|
Tủ Sách Đàm Đạo Tôn Giáo
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
Nội Dung
Lời Mở Đầu
Sách Tham Khảo

CHÚ THÍCH và sách THAM KHẢO
Dưới đây là những chú thích rút ra từ một số
sách căn bản, dễ đọc và dễ tìm để tham khảo và đọc thêm.
LỜI MỞI ĐẦU
(1) coi: "Tuyên Ngôn về liên lạc của Giáo Hội
với các Tôn Giáo ngoài Kitô Giáo", số 2; bản dịch của Giáo Hoàng
Học Viện Piô X, "THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANO II, trang 470; và "Tuyên
Ngôn về Tự Do Tôn Giáo"; sách dẫn chứng trên, trang 577
(2) coi: Tông Huấn của Đức Giáo Hoàng ban bố
tại Ấn Độ: "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU"; Bản Tóm lược những điểm chính: Dân
Chúa Âu Châu, số 206, tháng 12, năm 1999, trang 22-23.
CHƯƠNG MỘT : LINH MỤC ĐẮC LỘ
(3)"THIÊN CHỦ THỰC NGHĨA " của Matteo Ricci
S.J. Dịch ra Anh ngữ "The True Meaning of The Lord of Heaven" (T'ien-chu
Shih-i) do Douglas Lancashire and Peter Hu Kuo-chen, S.J. The
Institute of Jesuit Sources, St Louis, 1985. Cuốn sách dịch này có
phần nguyên văn chữ Hán của cha Ricci. Sách trình bày quan điểm của
cha Ricci về "Hội Nhập Thiên Chúa Giáo vào Văn Hóa Trung Hoa", việc
sáng chế ra các danh từ mới để diễn giảng các tư tưởng về Thần Học
của Thiên Chúa Giáo như danh từ "THIÊN CHỦ", và những dư luận phản
ứng , phê bình về cuốn sách từ khi xuất bản cho đến ngày nay. Ngoài
ra, sách này cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến các vị Truyền giáo thời
bấy giờ, nhất là đối với Cha Đắc Lộ về quan niệm "Hội Nhập Văn Hóa",
và cách sáng tác các danh từ mới như"Đức Chúa Trời".
(4)"MISSION and CATECHESIS" Alexandre de
Rhodes and Inculturation in Seventeenth-Century Việt nam. Peter C.
Phan. Orbis Books, Maryknoll, New York 10545. Sách này xuất bản năm
1998, viết bằng Anh ngữ, là cuốn sách nghiên cứu khá đầy đủ về sách"
CATECHISMUS" của Cha Đắc Lộ. Sách gồm hai Phần: I/ Tình hình chính
trị, xã hội, tôn giáo ở Việt nam vào thế kỉ 17; Công cuộc Truyền Giáo
của Cha Đắc Lộ và Chính sách"Hội Nhập Thiên Chúa Giáo vào Văn Hóa
Việt Nam" của Cha Đắc Lộ; Phân tích cách bố cục của cuốn "Catechismus"và
phương pháp trình bày Đạo Thiên Chúa cho người tân tòng; Thẩm định
giá trị "Phương Pháp Hội Nhập" của Cha Đắc Lộ; Phần II/ Bản dịch cuốn
sách "Catechismus "từ tiếng LaTinh sang Anh ngữ. Đặc điểm của sách
này là có nhiều Chú Thích và một Thư Mục khá phong phú về sự nghiệp
của Cha Đắc lộ. Tuy nhiên, tác giả chưa nêu ra những vấn đề, và những
thách đố mà Giáo Hội Việt Nam, ngày nay cần phải làm để nối tiếp công
cuộc Truyền giáo của Cha Đắc Lộ. Một cuốn sách công phu, giá trị bàn
về việc Cha Đắc Lộ sáng tác ra chữ"Quốc Ngữ" mà đặc thù của thứ chữ
mới là năm dấu, thì nhà in đã bỏ hết các dấu: sắc, huyền, nặng, hỏi,
ngã.. khi viết các danh từ tiếng Việt!
Gần đây, một số sách của Cha Đắc Lộ đã
được phiên dịch ra Việt ngữ như: "Từ Điển Annam-Lusitan-Latinh"; "Phép
Giảng Tám Ngày"; Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài"; "Hành Trình và
Truyền Giáo"....
Ngoài ra, được biết: Linh Mục MICHEL
BARNOUIN, thuộc Hội Xuân Bích( Société de Saint Sulpice), đã làm Giáo
Sư ở Chủng Viện Huế, Vĩnh Long.. hơn 30 năm, là tác giả cuốn sách về
Cửu Đỉnh, được dịch ra Anh Văn:" The Bas-Reliefs of the Dynastic Urns
of Hue"; hiện nay làm việc tại miền AVIGNON, quê hương của cha
Alexandre de Rhodes, nơi ngài sinh ra, chịu Phép Rửa tội..và nguồn
gốc tổ tiên. Linh Mục Barnouin đã tìm được những tài liệu mới, đặc
biệt đã cải chính những bài viết sai lầm về cha Đắc Lộ. Coi: "Etudes
Vauclusiennes de la Faculté des Lettres d'Avignon( rue Violette,
F-84000, Avignon, France)
(5)-Cao Thế Dung : "Công Giáo Việt Nam Trong
Dòng Sinh Mệnh Dân tộc", New Orleans, Dân Chúa, 1988.
- "Việt Nam Huyết Lệ Sử", Đồng Hương, 1996.
-Petrus Vũ Đình Trác :"Công Giáo Việt
Nam Trong Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc", Orange, California, 1996.
(6) -Peter Phan: sách đã dẫn, trang 102
CHƯƠNG HAI: PHƯƠNG PHÁP SUY LUẬN
(7) Ở đây, dùng danh từ "Nhất Quán" để chỉ
Triết Lý Đông Phương. Một số học giả, như Nguyễn Duy Cần, trong "Nhập
Môn Triết Học Đông Phương", Chương 2, và 3, dùng danh từ "Nhất
Nguyên", hay "Tam Nguyên" để chỉ Triết Lý Đông Phương; còn chữ "Nhị
Nguyên", để chỉ Triết Lý Tây Phương. Nhưng Thần Học và Triết Học Tây
Phương định nghĩa chữ "Monism"(Nhất Nguyên Luận), và chữ"
Dualism"(Nhị Nguyên Luận), một cách khác. Theo Karl Rahner, trong
"Dictionary of Theology": "Monism" là thuyết phiếm thần (pantheism)
vô thần, vì không phân biệt Đấng Tạo Hóa Siêu Việt, và thế giới thụ
tạo tương đối. Thuyết phiếm thần cho rằng: Nguyên Lý Tuyệt Đối, và
thế giới, kể cả con người, là một khối duy nhất. Tinh thần, vật
chất, sự sống là một thực thể. Vũ trụ này có giá trị tuyệt đối, và
tự biến hóa. Còn chữ "Dualism" cho rằng: từ nguyên thuỷ đã có hai
hữu thể tuyệt đối, đối nghịch nhau, hoặc thế giới này chia ra làm
hai nguyên lý tương khắc như ÔngThiện/ÔngÁc...Thiên Chúa Giáo bác bỏ
cả lý thuyết của Nhất Nguyên và Nhị Nguyên
Chữ "NHẤT QUÁN", theo nghĩa "QUÁN XUYẾN",
Thông suốt" về mọi mặt, bao quát mọi khía cạnh, toàn diện(globlal),
không loại trừ một trường hợp, một hiện tượng nào, kể cả những cái
trái ngược, mâu thuẫn. Một ví dụ điển hình: đây chính là óc quán
xuyến của người đàn bà Việt Nam, đảm đang, trong nền văn hóa nông
nghiệp:
"Lặn lội thân cò khi
quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi
đò đông. (T X)
Ca dao chứng minh:
"Người ta đi cấy lấy
công
Tôi nay đi cấy còn trông
nhiều bề
Trông trời, trông nước
, trông mây
Trông mưa, trông gió,
trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng,
đá mềm
Trời êm, biển lặng, mới
yên tấm lòng.."
Hoặc là bức tranh, miêu tả sự hợp tác của
người và súc vật:
" Trên đồng cạn, dưới
đồng sâu
Chồng cầy, vợ cấy, con
trâu đi bừa"
Đây là bộ óc TỔNG HỢP biết lợi dụng các hiện
tượng thiên nhiên, kể cả các nghịch cảnh, chấp nhận những cặp
ÂM-DƯƠNG như: ngày/ đêm, sáng /tối, mưa/ nắng..., chúng không loại
trừ nhau, tiêu diệt nhau, nhưng bù đắp cho nhau, để giúp mùa màng
gặt hái được nhiều hoa lợi. Đây cũng là những KINH NGHIỆM tích lũy từ
ngàn năm truyền lại.
Trái ngược với óc Nhất Quán, Tổng Hợp, là óc
Biện Biệt, Phân Loại, Tính Toán, Phân Chia ra từng đơn vị riêng rẽ để
đánh giá trị từng phần tử, lựa lọc cái này và loại bỏ cái kia. Đó là
đầu óc của thương gia, trong nền văn hoá du mục, chăn nuôi luôn di
động, và thương nghiệp, công nghiệp của Tây Phương.
Coi: FUNG YU-LAN(Phùng Hữu Lan)" A Short
History of Chinese Philosophy" The free Press,1966, trang 25-26. Ông
nhận xét rằng: Óc Phân Loại, Biện Biệt, Lý Luận Hình Thức phát xuất
từ những dân ở đảo như HyLạp hay Anh Quốc, thích mạo hiểm, di động để
trao đổi hàng hóa; còn dân nông nghiệp Đông Phương, lập cư ở một nơi
cố định, có đời sống trầm tĩnh, gần thiên nhiên, nên ưa thích lối suy
luận bao biện, bao quát"Nhất Quán, Tổng Hợp"
(8) Coi: Gerald Runkle, "Good Thinking", An
Introduction to Logic,(Holt,1981), Trg 112, 127,
Hình Vuông những cặp Mâu
Thuẫn:
A mâu thuẫn với D; nếu A=đúng, thì D=sai,
hay ngược lại,
B mâu thuẫn với C; nếu B=sai, thì
C=đúng, hay ngược lại.
(9). Coi: Runkle, như trên, Trg 145
(10). Coi: Runkle, như trên, Trg 266-273
(11) Coi: Anthony Flew, "A Dictionary of
Philosophy", Dialectic, Trg 88, 129( Hegel)
(12). Coi hình vẽ về "Phân Tích để Hợp Nhất",
thành một"Biểu Nhất Lãm":
(13) Coi: Heinrich Dumoulin, "Christianity
Meets Buddhism", Trg 79, 160, 167; và Augustin H. Kishi, "Spiritual
Consciousness in Zen", Trg 70; coi Thánh Thomas, "Summa
Theologiae".,I, q.1, a. 7, ad 1; "Contra Gentiles", I. 1, c. 14; "In
Boetii De Trinitate ", prooem., q.1, a. 2, và ad 2; 1. 2, q. 2, a. 3.
Coi: Dionysius," Divine Names" , c. 1, I.1; 1, n. 7; c. 1, I. 3; 5,
n.21; c.7,I.1; 1, n.300; c.13, I.1; 3, n. 452; Vì Thiên Chúa là Đấng
Siêu Việt Tuyệt Đối, nên Thánh Thomas cho rằng ta không thể biết đuợc
bản thể của Chúa ra thế nào. Dionysius gọi Chúa là Đấng vô hình, vô
danh, bất khả ngôn, bất khả tri(incomprehensible), vì ta không thể
dùng trí khôn hạn hẹp, hay ngôn từ của loài hữu hạn mà diễn tả được
sự Cao Siêu, Nhiệm Mầu vô hạn của Chúa. Theo V.White,O.P. trong "God
The Unknown"(Harvill Press, London,1955, Trg 16-25, thì có sự đồng ý
giữa Đông -Tây, trong cách dùng "via negativa". Coi A.D. Sertillanges
,O.P. "Dieu", t.II.,(Desclée, Paris,1926, Trg 379-386
(14). Coi: Karl Rahner, chữ ANALOGIA, trong
"Sacramentum Fidei", Trg 22, và "Dictionary of Theology", Trg 7,8;
Coi: Brugge Baker-Walter, Trg 10
(15). Coi: Dumoulin, như trên, Trg 169-173;
Coi: Julia CHING, "Confucianism and Christinism" (Kodansha
International,Tokyo..) Trg 114
(16). Coi:Trần Ngọc Thêm" Tìm về Bản Sắc Văn
Hóa Việt Nam" 1997. Trang 42-58:2.3: Những đặc trưng của hai loại
hình văn Hóa. Một số học giả phân chia ra hai loại văn hóa: Văn Hóa
gốc Nông Nghiệp(như Việt Nam) trọng TĨNH, và Văn Hóa gốc du mục (như
miền Bắc Trung quốc, và Tây Phương) trọng ĐỘNG. Mỗi loại văn hóa có
những đặc tính khác nhau về cách"Ứng xử với môi trường tự nhiên": một
bên, sống Hòa Hợp với Thiên Nhiên; bên kia, chế ngự Thiên Nhiên. Về
mặt nhận thức, tư duy: một bên, thiên về Tổng hợp, Chủ quan và Kinh
Nghiệm; bên kia, thiên về Phân Tích, Khách quan, và Thực nghiệm. Về
tổ chức Cộng Đồng: một bên, trọng Tình, trọng Đức, trọng Văn, trọng
Phụ Nữ, trọng Tập thể, Dân chủ, và Linh hoạt; bên kia, trọng Lý luận,
trọng Võ, trọng Nam, Quân chủ, trọng Cá nhân, và Nguyên tắc. Về ứng
xử với môi trường xã hội: một bên, Dung hợp, Dân chủ, mềm dẻo, hiếu
hòa; bên kia, chiếm đoạt, độc tài, độc tôn, hiếu thắng.
(17). Coi: Fung, như trên, Trg 19. Xin lưu
ý: Các HÌNH VẼ dưới đây như vòng tròn, hình màu trắng, hình màu đen,
hoặc các con số chẵn, lẻ , số một, hai. ba , bốn, năm...hoặc những
gạch liền (__) chỉ DƯƠNG hay gạch đứt(_ _) chỉ ÂM..tất cả chỉ là
những BIỂU TƯỢNG (symbols) dùng để diễn tả những tư tưởng siêu hình
như: Nguyên Lý Tuyệt Đối, Bản Thể của Vũ Trụ, sự Điều Hòa, Quân Bình,
Trung Hòa của trời đất, vạn vật.
(18). Coi: N.D. Cần, "Nhập Môn Triết Học Đông
Phương", Trg 58-83
(19) Coi: N.D. Cần, như trên, Trg 41; 104-110
(20) Coi: Fung, như trên, Trg 12;
212;258-259; Coi: N.D.Cần,
như trên, Trg 121; 126-127
(21). Coi: N.D. Cần, "Phật Học Tinh Hoa",
Trg 60-61; Coi:Chatterjee, Satischandra "An Introduction to Indian
Philosophy", University of Calcutta, 1968. Trg 4
(22). Coi: Fung, như trên, Trg 242
(23). Coi: Dumoulin, như trên, Trg
114-117;120
(24). Coi: N.D. Cần, như trên, P. H. T. H:
Trg 111-115
(25). Coi: Fung, như trên, Trg 341-342
(26) Coi: Thomas Merton:" MYSTICS and ZEN
MASTERS, 1986. Coi: William Johnston:" THE STILL POINT",
reflections on Zen and Christian Mysticism, 1986.
CHƯƠNG BA: NHÂN TÍNH
(27). Coi: Julia CHING, "Confucianism and
Christianity"( Kodansha International, Tokyo, New York and San
Francisco), trang 71,72. Tác giả đã so sánh , đối chiếu học thuyết
của Khổng giáo và Thiên Chúa Giáo, khá chính xác , nhờ sự hiểu biết
uyên bác về Triết học Trung Hoa và về những cách giải thích mới trong
khoa thần học Thiên Chúa Giáo , sau Công Đồng Vatican II; ví dụ: Vấn
đề Nhân Loại (Chương ba), Thượng Đế(Chương bốn), Siêu Việt(Chương năm)..
(28). Coi: FUNG YU-LAN, "A Short History of
Chinese Philosophy"(Free Press, MacMillan Publishing Co.Inc.N.Y),trg,
70. Sách này tác giả viết bằng Anh ngữ để giúp các sinh viên ngoại
quốc muốn tìm hiểu Triết lý và Văn hóa Trung Hoa;( đã được dịch ra
Việt ngữ, Pháp ngữ...). Có thể dùng làm sách giáo khoa để giảng dạy,
vì cách bố cục có hệ thống, giảng nghĩa rõ ràng, phân minh, , ngắn
gọn nhưng đầy đủ về các môn phái triết học; lời văn chính xác, dễ
hiểu.
(29)." Mạnh Tử, Chu Hi tạp chú"(Trung Tâm
Học Hiệu) Tập Hạ, Quyển thứ sáu, thiên XI, chương 6, trg 199
(30). Coi: Trần Trọng Kim, "Nho Giáo"( quyển
thượng, thiên IX, Tuân Tử, Nhạc trg. 319 )
(31). T. T. Kim, như trên, quyển hạ, trg.
38,39.
(32). " GIÁO", theo nguyên tự chữ Hán( )gồm
hai bộ: tay phải cầm roi( ) quất lên đứa nhỏ( ): Hội Ý có nghĩa
là ảnh hưởng trên đứa nho.
(33). Fung Yu-Lan, như trên, trg. 196.
(34). T.T. Kim, như trên, quyển hạ,trg. 158
(35). T.T. Kim, như trên, quyển hạ,trg. 157
(36). Fung Yu-Lan, như trên, trg. 298
(37)T.T. Kim, như trên, quyển hạ, trg. 158
(38). Fung Yu-Lan, như trên, trg. 306
(39). TRẦN TRỌNG KIM, "NHO GIÁO", quyển
thượng, và quyển hạ, nhà xuất bản Tân Việt, in lần thứ tư. Coi: quyển
hạ, trg. 169. Một bộ sách viết công phu để phác họa lại các môn phái
triết học như Khổng Học, Lão Học...làm nền tảng về Triết lý và Đạo
Đức, cách tổ chức xã hội, chính trị cho giới sĩ phu Việt Nam. Nhưng
tác giả đã không ghi lại những lời giải thích, bình luận của các danh
nho Việt Nam như Lê Quí Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm,v,v..về các triết
thuyết trên, khi được ứng dụng, "hội nhập" vào văn hóa Việt Nam. Lại
nữa, các nho gia, sĩ phu Việlt Nam đã đóng góp vào nền cổ học như thế
nào?
(40). Julia Ching, như trên, trg. 77-78
(41). T.T. Kim, như trên, trg. 248
(42). Fung Yu-Lan, như trên, trg. 309
(43). T.T. Kim, như trên, trg. 247
(44). T.T. Kim, như trên, trg. 274
(45). Coi: Satischandra, Chatterjee, "An
Introduction to Indian Philosophy" (University of Calcutta, 1968),
trg. 137.
(46). S. Chatterjee, như trên, trg. 118.
Theo tác giả, thì có 10 câu hỏi "không trả lời được", hoặc "không có
lợi ích gì":
1/ Thế giới này vĩnh cửu, hay2/
không vĩnh cửu; 3/ hữu hạn, hay 4/ vô hạn? 5/ Hồn giống như xác, hay
6/ hồn, xác khác nhau?7/ người đã tìm được chân lý(Tathagata) còn
sống sau khi chết, hay8/ không còn sống sau khi chết?9/ có phải người
đó vừa còn sống , vừa không- còn sống sau khi chết?10/ hay người đó
cũng chẳng sống cũng chẳng không-sống sau khi chết?
(47). Coi: Dương Quảng Hàm, "Việt Nam Văn
Học Sử Yếu", trg. 65
(48) . Coi: Nguyễn Duy Cần, "Phật Học Tinh
Hoa", trg. 102-105
(49). Coi: Antony Fernando, "Buddhism Made
Plain",( Orbis Books, Maryknool, New York) trg. 66-69; và N.D. Cần,
như trên, trg 161.
(50). Coi: Heinrich Dumoulin, S.J.
"Christianity Meets Buddhism"(Open Court Publishing Co. 1974), trg.
83
(51). Coi: Sách Sáng Thế ký( Genesis),
1:27;2:18-24
(52). Coi: Sách Kinh Thánh, Leviticus,19:18;
Mat, 22:37-40
(53). Coi: Phúc Âm theo Thánh Marcô, 10:45;
Mathêu, 5:43; 25:31-46.
(54). Coi: Genesis, 2:16; 3-11; 8:21;
Thánh Vịnh(Psalms 51, và 143; Thư gửi cho Giáo Đoàn Rôma 8:6-8;
10:3; 2Cor 10:5
(55). Coi: Thư của Thánh Gioan, 1 Gioan
1: 2-3; 4:9,14.
