1. Ngày phán xét, Vua Vũ Trụ sẽ phán xét con người dựa trên
tiêu chuẩn nào? Ngài đã báo trước tiêu chuẩn ấy trong Tin Mừng chưa?
2. Ngài chỉ phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất ấy thì có hợp lý
không? Ta phải sống thế nào để trở nên công chính trong ngày phán
xét ấy?
Suy tư gợi ý:
1. Phải tôn vinh Đức Giêsu là Vua của bản
thân ta trước đã
Chúng ta tôn vinh Đức Giêsu là Vua Vũ Trụ, điều đó thật chính đáng.
Nhưng nếu Ngài chỉ là Vua vũ trụ, chứ không phải là vua chính bản
thân ta, vì vua của bản thân ta vẫn luôn luôn là «cái tôi» của ta,
là những tham vọng của ta, thì việc tôn vinh ấy ích lợi gì? Ngài
muốn được thật sự làm Vua của lòng ta, hơn là muốn ta tôn vinh, thờ
phượng Ngài như là Chúa Tể của những gì không phải là ta. Chỉ khi
nào Ngài thật sự là Vua của lòng ta, thì việc ta tôn vinh Ngài là
Chúa Tể vũ trụ mới có ý nghĩa. Chỉ khi ấy, bản thân ta mới trở thành
Nước Trời: «Nước Trời ở trong anh em» (Lc 17,21). Chính bản
thân mỗi người có trở thành Nước Trời, thì gia đình, đoàn thể, Giáo
Hội và thế giới mới trở thành Nước Trời được. Vậy, để xây dựng Nước
Trời, ta phải bắt đầu từ chính bản thân ta đã, tương tự như lộ trình
mà Khổng Tử đã đề ra: «tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ».
Vậy, điều trước tiên ta phải làm là nhận Đức Giêsu là Vua của bản
thân mình đã. Nghĩa là trong mọi tình huống cuộc đời, ta phải coi
Ngài quan trọng hơn chính bản thân và tất cả mọi thứ khác, thánh ý
của Ngài quan trọng hơn ý riêng của ta hay của bất kỳ ai, nghĩa là
hoàn toàn quy phục Ngài, tuân theo thánh ý Ngài được biểu lộ qua
những đòi hỏi của tình yêu trong lòng ta. Vì bản chất của Ngài là
tình yêu, nên nhận Ngài làm Vua của lòng mình, trong thực tế là luôn
luôn làm theo đòi hỏi của tình yêu trong lòng mình. Đó cũng chính là
nội dung giới luật yêu thương của Ngài, và cũng là tiêu chuẩn chính
yếu nhất và duy nhất để vào được Nước của Ngài. Làm sao ta vào được
Nước của Ngài khi ta chưa nhận Ngài là Vua của bản thân ta, khi tình
yêu đối với Ngài chưa thật sự thống trị lòng ta?
2. Ngày phán xét, Thiên Chúa phán xét theo
tiêu chuẩn nào?
Bài Tin Mừng này mặc khải cho ta biết vào ngày phán xét, Ngài xét
đoán mọi người theo tiêu chuẩn nào. Bài Tin Mừng cho thấy Thiên Chúa
chỉ phán xét theo một tiêu chuẩn duy nhất, đó là mỗi người đã yêu
thương tha nhân, đặc biệt những người nghèo hèn bé mọn như thế nào.
Bài Tin Mừng không nói đến việc Ngài xét về chuyện ta đã thờ phượng
Thiên Chúa ra sao, đã cầu nguyện nhiều hay ít, có siêng năng tham dự
hay cử hành các nghi thức tôn giáo hay không, có góp phần xây dựng
thánh đường, Giáo Hội không, có vào hội đoàn nào hay không…
Tất cả những sinh hoạt tôn giáo ấy đều chỉ là những phương tiện nhằm
giúp con người đạt được mục đích duy nhất là trở nên giống Thiên
Chúa, Đấng mà bản chất là tình yêu. Nhờ đó con người trở nên yêu
thương nhiều hơn, tốt hơn, cao thượng hơn, từ đó mạnh mẽ hơn, bình
an và hạnh phúc hơn. Nếu thực hiện những sinh hoạt tôn giáo mà không
đạt được mục đích ấy, thì ích lợi gì? Có được những chiếc xe tuyệt
hảo, tối tân, đắt tiền để đi đến một nơi cần thiết nào đó, nhưng
cuối cùng chẳng tới được, thì đâu ích lợi bằng một người đi bộ mà
đến được đích. Nếu không đạt được tình yêu chân thật trong lòng,
điều ấy có nghĩa là có một điều gì không ổn trong những sinh hoạt
tôn giáo của ta. Có thể ta chưa nắm rõ mục đích của những sinh hoạt
ấy, hoặc thực hiện chúng với tâm tình vị kỷ, vụ lợi, hoặc chưa thật
sự gặp gỡ được Thiên Chúa trong những sinh hoạt ấy…
Để vào Nước Trời, Nước của Tình Yêu, điều kiện tất yếu không có
không được, đó là tình yêu chân thực đối với Thiên Chúa, được thể
hiện thành tình yêu đối với tha nhân. Vì không ai có thể vào được
Nước của Thiên Chúa, nếu người ấy không giống Thiên Chúa. Mà bản
chất của Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4,8.16), nên giống Thiên
Chúa có nghĩa là có tình yêu, hay nói đúng hơn, là trở nên hiện thân
của tình yêu.
