên nhiều cuộc tranh luận và hiểu lầm, khó khăn,
nhất là khi so sánh, trao đổi, phiên dịch các danh từ giữa Thiên Chúa
Giáo và Tam Giáo. Sẽ bàn luận sau về các cuộc bàn cãi của các nhà
truyền giáo tây phương, đặc biệt của Linh Mục Mateo Ricci về việc
dùng danh từ Thiên, Thiên Chủ, Thượng Đế. Dưới đây, sẽ tìm hiểu những
đặc tính hay phẩm tính mà Đức Khổng Phu Tử, và truyền thống dân gian
gán cho Vị Thiên hay Thượng Đế
2. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA NIỀM TIN VÀO VỊ
THIÊN HAY THƯỢNG ĐẾ
a/ TÍN NGƯỠNG TỰ NHIÊN
Đây là tín ngưỡng chung của nhân loại,
trước những kỳ công lạ lùng của vũ trụ, nhưng rất huyền bí như các
các biến cố về đời sống: sinh ra, sự chết và sự biến hóa đều hòa của
trời đất. Do đó, dân tộc nào cũng tin vào Thế Lực Siêu Phàm, điều
hành vũ trụ này. Theo thói quen và theo lẽ phải, muốn bày tỏ niềm tin
và sự kính phục, con người bắt buộc phải dùng ngôn ngữ phàm tục để
biểu lộ và diễn tả cho mọi người có thể hiểu biết và thông cảm với
nhau được. Do đó, dầu không hiểu rõ bản tính của "Đấng ấy" như thế
nào, nhưng một cách tự nhiên, người ta vẫn gán cho Vị Thượng Đế những
danh hiệu, phẩm tính theo cách “thần-nhân-đồng hình” và theo phương
pháp “tương tự”, nhưng dĩ nhiên, các danh từ, phẩm tính cần phải hiểu
theo nghĩa cao siêu hơn bội phần
Học giả Trần Trọng Kim, trong bộ sách giá
trị “Nho Giáo”, quyển thượng, trang 38-39, ông đã toát lược những
quan niệm của người xưa về niềm Tin vào Ông TRỜI (THIÊN) hay THƯỢNG
ĐẾ như sau:
“Đã có người, lại có quỉ, có thần, thì
tất là có một cái thế lực nào nữa rất to hơn, chủ trương cả toàn thể
trong vũ trụ. Cứ lý tự nhiên mà suy ra: nhà có cha, nước có vua,
thiên hạ có đế, thì vũ trụ phải có một Đấng nào làm chủ.Nhưng vũ trụ
mênh mông mà chỗ nào cũng thấy tầng trời xanh bao bọc khắp cả mọi
nơi, người ta mới nghĩ ra Ông Trời.Chắc lúc đầu người Tàu cũng cho
ông Trời như là một ông Nguyên hậu ở dưới trần gian này, vậy nên mới
gọi ông Trời là Đế, hay là Thượng Đế. Thượng Đế ở trên trời cai quản
cả bách thần và vạn vật ở trong vũ trụ, và lại là một đấng chí nhân
hay thương dân. Kinh Thi nói rằng: “Hoàng hỹ Thượng Đế, lâm hạ hữu
hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc” (Đức Thượng Đế rất lớn,
soi xuống dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương để tìm sự khốn khổ của
dân mà cứu giúp”. Vậy nên người bao giờ cũng phải kính và sợ Trời.
Kính Trời và sợ Trời là cơ bản đạo đức của người Tàu”.
Sau khi tường thuật những khái niệm của
dân chúng về niềm Tin vào Một Vị Thượng Đế cai trị hoàn vũ, học giả
Trần Trọng Kim cũng cho biết thêm về quan niệm triết lý siêu hình của
Khổng Tử về Vị Chủ Tể càn khôn. Đây không phải là một Đấng Thiêng
Liêng nào khác với niềm tin vào "Ông Trời" Chủ Tể vũ trụ càn khôn. Vì
là một bậc thánh triết lỗi lạc, Đức Khổng phu Tử đã khai triển niềm
Tin của dân chúng về Trời hay Đế và diễn tả bằng những lý luận siêu
hình (Hình-Nhi-Thượng -Học), cốt để bảo vệ tính cách Cao Siêu Tuyệt
Đối của Vị Chủ Tể đó. Bởi vậy, trong truyền thống Tín Ngưỡng Trung
hoa và Việt Nam, có thể xác nhận: có một niềm Tin, nhưng có hai
khuynh hướng giải nghĩa: một là, theo “phương pháp khẳng định”, tức
dùng những danh từ, những hình ảnh rút ra từ thế giới hữu hình, tương
đối và mặc cho chúng những ý nghĩa cao siêu; hai là, theo “phương
pháp phủ định”, dùng suy luận siêu hình, (như ta cũng thấy nơi các
nhà thần bí trong Thiên Chúa Giáo, trong Phật Giáo, Đạo Giáo), đặc
biệt trong Lịch sử Triết học Trung Hoa vào thời kỳ Lý Học, và Tâm Học
đời nhà Tống. Học giả Trần Trọng Kim đã diễn giảng một cách xác đáng,
sự phát triển của dòng tư tưởng đó như sau:
“Nhưng đó vẫn là quan niệm thuộc về phần
hình thức, chưa phải là lý tưởng của những bậc hiền triết. Dần dần về
sau những người trí thức nghĩ ngợi sâu xa, mới hiểu rằng không lẽ ông
Trời lại nhỏ hẹp như người ta và cũng có hình dáng như ta được, tất
là một cái lý chí linh, chí diệu, làm chủ tể cả muôn vật. Muôn vật sở
dĩ sinh ra hay là hóa đi đều do ở cái lý ấy chủ trương.Vậy nên mới
nói rằng: Trời là bản nguyên của muôn vật......cái lý quang minh,
linh diệu vô cùng,tức là Thái cực. (Nho Giáo q. thượng, trg:38-39)
b/ THƯỢNG ĐẾ: ĐẤNG TẠO HÓA, CHỦ TỂ LỊCH
SỬ
Tứ Thư Ngũ Kinh ít khi dùng những hình
ảnh nhân loại để mô tả Thượng Đế, vì Khổng giáo cho rằng Thiên là:”
không tiếng, không hơi” (Thượng Thiên chi tải vô thanh vô xú...)
(Kinh Thi). Tuy nhiên, trong kinh Thi, Thư cũng ghi chép những lời
Thượng Đế phán truyền cho Văn Vương, vị sáng lập ra nhà Chu.
_ Kinh Thi:”Đức Thượng Đế rất lớn, soi xuống
dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương, tìm sự khốn khó của dân mà cứu
giúp” (Hoàng hỹ Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu
dân chi mạc)
_ Kinh Thư: “Trời nhìn xuống dân chúng”
(Thiên giám hạ dân)
_ Kinh Thư:”Trời không thân ai, chỉ thân kẻ
biết kính sợ Ngài” (Duy Thiên vô thân, khắc kính duy thân)
_ Thượng Thư:”Trời rất thông minh, nên các
thánh quân phải bắt chước Trời, quần thần sẽ khâm phục, dân chúng sẽ
an vui” (Duy Thiên thông minh, duy thánh thời hiến, duy thần khâm
nhược, duy dân tòng nghệ)
_ Kinh Thư: “Trời đôi khi cũng phẫn nộ” (Đế
nãi chấn nộ, Hoàng Thiên chấn nộ)
_ Kinh Thư: “Điều gì dân chúng ước ao thì
Trời cũng chiều theo” (Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi)
Dân chúng coi Trời như CHA, mọi người là
“con của Trời”' vua được mệnh danh là “Nguyên Tử nghĩa là con đầu của
Trời:
_ Kinh Thư: “Đã làm người, ai cũng đều là con
của Trời', Thiên tử (vua) được gọi là con đầu của Trời” (Phàm nhân
giai vân Thiên chi tử, Thiên tử vi chi thủ nhĩ)
TRỜI đã tạo dựng nhân loại, ban cho đất
đai, ruộng vườn, ngũ cốc, gia súc ..và mưa thuận gió hòa để làm ăn
sinh sống. Trời cũng can thiệp, tham dự vào lịch sử vào cuộc sống của
nhân loại để chọn lựa các bậc Thánh nhân, Hiền Triết thay Trời để cai
trị dân. Có thể nói: đó là quan niệm về Thiên trị (Theocracy). Theo ý
niệm này, dân chúng Trung hoa tin rằng chính Trời cai quản dân, vua
chúa đã lĩnh Mệnh Trời để thi hành. Trước nhất, Trời chọn các vị
Thánh nhân đạo đức và đặc biệt các Triết nhân, nghĩa là “tài đức kiêm
toàn”. (Quan niệm này cũng giống dân Hy lạp thời cổ, coi: Plato,
Socrates).
_ Kinh Thư :”Than ôi! Trời sinh ra dân
có dục vọng, không có chủ thì loạn. Nên Trời sinh ra những bậc thông
minh để cai trị dân” (Ô hô! duy Thiên sinh dân hữu dục, vô chủ nãi
loạn. Duy Thiên sinh thông minh thời nghệ)
_ Kinh Thư:” Chỉ có Trời đất là cha mẹ
muôn vật. Chỉ có người là linh thiêng hơn vạn vật. Ai thật thông minh
thì làm vua đứng đầu. Vua đứng đầu là cha mẹ dân” (Duy Thiên địa vạn
vật phụ mẫu. Duy nhân vạn vật chi linh. Đản thông minh tác nguyên
hậu. Nguyên hậu tác dân phụ mẫu)
Kinh Thư chép rằng: Sau khi vua Đại Võ
đã trị thuỷ thành công, thì Trời thưởng công mà ban cho “Hồng Phạm
Cửu Trù”, tức là các bí quyết trị dân hợp với Ý Trời.
Tuy Trời ban quyền cho các bậc Thánh
Vương, Thánh Triết cai quản dân, nhưng Trời với dân bao giờ cũng
tương quan mật thiết, dân là cao quí hơn vua, “ý dân là Ý Trời”, nên
Mạnh tử đã viết:” Dân làm quí (nhất), nước (xã tắc) là thứ nhì, vua
làm khinh (rẻ)" (Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh)
c/ THIÊN MỆNH,THIÊN NHÂN TƯƠNG DỮ
Khi bàn về mối tương quan giữa Thượng Đế
và nhân loại đã được truyền tụng trong Tứ Thư Ngũ Kinh, các môn đệ
danh tiếng của Đức Khổng Tử như Mạnh Tử và các môn phái Lý học, Tâm
học đã giải thích những khái niệm căn bản và đã giúp ta hiểu biết ý
nghĩa những thành ngữ thông dụng như: Thiên mệnh, Thiên lý, Thiên
đạo, Thiên luân, nhân đạo, nhân luân, nhân sự, và đặc biệt quan niệm
về”thần-nhân tương dữ” là gì?
THIÊN MỆNH là gì?
Chữ “Thiên Mệnh” xuất hiện nhiều lần
trong Kinh Thi, Thư, Xuân Thu. “Thiên Mệnh” có ý chỉ cái Ý Chí rất
linh diệu, rất cường kiện của một Vị Chủ Tể, Thượng Trí điều hành, an
bài mọi sự biến hóa trong vũ trụ. Cái Ý Chí mạnh mẽ đó là Thiên Mệnh
hay Đế Mệnh. Thiên Mệnh khác với “số mệnh”, (Fate, Fatalism) hay định
mệnh (determinism) hay luật nhân-quả, vì đó là thế lực mù quáng, vô
hồn, vô tâm, ác nghiệt gây tai ương cho con người. Nhưng theo Đức
Khổng Tử, thì Thiên Mệnh chính là Ý Chí của Đấng Tạo Hóa, vô cùng
thương dân, chỉ muốn đem lại an hòa, hạnh phước cho nhân loại mà
thôi. Do đó, việc tối quan trọng trong cuộc sống là làm thế nào biết
được Ý Trời muốn cho ta làm gì để tuân theo như câu :
_”Thuận theo Ý Trời thì sống, chống lại
Ý Trời thì chết” (Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong)
TRI-MỆNH là điều cần thiết, nhưng Trời
vẫn tôn trọng sự tự do phán đoán, lựa chọn điều tốt, loại bỏ điều xấu
của mỗi cá nhân. Ngoài ra, Trời sẽ phù trì những ai bền tâm, thiện
chí, tự lực tự cường, không nhu nhược, chịu bó tay đợi số mệnh, hoặc
vì biếng nhác không chịu hoạt động; những kẻ”há miệng chờ ho”, thì
Trời sẽ tuyệt diệt đi, theo cái lẽ “Ưu thắng, liệt bại”:
_ “Trời không phụ kẻ có lòng tốt” (Hoàng
Thiên bất phụ hảo tâm nhân)
_Kinh Dịch:” Việc hành động của Trời rất
mạnh, người quân tử phải theo mà tự cường không nghỉ” (Thiên hành
kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức)
_Trung Dung:" Trời sinh ra muôn vật, tất
nhiên vì cái tài lực của từng vật mà đôn đốc thêm vào, cho nên vật
nào có thể vun đắp được thì vun trồng cho tốt lên, vật nào nghiêng
ngả thì dập nát đi” (Thiên chi sinh vật, tất nhân kỳ tài nhi đốc yên,
cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi)
TRI MỆNH là cố gắng làm điều lành điều
tốt, vì Thượng Đế là Đấng toàn thiện. Sách “Minh tâm bảo giám” (tấm
gương báu soi sáng cõi lòng), dùng làm sách luân lý giáo khoa thư,
sưu tập các câu cách ngôn của Đức Khổng Tử và các bậc thánh hiền để
dạy người ta sửa tâm rèn tính, có những câu:
_ Đức Khổng Tử viết:” Ai làm lành, thì
Trời báo phúc cho, ai làm điều chẳng lành, Trời lấy vạ mà báo cho”
(TỬ viết: Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả,
Thiên báo chi dĩ họa).
_ Sách Thượng Thư chép:” Ai làm điều tốt,
Trời xuống cho trăm điều lành, ai làm điều chẳng tốt, Trời xuống cho
trăm điều vạ” (Thượng Thư vân: Tác thiện giáng chi bách tường, tác
bất thiện, giáng chi bách ương).
_Luận ngữ:” Không biết Mệnh Trời thì
không phải là người quân tử” (Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử giã)
_Trung Dung:” Trên không oán Trời, dưới
không trách người, cứ bình dị mà đợi mệnh” (Thượng bất oán Thiên, hạ
bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh)
Nhưng biết được Mệnh Trời,”Tri Mệnh” là
điều khó. Cho nên Đức Khổng Tử nói rằng:
_ Luận Ngữ:” Phải đến năm mươi tuổi mới
biết được “Mệnh Trời” (Ngũ thập nhi tri Thiên Mệnh)(196).
THIÊN-NHÂN TƯƠNG DỮ là gì?
Qua những lời trích dẫn trong Tứ Thư, Ngũ
Kinh, ta nhận thấy, từ thời thượng cổ cho đến nay, dân chúng vẫn một
lòng Tin vào Một Vị Chủ Tể hay Thượng Đế, vì Tình Thương vô cùng bao
la và với một Ý Định mãnh liệt, đã tạo dựng nên vũ trụ và nhân loại.
Do đó, muốn sống an vui, hạnh phúc, con người”linh ư vạn vật” cần
phải phụng thờ, kính sợ và thuận theo Mệnh Lệnh của Trời
Ngoài ra, ta cũng thấy các bậc thánh
nhân, hiền triết như Đức Khổng Tử, Mạnh Tử...đã dùng lý trí để suy
luận về bản tính, bản thể siêu việt của Vị Chủ Tể toàn tri, toàn
năng, toàn thiện mỹ, vượt trên những cách thế diễn tả thông thường
của dân chúng. Cái Nguyên Lý tột đỉnh, tuyệt đối làm căn nguyên nguồn
gốc của mọi sự tồn hữu của vạn vật, các triết gia gọi là, Thiên Lý,
tức Lý Thái Cực, mà Bản Thể, Bản Tính của Lý đó là rộng lớn mênh mông
vô hạn, chí linh, chí diệu, bao trùm vạn vật, chính là Vị Chủ Tể càn
khôn. Học giả Trần Trọng Kim đã giải thích tư tưởng đó như sau:
“Tự đời thượng cổ, người Tàu đã có tư
tưởng cho người ta sinh ra ai cũng bẩm thụ cái tính của Trời. Cái
tính ấy tức là một phần Thiên Lý. Vậy Trời với người quan hệ nhau rất
mật thiết lắm.Bởi thế mới lấy pháp tắc tự nhiên của Trời làm mô phạm
của người và cho Thiên luân là nhân luân, Thiên đạo là nhân đạo. Kinh
Thi nói rằng:” Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc, dân chi bỉnh
di, hiếu thị ý đức” (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính
thường, muốn có đức tốt).Trời sinh ra người, cho người có lòng muốn
đức tốt, thì người phải lấy Trời làm gốc, phải kính Trời, sợ Trời,
phải theo cái bản tính của Trời đã phú cho mà ăn ở cho hợp với đạo
Trời (Nho Giáo, quyển I, trg 39-40).
Khi suy nghĩ về bản tính của nhân loại,
các bậc hiền nhân quân tử, đặc biệt Mạnh Tử đã nhận thấy nhiều điều
thiện hảo nơi tâm tính của con người:”Nhân chi sơ tính bản thiện”; vì
thế, mới cho rằng chính Trời đã phú ban cho bản tính con người mối
thiện tâm đó từ khi sinh ra, không phải tự mình mà có được. Do đó,
mới có thuyết “Thiên -Nhân Tương dữ”, Trời và Người quan hệ với nhau,
hay “Thiên Nhân hợp nhất”, vì chủ trương con người được Trời cho tham
dự vào phần Thiên Lý. Để đối lại, con người cũng phải cư xử, hành
động thế nào cho hợp với lẽ Trời.
Cùng một ý niệm như trên, vì chủ trương
"nhân sự" phải thuận theo "Thiên Lý", nên Đức Khổng Tử và các thánh
triết còn nói câu:” Thiên địa vạn vật nhất thể”. Ba thành ngữ hay cụm
từ này có thể gây ra ngộ nhận, hiểu lầm vì cách thức giải thích và
cách hiểu biết khác nhau. Thực ra, theo văn mạch và những lời giảng
dạy, ghi chép trong Tứ Thư Ngũ Kinh, Đức Khổng Tử hay các vị Thánh
Hiền như Mạnh Tử không bao giờ đặt nhân loại hay vạn sự vạn vật ngang
hàng với Thiên, (Thiên Tính, Thiên Lý), vì Thiên hay Thượng Đế là
Nguyên Lý Tuyệt Đối Siêu Việt trên hết mọi sự mọi loài. Vả lại, nếu
tâm hồn con người được phần cao quý và thiện hảo thì chỉ do ân huệ
của Trời phú bẩm cho mà thôi. Hơn nữa, Thiên là Tuyệt Đối, hằng hữu,
trường tồn, còn nhân loại là loài thụ sinh, bẩm sinh, tương đối, nay
còn mai mất thì làm sao có thể so sánh bình đẳng hay đồng đẳng được!
Do đó, các thành ngữ đó chỉ là cách diễn tả, biểu lộ theo khuynh
hướng tu đức thần bí (Mystic) mà ta vẫn gặp thấy nơi các nhà thần bí
trong các tôn giáo. Bởi vậy, thiết tưởng đối với truyền thống chân
chính của Khổng giáo, không nên hiểu hay giải nghĩa ý niệm trên theo
nghĩa đa thần hay phiếm thần (pantheism ), cho rằng
“Thiên-địa-nhân-cỏ-cây-động-vật...đều chung một bản thể hoàn toàn như
nhau và quyền phép bằng nhau. Tuy nhiên, trong lịch các đạo giáo ở
Trung Hoa hay ở Việt Nam, cũng có triết lý duy vật, duy lý, vô thần
hay mê tín dị đoan, đồng hóa Vị Thượng Đế Chủ Tể với vạn sự vạn vật
trong vũ trụ vào một khối duy nhất, nhưng đây không phải là niềm tin
tưởng chính đáng chung của nhân dân, của các vị thánh vương và các
thánh triết như Đức Khổng Tử và Mạnh Tử
Sách Trung Dung đã dùng chữ “Thiên Đạo”
(Way of Heaven)để chỉ một cách bóng bảy Ý Chí của Trời hay Thiên Mệnh
như một “Đạo” (Đường) vận hành không ngừng từ thuở đời đời, tạo nên
sự quân bình hòa hợp trong vũ trụ thiên nhiên và ở nơi con người. Bởi
vậy, muốn sống hạnh phúc an hòa trong cuộc đời, thì “nhân đạo” cũng
phải phối hợp với "Thiên Đạo". Trời sinh ra con người, đã khắc ghi
vào Lương Tâm, Lương Tri của con người những qui tắc, giới răn có giá
trị hằng cửu. Do đó, các nhà tu đức chỉ cần nhìn vào bản tâm, bản
tính nguyên sơ, tinh tuyền của lòng mình, gạt bỏ mọi dục vọng làm lu
mờ Lương Tâm trong sáng thuở ban sơ, gọi là “sơ tâm”, đơn sơ, tinh
khiết như tâm hồn của một trẻ thơ, thì có thể dễ nhận ra Thiên lý và
Thiên Đạo để noi theo.