(56). Coi: "Catechism of the Catholic
Church",1994, số 362-366
(57). Coi: Richard P. McBrien, "Catholicism"
(Volume I, trg. 158-161, và "Catechism of the Catholic Church", số
32-35.
(58). Coi: 1 Corinto 8:6;15:24-28,44-49;
Roma 8:19- 23,29,30; Epheso 1:9-10,19-23; 3:11; Colossio 1:15-20;
3:4; Philippio 3:21; Hebrêu 1:2-3; Joan 1:3; 12:32; và Roma 1:18-28;
Công Vụ Tông Đồ (Acts) 17:24-27.
(59). Công Đồng Vatican II, "Gaudium et
Spes", số 39
(60). Coi: Karl Rahner, "Theological
Investigations" (The Theological concept of Concupiscence, Baltimore
1960, trg. 369
(61). Coi: Julia Ching, như trên, trg. 69-70
(62). Coi: Hans Kung and Julia Ching,
"Christianity and Chinese Religions"(Doubleday, New York, 1989)
trg.114
(63). Coi: Hans Kung and Julia Ching, như
trên, trg. 117
(64). Coi: Fung Yu-Lan, như trên, (Ngữ loại,
quyển 4), trg. 301
(65). Coi: N.D.Cần, như trên, trg. 46 và
154-158
CHƯƠNG BỐN :
CỨU ĐỘ
(66). Coi: H. Dumoulin "Christianity Meets
Buddhism", trg 80-83
(67). Coi: A. Fernando "Buddhism Made
Plain", trg 99-100
(68). Coi H. Dumoulin, như trên, trg 87, 95
(69). Coi: Thích Mật Thể, "Thế Giới Quan
Phật Giáo", Trg 57, 80
(70). Coi: Nguyễn Duy Cần, "Phật Học Tinh
Hoa", Trg 45
(71). Coi: Fernando, như trên, Trg 23, 27;
N.D. Cần, như trên, Trg 46
(72). Coi: T.M.Thể, như trên, Trg 60; A.
Fernando, như trên, Trg 37,38.
(73). Coi: Satischandra Chatterjee, "An
Introduction to Indian Philosophy" Trg 15-17; Dumoulin, như trên, Trg
152, 153; N.D. Cần, như trên, Trg 145; 151-153.
(74). Coi: Fernando, như trên, Trg 38; Fung,
như trên, 243; Julia Ching and Hans Kung, " Christianity and Chinese
Religions", Trg 212, 217
(75). Coi: Fernando, như trên, Trg 42-45
(76). Coi: Fernando, như trên, Trg 43, 44,
45; N.D.Cần , như
trên, Trg 78, 111-112
(77). Coi: N.D.Cần, như trên, Trg 125-126,
135-136
(78). Fernando, như trên, Trg 33-36
(79). N.D.Cần, như trên, Trg 158-160
(80). Coi: Nguyễn Huy Lai, " La Tradition
religieuse, spirituelle, sociale au Việt Nam" (Beauchesne,1981) Trg
307; Fung, Trg 244; Dumoulin, Trg 38,134-135; Chatterjee, Trg
123-127; N.D. Cần, Trg 221-225
(81). Coi: Phạm Quỳnh, "Phật giáo lược khảo"
(trích trong" Việt Nam Văn Học Sử Yếu", Trg 66-67, Nát Bàn là gì?)
(82). Coi: A. Fernando, như trên, Trg 54-55
(83). Coi: A. Fernando, như trên, Trg 56
(84). "UPAYA": Coi: Hans Kung and Julia
Ching, Trg 210;N.D. Cần , trg 111-112 ; T.M. Thể, Trg 41
(85). Coi: N.D.Cần, như trên, Trg 160-162,
225
(86). Coi: Dumoulin, như trên, Trg 114-118
(87). Coi: Chatterjee, như trên, Trg
158-159; T.M.Thể, như trên, Trg 41
(88). Coi: Chatterjee, như trên, Trg 118
(89). Coi: Fung, như trên, Trg 264
(90). Coi: Chatterjee, như trên, Trg, 13-22
(91). Coi: Dumoulin, như trên, Trg 38;
Chatterjee, như trên, Trg 133-139; Coi: Vatican II, "Tuyên Ngôn về
liên lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo Ngoài Kitôgiáo"(Nostra Aetate)
số 2, Trg 470
(92). Coi: A. Fernando, như trên, trg 101
(93). Coi: Karl Rahner "Dictionary of
Theology", trg 250, 266, 306, 458, 465 Coi: Việt Nam Tự Điển (Khai
Trí Tiến Đức), trg 197
(94). Coi: K. Rahner, như trên, trg 432
(95). Coi: A. Fernando, trg 116
(96). Coi: "Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội"
(Lumen Gentium, bản dịch của G.H.H.V.Pio X):"Giáo Hội và những người
không thuộc Kitôgiáo", Số 16, Trg 172-173
(97). Coi: "Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội
trong thế giới ngày nay" (Gaudium et Spes). Chương III, Đời sống Kinh
Tế, Xã hội, Trg 825; Chương IV, Đời Sống Cộng Đoàn Chính Trị,Trg 840;
Chương V, Cổ võ Hòa Bình và xây dựng Cộng đoàn các dân tộc, Trg 849.
(98). Coi: Nguyễn Văn Thọ, " Khổng Học Tinh
Hoa",Trg 152; Fung, như trên, Trg 131-135; Marcel Granet, "La Pensée
chinoise", Trg 140-152
( 99). Coi: Julia Ching, như trên, Trg 145
(100). Coi: Julia Ching, như trên, Trg 146;
Dumoulin, như trên, Trg 117,119
(101). Coi: N.D.Cần, như trên, Trg 226
(102). Coi: Fung, như trên, Trg 258
(103). Coi: Dumoulin, như trên, Trg 147, 153
(104). Coi: Đối chiếu Cựu Ứơc, Tân Ứơc và
Lịch sử thế giới , ở dưới:
CHƯƠNG NĂM: TÌNH ÁI
(105). Coi: Luận Ngữ, 12:22
(106. Coi: Julia Ching, như trên, trg 95 ;
Nho Giáo, q.I, trg. 132-133
(107). Coi: Luận Ngữ, 4:15; J. Ching, trg.
94
(108). Coi: Luận Ngữ, 15:23; 12:2' Fung, như
trên, trg. 43
(109). Coi: J. Ching, như trên, trg.
96;138-139;165; Fung, như trên, trg.177
(110). Coi: Fung, như trên, trg. 310-311
(111). Coi: Fung, như trên, trg. 50-59;
122-125
(112). Coi: Fung, như trên, trg. 72
(113). Coi: Fung, như trên, trg. 113
(114). Coi: Fung, như trên, trg. 101
(115). Coi: Fung, như trên, trg. 102-103
(116). Coi: Fung, như trên, trg 116
(117). Coi: Nho Giáo, q.I, trg. 80
(118). Coi: Nho Giáo, q.II, trg. 142;
260-274
(119). Coi: Henri Maspero, "Taoism and
Chinese Religion", (University of Massachusettes Press, Amherst,
1981), trg. 25-37
(120). Coi: Chatterjee, như trên, trg.118
(121). Coi: N.D.Cần, như trên, trg. 242
(122). Coi: Dumoulin, như trên, trg. 118
(123). Coi: N.H.Lai, như trên, trg. 487-488
(124). Coi: Winston King, "Buddhism and
Christianity", trg 77-82
(125). Coi: N.H.Lai, như trên, trg. 331
(126). Coi: N.H.Lai, như trên, trg. 333
(127). Coi: N.D.Cần, như trên, trg. 74 và 79
(128). Coi: N.D.Cần, như trên, trg. 108-110;
Fung, như trên, trg. 255-256
(129). Coi: N.D.Cần, như trên, trg. 266-268
(130). Coi: N.D.Cần, như trên, trg.
198,218,227
(131). Coi: Đồ Biểu ở cuối, trang Chú Thích
(132). Coi: Richard P. McBrien, "Catholicism"
vol.I, trg.476-477
(133). Coi: J.Ching, như trên, trg. 71
(134). Coi: J.Ching, như trên, trg. 139-140
(135). Coi: W.King, như trên, trg. 65-68: Coi:
đồ biểu ở cuối, trang Chú Thích)
(136). Coi: W.King, như trên, trg. 69-70
(137). Coi: Dumoulin, như trên, trg. 166-169
(138). Coi: W.King, như trên, trg 71
(!39). Coi: Dumoulin, như trên,trg.120;
N.D.Cần, như trên, trg.20, 111-112; Thích Mật Thể,"Thế Giới Quan Phật
Giáo"(Phật Học Viện Quốc Tế, 1983) trg.33-42
(140). Coi: N.H.Lai, như trên, trg.247
(141). Coi: Trang Tử,"Nam Hoa Kinh"(Khai Trí),
trg. 68-69
(142). Coi: Henri de Lubac," Aspects du
Bouddhisme"( Paris, Ed. du Seuil,1951), trg. 37,38,40; Dumoulin, như
trên, trg. 119-120
(143).Coi: N.D.Cần, như trên, trg.218-219
(144). Coi: Henri de Lubac, như trên, trg.
42-43 và 52
(145). Coi: W. King, như trên, trg.85-88
(146). Coi: W. King, như trên, trg. 90-91
(147). Coi: N.D.Cần, như trên, trg.227
(148). Coi: W.King, như trên, trg.96-97
ĐỒ BIỂU SO SÁNH QUAN NIỆM TỪ BI CỦA PHẬT GIÁO,
và QUAN NIỆM BÁC ÁI CỦA THIÊN CHÚA GIÁO
PHẬT GIÁO
THIÊN CHÚA GIÁO
CHƯƠNG SÁU: NGUYÊN LÝ
SIÊU VIỆT
(149). Coi: L: Wieger , "Chinese Characters",
trg 326, 791; coi: Fung: trg ,167
(150).Coi : Legge, James, "Confucius",trg ,
168
(151). Coi: Fung: trg, 342
(152). Coi: Fung: trg, 267
(153).Coi: T.T. Kim: trg, 39,73
(154). Coi: Fung: trg , 167-168
(155). Coi: Fung: trg , 138-142; Ngô Tất
Tố,"KINH DỊCH", toàn bộ, Khai Trí :trg, 11-14 . Quan niệm và triết lý
về ÂM-DƯƠNG phối hợp, điều hòa là nòng cốt của tư tưởng Đông Phương.
Trước khi có chữ viết, người ta đã dùng những nét vẽ, những hình, rất
đơn giản làm "BIỂU TƯỢNG" (symbol) để diễn tả những ý niệm siêu hình
về tín ngưỡng, nhân sinh quan, vũ trụ quan...Đi từ quan sát các hiện
tượng thiên nhiên, hữu hình để vượt lên cõi siêu nhiên, vô hình. Qua
kinh nghiệm hàng ngày, người ta nhận thấy sự khác biệt về thân xác và
tính tình giữa người đàn ông/ đàn bà, nhưng cả hai lại phối hợp, điều
hòa, và bổ túc cho nhau( tuy một mà hai, tuy hai mà một). Bằng một
nét vẽ đơn sơ nhất ( _ ) để tượng hình cho "Nam", tức "Dương"; và
bằng nét đứt làm hai (_ _ ) biểu thị cho "Nữ", tức "Âm". Tại sao, vẽ
một nét (_) chỉ giống đực, hai gạch (_ _) chỉ giống cái? Có thể, vì
giống cái mới có khả năng "mang thai", ( mẹ và con), còn giống đực
thì không có khả năng đó. Cũng vì thế, số chẵn (2, 4, 6, 8) chỉ Âm;
số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) chỉ Dương.( Trời=3= Dương; Đất=2=Âm). Do đó, ý
niệm về ÂM-DƯƠNG, để biểu diễn sự tương đối, điều hòa, không tiêu
diệt nhau, nhưng bổ túc cho nhau, không rời nhau. Vì trong ÂM đã có
mầm mống DƯƠNG; không vật nào, người nào nhất định là Âm hay là
Dương, nhưng biến đổi tùy địa vị tương đối với người khác, như : Mẹ
là Âm đối với Cha, nhưng lại là Dương đối với con; có Âm là vì có
Dương, cũng như có ngày là vì có đêm, có trắng là vì có đen.
Cặp ÂM-DƯƠNG biến dịch không ngừng, phối hợp,
điều hòa, giữ quân bình, đã tạo ra những ý nghĩa biểu tượng, những
quan niệm về Ngũ Hành, Phương Hướng( cơ cấu của vũ trũ), về Lưỡng Nhi,
Tứ Tượng, Bát Quái( quẻ đơn, quẻ kép), về số lẻ( 3,5,7,9), số
chẵn(2,4,6,8); về cách xếp đặt vị trí các con số trong Hà Đồ, Lạc Thư,
Hồng Phạm Cửu Trù, Nguyệt Lệnh, kiến trúc nhà Minh Đường, xếp đặt
Tiên Thiên Bát Quái, Hậu Thiên Bát Quái. Nói tóm lại, tư tưởng biểu
tượng của triết lý ÂM-DƯƠNG , giúp ta hiểu được tinh thần văn hóa của
Đông Phương là: tôn trọng sự HÒA HỢP, QUÂN BÌNH, "KHÔNG THÁI QUÁ, CHỚ
BẤT CẬP"; đặc biệt tâm tình của dân Việt, thuộc Phương Nam, Văn Hóa
Nông Nghiệp, trọng Tĩnh, Âm tính, tôn trọng phụ nữ; nhưng tinh thần
cũng rất linh hoạt, "Dương tính", nên thích suy nghĩ theo cách thức
Tổng Hợp , Bao Quát, "Nhất Quán"
(156) .Coi: Fung: trg, 169-170; T.T. Kim: trg
68-70. Lưu ý: coi Hình Vẽ 1, ở trang 474 về Thái Cực, Âm-Dương, Bát
Quái của Phục Hy .
(157) .Coi: Fung: trg, 132-133 về Ngũ Hành;
(158) .Coi : N.V .Thọ, " Khổng Học Tinh
Hoa"trg, 158, 163-165 về Ngũ Hành. Lưu ý: coi hình vẽ 2, ở trang 475
(159) Coi: N.V. Thọ: trg, 152-158; Nhà Minh
Đường: trg167; Fung : trg , 131-133 về Nguyệt Lệnh; coi: Marcel
Granet" La Pensée Chinoise" trang, 139-145
(160) Coi: M. Granet, trg 148- 152 về Hà Đồ,
Lạc Thư, Nhà Minh Đường. Lưu ý:coi hình vẽ 3, ở trang 478
(161) Coi: M. Granet, trg 155-156 về Tiên
Thiên Bát Quái, Hậu Thiên Bát Quái, Nhà Minh Đường. Lưu ý: coi hình
vẽ 4, ở trang 480
(162) Coi: N.H.Lai: trg, 214-218; Fung: trg,
94-96
(163) Coi: Nghiêm Toản,"ĐẠO ĐỨC KINH", Khai
Trí: trg, 2-9
(164) Coi: N.D.Cần:"LÃO TỬ TINH HOA": trg,
41-47;78-97
(165) Coi: N. Toản: trg, 6,9
(166) Coi: N.Toản: trg, 64; N.D.Cần:"Tinh Hoa
ĐẠO HỌC ĐÔNG PHƯƠNG": trg, 16, 18; Fung: trg, 100-102
(167) Coi: N.D.Cần,"Lão Tử Tinh Hoa": trg,
48-49
(168) Coi: N.D.Cần: trg, 53; N. Toản: trg,
116, 157
(169) Coi: N.D.Cần: "NAM HOA KINH" : trg,
56-57; "Lão Tử Tinh Hoa": trg, 47, 77, 86; Fung: trg, 100-105
(170) Coi: J. Ching: trg, 127,129; Fung: trg,
296-298, 316-318; T.T.Kim: q. hạ, trg 117, 157-158
(171) Coi: T.T.Kim: q.hạ:trg, 118; 192-193 ;
J. Ching: trg, 130-131; Fung: trg, 269("Vô Cực")
(172) Coi: Fung: trg, 298-299
(173) Coi : T.T. Kim: q. hạ, trg, 159; Fung:
trg, 301; H. Kuns
and J. Ching" Christianity and Chinese
Religions",Doub leday: trg,79- 80
(174) Coi: T. T. Kim: q. hạ:trg, 117, 118,
120;
(175) Coi: Fung: trg, 306, 314
(176) Coi: T.T.Kim, q. hạ: trg, 243, 246-253,
261-265; Fung: trg, 308-309
(177) Coi: J.Ching: trg, 135-136; Fung: trg,
309
(178) Coi: T.T.Kim: q.hạ: trg, 260-262; J,
Ching: trg, 136
(179) Coi: J Ching: trg, 133, 138,140; N.V.
Thọ: trg, 56-60, 63
(180) Coi: T.T. Kim: q.hạ trg, 247,248,253;
J. Ching: trg, 135, 137; N.D.Cần: "Phật Học Tinh Hoa": trg, 102-107
(181) Coi: Satischandra Chatterjee" AN
INTRODUCTION TO INDIAN PHILOSOPHY", University of Calcutta: trg, 7
(182) Coi: Heinrich Dumoulin, "CHRISTIANITY
MEETS BUDDHISM" :trg, 75, 77, 95
(183) Coi: Augustin Hideshi Kishi" Spiritual
Consciousness in Zen from a Thomistic Theological Point of View" :trg
20,21,22 ; N D. Cần, "Phật Học Tinh Hoa": trg 177-195
(184) Coi: H.Dumoulin: trg, 100-104
(185) Coi : Teilhard de Chardin " THE DIVINE
MILIEU" : trg, 121-128
(186) Coi: N.D.Cần:" Trang Tử Nam Hoa Kinh":
trg, 65-66
(187) Coi: H. Dumoulin: trg, 95-104
Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG CỦA HÌNH VẼ
Dưới đây chỉ xin bàn luận về ý nghĩa biểu
tượng của một số HÌNH VẼ, đặc biệt nêu lên ý nghĩa siêu hình về sự
vận chuyển ĐIỀU HÒA của vũ trụ. Cũng xin miễn bàn về những giả thuyết
còn đang tranh luận về ai là tác giả đã sáng chế ra những hình vẽ đó,
ví dụ : có giả thiết cho là do "Việt Nho", Phương Nam; người khác cho
là do "Hán Nho", Phương Bắc; cũng không bàn về cách dùng những hình
ảnh đó trong việc bói toán, hoặc nguồn gốc thần thoại ..Điều đáng cho
hậu thế ngưỡng mộ là : từ những hình ảnh, nét vẽ đơn sơ, cổ nhân đã
có thể biểu thị được những tư tưởng trừu tượng siêu hình rất tinh vi
về Một Nguyên Lý Tuyệt Đối, Chủ Tể vạn sự vạn vật, và cách thức
Nguyên Lý đó biểu lộ ra bên ngoài, tức "THIÊN ĐẠO", để làm nên cơ cấu
và sự xoay vần nhịp nhàng, quân bình, của vũ trụ càn khôn, ; và do dó,
con người, tức "NHÂN ĐẠO" muốn được an vui, an hòa trong cuộc sống
thì cũng phải tuân theo mẫu mực lớn ấy, tức "HỒNG PHẠM
Hình vẽ 1. THÁI CỰC và ÂM DƯƠNG, và BÁT QUÁI
-Vòng tròn ngoài, chỉ THÁI CỰC, tròn đầy,
Viên Mãn. "Hoàn Toàn"; vô danh, vô hình vô tượng, vô thanh, vô sú. Ở
đây, tạm biểu thị bằng một vòng tròn
- THÁI CỰC, biểu lộ ra (tức Động Thể) bằng
một cặp ÂM- DƯƠNG: hình tròn chia đều làm hai phần bằng nhau: đen là
ÂM, trắng là DƯƠNG, ở trong ÂM có một chấm trắng, tức có DƯƠNG; trong
DƯƠNG có chấm đen, tức có ÂM. Có ý nói: ÂM-DƯƠNG luôn biến dịch, đối
đáp nhau, thay chồ cho nhau, không có vật nào hoàn toàn Âm, hay hoàn
toàn Dương .
-BÁT QUÁI(do Phục Hi, gọi là "Tiên Thiên Bát
Quái), vây quanh hình THÁI CỰC, cũng được vẽ bằng những gạch Âm -Dương
thay đổi nhau để diễn tả sự vận chuyển nhịp nhàng, hòa hợp, cân đối
của Thiên Nhiên, của vũ trụ càn khôn. Theo tương truyền, hình Bát
Quái này "có trước"(Tiên Thiên) hình " Hậu Thiên Bát Quái", theo
tương truyền, do Chu Văn Vương đặt ra(1185-1135 B.C).
