Mến Chúa yêu người
chỉ còn là một điều luật duy nhất
Chúa Nhật thứ 30 Thường Niên
(23-10-2005)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Xh 22,20-26: (20) Người ngoại kiều, ngươi
không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều
ở đất Ai-cập. (21) Mẹ goá con côi, các ngươi không
được ức hiếp. (22) Nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu
Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu.
· 1 Tx 1,5c-10: (5) Khi chúng tôi loan báo
Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn
có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.
· TIN MỪNG: Mt 22,34-40
Điều răn trọng nhất
(34) Khi nghe tin Đức Giêsu đã làm cho nhóm Xađốc
phải câm miệng, thì những người Pharisêu họp nhau lại. (35)
Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử
Người rằng: (36) «Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê,
điều răn nào là điều răn trọng nhất?» (37) Đức
Giêsu đáp: «Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. (38)
Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất.
(39) Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là:
ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (40)
Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều
răn ấy».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. 600 điều luật của Cựu Ước bao gồm đủ mọi khía cạnh: thờ
phượng Thiên Chúa, cầu nguyện, thực hành các nghi thức tôn giáo, giữ
mình trong sạch, yêu thương và đối xử tốt với tha nhân, v.v… Nếu
chưa biết lập trường của Đức Giêsu, thì theo quan niệm tự nhiên của
ta, ta cho khía cạnh nào là quan trọng nhất?
2. Theo tinh thần của Đức Giêsu, điều quan trọng nhất trong
đời sống Kitô hữu là gì? Bạn có cùng quan niệm như Ngài không? Bạn
đã thật sự sống theo quan niệm ấy chưa?
3. Sống đạo mà không phân biệt được điều nào cốt yếu và điều
nào phụ thuộc, nên cứ lấy chính làm phụ, lấy phụ làm chính, thì kết
quả thế nào?
Suy tư gợi ý:
1. Bối cảnh bài Tin Mừng
Người Pharisêu xếp loại các điều luật được ghi trong Cựu Ước thành
khoảng 600 điều. Và các luật sĩ thường tranh cãi với nhau trong việc
xếp theo thứ tự ưu tiên những điều luật quan trọng nhất. Họ không
đồng ý với nhau về vấn đề này, vì phái này đặt nặng khía cạnh này,
phái khác đặt nặng khía cạnh khác. Có người chủ trương coi việc thờ
phượng Thiên Chúa là quan trọng nhất. Có người coi việc sống trong
sạch, không nhiễm uế là quan trọng nhất. Có người coi việc giữ thật
nhiệm nhặt các giới luật Môsê là quan trọng nhất. Có người coi việc
cầu nguyện với Thiên Chúa là quan trọng nhất. V. v… Vì thế, một luật
sĩ đã đem vấn đề này ra hỏi Đức Giêsu: «Thưa Thầy, trong sách
Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?» và Ngài đã trả
lời họ rằng có hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu
người.
2. Ta coi điều gì là quan trọng nhất trong
đời sống Kitô hữu?
Câu trả lời của Ngài phải khiến chúng ta xét mình lại, và đặt lại
vấn đề: trong đời sống Kitô hữu hay tu đức của ta, ta đặt chuyện gì
là quan trọng nhất? Ta có theo Đức Giêsu, Thầy của ta, coi hai giới
luật ấy là quan trọng nhất không? Rất có thể trong thực tế đời sống
ta đã không cùng một lập trường với Ngài, điều này bất lợi cho việc
phát triển tâm linh của ta, làm ta sống đạo theo kiểu người Pharisêu
xưa: điều chính yếu nhất thì ta coi nhẹ, còn những điều phụ thuộc
thì ta lại đặt nặng (Mt 23,23). Người Pharisêu dạy dỗ dân chúng đã
lấy điều chính làm điều phụ, lấy điều phụ làm điều chính, nên Đức
Giêsu đã gọi họ là «quân dẫn đường mù quáng!» (Mt 23,24;
x.15,24).
Đức Giêsu đã đặt tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân là quan
trọng nhất, và coi tất cả những chuyện khác là nhẹ hơn. Điều đó
không có nghĩa là Ngài chủ trương bỏ đi những điều phụ thuộc (Mt
23,23b).
