Yêu mến Thánh Thể
bằng
cách sống vì
và sống
cho
tha nhân như Đức Giêsu
CN Lễ Mình Máu Thánh Chúa
(18-6-2006)
ĐỌC LỜI CHÚA
· Xh 24, 3-8: (5) Ông Môsê sai các thanh
niên trong dân Ítraen dâng những lễ toàn thiêu. (8)
Ông lấy máu rảy lên dân và nói: «Đây là máu giao ước Đức Chúa
đã lập với anh em».
· Dt 9, 11-15: (14) Đức Kitô đã tự hiến tế
như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy
lương tâm chúng ta để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng
sống.
· TIN MỪNG: Mc 14, 12-16. 22-26
Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua
(12) Ngày thứ nhất
trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ
thưa với Đức Giêsu: «Thầy
muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?»
(13) Người
sai hai môn đệ đi, và dặn họ:
«Các anh đi vào thành, và sẽ
có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó.
(14) Người
đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng
dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?”
(15) Và ông ấy
sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn
sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta».
(16)
Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã
nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể khi ăn mừng lễ Vượt
Qua, và Ngài cũng tử nạn và phục sinh vào dịp đại lễ này? Điều đó có
ý nghĩa gì?
2. Khác với lễ vật bị đốt cháy hoàn toàn trong hy lễ toàn thiêu,
con chiên bị sát tế vào dịp lễ Vượt Qua lại trở nên của ăn cho con
người. Bạn có nhìn thấy tương quan giữa hy lễ thập giá và bí tích
Thánh Thể không?
3. Đức Giêsu không chỉ chịu đau khổ và chết cho con người, mà còn
trở nên của ăn cho họ. Bạn có thấy đó là mẫu gương để chúng ta bắt
chước không?
Suy tư gợi ý:
1. Sự trùng hợp giữa ba biến cố quan trọng
Đã đến thời điểm Đức Giêsu phải sát tế chính bản thân mình làm lễ hy
sinh toàn thiêu để thờ phượng Thiên Chúa và đền tội thay cho toàn
thể nhân loại. Thời điểm ấy trùng vào dịp mừng lễ Vượt qua hàng năm
của người Do-thái. Và cũng nhân dịp này Đức Giêsu lập bí tích Thánh
Thể, ngay trong bữa tiệc mừng lễ Vượt Qua với các tông đồ. Sự trùng
hợp giữa ba biến cố này – lễ Vượt Qua, việc lập bí tích Thánh Thể,
và cuộc tử nạn phục sinh của Đức Giêsu – ắt phải có một ý nghĩa rất
lớn, và ba biến cố này ắt phải liên hệ với nhau rất mật thiết. Chúng
ta hãy tìm hiểu.
2. Lễ Vượt Qua của người Do-thái
Đại lễ này bắt nguồn từ biến cố
Thiên Chúa giải phóng dân Do-thái khỏi ách thống trị của Ai Cập, xảy
ra trước Đức Giêsu khoảng 1250 năm (x. Xh 7,8–15,21. Nhờ sự can
thiệp giải phóng của Thiên Chúa, dân Do-thái được vượt từ
cảnh nô lệ qua tự do. Đức Giêsu cũng đến để giải phóng con
người, làm cho họ vượt từ ách nô lệ tội lỗi và ma quỉ qua
tình trạng tự do của con cái Thiên Chúa, từ tình trạng chết
trong tội lỗi qua tình trạng sống trong ân sủng, từ đau khổ qua hạnh
phúc. Ngài thực hiện sự giải phóng đó bằng cả cuộc đời của một vị
Thiên-Chúa-Nhập-Thể, đặc biệt bằng cuộc tử nạn và phục sinh của
Ngài. Cuộc tử nạn và phục sinh này cũng là một cuộc vượt qua:
vượt từ cõi chết qua cõi sống, từ tình trạng hay hư nát qua
tình trạng bất diệt. Như vậy, cuộc vượt qua của dân Do-thái qua Biển
Đỏ là biến cố đi trước làm hình bóng hay ẩn dụ cho cuộc vượt qua của
Đức Giêsu, cũng là cuộc vượt qua của những ai tin vào Ngài: vượt
từ cảnh nô lệ tội lỗi qua cảnh tự do của con cái Thiên
Chúa. Vì thế, việc Đức Giêsu chọn thời điểm mừng lễ Vượt Qua để thực
hiện cuộc tử nạn và phục sinh của mình bao hàm một ý nghĩa hết sức
sâu xa.
