Ðồng Hành với Chúa Giêsu trên Đường Thập Giá

Suy Niệm về Ðường Thánh Giá

của cố  Lm. Henri J.M. Nouwen

GLV Phaolô Phạm Xuân Khôi Chuyển Ngữ

 

Mở Ðầu

Nơi Thứ Nhất

Nơi Thứ Hai  

Nơi Thứ Ba Chúa Giêsu Ngã Xuống Ðất Lần Thứ Nhất. h 1

Nơi Thứ Bốn Ðức Mẹ Gặp Chúa Giêsu Vác Thánh Giá  

Nơi Thứ Năm Ông Simong Vác Thánh Giá Ðỡ Đức Chúa Giêsu  

Nơi Thứ Sáu  Ðức Chúa Giêsu Gặp Bà Verônica  

Nơi Thứ Bảy Chúa Giêsu Ngã Xuống Ðất Lần Thứ Hai  

Nơi Thứ Tám Chúa Giêsu An Ủi Phụ Nữ Thành Giêrusalem  

Nơi Thứ Chín Chúa Giêsu Ngã Xuống Ðất Lần Thứ Ba  

Nơi Thứ Mười Chúa Giêsu Bị Lột Trần  

Nơi Thứ Mười Một Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðanh vào Thánh Giá

Nơi Thứ Mười Hai Ðức Chúa Giêsu Chịu Chết trên Cây Thánh Giá  

Nơi Thứ Mười Ba Hạ Xác Chúa Giêsu xuống khỏi Thánh Giá  

Nơi Thứ Mười Bốn Ðức Chúa Giêsu Ðược Mai Táng trong Mồ  

Chúa Giêsu Sống Lại Từ Cõi Chết  

 

Mở Ðầu:

Tôi Ðồng Hành với Chúa Giêsu

Chúa Giêsu đã đi, và Người vẫn còn đi.  Chúa Giêsu đi từ làng này sang làng khác, và trên đường đi, Người gặp những người nghèo khổ.  Người gặp những người hành khất, những người mù lòa, những người bệnh tật, những người khóc lóc, và những người mất hết hy vọng.  Người vẫn rất gần gũi thế gian.  Người cảm nhận cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm.  Người biết về những cây cỏ đang héo khô tàn tạ, đất sỏi đá khô cằn, những bụi cây gai góc, những thân cây trơ trụi, những cánh hoa ngoài đồng, và những vụ gặt được mùa.  Người biết vì Người đi quá nhiều và cảm thấy nơi chính thân thể Người sự khắc nghiệt và sức sống của bốn mùa.

Người đã lắng nghe những kẻ đang cùng đi với Người, và Người dùng quyền của một người bạn đồng hành chân chính mà trò truyện với họ trên đường.  Người nghiêm nghị nhưng rất nhân từ, trực tính nhưng rất hòa nhã, đòi hỏi nhưng rất dễ tha thứ, điều tra nhưng bằng một cách rất kính trọng.  Người cắt sâu nhưng với đôi tay của thầy thuốc…

Chúa Giêsu liên hệ mật thiết với thế gian mà Người đi trên đó. Người quan sát sức mạnh của thiên nhiên, Người học từ chúng, dạy về chúng, và tỏ cho ta biết rằng Thiên Chúa của Sự Tạo Dựng cũng là Thiên Chúa Ðấng gửi Người xuống loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, cho người mù được thấy, và trả tự do cho những kẻ bị cầm tù.

Những người nghèo đang đi trên đường, qua sa mạc và những nơi ghồ ghề trên thế gian này nhắc cho tôi phải khiêm nhường - một chữ gốc từ tiếng La-tinh là “humus”, có nghĩa là bùn đất.  Tôi vẫn phải sống gần bùn đất, thế gian.  Tôi thường ngước nhìn những vầng mây và mơ mộng về một thế giới tươi đẹp hơn.  Nhưng giấc mơ của tôi sẽ không bao giờ thành tựu trừ khi tôi ngoảnh mặt lại nhìn kỹ thế gian và tất cả những người đang đi trên đường, bước đi mệt nhọc và kêu mời tôi đồng hành với họ.

Ðồng hành với người nghèo nghĩa là gì?  Nghĩa là nhận ra sự nghèo nàn của chính tôi: sự tan nát tận đáy lòng tôi, sự mệt nhọc của tôi, sự bất lực của tôi, và bản tính hay chết của tôi.  Chính ở đây mà tôi liên hệ với thế gian; chính nhờ vậy mà tôi thực sự khiêm nhường.  Phải, chính vì thế mà tôi trở nên thân mật với tất cả những người đang cùng đi trên đường trần thế, và khám phá ra rằng, tôi cũng được yêu như một con người rất mỏng manh và đáng quý.

Trước khi Chúa Giêsu chịu thương khó, “khi Người biết rằng Người từ Thiên Chúa mà đến, và Người sẽ trở về cùng Thiên Chúa, Người lấy khăn, và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ” (Ga 13:3-5).  Ngôi Lời làm người để rửa đôi bàn chân mệt mỏi của tôi.  Người chạm vào tôi ngay chính chỗ tôi chạm vào đất, chỗ mà trái đất này nối liền với thân thể tôi mà vươn lên trời.   Người quỳ xuống, cầm lấy chân tôi trong tay Người và rửa.  Rồi người ngước mắt lên nhìn tôi, và khi mắt Người và mắt tôi chạm nhau, Người nói: “Con có hiểu điều Thầy vừa làm cho con không?  Nếu Thầy, là Chúa và Chủ của con, mà Thầy đã rửa chân con, thì con phải rửa chân cho anh chị em con” (Ga 13:12-14).

Khi tôi đớn đau lê bước trên cuộc hành trình dài về phía cây thập giá, tôi phải ngừng dọc đường để rửa chân cho những người lân cận tôi.  Khi tôi quỳ trước anh chị em tôi, rửa chân họ, và nhìn vào mắt họ, tôi khám phá ra rằng vì có anh chị em tôi đồng hành với tôi, mà tôi mới có thể tiến bước trên cuộc hành trình của tôi.

 

Nơi Thứ Nhất

Chúa Giêsu bị Kết Án

Càng thuộc về Thiên Chúa nhiều, tôi càng bị lên án nhiều.

Mat 5:10

Chúa Giêsu đứng trước mặt quan Philatô.  Người im lặng.  Người không bào chữa cho Người về những lời người ta tố cáo Người.  Nhưng khi quan Philatô hỏi Người, “Ông đã làm gì?” thì Người nói, “Tôi đến thế gian để làm điều này, là làm chứng cho chân lý, và những ai đứng về phía chân lý thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:35-37).

Chân lý mà Chúa Giêsu nói đến không phải là một luận án, một tín điều, hay một giải thích trí thức về một thực thể. Nó chính là sự liên hệ ban sự sống, sự liên hệ mật thiết giữa Người và Ðức Chúa Cha mà Người muốn chúng ta dự phần vào. Quan Philatô hoặc bất cứ người nào không kết hợp với Chúa Giêsu sẽ không thể nghe được điều đó.  Tuy nhiên, ai có liên hệ với Chúa Giêsu sẽ nhận được Thần Chân Lý - Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi cưỡng lực và sự ám ảnh của xã hội đương thời.  Thần Khí làm cho chúng ta thuộc về sự sống tinh thần của chính Thiên Chúa, và cho phép chúng ta sống trong thế gian bằng một tâm hồn rộng mở và một đầu óc ân cần.

Trong sự liên hệ với Chúa Giêsu, chúng ta có thể nghe tiếng của Thần Khí và hành trình xa rộng… bởi vì chân lý - sự liên hệ chân chính, sở hữu chân chính – ban cho chúng ta sự tự do mà quyền lực tối tăm không thể cướp đi được.  Chúa Giêsu là một người tự do nhất, mà không có ai tự do hơn Người đã sống trên mặt đất, vì Người liên kết chặt chẽ nhất với Thiên Chúa.  Quan Philatô lên án Người.  Sự chết của Chúa Giêsu, thay vì là việc thi hành một án tử, lại trở nên con đường dẫn đến chân lý hoàn toàn, đến tự do hoàn toàn.