3. Đức Giêsu kết hợp hai điều răn quan
trọng ấy thành một
Theo Đức Giêsu, không có sự tách biệt giữa tình yêu đối với Thiên
Chúa và tình yêu đối với tha nhân. Đối với Ngài, hai tình yêu này
chỉ là một tình yêu duy nhất: nghĩa là hễ đã yêu Thiên Chúa thì tất
nhiên phải yêu tha nhân. Không thể yêu Thiên Chúa mà lại không yêu
tha nhân. Thánh Gioan cũng nói: Ai nói mình yêu Thiên Chúa mà lại
không yêu tha nhân thì đó là kẻ nói dối (x.1Ga 4,20). Thánh nhân còn
nói rất mạnh: «Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt con cái
Thiên Chúa với con cái ma quỷ: phàm ai không sống công chính thì
không thuộc về Thiên Chúa; ai không yêu thương anh em mình, thì cũng
vậy» (1Ga 3,10). Nghĩa là ai không yêu thương anh em mình thì
người ấy không thuộc về Thiên Chúa (x.1Ga 3,14b; 4,7-8).
Đức Giêsu cũng từng nói với những người Pharisêu: «Giả như Thiên
Chúa là Cha của các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát
xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến» (Ga 8,42). Câu này
đáng cho chúng ta suy nghĩ. Một khi chúng ta đã nhận Thiên Chúa là
Cha, thì ắt nhiên chúng ta phải yêu thương đồng loại là anh em của
mình, vốn là hình ảnh và là hiện thân của Thiên Chúa giữa chúng ta.
Có ai thật sự yêu cha mẹ mà lại không yêu những người anh em
cùng sinh ra từ một khúc ruột với mình không?
Gương của Đức Giêsu cho thấy: Ngài thờ phượng Thiên Chúa và thể hiện
tình yêu của mình đối với Thiên Chúa bằng cách yêu thương nhân loại
và xả thân cho nhân loại. Hành động chết cho nhân loại vì yêu thương
họ chính là cách thờ phượng Thiên Chúa cao cả nhất của Ngài. Đối với
Ngài, thờ phượng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu nhân loại chỉ là
một tình yêu, một hành động duy nhất, không phải là hai tình yêu hay
hai hành vi tách biệt. Còn chúng ta, nhiều khi chúng ta tách biệt
hẳn việc thờ phượng Thiên Chúa khỏi việc yêu thương tha nhân. Chúng
ta không ngờ rằng đó là một thứ rối đạo thực hành từ căn bản. Rối
đạo về lý thuyết không trầm trọng bằng rối đạo trong thực hành. Thật
thế, biết bao người thờ phượng Thiên Chúa một cách chăm chỉ, sáng lễ
chiều kinh, nhưng sống chẳng có tình có nghĩa với đồng loại chút
nào. Đúng ra, theo tinh thần Đức Giêsu, sống tình nghĩa, sẵn sàng hy
sinh cho tha nhân, yêu thương những người nghèo khổ đói rách, mới là
cách thờ phượng Thiên Chúa đúng đắn nhất.
Thiên Chúa muốn chúng ta yêu mến Ngài hơn là muốn chúng ta
thờ phượng tôn vinh Ngài. Mà yêu mến Ngài thì không gì đúng bằng
việc yêu thương tha nhân, là những hiện thân cụ thể của Ngài trước
mắt chúng ta. Không phải là vô ý mà Ngài nói rằng ngày tận thế, Ngài
chỉ phán xét theo một tiêu chuẩn duy nhất, là chúng ta đã đối xử với
tha nhân, nhất là những người bé mọn, nghèo khổ như thế nào (x. Mt
25,31-46). Cũng không phải vô tình mà Ngài chỉ đưa ra duy nhất có
một điều răn: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy
yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương
anh em» (Ga 13,34). Điều đó có nghĩa là Ngài muốn nhấn mạnh sự
quan trọng của việc yêu thương nhau, và muốn chúng ta tập trung vào
điều răn này.
Trong tinh thần đó, thánh Phaolô đã tóm gọn toàn bộ lề luật của
Thiên Chúa vào một luật duy nhất: Yêu tha nhân.
Ngài viết: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Mọi điều răn
đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính
mình» (Rm 13,8-9). Chúng ta cần nhận ra tính cách mạng trong lời
của ngài. Nếu Đức Giêsu và thánh Phaolô không quả quyết như thế, thì
người phàm như chúng ta không ai dám nghĩ như vậy. Đó chính là một
chân lý quan trọng, mới mẻ, đầy soi sáng, buộc chúng ta thay đổi nếp
suy nghĩ cố hữu của mình.
