Hãy loan báo Tin Mừng
Chúa Nhật lễ Thăng Thiên (28-5-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Cv 1,1-11: (11) Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ
các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy
Người lên trời.
· Ep 1,17-23: Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức
Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân
thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được
viên mãn.
· TIN MỪNG: Mc 16,15-20
Những lời cuối cùng của Đức Giêsu trước khi Người lên trời
Khi ấy, (15) Người nói với các môn đệ: «Anh em
hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ
tạo. (16) Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ;
còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. (17) Đây là
những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ
trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. (18)
Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng
sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ
được mạnh khoẻ».
(19) Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và
ngự bên hữu Thiên Chúa. (20) Còn các Tông Đồ thì
ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và
dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã trăn trối lại những gì
cho chúng ta, là những môn đệ của Ngài? Chúng ta có quan tâm
thực hiện những điều ấy không? thực hiện thế nào?
2. Những dấu lạ – mà Đức Giêsu hứa sẽ đi theo những kẻ có
lòng tin – có ứng nghiệm với chúng ta không? Nếu không thì tại
vì Ngài hứa «cuội» hay vì chúng ta chưa có đức tin đích
thực? Đức tin đích thực là gì? Ta đã có chưa?
3. Là người đang rao giảng Tin Mừng, ta đã có đức tin thật
sự chưa, hay mới chỉ là thứ đức tin được tuyên xưng chứ chưa
được sống? Có những «dấu lạ» đi kèm theo lời ta rao giảng
để những ai nghe ta dễ tin tưởng không?
Suy tư gợi ý:
1.
Lời trăn trối cuối cùng
Trước khi từ giã các môn đệ để về trời và để hiện hữu một cách
khác bên cạnh các ông, Đức Giêsu đã trăn trối nhiều điều. Những
lời trăn trối quan trọng nhất là những lời Ngài nói ra trong bữa
tiệc ly trước khi ra đi chịu tử nạn và ngay trước khi về trời.
– Những trăn trối trong bữa tiệc ly nói lên tinh thần mà môn đệ
của Ngài phải có: chủ yếu là yêu thương nhau (Ga 13), tin và hợp
tác với Thánh Thần (Ga 14;16), liên kết chặt chẽ với Ngài (Ga
15), hiệp nhất với nhau (Ga 17), mong đợi Ngài trở lại (Ga 16).
– Còn lời trăn trối ngay trước khi Ngài về trời nói lên việc mà
các môn đệ Ngài phải làm là «đi khắp tứ phương thiên hạ, loan
báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo» để tiếp tục sự nghiệp mà
Ngài đã khởi sự. Đó cũng chính là công việc phúc âm hóa và tái
phúc âm hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà còn thật sự
sống tinh thần Tin Mừng nữa.
Về lời trăn trối sau, rất nhiều Kitô hữu chỉ hiểu một cách nông
cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên
Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu, và dừng lại tại đấy!
Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi thì ích lợi gì? Chẳng hạn biết
rõ sự cần thiết và ích lợi của thức ăn, hay biết rõ mình cần
phải ăn gì để mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, thì sự biết rõ ấy
có ích lợi gì? Nếu biết mà không sống điều mình biết, không đem
nó ra áp dụng thì chẳng những vô ích mà còn phải chịu trách
nhiệm về cái biết ấy nữa. Vì kẻ nhận 1 nén bạc thì chỉ phải làm
lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén thì có trách
nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác kia! (x. Mt 25,14-30; Lc
19,12-27).
Vì vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho
mình bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết
Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng thì chỉ làm cho
người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ.
«Đức tin chết» hay «đức tin không có việc làm» (Gc
2,17.26) đâu thể đem lại ơn cứu độ? Cũng như có đồ mà không đem
ra dùng thì đồ ấy có ích lợi gì? hoặc cho người ta đồ mà không
chỉ cho người ta cách sử dụng thì coi chừng kẻo làm hại người
ta? Việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp
người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng. Như
vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin
Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và
sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai
thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô
cùng cho mình và cho người. Nên đã biết Tin Mừng hoặc giúp ai về
mặt Tin Mừng thì hãy biết hoặc giúp «tới nơi tới chốn»,
với tinh thần trách nhiệm. Đừng «đánh trống bỏ dùi», «đem
con bỏ chợ», tức giúp nửa vời, rất tai hại!
2.
Những dấu lạ đi theo những ai có lòng tin
Theo lời của Đức Giêsu thì những kẻ có lòng tin đích thực – tức
tin và sống điều mình tin – sẽ có được những dấu lạ theo mình: «Họ
sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được
rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt
tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ».
Đó là những điều mà tôi nghĩ rằng thời nào cũng đều ứng nghiệm,
không chỉ là thời các tông đồ. Và những điều này trước tiên được
ứng nghiệm ngay nơi bản thân những người tin rồi sau đó mới ứng
nghiệm ra bên ngoài, tức với người khác hay với ngoại cảnh. Tuy
nhiên, lời Ngài nói cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh, chứ không
nên hiểu theo nghĩa đen: tôi không tin rằng bất kỳ người mạnh
tin nào cũng đều có thể uống thuốc độc mà không chết, hay bị rắn
cắn mà không sao! Vì thế, những dấu lạ nói trên cần được hiểu
như sau:
– «trừ được quỉ»: quỉ tượng trưng cho thế lực của sự ác.
