Chúng ta đã thật sự thờ phượng
Thiên Chúa
trong thần khí và sự thật chưa?
Chúa Nhật thứ 3 Mùa
Chay (19-3-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Xh 20,1-17: (2) "Ta là Thiên Chúa, Đấng đã
đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. (3)
Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.
· 1Cr 1,22-25: (25) Cái điên rồ của
Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối
của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.
· TIN MỪNG: Ga 4,5-42
Đức Giêsu tại Samari
(…) (19) Người phụ nữ nói với Người: «Thưa
ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ… (20) Cha
ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại
bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa».
(21) Đức Giêsu phán: «Này chị, hãy tin tôi:
đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này
hay tại Giêrusalem. (22) Các người thờ Đấng các
người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu
độ phát xuất từ dân Dothái. (23) Nhưng giờ đã đến
– và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ
thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm
những ai thờ phượng Người như thế. (24) Thiên Chúa
là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần
khí và sự thật». (25) Người phụ nữ thưa:
«Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến,
Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự». (26)
Đức Giêsu nói: «Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị
đây».
(…) (31) (Một lát sau), các môn đệ trở về thưa
với Người rằng: «Rápbi, xin mời Thầy dùng bữa».
(32) Người nói với các ông: «Thầy phải dùng một
thứ lương thực mà anh em không biết». (33)
Các môn đệ mới hỏi nhau: «Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy
rồi chăng?» (34) Đức Giêsu nói với các ông: «Lương
thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất
công trình của Người». (…)
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Các cụm từ «đã đến giờ» và «giờ đã đến – và chính
là lúc này đây» trong bài Tin Mừng có ý nghĩa gì? Giờ đó là giờ
nào?
2. Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí»?
Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật»? Trái ngược
với hai kiểu thờ phượng ấy là thờ phượng thế nào? Chúng ta đang thờ
phượng Thiên Chúa theo kiểu nào: kiểu lỗi thời của các kinh sư Do
Thái hay kiểu «mới» của Đức Giê-su?
3. Có cần thiết phải sửa đổi cung cách thờ phượng của chúng ta
không? Nếu không thì sao? Việc thờ phượng kiểu lỗi thời có còn giá
trị không?
Suy tư gợi ý:
1. Việc thờ phượng Thiên Chúa
trong Cựu Ước và Tân Ước
Vào thời Cựu Ước, trình độ tâm linh của con người còn non kém, đầu
óc con người thường chỉ hướng về những gì cụ thể, hữu hình, dễ thấy,
nghĩa là họ hướng ra ngoài hơn là vào nội tâm. Vì thế, việc thờ
phượng Thiên Chúa chủ yếu gồm những việc cụ thể, thấy được, được
thực hiện trong thời gian và không gian rõ rệt. Từ bản chất, thờ
phượng Thiên Chúa chính là nhìn nhận Thiên Chúa là chủ tể vũ trụ, có
toàn quyền trên tất cả mọi sự, trong đó, con người coi mạng sống và
của cải của mình là quí giá nhất. Để biểu lộ sự nhìn nhận quyền chủ
tể đó của Thiên Chúa, đúng ra con người phải sát tế chính mạng sống
mình; nhưng làm như thế, con người sẽ dần dần chết hết, là điều mà
Thiên Chúa không muốn. Vì thế, con người bèn sát tế những con vật
như chiên bò làm của lễ hy sinh dâng lên Thiên Chúa thay cho mạng
sống của mình (x. St 4,3; 8,20; Xh 20,24; 29,18; Lv 1,14; v.v…). Có
lần, để thử thách niềm tin và tinh thần hy sinh hiến dâng ấy, Thiên
Chúa yêu cầu Abraham sát tế đứa con trai duy nhất của mình là Isaác
làm lễ vật toàn thiêu: khi thấy Abraham không tiếc với mình đứa con
duy nhất, Thiên Chúa đã ra tay cứu Isaác (x. St 22,1-14). Điều đó
cho thấy Thiên Chúa không muốn con người phải chết để biểu lộ sự
nhìn nhận quyền chủ tể của Ngài.
Đến thời Đức Giêsu, Ngài đã khai mở một kỷ nguyên mới, thích hợp với
trình độ tâm linh con người vốn đã lên cao hơn. Vì càng về sau, con
người càng có khả năng tư duy trừu tượng hơn, biết hướng vào nội tâm
hơn. Vì thế, việc thờ phượng Thiên Chúa phải mặc lấy một hình thức
mới hợp với trình độ mới: tức cao hơn, mang tính nội tâm hơn. Trong
bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chủ trương một cách thờ phượng Thiên
Chúa mới mẻ hơn, cao cấp hơn. Ngài nói: «Đã đến giờ các người sẽ
thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem (…)
Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – những người thờ phượng đích
thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. (…) Thiên
Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng
trong thần khí và sự thật».