Tôi biết rằng tôi càng thuộc về Thiên Chúa nhiều thì tôi càng bị lên án nhiều. Nhưng sự lên án của thế gian sẽ làm sáng tỏ chân lý.  “Phúc cho những ai chịu bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mat 5:10).  Tôi phải tin chắc vào những lời đó.  Vì nó mà thế gian ghét tôi, mà tôi bị coi thường bởi những người có quyền thế, mà tôi bị khai trừ, cười nhạo, và cho ra lề, vì nó tôi có thể khám phá ra rằng tôi là phần tử của một cộng đồng thế giới đang bị ngăn cấm, rào cản, và nhốt riêng trong những trại biệt lập.

Tôi đói khát chân lý, đói khát sự liên hệ với Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã sống.  Nhưng mỗi khi cơn đói ấy được thỏa mãn, thì tôi lại bị kết án và được trao cho một thập giá nặng nề để vác.  Ðó là câu chuyện của Thánh Phêrô và Thánh Gioan, Thánh Phaolô và Thánh Barnaba, Thánh Giacôbê và Thánh Anđrê, và nhất là của Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu.  Sự vui mừng và đau khổ của các ngài trở nên một vì các ngài chọn sống trong chân lý giữa thế gian.  Ðiều đó không thể xảy ra nếu không được trao cho một thập giá để vác, nhưng cũng được hưởng một niềm vui khôn tả là ngay bây giờ được thông phần vào đời sống thần linh vượt trên mọi hàng rào ngăn cản hay tròng treo cổ.

Có sự sợ hãi hiện ra trong mắt những ai bị kết án… nhưng thường cũng có sự vững tin, phó thác, hy vọng, và một sự hiểu biết thâm sâu về tự do. Ðôi mắt của người bị kết án và của tôi là những đôi mắt thấy những gì thế gian không thể thấy: dung nhan của Thiên Chúa chịu đau khổ, là Ðấng mời gọi chúng ta từ xa, xa quá tầm của sợ hãi vào đất của tình yêu vĩnh cửu.

 

Nơi Thứ Hai

Chúa Giêsu vác Thánh Giá

Tôi phải mang sự đau khổ đặc biệt dành cho tôi, nếu tôi muốn theo Chúa Giêsu.

Mt 11:28

Quan Philatô trao Chúa Giêsu cho lý hình đánh đòn.  Quân lính lột áo Người ra rồi choàng một áo đỏ lên Người, và chúng bện vòng gai thành một triều thiên, đặt trên đầu Người, và trao vào tay phải Người một cây sậy.  Ðể chế nhạo Người, chúng quỳ trước mặt Người và nói: “Tâu vua dân Do Thái”.  Chúng khạc nhổ vào Người, lấy cây sậy đập lên đầu Người.  Và sau khi chế nhạo Người xong, chúng cho Người mặc áo lại, và dẫn Người đi đóng đinh vào thập giá. (Mat 27:28-31).

Chúa Giêsu trải qua tất cả những điều đó.  Thời gian hành động đã qua.  Người không nói nữa, Người không kháng cự; Người không trách mắng hay khuyên răn.  Người đã trở thành một nạn nhân.  Người không còn làm gì cả, nhưng bị người ta giáng họa. Người đã bước vào cuộc Thương Khó của Người.  Người biết rằng hầu hết đời sống con người là khổ đau.  Người ta bị bỏ đói, bắt cóc, tra tấn, và thảm sát.  Người ta bị bỏ tù, đuổi ra khỏi nhà, phân ly với gia đình, quẳng vào trại tập trung, và dùng làm nô lệ lao động.  Họ không hiểu tại sao.  Họ không hay biết gì cả về nguyên nhân của chúng. Không ai giải thích cho họ.  Họ nghèo khổ.  Khi Chúa Giêsu cảm thấy cây thập giá đặt lên vai Người, Người cảm thấy niềm đau của tất cả những thế hệ tương lai đang đè nặng trên Người.

Tôi cảm thấy rất bất lực.  Tôi muốn làm một cái gì.  Tôi phải làm một điều gì.  Ít ra tôi phải lên tiếng chống lại bạo tàn và sự thiếu dinh dưỡng, sự đàn áp và bóc lột.  Hơn nữa, tôi phải làm mọi cách để làm giảm sự đau khổ mà tôi chứng kiến.

Nhưng còn một công tác khó khăn hơn nữa là vác thập giá của chính tôi, thập giá của cô đơn và cô lập, thập giá của sự tẩy chay mà tôi kinh nghiệm, thập giá của sự buồn phiền và khó chịu trong lòng.  Bao lâu tôi khắc khoải về sự đau đớn của tha nhân xa vời mà không thể gánh vác sự đau đớn đặc biệt dành cho tôi, tôi có thể trở thành một người hiếu động, hoặc thành người bảo vệ nhân loại, nhưng chưa phải là môn đồ Chúa Giêsu.  Sự liên kết của tôi với những người bị áp bức được thể hiện qua việc tôi sẵn sàng chịu đựng sự cô đơn của tôi.  Nó là một gánh nặng mà đôi khi tôi cố tránh né bằng cách lo lắng cho tha nhân.  Nhưng Chúa Giêsu bảo: “Hãy đến cùng Ta, tất cả những ai lao nhọc và gánh nặng, và Ta sẽ cho nghỉ ngơi” (Mat 11:28).  Chúa Giêsu vác thập giá của Người cho tất cả những ai đang đau khổ.  Chúng ta đồng cảnh ngộ.  Mỗi người chúng ta phải vác thập giá mình và theo Người, và như thế chúng ta nhận ra rằng chúng ta thật sự là anh chị em, những người học cùng Người là Ðấng khiêm nhường và hiền lành trong lòng.  Một nhân loại mới chỉ được nảy sinh nhờ phương thế này mà thôi.

 

Nơi Thứ Ba:

Chúa Giêsu Ngã Xuống Ðất Lần Thứ Nhất.

Trừ khi các con trở nên giống như trẻ nhỏ, các con sẽ không vào được Nước Trời.

Mt 18:3

Chúa Giêsu ngã dưới cây thập giá của Người.  Người tiếp tục ngã.  Chúa Giêsu không phải là một anh hùng cái thế trải qua đau khổ với một quyết tâm mãnh liệt và một ý chí sắt đá.  Không, Người là Ðấng đã sinh ra như con Thiên Chúa và con của Mẹ Maria, được các mục đồng và các đạo sĩ kính thờ, không bao giờ trở thành một lãnh tụ gan lỳ, kiêu hùng, muốn dẫn đưa nhân loại đến vinh thắng quyền lực tối tăm.  Khi Người trưởng thành, Người tự hạ bằng cách cùng với các hối nhân lãnh nhận phép rửa ở sông Giođăng.  Chính lúc đó Người nghe tiếng nói thấu suốt tai Người: “Này là Con Ta Yêu Dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”(Mt 3:17).  Tiếng nói này dẫn đưa Người qua cuộc sống và che chở Người khỏi những đắng cay, ghen tương, phẫn uất, và thù hận.   Người luôn luôn vẫn là một em bé và nói với những kẻ theo Người rằng: “Trừ khi các con trở nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không vào được Nước Trời” (Mt 18:3).  Chúa Giêsu là một em bé vô tội gục ngã dưới gánh nặng thập giá của thống khổ, bất lực, yếu đuối, và rất dễ bị tổn thương của nhân loại.  Nhưng nhờ đó chúng ta có thể chạm đến mầu nhiệm của Trái Tim Nhân Từ của Thiên Chúa đang ôm ấp tất cả con cái chung quanh cũng như trong chúng ta.

Tôi biết là tôi là một em bé, một đứa bé mà, qua những thành qủa và thắng lợi, vẫn tiếp tục kêu la để được an toàn  và được yêu vô điều kiện.  Tôi cũng biết rằng mất liên lạc với em bé của tôi là mất liên lạc với Chúa Giêsu và tất cả những ai thuộc về Người.  Mỗi khi tôi chạm đến em bé của chính tôi, tôi chạm đến sự bất lực của tôi và nỗi lo sợ bị bơ vơ không ai cho tôi một nơi ẩn náu an toàn.  Chúa Giêsu ngã dưới cây thập giá cho phép tôi lấy lại em bé của tôi, đặt tôi ở chỗ mà tôi không kiểm soát được và làm cho tôi khẩn thiết được nâng lên và được tái bảo đảm..  Những em bé bị bỏ rơi trong thế gian đang ở trong tôi.  Chúa Giêsu bảo tôi đừng sợ đối diện với chúng trong lòng tôi và cùng chịu đau khổ với chúng.  Người muốn tôi khám phá ra rằng vượt trên mọi cảm giác bị khai trừ và bỏ rơi lại có tình yêu, tình yêu thật sự, tình yêu vĩnh cửu, tình yêu đến từ Thiên Chúa là Ðấng làm người và sẽ không bao giờ để cho con cái Người bơ vơ một mình.

