Không nên tự hào và mong được ca
tụng
khi làm được một việc tốt đẹp, tài
giỏi
Chúa Nhật thứ 6
Thường Niên (12-2-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Lv 13,1-2.44-46: (1) Đức Chúa phán với ông
Môsê và ông Aharon: (2) «Khi trên da thịt
người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương
phong hủi, thì người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế Aharon hoặc
với một trong các tư tế, con của Aharon».
· 1Cr 10,31–11,1: (31) Dù ăn, dù uống, hay
làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa.
(1) Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước
Đức Kitô.
· TIN MỪNG: Mc 1,40-45
Đức Giêsu chữa người bị phong hủi
(40) Có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ
xuống van xin rằng: «Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi
được sạch». (41) Người chạnh lòng thương
giơ tay đụng vào anh và bảo: «Tôi muốn anh được sạch!»
(42) Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh
được sạch. (43) Nhưng Người nghiêm giọng yêu cầu
anh đi ngay, (44) và bảo anh: «Coi chừng,
đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã
được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, để làm
chứng cho người ta biết». (45) Nhưng vừa ra
khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi
Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những
nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với
Người.
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. So với những người Do Thái thường tình, cách đối xử của Đức
Giêsu đối với những người cùi hủi có gì khác lạ? Ta có thể rút ra
bài học gì về cách xử sự với những người xấu số, bị người đời khinh
ghét, ghê tởm?
2. Đức Giêsu có phân biệt đối xử dựa trên giàu nghèo, sang hèn
không? Sự phân biệt đối xử như thế chứng tỏ một tình trạng tâm linh
thế nào?
3. Tại sao Đức Giêsu lại yêu cầu người cùi được Ngài chữa lành
đừng nói gì về việc Ngài đã làm cho anh ta?
4. Làm được một việc lành mà lại muốn khoe cho người khác biết
thì ta được lợi gì về mặt tâm linh? Thiên Chúa đánh giá việc làm của
con người dựa trên cái gì?
Suy tư gợi ý:
1. Thái
độ của Đức Giêsu đối với những người bệnh cùi: yêu thương và tôn
trọng người xấu số
Bệnh cùi là một bệnh rất dễ lây truyền, mà ở vào thời Đức Giêsu, lại
là một bệnh nan y không có thuốc chữa. Nếu không có biện pháp cách
ly những người bệnh cùi khỏi những người không bệnh, thì thật là
nguy hiểm cho xã hội. Vì thế, luật Môsê (x. Lv 13,1–14,57) chủ
trương buộc những người lãnh đạo trong dân phải cô lập họ ở một nơi
nhất định, thường là hẻo lánh, đồng thời tuyên bố những người nhiễm
bệnh này là người ô uế, để mọi người tránh xa họ. Ai tiếp xúc với họ
thì cũng trở thành ô uế. Nhưng người cùi nhiều khi lại không chịu ở
nơi qui định cho họ, mà lại hay đi lang thang để xin ăn, hoặc tìm
cách gặp thân nhân của mình. Vì thế, để buộc họ phải tránh xa mình,
một số dân chúng đã ném đá họ khi gặp họ trên đường đi. Do đó, người
bị bệnh cùi phải sống một cuộc sống hết sức cô đơn, khốn khổ, thiếu
thốn, và đầy mặc cảm vì bị mọi người ghê tởm, xa lánh.
Nhưng theo Đức Giêsu, dù thân hình họ xấu xa gớm ghiếc, họ vẫn là
con cái Thiên Chúa, là con cháu của Ápraham, là đồng bào ruột thịt,
nên họ vẫn là anh chị em với mình. Vì thế, mình cần phải yêu thương
họ, phải đối xử với họ bằng tình thương. Vả lại, không vì hình thể
gớm ghiếc bên ngoài mà giá trị con người của họ bị suy giảm trước
mặt Thiên Chúa. Đối với Đức Giêsu, người biết nhìn vào chiều sâu của
tâm hồn con người, thì họ không đáng gớm ghiếc và xa lánh cho bằng
những người cùi hủi về mặt tâm linh. Cùi hủi tâm linh là tình trạng
của những con người sống không biết đến tình nghĩa, sống ích kỷ, chỉ
nghĩ tới hạnh phúc hay đau khổ của một mình mình hay của gia đình
mình, không hề nghĩ đến hạnh phúc hay đau khổ của người khác, hay
của những gia đình khác. Họ sẵn sàng có những hành động bỉ ổi để đè
nén hay áp chế người khác, và cách hành động của họ thường là «ném
đá dấu tay», «khẩu Phật tâm xà». Càng là người trí thức,
càng có địa vị cao trong tôn giáo và xã hội, sự cùi hủi này càng
được ngụy trang một cách tinh vi, khéo léo bằng những lời nói, hành
động vị tha, bằng vẻ đạo đức bên ngoài (x. Mt 23). Đức Giêsu càng tỏ
ra an ủi vỗ những người cùi hủi thể chất bao nhiêu, Ngài càng không
tiếc lời khiển trách những người cùi hủi tâm linh bấy nhiêu, thậm
chí đến «cạn tàu ráo máng» (x. Mt 23).
