Đừng an tâm và ngủ quên trong tôn
giáo chân chính của mình
Chúa Nhật lễ Hiển Linh
(8-1-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Is 60,1-6: (1) Đứng lên, bừng sáng
lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình
minh chiếu toả trên ngươi
· Ep 3,2-3a.5-6: (6) Trong Đức Kitô
Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp
với người Dothái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều
Thiên Chúa hứa.
· TIN MỪNG : Mt 2,1-12
Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giêsu Hài Nhi
(1) Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê,
thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến
Giêrusalem, (2) và hỏi: «Đức Vua dân Dothái
mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện
bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người». (3)
Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao.
(4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và
kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu.
(5) Họ trả lời: «Tại Bêlem, miền Giuđê, vì
trong sách ngôn sứ, có chép rằng: (6) “Phần ngươi,
hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của
Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời”».
(7) Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh
đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8)
Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: «Xin quý ngài đi
dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi,
để tôi cũng đến bái lạy Người». (9) Nghe nhà vua
nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại
dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. (10)
Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ
vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ
lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà
dâng tiến. (12) Sau đó, họ được báo mộng là đừng
trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý :
1. Các thượng tế và kinh sư Do Thái biết rõ Đấng Cứu Thế sinh
ra ở đâu lại không đến gặp Ngài, còn các nhà chiêm tinh ở mãi tận
đâu đâu, phải nhờ các thượng tế và kinh sư Do Thái chỉ cho, thì lại
gặp được Ngài. Tại sao lại có chuyện mỉa mai và nghịch lý như vậy?
2. Rút kinh nghiệm từ bài Tin Mừng thì để gặp được Thiên Chúa,
điều quan trọng nhất là gì? Cần phải có tôn giáo chân chính, hay
phải có thiện chí và quyết tâm đi tìm Ngài? Cái nào là yếu tố quyết
định để gặp được Ngài?
3. Động lực gì khiến vua Hêrôđê muốn giết hài nhi Giêsu, cho
dù biết hài nhi ấy là người của Thiên Chúa? Tuy Kinh Thánh không đề
cập đến, nhưng ta thử đoán xem các thượng tế và kinh sư Do Thái –
với bản chất của họ như ta đã thấy trong các Tin Mừng – đã có thái
độ nào trước tội ác của Hêrôđê: can đảm ngăn cản nhà vua hay mặc kệ
Đấng Cứu Thế mà họ mong chờ ra sao thì ra?
Suy tư gợi ý :
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy ba hạng người khác nhau với ba thái độ
khác nhau đối với Đức Giêsu mới sinh ra. Trước hết là các nhà chiêm
tinh đến từ phương Đông, sau là các thượng tế và kinh sư tại
Giêrusalem, và cuối cùng là vua Hêrôđê.
1. Thái
độ của các nhà chiêm tinh đông phương
Các nhà chiêm tinh được nói đến như những người thuộc dân ngoại,
không phải là người Do Thái giáo. Họ đại diện cho các dân tộc, các
quốc gia trên thế giới đến thờ lạy Đức Giêsu, Đấng trong tương lai
và vĩnh cửu sẽ là vua của toàn thể thế giới và vũ trụ. Thái độ của
các nhà chiêm tinh là thái độ của những người tìm kiếm, khắc khoải
đối với Thiên Chúa, với tha nhân, với chân lý, công lý và tình
thương. Và chính vì họ quyết tâm lên đường và ra công tìm kiếm nên
họ đã gặp, đúng như Đức Giêsu nói: «Ai xin thì sẽ được, ai tìm
thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho» (Mt 7,8). Khi ngôi sao
biến mất, việc tìm kiếm bị thử thách, họ không nản chí bỏ cuộc, vẫn
tiếp tục tìm kiếm, vì họ đã quyết tâm và hết lòng tìm kiếm: «Các
ngươi tìm Ta thì các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi hết lòng tìm
kiếm Ta» (Gr 29,13); «Kẻ yêu Ta sẽ được Ta yêu lại, người tìm
Ta ắt sẽ gặp Ta» (Cn 8,17).