Hình vẽ 2. HÀ ĐỒ , ĐỔI RA CÁC CON SỐ, và NGŨ
HÀNH TƯƠNG SINH, VÒNG TRONG, VÒNG NGOÀI.
- Coi: hình(a). Trong HÀ ĐỒ: các chấm đen chỉ
ÂM, các chấm trắng chỉ DƯƠNG; các số chẵn chỉ ÂM( chấm đen), các số
lẻ chỉ DƯƠNG( chấm trắng)
- Coi: hình(b). Đổi ra những con số. Theo
hình (b), ở mỗi cánh của hình chữ thập, nếu ta lấy số lớn trừ cho số
nhỏ, thì số thành luôn là con số 5 (8-3=5; 7-2=5; 6-1=5; 9-4=5). Con
số này, biểu tượng cho sự QUÂN BÌNH, Điều Hòa của vũ trụ
- Coi hình (c): NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH. Ta nhận
thấy những tư tưởng về cơ cấu không gian của vũ trụ như: Phương Hướng:
NAM( phía trên) BẮC(phía dưới), ĐÔNG (bên trái), TÂY(bên mặt). Hướng
NAM chỉ Mùa HẠ, màu ĐỎ, và HỎA (Ngũ Hành); Hướng BẮC chỉ Mùa ĐÔNG,
màu Đen, và THỦY (Ngũ Hành); Hướng ĐÔNG, chỉ Mùa XUÂN, màu XANH, và
MỘC (Ngũ Hành); Hướng TÂY, chỉ Mùa THU, màu TRẮNG, và KIM( Ngũ Hành)-
Ở TRUNG TÂM, số 5 và (10) là hành THỔ: coi hình (c) NGŨ HÀNH TƯƠNG
SINH
-- Coi hình(c), gọi là" NGŨ HÀNH TƯƠNG
SINH":vì Hành này trợ giúp cho Hành kia phát triển, theo chiều thuận
lợi cho nhau: THỦY>MỘC (nước giúp cây mọc lên); MỘC>HỎA: (Gỗ làm cho
lửa cháy); HỎA>THỔ: (tro bụi do lửa đốt cháy, dùng làm phân bón cho
đất); THỔ>KIM: (lòng đất là hầm mỏ sinh ra kim loại; KIM>THỦY: (kim
loại nung nóng trở về thể lỏng). Mối quan hệ tương sinh này, theo
chiều thuận(chiều kim đồng hồ)
- Coi hình(d): Theo Triết lý ÂM-DƯƠNG, còn
chia ra vòng trong, gồm các con số nhỏ(từ 1-5) gọi là số Sinh, chỉ
cuộc đời con người khi còn nhỏ, ở với cha mẹ trong nhà, hoặc là chỉ
đời sống TÂM LINH, TU THÂN, TIỀM THỨC, "NỘI THÁNH", chỉ "VÔ"; vòng
ngoài, gồm những con số lớn (từ 6-10) gọi là số thành, chỉ cõi hiện
tượng, tức sự vật đã thành hình tượng, chỉ con người trưởng thành ra
hoạt động ngoài xã hội, đi vào thế sự, đi vào hiện thực,"NGOẠI VƯƠNG"
nhưng vẫn lấy TÂM LINH làm gốc.
- Cách xếp đặt vị trí các con số trong HÀ ĐỒ
cho ta thấy địa vị trọng yếu của con người đối với vũ trụ, vì hành
THỔ, biểu tượng bằng số 5 (10), nằm ở chính giữa, trung tâm. Do đó,
con số 5, gọi là số "Tham thiên lưỡng địa"( trời=dương=3; đất=âm=2).
Trong văn hóa nông nghiệp, thì "Đất" giữ một địa vị trọng yếu.
- Trong văn hóa Việt Nam, người ta ưa thích
các con số lẻ như : 1,3,5,7,9, đặt biệt số 5 như các thành ngữ: Ngũ
Phúc, Ngũ cung, Ngũ vị...., hoặc các câu nói như: 5 liệu 7 lo; tụm 5
tụm 3; 5 bè 7 mối; 5 lần 7 lượt; 5 cha 3 mẹ; 1 lời nói dối sám hối 7
ngày; 1 câu nhịn 9 câu lành....
Hình Vẽ 3 . LẠC THƯ, ĐẶT RA CON SỐ, HÌNH
VUÔNG, TRÒN, HÌNH THẬP TỰ, NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC
-Coi hình(a): cách xếp đặt của LẠC THƯ, biểu
thị nhiều điều bí ẩn, sẽ được trình bày như sau:
- Coi hình (b) : các chấm đen (chỉ Âm), trắng
(chỉ Dương) đã được đổi thành những con số (1-9): khởi đầu bằng
số(1) phương BẮC và kết thúc là số(9) phương NAM. Cách xếp các con số
như thế, khác với HÀ ĐỒ, bao giờ cũng kết thúc ở số (5, 10) ở giữa.
- Hình(b) này, bên Âu châu gọi là "Hình
Vuông ma thuật"( carré magique, hay carré de Saturne), vì vào thế kỉ
17, mới được khám phá ra. Nếu ta cộng chéo , hay cộng ngang, dọc các
con số, ta vẫn được số thành là 15:(4, 5, 6=15); 2, 5, 8=15; 3, 5,
7=15; 1, 5, 9=15).
- Coi hình(c). Nếu ta rút ra con số 5 ở giũa,
là số "Khởi Thủy Vận Chuyển" (Motus Initium), thì ta được hình "Thập
Tự Hi Lạp"( gồm các con số lẻ , 1+9=10, và 3+7=10); và hình "Thập Tự
chéo Thánh ANRÊ"( gồm các con số chẵn, 4+6=10, và 2+8=10). Số 10 là
số chỉ sự toàn thể của thực tại, viên mãn, đầy đủ, hoàn toàn.(Tại sao
gọi là " Thập Tự chéo Thánh An Rê( croix de Saint André)? Vì Chúa
GIÊSU chịu chết trên Thập Tự, dựng thẳng; vì lòng tôn kính Thầy mình,
Thánh ANRÊ, đã yêu cầu lý hình đóng đinh Ngài trên thập tự nằm chéo)
-Coi hình (d), các số lẻ(1, 3, 5, 7, 9) có
thể kết thành vòng tròn, có số 5 ở giữa; các số chẵn(2, 4, 6, 8) hợp
lại thành hình vuông. Có người cho rằng: trong Lạc thư, các số chẵn,
tức ÂM bao vây các số lẻ, tức DƯƠNG.
-Coi hình(e) NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC. Ta thấy
các hành chạy ngược lại kim đồng hồ, hành này gây trở ngại cho hành
kia: THỦY<HỎA( nước dập tắt lửa); HỎA< KIM( lửa nung chảy kim loại);
KIM<MỘC( dao chặt cây); MỘC<THỔ( cây hút chất mầu của đất): THỔ<THỦY(đất
đắp đê ngăn chặn nước lụt). Ngũ Hành Tương Sinh , chạy thuận theo kim
đồng hồ ( coi hình (c), ở trang 475.
- Coi hình(g), Ngũ Hành được diễn tả vừa
Tương sinh vừa Tương khắc. Nếu ta kéo hành Thổ ra ngoài làm thành một
hình chu vi, ta có Ngũ Hành Tương Sinh, chiều thuận; kéo các đường
bên trong thành hình Ngôi Sao, ta được hình Ngũ Hành Tương Khắc.
Hình Vẽ 4. TIÊN THIÊN BÁT QUÁI, HẬU THIÊN BÁT
QUÁI, HỒNG PHẠM CỬU TRÙ, NHÀ MINH ĐƯỜNG
-Theo hình(a), khi so sánh, ta thấy trong
TIÊN THIÊN BÁT QUÁI, cách xếp đặt 8 Quái, khác với HẬU THIÊN BÁT QUÁI.
-Coi hình(b): đồ biểu(graphic), thì ta thấy
rõ sự khác biệt về vị trí của các"Quái". Hình "Tiên Thiên Bát Quái"
có vẻ cân đối về "ÂM-DƯƠNG" xoay vần.
Nhưng cổ nhân đã dùng câu thành ngữ sau đây
để chỉ sự tương quan liên hệ giũa "THỂ, và "DỤNG"
- " HÀ ĐỒ...vi Hậu Thiên Âm Dương chi THỂ
- " LẠC THƯ...vi Tiên Thiên Âm Dương chi
DỤNG"
-( Nghĩa là: cái THỂ của ÂM/DƯƠNG trong HẬU
THIÊN được đặt vào trong HÀ ĐỒ; cái DỤNG của ÂM/DƯƠNG trong TIÊN
THIÊN được đặt vào trong LẠC THƯ.)
- Theo hình(c), HẬU THIÊN BÁT QUÁI đã được
đặt thành 9 "Cung", (từ 1-9), biểu thị (9) "công việc lớn lao" phải
làm trong cuộc sống, chín việc đó gọi là CỬU TRÙ. Vì đó là mẫu mực
lớn lao, tức "HỒNG PHẠM" mà vị quân vương phải noi theo, để " TRỜI"
ban phước lộc cho nhà vua và cho toàn dân.
- Cũng trong hình (c), 9 con số được thay thế
bằng 9 "TRÙ": như trù số (1) là NGŨ HÀNH, nghĩa là vị quân vương phải
am tường về vật lý, phương hướng, thời tiết...để biết cách hướng dẫn
dân trong việc nông nghiệp.....
- Coi hình(d): NHÀ VŨ TRỤ hay NHÀ MINH ĐƯỜNG.
Triết lý, siêu hình của Lạc Thư chứng minh: con người muốn sống an
hòa hạnh phúc, thì phải theo "THIÊN ĐẠO", phải "THUẬN THIÊN". Do đó,
theo tương truyền, đời Hán, thì THÁI NHẤT, (Unité Suprême) đặt mỗi
"QUÁI"( trong 8 Quái) ở một "Cung", ví dụ: Khảm(cung số 1); Khôn
(cung số 2); Chấn (cung số 3)......Coi các mũi tên chỉ đường hướng
Thái Nhất di chuyển; mỗi khi đi hết 4 cung (1, 2, 3, 4) thì về nghỉ
ở cung số 5, tức Trung Tâm; rồi lại tiếp tục ra đi từ số 6, 7, 8, 9,
rồi trở về số 10=5, ở Trung Tâm. Chính cách vận hành này tạo ra cách
xếp đặt những con số trong "Hình Vuông Ma Thuật" và cũng theo tương
truyền, Chu Văn Vương đã căn cứ vào cách xếp đặt của Lạc Thư, để chia
trái đất (hình vuông) ra 9 Miền( hình vuông). Chu Văn Vương đã rảo
qua khắp Thế giới để tổ chức mọi công việc cai trị cho hợp với "THIÊN
ĐẠO". Vì trong việc tu thân, tề gia , trị quốc, bình thiên hạ, thì vị
Quân Vương phải bắt "nhân đạo" rập theo khuôn mẫu phép tắc của"
Thiên Đạo". Cũng theo tương truyền, Văn Vương đã sáng chế ra "Nhà
Minh Đường", như "hình ảnh của Thế giới"(Image du Monde) để các Vua
không cần đi đâu xa, chỉ cần đi trong "Nhà Minh Đường", gọi là để
"diễn lại tấn tuồng vũ trụ" mà thôi!
- Khi diễn lại tấn tuồng ấy, thì luôn phải
'THUẬN THIÊN", nghĩa là tùy mùa thay đôỉ mầu sắc, phương hướng...cho
thích hợp với thiên nhiên như: mùa Xuân: phương đông, số 3, phẩm
phục, cờ xí màu xanh, ngự cung Thanh dương; mùa Hạ, phẩm phục cờ xí
đỏ, ngự cung Minh Đường, phía Nam......
- Nói tóm lại, hình dáng, hành động, phương
vị của vị Thiên tử có thể thay đổi cho thích hợp với thời gian và
không gian, tùy hoàn cảnh, nhưng lúc nào cũng phải thuận theo Thiên
Đạo, như ý nghĩa của Kinh Dịch:" THỂ duy nhất, DỤNG vạn thù" .
CHƯƠNG BẢY : THIÊN CHÚA, THƯỢNG
ĐẾ, ÔNG TRỜI
(188). Coi: H. Dumoulin: trg, 172-173
(189). Coi:"Catechism of the Catholic Church"
:Chương Một, "Tôi tin Một Thiên Chúa là Cha", số 202
(190). Coi: Catechism, số 2096, 2097 và số
2132
(191). Coi: A. Kishi: trg 70-83; Karl
Rahner:" Dictionary of Theology": coi các chữ: act, actus purus
(192). Coi: A. Kishi: trg, 86-95. Nguyên văn
bằng tiếng Latinh của Thánh Bonaventura về "Quả cầu tròn", (soạn giả
sách này đã dịch ở trên): "Itinerarium Mentis in Deum, c.5, Oper
Omnia,t.XII, p.18: Quia simplicissimum et maximum, ideo totum intra
omnia, et totum extra omnia, ac per hoc est sphaera intelligibilis,
cujus centrum est ubique, et circumferentia nusquam. Quia
actualissimum et immutabilissimum, ideo, stabile manens, moveri dat
universa. Quia perfectissimum et immensum, ideo est intra omnia non
ex inclusum; extra omnia, non exclusum, supra omnia, non elatum;
infra omnia, non prostratum. Quia vero est summe unum et omnimodum,
ideo est omnia in omnibus: quamvis omnia sint multa, et ipsum non sit
nisi unum: et hoc quia per simplicissimam unitatem, serenissimam
veritatem, et sincerissimam bonitatem, est in eo omnis
communicabilitas, ac per hoc" ex ipso, et per ipsum, et in ipso sunt
omnia"(Rom.11:36); coi: Richard McBrien:" CATHOLICISM", vol. I, trg
128-133; 158-161; coi: K. Rarl Rahner, coi chữ Potentia
(193). Coi: H.Dumoulin: trg, 174-183; 148,
150, 178,181
(194). Coi: Ngô Kinh Hùng, Nguyên Bản Hán
Văn" PHÚC ÂM, TÔNG ĐỒ ĐẠI SỰ KÝ", Công Giáo Chân Lý Học Hội xuất bản,
Đức Giáo Hoàng PIÔ XII đề tựa, 12/ 28 /1948
(195).Coi:J. Ching: trg, 116-118; N.V.Thọ:
trg, 19; L. Wie ger: trg, 281(chữ Đế) và trg, 26 (chữ Thiên); T.T.
Kim: trg, 37-46
(196). Coi: T.T.Kim: "NHO GIÁO" quyển I: trg,
85-87
(197). Coi : Nguyễn Văn Ngọc:" Tục Ngữ Phong
Dao"; Bảo Vân:" Tục Ngữ Ca Dao và Dân Ca", Quê Hương
(198). Coi:" Lĩnh Nam Chích Quái", Trần Thế
Pháp; Lê Hữu Mục dịch, Khai Trí : trg, 60
(199). Coi: Peter Phan:"Mission and
Catechesis": trg, 215-223
(200). Coi: N.H.Lai:" La Tradition Religieuse
Spirituelle Sociale au Viet Nam" , Beauchesne: trg, 116-119
(201). Coi: Peter Phan: trg, 116-117
(202). Coi: Peter Phan: trg, 177-178
(203). Coi: Julia Ching:"Confucianism &
Christianity": trg,143-144
(204). Coi: J. Ching: trg, 113-115; 143-147.
PHỤ TRƯƠNG
ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
hay DUNG HÒA HAI NỀN VĂN HÓA ĐÔNG- TÂY
( Tóm lược bài giảng thuyết và hội
thảo tại Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, Charlotte, N. Carolina, tuần
Lễ Phục Sinh o4/ 16/2000. Cộng Đồng đã tậu mãi được 12 mẫu đất và
một nhà nguyện nhỏ, đang gây qũy để mổ rộng Nhà Thờ, xây Hội Trường
mới, và các lớp dạy Giáo lý, Việt ngữ. Trong Tuần Thánh, vì có Nhà
Thờ riêng, nên đã cử hành theo truyền thống Việt Nam, một vài nghi
thức như: Ngắm đứng, Dâng Hạt, Đọc đoạn, và đoàn thanh niên, thanh nữ
diễn hoạt cảnh khi toàn thể dân chúng đi Chặng Đàng Thánh Giá chung
quanh khuôn viên Nhà Thờ.)
CHỦ ĐỀ: Noi gương Chúa Cứu Thế đã tự ý hiến
thân chịu chết để chuộc tội cho nhân loại; nhưng sau ba ngày , Chúa
đã sống lại, vinh hiển. Các Thánh Tử Đạo cũng đã hy sinh mạng sống,
giữ vững Đức Tin, nên được hưởng hạnh phước vĩnh cửu cùng Chúa trên
Thiên đàng.
ƯU TƯ LỚN LAO NHẤT hiện nay của các bậc phụ
huynh, là làm thế nào giúp giới trẻ giữ vững ĐỨC TIN, và những Tinh
Hoa của Truyền Thống Dân Tộc?
Trong bài này chỉ xin bàn luận về nền Đạo Lý
thông thường, mà một con người, một gia đình hay một dân tộc văn
minh, văn hiến, cần xây đắp như nền tảng tự nhiên để vươn lên cõi
Siêu Việt, Thần Linh . Kim chỉ nam cho nền giáo dục cổ truyền có
câu:"Tiên học Lễ, hậu học văn", hoặc "Tài-Đức kiêm toàn". Đó là khuôn
vàng thước ngọc để rèn luyện đứa trẻ trở thành con người hữu dụng
cho gia đình, xã hội. Ngày nay, vì vận nước đổi thay, tại quốc nội
cũng như quốc ngoại, người dân Việt còn thiết tha với truyền thống
ngàn năm của giống nòi Lạc Hồng, phải đau lòng chứng kiến cảnh đổ vỡ
tan hoang của lâu đài giá trị về Luân thường Đạo lý ngàn xưa.
Ngày nay, các người lãnh đạo quốc gia, không
cần phải là người đức độ nữa! Một người ra tranh cử chức vụ nguyên
thủ quốc gia, dầu có quá khứ là bất liêm chính, ngoại tình, phóng
đãng, nhưng có tài ăn nói, giỏi về kinh tế, thì vẫn có thể đắc cử.
Thần tượng của giới trẻ là các minh tinh màn bạc, các thể thao gia,
mặc dầu đời sống luân lý của họ rất bê bối.
Ngày xưa tại quê nhà, khi học sinh cắp sách
đến trường, từ lớp mẫu giáo đã được học sách "Luân Lý Giáo Khoa Thư".
Khi lên bậc Trung Học, các sách giáo khoa trong Văn Học Sử Việt Nam,
đều tích trữ những triết lý, đạo lý của các bậc hiền nhân quân tử. Do
đó, khi bình luận về văn chương, đồng thời học sinh cũng được thấm
nhuần đạo đức của các vị Thánh Hiền. Trái lại, ngày nay tại các
trường công lập, người ta triệt để giữ thái độ "tục hóa", nghĩa là
hoàn toàn "trung lập" đối với các giá trị đạo đức, luân lý, tôn giáo
như cấm đọc kinh, treo ảnh Chúa.. Khi đề cập đến vấn đề "tính
dục"(sex), người ta chỉ giảng giải theo khoa học để các học sinh biết
đề phòng tránh bịnh tật hoặc để ngừa thai, nhưng tuyệt dối không đả
động gì đến giá trị của tính dục đối với hôn nhân và gia đình.
Vì sự xáo trộn, khủng hoảng về luân lý, đạo
đức hiện nay, nên qua nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi trong các buổi hội
họp, đã phát sinh hai khuynh hướng cực đoan đối với vấn đề rèn luyện
nhân cách, luân lý đạo đức cho giới trẻ. Lập trường thứ nhất cho
rằng: cần "Bài Ngoại", vì văn minh Âu-Mỹ hiện nay, nhất là nền tảng
đạo đức của gia đình, đang thời kỳ thoái hoá trụy lạc. Trái ngược lại, khuynh hướng
thứ hai, vì thất vọng, cơ cực đối với hiện tình đất nước, nên có thái
độ hoàn toàn "Đoạn Tuyệt" với quá khứ dĩ vãng.
Sau đây, ta thử phân tách những ưu điểm và
những khuyết điểm của hai lập trường trên, rồi tìm cách dung hòa, kết
nạp những điều tốt, những tinh hoa, để giúp giới trẻ phát triển đầy
đủ về mọi phương diện, nhất là về Luân Lý, Đạo Đức.
A. LẬP TRƯỜNG BÀI NGOẠI
Theo khuynh hướng này, văn minh và văn hóa
Âu-Mỹ là vật chất, ham lợi, đồi bại, thực dân, đế quốc, vì những sự
xấu xa phô bày chung quanh người ty nạn Việt nam, lần đầu tiên đặt
chân lên đất ngoại quốc, khiến họ bất mãn, như:
1. Chối Bỏ Chân Lý Khách Quan Tuyệt Đối về
Luân Lý.