 

Nơi Thứ Bốn:

Ðức Mẹ Gặp Chúa Giêsu Vác Thánh Giá

Con Ðường Ðau Thương là Ðường Sự Sống

Ga 19:25

Chúa Giêsu gặp Mẹ Người khi Người bị dẫn đi hành quyết.  Ðức Mẹ Maria đã không ngất xỉu; Mẹ không điên cuồng gào thét hoặc thất vọng; Mẹ không cố ngăn cản quân lính để chúng đừng hành hạ Người thêm.  Mẹ nhìn thẳng vào mắt Người và biết rằng đây là giờ của Người.  Trong tiệc cưới Cana, khi Mẹ xin Người giúp đỡ, Người đã đặt một khoảng cách giữa Mẹ và Người và nói: “Thưa Bà… giờ con chưa đến” (Ga 2:4).  Sự đau khổ của Mẹ đã làm cho Mẹ không những trở thành Mẹ Chúa Giêsu, mà cũng trở thành Mẹ của tất cả con cái đau khổ của Mẹ.  Mẹ đứng dưới cây thập giá; Mẹ đứng bất động ở đó và nhìn thẳng vào mắt những người đang muốn đáp lại sự đau khổ của họ bằng hận thù, trả đũa, hay thất vọng.  Sự đau đớn của Mẹ đã làm cho Trái Tim Mẹ trở nên một Trái Tim ôm ấp tất cả con cái Mẹ, dù họ ở bất cứ đâu, và đem đến cho họ niềm an ủi và nâng đỡ của Mẹ hiền.

Khi tôi nhìn lên Mẹ Maria và tất cả những người mẹ đang đau khổ, trong đáy lòng tôi nảy ra một câu hỏi: “Bạn có thể còn đứng vững trong sự đau khổ của bạn và tiếp tục tha thứ trong tâm hồn bạn không?”

Tôi bị thương, bị thương bởi cảm nghiệm bị phản bội và bỏ rơi, bị thương bởi không bằng lòng với chính mình, bị thương vì tôi không có khả năng vươn tay ra để lấy đi những đau khổ của những người chung quanh tôi, dù gần hay xa.  Nhưng tôi luôn muốn chạy trốn tất cả - để lẩn trốn trong phàn nàn hoặc lên án, để trở nên nạn nhân của thất vọng hay là một tiên tri diệt vong.  Lời mời gọi thực sự của tôi là nhìn thẳng vào đôi mắt của Chúa Giêsu đang chịu khổ nạn mà không bị nghiền nát bởi sự đau thương của Người, nhưng để đón nhận sự đau thương đó vào trong tim tôi và để nó sinh hoa trái của lòng nhân từ.  Tôi biết rằng càng sống lâu tôi càng chứng kiến nhiều đau khổ, và càng thấy nhiều đau khổ thì tôi càng phải sống trong đau khổ.  Nhưng chính sự đau khổ cùng cực của con người lại liên kết trái tim bị thương của tôi với trái tim nhân loại.  Hy vọng được che giấu trong chính mầu nhiệm của sự kết hợp trong đau khổ này.

Con đường của Chúa Giêsu là con đường đi vào tận đáy lòng sự đau khổ của con người.  Ðó là con đường mà Ðức Mẹ Maria đã chọn và nhiều Maria khác còn tiếp tục chọn.  Chiến tranh đến, rồi đi, rồi lại trở lại. Áp bức đến, rồi đi, rồi lại trở lại.  Lòng tôi biết điều này ngay cả khi tôi làm đủ mọi cách để chống lại những kẻ đàn áp và tranh đấu cho hoà bình.  Giữa tất cả những điều ấy, tôi phải tiếp tục chọn con đường hẹp, con đường đau khổ, con đường hy vọng.  Những người phụ nữ đau khổ của thế giới này chính là những người dẫn đường cho tôi.

 

Nơi Thứ Năm:

Ông Simong Vác Thánh Giá Ðỡ Đức Chúa Giêsu

Sự trưởng thành tinh thần là lòng sẵn sàng để người khác hướng dẫn và giúp đỡ tôi.

Ga  21:18

Khi Chúa Giêsu vác thập giá của Người lên Núi Sọ, quân lính gặp một người quê thành Cyrênê, tên là Simong, và chúng bắt ông này vác thập giá vì nó đã trở nên quá nặng nề cho Chúa Giêsu vác một mình.  Chúa Giêsu không thể vác nó đến nơi Người sẽ bị hành quyết và cần sự giúp đỡ của một kẻ xa lạ để hoàn thành sứ mạng của Người.

Vì quá yếu mệt, vì quá tổn thương, Chúa Giêsu cần chúng ta để chu toàn sứ vụ của Người.  Người cần người chúng ta vác thập giá với Người và cho Người.  Người đến với chúng ta để chỉ cho chúng ta đường về nhà Cha Người.  Người đến để ban cho chúng ta nơi cư ngụ mới, cho chúng ta một cảm giác thân thuộc mới, chỉ cho chúng ta sự bảo đảm chân thật.  Nhưng Người không thể làm một mình.  Công cuộc Cứu Chuộc khó khăn và đau đớn là công việc mà trong đó Thiên Chúa trở nên lệ thuộc vào con người.

Ðúng, Thiên Chúa có đầy quyền năng, vinh quang, và uy phong.  Nhưng Thiên Chúa chọn sống giữa chúng ta như một người trong chúng ta – như một con người lệ thuộc vào người khác.  Người bảo các môn đệ muốn dùng gươm bảo vệ Người rằng: “Hãy sỏ gươm vào vỏ… Hay các con nghĩ rằng Thầy không thể xin Cha Thầy, Ngài có thể gửi ngay hơn mười hai đạo binh thiên sứ đến bảo vệ Thầy sao?  Nhưng như vậy, làm sao Kinh Thánh được nên trọn rằng đây là cách thế phải xảy đến?” (Mt. 26:52-54)

Con đường của Chúa Giêsu là con đường bất lực, của lệ thuộc, của khổ nạn.  Người, là Ðấng đã trở nên một trẻ nhỏ, lệ thuộc vào tình yêu và sự chăm sóc của Ðức Mẹ Maria và Thánh Giuse, và nhiều người khác, hoàn thành cuộc hành trình dương thế của Người trong sự lệ thuộc hoàn toàn.  Người trở nên một Thiên Chúa đợi chờ.  Người chờ đợi, thắc mắc rằng kẻ khác sẽ làm gì cho Người.  Người sẽ bị bội phản hay được công nhận?  Bị xử tử trong bỏ rơi hay được người ta đi theo?  Người sẽ bị đóng đinh trên thập giá mà không có một môn đồ nào gần Người hay sẽ có ai giúp Người vác thập giá không?  Ðể Chúa Giêsu trở thành Ðấng Cứu Chuộc của thế gian, Người cần có người sẵn lòng cùng vác thập giá với Người.  Có người tự nguyện vác; có người bị vác; nhưng khi họ cảm nhận sức nặng của cây gỗ, họ khám phá ra rằng thập giá này là một ghánh nhẹ nhàng, một ách dễ dàng dẫn đến Nhà Cha.

Tôi cảm thấy trong tôi một ước ao mãnh liệt được sống tự lập.  Thực ra, xã hội của tôi ca ngợi những người tự lập tự làm chủ tương lai của họ, tự đặt ra mục tiêu của họ, thực hiện được những nguyện vọng của họ, và xây dựng vương quốc riêng của họ.  Rất khó cho tôi thật sự tin rằng sự trưởng thành tâm linh là sự tự nguyện để cho người khác hướng dẫn tôi và “dẫn tôi đến cả những nơi tôi không muốn đến” (Ga 21:18). Và hơn nữa khi tôi muốn thoát ra khỏi nhu cầu tự túc giả tạo của tôi và dám xin giúp đỡ, một cộng đoàn mới được thành hình - một hội ái hữu của những người yếu đuối - mạnh tin rằng hợp cùng nhau họ có thể thành một dân tộc hy vọng cho một thế giới đổ vỡ.