2. Thái
độ của các thượng tế và kinh sư tại Giêrusalem
Các thượng tế và kinh sư Do Thái là những bậc thông thái, hiểu biết
Kinh Thánh, thông thạo các lẽ đạo của tôn giáo chân chính do chính
Thiên Chúa thiết lập. Vì thế, họ đại diện cho những người có chính
đạo. Họ là những người có Kinh Thánh trong tay, nắm vững những kiến
thức thần học, họ rao giảng và bảo vệ chân lý của Thiên Chúa. Nhưng
khi Đức Giêsu đến, những hiểu biết rộng rãi và sâu xa của họ chẳng
giúp ích gì cho họ trong việc tìm gặp Ngài. Họ biết rất rõ Đấng Cứu
Thế sinh ra tại Bêlem, vì Kinh Thánh cho biết như thế. Nhưng họ biết
để mà biết, để mà dạy người khác, để mà tự hào rằng mình hiểu biết,
chứ không phải biết để áp dụng vào đời sống, để đem ra thực hành. Vì
thế, cái biết của họ trở nên vô ích cho họ.
Cũng vậy, rất nhiều Kitô hữu hiểu biết rất sâu xa về Thiên Chúa, về
chân lý, nhưng họ biết chỉ để biết, để khoe, để dạy người khác, để
rao giảng, chứ không phải để áp dụng sự hiểu biết ấy vào đời sống
thực tế. Vì thế, sự hiểu biết ấy không đem lại sự cứu rỗi cho họ.
Đức Giêsu nói: «Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực
hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá… Còn ai nghe những
lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người
ngu dại xây nhà trên cát» (Mt 7,24.26). «Mẹ tôi và anh em tôi
chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành» (Lc
8,21); «Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì
thật phúc cho anh em» (Ga 13,17); «Phúc thay kẻ lắng nghe và
tuân giữ lời Thiên Chúa» (Lc 11,28). Dụ ngôn người gieo giống (Lc
8,11-15) cho thấy những người nhận được Lời Chúa mà không đem áp
dụng vào đời sống thực tế cũng giống như những mảnh đất «vệ đường»,
đầy «đá sỏi», đầy «bụi gai», khiến Lời Chúa không phát
triển được. Còn những ai đem Lời Chúa ra thực hành, giống như mảnh
đất mầu mỡ khiến Lời Chúa sinh hoa kết trái.
3. Bài
học cho những ai đang theo chính đạo
Câu chuyện về hai mẫu người trên cho chúng ta bài học quí giá. Những
người tưởng rằng mình đang nắm được Thiên Chúa cùng với chân lý,
công lý và tình thương trong tay, đồng thời ngủ say và an tâm trong
sự lầm tưởng ấy, họ sẽ chẳng bao giờ gặp được Ngài và thực thi được
những giá trị kia. Vì Thiên Chúa, chân lý, công lý và tình thương là
những thực tại sống động, không phải thứ đồ vật tĩnh lặng có thể nắm
được trong tay, nên chỉ có thể tìm kiếm và gặp được trong từng thời
điểm, chứ không thể nắm bắt một lần cho mãi mãi. Cho nên muốn gặp
Thiên Chúa, muốn sống trong chân lý, công lý và tình thương, ta phải
không ngừng lên đường tìm kiếm, ra sức thực hiện trong từng thời
điểm. Ngừng tìm kiếm, ngừng nỗ lực, thì những thực tại cần thiết ấy
sẽ vuột khỏi ta ngay, và sự ngừng nghỉ ấy sẽ tạo cho ta một ảo tưởng
rằng mình đang nắm được Thiên Chúa, chân lý, công lý và tình thương
ở trong tay. Trong khi ấy, thực tế là ta đang xa rời Thiên Chúa và
thường hành động ngược lại với chân lý, công lý và tình thương. Thật
vậy, những ai dù đang theo chính đạo, tự hào tự mãn về chính đạo của
mình, tưởng mình đang nắm được chân lý trong tay, nhưng trong thực
tế lại không sống đạo của mình, lại còn khinh chê người khác, họ sẽ
trở thành những kẻ tự lừa dối chính mình: «Anh em hãy đem Lời ấy
ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình» (Gc
1,22). Những ai chỉ biết rao giảng Lời Chúa cho người khác, còn
chính bản thân mình lại không thèm áp dụng, hãy lo ngại cho số phận
mình như thánh Phaolô: «Tôi phải bắt thân thể tôi chịu cực và
phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị
loại bỏ» (1Cr 9,27).