Khi người cùi hủi đến cầu cứu Đức Giêsu, Ngài không hề tỏ ra ghê tởm
hay xúc phạm đến anh. Trái lại, Ngài «chạnh lòng thương và giơ
tay đụng vào» người anh và nói: «Tôi muốn anh được sạch!»
Ta đừng vội nghĩ rằng Ngài là Thiên Chúa nên Ngài không sợ lây nhiễm,
hay có lây nhiễm thì Ngài sẽ dùng phép lạ để tự chữa. Tôi nghĩ rằng
Ngài là «người» thật sự, đúng nghĩa một con người, nghĩa là
có thể bị lây nhiễm như bao người khác. Và nếu bị lây nhiễm, không
hẳn Ngài sẽ dùng quyền phép Thiên Chúa để tự chữa cho mình, cũng như
Ngài đã không lạm dụng quyền năng Thiên Chúa để biến đá thành bánh
mà ăn khi đói (x. Mt 4,24), hay để trốn thoát khi bị bắt (Mt
26,47-56), v.v… Tốt hơn, nên nghĩ rằng Ngài đối xử với anh ta bằng
một tình yêu chân thành nhất, bằng sự tôn trọng đúng nghĩa nhất của
một con người đối với một con người, bất chấp phải trả giá đắt. Và
đó là điều ta nên noi gương Ngài khi đối xử với mọi người, nhất là
với những người xấu số, bị xã hội coi thường, khinh bỉ. Đạo đức của
ta có hay không, ít hay nhiều hệ tại điều này. Sự phân biệt đối xử
căn cứ trên giàu nghèo, sang hèn chứng tỏ một tâm hồn nghèo nàn về
đạo đức và tâm linh.
2. Thái
độ của Đức Giêsu: không muốn ai biết về mình
Bài Tin Mừng cho thấy, sau khi chữa lành căn bệnh nan y như thế,
Ngài nói với người được chữa lành: «Đừng nói gì với ai cả».
Đó là một thái độ thường hằng của Ngài sau khi làm được một điều gì
đáng khen ngợi, thậm chí đến kinh ngạc: Ngài không muốn được người
khác biết đến (x. Mt 8,4; 16,20; 17,9; Mc 1,34; 1,44; Lc 4,41), trì
phi vì ích lợi cho họ (chẳng hạn để họ được cứu rỗi). Ngài đã áp
dụng đúng điều Ngài khuyên mọi người: «Khi làm việc lành phúc đức,
anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Khi bố
thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm» (Mt 6,1.3).
Thử đặt mình vào địa vị của Ngài khi làm xong một việc mà không ai
làm được, ta sẽ cảm thấy ta muốn được nổi tiếng, được mọi người ca
tụng hay khen ngợi, hầu đi tới đâu ta cũng được khâm phục, kính
trọng và được đối xử một cách đặc biệt. Ta cũng mong có những đặc
quyền đặc lợi vì những việc phi thường đã làm được. Khi viết được
một bài báo hay, giảng được một bài mà ta đoán được nhiều người tâm
đắc, làm được một việc tốt, ta mong chờ những lời khen ngợi. Nếu
không được khen, ta cảm thấy như bị hụt hẫng, lòng không thỏa mãn.
Ta muốn «cái tôi» của ta được phình to lên, to hơn những
người khác.
