Đức Giêsu hòa giải hai đòi hỏi
trái ngược giữa
sự công bình và tình yêu vô biên
của Thiên Chúa
Chúa Nhật Lễ Lá (9-4-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Mc 11,1-10 (làm phép lá): (9) Người đi
trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: «Hoan hô! Chúc tụng Đấng
ngự đến nhân danh Đức Chúa!»
· Is 50,4-7: (6) Tôi đã đưa lưng cho người
ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi
bị mắng nhiếc phỉ nhổ.
· Pl 2,6-11: (6) Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là
Thiên Chúa (…) (7) Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh
quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người
trần thế. (8) Người lại còn hạ mình, vâng lời cho
đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.
· BÀI THƯƠNG KHÓ: Mc 14,1–15,47
Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự giá
(…) (15,15) Vì muốn chiều lòng đám đông, ông
Philatô phóng thích tên Baraba, truyền đánh đòn Đức Giêsu, rồi trao
Người cho họ đóng đinh vào thập giá (…) (22) Chúng
đưa Người lên một nơi gọi là Gôngôtha, nghĩa là Đồi Sọ (…)
(24) Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo
Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì. (25)
Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba. (26) Bản
án xử tội Người viết rằng: «Vua người Do-thái». (27)
Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải,
một đứa bên trái. (28) Thế là ứng nghiệm lời Kinh
Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp.
(29) Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu
vừa nói: «Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây
lại được, (30) có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà
cứu mình đi!» (31) Các thượng tế và kinh sư cũng
chế giễu Người như vậy, họ nói với nhau: «Hắn cứu được thiên
hạ, mà chẳng cứu nổi mình. (32) Ông Kitô vua
Ítraen, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và
tin». Cả những tên cùng chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ
Người.
(33) Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất
mãi đến giờ thứ chín. (34) Vào giờ thứ chín, Đức
Giêsu kêu lớn tiếng: «Êlôi, Êlôi, lama xabácthani!»
Nghĩa là: «Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ
rơi con?» (…) (37) Đức Giêsu lại kêu lên
một tiếng lớn, rồi tắt thở. (38) Bức màn trướng
trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. (39)
Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở
như vậy liền nói: «Quả thật, người này là Con Thiên Chúa»
(…)
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Đức Giêsu có run sợ trước đau khổ và sự chết không? Cuộc
khổ nạn và cái chết của Ngài là do Ngài bị ép buộc hay do tự nguyện?
Động lực khiến Ngài tự nguyện là gì?
2. Cái chết khủng khiếp của Đức Giêsu nói lên điều gì? Có phải
vừa nói lên sự công thẳng và nghiêm túc của Thiên Chúa đối với tội
lỗi, vừa nói lên tình thương bao la của Thiên Chúa đối với con người
không? Công thẳng ở chỗ nào? Tình thương ở chỗ nào?
3. Bài học thực tế mà chúng ta học được qua mầu nhiệm Vượt Qua
được cử hành trong Tuần Thánh là gì? Thiên Chúa và Đức Giêsu yêu
thương và hy sinh cho chúng ta như thế, các Ngài mong ước điều gì
nơi chúng ta?
Suy tư gợi ý:
1. Đức
Giêsu chịu đau khổ để cứu nhân loại khỏi đau khổ
Mầu nhiệm được cử hành trong Tuần Thánh – làm cho chúng ta hết sức
cảm động – là Đức Giêsu đã chấp nhận chịu đau khổ và chết thay
cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ và sự chết
trong cảnh giới vĩnh cửu. Tất cả đều vì yêu thương chúng ta: «Tội
lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây
thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời
công chính. Nhờ Người mang những vết thương của anh em mà anh em đã
được chữa lành» (1Pr 2,24).
Theo niềm tin Kitô giáo, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Ngài
chẳng những là người hoàn toàn vô tội, mà còn là một con người hoàn
hảo nhất của nhân loại. Thế nhưng Ngài lại phải chịu những cực hình
khủng khiếp, đau đớn nhất của con người. Những đau khổ ấy, Ngài đã
tự nguyện chịu, mặc dù từ thâm tâm Ngài cũng rất sợ hãi trước đau
khổ. Việc Ngài lo buồn đến mức đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu (x.
Lc 22,44) nói lên nỗi sợ hãi hết sức cao độ ấy. Nhưng dù biết trước
những cực hình khủng khiếp đã khiến Ngài phải sợ hãi như thế, Ngài
vẫn tự nguyện đón nhận, vì muốn hoàn thành thánh ý Chúa Cha là cứu
độ loài người, và vì chính Ngài cũng yêu thương con người, muốn cứu
họ khỏi tội lỗi và hậu quả khủng khiếp của tội lỗi. Dù bản năng có
ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, Ngài vẫn vui lòng chấp nhận đau
khổ và chết, để con người được sống và sống hạnh phúc: «Lạy Cha,
nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin
đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha» (Mt 26,39).