Ông Simong thành Cyrênê khám phá ra một quan hệ mới.  Bất cứ ai tôi để cho chạm đến tôi trong sự yếu đuối của tôi và giúp tôi trung thành với cuộc hành trình về Nhà Chúa của tôi sẽ nhận ra rằng họ có một món quà để cho đi mà có thể đã cất giấu từ lâu.  Việc nhận sự giúp đỡ, nâng đỡ, hướng dẫn, âu yếm, và săn sóc có thể là một lời mời gọi to lớn hơn là cho đi tất cả những điều trên, vì trong khi lãnh nhận, tôi để lộ món quà của người cho và một cuộc chung sống mới có thể bắt đầu… Ðó là lời mời gọi của Chúa Giêsu đến với tất cả mọi người, một lời mời gọi thường đến với chúng ta qua những người nghèo khó.

 

Nơi Thứ Sáu

Ðức Chúa Giêsu Gặp Bà Verônica

Lạy Chúa, khi nào con sẽ được no thỏa những ước vọng thầm kín nhất trong tim con.

(Is 50:6-7)

Bà Verônica đã ở cùng Chúa Giêsu khi Người giảng dạy, chữa người bệnh tật, và công bố Nước Trời.  Chúa Giêsu đã trở nên trọng tâm của đời bà.  Bây giờ bà thấy Người bị lôi kéo một cách tàn nhẫn khỏi bà.  Bà đầy đau khổ và lo âu và muốn làm một cái gì.  Khi thấy Người đến gần, bà rẽ đám đông và lấy khăn lau mặt đầy mồ hôi và máu của Người.  Chúa Giêsu trả lời cử chỉ yêu thương và đau buồn này bằng cách để lại thánh nhan của Người – khuôn mặt của một nhân loại méo mó.  Dung nhan của Chúa Giêsu là khuôn mặt của những người đau khổ vì phân ly, kỳ thị, và bị tẩy chay.  Bà Verônica là một phụ nữ của đau buồn, một niềm đau đâm thấu con tim với một nỗi đau đớn khôn lường; một nỗi đau đớn mà phụ nữ thuộc nhiều quốc gia, chủng tộc, và điều kiện xã hội, trên khắp thế giới đang phải chịu đựng.  Câu hỏi nhức nhối là: “Tại sao chúng lại bắt con tôi, chồng tôi, bạn tôi?” có thể được nghe như là một tiếng la hét vang rền trên mọi xó góc của thế giới chúng ta.

Tôi cũng có thể nghe tiếng la hét này tận đáy lòng tôi không?  Các bức tường của phòng tôi đầy hình ảnh của bạn bè và thân nhân cùng với ảnh Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và các Thánh, nhưng tận đáy lòng tôi có một niềm đau vô tả - niềm đau vì sự vắng mặt.  Người mà tôi rất muốn ở với tôi thì lại xa tôi, và ngay cả nếu chúng tôi có ở với nhau, chúng tôi cũng không thể thấu suốt nhu cầu thầm kín của nhau.

Cái đau của bà Verônica cũng là cái đau của tôi.  Tôi quá khát khao cảm thông, một cảm giác lệ thuộc sâu sa, sự mật thiết, nhưng đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai, tôi luôn có và lại có cảm nghiệm của sự vắng mặt, thiếu cảm thông, và cô lập.  Hình như có một lưỡi gươm đâm qua tất cả những liên hệ và tăng thêm đau khổ cho mọi tình thân.  Những bức hình trên tường của tôi tỏ ra sự khát khao cảm thông của tôi, nhưng khi tôi nhìn ngắm chúng với tình yêu lớn lao, tôi cảm thấy một niềm đau trào dâng trong tôi: “Tại sao tôi lại không thể nói với anh ta?Tại sao cô ấy không bao giờ viết cho tôi?  Tại sao họ lại lià trần trước khi chúng mình làm hoà với nhau?  Tại sao chúng ta đã không cảm thấy an toàn khi sống với nhau?”  Và khi tôi thắp lên một ngọn nến trước ảnh Chúa Giêsu của tôi và nhìn vào sự vô tận của mắt Người, tôi nói: “Lạy Chúa, khi nào, khi nào Chúa sẽ đến và làm no thỏa sự khao khát chìm sâu trong tim con?”  Lòng khao khát cảm thông lại bùng lên mỗi khi tôi thấy cái khăn của bà Verônica với dung nhan Ðức Kitô và khuôn mặt của tất cả những người tôi yêu mến đang ở trên đó… và càng thêm tuổi niềm đau của tôi càng thêm sâu.

Tôi biết rằng tôi phải mất mạng sống tôi để tìm thấy nó - phải bỏ đi những bức hình của tôi và gặp lại con người thật - để chết cho những kỷ niệm đầy tình cảm và tin tưởng vào sự cảm thông mới sẽ phát sinh vượt trên trí tưởng tượng của tôi.  Nhưng làm sao tôi có thể tin tưởng vào một đời sống mới khi tôi nhìn thấy cuộc đời đầy máu và mồ hôi của Chúa Giêsu và của những người đang chịu trong lao tù, trại tạm cư, và phòng tra tấn?  Chúa Giêsu nhìn tôi và đóng ấn vào tim tôi với dung nhan của Người. Tôi sẽ mãi mãi tìm kiếm, luôn chờ đợi, và luôn hy vọng.  Dung nhan đau khổ của Người không cho phép tôi thất vọng.  Sự đau buồn của tôi là một cơn đói, sự cô đơn của tôi là một cơn khát.  Khi chúng ta gặp nhau, chúng ta biết rằng tình yêu đã làm chúng ta đau khổ, là hạt giống của một cuộc sống mà trong đó đau khổ không còn nữa.

 

Nơi Thứ Bảy

Chúa Giêsu Ngã Xuống Ðất Lần Thứ Hai

Cơn cám dỗ làm ta thất vọng thì mạnh khi chúng ta quá mệt mỏi đẻ tiếp tục hành trình

TV 6:7

Khi Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai, thì không phải vì thập giá Người vác quá nặng, nhưng vì toàn thân Người đã hoàn toàn kiệt quệ.  Người không còn sức lực.  Những năm tháng làm việc ờ quê quán Người, thời gian rao giảng, đi từ thành nọ đến thành kia với các môn đệ, theo sau bởi những đám đông, tất cả đã làm thân thể Người bị hao tổn nặng nề.  Và gần đây, Người phải chịu sự chống đối mỗi ngày một tăng về lời kêu gọi ăn năn hối cải của Người: những đe dọa đến sinh mạng Ngưởi, sự đào ngũ của nhiều môn đồ, sự phản bội của Giuđa và sự chối bỏ của Phêrô, những trận đòn, những lời nhạo báng, sự hoàn toàn thiếu hiểu biết của vua Hêrôđê và quan Philatô, những tiếng la gào chống đối của đám đông.

Thật là quá sức cho một người phải chịu đựng.   Vì thế nên Người vấp và ngã xuống.  Giấc mơ khởi đầu một vương quốc của tình yêu và thứ tha bây giờ ở đâu?  Thọat tiên hình như nhiều người chia sẻ viễn tượng này của Người.  Bây giờ Người hoàn toàn cô đơn, thắc mắc tại sao Người không còn được nghe tiếng nói với Người ờ sông Giođăng và trên núi Taborê.  Người đã làm điều gì sai lỗi, hay là Người là nạn nhân của một quyền lực ngoài vòng kiểm soát của Người?

