Chân
lý không lệ thuộc uy tín của người nói
Chúa Nhật thứ 14 Thường Niên
(9-7-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Ed 2,2-5: (5) Còn chúng, vốn là nòi phản
loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng
có một ngôn sứ đang ở giữa chúng.
· 2Cr 12,7-10: (9) Người quả quyết với tôi:
«Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ
trọn vẹn trong sự yếu đuối». Thế nên tôi rất vui mừng và tự
hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong
tôi (10) Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình
yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô.
Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.
· TIN MỪNG: Mc 6,1-6
Đức Giêsu về thăm Nadarét
(1) Đức Giêsu ra khỏi đó và đến nơi quê quán
của Người, có các môn đệ đi theo. (2) Đến ngày
sabát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất
đỗi ngạc nhiên. Họ nói: «Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta
được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những
phép lạ như thế, nghĩa là gì? (3) Ông ta không
phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê,
Giôxết, Giuđa và Simôn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối
xóm với chúng ta sao?» Và họ vấp ngã vì Người. (4)
Đức Giêsu bảo họ: «Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở
chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia
đình mình mà thôi». (5) Người đã không thể
làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh
nhân và chữa lành họ. (6) Người lấy làm lạ vì họ
không tin.
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Đặt mình vào địa vị những người đồng hương với Đức Giêsu thời
ấy, bạn sẽ nghĩ thế nào về Ngài? Bạn có nghĩ và hành xử như họ
không? Tâm lý nào khiến họ nghĩ và hành xử như vậy?
2. Tại sao Đức Giêsu lại không làm được nhiều phép lạ tại quê
hương Ngài? Việc Ngài có làm được phép lạ hay không tùy thuộc vào
Ngài hay vào họ? Điều đó khiến ta kết luận thế nào về phần rỗi và
việc nên thánh của ta? Thiên Chúa có thể cứu rỗi hay làm ta nên
thánh bất chấp sự cộng tác của ta không?
Suy tư gợi ý:
1. Tâm lý người đời: trọng vọng lời nói của
kẻ giàu có, quyền thế, có học vấn
Người ta thường dựa vào những tiêu chuẩn khôn ngoan kiểu loài người
để phân định sự việc, điều đó có thể đúng khi áp dụng vào những việc
của thế gian (làm ăn, ngoại giao, bon chen, tranh quyền đoạt lợi…).
Nhưng nếu áp dụng sự khôn ngoan ấy vào những công việc của Thiên
Chúa, vào đời sống tâm linh, vào việc sống đạo… thì thật là sai lầm.
Người đồng hương với Đức Giêsu – cùng sinh trưởng tại làng Nadarét –
mắc phải sai lầm ấy. Họ khó có thể chấp nhận được một người nghèo,
ít học, thuộc loại lao động tay chân như Đức Giêsu, lại có thể hiểu
sâu xa về Thiên Chúa, lại có thể đưa ra những quan niệm mới về Thiên
Chúa, về cách sống đạo, về đời sống tâm linh. Nếu có ai nói về Thiên
Chúa khiến họ tin được, thì phải là người xuất thân từ trường lớp
thần học và có bằng cấp như những kinh sư Do-thái (tức các tư tế,
luật sĩ, Pharisêu).
Nhưng nếu dùng ánh sáng hiểu biết của các Kitô hữu ngày nay để nhìn
về ngày xưa, ta thấy:
– Đức Giêsu tuy ít học (Ga 7,15), và biết bao người khác tuy ít học
nhưng lại hiểu biết về Thiên Chúa sâu sắc hơn những người có học.
Trong lịch sử các tôn giáo cũng có những trường hợp tương tự: chẳng
hạn trong Phật giáo có trường hợp của Huệ Năng. Trong số học trò của
Ngũ tổ, Huệ Năng là người ít học lại thuộc sắc dân mọi rợ (dân tộc
ít người, kém văn minh), nhưng ông lại giác ngộ được chân lý sâu
thẳm của đạo pháp. Còn Thần Tú, cũng là học trò uyên thâm nhất của
Ngũ tổ, vốn là một vị quan thâm nho của triều đình, học rất rộng
biết rất nhiều, nhưng lại chẳng giác ngộ được chân lý.