2. Thời Tân Ước: thờ phượng
trong thần khí và sự thật
Đức Giêsu nói khi Ngài còn sống: «Đã đến giờ», «Giờ
đã đến – và chính là lúc này đây». Như vậy, Đức Giêsu yêu cầu
con người thay đổi cách thờ phượng Thiên Chúa cho xứng hợp với trình
độ mới của con người đã được 2000 năm, một thời gian rất dài! Nhưng
ta thử xét lại xem, cách thờ phượng của chúng ta trong thế kỷ 21 này
đã thay đổi và tiến bộ đúng như yêu cầu của Đức Giêsu cách đây 2000
năm chưa? Sau 20 thế kỷ tiến bộ về vật chất đến mức chóng mặt, con
người đã tiến bộ về tâm linh thế nào, đặc biệt trong cách thờ phượng
Thiên Chúa? Chúng ta đã nội tâm hóa việc thờ phượng ấy chưa, hay vẫn
còn mang nặng tính bề ngoài, tính vật chất, tính câu nệ hình thức,
và vẫn còn lệ thuộc nặng nề về thời gian lẫn không gian? Việc thờ
phượng Thiên Chúa của chúng ta hiện nay đã đúng với tinh thần Tân
Ước của Đức Giêsu chưa, hay vẫn theo tinh thần Cựu Ước của đám kinh
sĩ và biệt phái Do Thái xưa, vốn đã bị Đức Giêsu coi là lỗi thời từ
2000 năm nay?
Thiết tưởng chúng ta nên đặt lại vấn đề này một cách nghiêm chỉnh,
và sửa đổi lại những gì chưa đúng. Điều quan trọng chúng ta cần tìm
hiểu là: Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự
thật»?
· Thờ phượng trong thần khí
Đức Giêsu nói: «Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng
Người phải thờ phượng trong thần khí». Thần khí (pneuma – esprit
– spirit) là tinh thần, tâm linh, thuộc thế giới nội tâm, không thấy
được. Thần khí thì ngược với vật chất, thể lý, thuộc thế giới bên
ngoài, cụ thể, thấy được. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một
Thiên Chúa hữu hình, nên việc thờ phượng Thiên Chúa không nhất thiết
phải xảy ra ở bên ngoài, trong không gian và thời gian. Theo Đức
Giêsu, Ngài là thần khí, là tinh thần, là thiêng liêng, nên việc thờ
phượng Ngài cũng phải thực hiện trong thần khí, trên bình diện tinh
thần, nghĩa là một cách thiêng liêng, trong nội tâm con người. Hành
vi thờ phượng phải là hành vi của tâm hồn, là thái độ của nội tâm,
hơn là hành vi của thể xác. Thiên Chúa của chúng ta không phải là
một Thiên Chúa cứ phải nghe ta nói, nhìn ta biểu lộ ra ngoài mới
hiểu được ta; trái lại, Ngài biết hết, thấu hiểu hết những gì ta
nghĩ, ta cần, ta muốn nói: «Cha trên trời thừa biết anh em cần
những gì rồi» (Mt 6,32; Lc 12,30). Vì thế, xét về phía Thiên
Chúa, việc thờ phượng Ngài không cần thiết phải biểu lộ ra bên
ngoài bằng lời nói, bằng lễ nghi, bằng những biểu hiện bên ngoài: «Khi
cầu nguyện, anh em đừng nhiều lời như dân ngoại; họ tưởng cứ nói cho
nhiều là được nhận lời» (Mt 6,7). Điều Ngài mong muốn nằm trong
thái độ nội tâm của chúng ta: tinh thần từ bỏ, tự hủy, lòng quảng
đại, biết ơn, khâm phục, nhất là tình yêu dành cho Ngài. Nếu Giáo
Hội chủ trương phải biểu lộ việc thờ phượng ra bên ngoài thì không
phải là vì Thiên Chúa mà vì con người: để việc thờ phượng mang tính
cộng đoàn, tính Giáo Hội, hay để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho
con người, v.v…
Ngày nay, cần phải thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa qua những
hình thức bên ngoài bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí.