Chúa Giêsu biết quá rõ giây phút đó khi Người không muốn tiếp tục đi, khi Người muốn bỏ cuộc và để thất vọng đưa đến đường diệt vong.  Không phải chỉ ở những vùng nghèo đói của các quốc gia đang mở mang mà dân chúng mới có những cảm xúc này.   Những người giầu có và sung túc cũng dễ bị thất vọng như những người nghèo khổ và cơ cực.  Từ những những cuộc vật lộn của tôi, tôi biết sự thất vọng trong nội tâm của linh hồn một người.  Tôi cũng thế, ngay cả khi tình trạng kinh tế tương lai của tôi xem ra bảo đảm, cũng có thể bất ngờ bị khuất phục bởi những cảm giác bối rối về tội lỗi và ngượng ngùng, sợ hãi và thất vọng.  Và khi tôi nhìn chung quanh tôi, vào thẳng mắt của những người sống lâu và chăm chỉ làm việc, tôi thường thấy cùng một câu hỏi này: “Ðời sống tôi có giá trị gì không?”  Từ đó nảy sinh một sự mệt mỏi sâu sa trong tâm hồn đến nỗi xem ra không thể nào tiếp tục được nữa.  Tất cả coi như là một thất bại trầm trọng.  Mọi cố gắng của chúng ta xem ra thành mây khói.  Giấc mộng bị vỡ tan tành, hy vọng bị lung lay tận gốc, và ước vọng bị rách nát tả tơi.  Sự ngã lòng xâm chiếm và không còn chi xem ra quan trọng nữa.

Chúa Giêsu cũng đồng chịu cảnh ngộ này với chúng ta khi Người ngã xuống.  Bây giờ Người kêu gọi chúng ta hãy tin tưởng rằng việc Người và chúng ta ngã là một chặng thực sự của đường thập giá.  Có lẽ chỉ có một việc chúng ta có thể làm khi ngã là nhớ rằng Chúa Giêsu đã ngã và bây giờ đang cùng ngã với chúng ta.  Việc nhớ lại này có thể là một gợi ý xa xôi đầu tiên rằng vẫn còn hy vọng.  Và hy vọng này, bằng một đường lối mới, có thể kết hợp thế giới của những người thất vọng khắp nơi lại với nhau, và chỉ cho chúng ta hướng đi đến một xã hội công bình và bác ái hơn.

 

Nơi Thứ Tám

Chúa Giêsu An Ủi Phụ Nữ Thành Giêrusalem

Nước mắt của chúng ta cho thấy tình trạng tan vỡ đau khổ của con người

(Ga 11:35)

Khi Chúa Giêsu bị dẫn đi hành quyết, các phụ nữ khóc lóc và xót xa cho Người.  Những người phụ nữ này quen khóc than cho những tội nhân bị kết án và cho họ thuốc giảm đau.  Họ là những người khóc than chính thức, và sự khóc than của họ được coi như là một việc làm thương người.  Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: “Ðừng khóc cho tôi; mà tốt hơn hãy khóc cho các bà và con cháu các bà” (Lc 23:28).  Chúa Giêsu nói đến việc tàn phá thành Giêrusalem và tất cả các cuộc chiến tranh và bạo động sẽ xảy ra cho nhân loại: “Ngày đó chắc chắn sẽ đến, khi người ta sẽ nói: ‘Phúc thay cho những người son sẻ, những lòng không bao giờ sinh con, những vú không bao giờ cho con bú’; rồi họ sẽ nói với núi non, ‘Hãy rớt trên chúng tôi’,  với các đồi, ‘Hãy phủ lên chúng tôi’, vì nếu đây là những gì người ta làm cho cây xanh, thì họ sẽ làm gì khi cây đã khô héo?” (Lc 23:29-31)

Nếu chúng ta muốn khóc than cho Chúa Giêsu, chúng ta phải khóc than cho nhân loại khổ đau mà Chúa Giêsu đã xuống để chữa lành.  Nếu chúng ta thật sự đau buồn vì những khổ đau Người đã chịu, chúng ta hãy bao gồm tất cả những người lớn và trẻ em đang đau khổ trong thế giới hiện nay vào sự đau buồn của chúng ta.  Nếu chúng ta khóc lóc vì cái chết của Ðấng Thánh thành Nadarét, thì nước mắt của chúng ta phải tuônđến hằng triệu người vô tội đã chịu đau đớn qua lịch sử lâu dài của nhân loại.

Khóc lóc và buồn khổ bị nhiều người coi là dấu hiệu của sự yếu đuối.  Họ nói rằng khóc lóc không giúp gì được ai.  Chỉ cần hành động mà thôi.  Nhưng Chúa Giêsu lại khóc cho thành Giêrusalem (Lc 19:41-42); Người cũng khóc khi người nghe rằng bạn Người là Ladarô đã chết.  Những giọt nước mắt của chúng ta tỏ ra thân phận đau khổ và nát tan của con người; chúng nối kết chúng ta chặt chẽ với sự đau khổ không thể tránh được của loài người; chúng mang lại một bối cảnh nhẹ nhàng cho các hành động nhân ái.

Nếu chúng ta không thể thú nhận giới hạn, tội lỗi, và bản tính hay chết của chính mình, thì hành động có ý tốt để làm cho thế giới nên tốt hơn sẽ đem lại cho chúng ta hậu qủa trái ngược và trở thành biểu lộ của sự tức giận và thất vọng vô định hướng.  Những giọt nước mắt của chúng ta có thể dẫn chúng ta đến Thánh Tâm của Chúa Giêsu là Ðấng đã khóc cho thế gian.  Khi chúng ta cùng khóc với Người, chúng ta được dẫn đến cùng Thánh Tâm Người và tìm thấy ở đó câu trả lời đích thực nhất cho sự mất mát của chúng ta.  Những giọt lệ đổ ra bởi hàng triệu người đang khóc than cho những người đã chết của họ trên khắp thế giới có thể làm cho đất đai chúng ta thêm màu mỡ với hoa qủa của lòng trắc ẩn, thứ tha, dịu dàng, và việc làm chữa lành.  Cũng vậy, chúng ta phải khóc và như thế mỗi ngày một trở nên một người khiêm nhường hơn.

 

Nơi Thứ Chín

Chúa Giêsu Ngã Xuống Ðất Lần Thứ Ba

Bàn tay bất lực của Thiên Chúa phải giơ lên để được giúp đỡ

Is 53:8-20

Khi Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ ba, Người chất chứa trong thân thể Người tất cả sự cô đơn của một nhân loại tuyệt vọng.  Người không đứng lên được nữa nếu không ai giúp Người.  Nhưng không ai giơ tay ra giúp Người và nâng Người dậy.  Thay vào đó, người ta lại đánh vào bàn tay rộng mở của Người và dùng những bàn tay hung bạo mà kéo Người đứng lên.  Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm Người, ngã xuống để chúng ta có thể cúi xuống trên Người và tỏ cho Người tình yêu và lòng trắc ẩn của chúng ta, nhưng chúng ta quá bận rộn với những chuyện khác nên không hay biết.  Thiên Chúa, mà tay Người nắn thành vũ trụ, ban hình dáng cho Adong và Evà, đã chạm đến tất cả mọi người đau khổ với sự dịu dàng, và Ðấng nâng đỡ mọi sự trong tình thương, trở nên một con người với bàn tay con người để xin bàn tay người ta giúp đỡ.  Nhưng đôi tay ấy vẫn còn mở ra và đã bị đâm thủng bởi những cây đinh nhọn.

Từ khi tôi biết bàn tay của Thiên Chúa – không phải bàn tay uy quyền điều khiển dòng lịch sử, nhưng là bàn tay bất lực van xin được nắm lấy bởi một bàn tay chăm sóc của con người – tôi đã nhìn bàn tay tôi cách khác.  Dần dần, tôi đã thấy thấy bàn tay bất lực của Thiên Chúa giơ ra cho tôi khắp nơi trên thế giới, và, càng thấy rõ điều ấy, thì những bàn tay giang thẳng đó lại càng xem ra gần gũi hơn.  Những bàn tay của người nghèo đang xin thức ăn, những bàn tay của những người cô đơn kêu xin được sự hiện diện đơn giản, những bàn tay của những trẻ em xin được nâng lên và ấp ủ, những bàn tay của những bệnh nhân hy vọng được người khác chạm đến, những bàn tay của những người bất tài muốn được huấn luyện - Tất cả những bàn tay này là những bàn tay của Chúa Giêsu bị ngã đang chờ đợi người khác đến và cho Người những bàn tay của họ.