3. Hy tế toàn thiêu và hy tế chiên vượt
qua
Để cứu chuộc và giải phóng nhân loại, Đức Giêsu phải trả giá bằng
đau khổ tột cùng và chết thê thảm như một của lễ vật bị sát tế dâng
lên Thiên Chúa. Để hiểu được sự đau khổ và cái chết của Đức Giêsu là
một hy tế thờ phượng Thiên Chúa Cha và đền tội nhân loại, và để hiểu
được việc lập bí tích Thánh Thể như một của ăn tâm linh mà Đức Giêsu
để lại khi bị sát tế như một lễ vật, chúng ta cần hiểu ít nhiều về
lễ hy sinh toàn thiêu và lễ sát tế chiên Vượt Qua của người Do-thái.
Ngày xưa – ít nhất kể từ ông Nôê
trở về sau (x. St 8,20) – dân Do-thái thờ phượng Thiên Chúa bằng
cách dâng lên Ngài những hy lễ toàn thiêu. Theo tập tục được đặt ra
sau này từ thời Môsê, thì người muốn dâng hy lễ toàn thiêu phải đặt
tay trên con vật khi nó bị giết để nói lên mình là người chủ muốn
dâng lễ vật ấy. Vị tư tế lấy máu của con vật rẩy quanh bàn thờ. Rồi
con vật được chặt ra thành mảnh. Vị tư tế đặt các mảnh thịt lên bàn
thờ để thiêu hủy hoàn toàn, chứ không phải thiêu cho chín để sau đó
đem ăn. Ý nghĩa của lễ toàn thiêu là con người muốn biểu lộ sự toàn
phục của mình đối với Thiên Chúa, là Chúa Tể của vũ trụ, có toàn
quyền sinh sát trên toàn thể tạo vật. Đáng lẽ con người phải tự sát
tế chính mình, nhưng nếu như thế, con người sẽ phải chết, là điều
Thiên Chúa không muốn. Vì thế, con người dùng một con vật nào đó
tượng trưng cho sinh mạng của mình để giết và thiêu cháy hoàn toàn.
Điều này muốn nói lên lòng thành của con người, không tiếc với Thiên
Chúa điều gì, vì tất cả đều thuộc về Ngài. Lễ vật toàn thiêu vừa để
thờ phượng và tạ ơn Thiên Chúa, vừa để đền tội và xin ơn cho mình.
Nhưng trước ngày giải phóng dân
Do-thái khỏi ách nô lệ Ai Cập, Thiên Chúa truyền dạy một hình thức
sát tế mới được thực hiện vào các dịp đại lễ Vượt Qua hàng năm. Cách
hy tế mới khác với cách cũ ở chỗ: trong hy tế cũ – tức hy lễ toàn
thiêu – thì lễ vật bị thiêu hủy hoàn toàn, còn trong hy lễ Vượt Qua
thì lễ vật cũng bị sát tế, nhưng bị không thiêu hủy hoàn toàn: thịt
con vật chỉ được nướng lên để sau đó con người ăn nó (xem Xh
12,3-14). Trong nghi thức sát tế mới này con người cũng được dự phần
vào lễ vật, và lễ vật trở thành của ăn nuôi dưỡng con người. Đây
chính là hình bóng hay ẩn dụ cho bí tích Thánh Thể mà Đức Giêsu
thiết lập vào dịp này.
