1. Đám cưới chưa kết thúc, chú rể chưa ra về mà khách dự
tiệc đã ăn chay, thì việc ăn chay đó có hợp tình và hợp
lý không? Giữa sự hợp tình hợp lý và việc
ăn chay, cái nào quan trọng hơn? Từ đó ta suy ra được điều gì?
Giữa những tập tục tôn giáo và tình yêu thương, cái nào quan
trọng hơn? Đức Giê-su đặt nặng cái nào?
2. Đức Giê-su đến để làm một cuộc cách mạng vĩ đại về tôn
giáo. Cuộc cách mạng đó hệ tại điều gì? Hiện nay chúng ta đã
sống theo tinh thần cách mạng của Đức Giê-su chưa, hay vẫn sống
theo quan niệm cũ của các kinh sư, luật sĩ và Pha-ri-sêu thời
Cựu Ước?
Suy tư gợi ý:
1.
Đối với Đức Giêsu, tình người là lề luật quan trọng nhất
Ăn chay là một nghi thức mang tính tôn giáo, có mục đích: biểu
lộ sự tự hạ, lòng ăn năn thống hối tội lỗi, và tạo cho tâm trí
tỉnh thức, sáng suốt. Các kinh sư, luật sĩ và Pharisêu đặt rất
nặng việc ăn chay, và coi đó là một việc làm đạo đức. Và họ căn
cứ vào đó để đánh giá ai là người đạo đức, ai không đạo đức. Các
môn đệ của Gioan Tẩy Giả cũng ăn chay để tỏ lòng sám hối và đón
chờ Đấng Cứu Tinh đến. Họ cũng đặt rất nặng việc ăn chay.
Nhưng quan niệm và thái độ của Đức Giêsu đối với việc ăn chay
khiến ta phải suy nghĩ và sửa đổi lại cách quan niệm của mình về
bậc thang giá trị của những việc đạo đức. Ngài vẫn luôn coi
trọng việc ăn chay như một giá trị thiêng liêng cao quí, nhưng
Ngài coi việc đối xử cho có tình có nghĩa, cho hợp với cung cách
«làm người» còn quan trọng và cao quí hơn nhiều: «Chẳng
lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với
họ?» Đành rằng việc ăn chay là quí, nhưng khi có khách tới
nhà, khi còn là thời gian mừng cho hạnh phúc của đôi tân hôn,
thì việc ăn chay quả là không thích hợp, nếu không muốn nói là
kỳ cục, ngược đời, lập dị. Chắc hẳn đối với Ngài, ăn chay trong
những trường hợp ấy chẳng những không đáng khen mà còn đáng
trách nữa.
Trong cuộc đời Đức Giêsu, ta thấy Ngài luôn luôn đặt nặng tình
người hơn cả việc giữ những tập tục hay luật lệ tôn giáo. Thật
vậy, Ngài sẵn sàng lỗi luật sa-bát để làm theo sự thúc đẩy của
tình yêu (x. Mt 12,1-8; 9-14; Lc 13,10-17; 14,1-6; Ga 5,1-18;
9,1-41), đang khi đó là một luật quan trọng do Thiên Chúa lập
nên qua Môsê (x. Xh 20,8-11) mà ai vi phạm có thể bị xử tội chết
hoặc bị loại trừ ra khỏi dân (x. Xh 31,14; 35,2). Như vậy, rõ
ràng Ngài coi việc thực hiện tình người là quan trọng hơn cả
việc tuân giữ các lề luật, dù là những luật được Kinh Thánh coi
là rất quan trọng. Ngài đã làm một cuộc cách mạng tôn giáo, đảo
lộn các bậc thang giá trị của quan niệm đạo đức cổ điển vốn
thích thượng tôn lễ nghi, ưa chuộng những hình thức bên ngoài.
Và Ngài đã lập nên một tôn giáo mới, với một tinh thần mới, luật
lệ mới, lấy tình thương hay tình người làm nền tảng, làm giá trị
cao quí nhất.
Và Ngài đã tuyên bố một cách thật rõ ràng luật mới của
Ngài, chỉ gồm một khoản luật duy nhất, đó là luật yêu
thương, là việc thực hiện tình người với nhau: «Thầy ban
cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau;
anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga
13,35). Chỉ một luật duy nhất này là đủ tóm gọn toàn bộ mọi lề
luật khác, chỉ cần giữ một luật này thôi là giữ được toàn bộ mọi
luật lệ: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật (…) Yêu
thương là chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8.10). Luật căn bản này
mà không giữ thì dù có giữ trọn vẹn những lề luật khác thì cũng
kể như chẳng giữ luật gì cả (x. Ga 7,19; Cv 7,53), và công phu
giữ những luật khác ấy chẳng có một giá trị nào trước mặt Ngài.