Người thật sự tin vào Thiên Chúa – là nguồn sức mạnh của mình –
có thể thắng được những thế lực của sự ác hay của tội lỗi ngay
trong bản thân mình. Cụ thể là thắng được những cám dỗ, những tư
tưởng xấu, những khuynh hướng xấu, v.v… Nếu đức tin của họ mạnh
hơn nữa, họ có thể giúp những người yếu tin cũng thắng được thế
lực ác giống như họ.
– «nói được những tiếng mới lạ»: người có đức tin đích
thực và sống nhuần nhuyễn đức tin ấy sẽ cảm nghiệm được sự hiện
diện của Thiên Chúa và Đức Giêsu, tức chứng ngộ được chân lý nơi
bản thân mình. Nhờ đó họ có thể tự diễn đạt đức tin của mình
theo đủ mọi phương thức khác nhau, chứ không dùng những kiểu nói
sáo mòn, trống rỗng, thiếu chất sống. Họ luôn luôn dùng những
cách diễn tả mới lạ, phù hợp với thời đại, với trình độ của
người nghe, giúp người nghe cũng cảm nghiệm được thực tế đức tin
như họ. Họ như một y sĩ đã nắm thật vững cốt yếu của y lý nên
biết tùy bệnh mà tự mình cho thuốc thật hữu hiệu, phù hợp với
từng căn bệnh. Họ không sao y những bài thuốc có sẵn của người
khác để áp dụng chữa bệnh một cách máy móc giống như những y sĩ
chưa nắm vững y lý. Hay như một thầy giáo đã tiêu hóa thật kỹ
môn mình dạy nên chỉ cần nói tất cả những gì đang có sẵn trong
bụng không phải lệ thuộc một bài bản nào cả. Họ có thể nói một
cách sáng tạo theo đủ mọi kiểu cách mới lạ để học sinh dễ hiểu
mà vẫn luôn luôn chính xác, chứ không nô lệ vào những giáo trình
mẫu do người khác soạn sẵn.
– «cầm được rắn trong tay»: người có đức tin đích thực ắt
nhiên có tâm hồn an bình và đầy tràn tình yêu. Họ coi mọi người
– dù xấu ác hay ghét họ, muốn làm hại họ – như anh em ruột thịt
và sẵn sàng hy sinh cho những người ấy. Vì thế, họ có thể tiếp
cận và sống chung cả với những người xấu ác mà không hề bị hại,
vì những người nguy hiểm này vẫn luôn cảm nghiệm được tình
thương của họ dành cho mình: không ai lại muốn hại người đang
yêu thương mình.
– «dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao»: tất cả
những nghịch cảnh, những đau khổ trong cuộc đời không thể làm
mất được sự bình an và hạnh phúc của những người có đức tin thật
sự. Với đức tin, họ biết rằng tất cả những đau khổ hay nghịch
cảnh Chúa gửi tới đều là những hồng ân do tình thương của Ngài.
Họ tin rằng: « Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho
những ai yêu mến Người» (Rm 8,28) và «những đau khổ chúng
ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ
mặc khải nơi chúng ta» (8,18). Vì thế, họ rất vui khi đau
khổ hay nghịch cảnh xảy tới, nên đau khổ hay nghịch cảnh cỡ nào
cũng không hề làm hại được họ.
– «nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này
sẽ được mạnh khoẻ»: Ngoài ra người có đức tin đích thực còn
có sức cảm hóa và giúp những người xấu ác – là người bị bệnh về
tâm linh – trở về đường ngay nẻo chính. Họ có khả năng nâng đỡ
và thêm sức mạnh cho những người yếu đuối tinh thần. Ai gần họ
cũng cảm thấy mình bình an hạnh phúc hơn, tin vững mạnh vào
Thiên Chúa, vào chính bản thân và tương lai mình hơn.
3.
«Có Chúa cùng hoạt
động» với người rao giảng Tin Mừng
Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an lòng
tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: «Các Tông Đồ ra đi
rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng
những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng».
Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu
– nghĩa là không chỉ giúp người ta biết Tin Mừng, mà còn làm cho
họ sống Tin Mừng nữa – đó là «có Chúa cùng hoạt động với họ».
Nhưng làm sao để có Chúa ở cùng? – Họ chỉ có Chúa ở cùng khi họ
thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với
Ngài bằng tình yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh,
dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có «những dấu lạ kèm theo»
xác nhận những gì họ rao giảng là chân lý. Dấu lạ quan trọng và
căn bản nhất – có khả năng thuyết phục những người nghe họ –
chính là họ đã thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ
sống điều mình nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy
sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn «tâm phục khẩu phục»,
đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở
nơi họ. Ước gì mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn «có Chúa
cùng hoạt động» như vậy!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con biết sống đức tin của mình một cách thực tế
và sống động. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin
của mình hết sức mạnh mẽ trước mặt mọi người, nhưng đời sống con
lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu! Thế mà con lại rao giảng
thật hùng hồn về đức tin ấy khiến người nghe con cảm thấy những
lời con nói chỉ là những sáo ngữ, những lời giả dối, không thể
tin nổi. Xin Cha giúp con thật sự sống những điều con tin, và
rao giảng những điều con sống.
Gs. Nguyễn Chính Kết