4. Cần cách mạng lối sống đạo và cách loan
báo Tin Mừng
Trong cuốn «Người Mục Tử Cộng Đồng hướng về tương lai» (1996)
và bài «Con đường đi tới của Giáo Hội Việt Nam hôm nay»
(9-2005) của Lm Nguyễn Ngọc Sơn, linh mục cho rằng: Tỷ lệ người Công
giáo Việt Nam so với số dân kể từ năm 1933 đến nay, chưa bao giờ quá
8% và đang có hướng giảm. Nếu dân số Công giáo Việt Nam giảm hoặc
chỉ gia tăng theo tỷ lệ gia tăng dân số hằng năm, ta có thể nói rằng
việc truyền giáo không đạt được kết quả tốt đẹp. Hơn nữa, tỷ lệ
người Công giáo Việt Nam lại đang giảm dần. Vậy có thể nói đến một
sự thất bại trong hoạt động rao giảng Tin Mừng không? Vì thế, các
mục tử cũng như mọi người trong cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam cần phải
suy nghĩ lại về cách sống và cách loan báo Tin Mừng
của mình, để xem còn có sức thu hút anh em ngoài Kitô giáo và
làm phát triển Giáo Hội Việt Nam không?
Trong một giáo phận vào năm 1993 có gần nửa triệu giáo dân, hơn 400
linh mục,409 tu sĩ nam,2.086 tu sĩ nữ, chưa kể chủng sinh và mấy
ngàn tập sinh, đệ tử, thử hỏi mỗi người trong số ấy đã giúp cho một
người trở lại đạo Chúa hằng năm chưa? Điều đó mời gọi chúng ta suy
nghĩ về cách rao giảng cũng như về việc đổi mới đời sống chứng
nhân của mình. Giáo phận… có gần 200 nhà thờ đầy ắp giáo dân
trong các buổi sinh hoạt phụng vụ. Nhưng chúng vẫn không thu hút
được nhiều anh em lương dân trở về với Đức Kitô. Nói lên những điều
này làm chúng ta thật đau lòng, nhưng để chứng minh rằng những giờ
kinh lễ, các trường học, hội đoàn, tổ chức từ thiện và hoạt động bác
ái chưa phải là yếu tố quyết định cho sự thành công trong hoạt động
truyền giáo… điều đó giúp chúng ta nhận ra rằng cần phải thay đổi
phương cách rao giảng Tin Mừng. Nếu chúng ta thay đổi được
cách sống đạo và truyền đạo, chúng ta mới có thể thu hút
được nhiều anh em lương dân gia nhập đàn chiên Chúa. Chúng ta không
thể rao giảng Tin Mừng, dạy giáo lý và rửa tội theo phương cách hiện
nay. Nhiều người Tây Phương không còn muốn giữ đạo nữa chỉ vì thấy
đạo quá xa cách với đời, trong khi đó lại gia nhập các giáo phái nhỏ
biết lưu tâm tới cuộc sống. Xã hội Việt Nam cũng sẽ tiến tới tình
trạng dị ứng với những «nghi lễ - kinh sách - lề luật» của đạo
nếu những người mục tử không tìm ra những phương thế mới để
biểu lộ Tin Mừng trong cuộc sống.
Và phương cách mới ấy không gì khác hơn là trở về với tinh thần của
Đức Giêsu: coi việc mến Chúa yêu người là chính yếu nhất,
lấy việc yêu thương và hy sinh cho tha nhân là cách đúng đắn
nhất để yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa. Cần phải nhấn mạnh
và quan trọng hóa điều chính yếu này lên, đồng thời bớt quan trọng
hóa những thứ phụ thuộc khác.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, đọc bài Tin Mừng này con thấy con đã đi sai đường rồi. Con
đã coi nhẹ điều mà Đức Giêsu cho là quan trọng nhất, là mến Chúa và
yêu người, đồng thời cứ đặt nặng những điều phụ thuộc khác. Xin cho
con biết thay đổi cách suy nghĩ của con để trở về sống đúng với tinh
thần Tin Mừng của Ngài.
Gs. Nguyễn Chính Kết