Trong tôi luôn có sự cám dỗ để nghĩ về những bàn tay ăn xin của dân chúng ở Calcutta, Cairô, hay New York, xa, thật xa, mà không thấy những bàn tay đang mở ra, giơ lên ngay nơi tôi đang ở.  Mỗi đêm tôi đi nghỉ và nhìn vào hai bàn tay tôi.  Và tôi phải hỏi chúng: “Các anh có giơ ra cho một trong những bàn tay mở ra chung quang các anh và đem đến cho họ một chút bình an, hy vọng, can đảm, và tin tưởng không?”  Một cách nào đó, tôi cảm thấy rằng tất cả những bàn tay con người van xin sự giúp đỡ thuộc về những bàn tay của nhân loại sa ngã của chúng ta, và rằng khi chúng ta giơ tay ra và chạm đến chúng, chúng ta tham gia vào việc chữa lành toàn thể nhân loại.

Việc Chúa Giêsu ngã xuống và kiếm tìm sự giúp đỡ để đứng lên hầu làm tròn sứ vụ của Người, làm cho chúng ta có thể có khả năng chạm đến Thiên Chúa và toàn thể nhân loại trong mọi bàn tay con người và cảm nghiệm ở đó ân sủng thật của sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa ở giữa chúng ta.

 

Nơi Thứ Mười

Chúa Giêsu Bị Lột Trần

Tôi phải ôm lấy sự nghèo nàn của chính tôi – và cái nghèo của toàn thể nhân loại.

Is 53:1-3

Chúa Giêsu bị lột hết áo quần.  Quân lính rút thăm để quyết định xem ai được áo của Người (Xem Ga 19:24).  Người không còn gì trên thân.  Ngưởi, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, trưởng tử của mọi tạo vật, trong Người mọi vật được tạo thành trên trời và dưới đất, mọi vật vô hình và hữu hình, mọi quyền thần, qủan thần, lãnh thần, và quyền lực – chính Người, đã bị lột hết quyền hành và nhân phẩm, và bị phơi bày ra cho thế gian trong sự tổn thương hoàn toàn.

Ờ đây, mầu nhiệm cao trọng nhất của mọi thời đại được tỏ ra cho chúng ta: Thiên Chúa đã chọn để biểu lộ thiên tính vinh quang cho chúng ta trong nhục nhằn.  Nơi mà mọi sự tốt đẹp đều mất, mọi lời hùng biện đều im lặng, mọi vinh hoa đều bị cất đi, và mọi sự kính phục đều bị rút lại, đó chính là điều mà Thiên Chúa đã chọn để bày tỏ tình yêu vô điều kiện cho chúng ta.  “Nhiều người kinh hoàng khi thấy Người - Người bị biến dạng thê thảm đến nỗi không còn hình dạng một người nữa - vậy mà nhiều dân nước kinh hãi và vua chúa lặng câm trước mặt Người… Người không có duyên để hấp dẫn chúng ta, không có sắc đẹp để để chiếm đoạt trái tim của chúng ta, Người bị khinh chê, là người thấp hèn nhất trong mọi người, một người đầy tang thương, quen thuộc với đau khổ, một người mà nếu thấy như thế chúng ta cũng ngoảnh mặt đi, một người bị khinh bỉ mà chúng ta không chút quan tâm đến.” (Is 52:14-15; 53:2-3).

Chúa Giêsu gánh chịu sự đau khổ của chúng ta.  Thân xác trần truồng của Người tỏ ta cho chúng ta sự mất nhân phẩm lớn lao mà con người phải gánh chịu trên khắp thế giới, ở mọi nơi, và qua mọi thời đại.  Tôi thường nghĩ rằng cuộc đời là một cuộc hành trình đi lên đỉnh núi nơi mà cuối cùng tôi sẽ thấy vẻ đẹp toàn vẹn của cảnh vật chung quanh tôi, và ở đó tôi sẽ cảm nghiệm là tôi làm chủ được mọi giác quan của tôi.  Nhưng Chúa Giêsu đã chỉ cho tôi một hướng khác.  Cuộc đời là một lời mời gọi mỗi ngày một quên đi những ước muốn thành công và chiến thắng, quên đi nhu cầu được nắm quyền hành, để chết cho ảo ảnh của sự vĩ đại.  Niềm vui và sự bình yên, mà Chúa Giêsu ban cho, được che dấu trong đường đi xuống của thập giá.  Ở đó có hy vọng, chiến thắng, và đời sống mới, nhưng chúng ta chỉ nhận được khi chúng ta mất tất cả.  “Ai mất mạng sống mình sẽ được nó” (Lc 9:24).

Tôi không nên sợ bị mất mát, hay sợ cho những người bị mất mát quá nhiều, nếu không phải là tất cả.  Chúa Giêsu bị lột trần truồng để chúng ta dám ôm ấp sự nghèo nàn của chúng ta và sự nghèo nàn của bản tính nhân loại của chúng ta.  Nhờ nhìn vào con người nghèo nàn của chính chúng ta, và sự nghèo nàn của đồng loại chúng ta, chúng ta lại khám phá ra lòng trắc ẩn bao la mà Thiên Chúa tỏ ra cho chúng ta.  Và ở đó chúng ta sẽ biết làm thế nào để cho đi và tha thứ, làm thế nào để săn sóc và để chữa lành, làm thế nào để ra tay giúp đỡ và tạo dựng một cộng đồng tình yêu.  Trong sự đoàn kết của nghèo khó, chúng ta tìm thấy con đường để gần gũi nhau hơn, và cùng vui mừng xác nhận bản tính nhân loại chung của chúng ta.

 

Nơi Thứ Mười Một

Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðanh vào Thánh Giá

Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta tin tưởng rằng chết không phải là hết.

Ga 12:24

Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên cây thập giá, và Người từ trần trong ba giờ đồng hồ.  Người chết giữa hai người.  Một người nói với người kia: “Chúng ta phải đền trả cho việc chúng ta làm.  Nhưng người này đã không làm điều gì sai lỗi cả” (Lc 23:41).   Chúa Giêsu đã sống cái chết của Người cho người khác tất cả.  Sự kiệt quệ hoàn toàn của thân thể Người, sự bỏ rơi của bạn hữu Người, và ngay cả Thiên Chúa của Người, tất cả trở nên quà tặng hiến thân.  Và khi Người bị treo lên cho chết trong sự bất lực hoàn toàn, bị đóng đinh vào cây gỗ, Người không cay đắng, không muốn trả thù, không bất bình.  Không có gì để bám víu vào.  Cho đi tất cả.  “Trừ khi hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn chỉ là một hạt lúa, nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ trổ sinh mùa lúa dồi dào” (Ga 12:24).  Bằng việc bị hiến cho tha nhân, cuộc đời của Người đã nảy sinh hoa trái.  Chúa Giêsu, một người hoàn toàn vô tội, một người không có tội, không có lỗi, không hổ thẹn, chết một cái chết đau đớn thảm thiết, để rồi cái chết không còn bị người ta coi thường, nhưng trở nên cổng dẫn đến sự sống và nguồn của một sự cảm thông mới.

Khi chúng ta nhìn vào Chúa Giêsu chịu chết, chúng ta thấy thế giới đang chết.  Chúa Giêsu Ðấng ờ trên thập giá đã kéo mọi người lên với Người, đã chết cả triệu cái chết.  Người không những chỉ chết cái chết của người bị khai trừ, bị cô đơn, và của tội nhân, nhưng cả cái chết của người cao sang, quyền thế, của người danh tiếng và bình dân.  Trên hết, Người chết cái chết của tất cả những người đơn giản, là những người sống cuộc đời bình dị rồi già đi và mệt nhọc, và tin tưởng rằng bằng cách này hay cách khác cuộc đời của họ không trở nên vô ích.