Lễ vật dùng để sát tế, để toàn thiêu không còn là chiên, bò, hay bất
kỳ một vật nào khác, mà phải là «cái tôi» ích kỷ và kiêu căng
của ta, là ý riêng của chúng ta, là những dự định dù tốt hay xấu
nhưng không phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Bàn thờ hay đền thờ –
nơi sát tế – là chính tâm hồn ta. Thời điểm sát tế không còn là một
thời điểm cố định nào do con người qui định, mà phải là thời gian
liên tục. Vì sát tế không còn là một hành động xảy ra vào những thời
điểm nhất định nào đó, cho bằng một thái độ nội tâm thường hằng
trong đời sống ta, thậm chí trở thành một yếu tố cố định trong bản
tính của ta. Cầu nguyện cũng không còn là một hành động cho bằng một
trạng thái thường hằng của nội tâm. Một biểu hiện lý tưởng của việc
thờ phượng trong thần khí đã được Đức Giêsu nói đến trong bài Tin
Mừng hôm nay: «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã
sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người». Việc quan tâm thi
hành thánh ý Thiên Chúa phải thay thế cho việc quan tâm thực hiện ý
riêng mình, phải trở thành lương thực nuôi sống đời sống tâm linh
của ta.
· Thờ phượng trong sự thật
Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật khác với thờ phượng Thiên
Chúa trong giả dối. Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật
đòi hỏi những gì mình nói với Thiên Chúa phải phản ảnh đúng
những tâm tình, ý nghĩ trong đầu óc mình, và đúng với thực tế của
đời sống mình. Còn thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối là có
sự khác biệt giữa điều mình cầu nguyện với tâm tư, tình cảm và đời
sống thực tế của mình. Cầu nguyện như thế chẳng những hoàn toàn vô
ích mà còn xúc phạm và tỏ ra coi thường Thiên Chúa nữa. Nếu không
thể thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật, thì thà rằng đừng
thờ phượng còn hơn là thờ phượng Ngài trong giả dối.
Ngày xưa, người ta có thể giết chết một con vật làm lễ toàn thiêu,
để tượng trưng cho việc họ nhìn nhận quyền Chủ Tể trên mọi sự của
Thiên Chúa. Hành động tế tự đó hoàn toàn xảy ra ở bên ngoài. Nhưng
bên trong, người ta vẫn có thể tiếc với Thiên Chúa những chuyện rất
nhỏ: chẳng hạn họ không thể từ bỏ một ý riêng, một sở thích, một vật
đang muốn chiếm hữu, hoặc hoãn thi hành một dự định, hy sinh một cơ
hội, v.v… để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Như vậy, hành động thờ phượng
bên ngoài chẳng phù hợp chút nào với tâm trạng bên trong. Chính vì
thế, có lần Đức Giêsu nói về việc thờ phượng của họ: «Dân này tôn
kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng trí chúng thì lại xa Ta. Việc
chúng thờ phượng Ta thật là vô ích» (Mt 15,8-9; Mc 7,6-7; x, Is
29,13).
Ngày nay, có biết bao người khi cầu nguyện thì nói rằng mình yêu mến
Chúa, sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa; nhưng trong đời sống thì
chẳng thấy họ yêu mến Ngài ở chỗ nào. Họ thường nói với Chúa: «Xin
tha cho con như con vẫn tha kẻ có nợ với con», nhưng trong thực
tế, họ chấp nhất và bắt bẻ lỗi người khác từng chút một! Điều tệ hại
là người ta vẫn cảm thấy an tâm, họ tưởng rằng làm như thế là đã chu
toàn bổn phận thờ phượng đối với Thiên Chúa! Thiên Chúa rõ ràng
không ưa lối thờ phượng đó. Ngôn sứ Isaia diễn tả sự ngao ngán và dị
ứng của Thiên Chúa đối với kiểu thờ phượng bên ngoài ấy: «Lễ toàn
thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta
chẳng thèm! Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm
khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sabát, ngày đại
hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc
linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các
ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi
nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các
ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các
ngươi đầy những máu» (Is 1,11b.13b-15). Thử đặt mình vào địa vị
của Ngài xem ta có thể chấp nhận một cung cách thờ phượng như thế
không? Tại sao ta lại có thể đang tâm tiếp tục thờ phượng Ngài theo
kiểu ấy?
CẦu nguyỆn
Tôi nghe Chúa nói với tôi: «Ta đã chán những lễ nghi rỗng tuếch,
ghét những những nghi thức trang trọng mà người cử hành chẳng tỏ ra
có chút tình thương nào trong lòng. Ta cần tình thương của con người,
nhưng họ lại chỉ dâng lên Ta toàn những nghi thức, lời kinh trống
rỗng!»
Gs. Nguyễn Chính Kết