2. Đức
Giêsu thực hiện sự công bình và tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân
loại tội lỗi
Vì tội của nguyên tổ và của riêng từng người, đáng lẽ nhân loại
chẳng những bị mất hạnh phúc vĩnh cửu mà còn phải chịu đau khổ đời
đời. Sự công bình nơi bản tính của Thiên Chúa đòi buộc mọi tội lỗi
đều phải đền trả, nghĩa là con người phải chịu hình phạt xứng đáng.
Nếu thế con người sẽ phải đau khổ đời đời! Nhưng tình yêu vô biên
của Ngài đối với con người đòi hỏi Ngài phải ra tay cứu họ, nếu
không thì không còn là tình yêu nữa! Vừa bắt con người phải đền tội,
vừa phải ra tay cứu họ, đối với trí óc của con người điều đó quả là
mâu thuẫn và nan giải! Nhưng sự khôn ngoan vô biên của Ngài đã giải
quyết nan đề ấy bằng cách cho Con của Ngài xuống thế làm người, đại
diện cho toàn nhân loại, chịu đau khổ và chết, để đền tội thay cho
cả loài người. Theo cách đó, sự công bằng và tình yêu của Ngài đều
được thỏa mãn.
Đức Giêsu – là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa trong
bản tính nhân loại – đã đảm trách việc hòa giải giữa hai đòi hỏi
trái ngược nhau của sự công bằng và tình yêu Thiên Chúa, và cũng là
hòa giải giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, sứ mạng của Đức
Giêsu là phải làm sao cho con người thấy được công lý của Thiên Chúa
phải được thực hiện nghiêm túc thế nào, đồng thời cũng biểu lộ cho
con người thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người bao la thế
nào.
Chân lý, công lý và tình thương, đó là những thuộc
tính hết sức quan trọng trong bản tính Thiên Chúa. Thiết tưởng người
Kitô hữu – là người ý thức hơn ai hết con người là hình ảnh của
Thiên Chúa – cần phải phản ánh và thể hiện ba thuộc tính ấy trong
đời sống của mình. Đức Giêsu đã nhấn mạnh sự quan trọng của ba thuộc
tính ấy: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý,
tình thương và tính chân thật» (Mt 23,23).
3. Tình
yêu của Thiên Chúa được biểu hiện nơi Đức Giêsu
Thiên Chúa yêu thương con người, điều ấy đã được Thánh Kinh nói đến
rất nhiều: «Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người
yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự chúng
ta là con Thiên Chúa» (1Ga 3,1); «Thiên Chúa yêu thế gian đến
nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết,
nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16); «Tình yêu của Thiên Chúa
đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một
đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống»
(1Ga 4,9); «Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn
là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng
ta» (Rm 5,8).
Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại được thể hiện cụ thể qua
tình yêu của Đức Giêsu đối với con người: «Chúa Cha đã yêu mến
Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); «Người
vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu
thương họ đến cùng» (Ga 13,1).
4. Hãy
thể hiện tình yêu của Thiên Chúa ra cho tha nhân
Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp
nhận chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người
đã thúc đẩy Ngài làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của ta có
thể biến thành hạnh phúc cho người khác, cái chết của ta có thể biến
thành sự sống cho người khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ
để người mình yêu được hạnh phúc, chấp nhận chết để người mình yêu
được sống. Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt
hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: «Không có tình thương
nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu
của mình» (Ga 15,13). Thiết tưởng người Kitô hữu cần sử dụng
thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong
đời sống (đáng lẽ phải) đầy tràn yêu thương của mình.
Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là gương mẫu cho
tình yêu của Ngài đối với nhân loại: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy
thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); thì Ngài
rất mong tình yêu của Ngài đối với chúng ta cũng là gương mẫu để
chúng ta yêu thương nhau: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã
yêu thương anh em» (Ga 15,12). Thánh Gioan đã diễn tả ý tưởng
trên như sau: «Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì
chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11); «Chúng ta hãy
yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước»
(1Ga 4,19); «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng
ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16). Vậy,
chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình
yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta
nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè… sau đó cho những người xa
hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. «Anh
em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Đức
Kitô» (Gl 6,2).
Tóm lại, hãy trở nên hiện thân cho tình yêu Thiên Chúa
giữa tha nhân, giữa trần gian. Thiết tưởng đó là những điều thực tế
mà trong Tuần Thánh này chúng ta phải quyết tâm thực hiện trong đời
sống mình. Nếu không Tuần Thánh này cũng chỉ là một tuần vô bổ, trôi
qua không dấu vết trong đời sống chúng ta.
CẦU NGUYỆN
Tôi nghe thấy tiếng Chúa nói với tôi: «Con ơi, Cha yêu con, yêu
con vô cùng. Cuộc tử nạn và cái chết của Đức Giêsu chính là bằng
chứng rrt nhất cho tình yêu của Cha. Cha mong mỏi con đáp lại tình
yêu của Cha như một tình nhân mong được người mình yêu đáp trả lại
bằng tình yêu. Cách đáp trả tình yêu mà Cha mong muốn nhất nơi con,
chính là con ban rải yêu thương một cách thật quảng đại,thậm chí
phung phí, cho những người sống chung quanh con, những người con
thường gặp hằng ngày. Hãy trở nên hiện thân của tình yêu Cha giữa
mọi người».
Gs. Nguyễn chính Kết