– Các kinh sư hay thần học gia Do-thái xưa, tuy học rộng biết nhiều,
nhưng họ chỉ là những người không biết gì khác hơn ngoài sách vở,
ngoài những gì đã học ở trường lớp. Những suy tư của họ chỉ là những
điều đã được người khác suy tư sẵn. Họ chẳng khác gì những kẻ «nhai
lại bã mía», thấy người khác ăn mía khen ngọt, thì mình cũng lấy
bã ấy nhai lại và cũng bắt chước khen ngọt. Trong đời sống tâm linh,
họ chẳng phân biệt được cái nào là chính yếu và cái nào là phụ
thuộc, cái nào là cốt tủy và cái nào là bì phu, cái nào là mục đích
và cái nào là phương tiện, nên chẳng biết cái nào quan trọng hơn cái
nào. Vì thế, cái không quan trọng thì họ lại đặt rất nặng, còn cái
hết sức quan trọng thì họ lại coi rất nhẹ (x. Mt 15,20; 23,16.18).
Họ chẳng thông minh, chẳng có tinh thần thích ứng và sáng tạo nào
khi áp dụng luật của Thiên Chúa vào đời sống thực tế. Họ chỉ biết áp
dụng lề luật một cách nô lệ, hình thức, thiếu hẳn công lý, tình yêu
và sự chân thật vốn là cốt tủy của lề luật (x. Mt 23,23; 12,2;
12,10; Lc 6,7; 13,14; Ga 5,10.18; 9,16). Chính vì thế, Đức Giêsu đã
gọi họ là «quân dẫn đường mù quáng!» (Mt 23,24), là «người
mù lại dắt người mù» (Mt 15,14).
Như vậy, để xét giá trị một lời nói, một hành động, ta phải chủ yếu
xét chính lời nói hay hành động ấy xem nó có hợp lý và đúng đắn hay
không, chứ không nên chỉ đơn phương căn cứ vào tư cách hay uy tín
tạo được của người nói điều ấy hay làm hành động ấy.
2. Xét người xưa lại nghĩ đến mình ngày nay
Những người đồng hương với Đức Giêsu xưa khi nghe Ngài nói thì «nhiều
người rất đỗi ngạc nhiên», họ hỏi nhau: «Bởi đâu ông ta được
như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta
làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?». Khi nhận xét như
vậy, đáng lẽ họ phải nhận ra Ngài là một ngôn sứ của thời đại mới
đúng. Nhưng khi nghĩ đến danh phận nghèo hèn của Ngài thì họ lại coi
thường Ngài: «Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh
em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn sao? Chị em của ông
không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?». Thế là chỉ vì
Ngài ít học, nghèo nàn, mà họ coi Ngài chẳng ra gì, mặc dù họ ngạc
nhiên về chính những lời nói khôn ngoan và những phép lạ của Ngài.
Và «họ vấp ngã vì Người».
Xét người xưa lại nghĩ đến mình ngày nay. Rất nhiều khi ta phán đoán
giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín
của họ, nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói
ấy. Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói
thì ta tiên thiên cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới,
thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì ta tiên thiên cho rằng họ nói
sai hoặc chẳng có giá trị gì. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói
ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai
trái. Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người
điên, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời nói sai đâu thể biến
thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay
trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.
Vì thế, nếu ta có tâm lý kiểu đời thường đó mà ở vào trường hợp của
những người đồng hương với Đức Giêsu xưa, chắc chắn ta cũng đối xử
với Ngài chẳng khác gì họ. Và chắc chắn ngày nay ta cũng sẽ đối xử
với các ngôn sứ thời đại mình y như vậy. Chính vì tâm lý sai lạc này
mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật
thì thường bị bạc đãi (x. Lc 6,23.26). Nếu ta hành xử như vậy thì ta
chỉ là một người coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ
không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương. Một
người như thế không bao giờ thật sự gặp gỡ Thiên Chúa, dẫu họ có đọc
kinh, dâng lễ hay rước lễ siêng năng tới đâu đi nữa. Hãy xem Đức
Giêsu coi thường như thế nào những kẻ giàu có, học vấn mà không nghĩ
đúng, hành động đúng cho dù người đời có trọng vọng họ tới đâu (x.
Mt 23). Là Kitô hữu, chúng ta nên bắt chước Đức Giêsu hay bắt chước
thói hành xử của người đời?