- Mạnh Tử viết:” Bậc đại nhân mà không
mất cái tâm đơn sơ như trẻ nhỏ (con đỏ)” (Đại nhân giã, bất thất kỳ
xích tử chi tâm)
- Mạnh Tử viết:” Trong lòng mỗi người đã
sẵn có lòng Trời rồi” (nhất nhân chi tâm, tức Thiên địa chi tâm)
- Trung Dung viết: “ Biết được lòng
người, thì không thể không biết được Trời” (tư tri nhân, bất khả dĩ
bất tri Thiên)
Vì Thiên Đạo và nhân đạo quan hệ với
nhau, vì con người được Trời cho một phần Thiên tính, Thiên lý, nên
nhờ tồn tâm dưỡng tính, và tu thân tích đức, con người có thể vươn
lên cỗi Siêu Việt để nhận biết Trời:
- Mạnh Tử viết:” Thấu hiểu lòng mình, sẽ
biết được bản tính của mình; biết được tính, thì cũng biết được Trời”
(Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã, Tri kỳ tính, tắc tri Thiên hỹ).
d/ THỜ TRỜI
Từ đời các Thánh Vương như vua Nghiêu,
vua Thuấn, tín ngưỡng của nhân dân đặt trọng tâm vào lòng kính sợ
Trời, luôn theo Mệnh Trời để được sống an hòa hạnh phúc, nên đã coi
việc tôn thờ Trời,”Tế Trời” là điều thiết yếu. Do đó, mới lập ra các
lễ nghi rất oai linh, chỉ định các vị chủ tế, sắm sửa các lễ vật quí
giá và lễ phục trang nghiêm. Sách Lễ ký, (gồm cả Nhạc) đã qui định
các luật lệ về tế tự, đặc biệt trong Lễ Tế Thiên. Chỉ nhà vua mới
được tế Trời vì vua mệnh danh là 'Thiên tử”, đại diện toàn dân và
trực tiếp lĩnh Thiên Mệnh để cai quản quốc gia. Ngoài ra, còn nhiều
lễ nghi để tế các vị thần khác, nhưng lòng tín ngưỡng quan trọng thứ
hai là thờ kính Tổ Tiên. Bởi vậy, về tôn giáo ở Trung Hoa và Việt
nam, chỉ có đạo Thờ Trời và đạo Hiếu, là quan trọng hơn cả.
_Sách Lễ ký nói:” Muôn vật gốc ở Trời,
con người gốc ở tổ tiên” (Vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ)
_ Luận ngữ:” Người quân tử sợ Mệnh Trời”
(quân tử uý Thiên Mệnh)
_Luận ngữ:” Đức Khổng Tử cầu nguyện từ
lâu rồi (suốt đời)” (Khâu chi đảo cửu hỹ).
Qua câu tuyên bố ở trên, ta biết được ý
kiến của Vị Thánh Sư về việc cầu nguyện lễ bái. Tại sao Đức Khổng Tử
lại nói: Ngài đã cầu nguyện từ lâu rồi hay vẫn cầu nguyện suốt đời?
Theo Ngài, việc tế tự hay cầu đảo không phải chỉ diễn ra khi ta cần
cầu xin một ân huệ gì với Trời như xin ơn lành bệnh, nhưng cầu nguyện
suốt đời không lúc nào ngưng có nghĩa là chung thân ta phải cố gắng
thuận theo Ý Trời, Thiên Mệnh và thực hành những điều Nhân ,Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín. Bởi vì, nếu ta ăn ở bất nhân thất đức thì việc cầu đảo
cũng là vô ích. Ngài nói:
Luận ngữ:” Phạm tội với Trời, thì còn
cầu nguyện vào đâu được” (Hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo giã)
Người xưa tin :”Sống gửi chết về” (sinh
ký giã, tử qui giã), vì lẽ rằng: con người “linh ư vạn vật”, đã bẩm
thụ một phần Thiên lý, Thần Linh chiêu minh sáng láng rực rỡ của Trời
ban cho, nên sau một thời gian vắn vỏi sống tạm trên thế gian này,
khi chết, hài cốt, thể phách chôn xuống đất dần dần tan nát đi, nhưng
hồn thiêng, tức phần tinh anh của con người sẽ trở về với Trời, đặc
biệt những bậc thánh nhân hiền đức sẽ được trở về với Trời nơi ánh
sáng huy hoàng:
_ Sách Lễ ký:”Chết rồi, hài cốt chôn
xuống đất dần dần tan đi, còn cái khí tinh anh thì lên khoảng không
gian sáng rõ rực rỡ” (Tử tất qui thổ, cốt nhục tệ ư hạ, âm vi dã thổ,
kỳ khí phát dương ư thượng vi chiêu minh)
Niềm tín ngưỡng ở một Vị Thượng Đế rất
sâu xa, nên bất cứ công việc gì cũng phải làm theo Thiên Mệnh, Thiên
Đạo và giữ tròn Đạo Hiếu đối với Tổ Tiên. Do đó, mới đặt ra chức quan
gọi là Quan Chúc, chuyên lo về thiên sự, nghĩa là coi việc cầu
nguyện, tế lễ, phúng điếu, soạn lịch. Quan Sử coi việc nhân sự, tức
là ghi chép các công trình sự nghiệp của các đế vương đã thực hiện để
lưu truyền cho hậu thế noi theo. Việc san định Tứ Thư Ngũ Kinh do các
Quan Sử phụ trách. Đức Không Tử, tị tổ của Nho Giáo cũng thuộc giới
Quan Sử.
Trong xã hội cổ Trung Hoa và Việt Nam
cũng còn hai giới chức có ảnh hưởng liên quan đến đời sống tôn giáo
và xã hội của dân chúng, đó là giới Nho sĩ và giới Vu- Hích( làm nghề
thầy cúng, thầy pháp, đồng bóng, đồng cốt). Học giả Trần Trọng Kim đã
đã giải thích địa vị và hoạt động của hai giới này, đại ý như sau
(Coi Nho Giáo q. I, trg 45-48).
Như đã bàn luận ở trên, nhân dân và các
vua quan kính và sợ Trời, luôn tìm hiểu Thiên Mệnh để tuân theo.
Nhưng làm thế nào biết được Mệnh Trời để thi hành, đó là một điều rất
khó! Các vị Thánh Vương, các nhà hiền triết, nhờ tu thân tích đức,
tồn tâm dưỡng tính, trí tri cách vật, thông hiểu thiên văn địa lý,
nhân tâm thế sự...thì mới hy vọng hiểu được phần nào Thiên Đạo để ứng
dụng vào nhân đạo, thế sự. Còn đám bình dân vô học thức thì làm sao
có thể hiểu được việc nhân sự ra sao để xử trí cho hợp với Ý Trời?
Do đó, trong xã hội, một giai cấp được
trọng dụng là các Nho gia. Nho cũng đọc là Nhu, có nghĩa là “nhu-
cầu,” là giới học thức uyên bác, rất được các vua quan, chư hầu và
các nhà quyền quí trọng dụng, và cần thiết để hỏi ý kiến, nhất là
trong những công việc hệ trọng về thiên sự và nhân sự. Giới Nho gia
đã có từ lâu đời trước Đức Khổng Tử. Do đó, Ngài không phải là vị
sáng lập ra Nho Giáo; ngài cũng là một nho gia và đã có công san định
lại, rồi giải nghĩa những lời giáo huấn của các thánh hiền trong bộ
Tứ Thư Ngũ Kinh.
Đối với đám dân chúng đông đảo, vì thiếu
học thức, ít suy nghĩ, nên dễ tin theo các thầy cúng, thầy pháp. đồng
bóng đồng cốt..., gọi là Vu-Hích. Học giả Trần Trọng Kim đã phê phán
về giới này như sau:
“Phàm người đời đã bị cực khổ mà lại học
hành không có, việc hay dở không biết thế nào, tất là phải chìm đắm
vào những điều mê hoặc, và tin những điều quái lạ. Vu là người con
gái, hích là ngưồi con trai làm nghề đồng bóng, tức bọn đồng cốt,
thầy cúng, thầy pháp v.v lấy điều cát hung họa phúc, dùng những
phương thuật huyền hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem chuyện
thần thánh ma quỉ mà dọa nạt người thường để làm nghề kiếm ăn” (Nho
Giáo,q. I. trg. 45)
Thế lực của bọn Vu hích rất mạnh vì được
dân chúng mê tín nghe theo. Bởi vậy, các đế vương đời trước đã đặt ra
chức quan Tư vu để cai quản, sai khiến và ngăn chặn bọn vu hích không
cho mê hoặc dân chúng, làm sai lạc niềm tín ngưỡng chân chính, chính
đạo của toàn dân
Nói tóm lại, từ thượng cổ cho đến ngày
nay, trong khắp miền Đông Nam Á như Việt Nam, Trung Hoa, Đại Hàn,
Nhật Bản,.... người ta vẫn nhận thấy hai luồng Tín Ngưỡng lớn mạnh
nhất, bao trùm đời sống tâm linh tôn giáo và guồng máy cơ cấu tổ chức
xã hội, gia đình, đó là đạo THỜ TRỜI và đạo HIẾU. Thật thế, tuy ngày
nay không còn công khai “Tế Trời” như xưa, vì trong các nước không
còn vị “Thiên tử” để đại diện toàn dân, nhưng trong thâm tâm của mỗi
người, dầu thuộc bất cứ tôn giáo, khuynh hướng xã hội hay chính trị
nào, theo truyền thống vẫn tiềm tàng, ấp ủ một niềm Tin bất diệt vào
một Vị Chủ Tể lân ái, an bài mọi biến cố trong vũ trụ, quốc gia,
trong lẽ điều hòa. Niềm Tin ở Trời và lòng yêu mến, tôn kính Tổ tiên
đã in sâu vào tâm khảm mỗi người, nên khi vui mừng, nhất là khi gặp
tai ương, hoạn nạn bất ngờ, không còn biết trông cậy vào ai, chỉ còn
biết ngửa mặt lên trời mà thốt lên câu cầu cứu:" Trời ơi! ""Chúa ơi!"
3. TÁC PHẨM "THIÊN CHỦ THỰC NGHĨA" của Linh
Mục MATTEO RICCI (1552-1610)
Theo lịch sử, Thiên Chúa Giáo đã du nhập các
nước Đông Nam Á như Ấn Độ, Trung Hoa,..rất sớm từ 578. Năm 635, vị tu
sĩ thuộc giáo phái Nestorius( chết năm 451), tên là Alopen đã đến
Tràng An( ngày nay là Tây an), thủ đô của Phật Giáo Trung Hoa đời nhà
Đường. Nhà thám hiểm thời danh Marco Polo( nước Ý) đã đến giúp nhà
Nguyên vào cuối thế kỉ 13, thuật lại những di tích lịch sử của Thiên
Chúa giáo tại Trung Hoa mà ông đã tìm thấy như cây "Thánh Giá Khải
Hoàn" , cây "Thánh Giá cắm vào Bông Sen"( tượng trưng của Phật
Giáo)và nhiều ngôi mộ
Năm 1514, những chiếc tàu buôn của Bồ đào nha
bắt đầu xuất hiện trên bờ biển Đông Nam Á, mang theo một số Linh Mục
làm tuyên uý cho các thủy thủ để giúp đỡ về tôn giáo như ban các bí
tích. Năm 1532, Thánh Phanxicô Xavie đặt chân lên đất Phù Tang. Ngài
đã tạ thế trên một hòn đảo thuộc hải phận Trung Quốc, ngày 3 tháng
mười hai năm 1552, hưởng thọ 46 tuổi. Trước khi nhắm mắt từ giã cuộc
đời, Ngài đã rất luyến tiếc chưa được dịp đặt chân lên đất Trung Hoa,
nhưng tha thiết cầu xin cho việc truyền giáo tại đây trong tương lai
sẽ gặt hái được nhiều kết quả
Năm Thánh Phanxicô Xavie qua đời, thì cũng là
năm sinh của một nhà truyền giáo thời danh khác là Linh Mục MATTEO
RICCI . Ngài sinh tại Macerata, nước Ý. Trong thời niên thiếu, ngài
được thụ giáo với nhà toán học lỗi lạc Christopher Clavius, bạn thân
của các nhà bác học Kepler và nhà thiên văn học Galileo. Nhờ những
kiến thức về khoa học như toán học, thiên văn, họa bản đồ, chế tạo
đồng hồ..., nhà truyền giáo tài ba lỗi lạc này đã được các nhà cầm
quyền Trung Hoa thời bấy giờ tiếp đón nồng hậu, ưu đãi. Sau 13 năm
nghiên cứu và học chữ Hán, cha Ricci đã có thể dịch bộ Tứ Thư ( Luận
-ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung) sang tiếng Latinh. Nhờ thông thạo
Hán văn, và thông hiểu tư tuởng của thánh hiền, cha Ricci đã trực
tiếp trích dẫn những lời văn của Tứ Thư, Ngũ Kinh để trình bày và
diễn giảng những giáo lý của Thiên Chúa Giáo, trong cuốn sách "Thiên
Chủ Thực Nghĩa"mà cha đã biên sọan và xuất bản lần đầu, 200 cuốn tại
Bắc Kinh, năm 1603.
Toàn bộ cuốn sách được chia ra làm hai Phần,
gồm tám chương(chapters). Trong Phần I, tác giả đưa ra những chứng cớ
về sự tồn hữu của Thiên Chúa và các phẩm tính của Đấng Tạo Thành vũ
trụ càn khôn.(chương I); tiếp đến, tác giả dùng các bản văn trong Tứ
Thư Ngũ Kinh của Nho Giáo cổ truyền trước đời nhà Tần( Tần Thuỷ
Hoàng(221-206 B.C), để phê bình các quan niệm về "Vô" của Lão Trang,
và "Không"của Phật học. Tác giả cũng dùng các phạm trù của triết lý
Kinh viện như" Tự-lập-giả"(substantia) và "ỷ-lại-giả"(accidens), để
phê phán quan niệm "Thái Cực"và "Lý" của
Đạo-học-gia(Neo-Confucianism). Cha Ricci cũng đưa ra những lý lẽ tại
sao chấp nhận dùng các danh xưng "Thiên" và "Thượng Đế" trong truyền
thống tín ngưỡng Trung Hoa; và đặc biệt, để nhấn mạnh về tính chất
"hữu ngã", ngôi vị, ngài đã đặt ra danh xưng"THIÊN CHỦ"(chương II).
Trong Chương III và IV, tác giả đề cập đến quan niệm "Linh-Hồn"' Hồn
thiêng của con người khác với "hồn" của động vật(giác hồn) và của
thảo mộc (sinh hồn). Tác giả cũng phi bác ý niệm về"vạn vật nhất
thể", hay "tam tài"(thiên-địa-nhân), cho rằng mọi loài trong vũ trụ,(
kể cả Lý Thái Cực) đều chung một bản thể. Phần HAI, tác giả phê bình
quan niệm của Phật Giáo về luân hồi, và về cấm sát- sinh(chương V).
Cha Ricci dùng bản văn trong Thư Kinh để minh chứng Linh hồn bất tử,
sau khi chết, và công việc phước thiện sẽ được thưởng trên Thiên
đàng; ý muốn, hành vi xấu sẽ bị luận phạt trong địa ngục.(chương
VI). Tác giả cũng bàn đến bản tính của nhân loại, gồm điều tốt điều
xấu, và bổn phận phải TU THÂN(chương VII). Sau hết, Cha Ricci đề cập
đến cách thức tu thân tu đức của giới tu sĩ Thiên Chúa Giáo và đời
sống độc thân. Trong ít trang cuối sách, cha Ricci tóm lược "Lịch Sử
Cứu Độ" trong Thiên Chúa Giáo do Thiên Chúa mặc khải cho những ai
muốn xin lĩnh nhận Phép Rửa Tội. Dĩ nhiên, nếu ai tự ý muốn xin
chịu Phép Rửa Tội thì còn cần học hỏi thêm nhiều điều giáo lý khác
nữa
Sau đây, chỉ xin chú trọng trình bày quan
điểm và các nhận xét của cha Ricci về tín ngưỡng truyền thống của dân
chúng Trung Hoa đối với "ĐẤNG THƯỢNG ĐẾ, hay "VỊ THIÊN", đã được ghi
chép như thế nào trong Thư- Kinh ( tức là phần I, Chương I,
II).
Do đó, sẽ bàn luận về ba điểm: a/ Chủ đích
và phương pháp của cha Ricci khi khởi thảo cuốn sách"Thiên Chúa Thực
Nghĩa"' b/ Danh xưng: THIÊN CHỦ c/ Ảnh hưởng và những Thách Đố đối
với tác phẩm thời danh đó. Xin lưu ý:( Các chú thích ở đây như số
chương (chapter), số đoạn ( paragraph divisions:1-596), số trang..,
ghi theo bản dịch ra Anh văn, tựa đề:"The True Meaning of The Lord of
Heaven" do Douglas Lancashire and Peter Hu kuo-chen,S.J. The
Institute of Jesuit Sources, St. Louis,1985)
a/ CHỦ ĐÍCH CỦA TÁC PHẨM
Năm 1583 Cha Matteo Ricci và Cha Michele
Ruggieri đặt chân lên đất Trung hoa. Cha Ricci đã dùng chính sách
"Hội Nhập Văn Hóa" để đối thoại với giới trí thức, tức là các nho
gia. Ngài mặc phẩm phục của nho sĩ, và coi mình như một "nho sĩ Tây
Phương". Vì cha Ricci muốn Thiên Chúa Gíao mặc bộ áo Trung Hoa, nên
cha đã đàm đạo trực tiếp với giới lãnh đạo tinh thần, chính trị và
văn hóa trong nước, hy vọng có thể cảm hóa họ để họ tìm hiểu giáo lý
của Thiên Chúa Giáo và nhờ họ sẽ gây ảnh hưởng đến đại quần chúng.
Cũng nên nhận xét ở đây: vì khi mới tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa,
cha Ricci đã học hỏi và phiên dịch Tứ Thư Ngũ Kinh, nên Cha hâm mộ
"Nho Học Nguyên Thủy" đời Đức Khổng Tử, Mạnh Tử..hơn là Tân-Nho Học(
Neo-Confucianism) theo Lý Học của Chu Đôn Di hay Tâm Học của Vương
Dương Minh.
Thực vậy, khi nghiên cứu và phiên dịch các
sách của thánh hiền, cha Ricci đã tìm thấy những điểm tương đồng, hòa
hợp giữa tư tưởng của các Thánh Hiền và dân chúng Trung Hoa với niềm
Tin Công Giáo, chẳng hạn như : Một Vị Thiên Chúa độc nhất trong vũ
trụ, linh hồn bất tử, người lành được thưởng, kẻ dữ bị phạt, nhân chi
sơ tính bản thiện...Đặc biệt, cha Ricci chú trọng đến quan niệm Tu
Thân trong Nho Giáo, vì ngài cho rằng một người lương thiện suốt đời
lo tu thân tích đức, cố gắng ăn ngay ở lành, thì thể nào cũng sẽ gặp
được Thiên Chúa Chân Thật!
Cuốn sách" Thiên Chủ Thực Nghĩa" không phải
là cuốn sách "giáo lý", trình bày hết mọi đề tài trong Đạo Thiên
Chúa, nhưng chỉ đề cập đến những vấn đề mà "Lương Tri" và Lý Trí tự
nhiên của con người có thể tìm hiểu được. Do đó, các nhà bình phẩm
gọi tác phẩm của cha Ricci là" Sách đối thoại Tiền-Phúc Âm"(
pre-evangelical dialogue). Chủ đích của cha là để "ĐỐI THOẠI" vối các
văn nhân, quân tử trong nền văn hóa Trung Quốc. Đây cũng là bước đầu
của công trình "Hội nhập Văn hóa" giữa Thiên Chúa Giáo và các tôn
giáo hoàn cầu. Bởi vậy, cha Ricci chỉ nêu ra những vấn đề mà các văn
sĩ có thể dùng Lý Trí, Lý Lẽ để hiểu biết được, chẳng hạn như : tìm
hiểu ý nghĩa của đời sống, tại sao sinh ra , sống làm gì, chết rồi đi
đâu? hoặc vũ trụ này "tự nhiên" mà có, hay do Một Vị Hóa Công tạo
thành? Trong mấy trang cuối cùng của cuốn sách, cha có đề cập đến một
vài "mầu nhiệm" mà Thiên Chúa đã mặc khải cho loài người như: Chúa
Cứu Thế là Con Thiên Chúa, Ngài giáng trần để cứu độ nhân lọai, Ngài
Thăng Thiên để làm đấng trung gian môi giới giữa Thiên Chúa và nhân
lọai. Sau đây, tôi xin trích và dịch từ nguyên bản Hán văn về việc
dùng Lý Trí để tìm chân lý:
"Kim tử dục văn Thiên Chủ Giáo nguyên, tắc
ngô trực trần thử LÝ dĩ đối, đả trượng Lý phẫu tích. Hoặc hữu dị
luận, đương tất tích biện, vật dĩ đản ngã. Thử luận Thiên Chủ chính
đạo công sự dã, bất khả dĩ tư tốn phế chi" DỊCH: Bây giờ, Quí vị nho
gia muốn học biết các nguyên lý của giáo huấn về Thiên Chúa, thì tôi
(Ricci) xin phân trần thẳng thắn các Lý lẽ để đối đáp, tôi chỉ dùng
LÝ để phân tích mà thôi. Nếu quí vị nhận thấy điều gì khác lạ không
chấp thuận thì xin cứ biện luận, nhưng xin đừng xuyên tạc. Vì chúng
ta đang bàn luận về những nguyên lý có tính chất phổ quát về Thiên
Chúa, nên tôi không thể vì sự khiêm tốn của cá nhân mình mà chối bỏ
sự thật được. (coi" Thiên Chủ Thực Nghĩa", chương I, đoạn 19-27,
trang 68-69)
b/ DANH XƯNG: THIÊN CHỦ
PHẦN MỘT, chương một, Cha Ricci bàn luận về
Đấng Thượng Đế. Ngài dùng các lời của thánh hiền trong Nho Giáo trước
đời nhà Tần (Tần Thủy Hoàng, 221-206 B.C), để dẫn chứng về sự hiện
hữu của Một Đấng Tạo Thành vũ trụ càn khôn; Ngài cũng đề cập đến các
phẩm tính của Đấng Tạo Hóa như: tạo dựng vũ trụ, tự hữu, vĩnh cửu,
duy nhất...Ngài cũng tìm cách để phiên dịch các từ ngữ thần học của
Thiên Chúa Giáo sang ngôn ngữ Trung Hoa. Đây là nhiệm vụ khó khăn
nhất của một nhà truyền giáo là: làm thế nào để "Hội Nhập Phúc-Âm vào
các nền văn hóa", nhất là đối với một nền văn minh cựu trào như các
dân tộc Á châu? Dùng danh xưng từ ngữ nào trong tiếng địa phương
tương xứng, tương đương có khả năng chuyên chở được nội dung ý nghĩa
thần học của Giáo lý? Mặt khác, danh xưng mới chế tạo ra, không quá
ngây ngô, xa lạ, "lai căng" đối với dân bản xứ? Do đó, điều kiện quan
trọng đòi hỏi nơi nhà truyền giáo và các nhà thần học là phải am
hiểu, thông thạo cả Giáo Lý lẫn nền văn học, ngôn ngữ của nơi mình
giảng đạo. Khó khăn này, ngày nay, vẫn luôn luôn đặt ra cho chúng
ta..