Xét trên bình diện tự nhiên, đó là một khuynh hướng rất thường tình,
rất phổ quát, khá lành mạnh, nó tạo nên động lực để ta cố gắng, nỗ
lực hết mình. Tuy nhiên, nếu để khuynh hướng tự nhiên này ảnh hưởng
quá đáng trên tất cả mọi việc làm, đến nỗi nó trở thành động lực duy
nhất thúc đẩy ta hành động tốt, thì ta trở nên một con người rất tầm
thường, dù ta có làm được những việc phi thường. Lúc đó, ta làm mọi
sự chỉ là để được khen, được nổi tiếng, một mục đích hoàn toàn vị kỷ,
chứ không còn vì yêu thương, vì ích lợi cho người khác nữa.
Còn xét trên bình diện siêu nhiên, khuynh hướng này có thể trở thành
một mầm nguy hại cho sự phát triển tâm linh, đạo đức. Theo định luật
của tâm linh, muốn cho tâm linh lớn lên, phát triển, thì «cái tôi»
phải nhỏ đi, nghĩa là phải sống tinh thần tự hủy, tự xóa mình, quên
mình. Đời sống tâm linh càng cao, thì động lực thúc đẩy ta hành động
càng phải vị tha, càng phải «vô kỷ, vô công, vô danh» (=không
làm vì mình, làm xong không cậy công, không mong được người khác
biết mình đã làm).
3. Cách
Thiên Chúa đánh giá việc làm của con người
Sự thánh thiện của một người được đánh giá theo mức độ vị tha, quên
mình khi hành động. Động lực thúc đẩy hành động của một người thánh
thiện chính là tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Càng thánh
thiện thì động lực thúc đẩy càng phải thuần túy là tình yêu hơn, và
càng ít tính chất vị kỷ đi. Chính tình yêu làm cho hành động – dù
nhỏ hay lớn – trở nên có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Thánh Phaolô
viết: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi
điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến
chuyển núi dời non, mà không có tình yêu, thì tôi cũng chẳng là gì
cả. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả
thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không vì yêu thương, thì cũng
chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,2-3). Như thế, những việc có vẻ
đầy tình thương như «đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí»,
nếu ta làm chỉ vì mong được tiếng là đạo đức, là thương người, hay
để được một lợi ích nào đó cho bản thân ta, chứ hoàn toàn không vì
yêu thương, thì chẳng có giá trị gì trước mặt Thiên Chúa. Nó chẳng
phải là một việc đạo đức, mặc dù có vẻ rất đạo đức.
Câu nói trên của thánh Phaolô cho thấy: một việc làm dù rất nhỏ như
quét nhà, giặt giũ, nấu bếp của một người vợ hay người con trong nhà,
nếu được làm với tâm tình yêu mến Thiên Chúa, nhằm làm cho những
người thân yêu của mình tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, thì có thể có
giá trị rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Những việc làm nhỏ bé được làm
với tình yêu ấy rất có thể giá trị trước Thiên Chúa hơn cả những
việc làm hết sức lớn lao của những bậc vị vọng trong xã hội cũng như
Giáo Hội, nếu những người này làm chỉ vì muốn được danh tiếng, được
thăng quan tiến chức, chứ không phải vì yêu thương.
Cứ xem cách đánh giá của Đức Giêsu khi quan sát những người bỏ tiền
vào thùng dâng cúng cho đền thờ thì thấy rõ cách định giá trị của
Thiên Chúa đối với các việc làm của con người: «Bà goá nghèo này
đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết» (x. Mt 12,41-44). Cách Ngài
đánh giá khác hẳn với cách của con người. Ngài dựa trên tấm lòng,
động lực thúc đẩy hành động, chứ không dựa trên hiện vật hay kết quả
của hành động. Cùng một việc làm, nhưng động lực tình yêu càng lớn,
thì giá trị công việc càng cao. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể đánh
giá chính xác giá trị của một hành động, vì chỉ Ngài mới biết rõ
động lực thúc đẩy của hành động ấy là gì.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Đức Giêsu luôn luôn tự đồng hóa Ngài với tha nhân của con,
nhất là với những người bé mọn, đau khổ nhất (x. Mt 25,40.45; Lc
9,48). Xin cho con biết yêu thương và cư xử với những người bị thế
gian coi thường ấy như với chính Cha và Đức Giêsu vậy.
Gs. Nguyễn Chính Kết