Đối với người dân lương thiện, xưa nay vẫn
tuân giữ "Mười giới răn" (Thiên Chúa Giáo), hoặc tu theo "Ngũ giới"
(Phật Giáo), họ cảm thấy niềm tin bị xúc phạm khi chủ nghĩa tự do cá
nhân vô độ tung hoành khắp nơi. Tội hay không tội đều do cá nhân
quyết định, chứ không do lề luật Chúa, hay luật tự nhiên, hay lương
tri, lương tâm hướng dẫn. Không công nhận có Chân lý Khách quan, vượt
không-thời gian, nhưng các huấn lệnh luân lý đều thay đổi tuỳ nơi và
tuỳ thời gian. Chẳng hạn, tại Hội Nghị quốc tế về dân số ở Cairo,
những nuớc chủ trương cho việc phá thai "hợp pháp", vì hành vi luân
lý này tuỳ thuộc vào sự định đoạt, hay yêu cầu (request) của mỗi cá
nhân, bất cứ vì lý do gì. Chính phủ của những nước như Pháp, Ý, Hoa
kỳ đã đi ngược lại lập trường của Tòa Thánh Roma. Trái lại, những
quốc gia ở Phi châu như Congo, Ethiopia, các nước theo Hồi giáo như
Bangladesh, Indonesia, các nước theo Phật giáo như Cambodia, Laos,
Thailand, v, v, chỉ cho phép phá thai khi tính mạng, hoặc sức khoẻ
của người mẹ bị lâm nguy. Chính trào lưu "tục hóa"(secularism) đã xui
khiến một số quốc gia, theo Thiên Chúa Giáo, lìa xa Hội Thánh và
Thánh Truyền. Chủ thuyết tự do cá nhân độc tôn, đã làm cho gia đình
và xã hội bất ổn vì thiếu Chân lý khách quan để mọi người cùng công
nhận. Theo chủ thuyết tự do cá nhân, mỗi người, mạnh ai nấy làm,
không cần phân biệt Phải/Trái, bất chấp tôn trọng quyền lợi của kẻ
khác. Giới răn thứ năm dạy :" Chớ giết người", nên chính hành vi phá
thai, tự nó (per se) là trái luân lý. Do đó, người ta không thể hạn
chế dân số bằng cách phá thai, vì phá thai là giết người, là xâm phạm
sự sống của một hài nhi, cũng là một nhân vị độc lập, biệt lập, khác
với người mẹ.
2. Văn Minh Tiêu Thụ.
Tiền bạc, hưởng thụ những khoái lạc, và tiện
nghi vật chất là chủ đích duy nhất của đời người và của mọi việc kinh
doanh. Vì coi tiền bạc là cứu cánh, nên người ta tìm hết mọi phương
thế để làm ra tiền, mặc dầu những phương tiện đó, theo luân lý, là
tội lỗi, như bóc lột những nước nghèo, buôn bán bạch phiến, cổ động
phá thai, ngừa thai nhân tạo để bán thuốc. Văn minh tiêu thụ dùng
quảng cáo rầm rộ để kích động và triệt để khai thác thị hiếu, dục
vọng của con người. Vì cần tiền để ăn chơi thỏa thích, nên phát sinh
nhiều tội ác như cướp của giết người. Vì thế, Hoa kỳ phải tốn mỗi năm
hàng tỷ đôla để chống tội ác! Xu hướng hưởng thụ khiến con người ham
mê cờ bạc, nghiện rượu, ma tuý, và buông thả vô độ theo tình dục.
3. Gia Đình Sa Đọa.
Tại Hoa kỳ, giá trị truyền thống về gia đình
đã xuống dốc một cách thê thảm, khiến các nhà lãnh đạo quốc gia, bảo
thủ hay cấp tiến (liberal) đều phải lên tiếng báo động. Theo lịch sử
xã hội loài người, gia đình vẫn được coi là đơn vị căn bản của xã
hội. Gia đình xáo trộn thì xã hội loạn lạc, mất an vui. Một số đông
các nhà xã hội học cho rằng thủ phạm chính đã gây nên khủng hoảng
trong các gia đình Âu-Mỹ hiện nay là chủ thuyết tự do cá nhân vô độ,
và những yêu sách quá đáng của phong trào phụ nữ đòi bình quyền. Thêm
vào hai nguyên nhân đó, còn phải kể đến việc chính phủ chèn ép trường
tư, và hỗ trợ trường công để nhồi sọ giới trẻ những tư tưởng phóng
túng, tự do, vô thần, vô luân lý, khiến đứa trẻ càng lớn lên càng xa
cách cha mẹ, và tổ ấm gia đình. Người ta "tục hóa" nhà trường bằng
cách cấm cầu nguyện, cấm hát những khúc ca mùa Giáng sinh, cấm sách
giáo khoa trình bày quan điểm Kinh Thánh về việc Sáng Tạo thế giới,
nhưng cổ động lý thuyết tiến hóa vô thần,"người bởi khỉ". Trong gia
đình, vợ chồng cần hỗ trợ, và chia sẻ nhiệm vụ để hợp tác với nhau
trong việc giáo dục con cái. Vợ hay chồng đều cần sự giúp đỡ lẫn
nhau, đều tôn trọng quyền lợi riêng của nhau. Nếu vai trò và khả năng
của nguời đàn ông chuyên về tính toán, suy nghĩ để làm ăn, thì được
bổ túc bởi vai trò của người phụ nữ nặng về tâm linh, tình cảm, yêu
thương, an ủi, và dạy dỗ con cái.
Từ thập niên 1960, "cuộc cách mạng tính
dục"(sex revo lution), tại Hoa kỳ đã phá hoại giá trị truyền thống
đạo đức về gia đình tới mức cần báo động! Thật vậy, những con số
thống kê cho thấy: cứ 5 đứa trẻ sinh ra thì một đứa là con hoang;
trong các đôi hôn nhân, gần một nửa đi đến ly dị; năm 1990, có
683.000 vụ hiếp dâm. Những cha hay mẹ độc thân (single parent), làm
thiệt hại công quỹ hàng tỷ đôla về tiền trợ cấp!
B. LẬP TRƯỜNG : ĐOẠN TUYỆT VỚI DĨ VÃNG
Hoàn toàn trái ngược với lập trường "Bài
Ngoại", là lập trường của một số người muốn con cái "Đoạn tuyệt với
quá khứ". Vì suốt cuộc đời sống trong chiến tranh, bom đạn, tù đày,
vì cơ cực, đói khát, chạy ăn từng bữa, vì làm nô lệ hết chế độ này
tới chế độ kia, nên khi được cơ hội hưởng tự do, họ đã muốn trút bỏ
và quên hẳn dĩ vãng đen tối. Do đó, gia tài của tổ tiên để lại, đối
với họ, không còn gì đáng quyến luyến. Họ cấm con cái nói tiếng Việt,
đi lễ Mỹ, xa lánh Cộng đồng Việt Nam. Qua các buổi bàn cãi, có thể
tóm lược một vài ý kiến như sau:
1. Óc Địa Phương, Chia Rẽ.
Từ hơn một thế kỷ, tinh thần quốc gia thống
nhất của dân Việt đã bị chính sách "chia để trị" phân hóa. Tuy sống
trong một nước đã dành lại quyền độc lập, nhưng óc bộ lạc, óc địa
phương, chia rẽ Bắc-Trung-Nam, vẫn còn dày đặc, không sao gột rửa
được. Các đảng phái chính trị tiêu diệt lẫn nhau. Ngay trong các tôn
giáo cũng có sự tranh chấp. Trong các cộng đồng, các đoàn thể hay
phân bì, ganh ty nhau, tuy cùng hoạt động để mở mang nước Chúa! Có
người cho rằng: vì óc chia rẽ, ganh ty, nên người Việt nam khó thành
công trong những công cuộc đại sự , cần sự hợp lực lớn lao như việc
phục quốc, hoặc tạo lập một hợp đồng kinh doanh lớn đủ sức canh tranh
với người nước khác. Có thể một số người Việt thành công trong những
dịch vụ có tính cách gia đình như hợp tác với bà con họ hàng để mở
quán cơm,v,v. Nhưng thường thất bại trong những công ty lớn, vì óc
chia rẽ, ganh ty. Kết quả mà mọi người đều nhìn nhận là: Những siêu
thị lớn, những nhà hàng lớn để đãi tiệc đám cưới ba bốn trăm thực
khách, chi phí hàng chục ngàn đô la, đều vào túi người ngoại quốc
hết! Óc kỳ thị đối với đồng bào cùng một chủng tộc, cùng một ngôn
ngữ, (chỉ khác giọng nói), óc địa phương, phân bì, khiến đời sống xã
hội căng thẳng và bất ổn. Óc bè phái thường gây cảnh bất công, thiếu
Bác Ái, vì đối bà con thân thuộc, hay với người cùng địa phương...
thì điều trái cũng cho là phải, còn đối với người khác thì dầu phải
cũng cho là sai quấy.
2. Ít Tôn Trọng Luật Pháp, thiếu tinh thần
Dân Chủ.
Quốc gia là một thể chế chính trị được thành
lập do nhiều bộ lạc, nhiều chủng tộc cùng đồng ý với nhau chấp nhận
một Hiến pháp, một bộ luật, chẳng hạn như Hiệp Chúng Quốc. Do đó, mọi
công dân đều phải tôn trọng luật pháp quốc gia. Câu tục ngữ: "Phép
vua, thua lệ làng", được giải thích theo óc phong kiến, nghĩa là, mặc
dầu vua đại diện cho luật pháp quốc gia, nhưng vẫn có dân làng không
theo, vì tập tục riêng của họ Do đó, người dân thiếu tinh thần tôn
trọng luật pháp, hoặc theo "luật rừng", hay luật lệ thay đổi tuỳ địa
phương. Không tôn trọng Luật Pháp là nguyên do phát sinh nạn hối lộ,
hối mại quyền thế, cản trở pháp luật, và luồn cúi nịnh bợ. " Dân chủ"
hiểu theo nghĩa là: bất cứ ai trong cộng đồng hay trong đoàn thể cũng
được phát biểu ý kiến, cũng có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Theo
phương pháp dân chủ, khi bỏ phiếu thì đa số thắng thiểu số. Do đó,
người thiếu đầu óc dân chủ là người kiêu căng, độc tài, bướng bỉnh,
ương ngạnh, tự cho mình là tốt nhất, không lắng nghe và tôn trọng ý
kiến của đa số. Nhiều cộng đồng đã tan vỡ vì thiếu tinh thần dân chủ,
vì một thiểu số tham quyền cố vị, "không ăn thì đạp đổ". Dầu thất cử,
hoặc hết nhiệm kỳ, họ cũng không từ chức, nhưng kéo bè, kéo cánh để
đả phá. Theo dân chủ cũng là chấp nhận có đối lập, và chịu bàn luận
để đi đến một kết luận dung hòa các quan điểm khác biệt.
3. Ít Tôn Trọng Tự Do và Trách Nhiệm Cá
Nhân.
Ngày nay, đối với giới trẻ, nếp sống tôn ti
trật tự, trên kính dưới nhường, gọi dạ bảo vâng,v,v, là hạn chế tự do
cá nhân. Trong gia đình cổ, uy quyền của người chồng quá lớn, lấn át
người vợ. Trong việc hôn nhân, mọi việc "gả bán"đều do "cha mẹ đặt
đâu con ngồi đó", nhất là đối với con gái. Do đó, đã gây nhiều thảm
cảnh éo le, đầy tủi buồn! Trong việc giáo dục, cha mẹ thường rất
nghiêm ngặt, ít khi con cái được góp ý kiến. Khi con cái đã trưởng
thành, có gia đình riêng, nhưng vẫn còn lệ thuộc vào cha mẹ. Chế độ
Đại gia đình, gia tộc, đôi khi cũng tạo ra những ràng buộc phiền
phức, rắc rối.
Trên đây là những lý lẽ chính của hai lập
trường cực đoan. Dĩ nhiên, "nhân vô thập toàn", xã hội nào, đoàn thể
nào cũng có những khuyết điểm cần sửa chữa. Nhưng thiết tưởng cũng
nên suy nghĩ cẩn thận để tìm ra những ưu điểm để duy trì. Sau đây, sẽ
thử nêu lên một số những điểm son trong hai nền văn hóa Đông-Tây.
C. NHỮNH ƯU ĐIỂM CẦN DUY TRÌ
Xã hội, hay văn hóa nào cũng có những cái
hay và những cái dở. Do đó, cần phải có óc quan sát và nhận định, phê
phán để chọn lọc cái tốt mà theo, cái xấu thì loại bỏ. Nhiều bậc thức
giả phàn nàn rằng: phần lớn giói trẻ mù quáng chỉ bắt chước một cách
nhanh chóng những cái đồi tệ của xứ người, còn những cái hay, cái tốt
thì không học được. Sau đây xin kê khai một vài phương diện tích cực
trong xã hội Hoa Kỳ, nơi định cư của hơn hai triệu người Việt:
1. Những Điểm Tốt Đẹp Cần Bắt Chước
_ Tôn Trọng Luật Pháp, Và Dân Chủ Tự Do.
Hiện nay, Hoa kỳ là cường quốc độc nhất lãnh đạo thế giới về nền dân
chủ tự do. Hoa kỳ đã dẫn đầu thế giới chiến thắng các chế độ độc tài,
quân phiệt, phát xít. Người dân Mỹ được hoàn toàn hưởng tự do về mọi
mặt, để an cư lạc nghiệp, nhất là được Hiến Pháp bảo vệ những quyền
tự do căn bản như: tự do tôn giáo, tự do ngôn luận..Trước Pháp Luật,
mọi công dân được đối xử một cách Công bằng. Ta thường thấy, vị Tổng
Thống thất cử, cũng là người thứ nhất chúc mừng vị tân Tổng Thống,
và hứa sẽ hợp tác để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Nhưng nếu vị Tổng
thống nào phạm pháp, sẽ bị Quốc hội điều tra, truy tố và truất phế.
_ Cơ Hội Tiến Thân, Tinh Thần Cầu Tiến.
Người dân Mỹ được hưởng các tiện nghi, và kỹ thuật tân tiến nhất thế
giới, nhờ tinh thần cầu tiến. Các trường học rất nhiều, cưỡng bách
giáo dục cho hết bậc trung học. Đặc biệt, các truờng chuyên nghiệp
cấp Đại Học được xây cất khắp nơi, vừa công lập, vừa tư thục, đủ các
ngành khoa học, để giúp cơ hội tiến thân cho những người hiếu học.
Những sinh viên nghèo, thì có học bổng, hoặc được mượn tiền với lãi
xuất thấp. Do đó, từ năm 75, một số học sinh Việt nam đã thành công
trong lãnh vực học vấn, và nghề nghiệp, chẳng hạn, ba bốn anh chị em
đều đậu đạt, người kỹ sư, người bác sĩ. Nhưng tiếc thay! ngoài sự dự
đoán của nhiều người, một số đông học sinh, vì a dua theo đòi bắt
chước những tệ đoan của xã hội Mỹ, nên đã rơi vào các băng đảng, bỏ
mất cơ hội tiến thân, xây dựng sự nghiệp, và giúp đỡ bà con bên nhà.
Ngoài ra, Hoa kỳ là nước tiến bộ về mọi ngành khoa học kỹ thuật,
nhiều phát minh mới lạ, nhiều chương trình nghiên cứu, để nâng cao
đời sống về thực phẩm, canh nông, y tế, và kỹ nghệ cho tất cả thế
giới. Hằng năm, Hoa kỳ là nuớc chiếm giải Nobel nhiều nhất trong các
nước tiền tiến.
_ Giáo Dục Nhấn Mạnh Sự Trưởng Thành, Tự
lập. Mặc dầu có những lạm dụng, nhưng xét chung, nền giáo dục trong
gia đình, hay ngoài học đường, các vị hữu trách đều nhấn mạnh đế sự
trưởng thành của con em học sinh, để tạo cho chúng biết sống tự lực,
tự cường. Do đó, các phụ huynh thường lắng nghe ý kiến của con cái,
tập cho chúng tự làm lấy những việc chúng có thể làm được. Đặc biệt,
các bậc cha mẹ có cử chỉ thân tình, chia sẻ, thông cảm những khó khăn
của tuổi trẻ, giúp chúng tự trách nhiệm lấy đời mình.
_ Nghĩa Cử Hào Hiệp, Tinh Thần Bác Ai Vị
Tha. Người ta có thể chỉ trích Hoa kỳ về một số sai lầm về chính trị,
nhưng thế giới đều khen ngợi tinh thần hào hiệp của nhân dân Mỹ đối
với công cuộc viện trợ các nước nghèo, khi gặp nạn đói, lụt... Chẳng
những chính phủ có các chương trình viện trợ mà còn rất nhiều đoàn
thể tư nhân như các hội từ thiện, như Cơ Quan Cứu Trợ Công Giáo Hoa
Kỳ, giúp định cư người ty nạn tại Mỹ, không phân biệt tôn giáo.
Đồng bào Việt Nam ty nạn, nhờ lòng quảng đại của nhân dân, và chính
phủ Hoa Kỳ mà được bảo đảm về y tế, và trợ cấp hàng tháng. Thật ra,
ít thấy những nước trên thế giới có một nghĩa cử cao quí như vậy!
_ Tín Ngưỡng Mạnh. Tự Do Tôn Giáo. Hiến Pháp
Hiệp Chúng Quốc tôn trọng và bảo vệ quyền Tự Do Tín Ngưỡng của người
dân. Chính Quyền và Tôn Giáo phân biệt: Chính Quyền không can thiệp
vào nội bộ của các Tôn Giáo. Hơn nữa, các Vị Sáng lập ra quốc gia này
đã chủ tâm đặt nền tảng Hiến Pháp trên Tinh Thần của Thiên Chúa Giáo.
Do đó, ngày Lễ Tạ Ơn (Thiên Chúa), là Đại Lễ của toàn dân. Khi một vị
Tân Tổng Thống lên nhậm chức, thì đặt tay trên Sách Kinh Thánh mà
thề. Trên đồng tiền cũng in câu:"In God we trust" (ta tin cậy vào
Chúa). Các Thánh Đường xây cất khắp đường phố, và theo thống kê, hơn
90% dân Mỹ tin có Chúa là Vị Chủ Tể của vũ trụ.
Trên đây là một vài nhận xét tích cực mà bất
cứ ai muốn tìm hiểu cũng có thể nhận thấy được. Tiếc thay! một số
người đã vì thành kiến, thiển cận hay thiếu người hướng dẫn, nên
không nhìn thấy những điều tốt để học hỏi. và bắt chước. Sau đây, ta
cũng tìm hiểu những nét vàng son trong lâu đài văn hóa của dân tộc
Việt Nam.
2. Tinh Hoa của Dân Tộc Việt Nam
Chủ trương "Đoạn Tuyệt với Quá Khứ", là điều
tại hại và khó có thể thực hiện được. Kinh nghiệm hơn hai trăm năm
lập quốc của Hoa Kỳ cho thấy: chính sách "melting pot" ( trộn lẫn các
sắc tộc) của thế kỷ trước, có thể đã thành công đối với các chủng tộc
"da trắng" (caucasians), từ các nước Âu châu tới như Anh, Đức, Ái Nhĩ
Lan....vì cùng chung một văn minh Thiên Chúa Giáo. Nhưng các nhà xã
hội học cho biết, công việc "hội nhập" đối với các chủng tộc "da
vàng" như Trung Hoa, Nhật Bản,v,v, hoặc "da đen", thì rất chậm và khó
khăn. Mặc dầu đã định cư gần hai trăm năm trên đất này, dân Mỹ vẫn
phân biệt và thường gọi người gốc "Tàu" là Chinese, hoặc
Chinese-American, không chỉ gọi một tiếng "American"như đối với người
gốc Thuy điển, NaUy..... Gần đây, vì nạn kỳ thị chủng tộc đã gây nên
những cuộc xáo trộn trong nước(Los Angeles, Miami), nên nguời ta có
khuynh hướng "Hòa Hợp", nhưng tôn trọng sắc thái văn hóa của mỗi
chủng tộc, được sánh ví như "Rainbow"(cầu vồng năm sắc) hay
"Tapestry"(bức thảm).Do đó, ta nên tìm hiểu, và duy trì những tinh
hoa của dân tộc để truyền lại cho con cháu. Như thế, ta cũng góp phần
tô điểm cho văn hoá Hiệp Chúng Quốc thêm phong phú.