Tất cả chúng ta đều phải chết.  Và tất cả chúng ta sẽ chết một mình.  Không ai có thể đi chung với chúng ta trong cuộc hành trình cuối cùng này.  Chúng ta phải quên đi những gì hầu như là của chúng ta, và tin tưởng rằng chúng ta đã không sống vô ích.  Bằng cách này hay cách khác, giờ chết là giờ phút cao cả nhất của con người, là lúc mà chúng ta được mời gọi cho đi tất cả.  Cách chúng ta chết không những chỉ liên quan đến cách chúng ta đã sống, mà còn liên quan đến cách những người đến sau ta sẽ sống.  Cái chết của Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy rằng chúng ta không phải sống như là sự chết không phải là cái gì không xảy ra cho tất cả mọi người chúng ta.  Khi tay Người giang ra giữa trời và đất, Người kêu gọi chúng ta nhìn thẳng vào cái chết và tin tưởng rằng chết không phải là hết.  Rồi chúng ta nhìn đến những người đang chết trên trần thế và đem lại cho họ niềm hy vọng; chúng ta có thể ôm thân xác đang chết của họ trong cánh tay chúng ta, và tin tưởng rằng cánh tay toàn năng hơn cánh tay chúng ta sẽ đón nhận họ và ban cho họ bình an và niềm vui mà họ hằng mong đợi.

Trong sự chết, tất cả nhân loại là một.  Và Thiên Chúa đã đi vào chính cái chết nhân loại này để ban hy vọng cho chúng ta.

 

Nơi Thứ Mười Hai

Ðức Chúa Giêsu Chịu Chết trên Cây Thánh Giá

Trong mỗi giây phút, tôi phải chọn phò  sự sống hay chống lại sự sống

TL 30:19

Chúa Giêsu đã chết.  Quyền lực của sự chết đè bẹp Người, không những chỉ bản án kinh hoàng của Philatô, sự hành hạ của quân lính Rôma, và sự đóng đanh tàn nhẫn vào thập giá, nhưng cả quyền thần và lãnh thần của thế gian này.  Quyền lực sự chết của thế gian đã tiêu diệt Người.  Nhưng cái chết của Chúa Giêsu là cái chết của Ngôi Lời “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”, và “Ðiều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Và ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không khuất phục được ánh sáng” (Ga 1:3-5).

Chúa Giêsu bị quyền lực sự chết đè bẹp, nhưng cái chết của Người lại lấy đi nọc độc của sự chết.  Với những ai tin vào Người, Người ban cho quyền trở nên con cái Thiên Chúa, nghĩa là được thông phần vào đời sống mà cái chết không còn ảnh hưởng tới.  Nhờ cái chết của Người, Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi quyền lực sự chết.  Sự tối tăm trong tâm hồn chúng ta, làm cho chúng ta hàng phục quyền lực sự chết, sự tăm tối của xã hội chúng ta, làm cho chúng ta thành nạn nhân của bạo động, chiến tranh, và tàn phá, đã bị đẩy lui bở ánh sang chiếu rọi từ Ðấng đã hiến đời mình như của lễ hoàn toàn cho Thiên Chúa của sự sống.  Thánh Phaolô nói: “Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, Ðức Kitô… đã tiêu diệt sự chết và Người đã đem ra ánh sang sự bất tử và sự sống nhờ Tin Mừng” (2 Tim 1:10).

Thật khó mà khẳng định sự sống trước sự lan tràn của quyền lực sự chết.  Mỗi khi chúng ta mở một tờ báo với những tin tức về chiến tranh, giết người, bắt cóc, tra tấn, hành hung, và vô số những thảm cảnh khác đưa đến bệnh tật và chết chóc, chúng ta đang đương đầu với một cám dỗ làm cho chúng ta tin rằng, sau cùng, sự chết sẽ thắng.  Hơn nữa, nhiều lần cái chết của Chúa Giêsu, là Ðấng Thánh, mời gọi chúng ta chọn sự sống.  Sự thách thức lớn nhất của đời sống Kitô hữu là thưa “vâng” với sự sống, ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhất, và nhiều khi tưởng là không quan trọng.  Mỗi giây phút trong cuộc đời có một sự chọn lựa để quyết định, hoặc là chọn sự sống hay là chọn chống lại sự sống.

Tôi chọn nghĩ đến một người với lòng tha thứ hay lên án?   Tôi chọn nói một lời chấp nhận hay một lời chối từ?  Tôi chọn giơ tay ra hay rút tay lại, chia sẻ hay tích trữ, nhường lại hay giữ lấy, chữa lành hay làm đau?  Ngay cả những cảm xúc thầm kín nhất trong tâm hồn chúng ta cũng lệ thuộc vào những lựa chọn này.  Tôi có thể chọn lựa trở nên bực bội hay dễ chịu, thất vọng hay hy vọng, buồn bực hay hân hoan, tức giận hay bình an.  Nhiều cảm xúc có thể đến với chúng ta như những làn sóng mà chúng ta không thể kiểm soát được.  Nhưng vẫn… có một chỗ trong chúng ta mà chúng ta có thể chọn một hướng đi và chặn đứng quyền lực của sự chết để nó không lôi kéo chúng ta mỗi ngày một sâu xuống vực thẳm của tối tăm.

Chúng ta thường sống như là những quyền lực lớn lao của tối tăm, có thể đưa chúng ta đến bờ hiểm họa nguyên tử, hoàn toàn tách biệt khỏi những gì chúng ta nghĩ và cảm thấy trong lòng chúng ta.  Sự tách biệt này là một ảo giác.  Sự quyến rũ nhỏ nhất nội tâm với sự chết và hình thức tiêu diệt con người kinh khủng nhất có liên hệ chặt chẽ với nhau.  Chúa Giêsu biết về sự liên hệ này khi trái tim Người bị đâm thâu qua, một trái tim ôm ấp những ý nghĩ thầm kín của chúng ta và những việc làmcó ảnh hưởng sâu rộng nhất của chúng ta.  Cái chết của Chúa Giêsu khắc phục tất cả mọi quyền lực sự chết, và “trả tự do cho những người đã bị giữ làm nô lệ suốt đời vì sợ cái chết” (Dt 2:15).

 

Nơi Thứ Mười Ba

Hạ Xác Chúa Giêsu xuống khỏi Thánh Giá

Nếu tôi tìm cách trốn tránh mọi đau buồn, Chẳng bao lâu tôi sẽ không còn biết yêu.

Lc 2:35

Sau khi quan Philatô biết chắc rằng Chúa Giêsu đã chết, ông trao xác Người cho ông Giuse thành Arimathea, một người có danh vọng trong Thượng Hội Ðồng “chính ông đã sống trong hy vọng được thấy Nước Thiên Chúa” (Mc 15:43).  Ông Giuse đem theo một khăn liệm, hạ xác Ðức Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá, và quấn xác Người trong khăn liệm” (Mc 15:46).  Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu cũng ở đó.  Lâu rồi, khi Mẹ để ông Simêon bế con của Mẹ trên tay, Mẹ đã nghe được lời này: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu linh hồn bà” (Lc 2:35).

Bây giờ, khi Mẹ nhận lấy thi thể của Chúa Giêsu trong cánh tay Mẹ, những lời trên đã nên trọn.  Chúa Giêsu đã chịu khổ nạn và đã chết, nhưng sự đau buồn của Ðấng đã yêu Người như một người Mẹ bây giờ trở nên một nỗi đau mà từ trước đến nay chưa từng một ai phải chịu.  Sự đau buồn của Ðức Mẹ cũng sâu như tình yêu của Mẹ.  Mẹ, là Ðấng ôm ấp Con Thiên Chúa bằng tình yêu của Mẹ, giờ đây ôm ấp toàn thể nhân loại với sự đau buồn của Mẹ.  Mẹ, là Ðấng mà tâm hồn rất trong sạch đến nỗi đáng làm nơi cư ngụ của Ðấng Cứu Ðộ toàn thế giới, bây giờ được mời gọi ghánh chịu tất cả đau khổ của nhân loại trong tâm hồn đó, và vì vậy trở nên Mẹ của mọi người. Ðức Mẹ Maria đứng dưới chân Thánh Giá; Ðức Mẹ tiếp nhận thi hài Chúa Giêsu và ôm Người trong sự cô đơn vô bờ bến của Mẹ.  Sự kết hợp chặt chẽ giữa tình yêu và sầu khổ, được thành hình khi Mẹ ôm Con Mẹ trong tay, sẽ tiếp tục tồn tại trong tất cả những ai chọn sống gần Thánh Tâm của Thiên Chúa.

