Những ngày tĩnh tâm linh thao

 với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường.

 

Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la.

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8.

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc  cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở, sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ.

Được làm con Thiên Chúa:

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa.

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là  con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha.

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1) 

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng , Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là  chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “ thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma.

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều  nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình.

“ Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” ( Sách Sáng thế ký,câu 27 ) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha.

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát : “ Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4 : 6,7)

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “ Áp-ba., Cha ơi ”.

Lòng tin của con đã cứu con:

Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết:

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “ Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “ Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” ( Mc 5 : 25-34)

Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường:

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “ Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “ Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “ Ta-li-tha-kum” nghĩa là “ Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được. … người ta kinh ngạc sững sờ. ( Mc 5: 35-42)

Chúa chữa người mù:

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “ Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “ Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “ Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “ Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “ Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “ Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.( Mc 10: 46-52)

Chúa chữa người phong cùi.

Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “ Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta:  “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” ( Luca 7: 12-19) 

Hồi tâm hay tĩnh tâm  theo thánh I-Nhã.

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét. 

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói. 

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền( thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11 , 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua “các luân xa ”. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “ tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “ thiền ” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được. 

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó , lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa ”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn.

Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform)

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở : “ Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.  

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất…

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là  lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “ Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh ”

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “ transform ” sự xấu thành sự tốt. “ Ơn thánh ” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật  v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “ transform ”  nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ ở cùng ”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ.

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. ( Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa.

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời.

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “ có Chúa ở cùng ”  thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu?

 

(1)   Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở

      Việt Nam đầu thế kỷ 17

     của Nguyễn Khắc Xuyên

 

  Phùng văn Phụng

 

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)

 rogerphung42@yahoo.com

 

MỤC LỤC