_ Đề Cao Nhân- Nghĩa. Không phải chỉ riêng
các Nho Sĩ, nhưng hầu hết các tầng lớp nhân dân, trong mọi cơ cấu của
xã hội, đã thấm nhuần những nguyên lý Đạo Đức của Thánh Hiền. Theo
nguyên tắc giáo huấn "Dĩ Văn Tải Đạo",(nghĩa là dùng văn chuơng, sách
truyện, ca dao tục ngữ để giảng giải Đạo lý),giúp người bình dân biết
phân biệt Phải/Trái, Ác/Thiện, Chân/Giả,v,v. Người ta dùng "Ngũ
Thường" (năm điều thường xẩy ra hằng ngày, không thay đổi) là Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí , Tín, để phán đoán về tư cách của một người. Từ mấy
ngàn năm lịch sử, nhờ "Ngũ Thường" và đặc biệt đối với phụ nữ có "Tứ
Đức" là Công, Dung, Ngôn, Hạnh, dân tộc Việt Nam đã đào tạo được
nhiều vị anh hùng liệt nữ. Bởi vậy, người tài giỏi, giầu có, quyền
thế, nhưng thiếu Đức Hạnh, đều bị người đời chê cười, khinh bỉ. Do
đó, lý tưởng của một người là: "Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên
hạ", nghĩa là trước tiên cần tu thân tích đức đã, rồi mới có thể thu
xếp công việc nhà cho ổn thỏa, sau đó, dùng tài năng để giúp nước và
đem an vui cho trăm họ.
_ Thờ Kính Tổ Tiên, hay Đạo Hiếu. Xã hội cổ
Việt Nam xây dựng trên ba mối tương quan, liên hệ căn bản gọi là "Tam
Cương" như: Quân/Thần, Phu/Phụ, Phụ/Tử. Đối với tương quan Quân/Thần,
có thể hiểu là mối liên hệ giữa Nước và Dân (vì trong chế độ quân
chủ, vua đại diện cho Nước). Còn hai tương quan Phu/Phụ(chồng/vợ),
Phụ/Tử (cha mẹ/con cái) là những liên hệ thuộc gia đình. Có thể nói,
tương quan Quân/Thần cũng thuộc luân lý gia đình nữa, vì coi nước là
một Đại Gia Đình, trong đó vua, quan được gọi là "dân chi phụ mẫu"
(cha/mẹ của dân). Do đó, ta nhận thấy dân tộc Việt Nam rất tôn trọng
gia đình, đến nỗi đặt lên hàng tôn giáo, tức là Đạo Hiếu. Cũng vì
lòng Hiếu Thảo đối với Tổ Tiên mà người dân Việt yêu mến làng xóm,
quê hương, nơi chôn cất phần mộ của ông bà, cha mẹ. Đức Hiếu Thảo còn
bao trùm ra họ hàng, cô bác, anh chị em, bên nội, bên ngoại, gọi là
Đại Gia Đình.
_ Tiếng Việt Còn, Nước Ta Còn. Ngôn ngữ Việt
nam cũng là một kho tàng quí giá, phong phú, vì có thể diễn đạt một
cách sâu xa, súc tích những tư tưởng trừu tượng, cao siêu của triết
lý, thần học, siêu hình, cũng như đủ khả năng để giảng giải các bộ
môn của khoa học như y khoa, vật lý, vạn vật học, toán học,v,v, Nhưng
đặc biệt trong văn chương, tiếng Việt rất tinh vi để diễn tả những
tâm tư, tình cảm tế nhị. Hơn nữa, tiếng Việt còn là phương thế cần
thiết để duy trì, và lưu truyền văn hóa cho thế hệ trẻ nơi hải ngoại.
Con cháu không biết tiếng Việt sẽ gây chia rẽ, phân hóa trong gia
đình, vì ông bà không còn dạy bảo con cháu được nữa, mẹ không còn chỉ
bảo cho con gái khi lớn lên. Không biết tiếng Việt, đứa trẻ Việt Nam
sẽ bơ vơ lạc lõng, vì bị cắt đứt khỏi nguồn gốc, trong khi nó chưa
được đón nhận hoàn toàn vào các cộng đồng của các chủng tộc khác.
_ Lòng Sùng Đạo. Đây cũng là cao điểm của
tâm tình Đạo Đức của người Việt Nam đã được các dân tộc bạn ngưỡng
mộ. Mặc dầu sống trong nước giầu có, vật chất sa hoa, nhưng nơi các
Cộng đồng Công giáo tại hải ngoại, sinh hoạt tôn giáo rất sầm uất,
các Hội Đoàn được thành lập, các Nhà Thờ Giáo Xứ Việt Nam xây cất
khắp nơi trong những điều kiện khó khăn. Đây là đời sống Đức Tin để
noi gương các Vị Tiền Bối Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Hơn nữa, một số
đáng kể những thanh niên thiếu nữ đã tự hiến thân để phục vụ Giáo
Hội, trong đời sống tu trì, trong các Dòng Tu và các Chủng Viện địa
phương.
ĐÔI LỜI TẠM KẾT
Trong tình thế hiện nay, tại quê nhà cũng
như ở nước ngoài, mối quan tâm của các bậc phụ huynh là làm sao giúp
giới trẻ hấp thụ, và duy trì được nền Đạo Đức quí giá của Tổ Tiên để
lại. Đó là công cuộc lớn lao, cần sự góp sức, góp ý kiến của nhiều
người. Do đó, để tạm kết những dòng này, xin chân thành đề nghị một
vài điều kiện nên thực hiện như:
_ Giúp giới trẻ bồng bột, thiếu kinh nghiệm,
biết phân biệt, biết CHỌN những cái TỐT, và BỎ những cái XẤU của mọi
nền văn hóa. Nên có tinh thần Dung Hòa, và Khai Phóng.
_ Muốn thực hiện điều trên, đặc biệt tại hải
ngoại, người Việt chúng ta nên ngồi lại với nhau để trao đổi ý kiến,
và giúp đỡ lẫn nhau. Nhất là tổ chức những buổi HỘI THẢO để hướng dẫn
giới trẻ. Nhưng muốn hội họp, chúng ta cần có HỘI TRƯỜNG, hay TRUNG
TÂM riêng, tượng trưng cho ĐÌNH LÀNG của Việt Nam, nơi đó, ta có thể
chia sẻ tin tức, giải trí , huấn luyện, sinh hoạt của các Đoàn thể,
và đặc biệt để tổ chức các ngày Tết..., để tiếp đón các giới đồng
hương, không phân biệt tôn giáo.
_ Sau hết, chúng ta nên khuyến khích con
cháu chúng ta luôn nói tiếng Việt trong gia đình. Bởi vì, "Tiếng
Việt còn, Nước ta còn, Tiếng Việt mất, Nước ta mất!
TÌM NGUỒN HẠNH PHƯỚC CHÂN THẬT hay CÓ PHẢI "ĐỜI LÀ BỂ KHỔ"
KHÔNG?
(Tóm lược bài giảng thuyết, nhân dịp
Tết Nguyên Đán do Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Hawaii tổ chức mỗi
năm , trên bờ biển Sand Island, Honolulu, để hướng về Quê Hương. Đoàn
THIẾU NHI DŨNG LẠC dựng cổng trại, dựng lều, thi đua các trò chơi,
thi đua dựng Bàn Thờ Tổ Tiên, các đoàn thể tham gia giờ trình diễn
văn nghệ, ca vũ dân tộc, đặc biệt các chị trong Phong Trào
Cursillo..Các giới đồng hương được mời tham dự Thánh Lễ Đầu Xuân và
dùng các món ăn thuần tuý quê hương. Trên Bàn Thờ dựng ở dưới hàng
thông reo, có trưng bày lư hương, Hài Cốt các THÁNH TỬ ĐẠO, và mâm
bánh trái, các bô lão dâng huơng, bái lậy theo nhịp chiêng trống.
Nhân dịp này, tôi có sáng tác hai câu đối, viết chữ nho vàng, trên
nền vải điều đỏ, treo hai bên BÀN THỜ:
" THÁI BÌNH TIÊN CẢNH DUY HẠ
ĐẢO
NAM Á BỒNG LAI CHỈ VIỆT
HÀ
Tìm Hạnh Phước là nguyện vọng sâu xa nhất
của con người. Từ buổi sơ khai, các tôn giáo, các triết lý, văn
chương nghệ thuật, hội họa, điêu khắc, khiêu vũ đều nhằm biểu lộ khát
vọng thầm kín đó. Các văn gia, nghệ sĩ đã cố gắng đem lại an vui Hạnh
Phước cho cuộc đời đầy đau khổ và lo âu này! "Thiên thai"," Bồng lai
Tiên cảnh","Thiên đàng địa giới"( Vào thế kỷ trước, một số nhà thám
hiểm mơ ước đi tìm ở Hải Đảo Hawaii!)...cũng chỉ là những giấc mơ
Hạnh Phước không bao giờ thành tựu được. Nhân dịp đầu Xuân, ngày Tết,
người ta quen vẽ ba chữ Phước- Lộc- Thọ để dán trên cửa nhà. Trong lễ
hôn nhân, cô dâu chú rể được tặng câu:Trăm năm Hạnh Phước. Chữ Phước
còn được chạm trổ trên vàng, ngọc thạch làm đồ nữ trang để đeo trên
ngực, như bùa hộ mệnh ước mong người mình yêu được tràn trề Hạnh
Phước.
Nhưng thử hỏi: nhân loại đã tìm thấy Hạnh
Phước thật chưa? Các tôn giáo, triết lý, nghệ thuật có đem lại giải
đáp nào không ? Nếu có, tại sao con người vẫn còn đầy bất hạnh, xao
xuyến ? Vậy ý nghĩa chân thật của Hạnh Phước là gì ? Làm sao để đạt
được ? Đấng Cứu Thế, khi xuống trần, có đem lại giải đáp nào không ?
Thực ra, khi bắt đầu rao giảng Tin Mừng, Ngài đã long trọng công bố
bản Tuyên Ngôn Nước Trời, ta quen gọi là "Tám mối Phước Thật" .Vậy ý
nghĩa Hạnh Phước theo Đấng Cứu Thế là làm sao ? Chúng ta sẽ tìm hiểu
.
Nhưng trước khi so sánh sự khác biệt giữa
hai ý niệm của Đấng Cứu Thế và của thế gian về vấn đề Hạnh Phước,
thiết tưởng ta nên tìm hiểu bản tính nhân loại là gì, thân phận con
người hiện sinh, hiện hữu bị chi phối bởi những yếu tố nào. Bởi vì
chỉ quan niệm chân chính về Hạnh Phước mới đáp ứng đúng với nguyện
vọng sâu xa của kiếp người; trái lại, Hạnh Phước giả hiệu chỉ làm ta
lặn lội triền miên trong bể khổ.
A. THÂN PHẬN CON NGƯỜI
Khi phản tỉnh và suy tư về thân phận làm
người, mỗi người chúng ta thấy mình bị chi phối và lệ thuộc vào nhiều
yếu tố như sau:
_ Lệ thuộc vào không gian và thời gian:
không ai biết trước, không được hỏi ý kiến trước, mỗi người chúng ta
ra chào đời bằng tiếng khóc oe oe! Ta có giấy khai sinh hẳn hòi, có
ngày, tháng, năm sinh rõ rệt!. Thế rồi, sau một thời gian dài ngắn
không ai biết trước được, nhưng chắc chắn ta phải chết! Mỗi người lại
có giấy khai tử đàng hoàng! Do đó, có người nói rằng: mọi chuyện xẩy
ra cho tương lai, ta không thể dự đoán trúng hoàn toàn được, trừ ra
một điều ta biết chắc chắn phải xẩy ra 100%: đó là ta phải chết! Bị
giới hạn vào một không gian nhất định- nếu ở nơi này thì không ở chỗ
khác- cũng là căn cớ gây nên đau khổ vì xa cách, biệt ly, nhớ thương
những người thân yêu, đặc biệt trong ngày Tết!
_ Lệ thuộc vào luật tuần hoàn vận chuyển của
vũ trụ trời đất thay đổi liên miên không ngừng"bốn
mùa xuân, hạ, thu, đông' "Tre già, măng mọc". Thời giờ qua đi rất mau
lẹ như "ngựa bay qua cửa sổ", như "thoi đưa", nhanh hơn "hỏa tiễn
bay"! Thường vẫn nghe than thở: mới hồi nào còn là một cô bé, thế mà
nay đã con bồng con bế ! Dòng thời gian qua đi rất mau lẹ, nhưng
không bao giờ trở lại như xưa.
"Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ
thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất
phục hồi"
( Bạn không thấy sao, nước sông Hoàng từ trên
cao đổ xuống; nước chảy ra biển và không bao giờ trở lai!)
Do đó, tương lai sự nghiệp sẽ tiêu tan, nếu
bỏ bê học hành và lãng phí tuổi trẻ vào những cuộc ăn chơi trụy lạc.
_ Lệ thuộc vào thiên nhiên : con người sống
được là nhờ thiên nhiên cung cấp cho những nhu cầu căn bản như khí
thở, nước, mặt trời, đất sản xuất thực phẩm . Chính bản thân ta cũng
không phải do ta làm ra: đầu, mình, chân tay AI cho ta dùng? tại sao
sinh ra có đàn ông, đàn bà ? Do đó, sự hiện hữu của ta trên cõi đời
này hoàn toàn lệ thuộc vào một ĐẤNG BỀ TRÊN đã ban cho ta. Vì kiếp
người lệ thuộc vào không-thời gian, luật tuần hoàn, nên đời sống con
người rất mỏng manh, chóng tàn như" bông hoa sớm nở tối tàn".
_ Không phải chủ nhân ông, nhưng là viên
quản lý: Vì những lý do kể trên, nên con người không làm chủ vũ trụ,
nhưng là viên quản lý của đời sống . Khi mỗi người chúng ta nằm
xuống, từ giã cuộc đời này, ta phải bỏ lại hết : thân nhân, vợ chồng,
con cái, của cải, danh vọng, quyền thế...Ta ra đi, nhưng vũ trụ này
vẫn tồn tại, cỏ cây vẫn xanh tươi như trước khi ta có mặt ỏ thế gian
này! Sóng biển vẫn kêu dạt dào, ngày đêm, như không có sự gì xảy ra
trên đời này! Con người sinh ra đời, tùy gia cảnh khác nhau: trong
gia đình giầu hay nghèo; tùy tài năng khác nhau . Ta không có quyền
lựa chọn. Nhưng điều quan trọng là ta có biết quản lý đời sống để lập
công nghiệp, sinh ích lợi, tùy với khả năng ta đã lãnh nhận hay ta đã
thất bại, vì đã hủy diệt cuộc sống. Sau khi đã phân tích và nhận định
về những đặc điểm của bản tính nhân loại như trên, bây giờ ta có thể
phán đoán được thế nào là quan niệm chân chính về Hạnh Phước, thế nào
là quan niệm giả hiệu về Hạnh Phước .
B. HẠNH PHƯỚC GIẢ HIỆU.
Chỉ xây dựng Hạnh Phước trên vật chất mà
thôi, thì chẳng những không thỏa mãn được ước vọng của con người, mà
còn gây ra nhiều ác quả tai hại nữa.
_ Hạnh Phước dựa trên tiền bạc . Người đời
hay nói:"có tiền mua tiên cũng được "..Thực ra, tiền tài của cải giúp
bảo đảm một đời sống vật chất sung túc, thỏa mãn những nhu yếu căn
bản của con người như thức ăn, nhà ở, thuốc men.. Nghèo đói, bệnh
tật, thiếu thuốc chữa bệnh, vô gia cư, thất nghiệp... không phải là
điều lành. Nhưng quả quyết chỉ có tiền bạc mới tạo ra Hạnh Phước thì
không đúng. Bởi vì ta thường thấy nhiều nhà tỷ phú, ông hoàng bà chúa
giầu sang nhưng đời sống thiếu Hạnh Phước . Cho nên Hạnh Phước là một
ước vọng sâu xa vượt trên những thỏa mãn vật chất . Mặt khác, nếu ta
không biết dùng tiền bạc một cách chính đáng thì nó sẽ gây ra nhiều
ác quả tai hại. "Tiền bạc là đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu". Ông
chủ tham lam, hà tiện coi tiền bạc hơn nhân phẩm sẽ gây cảnh bất
công, bóc lột thợ thuyền. Phung phí tiền bạc, xa xỉ vô ích, không
giúp đỡ những nước nghèo, những người chết đói, bệnh tật , đó là một
trọng tội đối với nhân loại.
_ Hạnh Phước dựa trên khoái lạc . Những
khoái lạc vật chất dễ quyến dũ người ta sa ngã vào con đường trụy
lạc, hủy hoại thân xác và đời sống. Nhiều người đang lo lắng cho xã
hội hiện nay sẽ bị diệt vong vì nạn dâm đãng, ma túy, nghiện rượu
hoành hành dữ dội, nhất là trong giới thanh thiếu niên. Ăn biết ngon,
nhìn bông hoa đẹp thấy thích, đó là những khoái cảm tự nhiên chính
đáng. Đối với những nhu yếu căn bản của thể xác như đói thì ăn, khát
thì uống, hoặc thỏa mãn sinh lý, đó cũng là những đòi hỏi tự nhiên
của loài người cũng như loài cầm thú. Những nhu yếu căn bản này có
tính cách giới hạn, vì khi được thỏa mãn rồi thì ngừng lại, như loài
cầm thú , con trống con mái chỉ tìm nhau tùy mùa, sư tử chỉ đi tìm
mồi khi đói.. Nhưng về vấn đề này, con người khác loài cầm thú, vì
lòng tham vô đáy, "no bụng đói con mắt". Bởi vậy, nếu không có ý chí
mạnh mẽ để kiềm hãm dục vọng , con người sẽ gây ra những ác quả tai
hại cho chính bản thân và cho tha nhân. Như ta thấy ngày nay, sự dâm
đãng vô độ, hay đồng tính luyến ái, đã là một trong những nguyên nhân
gây ra bệnh nan y ( AIDS) , gia đình tan vỡ vì ly dị ( gần 50% các
đôi hôn nhân tại Hoa kỳ ), thiếu niên chửa hoang ( chừng một triệu
mỗi năm tại Hoa kỳ ) , phụ nữ và trẻ vị thành niên bị hãm hiếp , hàng
triệu vụ phá thai mỗi năm..Sức người có hạn, nếu ăn uống , nhậu nhẹt
vô độ sẽ sinh bệnh tật cho cơ thể. Tại Hoa kỳ, người ta đã tốn mỗi
năm hằng tỷ đôla làm cho "bớt mập " ,trong khi thế giới từng giây
phút không biết bao nhiêu người chết đói chết khát. Để được những
khoái cảm trong giây lát, một số người đã đốt sự nghiệp trong khói
thuốc cần sa ma tuý. Nói tóm lại, Hạnh Phước chân thật không thể dựa
trên những khoái cảm nhất thời , chóng qua mau hết được . Ước vọng
Hạnh Phước của con người lớn lao và sâu xa hơn thỏa mãn vật chất.
Không thể uống rượi để "tiêu sầu" được, vì khi hết say thì "sầu lại
sầu". Vì buông thả theo thú tính trong ít giây phút mà phạm trọng tội
hiếp dâm, giết người , mang án tử hình !
_ Hạnh Phước dựa trên danh vọng , quyền thế
: Quyền hành là để phục vụ , đem lại Hạnh Phước cho con người, cho
gia đình , cho quốc gia đân tộc. Do đó, những người ra gánh việc nước
được gọi là"công bộc" (đầy tớ của mọi người). Địa vị, tài năng ta có
cũng là để mưu ích cho nhân quần xã hội. Nhưng vì tham vọng cá nhân,
vì tính kiêu căng, người ta đã lạm dụng quyền hành để củng cố thế lực
riêng cho mình. Vì thế, danh vọng, quyền thế đã trở thành mục tiêu
phải đạt được với bất cứ gía nào, dầu phải dùng đến những phương cách
xấu xa, trái luân lý. Đối với những người hay chế độ độc tài đảng trị
thì "mục tiêu biện minh cho phương tiện", nghĩa là họ có thể đàn áp,
giết chết những ai chống đối, miễn là họ nắm được chính quyền, củng
cố được đảng phái của họ. Trong lịch sử nhân loại, những chế độ độc
tài, phát xít, đã gây ra chiến tranh tang tóc, chà đạp nhân quyền
..cũng chỉ vì ham danh vọng quyền thế. Nhưng lịch sử cũng cho ta
thấy, danh vọng quyền thế là cái gì mỏng manh dễ tan vỡ ! Bao nhiêu
bạo chúa, bạo vương, độc tài quân phiệt khét tiếng đã sụp đổ , nhục
nhã, ê chề!