Cứ nghiêm túc xem xét cách Ngài phán xét vào ngày chung thẩm, ta
ắt thấy trong số những người bị kết án, chắc chắn có những người
thường xuyên ăn chay, trung thành giữ những nghi thức hay tập
tục tôn giáo, thậm chí làm được rất nhiều việc tốt đẹp lớn lao.
Nhưng những việc tốt đẹp ấy ích lợi gì cho họ khi Ngài chỉ xét
có một điều: «Mỗi lần các ngươi làm/không làm như thế cho một
trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm/không
làm cho chính Ta vậy» (Mt 25,40.45). Chính thánh Phaolô cũng
xác nhận rằng những việc làm tốt đẹp ấy chẳng có giá trị gì
trước mặt Thiên Chúa nếu không phát xuất từ tình yêu: «Giả
như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân
xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng
ích gì cho tôi» (1Cr 13,3). Điều ấy càng trở nên rõ ràng với
câu nói của Đức Giêsu: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa
với Thầy rằng: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh
Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa
mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ:
Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm
điều gian ác!» (Mt 7,22-23). Họ bị kết án dù đã làm đủ mọi
điều tốt đẹp, trừ một điều tốt đẹp nhất và nền tảng nhất, là
tình thương, là cư xử với tha nhân bằng tình người đích thực.
Thiết tưởng qua bài Tin Mừng này, chúng ta cần phải nghiêm túc
đặt lại vấn đề: chúng ta đã quan niệm và hành xử như Đức Giêsu
chưa, hay chúng ta vẫn quan niệm giống như các kinh sư, luật sĩ
và Pharisêu? Những người này coi việc ăn chay, việc giữ những
nghi thức luật lệ, kể cả những luật nhỏ nhặt nhất, quan trọng
hơn tình yêu, tình người, hơn những điều mà tình yêu đòi hỏi
phải thực hiện. Mặc dù Đức Giêsu đến đã 2000 năm nay để lập nên
một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Tân Ước, đã đem đến cho thế
giới một tinh thần mới, luật lệ mới, nhưng cho đến hôm nay, tiếc
thay còn rất nhiều Kitô hữu – trong đó rất có thể có bạn và tôi
– vẫn đang sống theo quan niệm của nhiều người thời Cựu Ước: coi
trọng những tập tục và luật lệ tôn giáo hơn tình thương.
2.
Thời mới, phải giữ luật mới, phải theo tinh thần mới
Về sự không hợp thời này, Đức Giêsu đã khuyên chúng ta bằng
những hình ảnh rất cụ thể: «Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ,
vì như vậy, miếng vá mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách
lại càng rách thêm. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì
như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng
hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới!» Điều đó có nghĩa là
đã bước sang thời mới mà chúng ta vẫn sống theo luật cũ, theo
tinh thần cũ thì sẽ gây nên nhiều tai hại: chẳng những không đạt
được điều mong muốn mà còn bị phản tác dụng. Chẳng những không
làm cho chiếc áo đã rách được lành lặn, mà còn làm cho nó rách
thêm. Chẳng những không chứa đựng hay bảo vệ được rượu, mà làm
cho rượu bị chảy mất. Thật vậy, nếu vào cuối thời Cựu Ước mà Đức
Giêsu đã khiển trách và kết án bọn kinh sư, luật sĩ và Pharisêu
không tiếc lời, thậm chí có thể nói là «cạn tàu ráo máng»
(x. Mt 23,13-36), thì Ngài sẽ khiển trách và kết án chúng ta tới
mức độ nào một khi Ngài đem tinh thần mới đến thế gian đã 2000
năm nay, mà chúng ta vẫn sống theo tinh thần cũ của bọn kinh sư,
luật sĩ và Pharisêu thời đó? Chúng ta quả là những người ngoan
cố không chịu sửa sai!