Yêu thực sự là sẵn sàng lãnh nhận đau khổ.  Yêu Chúa với hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực, là phơi bày trái tim bạn ra để hứng chịu những đau buồn ghê gớm nhất mà nhân loại có thể biết đến.  Ðời sống của một Kitô hữu là một cuộc đời yêu Chúa Giêsu. “Con có yêu mến Thầy không?”  Ðó là câu hỏi mà Chúa hỏi chúng ta ba lần.  Và chúng ta thưa: “Vâng, lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa”, và Người bảo: “Con sẽ bị dẫn đến nơi mà con không muốn đến” (Ga 21:15-18).  Không bao giờ có tình yêu mà không có buồn khổ, không bao giờ có cam kết mà không có đớn đau, không bao giờ can thiệp mà không bị thiệt thòi, không bao giờ cho đi mà không mất mát, và không bao giờ thưa một lời “Xin Vâng” với sự sống mà không phải chết nhiều lần.  Khi nào chúng ta tìm cách trốn tránh đau buồn, chúng ta không thể yêu thương được.

Khi chúng ta chọn yêu thương, sẽ có rất nhiều nước mắt.  Khi sự im lặng bao trùm cây Thánh Giá và mọi sự đã hoàn tất, nỗi đau khổ của Ðức Mẹ trải rộng đến tận cùng trái đất.  Nhưng tất cả những người nhận ra nỗi đau khổ này trong chính tâm hồn họ, sẽ biết rằng đó là áo choàng của Tình Yêu Thiên Chúa, và ôm ấp nó như một mầu nhiệm thầm kín của cuộc đời.

 

Nơi Thứ Mười Bốn

Ðức Chúa Giêsu Ðược Mai Táng trong Mồ

Sự an nghỉ mê mệt của Trái Tim ban cho chúng ta niềm vui ngay cả khi đối diện với sự chết.

Lc 23:53-56

Có một sự an nghỉ mê mệt chung quanh mồ của Chúa Giêsu.  Trong ngày thứ bảy, khi đã hoàn tất công cuộc tạo dựng, Thiên Chúa nghỉ ngơi.  “Thiên Chúa chúc phúc cho ngày thứ bảy và thánh hóa nó, vì trong ngày đó Ngài nghỉ ngơi sau khi đã hoàn tất mọi công việc tạo dựng” (STK 2:3).  Trong ngày thứ bảy của tuân lễ cứu độ của chúng ta, khi Chúa Giêsu đã làm trọn tất cả mọi sự mà Ðức Chúa Cha đã truyền cho Người làm, Người nghỉ trong mồ, và những người phụ nữ mà trái tim rạn nứt của họ cũng nghỉ với Người.

Trong mọi ngày của lịch sử, ngày Thứ Bảy Tuần Thánh – ngày mà thân thể Chúa Giêsu được đặt trong mồ trong thinh lặng và tối tăm sau tảng đá lớn đã được lăn chặn cửa mồ (Mt 15:46) – là ngày cô tịch của Thiên Chúa.  Nó là ngày mà toàn thể tạo vật trông đợi trong yên nghỉ nội tâm sâu xa. Là ngày mà không lời nào được thốt ra, không gì được công bố.  Ngôi Lời của Thiên Chúa nhờ Người mà muôn vật được tạo thành đã được chôn trong bóng tối của thế gian. Thứ Bảy Tuần Thánh này là ngày im lặng nhất trong mọi ngày.  Sự im lặng này nối kết giao ước thứ nhất với giao ước thứ nhì, dân Israel với một thế giới chưa được biết đến, Ðền Thánh với sự thờ phượng mới trong Thần Khí, hiến lễ bằng máu với hiến lễ bằng bánh và rượu, Lề Luật với Tin Mừng.  Sự im lặng thần thiêng này là một sự im lặng có kết qủa nhất mà thế gian chưa hề biết đến.  Từ sự im lặng này, Lời Chúa lại được phán ra và canh tân mọi sự.

Chúng ta học được rất nhiều từ sự nghỉ ngơi trong im lặng và cô tịch của Thiên Chúa… Mặc dầu chúng ta bị vây quanh bởi những náo động của những lo lắng thế gian, chúng ta, cũng như tất cả những người than khóc, có thể nghỉ ngơi trong sự im lặng và cô quạnh của Thiên Chúa và để nó sinh hoa kết trái trong chúng ta.  Ðó là một sự nghỉ ngơi không liên quan gì đến việc không bận rộn, mặc dầu không bận rộn có thể là dấu chỉ của sự nghỉ ngơi.  Sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa là sự nghỉ ngơi mê mệt của tâm hồn, có thể tồn tại được ngay cả khi chúng ta bị bao vây bởi quyền lực sự chết.   Nó là sự nghỉ ngơi đem đến cho chúng ta niềm hy vọng rằng sự hiện hữu tiềm ẩn, đôi khi vô hình, của chúng ta sẽ có kết qủa mặc dầu chúng ta không thể nói được bằng cách nào hay khi nào.  Ðó là sự nghỉ ngơi của Ðức Tin cho phép chúng ta tiếp tục sống với một tâm hồn bình an và vui mừng, ngay cả khi sự việc xem ra chẳng khá gì hơn, ngay cả khi hoàn cảnh đau thương không được giải quyết, ngay cả khi cách mạng và chiến tranh tiếp tục làm gián đoạn nhịp sống thường nhật của chúng ta.

Tất cả những ai sống trong Thần Khí của Chúa Giêsu đều biết sự an nghỉ thần thiêng này.  Ðời sống của họ không biểu thị bằng  sự im lặng, thụ động, hay cam phận.  Ngược lại, đời sống họ được đánh dấu bằng những hành động sang tạo cho công lý và hòa bình.  Nhưng hành động này phát sinh từ sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa trong tâm hồn họ, và như thế, không bị lệ thuộc vào ám ảnh hay cưỡng lực, và đầy tin tưởng và tín thác.

Bất cứ những gì chúng ta làm hay không làm trong cuộc đời chúng ta, chúng ta vẫn cần phải kết nối với sự nghỉ ngơi của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh khi mà Chúa Giêsu bị táng trong mồ và toàn thể tạo vật mong chờ mọi sự được đổi mới.

 

Chúa Giêsu Sống Lại Từ Cõi Chết

Gánh của chúng ta thì nhẹ nhàng

Khi chúng ta sống một đức tin Phục Sinh

1 Phr 1:3-9

Những lời mới đánh tan bầu khí im lặng của Thứ Bảy Tuần Thánh và đánh động tâm hồn và trí khôn của những người đã biết và yêu mến Chúa Giêsu.  Những lời đó là: “Người đã sống lại, sống lại thật".  Những lời này không được la lên từ mái nhà hay rao truyền khắp phố phường bằng những thông tri.  Chúng được thì thầm từ tai này đến tai khác như là một mật hiệu mà chỉ những tâm hồn mong mỏi Vương Quốc của Thiên Chúa mới thực sự nghe và hiểu được, và họ đã nhận ra những dấu hiệu đầu tiên của Vương Quốc này trong lời nói và việc làm của con người thành Nazareth.

Mọi sự đều khác biệt và mọi sự đều không thay đổi cho những ai thưa “Vâng” cho tin vui được thì thầm qua mọi thời đại từ đầu này đến đầu kia của trái đất.  Cây cối vẫn là cây cối, sông ngòi vẫn là sông ngòi, núi đồi vẫn là núi đồi, và con người vẫn có thể chọn yêu thương hay sợ hãi trong tâm hồn mình.  Nhưng tất cả đã được nâng lên trong trong thân xác phục sinh của Chúa Giêsu và được đặt bên hữu Thiên Chúa.  Ðứa con hoang đàng được đặt trong vòng tay ôm ấp yêu thương của Người Cha; em bé được đặt trong vòng tay mẹ hiền, người thừa tự thật đã nhận được áo mới và nhẫn quý, và anh chị em được mời dự cùng một bàn tiệc.  Tất cả mọi người đều như nhau, và tất cả đều được đổi mới.  Khi chúng ta sống với một đức tin Phục Sinh, gánh nặng của chúng ta trở nên gánh nhẹ nhàng, và ách của chúng ta trở thành ách dễ dàng vì chúng ta đã tìm được sự nghỉ ngơi trong Trái Tim dịu hiền và khiêm nhường của Chúa Giêsu mà từ muôn thủa đã thuộc về Thiên Chúa.