3. Tiêu chuẩn duy nhất để phán xét là tình
yêu đối với tha nhân
Ngày phán xét, Thiên Chúa chỉ xét theo tiêu chuẩn duy nhất là tình
yêu thì thật là hợp lý. Vì khi Đức Giêsu xuống trần gian để thành
lập Nước Trời, Ngài chỉ ban cho con người một giới răn duy nhất, đó
là: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em»
(Ga 13,34). Nếu Ngài còn đưa ra nhiều giới răn khác, thì khi phán
xét, Ngài sẽ phải xét theo nhiều tiêu chuẩn khác nữa. Nhưng Ngài đã
chỉ đưa ra một giới răn duy nhất, nên khi phán xét, Ngài không thể
xét theo một tiêu chuẩn nào khác với giới răn duy nhất Ngài đã ra.
Thật là vô lý khi chỉ yêu cầu mọi người tuân giữ một điều duy nhất,
rồi đến khi phán xét lại xét theo nhiều tiêu chuẩn khác ngoài điều
duy nhất ấy!
Đức Giêsu đã nhấn mạnh đến giới răn này và nhấn mạnh tầm quan trọng
của nó đến nỗi không hề đưa ra một giới răn nào khác, để những người
theo Ngài tập trung nỗ lực vào điều duy nhất ấy, không quá phân tâm
vào những chuyện phụ thuộc khác. Bài Tin Mừng này rõ ràng lại nhấn
mạnh thêm một lần nữa điều quan trọng ấy. Nhưng thật lạ lùng và buồn
cười thay, nhiều Kitô hữu lại chẳng quan tâm đến điều Ngài đã nhấn
mạnh rõ ràng đến như thế, mà lại cứ quan tâm những chuyện phụ thuộc
khác! Vì thế, công giữ đạo của họ cuối cùng hóa ra «công cốc»,
đúng như câu: «Dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên
công cán gì»! Ngài đã từng trách những người Pharisêu biết bao
nhiêu lần, là cứ đặt quá nặng những điều phụ thuộc, còn điều chính
yếu thì lại coi quá nhẹ, lại còn dạy người ta như thế nữa: «Các
người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những
điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và
lòng chân thành» (Mt 23,23; x. 23,16-22). Vì thế, Ngài đã
gọi họ là «quân dẫn đường mù quáng!» (Mt 23,16.24; x. 15,14).
Thế mà lạ lùng thay, ta lại cứ đi vào vết xe đã đổ của họ!
4. Đừng để mình phải ngạc nhiên trong ngày
phán xét
Điều đáng ta suy nghĩ và quan tâm là sự ngạc nhiên của cả người được
chúc phúc và người bị chúc dữ. Cả hai loại đều hỏi Chúa hai câu
tương tự nhau: «Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói
mà (không) cho ăn, khát mà (không) cho uống; v.v…» (Mt
25,37-39.44). Rất có thể vào ngày đó, chính chúng ta cũng ngạc nhiên
như vậy, cho dù Ngài đã từng báo trước rất rõ ràng trong các sách
Tin Mừng rằng Ngài sẽ phán xét theo tiêu chuẩn duy nhất ấy, và Ngài
tự đồng hóa Ngài với tha nhân của ta.
Suốt cuộc đời ta, chẳng bao giờ ta thấy Ngài hiện ra trước mặt để ta
có thể làm một điều tốt lành nào đó cho Ngài cả. Thế thì tại sao
Ngài lại khen những người bên phải là đã làm cho Ngài đủ chuyện, và
trách những người bên trái là đã chẳng làm cho Ngài điều gì? Thật ra,
Ngài luôn luôn hiện thân thành những tha nhân bên cạnh ta: cha mẹ,
vợ con, anh chị em, bạn bè, hàng xóm, người cùng sở làm… Và hiện
thân cụ thể nhất của Ngài chính là những người nghèo khổ, ốm đau, bị
áp bức, tù đày… Tất cả những gì ta làm cho họ là làm cho chính Ngài,
và ta trở nên công chính chính vì ta đã thể hiện tình thương với họ.
Và tất cả những gì ta không làm cho họ, cũng là không làm cho chính
Ngài, và ta trở nên người bị chúc dữ chính vì ta đã không thể hiện
tình thương với họ.
Nhưng theo thói thường, ta chỉ tỏ ra yêu thương và đối xử tốt
với những người mà ta hy vọng có thể đem lại cho ta lợi lộc, chức
quyền, danh vọng: những kẻ giàu có, quyền thế, có địa vị… Thật ra,
khi đối xử tốt với những người này, là ta đối xử tốt với chính ta
chứ không phải với Thiên Chúa. Đức Giêsu khuyên: «Khi nào ông đãi
khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con,
hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông
được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người
nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như
thế, ông mới thật có phúc» (Lc 14,12-14). Nói chung, chỉ khi nào
ta làm điều gì cho người khác vì tình yêu, một cách vô vị lợi, không
nhằm ích lợi gì cho mình về sau, thì mới là làm cho chính Thiên Chúa.
Lạy Cha, con muốn nhận Đức Giêsu là Vua của cõi lòng con. Ngài chính
là Tình Yêu. Xin cho cõi lòng con trở nên Nước Trời, Nước của Tình
Yêu, để Tình Yêu thống trị lòng con, chi phối mọi ý tưởng, lời nói
và hành vi của con suốt cuộc đời.