Trong phần đầu của Đoạn IV này, đã giải thích
ý nghĩa các danh xưng như: Đế, Thượng Đế, Thiên..vẫn được truyền tụng
trong dân gian và trong Tứ Thư, Ngũ Kinh. Các nhà truyền giáo và cha
Ricci đã phải học hỏi, suy nghĩ rất thận trọng trong việc lựa chọn
một danh xưng thích hợp để phiên dịch từ ngữ Latinh DEUS(GOD) ra
tiếng Hoa ngữ. Điều khó khăn này cũng đã gặp thấy ở Nhật Bản và Việt
Nam. Có giải pháp dùng từ ngữ Latinh, rồi "âm" sang tiếng bản quốc,
chẳng hạn: Deus, âm sang tiếng Nhật là:"Deusu", sang Việt ngữ là
"Dêu"(Chúa Dêu); Gratia(ân phúc), âm sang Nhật ngữ và Việt ngữ
là"garasa"' Kinh Kính Mừng cổ bằng tiếng Việt là:" Ave Maria, đầy
garasa Chúa Dêu ở cùng Bà"...Giải pháp này có cái lợi là không sợ
"danh xưng mới chế tạo"làm thay đổi nội dung, ý nghĩa trong thần học
giáo lý. Nhưng có nguy cơ làm cho Thiên Chúa Giáo trở thành đạo ngoại
lai, "đạo tây", xa lạ với văn hóa ngôn ngữ dân tộc; ngoài ra, các
tiếng "deusu", hay "dêu"có nghĩa xấu, bất xứng trong ngôn ngữ bình
dân! Hơn nữa, theo nhận định của một số thừa sai, sợ rằng dân chúng
bản xứ có thể hiểu lầm, coi vị thần mang tên mới này(Chúa Dêu) là một
vị thần mới của tây phương đem đến và khác với Vị Thiên hay Thượng
Đế, hay Ông Trời mà họ vẫn tôn kính là Đấng Tạo Hóa. Một giải pháp
khác, đã được các tu sĩ Phật Giáo( thế kỉ ba, bốn) dùng, khi khởi sự
truyền đạo Phật từ Ấn Độ qua Trung Hoa. Đó là phương pháp gọi
là"cách-nghĩa"(ko yi, ge yi; coi: "A Short History of Chinese
Philosophy", by Fung Yu Lan, trang 242). Theo cách thức này, người ta
dùng các danh từ và tư tưởng của Lão-Trang như "Vô", "Vô Vi", "Hữu".
Hữu Vi"...để chuyển ý, hay giải thích bằng loại suy(interpretation
by analogy), tức là một cách "tương tự", những quan niệm của Phật
Giáo Ấn Độ, vì người ta cho rằng: tư tưởng của Trang Tử gần giống lý
thuyết của Phật học. Môn phái Thiền tông, Thiền học ở Trung Hoa được
xây dựng theo phương pháp này. Do đó, Phật học đã đồng hóa, pha trộn
với tư tưởng, văn hóa và đã phát triển tương quan với truyền thống
Trung quốc. Phương pháp này có nguy cơ là làm sai lạc, xuyên tạc nội
dung ý nghĩa của giáo lý của đạo" gốc". Vả lại, muốn dùng phương thức
này, cần phải thông thạo, và nghiên cứu tường tận triết học Trung Hoa
thì mới có thể so sánh được. Nhưng đây cũng là một thách đố đối các
nhà truyền giáo ngoại quốc, nếu thực sự muốn đem Đạo vào Đời, hay đem
Phúc Âm Hội Nhập vào các nền văn hóa, văn minh của các dân tộc, theo
gương Thánh Phao lô Tông đồ và Thánh Tôma Aquinô đã dùng ngôn ngữ và
triết học Hy-lạp để giải thích Phúc Âm, khởi thủy đã mặc bộ áo của
văn hóa Do thái giáo.
Sau khi phiên dịch Tứ Thư, Ngũ Kinh, cha
Ricci và các linh mục Dòng Tên đã nhận thấy vết tích "hữu thần" trong
tín ngưỡng của dân chúng Trung Hoa. Hai từ ngữ có thể dùng để phiên
dịch danh từ "Deus"trong tiếng Latinh là "Thượng Đế", và "Thiên".
Chữ Thượng Đế mang tính cách"hữu ngã", bản vị, nhưng có nguy cơ là
như muốn hoàn toàn đồng hóa về ý nghĩa giáo lý giữa Thiên Chúa Giáo
và Khổng Giáo; vả lại, Lão Giáo bình dân cũng thờ vị thần tên là
Thượng Đế. Nếu dùng chữ "Thiên" thì sợ ý nghĩa chữ này hàm hồ( có khi
chỉ trời xanh) thiếu tính chất "hữu ngã". Do đó, cha Ricci đã sáng
chế ra chữ mới: ghép chữ Thiên với chữ Chủ thành ra:"THIÊN CHỦ",(The
Lord of Heaven) có ý chỉ Một Vị Chủ Tể " Hữu Ngã"( personal) cai trị
muôn vật trên trời dưới đất trong vũ trụ. Danh xưng này vẫn còn
truyền tụng và phổ thông cho đến ngày nay tại Trung Hoa và Việt nam.
Ngoài ra, danh từ "Thượng Đế" cũng được dùng để chỉ Thiên Chúa. Cũng
vì thế, Trung Hoa gọi Đạo của các thừa sai, đặc biệt của cha Ricci
rao giảng là Thiên Chủ Giáo(Lưu ý: chữ Catholicism, catholic trong
tự điển, cũng dịch là Thiên Chủ Giáo.)
Có thể vì chủ trương đem Đạo vào đời, vào Văn
Hóa, vì muốn Phúc Âm "mặc bộ áo Trung Hoa", nên cha Ricci và một số
đồng nghiệp đã lựa chọn các danh từ phổ thông trong dân chúng, rồi
"thanh tẩy" và ban cho chúng một nội dung thần học mới. Do đó, người
ta không lấy làm lạ khi thấy cha Ricci dùng các danh từ đã phổ biến
trong giới Phật tử để dịch những danh từ thần học trong sách Giáo Lý,
chẳng hạn, như: Thiên đàng, Địa ngục, ma quỉ(mara) Thiên thần(deva),
Linh Hồn. Danh từ "Thánh"cũng rất phổ thông trong Khổng Giáo để chỉ
các bậc hiền nhân quân tử, như thánh hiền, thánh vương, là những
người khôn ngoan thông thái, đạo đức(sage) Chữ "thánh" trong văn hóa
Trung Hoa không chỉ sự thiêng liêng, cao cả của các bậc thần linh(
deity). Trong thần học giáo lý công giáo, chữ "thánh", có nghĩa là
linh thiêng, thánh thiện( holy, saint, sacred), phản nghĩa với
"thánh" là "tội nhân", là "phàm tục"(profane). Cha Ricci đã ghép hai
chữ"thánh" và "thần"( divinity) thành ra:"thánh thần", một tĩnh tự để
chỉ vị thánh hiền(sage). Sau này, Giáo lý Công Giáo dùng danh từ
"Thánh Thần" để chỉ Ngôi Ba Thiên Chúa là Đức Chúa Thánh Thần,( Holy
Spirit), trong khi giáo phái Tin Lành(Protestants) dịch là "Thánh
Linh". Từ thế kỉ 18, người thánh thiện được gọi là bậc"thánh nhân",
hay bậc "thần thánh". Cha Ricci đã dùng chữ "thánh thần" , trong
nguyên tác Hán văn như sau:
"Thế nhân tuy "thánh thần", bất đắc dĩ Vô vật
vi Hữu", dịch nghĩa:Dầu là bậc thánh hiền nhất trong thế giới này,
cũng không thể lấy "hư vô",( không có gì hết) mà làm ra có cái gì
được( sách dẫn chứng, đoạn số 72, trang 102)
Ngoài ra, cha Ricci đã phải sáng tác ra
những danh từ mới để phiên dịch các danh từ và ý niệm của triết học
và thần học Kinh Viện, chẳng hạn: cha dùng chữ kép"tự-lập-giả"để dịch
chữ"substantia", và chữ "ỷ lại giả" để dịch chữ "accidens". Ngày nay,
các học giả dùng danh từ "tự-lập-thể" và "ỷ- phụ-thể"(coi, như trên,
đoạn số 83, trang 108)
c/ ẢNH HƯỞNG CỦA TÁC PHẨM VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ
ĐỐI VỚI GIÁO HỘI NGÀY NAY
Khi Cha Ricci cho phát hành sách "Thiên Chủ
Thực Nghĩa", thì ngài cũng đã nổi tiếng là một nhà khoa học và toán
học trong giới nho sĩ Trung Hoa. Do đó, tác phẩm của ngài được các
giới trí thức hoan nghinh hưởng ứng, đặc biệt vì ngài đã dùng các lời
vàng ngọc của Thánh Hiền để dẫn chứng cho các lý lẽ trong tác phẩm.
Sau đây, sẽ bàn về:1/ Tầm ảnh hưởng rộng lớn của tác phẩm; 2/Cần bổ
khuyết và tiếp tục công trình của cha Ricci như thế nào?
1/ ẢNH HƯỞNG RỘNG LỚN CỦA TÁC PHẨM
Tinh thần và mục đích của sách "Thiên Chủ
Thực Nghĩa" là để "Hội Nhập" Phúc Âm, hay Thiên Chúa Giáo vào văn học
và ngôn ngữ Trung Hoa. Đó là phương pháp truyền đạo của một học giả
Tây Phương, Cha Matteo Ricci, đã dùng chính cách suy luận và tư tưởng
của Trung Hoa để trình bày, và giới thiệu Thiên Chúa Giáo với giới
Nho gia. Ngày nay, phương pháp này đã được Công Đồng VativanII
(1962-1965) khai triển để đem Phúc Âm hội nhập vào các nền văn hóa
các dân tộc. Do đó, tầm ảnh hưởng của sách "Thiên Chủ Thực Nghĩa"
thật lớn lao từ thời đại cha Ricci cho đến ngày nay
Thật vậy, nhờ dùng Lý Trí Tự Nhiên và Triết
lý để suy luận, các Nho gia đã có thể tìm hiểu được một phần nào hệ
thống triết lý- thần học của Thiên Chúa Giáo, và họ đã nhận ra những
điểm tương đồng, những "giao điểm" giữa hai luồng tư tưởng, khiến họ
nỗ lực nghiên cứu, so sánh Thiên Chúa Giáo với những giá trị cổ
truyền. Nỗ lực "Đối Thoại" giữa các tôn giáo cũng đã lan tràn sang
các cánh đồng truyền giáo ở Nhật Bản, Đại Hàn, và đặc biệt ở Việt Nam
với cha Đắc Lộ. Khai thác và khai triển kho tàng đạo đức của nền văn
minh kỳ cựu bậc nhất của nhân loại, Đạo TU THÂN _ như cha Ricci đã
nhận xét_ sẽ giúp con người"Nhân chi sơ tính bản thiện", tìm gặp được
Thiên Chúa chân thật. Việc dùng các lời dẫn chứng rút ra từ Tứ Thư,
Ngũ Kinh, một cách chính xác và thích hợp, đã gây được sự cảm phục và
thích thú cho độc giả. Đặc biệt, dùng chính ngôn ngữ Trung Hoa như
danh xưng "THIÊN CHỦ", Thượng Đế...và các danh từ triết lý thần học ,
luân lý...để chuyển ý, phiên dịch, và mặc cho chúng một nội dung, một
ý nghĩa mới, hoàn hảo hơn: đó là thành quả và công trình lớn lao
nhất của cha Ricci đã thực hiện và đi tiên phong. Các vị thừa sai
Dòng Tên đến giảng đạo sau cha Ricci, vào cuối thời nhà Minh như cha
Giulio Aleni, và cha Francois Noel, cha Alexandre de la Charme trong
thời nhà Thanh..cũng đã theo đường lối và phương pháp của cha Ricci
Lịch sử kể lại, một số đông các nho sĩ và
các vị thượng quan trong triều đình như Feng Ying-ching, Hsu
Kuang-ch'i.. đã đọc tác phẩm và xin tòng giáo. Vua Khang
Hy(1662-1723) nhà Thanh(1644-1911), đã nghiên cứu sách "Thiên Chúa
Thực Nghĩa" trong sáu tháng , sau đó, đã ra chiếu chỉ bãi bỏ lệnh cấm
giảng đạo, vào tháng ba, năm 1692
Nói tóm lại, nhờ phương pháp "hội nhập văn
hóa", người ngoài đạo Công giáo cảm thấy gần gũi, thân thiện, vì có
cơ hội thuận tiện, dễ dàng tìm hiểu thêm về giáo lý của Đạo mới;
đồng thời các vị thừa sai và các tín hữu cũng học hỏi được nhiều điều
quí hóa trong Khổng Giáo, Nho giáo để củng cố Đức Tin vững mạnh hơn.
Lịch sử còn minh chứng, nhờ cuộc tranh luận về những đề tài trong
cuốn sách của cha Ricci, đã gây nên một phong trào tìm hiểu tư tưởng
và triết lý Á Đông, khởi nguồn cho thời kỳ Khai Minh(Enlightenment)
vào thế kỉ 17,18 tại Âu Châu
2/ CẦN BỔ KHUYẾT và TIẾP TỤC CÔNG TRÌNH CỦA
CHA RICCI NHƯ THẾ NÀO?
Trước khi thẩm định giá trị hay phê bình
sách "Thiên Chủ Thực Nghĩa", ta nên đối xử một cách "công bằng" đối
với cha Ricci, nghĩa là không phải chỉ phê phán, nhận định theo quan
điểm của chúng ta ngày nay, nhưng nên "đặt mình" vào hoàn cảnh xã
hội, tôn giáo vào thời kì cha Ricci sinh sống, cách đây hơn 400 năm
và tìm hiểu nền giáo dục tu đức của Dòng Tên, và khuynh hướng thần
học thời bấy giờ. Lại nữa, dầu có thiện chí nhiệt tình theo đuổi và
thực hiện một chính sách thích đáng cho việc truyền giáo là đem Phúc
Âm của Chúa Cứu Thế hội nhập vào văn hóa Trung Hoa, nhưng vì khả năng
của một cá nhân bị hạn chế, không thể nghiên cứu tường tận, trong một
thời gian ngắn , cả một kho tàng văn chương triết lý phong phú của
Trung quốc ! Vả lại, vì khoa thần học về các tôn giáo(theology of
religions) chưa được phát triển như ngày nay, thời Công
ĐồngVaticanII, nên đa số các thần học gia thời cha Ricci còn giải
thích một cách hạn hẹp ý nghĩa câu" Ngoài Hội Thánh(Công Giáo), không
có sự cứu độ", tức là chỉ có một Đạo thật là Thiên Chúa Giáo có thể
dạy người ta đến với Chúa được mà thôi , còn các đạo khác đều lầm lạc
do tội tổ tông di truyền, cho nên không có giá trị gì dẫn đưa đến
Cứu Độ
Về quan điểm thần học, cha Ricci và Dòng Tên,
theo cách giải thích của Thánh Âucơtinh(353-430), quả quyết rằng: nhờ
lòng nhân từ của Chúa thương ban và muốn cho hết mọi người được cứu
độ, nên nhìn nhận có thể có những giá trị luân lý rất cao siêu, những
điều thiện hảo trong các tôn giáo ngoài Thiên Chúa Giáo. Vì quan điểm
thần học và chính sách "Hội Nhập Văn Hóa"khác biệt giữa Dòng Tên và
các Dòng Phanxicô, Đaminh, lại pha trộn thêm những yếu tố không phải
tôn giáo như sự tranh giành ảnh hưởng , quyền lợi chính trị, hãnh
diện chủng tộc giữa người Bồ, Tây(Tây Ban Nha)..,.tất cả những sự xáo
trộn đó đã gây nên cuộc tranh chấp lịch sử, gọi là:" Cuộc tranh chấp
về Lễ nghi( Rites Controversies, coi Julia Ching, sách đã dẫn,
trang 19-24)
Sau15 năm học ngôn ngữ và nghiên cứu sách
Thánh Hiền, cha Ricci đã bắt đầu soạn bản thảo sách "Thiên Chủ Thực
Nghĩa". Theo một số nho sĩ đồng thời với cha Ricci và các học giả
Trung Hoa thời nay cho rằng cha Ricci đã không có đủ thời giờ để tìm
hiểu sự biến chuyển của dòng tư tưởng Khổng Học từ thời Đức Khổng Phu
Tử cho đến trào lưu Lý học của Chu Hy và Tâm học của Vương dương
Minh. Vì thế, cha Ricci đã chỉ chấp nhận Khổng Giáo thời nguyên thủy
và phi bác phái Lý học , Tâm học.. Cha Ricci cũng không chấp nhận Lão
giáo và Phật giáo, vì cho rằng: Khổng học luôn chống lại Phật học!
Nhưng theo lịch sử triết học Trung Hoa, các nho sĩ, đặc biệt vào thời
nhà Tống, nhà Minh, đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của các triết thuyết
của Phật học( Thiền Học), và Lão học, tạo nên một hòa đồng tôn
giáo-triết lý. Hơn nữa, Phật giáo đã phải nương nhờ vào Nho giáo để
tồn tại.
Vì những khuyết điểm như trên, một số học giả
ngày nay cho rằng cha Ricci đã không hiểu đúng ý nghĩa của các danh
xưng để chỉ Nguyên Lý Siêu Việt như: "Vô" của Lão Giáo, "Không" của
Phật Học, "Thái Cực", "Khí", "Lý" của Chu Hi(1130-1200). Những danh
từ đó, chẳng qua là cách diễn tả Chân Lý Siêu Việt bằng "phương thức
phủ định"(via negativa): "Vô" hay"Không", không có nghĩa là "Không có
gì hết"
Để tạm kết: đây cũng là một thách đố lớn lao
đối với công cuộc "Hội Nhập Phúc Âm" vào các dân tộc Á châu. Đường
hướng mục vụ , nguyên tắc chỉ đạo đã được cha Ricci đặt ra, và được
Hội Thánh khuyến khích áp dụng như lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
tuyên dương công trạng của cha Matteo Ricci, nhân dịp 400 năm ngày
sinh nhật của cha: "Xưa kia các Giáo Phụ của Hội Thánh đã hòa hợp
Thiên Chúa Giáo với văn hóa Hy lạp, thì cha Matteo Ricci cũng đã xác
tín một cách đúng đắn là niềm Tin vào Chúa Cứu Thế sẽ không làm
thương tổn cho nền văn hóa Trung Hoa, trái lại, còn làm phong phú và
kiện toàn hơn nữa"(diễn văn ngày 25 tháng Mười năm 1982)
ĐOẠN V. “ÔNG TRỜI “ VIỆT NAM
Theo truyền thống cố hữu của dân tộc Việt
nam thì niềm Tin vào Một Đấng "Bề Trên" đã được biểu lộ trong lễ nghi
tế tự, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, văn thơ..đặc biệt trong lời
kêu cứu cầu xin chân thành đặt hết ước vọng của cuộc đời vào sự quan
phòng của Một "Ông Trời", tuy cao sang vô cùng, nhưng cũng rất gần
gũi, thân thiết, luôn lắng nghe loài người cầu khẩn, than van:
“Lạy Trời mưa xuống” ...
“Ông Trời có mắt!”
“Trời ơi!”