C. HẠNH PHƯỚC CHÂN THẬT.
Như trên ta vừa nhận định, Hạnh Phước không
thể đặt nền tảng trên tiền bạc, khoái lạc, danh vọng được, vì những
thứ đó có khi còn gây thêm nhiều đau khổ, lo âu cho ta nữa. Trái lại,
Hạnh Phước chân thật, vì đáp lại đúng những nguyện vọng của con
người, ít ra cũng đem lại một niềm an vui, Hạnh Phước tương đối cho
ta và cho tha nhân. Nói rằng "tương đối", vì không thể có Hạnh Phước
hoàn toàn viên mãn ở trần gian này được. Ta hy vọng chỉ có Hạnh Phước
hoàn toàn trên cõi trường sinh bất diệt.
Căn cứ vào kinh nghiệm và đời sống của các
vị thánh nhân, hiền triết đông tây, kim cổ, ta tin rằng mỗi người có
thể tạo cho mình một nếp sống an vui, lành mạnh, một Hạnh Phước tương
đối cho mình và cho người khác, nếu ta can đảm chấp nhận những đặc
điểm của Hạnh Phước chân thật như sau:
_ Đời là phù vân giả trá, biến đổi không
ngừng : Đây không phải là một quan niệm chán đời, bi quan yếm thế.
Nhưng trái lại, ta phải bình thản, giầu nghị lực tinh thần, can đảm
dám nhìn thẳng vào thực tế và vào chính bản thân ta. Bao lâu ta chưa
tỉnh ngộ,vẫn cố sức bám lấy cuộc đời này, vì cho tiền tài, nhan sắc,
danh vọng là những thứ bền vững, bất di bất dịch, thì ta luôn luôn lo
lắng để vơ vét tích trữ . Nhưng khi bắt buộc phải từ bỏ những thứ đó
thì đâm ra tuyệt vọng hối tiếc. Do đó, các nhà đạo đức thường khuyên
ta phải biết"tiết dục" ,nghĩa là bớt lòng tham lam vô độ. Đối với
những nhu yếu căn bản trong đời sống, ta chỉ cầu mong được "Hàng ngày
dùng đủ" (Kinh lạy Cha ). Nếu dư dật, ta sẽ phân phát giúp đỡ những
người thiếu thốn. Muốn sống Hạnh Phước Thật, điều cần thiết là ta
phải phá tan ảo tưởng về sự bền vững , bất biến của thế giới này. Ta
hãy bình tĩnh nhìn vào bản thân và lắng nghe lời Kinh Thánh:
"Giảng viên đã nói: Phù vân trên mọi phù
vân:
phù vân trên mọi phù vân, và mọi sự đều là
phù vân.
Ích lợi gì cho con người làm lụng vất vả
dưới mặt trời ?
Một thế hệ qua đi, một thế hệ khác lại đến :
nhưng địa cầu vẫn đứng vững muôn đời.
( Sách Giảng viên,Qohelet,I,1-5..)
Trong Phúc Âm, Đấng Cứu thế đã nói về sự bấp
bênh, trôi nổi , biến đổi của kiếp sống: "Hãy coi chừng, đừng tham
lam vô độ, vì sự giầu sang phú quí của cải không bảo đảm mạng sống
của con người...Rồi Ngài dùng dụ ngôn sau đây để giảng nghĩa: "Một
nhà phú hộ, ruộng đất đem lại nhiều lợi tức. Ông ta tự nhủ: Ta phải
làm sao đây, vì thiếu chỗ chứa hoa màu . Phải rồi ! ta sẽ phá những
cái cũ và xây cất những kho lẫm mới lớn hơn, ta sẽ chứa tất cả lúa
thóc, của cải vào đó. Rồi ông ta thầm nghĩ:Hồn ta ơi ! ta đã tích trữ
biết bao của cải trong nhiều năm: hãy nghỉ ngơi, ăn uống, tiệc tùng !
Nhưng Chúa phán: tên ngu dốt, chính đêm nay, ta đòi hồn ngươi lại.
Những của cải ngươi đã gom góp thì để cho ai ? Số kiếp kẻ tích trữ
giầu sang cho mình như vậy đó, đáng lý ra nó phải làm giầu cho Chúa
thì tốt hơn." ( Lc.12,15-21)
_ Người Quản lý tốt lành : Quan niệm coi đời
sống , nhan sắc, danh vọng, tiện nghi vật chất, của cải là di chuyển
không ngừng, nay còn mai mất như" mây nổi" (phù vân), như gió thổi,
như chiêm bao...không có nghĩa ta khinh chê cuộc đời này là vô giá
trị. Trái lại, nó giúp ta nhận rõ chân tướng đời sống , biết dùng thì
giờ chóng qua mau hết này để xây dựng Hạnh Phước Chân Thật Vĩnh Cửu,
như những lời cầu chúc trong dịp Đầu Xuân. Mọi sự đều tan biến,
nhưng Thiện Nghiệp, tức Công Việc Phước Thiện ta làm vẫn tồn tại mãi
mãi. Đó là một huyền nhiệm, một điều lạ lùng ! Vật chất hư hoại, nếu
biết dùng vào việc Phước Đức, sẽ có giá trị đời đời . Nếu ta biết
dùng của cải hay hư nát như phương tiện, để làm việc từ thiện, bác ái
; nếu ta biết dùng tài năng, sức khỏe để mưu ích cho nhân quần xã
hội, thì ta đã tạo dựng công nghiệp để dành đời sau vô cùng. Đó là ý
nghĩa câu nói: Tiền bạc là đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu! Do đó,
muốn tạo Hạnh Phước chân thật, thì ngay bây giờ ở đời này, ta phải
biết dùng những ân huệ Chúa ban để sinh lợi lộc là làm các việc lành
phước đức, để dành đời sau vô cùng!
Đấng Cứu Thế, trong Phúc Âm đã dạy cách dùng
tiền bạc như sau:" Hãy dùng tiền bạc giả dối mà kiếm thêm bạn hữu, để
khi thiếu thốn, chúng sẽ rước vào cõi trường sinh.....Không có đầy tớ
nào lại hầu hạ hai ông chủ được: hoặc nó ghét ông này mà thích ông
kia, hoặc quyến luyến ông này mà khinh chê ông kia. Cũng vậy, bạn
không thể vừa phụng sự Chúa và tiền bạc (như Chúa) được(Lc.16,9-13.)
. Quan niệm về cách dùng cuộc đời để làm việc Phước Thiện được diễn
tả rõ rệt trong dụ ngôn những nén bạc: "Ông Chủ trao cho các đầy tớ,
người năm nén bạc, người hai nén, ngưòi một nén. Người lãnh năm nén,
hai nén , đều sinh lợi gấp đôi, nên được ông chủ thưởng công, còn
người lãnh một nén không sinh lợi gì, đã bị chủ phạt". (Lc.19,11-28)
_ CHÚA LÀ NGUYÊN THỦY VÀ CỨU CÁNH CỦA MỌI
LOÀI.
Tất cả mọi vật hiện hữu đều do Chúa tạo dựng.
Mỗi người chúng ta bởi Chúa mà có. Do đó, muốn được Hạnh Phước thật,
ta phải tìm về với Chúa là nguồn mọi Ơn Phước. Bao lâu con người còn
xa Chúa, "con người vẫn còn xao xuyến lo âu khắc khoải cho đến khi
tìm gặp được Chúa" như lời Thánh Augustine viết trong cuốn "Tự
Thuật"(The Confessions). Sách Gương Phước cũng nhắc lại lời sách
Giảng viên Qohelet 1,2, và thêm:" Mọi sự đều là phù vân, giả dối, trừ
ra việc yêu mến và phụng sự Chúa!"
Mỗi độ Xuân về, người dân Việt không quên
cảm tả Vị Chúa Tể vũ trụ càn khôn, vì Ngài là nguồn gốc của sự sống
muôn loài. Ngài là một Mùa Xuân Hạnh Phước Trường Cửu Bất Diệt. Ngài
là "Đấng hằng hữu, hiện hữu, và sẽ đến (Khải Huyền 1, 4 ).Con người
và vũ trụ đều lệ thuộc hoàn toàn vào Ngài để được ban mọi Phước Lộc:
"Trời sinh voi, Trời sinh cỏ" , "Trăm sự nhờ Trời" !! Nhân dịp Đầu
Xuân, chúng ta hãy cầu chúc cho mọi người được hưởng một Mùa Xuân
Hạnh Phước chân thật, nhất là nguyện xin Ơn Trên phù hộ cho giới trẻ
Việt nam, trên bước đường lưu vong, biết dùng đời sống, sức lực, tài
năng , xây dựng sự nghiệp, để làm rạng rỡ, vẻ vang giống nòi, xứng
đáng là con cháu các Vị Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam.
Cộng Đồng chúng ta được may mắn sinh sống gần
Quê Hương Việt Nam nhất, chỉ cách bờ biển Việt Nam chừng năm ngàn
dậm, (và cách bờ biển California ba ngàn dậm). Hải đảo Hawaii, nằm
trên vĩ tuyến 20, tức ngang tỉnh Thanh Hóa; do đo, cỏ cây hoa quả
giống hệt như bên quê nhà.
Mọi người chúng ta, hãy quay mặt nhìn về phái
biển, hướng tây, để thả hồn bay về thẳng quê hương bên kia bờ Thái
Bình Dương. Xin mượn câu thơ cổ, để tưởng nhớ đến bà con và những
người thân yêu xa cách ngàn trùng:
Quân tại Tương
giang đầu
Thiếp tại Tương
giang vỹ
TƯƠNG TƯ, bất tương
kiến
Đồng ẩm Tương giang
thủy
(Chàng ở đầu Sông Tương(Nhớ), Thiếp ở cuối
Sông Tương; Cùng Thương Nhớ nhau, mà chẳng đặng thấy mặt nhau, (Thôi
đành !) Cùng nhau Uống nước Sông Tương.)
Chiều nay, bà con chúng ta cùng tham dự Thánh
Lễ Đầu Xuân để Tạ Ơn Trên, và cầu nguyện cho Quê Hương. Dầu xa cách
hai bờ Đại Dương, nhưng chúng ta cùng chung một Đức Tin, cùng ăn
chung Một Bánh Thánh và cùng Uống chung Một Chén Thánh. Âu cũng là
cách thế tuyệt diệu để cảm thông và hiệp nhất với người thân yêu xa
xôi, cách biệt, trong ngày Linh Thiêng nhất trong năm.
Ý NGHĨA LINH THIÊNG NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN
(Bài giảng thuyết này đã đọc nhân dịp Tết
Nguyên Đán, năm 1992, do Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam San Jose,
California, tổ chức tại rạp hát Center for Performing Arts. Đức Giám
Mục Giáo Phận chủ tọa, Thánh Lễ do Cha Quản Nhiệm chủ tế với các Linh
Mục đồng tế. Số giáo dân và quan khách tham dự hơn năm ngàn. Sau
Thánh Lễ, Cha Quản Nhiệm đại diện Cộng Đồng chúc Tết Đức Cha. Tiếp
theo là phần trình diễn văn nghệ. ĐOÀN VĂN NGHỆ DÂN TỘC do các Sư
Huynh Dòng LaSan luyện tập, đã trình diễn những vũ điệu dân tộc.)
Đối với dân tộc Việt nam, Tết Nguyên Đán là
một Đại Lễ, vì bao gồm tất cả các ý nghĩa và tâm tình của các lễ
Giáng Sinh, lễ Tân Niên theo Dương lịch, lễ Tạ Ơn, lễ Chiến sĩ Trận
Vong, ngày Giỗ, và tiệc mừng Sinh Nhật của mỗi người.
Mỗi khi Tết đến trên giang sơn Việt Nam, từ
Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu, hoa đào đỏ, hoa mai vàng, hoa mận trắng,
thêu dệt nên một bức thảm thiên nhiên sặc sỡ muôn mầu sắc rực rỡ,
khiến lòng người tưng bừng phấn khởi mở hội hè đình đám để thuởng
Xuân.
Thật vậy, Tết đã mang một ý nghĩa thiêng
liêng rất cao siêu, vì là ngày giao cảm giữa Trời-Đất, Thần Thánh và
con người, ngày không phân biệt biên giới giữa kẻ sống và người chết.
Do đó, mọi người dân Việt đều kính cẩn tham dự các nghi lễ như Trừ
tịch, lễ Giao thừa, lễ tế Nam giao, v, v.
Từ khi Ánh Sáng của Chúa Cứu Thế chiếu tỏa
trên quê hương Việt nam, đúng như lời Ngài dạy:" Ta đến đến để hoàn
thiện chứ không phải để phá đổ"(Mat.5,17), Hội Thánh đã tìm cách
"thánh hóa" những tập quán tốt, bằng cách thanh lọc các yếu tố dị
đoan mê tín, rồi mặc cho chúng một ý nghĩa linh thiêng cao siêu. Ngày
nay, Hội Thánh vẫn chủ trương đường lối thích nghi, và tôn trọng giá
trị văn hóa, bản sắc các dân tộc :" Hội Thánh Công Giáo không hề phủ
nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo. Với lòng
kính trọng chân thành, HộiThánh xét thấy những phương thức hành động
và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy có nhiều điểm
khác với chủ trương mà Hội Thánh duy trì, nhưng cũng thường đem lại
ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người.."(Tuyên
ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài-Kitô giáo).
Theo nguyên tắc trên, ta thử suy nghĩ về ý
nghĩa linh thiêng, cao siêu của ngày Tết Nguyên Đán, qua các đoạn sau
đây: Thiên Chúa là Mùa Xuân bất diệt; Trời mới Đất mới; Chim có tổ,
Người có tông.
I. CHÚA LÀ MÙA XUÂN BẤT DIỆT.
Mỗi độ Xuân về, người dân Việt không quên
cảm tạ Vị Chúa Tể Càn Khôn, vì Ngài là căn nguyên của vũ trụ và là
nguồn sống của muôn loài. Ngài là một Mùa Xuân trường cửu, bất diệt.
Ngài là "Đấng hằng hữu, hiện hữu, và sẽ đến (Khải Huyền 1,4). Con
người và vũ trụ đều phải lệ thuộc hoàn toàn vào Ngài để được ban ơn
Phước-Lộc-Thọ.
Tết Là Ngày Lễ Tạ Ơn.
Từ xa xưa, truyền thống dân tộc Lạc Hồng là
luôn luôn nhớ ơn Đấng đã sinh thành, chở che, và nuôi dưỡng mình, qua
câu ngạn ngữ "Trời sinh , Trời dưỡng", "Trời che đất chở" hay:"Trời
sinh voi, Trời sinh cỏ" (câu này có thể đã được truyền tụng từ thời
Hai Bà Trưng, cưỡi voi đánh quân Tô Định, thời kỳ voi còn là một con
vật rất gần gũi, và đông đảo trên giải đất Việt). Theo dã sử, từ đời
vua Hùng Vương thứ ba, đã có tập tục dùng gạo nếp nấu thứ bánh, biểu
tượng cho ngày Tết, là Bánh Dày và Bánh Chưng. Bánh Dày, hình tròn
dày dặn, chỉ vòm trời. Cũng có nơi làm Bánh Tét (do chữ Tết?), hoặc
Bánh Tày, Bánh Ống (miền Hà nam, Phủ Lý, có hình tròn và dài như
giò lụa). Bánh Chưng, hình vuông, chỉ bốn phương trái đất:" Vuông như
bánh chưng tám góc"( Việt Nam Tự Điển). Vuông-Tròn chỉ sự hoàn hảo,
trọn vẹn như câu thành ngữ:" Mẹ tròn, con vuông". Do đó, ý nghĩa cao
siêu của bánh Dày, (bánh Tét), bánh Chưng, dùng trong việc cúng tế
hay biếu tặng trong ngày Tết, là chỉ sự Hòa Hợp giữa Trời và Đất,
giữa Con người và Vị Chúa Tể, như câu:" Thiên Nhân tương dữ"( Trời và
Người có liên hệ tương quan với nhau). Trong ngày lễ Tạ Ơn, dân Hoa
kỳ có thói quen dâng hoa, hoặc bắp ngô, trái bí đỏ, làm lễ vật để tỏ
lòng tri ân đối với Thượng Đế đã ưu đãi họ. Từ xa xưa, người dân Việt
đã biết dùng gạo nếp để nấu bánh Chưng, bánh Dày, làm lễ vật đặt trên
Bàn Thờ để Tạ Ơn Trời đã cho mưa thuận gió hòa:
"Lạy Trời mưa
xuống,
lấy nước tôi
uống,
lấy ruộng tôi
cầy,
lấy chén cơm
đầy,
lấy khúc cá
to"
và " Uống nước nhớ nguồn", để tỏ lòng nhớ
ơn ông bà cha mẹ đã đổ mồ hôi trên thửa ruộng, nương khoai, làm lụng
vất vả để nuôi sống con cháu , như câu ca dao:
"chồng cày, vợ cấy, con trâu
đi bừa"
Trong Thánh Lễ cũng có lời nguyện lúc dâng
bánh ruợu, như sau " Chúng con tạ ơn Chúa đã cho chúng con bánh này
là hoa quả từ ruộng đất và lao công của con người"..
(Xin phân biệt: "lao công" khác nghĩa với
"công lao". "Lao công"(labor) là vất vả khó nhọc làm việc mới có
miếng ăn; còn "công lao" (merit) là phần thưởng, công nghiệp)
Bởi vậy, muốn được Trường Sinh Bất Tử, muốn
được Phước-Lộc-Thọ, con người phải phụng sự Chúa, Nhân đạo phải phù
hợp với Thiên đạo. Giữa Thiên Chúa và nhân loại phải có sự Giao Hòa
mật thiết, như lời nguyện của Kinh Lạy Cha"Ý Cha thể hiện dưới Đất
cũng như trên Trời".
Thánh Lễ Giao Thừa
Cũng vì thấu suốt ý nghĩa về nguồn gốc của
vũ trụ, nhân sinh: chính lúc nửa đêm 30 tháng chạp, năm cũ hết, bước
sang năm mới, mỗi người được thêm một tuổi, nên lễ Giao Thừa là giây
phút rất cảm động và linh thiêng. Theo cổ tục, sau khi làm lễ Trừ
Tịch để xua đuổi tà ma ác quỷ ra khỏi nhà thì khởi sự làm lễ Giao
Thừa. Người ta tin rằng vào lúc năm cũ, năm mới giao nhau, vị Thần
năm cũ ra đi để tiếp đón một vị Thần năm mới đến. Đối với tín đồ Công
giáo, vị Thần đó chẳng phải vị nào khác, ngoài Thiên Chúa là Chúa Tể
càn khôn. Vì Chúa đã phán:" Ta là Nguyên Thủy (Alpha), và Cứu
Cánh(Omega) của mọi loài". Để thánh hóa tập tục này, các Cộng Đồng
Công Giáo thường cử hành Thánh Lễ Giao Thừa rất trọng thể, để mọi
người con Chúa, con Hội Thánh, cùng tham dự vào một Tiệc Thánh, cùng
được ăn và uống Mình và Máu Thánh Chúa. Mọi người cùng hòa hợp với
nhau, với thiên nhiên, với dân tộc để dâng lời cảm tạ Chúa là Chúa Tể
của Mùa Xuân Bất Diệt và Trường Cửu.
Ngoài Thánh Lễ Giao thừa cử hành đúng nửa
đêm, các tín đồ còn tổ chức Thánh lễ Tất Niên, cũng gọi là Ngày Tạ
Ơn, vào chiều ngày 30, để cảm đội ơn Chúa đã ban cho nhiều hồng ân
trong năm qua. Theo tập tục vẫn có từ đời cha Đắc Lộ, để thánh hóa ba
ngày Tết Nguyên Đán, Hội Thánh đã chỉ định Ngày mồng một Tết Nguyên
Đán, là Ngày cầu Hòa Bình cho gia đình, dân nước và thế giới. Ngày
mồng hai Tết, cầu nguyện cho Tiên Nhân, cho ông bà, cha mẹ, thân bằng
quyến thuộc đã qua đời, theo tinh thần của Đạo Hiếu. Ngày mồng ba
Tết, Ngày Cầu Mùa, để xin Chúa chúc lành cho công việc làm ăn được
phát đạt. Hoặc dâng ba ngày Tết để tôn thờ "Mầu Nhiệm "Một Đức Chúa
Trời Ba Ngôi".
II. TRỜI MỚI, ĐẤT MỚI
Ngoài ý nghĩa thần thiêng kể trên, Tết
Nguyên Đán còn mang nặng một ý nghĩa nhân về sinh cao siêu nữa. Thật
vậy, thân phận con người là lệ thuộc vào thời gian, chi phối bởi luật
Tuần Hoàn của trời đất. Do đó, nhân ngày Tết, ngày đầu Xuân, ngày ca
tụng sự Sống, con nguời tự nhiên xúc cảm, nên tìm về cội nguồn gốc rễ
của mình. Đã làm người ai cũng đều có giấy "khai sinh ", và giấy"
khai tử" rõ ràng. Nhìn lại năm cũ, ta thấy thời gian bay biến vùn
vụt, như tên bay, ngựa phi, hỏa tiễn! Thời gian trôi đi như dòng nước
chảy liên tiếp ra biển khơi không bao giờ trở lai, như câu thơ bất
hủ: "Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai, bôn lưu đáo
hải bất phục hồi?( Bạn không thấy nước sông Hoàng từ trên cao chảy
xuống, nó chảy ra biển, mà không bao giờ trở lại?). Nhân sinh, vạn
vật, khí hậu, nóng lạnh, luôn biến đổi, vận chuyển theo luật Tuần
Hoàn của trời đất: bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông:"Tre già, măng mọc","
Không ai giầu ba họ, không ai khó ba đời"..