Chuyện các nhà chiêm tinh – mà truyền thống Giáo Hội coi là đại diện
cho người ngoại và các dân tộc – cho thấy: dù là người ngoại giáo
hay không có tôn giáo chân chính, nhưng nếu người ta thật sự nỗ lực
tìm kiếm Thiên Chúa thì họ sẽ gặp được Ngài, nếu thật sự muốn thực
thi chân lý, công lý và tình thương thì họ sẽ thực hiện được. Còn
những người có tôn giáo chân chính, nhưng lại thờ ơ với việc tìm
kiếm Thiên Chúa, với việc thực thi chân lý, công lý và tình thương,
người ấy sẽ chẳng gặp được Ngài, và trong người ấy không có chân lý,
công lý và tình thương. Tôn giáo chân chính được ví như một chiếc xe
hơi tốt, có thể giúp ta đi đến nơi cần đến một cách an toàn, nhanh
chóng và bảo đảm. Còn các tôn giáo khác như những loại xe kém hơn.
Nhưng có đi đến nơi hay không, không tùy thuộc vào loại xe cho bằng
ý chí quyết tâm muốn đi đến nơi. Người không có xe, phải đi bộ mà
quyết tâm đi thì chắc chắn sẽ tới nơi, còn có xe tốt và bảo đảm đến
đâu, nhưng chính bản thân lại không quyết tâm đi, thì không thể đến
nơi cần đến được. Thiên Chúa vẫn luôn luôn tôn trọng đồng thời đòi
hỏi sự tự do và quyết định của con người.
4. Thái
độ của vua Hêrôđê, nhà cầm quyền
Nói tới Hêrôđê, ta thấy ông có một nỗi sợ hãi khi nghe các nhà chiêm
tinh cho biết: «Đức Vua dân Dothái mới sinh». Ông sợ hài nhi
mới sinh ấy sẽ lật đổ vương quyền của ông. Và dù biết hài nhi ấy đến
từ Thiên Chúa, ông vẫn quyết tâm trừ khử. Như thế, tính tham quyền
cố vị – ngoài xã hội cũng như trong Giáo Hội – có thể làm người ta
mất hết lương tri, sẵn sàng gây nên tội ác, hay ít ra là im lặng để
mặc sự ác phát triển. Hêrôđê quyết tâm tìm giết con trẻ Giêsu bằng
cách «sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng
lân cận từ hai tuổi trở xuống» (Mt 2,16). Tin Mừng không nói đến
thái độ của các thượng tế và kinh sư trước tội ác của nhà cầm quyền.
Như đã nói trên, sự hiểu biết của họ về việc sinh ra của Đấng Cứu
Thế chỉ là thứ hiểu biết để mà hiểu biết, để mà rao giảng, chứ không
hề làm cho họ trở nên lo lắng cho số phận của Đấng Cứu Thế hài nhi.
Đối với họ, sinh mạng của Đấng Cứu Thế chẳng là gì cả, chuyện quan
trọng đối với họ là sự an toàn bản thân và giữ cho vững những «chiếc
ghế» của họ trong tôn giáo Do Thái. Theo họ, lên tiếng để làm gì
cho liên lụy đến bản thân, cho mất quan hệ tốt đẹp với nhà cầm quyền?
Im lặng cho mọi sự qua đi, bất chấp tốt xấu, đó không phải là thái
độ của những ngôn sứ hay mục tử đích thật. Nếu họ sẵn sàng «bỏ
chiên mà chạy khi thấy sói đến» (Ga 10,12) thì họ cũng sẵn sàng
im lặng bỏ mặc Đấng Cứu Thế mà họ rao giảng ra sao thì ra, dẫu có
nguy hiểm đến tính mạng.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con tưởng cứ theo chính đạo do Cha sáng lập là bảo đảm được
cứu rỗi. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, kẻ ngoại giáo quyết
tâm tìm kiếm Cha – là chân lý, công lý và tình thương – thì lại bảo
đảm gặp được Cha hơn là người có chính đạo mà lãnh đạm với Cha. Xin
Cha đừng để con say ngủ trong chính đạo mà thờ ơ với những gì là
chân lý, công lý và tình thương. Amen.
Gs. Nguyễn Chính Kết