Đấng Cao Cả đó không phải là một nguyên
lý hay một ý tưởng mông lung mơ hồ, huyền hoặc, trừu tượng, nhưng
“giống như” (tương tự) như một con người có thể cảm thông những nỗi
vui mầng, sầu khổ của đời sống. Đấng ấy không phải là vòm trời xanh,
không phải là biển khơi, sông núi hùng vĩ..không phải là một vị thần
thánh tầm thường, nhưng Siêu phàm, vượt trên muôn sự muôn loài và
đáng tôn kính bằng danh xưng “ÔNG TRỜI”. Danh từ “ÔNG” biểu thị một
ngôi vị, hữu ngã, một bản vị biệt lập, siêu việt hơn trời xanh, và
làm CHỦ (CHÚA) của vũ trụ càn khôn
Từ khi còn sinh sống như một bộ lạc cho
đến lúc thành lập được một qui chế quốc gia, trải qua bao thăng trầm
của lịch sử khai quốc, dựng nước, người dân Việt luôn biểu lộ lòng
khao khát TÂM LINH, hướng về Đấng Tối Cao mà họ gọi là “ÔNG TRỜI”. Do
đó, cho đến ngày nay, mọi người Việt Nam, dầu sinh sống ở bất cứ nơi
nào trên trái đất này, dầu theo bất cứ tôn giáo nào, hay chịu ảnh
hưởng của học thuyết ngoại lai nào, cũng đều công nhận một chân lý,
một sự thực hiển nhiên này là: Đạo Thờ Trời, và Đạo Hiếu là niềm Tin
cố hữu của mọi người Việt Nam. Một câu hỏi thường đặt ra, đặc biệt
đối với người ngoại quốc muốn tìm hiểu tình hình tôn giáo ở Việt
Nam: “Người Việt nam theo Đạo nào”? Có thể trả lời mà không sợ sai
lầm rằng: Hầu hết dân chúng Việt Nam đều tin có Ông Trời, và thờ kính
Tổ Tiên.” Nguyên tắc và tỉ lệ này vẫn đúng, ngay khi áp dụng vào tình
hình "Phật giáo ở Việt nam". Theo truyền thống của Phật học từ Ấn
Độ truyền bá qua Việt nam, trực tiếp hay qua ngả Trung Hoa, rất khó
mà quả quyết được Đức Phật có dạy các tín đồ phải tin vào Vị Chủ Tể
vũ trụ hay không? Như lịch sử, kinh sách cho biết, về vấn đề này,
Ngài thường giữ thái độ im lặng, không trả lời. Nhưng khi Phật giáo
được truyền vào nước ta thì dân chúng Việt nam đã có sẵn câu trả lời
rõ ràng về vấn đề có hay không có “ÔNG TRỜI”. Tuy mến chuộng Đạo Từ
Bi của Phật Tổ, nhưng là người Việt nam, họ không thể chối bỏ niềm
Tin cố hữu vào Ông Trời được, cũng như không thể không cúng giỗ Tổ
Tiên, Ông Bà khi đã qua đời, vì tin rằng: “chết là thể phách, còn là
tinh anh”; dầu chết về phần xác, nhưng hồn thiêng của Ông Bà vẫn còn
ở với con cháu, “sự tử như sự sinh”. Họ không thể hoàn toàn chấp nhận
lý thuyết Luân Hồi (samsara) Nhân-Quả (karma) theo triết lý Ấn Độ, vì
Luật Nhân-Quả là một Luật “lạnh lùng, vô hồn”, nhưng dân Việt luôn
tin tưởng vào một Ông Trời đầy lòng thương xót. Họ cũng không thể tin
rằng: sau khi chết, hồn thiêng của Ông Bà lại phải “luân hồi”đầu thai
làm nhiều kiếp khác nhau, có khi “làm thân trâu ngựa”. Ông Bà đã ra
người thiên cổ thì cũng vẫn tồn hữu để phù hộ con cháu. Theo luật
Nhân-Quả, công việc của mỗi cá nhân làm, sẽ tạo cho chính mình một
cái nghiệp (karma), và chỉ có chính mình mới có thể đổi cái nghiệp
của mình mà thôi, không thể nhờ ai giúp được, kể cả việc cầu xin Đức
Phật cứu vớt cũng là vô ích. Nhưng dân chúng Việt nam đã sửa đổi lại
quan niệm Nhân-Quả, bằng Đạo Hiếu, tức là tình liên đới bền vững giữa
ông bà cha mẹ và con cháu, ở đời này, cũng như ở bên kia thế giới. Do
đó, mới có câu: “Phúc Đức tại mẫu”, hay câu:” Đời cha ăn mặn, đời con
khát nước! hay "Quít làm cam chịu"! Bởi thế, dầu có vẻ trái ngược với
giáo thuyết của Phật giáo, trong thực tế đại đa số Phật tử Việt nam
vẫn Thờ Trời, vẫn theo Đạo Ông Bà. Số người Việt nam hoàn toàn chỉ
theo triết lý của Phật học mà thôi, không tin có "Trời", "không tin
hồn thiêng bất tử", thì chỉ là thiểu số. Số người thường xuyên đi lễ
Chùa, thực hành Quy Y Tam Bảo, Ngũ giới, Bát Quan Trai Giới, không
phải đa số. Nhưng trong gia đình, đại đa số tín đồ vẫn giữ Đạo Hiếu
như cúng giỗ Ông Bà. Cần phân tách tường tận như trên để tránh ngộ
nhận, hiểu lầm. Vì nếu cho rằng: "người phật tử Việt nam" là”vô
thần”, thì không đúng sự thật, vì họ cũng tin có "Ông Trời" như mọi
người khác. Nhưng nếu cho rằng: “Đa số người Việt Nam theo Đạo Phật",
thì cũng nên nói cho rõ hơn: đó là “Phật giáo du nhập từ Ấn Độ", hay
là Phật giáo đã được hội nhập với tín ngưỡng Đạo Thờ Trời, và đạo
Hiếu ở Việt nam? Như đã phân tích ở trên, trên phương diện thực hành
của “Phật giáo Việt Nam”thì “yếu tố” niềm tin vào Ông Trời và Đạo
Hiếu đã rất mạnh và trổi vượt hơn lý thuyết về luân hồi, nghiệp báo
của Phật học từ Ấn độ đem vào văn hóa Việt nam. Nói cách khác, Phật
giáo Việt nam cũng tin ở "Ông Trời" và thờ cúng Ông Bà theo truyền
thống dân Việt như tín đồ của Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài Giáo. Bàn
thờ "Thông Thiên", hay "Thiên Nhãn", biểu tượng của Niềm Tin vào
"Đấng Linh Thiêng". Theo Lão Giáo và theo Khổng giáo như các vị nho
sĩ, giới cầm quyền, quan lại, vua chúa.., cũng tin tin tưởng ở Vị
Thiên, ở Thiên Mệnh, ở Thượng Đế. Người theo Thiên Chúa Giáo hoàn
toàn tin vào “Đức Chúa Trời” là Đấng Tạo Hóa. Do đó, đã rõ ràng, hầu
hết dân chúng Việt Nam đều đặt niềm Tin vào Ông Trời: đó mới thật là
Đạo chung cho cả dân tộc Việt nam. Chính niềm Tin chung này là mối
giây liên kết của mọi phần tử trong cộng đồng dân tộc. Cần phải nhận
định một cách sáng suốt như trên, với một mục đích duy nhất cốt để
các tôn giáo hiểu biết và tôn trọng giá trị của nhau, tạo nên sự yêu
thương, tương thân tương ái, và đem lại an vui cho dân tộc. Nếu ai
cũng hiểu biết sự thật về hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam là: hầu hết
đồng bào Việt nam, dầu theo tôn giáo nào, Phật giáo, Khổng giáo, Lão
giáo, hay Thiên Chúa giáo, đều thờ Trời và giữ đạo Hiếu, vì đó là
niềm tín ngưỡng căn bản và quan trọng nhất, thì không còn có vấn đề
“quốc giáo” hay đặt ưu thế của một tôn giáo nào trên các tôn giáo
khác, vì quyền lợi riêng, hoặc vì mưu đồ chính trị. Dân tộc Việt Nam
lúc nào cũng cần sự đoàn kết của mọi giới đồng bào đồng hương cùng
chia sẻ một niềm tin chung, "khoan dung, độ lượng"(tolerance) để tạo
nên sức mạnh tinh thần hòa hợp xây dựng đất nước. Lịch sử thế giới,
và Việt Nam cho thấy: các cuộc “thánh chiến” bao giờ cũng gây nên
những cuộc tàn sát thảm khốc, ngay cả đối với những người ruột thịt
cùng chung huyết thống, cùng một chủng tộc.
Sau đây, ta có thể minh chứng “Đạo chung
của dân tộc Việt nam” bằng những đề mục như:
1. Ông Trời trong văn chương bình dân, tức
Ca Dao, Tục Ngữ(197)
2. Ông Trời trong văn chương bác học, trong
thi phú
3. Lễ Tế Nam Giao
4. Các nhà truyền giáo nhận xét về niềm Tin
chung của dân tộc Việt nam: đặc biệt Linh mục Đắc Lộ
1. ÔNG TRỜI TRONG CA DAO TỤC NGỮ
Theo các nhà nghiên cứu về tôn giáo, thì
niềm Tin vào một Đấng Tạo Hóa là một niềm tin tự nhiên của con người
có trí khôn, biết suy luận. Đứng trước vũ trụ bao la, bát ngát, đầy
những huyền bí, mầu nhiệm, con người tự cảm thấy mình vô cùng bé nhỏ,
hèn hạ, Hư Vô! Bởi vì mỗi người chúng ta có làm gì được đâu ? Đầu,
mình, tứ chi, lục phủ ngũ tạng không phải chính chúng ta hay cha mẹ
chúng ta tạo ra mà có! Nhìn lên trời xanh: các vì sao, các hành
tinh...mà khoa thiên văn ngày nay khám phá ra những sự lạ lùng, ngoài
trí tưởng tượng. Chung quanh ta: nào sông núi, biển khơi, nào cầm
thú, thảo mộc...Tất cả đều ở ngoài ta, và ta không có một quyền lực
gì trên chúng cả. Ta còn hay mất thì chúng vẫn tồn tại như thường.
Một giây phút nào đó, ta muốn cho trái tim ta tiếp tục đập, nhưng nếu
nó ngừng lại, thì ta cũng phải chịu vậy! Ngoài ra, trên trần gian
này, con người phải chịu biết bao đau khổ, tai uơng bất trắc. Có
những đau khổ do tâm lý, do dục vọng lăng loàn của con người gây
nghiệp báo cho mình, nhưng cũng có nhiều thiên tai như động đất, bão
lụt, hạn hán..mà con người không gây ra nhưng cũng phải hứng chịu, vì
nó nằm ở ngoài quyền năng của ta. Đứng trước những huyền bí của vũ
trụ bao la đó, con người biết suy nghĩ đã đưa Tâm Linh hướng về một
Đấng Tạo Hóa có quyền năng giải đáp mọi thắc mắc ưu tư của đời sống.
Nguyên Lý Siêu Việt đó, là cội nguồn của vũ trụ và của con người, và
đã được dân chúng Việt Nam tuyên xưng là: "ÔNG TRỜI"!
a/ DANH XƯNG
Ngoài danh xưng phổ thông”Ông Trời”, dân
chúng Việt Nam còn quen dùng nhiều danh xưng khác như: Tạo Hóa, hay
Con Tạo để chỉ Ông Trời tạo dựng vũ tru; Hóa Công, Thợ Trời để sánh
ví Ông Trời như một tay thợ tài giỏi vô cùng, một kỹ sư sáng tạo nên
trời đất; và danh từ Hóa Nhi hay Trẻ Tạo. Ngoài ra, dân chúng cũng
quen thuộc với các danh xưng như: Ngọc Hoàng, Hoàng Thiên, Thượng Đế,
Thiên Chúa, Chúa Trời...
b/ NHỮNG PHẨM TÍNH CỦA ÔNG TRỜI
_ Qua cách xưng hô “Ông Trời”, ta nhận
thấy: người bình dân nhìn lên vòm "trời" bao la, tô điểm bằng những
vì sao, mặt trời, mặt trăng..do đó, "trời" là biểu tượng, hình ảnh
của cái gì cao sang, tốt đẹp hơn hết mọi vật mọi loài trên mặt đất
này. Đó chỉ là trời xanh, hay không trung xa tít mù mịt mà thôi! Vì
là loài có trí khôn, tự nhiên con người đặt ra những câu hỏi như : Ai
làm nên trời xanh lạ lùng như thế? Chắc hẳn, phải có một Vị làm Chủ
đã tạo dựng nên nó. Do đó, con người hướng Tâm Linh lên một Quyền Lực
Thiêng Liêng, làm Chủ Tể muôn loài. Vì thế, người bình dân đã xưng
"Đấng ấy" là“ÔNG” nghĩa là một Đấng Hữu Ngã, Hữu Vị, Thượng Trí, Uy
Quyền, đầy Tình Thương Xót, có thể lắng nghe những lời cầu kinh, và
có thể ban ân giáng phước cho nhân loại:
Lạy TRỜI mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy bát cơm đầy
Lấy khúc cá to
-Lạy Trời! mưa thuận gió đều
Cho đồng lúa tốt, cho chiều lòng em!
_”Ông Trời” thật là Đấng Tạo hóa, là Vị
Hóa Công tài tình tạo dựng muôn vật muôn loài. Ngài là Đấng Quan
Phòng, điều khiển, bảo vệ và dưỡng nuôi cho nhân loại được tồn tại và
vũ trụ vận chuyển điều hòa. Sự sống sự chết đều ở trong quyền phép
của Trời; hôn nhân cũng do kế hoặch của Trời để cho nhân loại được
tồn tại như câu:”có âm dương, có vợ chồng”; ngày /đêm, sáng /tối,
loài cầm thú, thảo mộc có giống đực, giống cái, loài người có nam có
nữ ...tất cả đều do Ông Trời dựng nên:
- Trời sinh, Trời dưỡng.
-Trời sinh voi, Trời sinh cỏ.
-Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính.
-Sinh hữu kỳ, tử vô hạn.
-Bĩ cực, thái lai.
-Trời sinh con mắt là gương,
Người ghét ít ngó, người thương ngó
hoài.
-Trông trăng mà thẹn với Trời,
Soi gương mà thẹn với người trong
gương.
-Trên rừng có cây bông kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
Anh đi Lục tỉnh giáp vòng,
Tới đây Trời khiến cho lòng thương
em!
-Chữ nhân-duyên, thiên tải nhất thì,
Giàu ăn, khó nhịn, chứ có lo gì mà
lo!
_ “Ông Trời” rất công bằng, công minh
chẳng thiên vị ai, thưởng kẻ lành phạt kẻ gian ác. Nhưng ý định và
phán quyết của Trời rất cao siêu, loài người nhiều khi không hiểu
thấu được. Người đời thường phán xét theo bề ngoài, nhưng Ông Trời
“dò xét tâm can”. Vì thế, kẻ thiển cận, nông cạn, hay thiếu nghị lực,
thiếu kiên nhẫn, đâm ra kêu trách, than vãn.
- Trời có mắt.
- Không có Trời ai ở với ai!
- Trời quả báo, ăn cháo gẫy răng,
Ăn cơm gẫy đũa, xỉa răng gẫy hàm.
- Trời làm một trận lăng nhăng,
ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.
- Phí của Trời, mười đời chẳng có.
- Biết sự Trời, mười đời chẳng khó.
- Chê của nào, Trời trao của ấy.
- Trời sao Trời ở chẳng cân,
Kẻ ăn không hết, người lần chẳng
ra!
- Trời nào có phụ ai đâu?
Hay làm thì giầu, có chí thì nên.
_”Ông Trời”là Đấng thương xót vô cùng,
vì Yêu Thương là bản tính của Ngài, nên Ngài đã dựng nên vũ trụ cho
nhân loại hưởng dùng; Ngài hay tha thứ các lỗi lầm của con người yếu
đuối. Đặc biệt, Ngài phù giúp những người thiện tâm, thiện chí và can
đảm chiến đấu với những nghịch cảnh để xây dựng sự nghiệp, giúp nha,
giúp nước:
-Trời đánh còn tránh miếng ăn.
-Làm trai quyết chí tu thân,
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo!
Khi nên, Trời giúp công cho,
Làm trai năm liệu, bảy lo mới hào.
Trời sinh, Trời chẳng phụ nào,
Phong vân gặp hội, anh hào ra tay.
Trí khôn rắp để dạ này,
Có công mài sắt, có ngày nên kim..
2. “ÔNG TRỜI” TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
Niềm Tin Tự Nhiên vào Một Đấng Hóa Công,
hay “Ông Trời” còn được ẩn tàng dưới hình thức câu truyện cổ tích,
hay ngụ ngôn. Những câu truyện có vẻ ly kỳ, hoang đường.., nhưng thật
ra chứa đựng những tư tưởng về lòng ái quốc, về nguồn gốc, triết lý
nhân sinh, và tin ngưỡng của dân gian. Có những truyện cổ tích được
truyền khẩu, từ xa xưa tới ngày nay, cốt để dạy một bài học về luân
lý đạo đức, "ác giả ác báo" như truyện Tấm cám, hoặc về hôn nhân,
tình nghĩa vợ chồng như truyện Trầu cau, v.v. Sau đây là truyện DƯA
HẤU, xuất hiện từ đời Hùng Vương, đã nói lên lòng tín ngưỡng của dân
tộc đối với Đấng Tạo Thành ra mỗi người, và luôn hộ phù nuôi dưỡng
chúng ta, đúng như câu tục ngữ: “Trời sinh, Trời dưỡng”
Vào đời vua Hùng Vương thứ 18, một cậu
con trai 7 tuổi tên là Mai Yển, khôi ngô dĩnh ngộ, được nhà vua nhận
làm con nuôi, và đổi tên là An Tiêm. Vì An Tiêm là một tài trai, có ý
chí, cần cù làm việc, nên vua còn ban cho một tỳ thiếp để làm vợ, và
sinh được một bé trai. Hai vợ chồng gây nên sự nghiệp lớn, được mọi
người kính nể. Nhưng An Tiêm thường nói cho bạn bè biết:” Sự thành
công của anh là nhờ Trời ban và công lao khó nhọc, tần tiện của vợ
chồng anh, chứ anh chẳng cậy nhờ ai, không nhờ vả ơn vua ban lợi
lộc”. Có kẻ nịnh thần tâu cho vua Hùng biết An Tiêm đã nói như thế,
nên nhà vua nổi giận, bắt vợ chồng và đứa con trai đầy ra đảo Nga Sơn
(Thanh Hóa), chỉ tiếp tế lương thực trong 4 tháng, rồi để mặc kệ cho
chết đói!
Nhưng dầu ở ngoài đảo hiu quạnh, An Tiêm
vẫn an ủi vợ con, hãy can đảm lên và tin tưởng vào “Ông Trời”: “Trời
sinh, Trời dưỡng”, “Trời sinh voi, Trời sinh cỏ”. Sống chết do Trời
và cũng tại ta.
Một hôm đi dạo trên đảo, An Tiêm thấy con
bạch hạc nhả hột xuống đất, và một loại cây giây leo mọc lên, tàu lá
xanh tươi, xum xuê lạ thường, lại có trái thơm ngon, lắm nước ngọt
ngào và rất sai trái. An Tiêm bảo vợ con:” Không trồng mà được ăn, đó
là Trời cho ta đấy”.
Ít lâu sau, các thương gia người Tàu ghé
qua đảo để đổi chác hàng hóa, thấy trái “tây qua” thơm ngon, rất
nhiều nước ngọt để giải khát, nên vừa ăn vừa tấm tắc khen ngon: “hẩu
lớ!, hẩu lớ! (hảo = tốt lắm! tốt lắm!), nên về sau người ta gọi là
trái DƯA "HẤU”. Tiếng đồn khắp nơi về trái dưa hấu thơm ngon ngọt đó,
nên nhiều thương gia ghé lại mua, Vì thế, chẳng bao lâu, vợ chồng An
Tiêm trở nên giầu có. Một hôm, nhà vua sai người đến đảo xem, vợ
chồng và đứa con còn sống hay đã chết đói rồi, thì được bá cáo là An
Tiêm làm ăn rất giầu có. Vua Hùng vương mới hiểu ra Ý Trời đã giúp An
Tiêm, nên triệu về triều đình trả lại chức tước cho anh. Vua lại
truyền cho trồng dưa hấu khắp nơi, và đổi hòn An Tiêm thành “An Tiêm
Sa Châu”. Ngày nay, “Trời” cho ta thưởng thức trái dưa hấu thơm ngọt
vào dịp Tết Đoan ngọ (tháng năm, ở miền Bắc) và vào dịp Tết Nguyên
Đán ở miền Nam (đặc biệt dưa hấu cầu Đúc, bán tại bến Ninh Kiều, Cần
Thơ' và dưa hấu ruột vàng, ở Chắc cà Nả, Sóc Trang) (198).
Qua câu truyện Quả Dưa Hấu, đã rõ ràng
người xưa muốn dạy con cháu đời đời phải đội ơn Trời đã sinh ra và
dưỡng nuôi ta. “Có Trời mà cũng có ta”. Mọi sự bởi Trời mà có: Trời
ban cho ta hột giống, và mưa nắng..nhưng Trời cũng buộc ta phải làm
việc như cầy cấy thì mới có của mà ăn: "tay làm, hàm nhai"
3/ “ÔNG TRỜI” TRONG VĂN CHƯƠNG BÁC HỌC
Chữ “Văn chương Bác học” chỉ những bài
thi phú, truyện..do giới sĩ phu sáng tác. Dĩ nhiên, các văn thi sĩ
trí thức này cũng đã thấm nhuần truyền thống tín ngưỡng dân tộc, lại
thêm kiến thức uyên bác về Khổng học, Lão học và Phật học, tức “Tam
Giáo”, cũng gọi là “Tam Giáo đồng lưu”, hay “Tam Giáo đồng nguyên”.
Về phương diện tín ngưỡng, qua các tác phẩm sáng tác, ngâm vịnh, ta
có thể quả quyết: niềm Tin cổ truyền vào “Ông Trời” rất sâu xa và
mãnh liệt, vì các sĩ phu đã hấp thụ được các quan niệm triết lý về
Thiên Mệnh của Khổng giáo. Cũng như giới bình dân Việt nam, các văn
thi sĩ không cho rằng vũ trụ nhân sinh được điều khiển bằng”Luật
Nhân-Quả, Luân hồi”, nhưng do một Vị Chủ Tể càn khôn mà họ gọi là
THIÊN, THIÊN MỆNH, THƯỢNG ĐẾ, hay NG ỌC HOÀNG...Ngoài ra, các vị hiền
triết Việt nam cũng chủ trì Đạo Hiếu, vì là truyền thống của nòi
giống Lạc Hồng, và cũng thích hợp với Tam Cương, Ngũ Thường.
Thương khóc non sông với quốc dân,
Tài hèn không vớt được trầm luân.