3. Để thánh hóa ta, Thiên Chúa cũng phải
tùy thuộc vào ta
Bài Tin Mừng cho biết: «Người đã không thể làm được phép lạ nào
tại đó» vì họ không tin. Thì ra Đức Giêsu có thực hiện được phép
lạ hay không, điều đó không chỉ tùy thuộc vào quyền năng linh thiêng
của Ngài, mà còn tùy thuộc vào lòng tin của chính đối tượng phép lạ
nữa. Đức Giêsu rất muốn ưu tiên rao giảng Tin Mừng và làm phép lạ ở
chính quê hương của Ngài, vì thông thường ai cũng yêu nơi chôn nhau
cắt rốn hay nơi sinh trưởng của mình hơn những nơi khác. Nhưng vì
những người đồng hương của Ngài không tin, nên Ngài không làm được
việc ấy. Tương tự như vậy, Thiên Chúa muốn cứu rỗi ta, thánh hóa ta,
muốn ta nên thánh, được thật sự bình an hạnh phúc, và Ngài sẵn sàng
làm tất cả để thực hiện điều ấy. Nhưng Ngài có thực hiện được điều
ấy hay không còn tùy thuộc vào cả bản thân ta nữa, cho dù Ngài rất
quyền năng. Vì thế, thánh Âu Tinh nói: «Để dựng nên ta, Thiên
Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm
được nếu ta không cộng tác với Ngài». Nói tới đây tôi nghĩ đến
câu thơ của Nguyễn Du trong truyện Kiều: «Có Trời mà cũng có ta»,
nghĩa là ta cũng đóng vai trò quan trọng, thậm chí có tính quyết
định, trong công việc cứu rỗi và nên thánh của chính ta.
Trong việc cứu rỗi và nên thánh của ta, Thiên Chúa đã làm tất cả và
luôn luôn sẵn sàng làm tất cả những gì Ngài có thể làm được để giúp
ta. Phần còn lại rất nhỏ là sự cộng tác và nỗ lực của ta. Phần này
Ngài không thể làm thay thế cho ta được. Cũng tương tự như cha mẹ có
thể lo lắng đủ mọi thứ để con cái mình được ăn uống đầy đủ. Nhưng có
điều cha mẹ không thể làm thay cho con cái mình được, đó là nhai và
nuốt thức ăn vào bụng. Hay như cha mẹ có thể lo cho con đủ mọi
phương tiện để học hành, nhưng không thể nào học thay, nhớ thay, làm
bài thay cho con được. Trong việc cứu rỗi hay nên thánh của ta, phận
sự của ta là tin tưởng vào Thiên Chúa, ý thức sự hiện diện và hoạt
động của Ngài ở trong ta, lắng nghe tiếng nói của Ngài ở trong ta và
làm theo những điều Ngài chỉ dạy. Đó là những việc cần thiết ta phải
làm, không ai làm thay cho ta được. Nếu ta quyết tâm thực hiện những
điều ấy, thì việc cứu rỗi hay nên thánh của ta trở nên rất dễ dàng.
Nếu ta không làm, thì Thiên Chúa dẫu có muốn cứu ta, muốn thánh hóa
ta cách mấy Ngài cũng đành bó tay. Vậy ta hãy ráng làm hết sức phần
của mình.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, quả thật uy quyền, danh vọng, sự sang trọng của những kẻ
quyền thế, giàu có, nhiều bằng cấp làm con bị choáng ngợp, khiến con
dễ dàng nhận những điều họ nói là đúng mà không cần suy xét gì cả.
Nhiều khi chỉ cần suy xét một chút xíu là con có thể nhận ra ngay sự
sai trái trong lời nói của họ, mà con lại không chịu suy xét. Còn
những kẻ nghèo nàn, nhỏ bé, yếu đuối, ít học mà phát biểu điều gì,
thì con tiên thiên bỏ ngoài tai, chẳng cần biết đúng hay sai. Vì
thế, nếu con là một người đồng hương với Đức Giêsu xưa, chắc chắn
con cũng sẽ coi thường Ngài, chỉ vì thấy Ngài nghèo hèn, thất học.
Xin Cha giúp con sửa sai cách hành xử này.
Gs. Nguyễn Chính Kết