KINH HẠT VÀ SỐNG ĐẠO

 

Cách đây hơn một năm tôi có về thăm quê của tôi là thôn nhỏ ở miền Bắc sau đúng hơn nửa thế kỷ tôi không biết nơi chôn rau cắt rốn của mình như thế nào.

Tôi sinh ra tại một họ đạo (lẻ) là thuộc giáo phận Hải Phòng. Họ đạo của tôi vì là một họ đạo lẻ nên từ trước đến nay không có cha xứ thường trú.  Vào những ngày chủ nhật và lễ trọng, giáo dân phải đi lễ ở nhà xứ cách đó khoảng 3 cây số. Tuy vậy, họ đạo của tôi cũng có một nhà thờ tươm tất và có một bề dày lịch sử đáng trân trọng. Nó được xây dựng cách đây trên 100 năm. Ngày nay nhà thờ này đã hư nát nhiều nhưng vẫn còn sử dụng được.

Sống trong Nam, bố mẹ tôi thường nhắc những kỷ niệm vế quê hương ngoài Bắc, về cung cách sống đạo, đọc kinh, xem lễ , về cách làm ăn, cày bừa, gieo mạ, gặt hái, trồng dưa … và cả cách chống lại lụt lội và hạn hán. Qua những câu chuyện như thế, tôi tưởng tượng ra trong trí những hình ảnh bàng bạc về quê hương mình. Tôi chỉ tưởng tượng thôi vì khi rời khỏi quê, tôi còn quá nhỏ nên không biết thực hư nó như thế nào. Tôi mong có dịp nào đó sẽ về thăm quê cho biết nơi chôn rau cắt rốn của mình và niềm ao ước ấy ngày một cháy bỏng trong lòng tôi.

Sau bao ngày mong đợi, cuối cùng thì tôi cũng có dịp về quê. Tôi về quê với đứa con trai đầu của tôi. Hai cha con đi bằng xe gắn máy. Vừa đi, vừa chiếu bản đồ, vừa hỏi thăm đường xá và cuối cùng chúng tôi cũng tới nơi vào một buổi chiều trời còn đang mưa tầm tã.

Tuy nhiên, có một chút hơi buồn là chúng tôi không còn biết được ai ngay tại quê nhà và về quê cũng không biết đến thăm ai. Họ hàng của tôi ở lại quê  hầu như không còn người nào. Lý do là vào năm 1954, những người có đạo trong làng hầu hết đã ra Hải Phòng, xuống “tàu há mồm” để đi di cư vào Nam dưới sự dẫn dắt của một cha xứ thuộc giáo phận Bắc Ninh. Sự việc như thế diễn ra vào lúc tôi “chưa có trí khôn” nên chỉ nghe bố mẹ kể lại như thế, ngoài ra chẳng biết gì hơn. Vì thế, về đến làng cũ, lạ nước lạ cái, không quen đường xá xóm làng nên chúng tôi đã đến Uỷ Ban Nhân Dân Xã để hỏi thăm.

Sau khi được một cán bộ xã chỉ đường , chúng tôi quyết định đến thăm nhà thờ trước. Thấy được nhà thờ của quê mình, chúng tôi vui mừng không kể xiết! Lần đầu tiên sau mấy mươi năm, tôi đã thấy tận mắt cái nhà thờ nhỏ bé và thân yêu của quê cha đất tổ. Chúng tôi vội vã ghi lại những hình ảnh vào chiếc máy ảnh mà chúng tôi mang theo. Hấp  tấp, vội vã, hồi hộp … như thể sợ cái nhà thờ thân yêu này của chúng tôi biến mất!

Sau đó, hai cha con tôi tiếp tục hỏi thăm làng xóm và tìm được nhà của một gia đình họ hàng của tôi còn sống tại quê mà trước khi đi về làng chúng tôi không hề biết. Gia đình này không di cư vào Nam mà vẫn sống tại quê nhà cho đến nay, hiện còn một cụ  bà đã trên 80 tuổi và một vài người con cháu. Rất mừng. Ông con cả của cụ vắng nhà nên tôi nói chuyện và hỏi thăm cụ bà trước.

- Thưa cụ, sau khi một số giáo dân di cư vào Nam, thì người có đạo ở lại quê nhà còn nhiều không?

- Không. Người lương còn nhiều chứ người có đạo ở lại rất ít. Chỉ còn có 5 gia đình với số nhân danh khoảng trên 20 người!

- Còn lại ít thế thì nhà thờ nhà thánh như thế nào ạ?

 - Vẫn cứ bình thường. Vào thứ bảy và chủ nhật, tất cả 5 gia đình già trẻ lớn bé đều tới nhà thờ đọc kinh!

- Thế có cha tới làm lễ không ạ?

- Làm gì có cha! Kể cả nhà thờ xứ cũng không có cha! Bên nhà thờ xứ cũng chỉ đến đọc kinh thôi! Thỉnh thoảng ngày lễ lớn thì có cha từ trên huyện về làm phúc.

Bà cụ nói đến đây thì con trai lớn của cụ, nay đã xấp xỉ 60 vừa về đến nhà. Chúng tôi lại được ông con cả này cho biết là nhà xứ gần chúng tôi nhất đã có linh mục đến coi sóc cách đây khoảng 10 năm và đang trùng tu nhà thờ của giáo xứ. Vì ông là người được giao nhiệm vụ giữ chìa khóa nhà thờ họ của tôi, nên tôi đề nghị ông mở cửa cho tôi được vào cầu nguyện bên trong nhà thờ mà ít phút trước đó chúng tôi chỉ thấy nó từ bên ngoài.