Lòng này chưa hả thân đã chết,
Thẹn xuống Hoàng Tuyền gặp cố nhân
(Bài thơ tuyệt mệnh của Sào Nam Phan Bội
Châu (1867-1940)
Sau đây, sẽ trình bày một ít thơ văn tiêu
biểu cho niềm Tin cổ truyền vào “Ông Trời”, cũng là Vị Hóa Công tạo
thành vũ trụ.
a/ Lý thường Kiệt (1036-1105)
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch nghĩa: Núi sông nước Nam thì vua
nước Nam ở. Rõ ràng phận đã định ở trong cuốn sổ của Trời. Làm sao
bọn giặc lại lấn cướp (đất của ta)? Chúng mày rồi xem sẽ bị thua bại
hết.
Bài thơ bất hủ này được danh tướng triều
Lý (1009-1225) là Lý Thường Kiệt làm, để nêu lên chính nghĩa của dân
tộc chống lại ngoại xâm quân nhà Tống (1075-1078). Nên lưu ý: Phật
giáo rất thịnh hành trong triều đại nhà Lý. Vậy mà, qua bài thơ trên,
ta biết được tướng công Lý Thường Kiệt chịu ảnh hưởng sâu đậm triết
lý Thiên Mệnh của Khổng giáo, tức là niềm Tin cố hữu của dân tộc vào
“Ông Trời”. Chính niềm Tin vào Ông Trời đã định đoạt số mệnh cho dân
tộc Việt nam, đó mới là sức mạnh quật khởi để chiến thắng ngoại xâm
là những kẻ “nghịch “lại Ý Trời”: “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên
giả vong”
b/ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)
Trời sinh, Trời ắt đã dành phần
Tu hãy cho bền, dạ có nhân.
Khó chớ oán thân, thân mới nhẹ,
Giàu mà yêu chúng, chúng càng gần.
Bạo hung chỉn đã gươm mài đá,
Phúc Đức rành hay cỏ đượm xuân
Chớ có hại nhân mà ích kỉ,
Giấu người, khôn dấu được Linh-Thần
(Có Phúc có Phần: Thi ca cổ điển, tập I, Bảo
Vân, trang 34)
Bài thi trên rút ra từ quyển Bạch vân thi
tập, ta nhận thấy Trạng Trình là bậc hiền nhân quân tử. Ông thấu suốt
lẽ huyền bí của vũ trụ và nhân sinh. Ông tin rằng “Trời” là một Đấng
Tạo Hóa, là một Vị Linh-Thần cầm quyền sinh tử, và dạy con người phải
Tu thân tích đức, phải giữ đạo Nhân, giàu lòng thương xót, không nên
thù oán làm hại ai. Ông Trời là quan án, thấu suốt tâm can, thông
biết mọi sự bí ẩn, sẽ xét xử công minh và ban phần Phúc Đức, miễn là
con người phải phấn đấu, bền tâm thiện chí, không than thân trách
phận khi gặp nguy khó. Đây là một áng thơ đượm tính chất triết lý tôn
giáo về nhân sinh, về đạo lý làm người, về mối liên hệ giữa Trời và
phận sự con người sống trên đời này, và phần phúc về đời sau.
c/ Nguyễn Khuyến (1835-1909)
“ÔNG TRỜI”
Cao cao muôn trượng ấy là Tao
Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào.
Nhắn bảo dưới trần cho chúng biết:
Tháng ba, tháng tám, Tớ mưa rào.
Nguyễn Khuyến cũng gọi là”Cụ Tam Nguyên
Yên Đổ", tinh thông Hán văn, vì đã ba lần đậu giải nguyên, nhưng đặc
biệt cũng rất lỗi lạc và sở trường về văn nôm. Ông sáng tác đủ mọi
thể văn: ca, từ, thi, phú..Lời văn nhẹ nhàng, đơn giản, trôi chảy,
nhưng ý tứ rất dồi dào, kín đáo, đượm tính chất khôi hài giễu cợt mà
thâm thuý, rất gần với lối văn của ca dao tục ngữ. Đó cũng là phản
ảnh tính tình đơn sơ chất phác, nhưng vui vẻ, hay nói “đùa giỡn” của
người dân Việt. Ông hay làm thơ tự vịnh, tự trào (tự cười mình), hoặc
chế nhạo bạn hữu một cách thân tình, hay châm biếm thói đời một cách
nhẹ nhàng, độ lượng, khoan dung. Qua bài Vịnh “Ông Trời” ở trên, ta
thấy lời văn có vẻ bình dân, vui cười, thân mật, nhưng ý tưởng thật
sâu xa, nghiêm chỉnh: Ông Trời là Đấng cao siêu vô cùng, tuy không
một ai có thể thấy, hay hiểu thấu được, nhưng "Đấng ấy" vẫn điều
khiển mọi hiện tượng trong vũ trụ này!
d/ Nguyễn Công Trứ (1778-1858)
Chí Nam Nhi.
Thông minh nhất nam tử,
Yếu vi thiên hạ kỳ.
Chót sinh ra thì phải chi chi,
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu.
Đố ky sá chi Con Tạo,
Nợ tang bồng quyết trả cho xong.
Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm
cung,
Làm cho rõ tu mi nam tử.
Trong vũ trụ đã đành phận sự,
Phải có danh mà đối với núi sông.
Đi không, chẳng lẽ về không.
Đây là bài hát nói, tiêu biểu nhất cho
quan niệm sống của Nguyễn Công Trứ và của các vị nho sĩ Việt nam. Lấy
ngay cuộc đời của ông ra làm bằng chứng, ta thấy ông là một người tài
trai có chí hướng rất cao, theo truyền thống giáo dục của nho gia.
Ông đã tự đặt cho mình một “gánh nợ”, một bổn phận phải chu toàn
trong đời sống, vì đó là một ân huệ, như “lưng vốn” mà Trời đã ban
cho, không được ăn chơi, tiêu xài, phung phí, vô ích, làm uổng công
Trời đã tạo dựng nên. Đó là món nợ phải trả cho chính mình, cho gia
đình và cho tổ quốc. Dầu gặp nhiều nghịch cảnh, nhiều chông gai khó
khăn, cũng phải ra công chiến đấu, không lùi bước. Trong cuộc đời
Nguyễn Công Trứ, ông đã trải qua bao nỗi gian nan: nghèo đói, lận đận
về khoa cử; khi xuất thân ra làm quan, từ chức đại thần, thượng thư
giáng xuống làm lính thú...nhưng lúc nào ông cũng kiên trì theo đuổi
lý tưởng, không giận thân, không trách Trời. Chỉ khi nào đã làm tròn
phận sự mà Trời đã trao phú, lúc đó, ông mới được thảnh thơi, ngao du
sơn thủy, vui hưởng cảnh an nhàn!
Cũng như các vị nho sĩ Việt nam, Nguyễn
Công Trứ tin vào Thiên Mệnh tạo dựng và điều hành vũ trụ vạn vật. Ông
ít dùng danh xưng như Thiên, Đế, Thượng Đế, Hoàng Thiên, nhưng thường
dùng các danh từ lấy trong ca dao tục ngữ như: Tạo Hóa, Con Tạo, Hóa
Công, Thợ Trời, Ông Trời, Ông Xanh. Khi thấy cảnh đời biến đổi khôn
lường, hoặc những nghịch cảnh trớ trêu, khó giải nghĩa như: đôi khi
kẻ gian ác được khoẻ mạnh, giầu có, còn người hiền đức lại bệnt tật,
nghèo túng...Dầu vậy, các văn thi sĩ không mượn thuyết Nhân-Quả để
biện minh, chẳng hạn như: “kiếp trước” đã làm điều gian ác, nên mới
“báo ứng”, phải chịu lận đận đau khổ, mặc dầu ở kiếp này vẫn ăn ngay
ở lành! Nhưng qua văn thơ, ta thấy họ giữ một thái độ quân tử, điềm
tĩnh, ung dung, an phận, “chờ thời thế đổi thay”, “con Tạo xoay
vần”theo lẽ “Tuần Hoàn” như câu:” không ai giầu ba họ, không ai khó
ba đời”; do đó, các vị "quân tử" không giận hờn oán trách ai, nhưng
lại có thái độ tự tín, ung dung thư thái.
Ta đọc thấy trong văn thơ, đôi khi họ
dùng danh từ như: Hóa Nhi, Trẻ Tạo, do thành ngữ chữ nho "Tạo Hóa
tiểu nhi” (Theo tích truyện đời nhà Đường, Đỗ Thẩm Ngôn đau nặng, có
bạn là Tống Chi Vấn đến thăm. Thẩm Ngôn nói bỡn cợt với bạn rằng:
ngao ngán thay trẻ tạo hóa làm ta khổ sở!). “Hóa Nhi đa hí lộng!”
(Trẻ Tạo Hóa thích vui chơi lắm!). Sánh ví Tạo Hóa như trẻ nhỏ trẻ
thơ, không phải về phương diện ý thức, tài năng, vì Đấng Tạo Hóa thì
thông biết mọi sự, còn trẻ thơ thì không biết gì, nhưng họ muốn mượn
hình ảnh về thái độ, tánh tình của trẻ thơ hay biến báo, thay đổi
nhưng ngây thơ, vui đùa, vô tư, không ác ý, không muốn làm hại ai, để
so sánh sự biến hóa bất ngờ, vô thường trong cuộc đời như trò chơi
của trẻ con. Cuộc đời biến hóa thiên hình vạn trạng như:"bức tranh
vân cẩu, vẽ người tang thương” hay “cuộc đời bể dâu” (tang điền biến
vi thương hải, thương hải biến vi tang điền) .
Mặc dầu không thể hiểu được lẽ huyền bí
của vũ trụ, nhưng đứng trước những nghịch cảnh, những mâu thuẫn của
cuộc đời, các nhà hiền nhân quân tử, không oán trách số phận, hay
nghiệp báo, nhưng vẫn tin tưởng vào Ông Trời chí công, vô tư, và
thương xót vô cùng. Do đó, một mặt, họ phú thác mạng sống cho Trời lo
liệu, đồng thời họ giữ thái độ tự tại, lạc quan, đùa cợt giống “như
trẻ nhỏ”, hoàn toàn tin tưởng vào cha mẹ, để tâm hồn được an vui,
khuây khỏa, chờ thời, “Bĩ cực thái lai”. Thái độ “vui đùa”, coi cuộc
đời là một “hí trường”, cũng là một nét đặc thù trong văn hóa, và
tánh tình vui vẻ của nguời dân Việt .
- Hóa Nhi thăm thẳm ngàn trùng” (Nhị
độ Mai)'
- Trẻ Tạo Hóa đành hanh quá ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi”
(Cung oán)
- Ngồi buồn mà trách Ông Xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại
cười (N.C. Trứ)
- Tạo Hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (Bà
Thanh Quan)
e/ Nguyễn Du và Truyện Kiều (1765-1820)
Mở đầu (câu thơ 1-6)
Trăm năm trong cõi người ta,
chữ “Tài” chữ “Mệnh” khéo là ghét
nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
những điều trông thấy mà đau đớn
lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong?
Trời Xanh quen thói má hồng đánh
ghen.
-------------------------------------------------------------------------
Đoạn kết (câu 3241-3252)
Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
cho thanh cao, mới được phần thanh
cao.
Có đâu thiên vị người nào,
chữ “Tài” chữ “Mệnh” dồi dào cả hai.
Có tài mà cậy chi tài,
chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy “Nghiệp” vào thân,
cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời
xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
chữ “Tâm” kia mới bằng ba chữ tài!
Lời mở đầu và đoạn kết ở trên đã tóm
lược được chủ đề của Truyện Kiều, giúp ta tìm hiểu tâm sự, và triết
lý về nhân sinh của nhà đại văn hào Nguyễn Du. Theo cách giải thích
thông thường, từ xưa tới nay, thì Nguyễn Du viết Truyện Kiều để gửi
gấm tâm sự của mình vào nhân vật chính trong truyện là Thúy Kiều:
Nàng đã yêu và thề hứa lấy Kim Trọng, nhưng đã lỗi lời thề khi “bán
mình chuộc cha”. Nguyễn Du xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, dòng họ
lâu đời đã chịu ơn “mưa móc” của nhà Lê, nên lấy sự trung thành với
vua Lê làm trọng, vì”trung thần bất sự nhị quân”. Nhưng vì thời cuộc
đổi thay mà ông phải miễn cưỡng ra giúp nhà Nguyễn, chẳng khác nào
Thúy Kiều đã phụ tình với chàng Kim; do đó, một cách kín đáo, ông đã
gửi tâm sự của đời mình vào nhân vật Thúy Kiều.
Nếu nghiên cứu Truyện Kiều cẩn thận hơn,
ta sẽ thấy, ngoài việc gửi gấm tâm sự riêng, Nguyễn Du còn muốn giải
nghĩa một chủ đề triết lý rộng lớn hơn nữa, liên quan đến vận mệnh
của mỗi cá nhân và đặc biệt của cả dân tộc Việt nam: đó là Triết lý”
Tài- Mệnh tương đố”.Đây mới thực sự là chủ đề chính yếu của Truyện
Kiều.
Sở dĩ Truyện Kiều được mọi tầng lớp dân
chúng yêu chuộng, từ vua quan đến giới bình dân, vì Nguyễn Du là một
thiên tài đã cảm thông và đã “thi vị hóa” được nỗi niềm tâm trạng uẩn
khúc, khắc khoải, lo âu về vận mạng của mỗi cá nhân và của cả dân tộc
Việt nam. Theo dòng lịch sử, về mặt đối ngoại, dân tộc ta luôn phải
đương đầu, chiến đấu triền miên với phương bắc để giành quyền tự chủ,
và về phía nam, để mở mang bờ cõi. Không kể những thiên tai, bão lụt,
hạn hán thường xẩy ra..., các triều đại vua chúa, sứ quân tranh giành
ngôi báu, trong một xã hội phong kiến đầy bất công bạo lực, “cá lớn
nuốt cá bé”. Chính bản thân Nguyễn Du cũng là nạn nhân của thời cuộc
loạn lạc, tranh quyền, nhiễu nhương đời Nam-Bắc phân tranh, vua Lê,
Chúa Trịnh, nhà Tây Sơn khởi nghĩa, rồi nhà Nguyễn thống nhất. Đọc
bài "Chiêu hồn thập loại chúng sinh”, của Nguyễn Du, ta biết thêm: là
một bậc thiên tài, văn nhân thi sĩ, Nguyễn Du đã cùng cảm thông với
những nỗi đau khổ triền miên của mỗi cá nhân và của quê hương xứ sở,
và cùng thắc mắc về ý nghĩa của cuộc nhân sinh: tại sao một người dân
đất Việt hiền hòa, cần cù, nhẫn nại làm ăn sinh sống, mà lại phải
gánh nhiều nỗi”truân chiên”khổ sở như thế? Thiết tưởng đây mới chính
là chủ đề trọng yếu của Truyện Kiều mà thi hào Nguyễn Du đã muốn mượn
triết thuyết của “Tam giáo đồng lưu” tức Khổng, Lão, Phật, nhất là
niềm tin dân gian vào “Ông Trời”, và Đạo Hiếu của dân tộc Việt nam,
để biện minh cho thuyết”Tài-Mệnh tương đố”, như sẽ trình bày sau đây
Một số người cho rằng: Nguyễn Du đã dùng
thuyết Luân Hồi (samsara) và luật Nhân-Quả (karma), để cắt nghĩa tại
sao Thúy Kiều đã không làm gì nên tội, lại còn hy sinh hạnh phúc cá
nhân để làm tròn đạo Hiếu đối với cha, thế mà suốt mười lăm năm chịu
biết bao tủi nhục, long đong khổ sở? Và họ mượn thuyết nhân -quả, để
giải nghĩa rằng: vì “kiếp trước”Kiều đã làm điều gian ác, nên phải
lãnh lấy “ác quả” ở kiếp này. Sau mười lăm năm lưu lạc, vì Kiều đã
làm điều phước đức, nên được rút tên ra khỏi sổ “đoạn trường” (khỏi
vòng luân hồi), để được đoàn tụ với người tình cũ là Kim Trọng. Giải
thích như thế là chưa đầy đủ, vì trong suốt câu truyện, nhà nho
Nguyễn Du đã giảng giải, và biện minh cho nhiều triết thuyết khác
nữa, nhất là niềm tin tự nhiên của dân chúng Việt Nam vào “Ông Trời”
và đạo Hiếu. Vả lại, Nguyễn Du đã không theo đúng “luật nhân-quả”
(ngũ giới), khi “cho phép” Thúy Kiều mượn bàn tay uy quyền của Từ Hải
để hành hạ, và trả thù những người đã làm hại mình, một điều chẳng
những trái với đạo từ bi, hỉ xả, mà còn gây thêm nên nghiệp chướng
cho mình nữa!. Ngoài ra, Nguyễn Du cũng đã lồng vào những màn” đồng
bóng, gọi hồn” như Đạm tiên báo mộng, nói tiên tri... đó là những dị
đoạn mê tín, “biến thể” của Lão giáo, thịnh hành trong giới bình dân
Bởi vậy, Triết lý trổi vượt nhất làm chủ
đề cho toàn truyện, đó là niềm tín ngưỡng chung của dân chúng Việt
Nam vào một Vị Hóa Công mà ta gọi là:”ÔNG TRỜI”. Trong tác phẩm, thi
hào Nguyễn Du đã kêu đến danh “Ông Trời” hơn 33 lần! (tại Trời, nhờ
Trời, thấu tới Trời, đạo Trời, cơ Trời, ...). Triết lý quan trọng thứ
hai và cũng là “duyên cớ” đã giải thoát Thúy Kiều khỏi vòng tục lụy,
chính là vì nàng đã giữ trọn Đạo Hiếu, nên được Trời cứu vướt khỏi
cảnh lưu lạc để đoàn tụ với người yêu và gia đình. Do đó, câu thơ
nhiệm mầu như chiếc đũa thần đã biến cuộc đời "đoạn trường” thành
hoan lạc, và kết thúc tấn tuồng ảo hóa, đó là: “ Hiếu-Tâm đã động đến
Trời”.
Gần đây, có một số người phê bình Nguyễn
Du và Truyện Kiều theo thuyết” số mệnh” tiêu cực, nghĩa là Thúy Kiều
đã cam phận, thụ động, không làm gì hết, mặc cho bánh xe cuộc đời lôi
cuốn, chẳng hạn như, vì buông theo tình cảm bồng bột, thiếu đắn đo
suy xét kĩ càng, Thúy Kiều đã liều mạng, nhẹ dạ nghe lời chàng Sở
Khanh dụ dỗ mà chạy trốn khỏi lầu xanh, rồi bị Tú bà bắt lại:
“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Thử xem con Tạo xoay vần đến đâu!
Nhưng nếu ta theo dõi mọi tình tiết diễn
biến trong vai Thúy Kiều, ta sẽ nhận thấy nàng luôn cố gắng làm hết
cách để giữ thế chủ động, để định đoạt đời sống của mình, vì nàng tin
rằng: một người thành tâm thiện chí muốn xây dựng cuộc đời, dầu gặp
cảnh ngộ éo le, thì Trời cũng sẽ trợ giúp cho thoát nạn:” Bĩ cực,
thái lai”. Đây cũng là một triết lý mà các nho gia gọi là “luật Tuần
Hoàn”, nghĩa là Hóa Công tạo dựng vũ trụ càn khôn, luôn thay đổi,
xuân, hạ, thu, đông, ngày đêm, âm-dương điều hòa. Trong đời sống con
người thì có lúc thịnh, lúc suy, lúc vui, lúc buồn. Do đó, điều quan
hệ không phải là thành công hay thất bại, nhưng là quyết chí, bền tâm
làm điều tốt, dầu gặp khó khăn, thì chung cuộc, Trời cũng sẽ phù trợ
cho. Ta thấy Nguyễn Du đã dùng chính miệng hai nhà sư Tam Hợp và Giác
Duyên để giải thích ý nghĩa biến cố Thúy Kiều được cứu vớt khỏi chết
chìm trong sông Tiền Đường, và bắt đầu cuộc sống mới an vui như sau:
“Sư rằng:”Phúc họa đạo Trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có Trời mà cũng có ta,
Tu là cõi phúc, tình là giây oan.”
Sau đây ta sẽ tìm hiểu: 1/ thuyết “Tài
-Mệnh tương đố” đã ứng nghiệm trong đời sống của thi hào Nguyễn Du và
nhân vật Thúy Kiều như thế nào? 2/ Niềm tin ở Ông Trời và Đạo Hiếu đã
giải gỡ những khúc mắc của đời người ra sao?
1/Thuyết Tài-Mệnh tương đố đã ứng nghiệm
trong đời sống Nguyễn Du và nhân vật Thúy Kiều
Nhìn ngắm thiên nhiên và quan sát vũ trụ,
thì thấymuôn vật muôn người đều khác biệt, không giống nhau, không
bằng nhau: thật là “trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía”. Về nhân
loại, vì “nhân linh ư vạn vật”, nên Trời ban cho thân hình đẹp đẽ,
lại có trí khôn thông minh để học hỏi, suy luận, và tài năng sáng chế
các dụng cụ .Hóa Công đã sáng tạo ra con người một cách tài tình:
không ai giống ai (ngay cả người sinh đôi, sinh ba, sinh bốn..cũng
vẫn thấy sự khác biệt). Do đó, chữ “TÀI”, theo nghĩa rộng, bao gồm
hết mọi tài năng mà Trời phú bẩm cho mỗi người khi sinh ra trên mặt
đất này như: ý chí tự do, trí tuệ, tình cảm, thân xác, sắc đẹp, sức
khoẻ và các năng khiếu tự nhiên về mỹ thuật. Đấy chẳng qua là “vốn
liếng” tùy ý Trời ban cho mỗi người, không đồng đều. Nhưng mỗi người
phải phát triển tài năng thiên phú của mình, và tùy khả năng, hợp tác
với Trời để tô điểm cho bộ mặt trái đất ngày càng xinh đẹp, và sinh
nhiều lợi ích cho nhân loại hưởng dùng.