Tết chỉ là khởi điểm của một chu kỳ mới
trong thời gian. Vì Nhân Tâm, Nhân Đạo phải thuận theo Thiên Lý,
Thiên Đạo, cho nên, sau một mùa đông ảm đạm tiêu điều, khi vạn vật cỏ
cây bắt đầu lột xác để sống lại xanh tươi, mới mẻ, thì con người cũng
phải "tống cựu nghinh tân", nghĩa là trút bỏ những cái cũ, để sửa
soạn đón nhận những cái mới. Do đó, để đón Xuân mới, người ta dọn dẹp
nhà cửa cho mới mẻ , trang hoàng bàn thờ, trưng bày bông hoa, đặc
biệt hoa Đào, hay Mai vàng, hoặc chậu Thuỷ tiên, Phong lan..Thỉnh các
"Thầy đồ", văn hay, chữ tốt, viết dùm câu đối trang trí trên cột,
trên tường để đọc và ngắm nghía! Thường các câu đối là những vần thơ
tán tụng các đức hạnh cao quý, sự nghiệp hiển hách, hoặc ca ngợi cảnh
sắc tuyệt vời của quê hương. Mua sắm các tranh Tết phác họa một cách
dí dỏm, ngộ nghĩnh nếp sống mộc mạc nơi thôn dã với bầy gia súc:
trâu, lợn, gà, mèo, chuột ..Đừng quên tắm rửa sạch sẽ, bận quần áo
mới, đầu tóc chải chuốt! Bao nhiêu nợ nần năm cũ phải thanh toán cho
hết( Ngày nay thời buổi văn minh, chỉ dám hứa với "Ông Bà chủ nhà
Băng", sẽ xin trả góp mỗi tháng!). Để chuẩn bị tâm hồn với nét mặt
vui vẻ, tươi cười, mọi người phải tha thứ, xóa bỏ xích mích, và làm
hòa với nhau trong năm mới:" Ăn cơm mới, chớ nói chuyện cũ"! Điều tối
ky là nóng giận, chửa rủa, la hét, hay nói những lời cay đắng độc ác!
Trong ba ngày Tết, chỉ nên nói toàn lời êm dịu dễ nghe, làm cho người
ta mát ruột, mát gan để cầu may! Do đó, nên tìm những lời chúc Tết
hay ho, đẹp đẽ nhất và chúc cho thích hợp vói địa vị, tuổi tác, chức
nghiệp, và hoàn cảnh của người mình chúc. Ví dụ, đối với Ông Bà, hay
những vị cao niên, thì chúc câu "thọ tỉ cao sơn"' đối với nhà buôn: "
phát tài sai lộc"; đối với công chức: "thăng quan tiến chức"' dối với
thư sinh: "công thành danh toại", v, v. Ngày xưa, cách thức chúc Tết
hay dùng nhất là chúc: Tam đa( đa thọ, đa nam(con trai!), đa phú
quí), hoặc chúc: Ngũ Phúc ( Phú, Quí, Thọ, Khang, Ninh).
Tóm tắt, năm mới, tâm hồn và thể xác con
người cũng đổi mới để hòa hợp cùng Thiên Nhiên, như người nghệ sĩ
rung cảm trước vẻ nhiệm mầu của Chân-Thiện-Mỹ.
Tết đến giúp ta nhớ lại lời tiên tri của
Thánh Gioan trong Sách Khải Huyền,Rev.21,13: "Tôi thấy TRỜI MỚI,
ĐẤT MỚI, trời, đất, biển xưa đã biến đi! Tôi thấy Thành Thánh
Giêrusalem mới từ Thiên Chúa xuống, trang điểm lộng lẫy như tân giai
nhân đi đón đức lang quân".
III. CHIM CÓ TỔ, NGƯỜI CÓ TÔNG
Bất cứ người dân Việt nào, dầu tha phương
cầu thực ở đâu, hoặc làm ăn buôn bán xa nhà, dầu thành công hay thất
bại, đến ngày Tết, mọi người đều tìm về quê cha đất tổ để đoàn tụ với
gia đình, làng nước!
Trước hết, Tết là ngày tưởng niệm đến ông bà
tổ tiên đã khuất bóng, nhưng hồn thiêng như vẫn còn lẩn khuất đâu
đây, vì "chết không phải là hết", nhưng "sự tử như sự sinh" ( chết
cũng như hãy còn sống) để phù hộ cho con cháu trong năm mới được mạnh
khoẻ và làm ăn tấn tới. Không có biên giới giữa người sống và kẻ
chết! Nhờ lòng tín ngưỡng vào Hồn thiêng bất tử của Tổ Tiên mà gia
đình Việt Nam được nối kết bền chặt qua nhiều thế hệ. Ngày Tết, đoàn
con cháu đến chúc tuổi ông bà, cha mẹ, cô bác, bên nội cũng như bên
ngoại. "Mồng một chúc Tết mẹ cha(bên nội), Mồng hai Tết vợ (bên
ngoại), Mồng ba Tết thày". Con cháu chúc tuổi ông bà, cha mẹ, chú
bác, cô dì, anh chị; con rể chúc Tết gia đình bên vợ (thường vào mồng
hai), và học trò chúc Tết thày ( thường vào mồng ba). Do đó, ngày Tết
cũng là ngày mừng Sinh Nhật của mọi người. Việc chúc Tết, chúc tuổi
là một cách biểu lộ tình nghĩa, tình hữu nghị đối với các vị ân nhân,
cũng như đối với bạn bè, tương tự như việc tặng quà dịp lễ Giáng
Sinh. Trong việc chúc tuổi tặng quà thì bậc đàn em con cháu được chú
ý hơn cả. Vì mong cho"Tre già, măng mọc", nên các bậc phụ huynh
thường cầu chúc cho con cháu được mau lớn, học giỏi, đậu đạt thành
tài. Tiền"lì xì"( do chữ "lợi sự", đọc theo giọng Quảng đông?) đặt
trong bao đỏ, với đôi lời cầu chúc, nhắn nhủ lớp hậu sinh hăng say
xây dựng sự nghiệp, làm vẻ vang cho gia đình, và dòng họ. Trong thực
tế, đối với con cháu còn nhờ vả cha mẹ để ăn học, tiền "lì xì" mang
lại nhiều lợi ích như để dành trong băng, trả tiền học phí, may sắm
quần áo, đồ dùng, v, v, .Bởi vậy, ước mong quí vị bậc đàn anh đàn chị
mở rộng "hầu bao", túi tiền "lì xì", để bọn em út được nhờ, "gọi là
ngày Tết, ngày Nhất!"
Ngày Tết cũng là dịp để người dân Việt bộc
lộ tình tự dân tộc. Suốt năm, đầu tắt mặt tối làm lụng vất vả, không
có ngày nghỉ cuối tuần. Do đó, Tết là ngày hoàn toàn nghỉ ngơi, vui
chơi, hội hè đình đám:"Tháng giêng là tháng ăn chơi" Trong nhà ngoài
phố, nơi công sở, nhất là nơi đình làng: trẻ già, trai gái, đều dự
các trò chơi ngoạn mục thích thú, để mọi người thưởng ngoạn cảnh vui
thú, thân tình và bình an, trong những ngày đầu Xuân.
TẠM KẾT
Dầu ở phương trời nào, trong giây phút linh
thiêng của Thánh Lễ Giao Thừa, mỗi người con dân đất Việt hãy dâng
lời cầu nguyện, cảm tạ lên Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ, đã ban
muôn hồng ân cho gia đình và tổ quốc Việt Nam mến yêu. Dầu ở góc biển
chân trời nào, ngày đầu Xuân, mỗi người hãy thề hứa sẽ giữ gìn những
giá trị cao quí của gia đình Việt Nam, nơi nương tựa cho ta trong
cảnh cô đơn, hiu quạnh nơi đất khách quê người. Tết Nguyên Đán cũng
là dịp để ta bộc lộ hào khí của dân tộc đã thấm nhuần một nền đạo lý,
kỷ cương cao siêu. Ta hãy ước nguyện sẽ bảo toàn truyền thống, tinh
hoa của dân tộc, và lưu truyền cho thế hệ tương lai. Nhân ngày đầu
Xuân, đặc biệt cầu chúc cho giới trẻ Việt Nam luôn thăng tiến về mọi
mặt, để làm rạng rỡ cho giống nòi, xứng đáng là con cháu các Thánh Tử
Đạo Việt Nam.
CHẾT ĐI ĐỂ SỐNG LẠI
(Bài giảng thuyết và suy niệm về cái "Chết
Oai Hùng" của các THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM và đặc biệt của một thanh
niên 19 tuổi, Thầy Giảng ANRÊ PHÚ YÊN, Tử Đạo năm 26/7/1644, đã được
phong Chân Phước, ngày 5/ 3/2000. Các Vị Thánh Anh Hùng đã hiểu ý
nghĩa chính thực về "SỐNG" và "CHẾT" và đã noi gương Chúa Cứu Thế,
chết trên Thập giá, nhưng ngày thứ ba Ngài đã sống lại vinh hiển đời
đời)
" Nếu ta Chết làm một với Chúa Kitô, thì ta
tin rằng: ta sẽ cùng Sống với Ngài" (Rom 6:8).
SỐNG, CHẾT là thực tại hiển nhiên, vẫn thường
xẩy ra mỗi giây phút chung quanh chúng ta. Do đó, người đời rất quen
thuộc với những biến cố đó, dầu đôi khi cũng gây xúc động, nhất là
đối với cái chết đột ngột của người thân yêu!
Nhưng khi bàn đến Ý NGHĨA của Sống, Chết, thì
từ thời thượng cổ cho đến ngày nay, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo, mỗi
dân tộc, văn hóa, triết lý...đều có những cách giải thích khác
nhau. Sau đây, xin trình bày Ý Nghĩa và Đức Tin của các tín hữu
Thiên Chúa Giáo đối với Sống, Chết, đặc biệt của các Thánh Tử Đạo.
Nhờ thấu hiểu Ý Nghĩa và nhờ Niềm Tin sắt đá, các Môn Đệ của Chúa Cứu
Thế đã can đảm, hiên ngang , hy sinh mạng sống để làm chứng tá, noi
gương Thầy Chí Thánh. Có thể nói, trong lịch sử các tôn giáo, qua mọi
thời đại, không có tín đồ của một đạo giáo nào, mà một số đông đảo
các Tu sĩ, nam hay nữ, (như Mẹ TÊRÊSA), các Vị Thánh Nhân, luôn sẵn
sàng Sống, Chết cho Lý Tưởng cao cả của mình.
Vì Cần phải giải nghĩa nhiều thành ngữ, tuy
quen thuộc nhưng khó hiểu, nên sẽ trình bày những điểm như:I/ Ý Nghĩa
chữ Sống, Chết theo Kinh Thánh, Giáo Lý;II/ Tại sao Chết? Chết là làm
sao? III/ "Chết cho tội", "Chết với Chúa KITÔ", nghĩa là gì?IV/ Các
Vị Thánh Nhân, các Thánh Tử Đạo đã "Chết với Chúa KITÔ" như thế nào?
V/ Sống Lại với Chúa KITÔ, và Sống Kết Hợp với Chúa, ngay ở đời này.
I . TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA CHỮ: SỐNG, CHẾT.
Trước khi tìm hiểu ý nghĩa đoạn thơ của Thánh
PhaoLô ở trên, thiết tưởng nên giải thích ý nghĩa của chữ "CHẾT", và
"SỐNG", vì hai danh từ này có nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa thông
thường, "sống" là khi thân xác còn hoạt động như tim còn đập, còn hơi
thở..; "chết" là khi thân xác bất động, tim ngưng đập...và bác sĩ
tuyên bố đã chết! Nhưng theo nghĩa Giáo Lý, Kinh Thánh thì có phần
khác. Trong sách Giáo Lý, có những thành ngữ quen dùng như : " chết
phần linh hồn'' phân biệt với"chết phần xác"; "chết cho tội lỗi";
"chết đời đời"; "chết đời đời trong hỏa ngục". Hoặc là" sống phần
linh hồn" khác với"sống phần xác"; "sống kết hợp với Chúa"; "sống kết
hợp với Chúa ở đời này"; "sống đời đời cùng Chúa trên Thiên đàng"...
- a/Theo Giáo lý và Kinh Thánh , mỗi người
vừa có đời sống thể xác, như ăn uống, ngủ nghỉ.., vừa có đời sống "
phần linh hồn", nghĩa là nhận biết, kết hợp và yêu mến Chúa.
Bởi vậy, một người nào, dầu vẫn còn đang
"sống phần xác", nhưng phạm tội trọng, chống lại giới răn Chúa dạy,
không còn mến Chúa, kết hợp với Chúa nữa, thì phải kể người ấy là đã
"chết phần linh hồn" rồi, vì đã mất Ơn nghĩa, Tình nghĩa với Chúa; và
nếu người ấy, chẳng may phải "chết phần xác", mà chưa từ bỏ tội lỗi,
nghĩa là chưa"chết cho tội lỗi" , thì phải "chết đời đời trong hỏa
ngục", không được hưởng Tôn Nhan Chúa. Ví dụ: một ông chủ hay bà chủ,
khoẻ mạnh, ăn mặc bảnh bao, ăn uống cao lương mỹ vị, quyền cao chức
trọng, giầu có..nhưng "về phần hồn", tức đời sống đạo đức, luân lý
rất bê bối, phạm nhiều tội ác, thì phải kể người ấy đã"chết phần
linh hồn "rồi! vì mất Ơn Nghĩa cùng Chúa.
- b/ Cũng theo quan niệm luân lý tu đức như
trên, một người môn đệ của Chúa gồm có hai đời sống: "đời sống phần
xác", như : làm việc, ăn uống, có gia đình, chức tước, địa vị trong
xã hội như mọi người khác. Nhưng trong nội tâm,( không ai thấy được),
họ còn "đời sống thiêng liêng"nữa, nghĩa là họ làm mọi việc vì lòng
mến yêu Chúa, theo ý nghĩa của câu Kinh Thánh: "Chúa sống trong tôi".
Họ "sống kết hợp với Chúa", luôn tuân giữ lề luật Chúa dạy, nghĩa là
từ bỏ tội lỗi, "chết cho tội lỗi"thì ngay ở đời này, họ còn "sống
phần linh hồn" nữa, vì được kết nghĩa cùng Chúa; và giả như Chúa định
cho họ phải "chết phần xác", thì họ sẽ được "sống đời đời cùng Chúa
trên Thiên Đàng". Đây chính là trường hợp của các Thánh Tử Đạo. Dầu
các Ngài bị giết chết về phần xác, nhưng các Thánh tin chắc chắn sẽ
được cùng Chúa hưởng vinh quang bất diệt trên Nước Hằng Sống!
- c/ Ngoài ý nghĩa sống, chết như trên, còn
có hai quan niệm, hay hai lý tưởng về mục đích của cuộc đời. Một quan
niệm cho rằng: Chết là Hết!, như kiểu nói"Chó chết, hết truyện".
Người theo chủ trương này thì không tin có Chúa sẽ thưởng kẻ lành,
phạt kẻ dữ. Do đó, trong đời sống này, họ tìm mọi cách để hưởng thụ,
ăn chơi thỏa thích, dầu phạm rất nhiều tội ác, vì họ cho rằng:"chết
là hết". Nhưng đa số nhân loại, từ thượng cổ tới ngày nay, đặc biệt,
Đạo Hiếu trong văn hóa Việt Nam, dạy rằng:"sự tử như sự sinh", nghĩa
là dầu đã chết, nhưng Hồn Thiêng của Ông Bà như vẫn còn tồn tại với
con cháu. " Sinh ký Tử qui" (Sống gởi, Thác về), nghĩa là con người
chỉ sống tạm một thời gian ở đời này; và sau khi chết lại được về
đoàn tụ cùng Chúa và Tổ Tiên.
- d/ Theo Giáo Lý và Kinh Thánh, Chết
đi-Sống lại là hai nhịp của một động tác. Chết đi chỉ là bước đầu,
nhịp đầu của nhịp thứ hai: Sống lại. Kinh nghiệm này ta vẫn nhận thấy
qua hình ảnh của thiên nhiên và nhân sự. Thật vậy, theo luật tuần
hoàn của trời đất, âm- dương điều hòa, hết ngày đến đêm, hết đêm tới
ngày; vì thế, có câu:"bĩ cực thái lai","không ai giầu ba họ","không
ai khó ba đời","hết cơn mưa trời lại nắng". Bốn mùa vận chuyển: Xuân,
Hạ, Thu, Đông. Sau một mùa đông ảm đạm tiêu điều, tuyết phủ, khi mùa
Xuân tới, cảnh vật như "Sống lại" tưng bừng, cỏ cây xanh tươi, hoa
muôn mầu rực rỡ. Đó là hình ảnh "Phục Sinh ", "Phục Hoạt" của Thiên
Nhiên. Một hột thóc, hột đậu gieo xuống đất, mục nát đi, nhưng rồi
lại trổ sinh trăm hột khác. Người chiến sĩ vào sinh ra tử, chiến đấu
cam go, thì cuộc chiến thắng càng vinh quang... Trong Kinh Thánh Cựu
Ước, những sự tích như Lụt Đại Hồng Thủy tiêu diệt loài người tội
lỗi, trừ gia đình của Noe biết kính sợ Chúa, nên được Chúa cứu vớt và
cho "Cầu Vồng" xuất hiện báo trước niềm hy vọng "phục sinh" cho nhân
loại. Nhà lãnh đạo Maisen đã vâng lệnh Chúa, đưa dân Dothái từ cảnh
chết chóc nô lệ tù đầy, vượt qua Biển Đỏ tiến đến cuộc Sống Mới trong
Tự do. Đêm Vọng lễ Phụch Sinh, thánh đường tắt hết đèn nến để diễn tả
sự tối tăm, chết chóc của tội lỗi, nhưng khi ánh lửa của cây nến
Phục sinh, tượng trưng cho Chúa Giêsu sống lại, bừng cháy thì mọi
người đều hớn hở vui mừng như được sống lại với Chúa.
II_ TẠI SAO CHẾT? CHẾT LÀ GÌ? CHẾT LÀ MÂU
THUẪN GHÊ GỚM NHẤT.
Con người là sự hợp nhất của thiên nhiên và
nhân vị tự do, nghĩa là con người phải gồm cả ,"xác với hồn"; con
người là" con vật có trí khôn"(Aristotle) hay là" cây sậy biết tư
tuởng " (Pascal). Con người "không có hồn" thì chỉ là con vật; "không
có xác"thì là thiên thần. Thân xác thuộc thế giới vật chất, bị chi
phối bởi luật của thiên nhiên. Hồn thiêng hay trí khôn là ý chí tự do
có thể định đoạt lấy số phận của mình. Khoa sinh vật học chưa biết rõ
tại sao các tế bào trong cơ thể lại chết! Nhưng Chết là một thực tại
hiển nhiên, đêm ngày hằng ám ảnh ta, vì ta biết chắc mình sẽ chết,
chỉ không biết giờ nào và lúc nào sẽ"tới số" mà thôi! Do dó, để giải
tỏa thắc mắc luôn dày vò ám ảnh tâm trí nhân loại, người ta đã tìm
đến sách Kinh Thánh để dạy cho biết lý do tại sao loài người phải
chết: " Vì thế, cũng như chỉ vì một người(Adong) mà sự tội đã đột
nhập thế gian; và vì tội, thì sự Chết nữa; như vậy, sự chết đã lan
qua hết mọi người, một khi mọi người đều đã phạm tội...(Rom 5:12).
Bởi vậy, đó là sự thực hiển nhiên: chỉ vì Tội mà mọi người phải
Chết!!
_CHẾT LÀ LÀM SAO ?