Thật vậy, biết bao Kitô hữu hiện nay – thuộc thiên niên kỷ thứ 3
rồi – mà vẫn coi những tập tục tôn giáo, những luật lệ chủ yếu
do con người lập nên, quan trọng hơn cả luật yêu thương, điều
luật duy nhất của Đức Giêsu? Có lẽ chúng ta nên tự xưng mình là
«Môsê hữu» hay môn đệ của Môsê, thì đúng hơn là «Kitô
hữu» hay môn đệ của Đức Kitô! Quả thật, có biết bao Kitô hữu
coi việc lãnh nhận các bí tích, những tập tục tôn giáo như đọc
kinh, lần chuỗi, ăn chay, kiêng thịt, v.v… còn quan trọng hơn
việc đối xử cho có tình có nghĩa với người chung quanh mình! Họ
tưởng làm những việc ấy cho nhiều thì sẽ trở nên công chính.
Thánh Phaolô đã khuyên họ: «Anh em mà tìm sự công chính trong
Lề Luật, là anh em đoạn tuyệt với Đức Kitô và mất hết ân sủng»
(Gl 5,4). Chúng ta cần đọc lại Tân Ước cho kỹ để biết Đức Giêsu
coi việc nào quan trọng hơn việc nào. Tôi không có ý đả kích
việc lãnh nhận các bí tích hay những tập tục tôn giáo, vì tất cả
những việc đó đều là những việc tốt đẹp, nhưng tôi nghĩ chúng ta
cần phải ý thức việc nào là quan trọng nhất cho việc sống đạo
của chúng ta. Lấy cái chính làm cái phụ, rồi ngược lại lấy cái
phụ làm cái chính thì quả thật là điên rồ!
Đức Giêsu đã cảnh cáo các kinh sư về điều ấy, vì họ không biết
cái nào chính cái nào phụ, cái nào là quan trọng cái nào nên coi
nhẹ: «Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng! Các
người bảo: “Ai chỉ Đền Thờ mà thề, thì có thề cũng như không;
còn ai chỉ vàng trong Đền Thờ mà thề, thì bị ràng buộc” Đồ ngu
si mù quáng! Thế thì vàng hay Đền Thờ là nơi làm cho vàng nên
của thánh, cái nào trọng hơn» (Mt 23,16-17). Ngài còn nói
thật rõ: «Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người
Pharisêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì
là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật
là công lý, tình thương và sự thành thật» (Mt 23,23).
Áp dụng những câu nói đó vào việc giữ đạo ngày nay, Ngài sẽ nói
thế nào về những người coi việc tham dự các bí tích, các nghi
thức và tập tục tôn giáo còn quan trọng hơn cả việc sống yêu
thương? Bí tích và các nghi lễ chỉ là những dấu chỉ của những
thực tại hết sức cao quí, mà trong đó cao quí nhất là tình
thương, vốn là bản chất của Thiên Chúa (x.1Ga 4,8.16). Giữa thực
tại cao quí và dấu chỉ của thực tại cao quí ấy, cái nào cao quí
hơn, quan trọng hơn? Coi trọng dấu chỉ hơn cả thực tại mà dấu
chỉ ấy ám chỉ, thì chẳng khác gì quí trọng hình ảnh của một
người hơn chính bản thân người ấy! Như thế chẳng phải là nực
cười sao? Nếu Đức Giêsu coi các bí tích như là cốt yếu của tôn
giáo, chắc chắn Ngài đã dành rất nhiều quan tâm về vấn đề này.
Thực tế, trong Tân Ước – trong 4 Tin Mừng, sách Công Vụ Tông Đồ,
và trong các thư tín – chưa bao giờ bí tích được đề cập như một
vấn đề trọng yếu. (Về vấn đề này, xin đừng hiểu lầm ý của tôi:
khi tôi nói cha mẹ tôi không đáng kính trọng bằng Thiên Chúa,
điều đó không có nghĩa là tôi không kính trọng cha mẹ tôi, mà
trái lại tôi đã quan niệm hết sức đúng đắn về chỗ đứng của cha
mẹ tôi trước Thiên Chúa).
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin Cha giúp con chịu khó tìm hiểu tư tưởng và lập
trường của Đức Giêsu để biết trong đời sống đạo, điều nào là
điều cốt yếu nhất, quan trọng nhất, và điều nào là điều phụ
thuộc. Xin đừng để việc giữ đạo rất thành tâm của con trở nên vô
giá trị trước mặt Cha chỉ vì con đã không quan niệm, suy nghĩ và
hành xử giống như Đức Giêsu đã dạy.
Gs. Nguyễn Chính Kết