Chữ “MỆNH”, hiểu theo truyền thống Nho
giáo, tức Thiên Mệnh, Thiên Ý, tức là "Ý Trời" đã xếp đặt, điều
khiển, an bài, quan phòng mọi sự xẩy ra trong vũ trụ; do đó,
"Mệnh"đây chính là số phận, số mệnh hoặc hoàn cảnh, thời thế, cảnh
ngộ, tai nạn .., bao gồm cả những hiên tượng thiên nhiên như bão lụt,
động đất, hạn hán, hay già nua bệnh tật, chết... Vì những cảnh ngộ
đó, có khi thuận lợi nhưng thường là những nghịch cảnh, xẩy đến ngoài
khả năng ước đoán, định đoạt, lựa chọn, ngoài ý muốn của ta, nên một
số người bi quan, yếm thế, thiếu ý chí, thiếu nghị lực để chiến đấu
với những khó khăn ấy, nên đâm ra buồn nản thất vọng, buông xuôi,
hoặc than thân trách phận và “trách Trời”, cho rằng: Ông Trời ghen
ghét, đầy đọa con người! Họ đã hiểu sai thuyết “Tài-Mệnh tương đố”,
cho rằng: con người tài hoa và số mệnh luôn ghen ghét, đố kị, nghịch
nhau, tiêu diệt nhau
“Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau”
“Hồng nhan/ bạc Mệnh”
Trời Xanh quen thói má hồng đánh
ghen”
Trái lại, người có ý chí tự do mạnh mẽ,
thành tâm thiện chí, thì lại coi những nghịch cảnh chẳng qua là những
“cơ hội, những “thử thách” mà Ông Trời muốn dùng để tôi luyện ý chí
và lòng dũng cảm của các vị anh hùng, của những tấm lòng trung kiên,
cao thượng, vì lẽ nếu “trận đánh càng khốc liệt thì chiến thắng càng
vinh quang”.Mặt khác, kinh nghiệm cho ta thấy: những bậc thiên tài,
tạo nên sự nghiệp lớn lao cũng là những vị gặp nhiều gian lao thử
thách hơn người phàm. Giả như có ai may rủi được”ngồi mát, ăn bát
vàng”, thì người đời cũng khinh thường, vì người ấy chẳng có công
trạng gì.
Cũng có người giải thích bằng luật “ luật
bù trừ”, hay “luật quân bình”, nghĩa là Ông Trời chí công vô tư,
chẳng thiên vị ai, chẳng ghen ghét ai, nhưng hễ Trời ban cho ai nhiều
“lưng vốn ”, tài năng, thì cũng đòi hỏi người đó phải khó nhọc, vất
vả hơn để sinh nhiều lợi tức. Đó cũng là lẽ "công bằng"
Trời cho Thúy Kiều vừa nhan sắc, lại
thông minh, đa tài cầm ca, thi họa, thêm tình cảm dạt dào, tình tứ,
bản tính tự nhiên của nàng là người có đức hiếu thảo đối với cha mẹ,
nên khi gia đình gặp hoạn nạn nguy biến, thì lập tức, không do dự đắn
đo, một mình nàng dám hy sinh hạnh phúc riêng tư để cứu vớt gia đình,
nàng lại có tình chung thủy với người yêu, thương dân yêu nước, trọng
lễ giáo... chỉ vì Trời đã phú bẩm cho Thúy Kiều nhiều tài năng và
nhiều đức tính tốt, trổi vượt hơn người, nên cũng đòi hỏi nàng phải
chiến đấu với nhiều nghịch cảnh hơn. Cô em là Thúy Vân, một mẫu người
“trung bình” về mọi mặt, nên cuộc đời được phẳng lặng, êm ru như một
mệnh phụ tầm thường, nên không có gì đáng làm gương cho ai cả. Thúy
Kiều có hoàn toàn buông xuôi đầu hàng cho số mệnh, hay nghịch cảnh
không? Theo các diễn biến, tình tiết trong truyện, ta thấy Thúy Kiều
luôn cố gắng vươn lên khỏi cảnh bùn lầy nhơ nhớp, lầm than. Nàng đã
quyết tâm chốn thoát chốn thanh lâu mấy lần, nhưng đã bị bọn Sở khanh
lừa dối. Tuy là con người đa tình, nhưng nàng đã biết tự chủ, sáng
suốt để khuyên người yêu Kim Trọng kiềm chế dục vọng, và tôn trọng lễ
giáo. Cũng vì thương dân nước sống trong cảnh giết chóc mà nàng đã
khuyên Từ Hải ra hàng, để rồi mắc họa vào thân. Những sự kiện đó
chứng tỏ nàng không chịu đầu hàng cho số mệnh, nhưng với thành tâm
thiện chí, nàng cố gắng làm chủ đời mình; ngay khi có hoàn cảnh có
thể tái hợp lại với người yêu cũ, nhưng vì một lý tưởng cao hơn, nàng
đã tự ý quyết định đổi tình yêu vợ chồng ra tình bạn hữu.
Đời sống và sự nghiệp của thi hào Nguyễn
Du đã phản ánh trong nhân vật Thúy Kiều. Thật thế, Nguyễn Du xuất
thân là một nho sĩ, theo đạo “tam cương ngũ thường”, với tài “kinh
bang tế thế ", đã ra làm quan, và sung làm chánh sứ sang cống bên
Tàu. Ông rất uyên thâm về thuyết “Thiên Mệnh”của Khổng Tử, đặc biệt
thuyết “tính thiện”của Mạnh Tử: “nhân chi sơ tính bản thiện”. Theo
lịch sử Triết Học Trung Hoa, triết thuyết này đã được các nho sĩ như
Vương Dương Minh (1472-1528) giải nghĩa thêm và lập ra phái Tâm Học.
Như đã trình bày về phái Tâm Học, ở đoạn trên, chữ “TÂM”, hiểu nghĩa
là “Lương Tri, Lương Tâm”, tức là “nơi” gặp gỡ giữa con người và
Thượng Đế. Chính tại“nơi”thâm cung, thâm Tâm, con người được Đấng
Hóa Công cho khả năng biết phân biệt điều Tốt phải làm, và điều Xấu
phải tránh. Do đó, Nguyễn Du đã đánh giá chữ “Tâm”, tức Thiện Chí của
con người cao quí hơn, gấp ba lần chữ "tài"! Người có Thiện Tâm,
quyết chí thực hành điều tốt , điều phải, thì Trời sẽ giúp cho thắng
vượt mọi gian nan thử thách.
Gặp thời nhiễu nhương, loạn lạc, ông đành
sống ẩn dật, để giữ khí tiết của bậc trung thần, chờ thời cơ thuận
tiện sẽ lại xuất chính. Nhưng ông không phải là người yếm thế, tiêu
cực, hoàn toàn đầu hàng cho số phận, số kiếp, mà không làm gì cả!
Trái lại, là một nho sĩ cương nghị, thành tâm thiện chí, ông đã từ
giã cảnh nhàn du sơn thủy, để trở về giúp dân cứu nước, mặc dầu biết
trước sẽ gặp bao khó khăn, bực bội với tân trào. Là một kẻ sĩ tài ba,
Nguyễn Du luôn thi thố tài năng, bằng những hoạt động ngoại giao như
đi sứ sang Trung Quốc, hay sáng tác thơ văn. Có người cho rằng: nhân
vật Từ Hải mà ông đã mô tả trong truyện Kiều, nói lên ý chí hào hùng
bất khuất của ông chống lại các bất công của thời phong kiến. Vì ông
tin tưởng rằng: với thành tâm thiện chí, thì Trời sẽ giúp cho thành
công:”Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân”
Thân phận nàng Kiều, số phận Tố Như (Nguyễn
Du) cũng tương tự như vận mệnh của cả dân tộc Việt Nam. Thật vậy,
suốt dòng lịch sử từ khi lập quốc cho tới ngày nay và có thể trong
tương lai, dân tộc Việt nam luôn phải đương đầu với mọi nghịch cảnh.
Nhưng nhờ niềm tin mạnh mẽ vào “Ông Trời”, và vào đạo Hiếu đối với
Ông Bà, nên người Việt Nam chúng ta, dầu gian nan khổ sở, vẫn vui vẻ
chịu đựng phấn đấu để phát huy văn hóa và trường tồn!
Trong tiểu sử của thi hào Nguyễn Du,
không thấy nói đến có lúc nào ông đã “xuất gia tu hành”! Do đó, qua
câu thơ:” Tu là cõi phúc, Tình là giây oan”, thì ta phải hiểu chữ
“Tu” có nhiều nghĩa. Theo nghĩa hẹp, "tu" là bỏ gia đình để vô ở
trong tu viện. Nhưng đối một nho sĩ "kinh bang tế thế" như Nguyễn Du,
chữ “tu”, ở đây nên hiểu theo ý nghĩa của Nho giáo, tức "Ngũ
thường": tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; đây là một lý
tưởng cao, một kế hoạch lớn. Điều quan trọng là phải theo một thứ tự
ưu tiên. Trước hết phải "tu thân", phải rèn luyện tính khí cho kiên
cường, không để cho tình tư dục lấn áp. Chữ “ Tình”ở đây không hiểu
theo nghĩa hẹp là "ái tình"( tình ái giữa trai-gái, vợ-chồng), nhưng
là gồm tất cả "thất tình" của con người là: hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố,
dục (vui, giận, xót thương, sợ, yêu, ghét, ham muốn). Do đó, ý nghĩa
của câu thơ của Nguyễn Du là: muốn sống hạnh phúc, an vui, quân bình
thì phải "Tu Thân"nghĩa là biết "sửa mình", sống“tự chủ”, đức độ, ý
chí, biết điều khiển và kiểm soát được "thất tình", là những tình cảm
bồng bột, lăng loàn. Một người sống hoàn toàn buông thả theo tình cảm
đưa đẩy, thiếu lý trí sáng suốt để phân biệt Phải/trái, sẽ phạm nhiều
điều sai lỗi, và gây ra tội ác, đau khổ cho mình và cho người khác:
"no mất ngon, giận mất khôn". Bởi vậy, chắc hẳn cụ Nguyễn Du không
khuyên người đời: muốn được hạnh phúc thì chỉ có cách là "đi tu",
trốn tránh cuộc đời, và khinh chê đời sống vợ-chồng! Nhưng trong mọi
hành động, cư xử, nên đặt lý trí sáng suốt trên tình cảm bồng bột mù
quáng.
2/ Niềm Tin vào Ông Trời và Đạo Hiếu đã
giải gỡ những khúc mắc của đời sống
Niềm tin cổ truyền của dân tộc Việt Nam
vào Đấng Thiêng Liêng Cao Cả và vào Đạo Hiếu là chìa khóa giải gỡ mọi
tình tiết éo le, khúc mắc của cuộc đời thi hào Nguyễn Du, và của
Truyện Kiều: “Hiếu-Tâm đã động đến TRỜI”. Nguyễn Du đã diễn tả Ông
Trời bằng những phẩm tính như là Vị Hóa công tạo dựng vũ trụ, mọi
việc xẩy ra trên đời do Trời an bài, định đoạt. Ông Trời là vị thẩm
phán tối cao, rất công bằng, thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ. Ông Trời
không ghen ghét ai, không thiên vị ai, nhưng Trời được hoàn toàn tự
do ban phát ân huệ, tài năng cho mỗi người tùy Thiên Ý, Thiên Mệnh,
một cách nhưng không, nghĩa là con người không có quyền đòi hỏi, hay
phân bì. Nhưng nếu Trời ban cho ai nhiều tài năng, thì cũng đòi hỏi
người đó nhiều trách nhiệm. Bởi vậy, khi Nguyễn Du viết:” chữ Tài,
chữ Mệnh khéo là ghét nhau”, hay “ Tài-Mệnh tương đố”, thì nên hiểu
là: Ông Trời “thách đố”những bậc tài hoa phải thi thố tài năng hơn
người bình thường.
Nói tóm lại, theo triết lý nhân sinh của
nhà đại văn hào Nguyễn Du, thì số phận của một cá nhân, hay vận mệnh
của một dân tộc sinh sống trên cõi đời này, không ai là không phải
chiến đấu với mọi nghịch cảnh, để lập thân cho mình và giúp ích cho
nhân quần xã hội. Đời người là một hí trường, đầy gian lao “thử
thách” không ngừng. Do đó, phát sinh hai thái độ trái ngược nhau: một
là thái độ bi quan tiêu cực, đầu hàng, buông xuôi theo “số mệnh”, “há
miệng chờ ho”, không làm gì cả; hai là, thái độ “tự cao tự đại”,
không cần ai cả, không tín ngưỡng, tự mình xây dựng cuộc đời, mặc dầu
cảm thấy đời sống đầy chông gai, bi đát, vượt quá khả năng của con
người. Qua Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du đã muốn chứng minh một đạo
sống “trung hòa”, quân bình của dân chúng Việt Nam “Có Trời mà cũng
có ta”. Triết lý nhân sinh này đã giúp cho dân tộc ta vừa quyết tâm
chiến đấu với mọi gian nguy, khổ sở, vừa nhẫn nại, chịu đựng, bền
tâm, tin tưởng vào một tương lai sáng lạng: Ca dao có câu:”Lửa thử
vàng, gian nan thử đức”. Thiết tưởng đó mới thật sự là tâm sự mà thi
hào Nguyễn Du đã muốn gửi một bài học vào trong Truyện Kiều cho hậu
thế. Tâm sự đó Nguyễn Du ước mong đồng bào nhận biết và thông cảm ,
qua hai câu thơ:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(không biết hơn ba trăm năm sau này, thiên
hạ còn ai khóc Tố Như (Nguyễn Du) không?)
g/ Hàn Mặc Tử Nguyễn Trọng Trí
(1913-1940)
Trong cuốn “Việt Nam Văn Học Sử Yếu”, khi
viết đề mục “ Mấy nhà thi sĩ hiện đại”, Dương Quảng Hàm đã liệt kê
hai nhà thơ nổi tiếng trong phái làm “thơ mới”, để phân biệt với thời
các vị thi sĩ làm thơ theo”đường luật”. Hai nhà thi sĩ đó đều là
những người theo Thiên Chúa giáo: thi sĩ Hàn Mặc Tử Nguyễn Trọng Trí,
và Thế Lữ Nguyễn Thứ Lễ (1907-?). Cả hai đều đem lại cho thi giới
Việt Nam một nguồn thi hứng mới lạ , thanh thoát, lên cõi huyền bí,
trên cảnh tiên giới. Nguồn cảm hứng của thi nhân không chỉ giới hạn
vào cõi đời tục lụy này, nhưng còn bắt nguồn từ một niềm Tin của một
Đạo Giáo cao siêu, vào Tình Thương vô bờ bến của Thượng Đế. Thi sĩ
Thế Lữ chỉ biểu lộ tâm tư hùng mạnh, giầu tình yêu, giầu mộng tưởng
lên cõi cực lạc, qua tập “Mấy vần thơ”, như bài thơ "Nhớ rừng”, hoặc
“Tiếng sao Thiên thai”, v.v. Riêng thi sĩ Hàn Mặc Tử đã đưa vào thi
giới Việt Nam những đề tài huyền bí, mầu nhiệm thấm nhuần một Đức Tin
Siêu Việt, và một niềm Hy Vọng cứu thoát trong cơn đau khổ dằn vật,
vì bệnh phong. Cho đến lúc từ giã cuộc đời, tâm hồn thi nhân vẫn
được tràn ngập Tình Yêu của Chúa. Những đề tài trong thơ Hàn Mặc Tử
có thể xa lạ đối với những người ở ngoài đức Tin Thiên Chúa Giáo,
như: mầu nhiệm về Bản Thể Siêu Việt của Đấng Thượng Đế là :"Một Chúa
Ba Ngôi” : Ngôi Cha, Ngôi Con, tức là Chúa Cứu Thế giáng trần để cứu
độ, và Chúa Thánh Thần. Thi sĩ Sảng Đình Nguyễn Văn Thích (1891-1978)
đã sáng tác một bài thơ bằng hán văn để tán tụng Mầu Nhiệm Cao Cả đó
như sau:( Bài thơ này đã được Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu khen
ngợi, tán thưởng và họa lại)
“Duy nhất Thiên Chủ hữu Tam Vị
Thánh Phụ, Thánh Tử, Thánh Thần thị.
Tạo thành vạn vật, Tể càn khôn,
Toàn tri, toàn năng, toàn thiện mỹ”
Dương Quảng Hàm đã bình luận về Thi sĩ
Hàn Mặc Tử:" Ông ưa tả cảnh đêm tối, cảnh trăng sao, cảnh sương mù
(Đà lạt trong mơ) là những cảnh hợp với tâm hồn thê lương, ảm đạm của
ông...
Cái ý nghĩ về sự chết chiếm cả tâm hồn
ông, nhiều khi khiến ông như điên như dại, nhưng cũng khiến ông nâng
thần trí lên chỗ cao xa, sáng láng (Xuân như ý), ước ao một cuộc đời
lý tưởng tốt đẹp, và ca tụng, cầu nguyện Đức Chúa Trời (Say thơ)."
Lời nhân định trên của nhà phê bình văn học thời tiền chiến thật xác
đáng. Nhờ Đức Tin Thiên Chúa Giáo, thi sĩ đã đi sâu vào mầu nhiệm
“Một Chúa Ba Ngôi”, là căn bản giáo lý của Thiên Chúa Giáo. Bản Tính
Thiên Chúa được định nghĩa là Tình Yêu Thương Vô Biên. Dầu Ba Ngôi Vị
phân biệt nhau, nhưng chỉ có Một Chúa mà thôi, vì Ba Ngôi Vị thương
mến nhau vô cùng, không hề có một chút gì bất đồng, hoặc hơn kém, cho
nên “dẫu Ba mà Một”. Với một tâm tư nặng tình cảm dân tộc, lại thấm
nhuần giáo lý cao siêu về Tình Thương vô cùng của Chúa, thi sĩ Hàn
Mặc Tử đã cảm hứng, và sáng tác ra những vần thơ ca tụng “Chúa Trời”,
với mầu sắc, âm thanh, hình ảnh rất lạ lùng, chưa hề thấy trong văn
đàn Việt Nam từ cổ chí kim. Bởi vậy, dầu thi sĩ là người đau khổ nhất
vì mắc bịnh phong, nhưng cũng là một tâm hồn tràn trề hy vọng, phú
thác, bình an, nhờ niềm Tin vào Tình Thương vô cùng của ”Ba Ngôi
Thiên Chúa”, đặc biệt “Ngôi Hai xuống thế làm người “để chia sẻ thân
phận hẩm hiu của nhân loại tội lỗi, cần được cứu độ.
“Sáng vô cùng và sáng láng cả mọi
miền,
Không u ám như cõi lòng ma quỷ.
Vì có “Đấng” hằng sống hằng ngự trị,
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư
linh.”
“Đêm Xuân cầu nguyện”:
Ta chắp hai tay lại quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không
gian.
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân,
Nở một lượt giầu sang lên Thượng
Đế......
Tôi van lơn thầm nguyện Chúa Giêsu,
Ban Ơn xuống cho mùa xuân hôn phối,
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng:
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông
Hằng....
Bài “RA ĐỜI”, diện tả tâm tư ngày lễ Giáng
Sinh của Chúa Cứu Thế:
“Ôi, cao sang khôn ví trọng ai bì!
Trên nước cả có vô vàn châu báu,
Trí rất ngớp bởi chưng xuân hồn hậu,
Đã ra đời, theo lệnh của “Ngôi Hai”.
Ôi thánh tai, thánh tai, và thánh tai!
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc,
Rất trọng vọng rất thơm tho man mác,
Rất phương phi trên hết cả anh
hoa.......
Về mặt văn học, tuy theo tân học, nhưng
Hàn Mặc Tử làm thơ Đường luật cũng rất hay, đã được nhà văn lão thành
Sào Nam Phan Bội Châu tán thưởng. Trong các bài thơ, thi sĩ thường
dùng những danh từ mượn ở các đạo giáo Việt Nam như: “trượng phu
lời”, “quân tử ý”, “giầu muôn hậu Từ Bi”..., nhưng ông đã đem vào một
nội dung ý tưởng mới rút ra từ Thánh Kinh, hay giáo lý của Thiên Chúa
Giáo.
Trong văn hóa, và văn chương thi phú Việt
Nam, do ảnh hưởng của đạo Hiếu, địa vị của người Mẹ, biểu tượng của
tình thương, của gia đình, luôn được các văn nhân thi sĩ ca tụng.
Riêng đối với đồng bào Thiên Chúa Giáo, Đức Trinh Nữ Maria giữ một
địa vị rất quan trọng trong đời sống đức tin, bởi vì Bà là Mẹ Chúa
Cứu Thế, và cũng là Mẹ phù trợ các môn đệ theo Chúa. Hơn nữa, Mẹ
Maria còn là biểu hiệu của lòng thương xót đối với đoàn con cái còn
lưu lạc nơi trần thế, đầy đau khổ. Nhớ lại những năm khói lửa kinh
hoàng, tại các xóm Đạo ở ngoại ô như Chí hòa, Trung Chánh, Xóm mới,
Gò vấp... (nơi tập trung dân di cư công giáo), mỗi chiều tối, từ
trong các gia đình văng vẳng lời cầu kinh Mân Côi, để xin Đức Mẹ phù
hộ cho chồng con, cho gia đình được bình an. Theo truyền thống, hằng
năm hành hương nơi linh địa "Đức Mẹ LaVang"; trong tháng năm tổ chức
rước kiệu và ca vãn dâng hoa. Sinh sống ở Hoa Kỳ, mỗi năm hàng chục
ngàn đồng hương Việt Nam lũ lượt kéo nhau về dự Đại Hội Thánh Mẫu tại
miền Carthage, Missouri.
Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã diễn tả một cách
thâm thúy, đầy tâm tình trìu mến, cậy trông vào sự che chở của người
Mẹ hiền đối với đoàn con đau khổ. Lời thơ của thi nhân rất thành
thật, tao nhã, linh hoạt và cảm động, nhất là khi nghe bài phổ nhạc
hòa âm của Hải Linh: âm điệu, âm thanh rất nhẹ nhàng, bay bổng, lung
linh, diễm lệ: “AVE MARIA”, Mẹ Sầu Bi! Đây là bản hòa âm tuyệt tác,
xứng đáng góp phần vào kho tàng phụng vụ, và nghệ thuật của Giáo Hội
hoàn vũ để ca tụng Mẹ Chúa Cứu Thế và cũng là Mẹ các tín hữu:
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thanh vẹn,
Giầu nhân đức, giầu muôn hậu từ bi.
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy,
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ:
Dòng thao thao bất tuyệt của dòng thơ.
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua,
Trí tôi hít bao nhiêu là khí vị...
Và trong miệng ngâm câu ca huyền bí,
Và trong tay nắm một nạm hào quang...
Đây rồi! đây rồi! Chuỗi ngọc vàng
kinh,
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý,
Trượng phu lời và tông đồ triết lý,
Là Nguồn Trăng yêu mến Nữ- đồng-
trinh.
Là Nguồn Đau châu lụy Nữ-đồng-trinh.
Thơ Hàn Mặc Tử đã đem vào thi giới Việt
Nam một dòng thi tứ mới, rất lạ lùng. Đức Tin vào Một Thiên Chúa yêu
thương vô cùng, vào Chúa Cứu Thế tự nguyện chịu khổ hình Thập Giá để
đền tội thay cho nhân loại, cùng với Mẹ Sầu Bi...Tất cả nguồn đạo lý
cao siêu, “ ân sủng”huyền bí, thật sự đã thấm nhập và cải hóa con
người đau khổ nhất đời của thi nhân, thành một con chiên ngoan đạo,
vừa nhận biết giá trị hoan lạc, vinh quang của đau khổ, vừa cảm mến
những tâm hồn quảng đại hy sinh vì bác ái mà ông gọi là những "Thiên
Thần", chính là các Nữ Tu đang tận tụy săn sóc bịnh nhân. Bởi vậy,
trong đau khổ ngút ngàn, ông không tuyệt vọng, nhưng ca tụng “những
kỳ công huyền diệu của Đấng Tối Cao”.
“Hỡi những Thiên Thần trên trời,
Những Thiên Thần của Thiên Chúa,
Những Thiên Thần Hòa Bình và Hoan Lạc!
Xin hãy ban xuống cho tôi một vòng
hoa.
Tôi muốn tắm trong biển cả hào quang,
Trong tình thương cao cả,
Vì cõi trần gian nhiều phép lạ,
Khiến người người đều im lặng cung
chiêm
Những kỳ công huyền diệu của Đấng Tối
Cao.
Hỡi những Thiên Thần trên trời
Những Thiên Thần của Thiên Chúa,
Những Thiên Thần Hòa Bình và Hoan lạc!
Hãy tung lên những cánh hoa Hồng,
Những bông hoa Sen với khúc nhạc du
dương,
Những điệu nhạc tỏa hương thơm ngát.
Hãy đổ đầy nhân đức, chí can trường,
Niềm hạnh phúc vô biên
Vào tâm hồn các nữ tì của Thiên Chúa.”
2. “ÔNG TRỜI” TRONG LỄ TẾ NAM GIAO
Dân chúng Việt nam thờ nhiều thần, cùng
với tín đồ của các tôn giáo như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo,
Thiên chúa giáo, đạo thờ Tổ Tiên...tất cả đều tin tưởng vào Một Đấng
Linh Thiêng vượt trên hết các thần thánh, mà họ gọi là Ông Trời. Tục
lệ "tế Nam Giao" đã biểu dương lòng tín ngưỡng đó, bằng những lễ nghi
đầy ý nghĩa linh thiêng, và uy nghiêm kính cẩn. Mục đích của lễ tế
Nam Giao là để tôn thờ Vị Chủ Tể càn khôn, có quyền ban ân giáng
phước và xua đuổi tà ma khỏi gây ác họa cho dân nước. Ông Trời làm
Chủ vũ trụ bao la, nên không đặt bàn thờ để tế Ngài ở trong đền miếu
nhỏ bé, nhưng ở ngoài lộ thiên, tượng trưng cho sự quyền năng vô biên
bao trùm vạn vật. “Nam” có ý chỉ phía nam, theo địa lý cổ truyền,
phía nam là hướng ánh sáng, và phía bắc là hướng tối tăm. “Giao”là
tương giao, giao hòa gặp gỡ. Bởi đó, Nam Giao là nơi giao hòa gặp gỡ
giữa Trời và dân con Trời, ở phía nam, hướng tốt lành của dân tộc
Việt Nam, đầy ánh sáng, thảo mộc xanh tuơi, phong thuận gió hòa (ca
dao:” Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam).
Linh mục Đắc Lộ, vào năm 1628, đã được
dịp chứng kiến cuộc lễ Tế Nam Giao do vua Lê Thần Tông đóng vai Thiên
Tử để làm chủ tế, ngày Tết Nguyên Đán. Ngày 30 tháng chạp, Chúa Trịnh
Tráng cùng với đoàn vệ binh đi xuống sông tắm rửa sạch sẽ, một cử chỉ
có ý nghĩa “tống cựu nghinh tân”. Nửa đêm đến giờ giao thừa, thì nổ
súng thần công, báo hiệu năm cũ đã qua, năm mới bắt đầu. Sáng ngày
mồng một Tết, chúa Trịnh cùng với các quan, bốn ngàn lính, ba ngàn
ngựa, ba trăm voi tiến vào đền vua Lê Thần Tông, để rước vua ra làm
chủ sự lễ Tế Nam Giao. Khi lễ tế đã hoàn tất, thì bắn ba phát súng
thần công để báo hiệu cho dân chúng biết. Tiếp theo, chúa Trịnh và
đoàn tùy tùng hộ tống nhà vua trở lại đền vua để chúc mừng năm mới.
Linh mục Đắc Lộ đã giải thích ý nghĩa về
mặt tôn giáo, tín ngưỡng của lễ Tế Nam Giao như sau: Trong ngày Tết
Nguyên Đán là ngày trọng nhất trong năm, người Việt Nam đã tôn kính
ba cấp bậc về “Phụ Tính” (fatherhood). Ở cấp bậc dưới, là tôn kính Tổ
Tiên đã qua đời, và chúc tuổi cho ông bà cha mẹ còn sống; ở cấp hai,
là chúc thọ nhà vua như vị thiên tử, thay Trời để cai trị dân nước,
cũng được gọi là” dân chi phụ mẫu” (cha mẹ của dân); ở cấp cao hơn
hết, là Tế Trời trong lễ Tế Nam Giao: Trời là Vị “Thượng Phụ” đã tạo
dựng nên nhân loại và vũ trụ càn khôn (coi: Catechismus, ngày thứ
nhất).(199).
Linh mục Léopold Cadière, một nhà truyền
giáo, rất am tường về văn hóa và đạo giáo ở Việt Nam, đã mô tả và
giải thích về lễ Tế Nam Giao như sau:
Đền Nam Giao đời nhà Nguyễn được dựng về
phía nam Kinh Đô Huế, trên một gò đất cao gồm bốn cấp bậc chồng lên
nhau. Bậc cao nhất có hình tròn (hình bánh dày) tượng trưng cho Trời,
đo được 42 mét đường kính. Hai cấp thấp hơn có hình vuông (hình bánh
chưng), tượng trưng cho Đất (bốn cạnh chỉ bốn phương trời), một nền
dài 85 mét, một nền dài 165 mét. Nền thấp nhất ngang bằng với nền đất
trồng thông, có hình chữ nhật, dài 390 mét và rộng 265 mét.
Chỉ một mình nhà vua được gọi là Thiên Tử
(con Trời) đại diện cho thần dân làm chủ tế, như vị giáo chủ. Trước
khi đến tế lễ, nhà vua phải được thanh tẩy tại Trai cung. Khi việc tế
tự đã hoàn tất, nhà vua phải trở lại Trai cung để báo cáo về các lễ
nghi đã được thực hiện đầy đủ, trang nghiêm kính cẩn.
Tế Nam Giao là một biểu dương sâu xa nhất
của dân tộc Việt nam đối với Đấng Tối Cao, đối với Vị Thiên Chủ. Dân
chúng tham dự một cách sốt sáng nhiệt tình, lễ nghi diễn ra trang
trọng đầy ý nghĩa tượng trưng.
Linh mục Cadière viết lại cảm tưởng như
sau: lễ Tế Nam Giao đã mặc một vẻ trang trọng uy nghi tương xứng với
sự cao cả của “Đấng” mà dân chúng tôn thờ, tương xứng với sự tin
tưởng tinh tuyền đối với Vị Chủ Tể, tương xứng với tâm tình sâu xa
nẩy nở trong lòng người Việt Nam.Tin tưởng vào quyền lực vô biên của
một Ông Trời, đó là một niềm tin cao quý và tinh tuyền nhất trong các
tín ngưỡng Việt Nam. Cũng vậy, Tế Nam Giao chính là biểu lộ long
trọng của niềm tin ấy, Tế Nam Giao là một lễ nghi cao cả nhất trong
việc phụng tự của người Việt Nam”(200).
3. CHA ĐẮC LỘ VÀ NIỀM TIN VÀO “ÔNG TRỜI “
CỦA DÂN VIỆT
Giá trị cao quí nhất của “bốn ngàn năm
văn hiến” của dân tộc Việt Nam là gì?_ Thưa chính là niềm Tin ở Ông
Trời và Đạo Hiếu, tức là chết không phải là hết, nhưng Hồn Thiêng của
Ông Bà vẫn còn tồn tại với con cháu. Do đó, để “khai quật” kho tàng
quí giá còn chôn giấu trong tâm tưởng dân chúng Việt Nam từ bao nhiêu
đời, Cha Đắc Lộ đã xếp đặt những bài suy luận về niềm tin tự nhiên
vào Ông Trời, và ước vọng trường sinh bất tử của con người “linh ư
vạn vật”, là những bài học đầu tiên trong sách Giáo lý. Đây là phương
pháp sư phạm để dạy Giáo lý, theo một trật tự “hợp lý”, nghĩa là khởi
đầu từ Văn Hóa, Tự nhiên để vươn lên Mặc Khải, Siêu nhiên. Vì lòng
ngưỡng mộ nền văn hóa tốt đẹp của dân Việt, và vì lòng nhiệt thành
muốn chia sẻ Tin Mừng của Chúa Cứu Thế cho đồng bào, cha Đắc Lộ đã
tận tụy nghiên cứu ngôn ngữ và tìm hiểu phong tục tập quán để có thể
“dĩ văn tải Đạo”, dùng văn từ thích hợp để truyền bá những chân lý
của Đức Tin Thiên Chúa Giáo.
Danh xưng ĐỨC CHÚA TRỜI
Bên Trung quốc, cha Matteo Ricci xuất bản
cuốn”Thiên Chủ Thực Nghĩa”. Sách này đã làm chấn động dư luận Trung
quốc thời bấy giờ (và cho đến ngày nay). Vua Khang Hy nhà Thanh, các
bậc nho gia, quan lại đều đã tìm đọc. Cha Đắc Lộ đã kể một câu truyện
hi hữu như sau: Khi cha đang giảng giáo lý cho tân tòng thì có một vị
sư đưa cho ngài coi một cuốn sách viết bằng chữ nho. Nhà sư cho biết:
cách đây gần 30 năm, cụ thân sinh của nhà sư đã theo phái đoàn Việt
nam đi triều cống vua Trung quốc và đã được tặng cuốn sách ấy đem về
nước. Khi cụ thân sinh chết thì trối lại cho con cháu, nhưng trong
nhà không ai hiểu được các lý lẽ viết trong cuốn sách ấy. Vừa rồi khi
nghe cha Đắc Lộ giảng giáo lý thì thấy các lý lẽ mà cha vừa nói,
giống như các tư tưởng có trong cuốn sách kia.(201).
Có thể cha Đắc Lộ đã đọc sách “Thiên Chủ
Thực Nghĩa” của Cha Ricci, nhưng khi áp dụng vào hoàn cảnh đặc biệt
của địa phương, Cha Đắc Lộ đã biến chế, thích nghi, để “hội nhập” vào
văn hóa Việt Nam một cách rất tài tình. Trong vấn đề hội nhập văn
hóa, ngài đã nghiên cứu tường tận tâm lý, tâm tình, trình độ văn hóa
của mọi giới trong xã hội thời bấy giờ để trình bày giáo lý mới một
cách thích hợp.
Muốn giảng Tin Mừng cho đại chúng, công
việc cấp bách phải làm là tìm những danh từ thích hợp có âm hưởng
thuần tuý của Việt ngữ, lại có khả năng chuyên chở được nội dung ý
nghĩa thần học của Thiên Chúa Giáo. Do đó, câu hỏi quan trọng là:
trong ngôn ngữ Việt nam, danh xưng nào xứng đáng để “đặt tên” cho
Đấng Tạo Thành vũ trũ càn khôn? Có vị thừa sai đề nghị dùng chữ “Chúa
Dêu”. Chữ “Dêu”phiên âm bởi chữ Latinh “Deus”, có nghĩa là Chúa.
Nhưng cha Đắc Lộ và cha Francesco Buzomi đã bác bỏ, vì chữ “dêu”không
có nghĩa tốt đẹp trong các tiếng Việt thông dụng. Vả lại, sợ rằng
người Việt Nam nghĩ tưởng đó là một vị thần mới từ đâu đem đến chăng?
Cha Đắc Lộ biết bên Trung Hoa, thời bấy giờ, đã dùng danh từ Thượng
Đế của người Trung Hoa, và danh từ “Thiên Chủ” do cha Ricci ghép hai
chữ “Thiên” và “Chủ”. Đối với cha Đắc Lộ, ngài không thích dùng hai
từ ngữ này, vì là chữ Nho, không thông dụng, không thuần túy Việt
ngữ. Ngài chỉ tạm dùng danh từ “Thiên Chúa” (Thiên Chủ) do cha Ricci
sáng tác ra, trong khi đi tìm một chữ vừa có âm điệu Việt ngữ, vừa
biểu lộ được niềm tin “sẵn có” của dân tộc Việt Nam: đó là tiếng mà
mọi người thường kêu xin:”ÔNG TRỜI”. Danh xưng này dễ hiểu, và quen
thuộc với mọi giới đồng bào. Dĩ nhiên, khi dân chúng kêu “Ông Trời”,
“Trời ơi!”, thì không có ý chỉ trời xanh mênh mông, nhưng chính là
một Vị, một Đấng, một Ông, cao sang làm CHỦ(CHÚA) cả vòm trời xanh.
Cha cũng tránh không dùng các danh từ trừu tượng, vô-bản-vị như: Lý,
Thái Cực, Đạo, Khí, Vô, Không. Theo Lịch sử Triết học Trung Hoa,
những ý niệm kia đã bắt nguồn từ quan niệm “Vạn vật nhất thể”, hoặc
của phái Lý-Học (Chu Hi:1130-1200) và Tâm-Học (Vương dương
Minh:1472-1528). Để củng cố cho ý niệm “bản vị”, "ngôi vị", "hữu
ngã", cha Đắc Lộ đã hợp tác với các Thày Giảng thông thái người Việt
Nam,( các vị nho sĩ, cựu tu sĩ Phật Giáo) để sáng tác ra danh từ “ĐỨC
CHÚA TRỜI”, đầy ý nghĩa tôn giáo và âm hưởng Việt Nam. Tại sao dùng
chữ "Trời "? Vì lấy ý nghĩa và thành ngữ ở Kinh Thánh:”Chúa của trời
đất (coi:sách Tông đồ Công Vụ 17:24 và Luca 10:21). Tại sao dùng chữ
Chúa? Chữ Chúa bởi chữ nho “Chủ”, dùng để chỉ vị nguyên thủ quốc gia
như Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn. Còn chữ “Đức”dùng để chỉ tước vị cao
trọng. Lúc đầu, cha Đắc Lộ dùng chữ: “Đức Chúa Trời-Đất, theo ý nghĩa
câu thành ngữ: “Trời che, Đất chở”. Về sau rút gọn lại thành:ĐỨC CHÚA
TRỜI. Đây cũng là một quyết định khôn ngoan, hiểu biết tâm tình mộ
đạo của người bình dân Việt nam, thờ kính nhiều thần thánh như thần
sông, núi, thiên lôi, hà bá....Cha Đắc Lộ muốn giúp họ chỉ thờ
phượng, kính mến Một Chúa Siêu Việt là Đức Chúa Trời mà thôi. Còn
toàn thể các loài thụ sinh như các vị thành lập các đạo giáo, các
thánh nhân, các bậc hiền nhân quân tử, hồn thiêng của Ông Bà tổ tiên,
... (kể cả chín phẩm thiên thần, và ma quỉ (tiếng Phạn là mara).. đều
do Đức Chúa Trời tạo dựng nên, vì thế, ta không thể đặt các vị đó
ngang hàng bằng Đức Chúa Trời được! Cha Đắc Lộ cũng đã đề cao niềm
tin tuyệt đối của dân tộc Việt Nam vào “Ông Trời”, trong lễ Tế Nam
Giao. Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên Đán,, một lễ tế đặc biệt của dân
Việt do nhà vua, đại diện cho quốc gia làm chủ tế.
Theo giáo lý mặc khải của Thiên Chúa
Giáo, các tín hữu phải tin: “Một Đức Chúa Trời Ba Ngôi”. Đây là một
mầu nhiệm cao sâu nhất trong đạo, vượt quá sự hiểu biết của trí khôn
nhân loại. Nhờ Chúa mặc khải thì ta mới biết có chân lý tuyệt đối đó,
nhưng vẫn không thể hiểu rõ yếu tính của mầu nhiệm đó:” Ba Ngôi Vị
phân biệt nhau, lại hợp nhất hoàn toàn nên "Một Thiên Chúa" mà thôi!”
Bên Trung Hoa, cha Matteo Ricci trong
sách “Thiên Chủ Thực Nghĩa”, và cha Michele Ruggieri trong sách
“Thiên Chủ Chân Lục”, đã không đề cập, cũng không diễn giảng về Mầu
Nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi”cho các độc giả người Trung Hoa, lấy lý do là
họ khó hiểu, và công việc trình bày giảng dạy đòi hỏi nhiều công phu
nghiên cứu.Ý kiến và lập trường của cha Đắc Lộ thì khác. Theo Ngài,
Mầu Nhiệm”Một Chúa Ba Ngôi”, vừa là tâm điểm của Đạo Thiên Chúa, vừa
là nòng cốt liên quan mật thiết đến ơn Cứu Độ. Trước khi chịu phép
Rửa tội, người tân tòng cần phải được dạy dỗ về mầu nhiệm này, bởi vì
ý nghĩa của nhiệm tích này là dâng hiến, thánh hiến người được rửa
tội cho “Một Đức Chúa Trời Ba Ngôi”, để họ được sạch mọi tội, trở
thành con Chúa và được sống đời đời. Công thức đọc khi rửa tội là:
“Tôi rửa bạn (ông bà, anh chị...) Nhân Danh Cha, và Con, và Thánh
Thần” (Ego te baptizo in Nomine Patris et Filii et Spiritus
Sancti).(202).
Về cách dùng Việt ngữ để diễn tả những
quan niệm mới về Thần học, cha Đắc Lộ đã mượn một số danh từ bằng chữ
nho do cha Ricci đặt ra trước, chẳng hạn chữ “Tính” (natura,
essentia) để chỉ “Bản Tính” của Đức Chúa Trời là phép tắc vô cùng,
trọn tốt trọn lành vô cùng, ở khắp mọi nơi...Đặc biệt và tài tình hơn
cả là việc cha Đắc Lộ dã dùng chữ nôm “NGÔI” dịch ra từ chữ nho “VỊ”
để diễn tả ý niệm “bản vị, nhân vị” (Person) trong thần học Thiên
Chúa Giáo. Chữ “Ngôi” rất phổ thông trong ngôn ngữ Việt Nam như: ngôi
vua, ngôi báu, ngôi thứ trong làng.... Sách giáo lý dậy rằng: “Hỏi:
có mấy Đức Chúa Trời? Thưa: có Một Đức Chúa Trời mà thôi. Hỏi: Đức
Chúa Trời có mấy Ngôi? Thưa: Đức Chúa Trời có Ba Ngôi: Ngôi Nhất là
Cha, Ngôi Hai là Con, Ngôi Ba là Thánh Thần.”.
Theo thần học Thiên Chúa Giáo dạy: chỉ có
Một Đức Chúa Trời mà thôi (không thể có ba Chúa Trời được). Chúa Con,
tuy bình đẳng hoàn toàn bằng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, nhưng có
“Ngôi Vị” phân biệt với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Chúa Cha, hoàn
toàn bình đẳng với Chúa Thánh Thần và Chúa Con, nhưng có “Ngôi Vị”
riêng biệt với hai “Ngôi” kia. Chúa Thánh Thần cũng hoàn toàn bằng
hai “Ngôi” kia, nhưng có “Ngôi Vị” khác với Chúa Cha và Chúa Con. Bởi
vậy, tuy” Ba Ngôi” phân biệt nhau, nhưng chỉ có” Một Đức Chúa Trời”
mà thôi! Bản Tính của Đức Chúa Trời là Tình Thương Yêu vô cùng. Do
đó, chính bởi Ba Ngôi Thương Mến nhau vô cùng, nghĩa là không khi nào
có sự chia rẽ bất hòa, hoàn toàn bình đẳng, đồng thuận, đồng ý về mọi
phương diện..., cho nên dẫu “Ba Ngôi”, nhưng “Một Chúa” mà thôi!