Trong đoạn này , ta sẽ bàn về yếu tính của
sự chết là gì? Có phải chết là hết, là hoàn toàn hư vô như câu
nói:"chó chết hết chuyện"không? Chết là biến cố xẩy đến cho cả thân
xác lẫn hồn thiêng; khi chết rồi, xác và hồn sẽ ra sao? Câu nói thông
thường là: "Chết là linh hồn lìa khỏi xác." Như ta đã nhận định ở
trên, con người là một toàn thể đơn nhất (unity) cả xác lẫn hồn. Xác
thuộc thế giới vật chất như xương thịt, máu nước, hơi thở v.v.. Xác
là một thành phần của toàn thể khối vũ trụ vật chất. Cho nên, hồn kết
hiệp với xác cũng là hiệp thông tự trong bản thể với toàn khối vũ trụ
đó. Khối này, tự căn bản là một toàn thể đơn nhất (radical unity),
trong đó các sự vật hiệp thông và ảnh hưởng lẫn nhau. Bởi vậy, khi
hồn "lìa" xác, thì hồn không thể đứng chơi vơi," vô thế giới"(soul
acosmic), nhưng càng kết hợp mật thiết với cái toàn thể đơn nhất của
vũ trụ hơn vì không còn bị thân xác hạn chế. Ngay trước khi hồn "lìa"
xác, thì hồn cũng vẫn hiệp thông với vũ trụ này qua thân xác, nhưng
sau khi lìa xác thì càng tự do hành động mạnh hơn vì không còn bị cản
trở. Do đó, hồn thiêng là "Bất Tử"(immortal) vì luôn luôn hoạt động,
không bao giờ ngừng. Cũng do nguyên lý đó mà người ta thường nói" sự
tử như sự sinh"( chết cũng như còn sự sống) . Theo Giáo lý, người tín
hữu tin rằng:"Các Thánh cùng thông công", nghĩa là các Linh Hồn nơi
Luyện Tội, các Thánh trên Thiên Đàng và các bổn đạo dưới đất đều
thông hiệp với nhau bằng kinh nguyện.
_ CHẾT LÀ MẢU THUẪN GHÊ GỚM NHẤT.
Triết lý và Tôn giáo dạy ta:"chết không
hết", nhưng chết là "Cửa Ngõ" đi vào Cõi Đời Đời . Dầu vậy, đối với
chúng ta, chết vẫn là một huyền nhiệm rất khó hiểu, tối tăm, và đầy
mâu thuẫn. Luôn luôn ta nhận thấy sự đối nghịch lưỡng tính (duality)
nơi sự chết. Thật vậy, một mặt, ta biết được cái chết đang đón chờ
ta từng giây từng phút, nhưng không biết lúc nào bất chợt nó đến!
Chết chứng tỏ con người vừa hữu hạn vừa bất lực. Nhưng mặt khác, vì
biết trước sẽ phải chết, nên ta cần lợi dụng thời cơ thuận tiện để
làm việc phước thiện, cần dọn mình chết lành. Nhờ vậy, ta có thể sống
"vượt" cái chết. Ai cũng sợ chết, vì là biến cố ghê gớm kết liễu đời
sống, bỏ lại công việc dang dở, nhưng cũng hy vọng được giải thoát
khỏi làm nô lệ thân xác, của cải dễ hư nát, để được hưởng hạnh phước
bất diệt (Jn 9:4; Lc: 16:26; 2Cor 5:10). Chết là chấm dứt đời sống
thân thể, là thái độ thụ động cam chịu cái chết đến vì số phận, vì
Chúa muốn như vậy, nhưng chết cũng là hoàn thành sự nghiệp, công lao
của một người. Chết là cao độ của những cặp mâu thuẫn như: ý muốn
hoàn tất công việc, nhưng bất lực hoàn toàn; tự gây dựng sự nghiệp,
nhưng số kiếp dở dang; viên mãn nhưng trống rỗng. Cái lưỡng tính mâu
thuẫn đó càng tối tăm, bi thảm vì ta không bao giờ có thể quả quyết
chắc chắn: chết là đầy tràn công đức, là giải thoát con nguời, hoặc
chết là hư vô, trống rỗng! Vì tính chất mập mờ tối tăm của sự mâu
thuẫn đó, cho nên Chết là một hình phạt ghê gớm nhất do ác quả của
Tội mà Tổ Tiên loài người là Adong đã phạm và truyền lại cho nhân
loại: chính Tội đó khiến ta phải chết vì mất sự bất tử là một Ân Huệ
Chúa ban "nhưng không" cho nhân loại.
_III. CHẾT CHO TỘI. CHẾT VỚI CHÚA KITÔ
Để đối phó với tình trạng đau khổ dày vo,
mâu thuẫn của chết, nguời ta có hai thái độ: một là, cậy vào sức mình
có thể hiểu biết và làm chủ được cái" án tử" do tội Nguyên tổ gây
nên. Nhưng sự thực, chết vượt tầm tay kiểm soát của con người. Do đó,
cái chết của một người là một trọng tội, vì nó lập lại tội Nguyên Tổ
và công nhận tình trạng bất trung bất nghĩa với Chúa. Hai là, tin
tưởng, phú thác mình tùy theo Chúa định liệu, mặc dầu không hiểu
biết, nhưng muốn thông phần vào cái "Chết vâng phục Thánh Ý Chúa" của
Chúa Giêsu, để được Chúa ban cho sự Sống Thần Linh (Phil 2:8).
Thánh Phaolô Tông Đồ, trong thơ gửi tín
hữu,(Rôma 6: 2-6) viết: "Ta là những người đã Chết cho Tội...Ta đã
được thanh tẩy trong Chúa Giêsu Kitô, chính trong sự Chết của Ngài mà
ta được thanh tẩy. Nhờ thanh tẩy(Phép Rửa Tội), ta đã được mai táng
với Ngài trong sự chết, để như Chúa Giêsu Kitô, nhờ bởi vinh quang
Chúa Cha, đã được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng sống
trong đời sống mới..con người cũ của ta đã cùng bị đóng đinh với Chúa
Giêsu, để thân xác tội lỗi bị hủy diệt, hầu ta hết làm nô lệ cho tội
lỗi nữa ". Qua bản văn trên, ta thấy hai chữ "chết", "sống " đều có
hai nghĩa. Theo nghĩa đen, chết là gì? Chết là không còn đời sống thể
lý, giác quan nữa. Chết là kết liểu cuộc đời trần gian, là đoạn
tuyệt, là bỏ lại hết mọi sự: người thân yêu, của cải danh vọng chức
quyền.. Do đó, "chết cho tội" nghĩa là từ bỏ hoàn toàn đời sống(luân
lý) cũ tội lỗi, xấu xa và đoạn tuyệt với dĩ vãng đầy dục vọng đê hèn.
Dầu vẫn sống về thể xác, nhưng đã"chết cho tội lỗi", nghĩa là quyết
chí dốc lòng chừa cải tội lỗi, và"trở lại" cùng Chúa. Việc "cải tà
qui chính", canh tân đời sống, Kinh thánh gọi là " Metanoia", nghĩa
là sửa đổi lại tâm trí, và cách ăn ở cho ngay thẳng, ăn chay, đền
tội, xưng tội, và" chịu phép rửa thống hối" (Mk 1:4). Chúa Giêsu cũng
dùng quan niệm Metanoia, nhưng nhấn mạnh vào niềm tin nơi Chúa hơn là
đe dọa luận phạt (Mk 1:15). Sự thay đổi, từ bỏ quyết liệt đó cũng
được gọi là sự "Trở lại"(conversion). Thánh Phaolô đã được "Ơn Trở
lại", vì trước kia theo Đạo Dothái, Ông đã bắt bớ người theo Chúa
Kitô, nhưng trên đường đi Damascô, nhờ phép lạ, Ông đã hoàn toàn đổi
mới, đã "trở lại" với Chúa và trở nên vị Tông Đồ nhiệt thành (Act
1:1-19). Danh từ "trở lại" cũng áp dụng cho các tân tòng mới gia nhập
Đạo Chúa, cũng dùng để chỉ người tín hữu bỏ Đạo một thời gian, hoặc
bê trễ, nguội lạnh, bỏ xưng tội, rước lễ lâu năm..nay "ăn năn trở
lại", sốt sáng giữ Đạo.
CHẾT VỚI CHÚA KITÔ.
Trong đời sống của người tín hữu, nếu ta
không "chết cho tội", không thật sự "trở lại" với Chúa, biến đổi tâm
hồn và nếp sống cho hợp với Phúc Âm Chúa, thì ta không thể hưởng Ơn
Cứu Độ được. Chúa cần lòng thành thực sám hối, chứ không cần lễ nghi
bề ngoài. Nhờ đời sống Đức Tin và Bí Tích, qua việc chịu Phép Rửa
Tội, Phép Thánh Thể và Phép Giải Tội.., ta được tham dự vào cái "chết
vâng phục " của Chúa Giêsu: "Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở nên vâng
phục cho đến chết, và chết trên thập giá!(Phil 2:8). Sách Khải Huyền
của Thánh Gioan cũng viết: "Phúc cho những kẻ chết mà đã Chết trong
Chúa, ngay từ bây giờ, họ sẽ được nghỉ ngơi khỏi các nỗi gian lao, vì
các việc họ làm đi theo họ"(Rev 14:13). Công Đồng Vatican II, trong
Gaudium et Spes(Vui Mừng và Hy vọng) cũng viết: ...Nhờ sự chết với
Chúa mà ta cảm nghiệm thấy " sự chung kết, cuối hết trở nên bình minh
của sung mãn"(Vat II:Vui Mừng và Hy vọng,18).. Nếu ta không từ bỏ tội
lỗi, thì không thể sống đẹp lòng Chúa được, vì tội là tự ý từ bỏ
Chúa Tốt Lành, Yêu Thương vô cùng. Con người không thể tự mình chuộc
lại trọng tội ấy được. Do đó, cần phải có chính Con Thiên Chúa đền
tội thay thì mới hết tội. Có nhiều cách thức để đền tội cho nhân
loại, tại sao Chúa Giêsu lại chọn cái Chết để chuộc tội? Chết ở đây
là một hành vi (act) tự do hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Chúa Cha đã
định, dầu phải hy sinh mạng sống. Chính hành vi "tự ý hạ mình vâng
lời cho đến chết" đã đền tội phản nghịch cho nhân loại. Bởi vậy, nếu
ta không từ bỏ tội lỗi bằng cách tham dự vào "Cái Chết của Chúa
Kitô", nghĩa là luôn vâng phục Thánh Ý Chúa, dầu phải chết, thì ta
không thể được Cứu Độ.
IV. CÁC THÁNH TỬ ĐẠO ĐÃ HY SINH MẠNG
SỐNG VÌ CHÚA, ĐÃ THAM DỰ VÀO CÁI CHẾT CỦA
CHÚA
Theo lịch sử và các bản án tử hình của các
Thánh Tử Đạo Việt Nam, và của Vị Tử Đạo Tiên Khởi là ANRÊ PHÚ YÊN,
thì các Ngài đã hy sinh tính mệnh vì ĐỨC TIN, vì muốn TRUNG TÍN cùng
Chúa! Các Vị Anh Hùng đó, thà "chết phần xác", chẳng thà phạm tội bất
TRUNG với Chúa. Các Ngài sẵn sàng chịu tra tấn, gông cùm, phân sáp,
voi giày, đao phủ lăng trì.., nhưng không bao giờ phạm tội chối bỏ
Chúa. Vì các Ngài tự ý muốn noi gương Thày Chí Thánh đã tự ý hiến
thân, chịu chết trên Thập Giá, làm của Lễ Hy Sinh đền tội cho nhân
loại để mọi người được hưởng Ơn Cứu Độ.
Theo lài liệu lịch sử, tức là cuốn sách do
Cha Đắc Lộ đã viết và in năm 1653, Paris , nhan đề "LA GLORIEUSE MORT
"...Cha đã rửa tội cho một thiếu niên Việt Nam mới 15 tuổi , đặt tên
thánh là "ANRÊ", cùng với bà mẹ góa và các anh chị. Một năm sau, vì
cậu rất thông minh, tiến triển vượt bậc trong việc học hỏi sách Giáo
lý, Kinh Thánh và các sách về văn hóa Việt Nam, nên được tuyển chọn
gia nhập "Hội Thầy Giảng", do Cha sáng lập.
Trước tòa án của viên quan đầu tỉnh Quảng
Nam, Thầy ANRÊ đã tuyên xưng Đức Tin với một lòng dũng cảm phi
thường: "Ước chi tôi có được ngàn mạng sống của tôi để hiến dâng cho
Chúa hầu đền đáp ơn Ngài." Thầy ANRÊ chết do nhiều nhát dao đâm, rồi
bị chặt đầu, miệng không ngớt lời kêu danh thánh Chúa GIÊSU. Ngày ấy
là 26 tháng 7 năm 1644. Cha Đắc Lộ vẫn đứng bên cạnh người con thiêng
liêng của Ngài. Rất đông đồng bào ngoài Công Giáo, và các tín hữu
Công Giáo Việt Nam cũng như ngoại quốc chứng kiến cái chết oai hùng
của một thanh niên Việt Nam, quả cảm, hy sinh để bảo vệ niềm Tin vào
Chúa Cứu Thế.
Niềm Tin sắt đá đó được hun đúc một phần nhờ
nền văn hiến, văn hóa trọng Nhân, Nghĩa, Lễ. Trí, Tín, đặc biệt chữ
"TRUNG": "Trung thần bất sự nhị quân"(tôi trung không làm tôi hai
chúa). Nhưng trước hết và trên hết, là nhờ Hồng Ân, và Sức Mạnh
thiêng liêng của Chúa luôn nâng đỡ , phù hộ để Thầy ANRÊ được can
đảm, tự do và hân hoan đón nhận cái "chết vì Chúa và theo chân Chúa".
V. SỐNG LẠI VỚI CHÚA KITÔ. SỐNG KẾT HỢP VỚI
CHÚA
Chết chỉ là nhịp đầu của nhịp hai kế tiếp:
SỐNG LẠI. Cũng như hình ảnh vạn vật thiên nhiên biểu tượng: hột lúa
gieo xuống đất, có mục nát đi, thì mới trổ sinh trăm ngàn hột lúa
mới! Vì con người "linh ư vạn vật ", nên không thể như " chó chết hết
chuyện" được! Thánh Phaolô dạy: " Cũng như nơi Adong mọi người đều
phải chết, thì mọi người sẽ được sống lại trong Chúa Kitô " (I Cor
15:22). Sau đây, ta sẽ suy nghĩ về ý nghĩa: "Sống thật" là gì? Thế
nào là "Sống lại với Chúa"?" Sống hiệp nhất với Chúa ngay ở đời này"
là làm sao?
_SỐNG LẠI VỚI CHÚA.
Trước tiên ta hãy tiếp tục lắng nghe Thánh
Phaolô dạy ta về ý nghĩa chữ Chết, Sống với Chúa:" Nhưng nếu ta chết
với Chúa Kitô, thì ta tin rằng: ta sẽ cùng Sống với Ngài, bởi biết
rằng: Chúa Kitô một khi đã sống lại từ cõi chết, thì không còn chết
nữa, sự chết không còn quyền hành gì trên Ngài nữa. Cái chết của Ngài
là cái chết cho tội, chỉ một lần thôi, nhưng Ngài sống là sống cho
Thiên Chúa. Tất cả anh chị em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối
với tội và đang sống cho Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô. Ước gì tội
lỗi không còn ngự trị trong thân xác hư nát, khiến anh chị em chiều
theo những ham muốn dục vọng của nó. Anh chị em đừng hiến thân thể
mình làm khí giới bất chính cho tội, nhưng hãy hiến dâng cho Thiên
Chúa chính mình anh chị em, như những kẻ đã thoát cõi chết mà được
sống, và chi thể anh chị em làm khí giới công chính cho Thiên
Chúa"(Rom 6:8-13).. Theo nghĩa thiêng liêng, câu:" Chúa Kitô một khi
đã sống lại từ cõi chết, thì không còn chết nữa". Chữ Sống ở câu
trên ám chỉ sự Sống bất tử của Thân Thể Vinh Hiển của Chúa Giêsu sau
khi đã sống lại. Ngày Tận thế, ngày Chung thẩm( Phán xét chung), thì
thân xác của những người lành thánh cũng được Chúa cho sống lại đời
đời vinh hiển như Chúa! Chữ Sống còn có thêm nghĩa là: "sống cuộc đời
trần gian này", nhưng phải sạch tội, thánh thiện thì mới kể là "sống
thật"' bởi vì, sống cuộc đời tội lỗi thì dầu có"sống về thể xác",
nhưng kỳ thực đã "chết về phần linh hồn" rồi, nên không kể là "sống
thật " nữa. Ta biết rằng:"chết không hết". Nhưng khi chết mà mất
nghĩa cùng Chúa, thì ta vẫn phải sống đời đời, không phải để được
thưởng nhưng để chịu phạt! Nếu quả thật như vậy, thì không còn gọi là
"sống thật" nữa! Vì sống xa cách Chúa đời đời, không còn hy vọng được
"kết hiệp" với Chúa, và được "đoàn tụ" với ông bà tổ tiên trên Nước
Hằng Sống, thì phải kể là "chết đời đời" mà thôi!!
SỐNG HIỆP NHẤT VỚI CHÚA NGAY Ở ĐỜI NÀY.
"Sống thật" ngay ở đời này là gì? Đó là ý
nghĩa của câu:" nhưng hãy hiến dâng Chúa chính mình anh chị em, như
những kẻ đã thoát cõi chết mà được Sống". "Sống thật" là kết hợp mật
thiết với Chúa, ngay khi còn sống ở thế gian này. "Sống thật" là, dầu
bên ngoài vẫn làm lụng, ăn uống, nghỉ ngơi, xử sự....như mọi người
khác, nhưng ý nghĩa cuộc đời và lý tưởng đời sống thì khác hẳn. Vì
trong nội tâm, còn đời sống thiêng liêng, tức đời sống kết hiệp với
Chúa, và VÌ CHÚA. Bởi vậy, theo Thánh Phaolô Tông Đồ đã được"Ơn Trở
lại", thì "Sống thật" là sống hiệp nhất với Chúa Kitô, sống theo tinh
thần Phúc Âm như câu:" Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, chính
Chúa Kitô Sống Trong Tôi" (Gal 2:20). Hoặc câu:" Và tất cả những gì
anh chị em làm, trong lời nói cũng như trong hành động, tất cả mọi
chuyện anh chị em hãy làm vì Danh Chúa GiêSu KiTô, nhờ Ngài mà tạ ơn
Thiên Chúa là Cha chúng ta(1Co l 3:12-17)
THAY LỜI KẾT.
Quan niệm Sống, Chết theo Kinh Thánh thì
khác với ý nghĩ, và sự khôn ngoan của thế gian. Đối với đa số người
đời, sống là vội vã vơ vét bạc tiền, hăm hở đắm chìm vào khoái lạc,
cướp đoạt tranh giành quyền cao chức trọng, mặc dầu phạm rất nhiều
tội ác! Thế rồi, "chết là hết" như họ nghĩ tưởng! Nhưng, nếu "Chết
không hết" thì làm sao bây giờ ? Thật là một sự thiệt hại mất mát lớn
lao cho cuộc đời, ăn chơi trụy lạc, tội lỗi của họ, không còn làm
cách nào để có thể "gỡ" lại được! Đối với những ai Tin Chúa, thì sống
là sống cho Chúa ngay khi còn sống ở đời tạm này, nhất là Hy vọng
được sống Hạnh Phúc vô cùng với Chúa trên Thiên Đàng. Chết là chết
cho tội lỗi, là hoàn toàn từ bỏ tội lỗi, qua việc lãnh nhận Phép Rửa
Tội và Tin vào Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Bởi vậy, từ
lâu đời, đã có lễ nghi Rửa Tội cho tân tòng trong Đêm Vọng Phục Sinh,
để các tín hữu " chết với Chúa và sống lại với Ngài". Trong Mùa Chay,
Mùa Thương Khó, ước mong mọi người chúng ta dọn mình Xưng tội để Hòa
Giải cùng Chúa và cùng mọi người. Bởi vì, muốn "Sống thật", muốn được
Cứu Độ, ta phải sống đồng hóa, hiệp nhất với Chúa Giêsu như Thánh
Gioan viết:" Hãy ở lại với Thầy, như Thầy ở lại với các con" (Jn
15:4). Tình nghĩa keo sơn gắn bó này là nguồn mạch phát sinh Hồng Ân
Cứu Độ cho đời tạm này và đời sau vô cùng, và là động lực duy nhất
khiến các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã dũng cảm Hy Sinh mạng sống để giữ
vững lòng Trung Nghĩa với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng! Bởi vậy,
theo truyền thống trong Hội Thánh, khi các bậc Thánh Nhân "chết", thì
gọi là lúc các Ngài "SINH THÌ"
Đây cũng là một huyền nhiệm: dầu những công
việc hèn mọn như : làm việc, ăn, ngủ..nhưng nếu ta làm vì lòng mến
Chúa, thì lại có giá trị Vĩnh Cửu. Và các bậc Thánh Nhân đã khởi sự
sống đời Sống Thiên Đàng, ngay khi còn đang sống ở trần thế này!
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
Nội Dung
Lời Mở Đầu
Sách Tham Khảo
|