Vào bên trong tôi hết sức xúc động. Một quang cảnh nhà thờ được bài trí theo lối cổ điển miền Bắc hiện ra trước mắt tôi. Những tượng thánh được đặt trên bàn thờ sơn son thếp vàng mà tôi không thể tưởng tượng được. Một quang cảnh mà khi tôi còn bé cũng đi vào nhà thờ này nhiều lần nhưng tuyệt nhiên ký ức của tôi không còn lưu lại được gì vì tôi còn quá nhỏ.

Chúng tôi đứng giữa nhà thờ đọc kinh chung với nhau. Có kinh tôi thuộc thì hai chúng tôi đọc chung, có kinh quá xưa cũ tôi không thuộc thì ông đọc một mình. Hai chúng tôi chưa từng gặp nhau bao giờ song bây giờ là anh em thắm thiết của nhau qua lời kinh hạt. Tính hiệp thông chảy trong huyết quản của hai chúng tôi . Chúng tôi từ đây coi nhau như anh em ruột thịt, cùng có một Cha chung trên Trời, cùng đọc chung lời kinh nguyện, cùng chia sẻ một tâm tình sống đạo như nhau. Sau đó, chúng tôi quỳ gối cầu nguyện riêng…

Cuối cùng, tôi đề nghị ông dẫn chúng tôi thăm lại cái nhà của gia đình tôi khi xưa nơi tôi sinh ra trước khi vào Nam (nay không phải là nhà của mình nữa). Cái nhà này ngày nay đã hoàn tòan thay đổi vì đã được xây lại cách đây vài năm và hiện có ba chủ ở chứ không phải một. Ngoài ra, chúng tôi còn quan sát kỹ lưỡng những con đường làng, vườn ao, cây cỏ, cảnh quan của vùng quê… Duy có cái lũy tre làng mà tôi tưởng tượng trong trí thì tôi không thấy. Không biết rằng ngày xưa làng tôi có lũy tre hay không. Sau vài câu chuyện nữa, cha con tôi xin kiếu từ.

Điều tâm đắc nhất mà tôi rút ra trong chuyến về quê lần này là vai trò của việc đọc kinh lần hạt, gọi tắt là kinh hạt. Quả là kinh hạt có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc sống đạo, nhất là cho những giáo dân sống với nhau không có thánh lễ, cho những họ lẻ không có cha, cho những ai sống xa nhà thờ, những giáo dân vùng sâu vùng xa nơi mà linh mục không thể tới được hoặc thậm chí nơi không có nhà thờ, cho những ai gặp khó khăn thử thách trong đời muốn một mình cầu nguyện với Chúa, cho những ai đang sống cô đơn nơi đất khách quê người, cho những tâm hồn tội lỗi muốn sám hối, cho những ai đang âm thầm cầu xin ơn riêng trước Đài Đức Mẹ mà nhà thờ nào cũng có … Không sao kể hết được những hoàn cảnh cần đến những lời kinh vừa sâu sắc, lại vừa giản dị như ngôn ngữ hàng ngày.

Chính điều này lý giải tại sao người giáo dân Việt Nam vẫn thích kinh hạt. Họ thường cầu nguyện bằng cách đọc kinh, xin ơn bằng cách đọc kinh, cầu bình an cho nhau cũng bằng cách đọc kinh. Đám cưới đám giỗ cũng đều có lời kinh tiếng hát. Mừng nhà mới cũng bằng cách đọc kinh. Câu nói cửa miệng “cho tôi xin một kinh!” trước khi lên đường là cầu xin cho đi đến nơi về đến chốn, làm yên lòng những lữ khách đang rong duổi đường dài…

Giới trẻ ngày nay dưới mắt tôi có một số hình như không còn coi trọng kinh hạt nữa. Đầu giờ lễ bao giờ cũng có đọc kinh nhưng có ít nhiều thanh niên thiếu nữ chưa vội vào nhà thờ mà con đứng ở ngoài nói chuyện và tâm sự với nhau, chờ đến khi thánh lễ bắt đầu rồi mới vào… Những buổi đọc kinh trong xóm đạo ngày càng vắng bóng thanh niên. Có lẽ những người trẻ tuổi ấy coi kinh hạt là việc của những ông già bà cả chăng?

Vì kinh hạt có tác dụng lớn lao như thế nên nhiều nhà thờ hiện nay vẫn còn duy trì việc dạy trẻ em vừa học giáo lý, vừa học kinh. Những tân tòng cũng được dạy kinh sách bên cạnh việc tìm hiểu và học hỏi Lời Chúa. Trước khi ăn cơm cũng thường làm dấu và đọc kinh Lạy Cha chung với nhau. Buổi tối trước khi đi ngủ cũng đọc vài kinh…

Nhiều giáo xứ hiện nay vẫn còn tổ chức những buổi thi kinh và có khi còn được tổ chức trên quy mô của toàn giáo phận nữa. Đó là những việc làm thật đáng trân trọng. Âu đó cũng là một thói quen tốt và là một nét đặc trưng nổi bật trong cách sống đạo của người Việt chúng ta.        

Giuse Nguyễn Thụ Nhân , Gia Lai 21.8.2006