Mầu nhiệm” Một Chúa Ba Ngôi” là mầu nhiệm
cao cả nhất, vì vượt quá quá sự hiểu biết của lý trí và kinh nghiệm
của nhân loại. Khi dạy giáo lý cho tân tòng, cha Đắc Lộ có cảm tưởng
là: dân chúng Việt Nam không khó chấp nhận Mầu Nhiệm”Một Chúa Ba
Ngôi” bằng tin Con Thiên Chúa là Đấng phép tắc vô cùng, tốt lành vô
cùng, thế mà lại hạ mình xuống mặc lấy xác phàm, làm người yếu hèn
như mọi người chúng ta. Chính Mầu Nhiệm”Ngôi Hai xuống thế làm người”
mới thật sự lạ lùng, khó tưởng tượng được! Đây là một nhận xét rất
tinh tế về tâm tình mộ đạo của người dân Việt, vì họ thường biểu lộ
tình cảm sợ hãi, tôn kính đối với những hiện tượng, cảnh vật lạ lùng,
kỳ dị hay “linh thiêng”, mà trí khôn nông cạn của loài người không
thể hiểu, không thể cắt nghĩa được. Do đó, mặc dầu không thể hiểu
được mầu nhiệm thuộc về bản tính cao siêu của Chúa, là mầu nhiệm”Một
Đức Chúa Trời Ba Ngôi”, nhưng các tân tòng sẵn sàng tin theo, vì lời
Chúa và lời Hội Thánh truyền dạy. Mặt khác, cha Đắc Lộ đã thực hiện
một kế hoặch mục vụ tân tiến là :áp dụng giáo lý vào phụng vụ, nghĩa
là đem những tín điều đã học được trong giáo thuyết, áp dụng thực
hành trong phụng vụ. Đây là một cách “sống đạo” rất linh động. Chẳng
hạn, cha Đắc Lộ đã thánh hóa, dâng hiến ba ngày Tết Nguyên Đán để tôn
kính mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi”
ĐÀM ĐẠO: ĐẤNG TẠO HÓA, HAY “ÔNG TRỜI” CÓ NGÔI VỊ
KHÔNG?
Trong Tứ Thư Ngũ Kinh và trong tín
ngưỡng dân gian, ta nhận thấy rõ ý niệm về một “Đấng” Tạo Hóa hay
“Ông Trời” Siêu Việt, “KHÁC BIỆT”, nhưng cũng gần gũi với tạo vật.
“Đấng “đó có một bản vị, ngôi vị khác với các nhân vị khác. Đấng đó
cai quản muôn vật muôn loài, và đường lối, tức “Đạo” của Đấng Thượng
Đế hay Thiên, gọi là Thiên Mệnh. Muốn được hạnh phúc, con người phải
bắt nhân đạo thuận theo thiên đạo. Người bình dân Việt Nam hay Trung
Quốc vẫn ôm ấp một niềm tin sâu xa vào Đấng Bề Trên: người Việt gọi
là “Ông Trời”, và người Hoa gọi là “Thiên-Lão-Tổ”
Lễ Tế Nam Giao vào dịp đầu Xuân, hay việc
dựng bàn thờ “Ông Thiên” ở trước nhà, chứng minh cho niềm tín ngưỡng
ấy. Gần đây, những cuộc bách hại tôn giáo ở Trung quốc do phong trào
“Cách mạng văn hóa”, cũng không thể dập tắt được truyền thống hữu
thần trong Khổng-Mạnh.
Quan niệm “Thiên trị” ngày xưa coi Trời
là Đấng cầm quyền sinh tử và thưởng phạt, đã đặt ra “Hồng Phạm Cửu
Trù” và “Nguyệt Lệnh” để vua chúa ( Thiên tử, con Trời) phải tuân
theo trong việc thay Trời mà cai trị nước. Nếu vị quân vương làm trái
Thiên Mệnh, thì sẽ gây ra tai họa cho toàn dân. Đó là quan niệm Trời
và Người có tương quan đến nhau:”Thần- Nhân tương dữ”!
Quan niệm “ Trời và người liên hệ với
nhau”, trong sách Kinh Thánh Cựu Ước kể truyện vua Đavít phạm tội và
Thiên Chúa đã phạt toàn dân phải chết vì dịch tễ (2 Sam 24:10-15)
Khi Thiên Chúa Giáo được truyền sang
Trung Hoa và Việt Nam, các vị thừa sai ngoại quốc đã gặp khó khăn
trong việc chuyển ý, chuyển ngữ, phiên dịch, tạo những từ ngữ mới
trong tiếng bản quốc để có thể diễn tả một cánh xứng hợp với nội dung
thần học trong sách giáo lý của Hội thánh. Vì không đủ thời giờ, vì
thiếu tài liệu nghiên cứu về văn hóa, ngôn ngữ và các tư tưởng triết
lý siêu hình của Trung Hoa và Việt Nam, nên một số các vị giáo sĩ Tây
phương đã ngần ngại hoặc lo sợ “rối đạo, lạc đạo”khi dùng các danh từ
thuần tuý địa phương, “bản quốc”, để diễn tả các ý niệm trong sách
Giáo lý của Thiên Chúa Giáo. Những do dự và ngộ nhận, hiểu lầm trong
quá khứ đã gây bất mãn đối với các dân tộc đã có một nền văn hiến kỳ
cựu, khả kính. Ngày nay, nhờ “khoa thần học về các tôn giáo”
(theology of Religions) phát triển, nhờ sự nghiên cứu tường tận về
các nền văn hóa, nên vấn đề “tranh luận về lễ nghi, phong tục”, hay
việc phiên dịch các từ ngữ được dễ dàng hơn. Những danh xưng thông
dụng nhất để chỉ Đấng Tạo Hóa, là những danh từ như: Thiên Chúa
(Chủ), Thượng Đế, hay Đức Chúa Trời, được dùng trong các sách giáo lý
và phụng vụ
Những điểm dị biệt
Nếu so sánh quan niệm về Một Đấng tạo
thành vũ trụ càn khôn, giữa Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo, ta còn thấy
một số điểm dị biệt :
1/ Theo các sách cổ điển và niềm tín
ngưỡng dân gian như Cadao, Tục ngữ...danh từ “Thượng Đế”, “Thiên”,
hay “Ông Trời” ..thường mang một ý nghĩa cao siêu về một Đấng có bản
vị, hữu ngã, “Khác” với mọi loài mọi vật trong trời đất. Chữ “Đế”,
khởi thủy là Vị Thần thuộc dòng họ nhà Thương (chừng 1300 B.C). Có
thể là một vị tổ tiên đã được thần thánh hóa, và ta nhận thấy “tính
chất hữu ngã, nhân vị” của vị thần ấy “khác” với các vị thần khác. Do
đó, chữ “Thượng Đế” được dùng để chỉ một vị Chủ Tể tối cao hơn hết
mọi vị thần.
Danh từ “Thiên” hay “Trời”, không có ý
chỉ trời xanh mênh mông mịt mù, nhưng là ám chỉ một “ÔNG TRỜI”, Đấng
Linh Thiêng ẩn náu làm chủ, tạo dựng nên không trung bao la huy hoàng
kia. Có thể chữ “Thiên” xuất hiện vào thời nhà Chu (khoảng 1111-249
B.C). Tuy nhiên, nếu so sánh về nguyên tự, ta thấy chữ”Thượng Đế”
biểu lộ đặc tính hữu ngã, bản vị, ngôi vị hơn chữ Thiên (Trời). Nhưng
chữ “Thiên” đã biến hóa, hoặc là nghiêng về ý nghĩa “Nội Tại”
(Immanence) hơn là “Siêu Việt (Transcendence), hoặc mang một ý nghĩa
“huyền bí” (mystical) hay “phiếm thần” (pantheism), rồi trở thành một
quyền uy về luân lý trong vũ trụ, một Vị Thượng Trí, một Ý Chí định
đoạt số phận của nhân loại. Sau này, muốn nhấn mạnh đến tính chất
Siêu Việt, Hữu Ngã của “Thiên”, nên thêm chữ “Chủ”, thành ra chữ
“Thiên Chủ (Thiên Chúa)như đang thông dụng cho đến ngày nay. Nói tóm
lại, hai danh xưng Thượng Đế và Thiên đã được dùng chung thay thế cho
nhau, từ thời nhà Chu, để chỉ Đấng Tối Cao,Vị Chủ Tể vũ trụ càn khôn
(203).
2/ Quan niệm về “Thiên Mệnh”, “Thiên Tử”
trong Nho Giáo cũng khác tín điều về “Ngôi Hai Thiên Chúa” là “Con
Thiên Chúa” giáng trần để cứu độ nhân loại. Theo văn hóa cổ truyền,
các thánh vương đời xưa được coi là “Thiên Tử” (con Trời) vì lãnh
Mệnh Trời để cai trị dân. Vị quân vương là vị trung gian giữa Trời và
dân ( ). Nhưng đây chỉ là dã sử, hay truyền tụng, chứ không phải một
biến cố lịch sử, nghĩa là không có một vị thánh vương nào dám quả
quyết đã được Trời sai đến hoặc được uỷ thác một sứ mệnh đặc biệt,
trong một hoàn cảnh lịch sử rõ ràng để cứu nhân độ thế, kể cả vua
Nghiêu, vua Thuấn, Đức Khổng Tử, Thày Mạnh Tử, hay Đức Phật Thích Ca.
Theo lịch sử dân tộc Do thái, Thiên Chúa
độc nhất “YAHWEH”đã có một Giao Ước với các lãnh tụ của dân như:
Abraham, Moses, Davit...Đó là thời Cựu Ước. Đến thời gian đã ấn định,
Thiên Chúa đã thiết lập một Giao Ước mới, gọi là Tân Ước. Theo giao
ước mới này, Thiên Chúa đã sai chính “Thánh Tử”, tức Ngôi Hai Thiên
Chúa “xuống thế làm Người”, “mặc lấy xác phàm” như mọi người chúng
ta, trừ tội lỗi.. Ngài đã” Nhập Thể” trong một ngôi vị là Chúa Cứu
Thế lịch sử. Vì thế, Ngài mới là Vị “Thiên Tử” chính thực đã giáng
trần để cứu độ sinh linh.
3/ Nho Giáo chú trọng đến “động thể” của
Nguyên Lý Siêu Việt, nghĩa là suy xét về các hành động của Nguyên Lý
ấy biểu lộ trong vũ trụ, thiên nhiên. Do đó, các triết gia ít suy
luận về bản thể “Tĩnh”, “bất biến”, “hằng hữu”, và các "phẩm tính”của
Đấng Tự Hữu. Vì xét theo động thể, nên các nhà hiền triết đã đặt ra
nhiều danh xưng để gọi Nguyên Lý Siêu Việt, tùy từng khía cạnh biến
hóa như: “Lý Thái Cực, Vô cực, Đạo, Tâm, Chân Như....Ngoài ra, các
triết gia cũng không dùng luận lý để chứng minh sự hiện hữu của Đấng
Tạo Hóa như các nhà triết học Hy lạp hay Thánh Tôma đã làm.
4/Theo Thần Học và Triết Học, Đấng Tạo
Hóa vừa có tính chất Siêu Việt (Transcendent) vừa có tính chất Nội
Tại (Immanent). Theo tôn chỉ trên, ta thấy Đông phương nhấn mạnh vào
đặc tính Nột Tại hơn là Siêu Việt. Do đó, sự khác biệt giữa Thiên
Chúa Giáo và Tam Giáo được nổi bật trong cách kiến trúc các thánh
đường. Thiên Chúa Giáo chú trọng đến khía cạnh Siêu Việt của Thiên
Chúa, nên xây tháp cao”chọc trời”. Còn Đông phương thì nhấn mạnh vào
đặc tính Nội tại, tiềm ẩn của Vị Hóa Công trong vũ trụ, nên xây nền
Tế Trời trên một khoảng đất trống rộng giữa thiên nhiên (đền Nam giao
về phía nam kinh đô Huế), hoặc xây cất chùa, miếu..lẩn lút dưới vòm
cây để hòa hợp với cảnh thiên nhiên như thể giữa thế giới thiêng
liêng và nhân thế có sự giao hòa mật thiết với nhau. Cũng vì lẽ đó,
triết lý Đông phương thiên về những quan niệm như: Vạn vật nhất thể,
Thiên-Nhân hợp nhất, Thần-Nhân tương dữ, Tam tài (Thiên-Địa-Nhân)
5/ Về phương diện tế tự, Đông phương
không cấm cá nhân cầu nguyện, nhưng thiếu những lễ nghi phụng tự linh
đình, trọng thể, sầm uất, và tập họp dân chúng đông đảo, hoặc tổ
chức thường xuyên những lễ kỷ niệm. Trong Do thái giáo, toàn dân dành
ngày Sabbat để thờ phượng Yahweh. Thiên Chúa Giáo dâng ngày Chúa Nhật
(ngày của Chúa) để tham dự Thánh Lễ và làm các việc đạo đức, từ
thiện. Sự sùng kính, cúng giỗ của tín đồ các đạo giáo có tính cách cá
nhân, ít khi tổ chức những cuộc rước sách, hay lễ nghi có đông đảo
quần chúng tham dự. Việc cúng giỗ, lễ chùa là việc của cá nhân hay
gia đình. Lễ Tế Nam Giao được tổ chức mỗi năm một lần, dưới sự chủ tế
của vị quân vương, đại diện toàn dân, còn đại đa số dân chúng thì
dựng bàn thờ”Kính Thiên” ở trước nhà.
6/ Thiên Chúa Giáo hay KyTô Giáo bắt
nguồn từ Kinh Thánh Cựu Ước của Do Thái Giáo. Khác với các dân tộc
lân bang thờ nhiều thần, dân Do Thái chỉ thờ một Vị Thần độc nhất vô
nhị. Vị Thần này vô hình vô tượng, vô cùng cao siêu trên mọi thần
thánh khác. Theo Kinh Thánh, dân Do Thái miễn cưỡng gọi Vị Thần Tối
Cao đó bằng danh xưng “Yahweh” và “Elohim”. Khi hiện ra với Maisen,
Thiên Chúa độc nhất vô nhị đã mặc khải danh hiệu Ngài là Y H W
H=YaHWeH, nghĩa là "ehjeh aser ehjeh" được phiên dịch là “Ta là Đấng
Tự Hữu”, hay “Ta là Đấng Có” (Ego eimi hoon), hay “Ta có sao Ta có
vậy”(204).
Cũng nên giải thích thêm, các nhà ngữ học
cho rằng tiếng Trung Hoa và Việt Nam không có động từ cùng loại với
động từ “to be” (Anh ngữ), être (Pháp), sein (Đức), esse
(Latinh)...”To be” không phải chỉ có nghĩa “Là” thế này, thế kia,
nhưng đặc biệt trong triết học, siêu hình học, còn có nghĩa là “tự
lập”, “tự tại”, “tự tồn tại” (self-subsistence). Khi triết gia
Descartes viết:” Cogito, ergo sum” (I think, therefore I am), tạm
dịch sang tiếng Việt là: “Tôi suy tưởng, nên Tôi hiện hữu”. Mỗi khi
phải phiên dịch động từ “to be” theo nghĩa triết học thì mượn động từ
“hữu” hay “có”.
Do đó, “Yaheh” được hiểu là “Ta là Đấng
Tự Hữu (Tự chủ, Tự Tồn tại), vì bản tính của Thiên Chúa là một bản
thể tự lập tuyệt đối, là chính sự Hiện Hữu. Dịch như trên là chú
trọng vào phần bản thể “Tịnh” của Thiên Chúa. Ngày nay, nhiều học giả
về Kinh Thánh chú ý đến khía cạnh “Động Thể”, nghĩa là Thiên Chúa
luôn can thiệp vào lịch sử cứu độ, biểu lộ thánh ý qua các lời tiên
tri để giải phóng, phù giúp dân Chúa (coi Sách Xuất Hành 6:6..). Có
thể nói danh từ “Yahweh” hàm ẩn ba ý nghĩa: Thiên Chúa can thiệp vào
các biến cố lịch sử của nhân loại, nhưng Chúa vẫn là Đấng Siêu Việt,
là Chúa Quan Phòng mọi sự, mọi loài, Ngài hiện hữu trong mọi biến cố
của Lịch Sử Cứu Độ, Ngài là Chúa của vũ trụ càn khôn. Do đó, thay vì
phiên dịch”Ta là Đấng Tự Hữu”, có thể dịch là:”
“Ta sẽ có sao Ta sẽ có vậy” (I shall be
what I shall be). Câu: “Ta là Đấng Tự Hữu” diễn tả sự “Tự lập” Tự
thể, tức bản thể “Tịnh” (static ontological) của Chúa, câu :”Ta sẽ có
sao Ta sẽ có vậy” diễn tả khía cạnh “Động “ của Thiên Chúa can thiệp
vào lịch sử.
Ngoài danh xưng Yaweh, Kinh Thánh Cựu Ước
còn dùng tiếng “Elohim” để chỉ Thiên Chúa độc nhất vô nhị. Theo
nguyên tự, tiếng Elohim chỉ các thần (số nhiều). Nhưng được dùng
trong Kinh Thánh Cựu Ước để chỉ một Thiên Chúa chính thực và duy
nhất. Hai danh xưng này phối hợp trong câu: “Ngươi hãy nhìn nhận
Thượng Đế (Yahweh) là Thiên Chúa (Elohim) ngươi, không có Chúa nào
khác nữa.” (Dt 4,35). Ở đây ta thấy cả hai Thánh Danh đều chỉ một
Thiên Chúa có Ngôi Vị Siêu Việt, khác với mọi loài, mọi vật.
7. Trong Kinh Thánh Tân Ước, chữ hy-lạp
“Theos” được dùng để chỉ Thiên Chúa. Theo nguyên tự tối cổ, chữ
“Theos” ám chỉ tín ngưỡng đa thần của Hy lạp, trong đó vị thần tối
cao là Zeus, cha của các thần khác. Nhờ sự suy luận triết học và siêu
hình học của các triết gia Plato và Aristotle, ý niệm và nội dung của
chữ “Theos” đã được thanh lọc và biến đổi để xưng hô Một Vị Thần độc
nhất trên các thần khác.
Các vị Thánh Ký ghi chép sách Kinh Thánh
Tân Ước đã dùng danh xưng “Theos”để chỉ Thiên Chúa trong các tác
phẩm. Tuy mượn danh từ trong triết lý Hy Lạp, nhưng các vị thánh ký
chỉ chú trọng đến sự kiện lịch sử Chúa đã mặc khải cho Mai sen, và
đặc biệt nơi nhân vật lịch sử mới xuất hiện là chính Đấng Cứu Thế.
Đối với các tín hữu thời Tân Ước, Đấng Cứu Thế lịch sử chính là hiện
thân của Thiên Chúa. Họ không lưu ý đến ý niệm siêu hình, trừu tượng
về “Theos” của các triết gia Hy Lạp. Các thánh ký đều viết: “Vị Thiên
Chúa mà Đấng Cứu Thế mặc khải cũng chính là Vị Thiên Chúa của dân Do
thái và các tổ phụ, Thiên Chúa của Abraham, Isaac, Jacob “ (coi
Matt.15:31,22:32, Marc 12:26; Lk 1:68, 20:37;Acts 13: 17, 22:14; 2
Cor.6:16; Heb 11:16). Vị Thiên Chúa đó là “Cha” của Đấng Cứu Thế (coi
Rom 15:6; 2 Cor 1:3, 11:31; Eph.1:3). Vị Thiên Chúa đó có phẩm tính
siêu việt như một bản vị biệt lập, khác các loài thụ tạo. Ngài là
Đấng Tạo Hóa, là Chúa Tể thời gian và can thiệp vào dòng lịch sử của
nhân loại. Ngài đối thoại với loài người, lắng nghe lời cầu khẩn và
ban truyền các lề luật các giới răn. Bản thể của Thiên Chúa là Tình
Thương vô biên đã được tỏ hiện trong thời Cựu Ước, đặc biệt được mặc
khải nơi Nhân Vị của Đấng Cứu Thế trong thời Tân Ước.
Nói tóm lại, trong truyền thống thần học
và triết học, Thiên Chúa Giáo luôn đề cao sự Siêu Việt Tuyệt Đối của
Ngôi Vị Thiên Chúa, khác với mọi loài thụ tạo. Quan niệm về sự sáng
tạo từ “Hư Vô” (ex nihilo) chứng minh cho tính chất Siêu Việt Tuyệt
Đối đó. Chỉ một mình Đấng Tạo Hóa là “Tự Hữu”, “Vô Thủy vô Chung.
Ngài sáng tạo muôn vật từ “hư không”, nghĩa là vạn vật đã có một khởi
thủy rồi sau mới có biến hóa. Đạo giáo Đông Phương cũng nhìn nhận sự
Siêu Việt của Vị Chủ Tể càn khôn, nhưng không đề cập đến lý thuyết về
sự “tạo dựng từ hư vô” (creatio ex nihilo); vì theo cách suy luận
“nhất nguyên luận”, nên không thích “phân biệt” (distinction). Do đó,
Đông Phương thường nhấn mạnh tính chất “Nội Tại” của Vị Chủ Tể nơi
vạn sự vạn vật, còn Thiên Chúa Giáo và triết lý Tây Phương thì ưa
thích luận lý “biện biệt” và đề cao bản tính Siêu Việt Tuyệt Đối của
Vị Chủ Tể trên hết mọi sự mọi loài trong vũ trụ.
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
Nội Dung
Lời Mở Đầu
Sách Tham Khảo
|