4. Cuộc tử nạn của Đức Giêsu với hy lễ
Thánh Thể
Cuộc tử nạn của Đức Giêsu chính
là một hy lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Trong hy lễ này, Ngài vừa là
chủ dâng, vừa là tư tế, vừa là lễ vật. Bình thường ba khoản này khác
nhau; tuy nhiên, cũng có thể chủ dâng cũng là tư tế, nhưng cả hai
người ấy dường như không bao giờ lại là lễ vật. Vì lễ vật là đối
tượng bị giết, chịu đau khổ và chết thay cho chủ dâng hay thay cho
kẻ có tội phải đền mạng. Trong hy lễ toàn thiêu này, Đức Giêsu tự
nguyện làm lễ vật bị sát tế, chẳng những để thờ phượng và tạ ơn
Thiên Chúa thay cho con người, mà còn để đền tội cho toàn thể nhân
loại, đồng thời xin ơn tha thứ cho họ. Sự tự nguyện khủng khiếp này
chỉ có thể phát xuất từ tình yêu cao cả đối với Thiên Chúa và toàn
thể con người, đồng thời từ sự toàn phục đối với Thiên Chúa Cha.
Nhưng hy lễ này, Đức Giêsu không muốn thực hiện theo kiểu hy lễ toàn
thiêu, trong đó lễ vật hoàn toàn bị thiêu hủy. Kiểu hy tế ấy biểu
hiện tính «vì Thiên Chúa» một cách triệt để. Ngài muốn thực
hiện hy lễ của Ngài theo kiểu hy lễ chiên vượt qua, trong đó lễ vật
ngoài việc dâng hiến cho Thiên Chúa, còn trở nên của ăn cho con
người. Kiểu hy tế này mang tính hai chiều: vừa «vì Thiên Chúa»
mà cũng vừa «vì con người». Đó là hai chiều kích căn bản
trong việc nhập thể của Ngài và trong Giao Ước Mới do Ngài thiết
lập. Khi tự nguyện làm lễ vật bị giết, Ngài chọn chết trên thập giá
– là bàn thờ của hy tế này – được cấu tạo bằng hai chiều ngang và
dọc, tượng trưng cho hai chiều kích căn bản ấy.
5. Tình yêu Đức Giêsu dành cho con người
Vì thế, trước khi ra đi chịu tử hình thập giá, tự nguyện làm «Con
Chiên Vượt Qua» bị sát tế, Đức Giêsu đã lập phép Thánh Thể để lễ
vật bị sát tế ấy là chính Ngài trở nên của ăn tâm linh nuôi dưỡng
con người. Tôi thật xúc động khi nghĩ đến điều này. Ngài vốn là
Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài lại yêu thương con người
chúng ta vô hạn. Tình yêu của Ngài đối với chúng ta là một đối trọng
cho tình yêu của Ngài đối với Thiên Chúa. Và chính Thiên Chúa cũng
hài lòng khi thấy Con mình biết chia sẻ cho nhân loại tình yêu mà
đáng lẽ phải dành trọn vẹn cho mình. Tại sao? Chính vì Thiên Chúa
cũng yêu thương con người. Điều này có phần nào tương tự như người
chồng đòi hỏi người vợ phải dành trọn vẹn tình yêu và sự trìu mến
cho mình, nhưng lại rất hài lòng khi thấy vợ mình chia sẻ tình yêu
và sự trìu mến ấy cho con cái, vì chính người chồng cũng yêu thương
con cái không kém gì người vợ. Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa đã chia
sẻ cho chúng ta tình yêu mà đáng lẽ các Ngài phải dành trọn vẹn cho
nhau. Điều đó chúng ta thấy được nơi Đức Giêsu.
Ngài đến thế gian không chỉ nghĩ đến việc thi hành thánh ý Chúa Cha,
đến việc biểu lộ tình yêu, sự vâng phục đối với Chúa Cha, mà còn
nghĩ rất nhiều đến con người, đến việc sáng kiến ra những điều Ngài
có thể làm cho con người. Ngài yêu con người, chắc chắn không chỉ vì
con người là tạo vật của Thiên Chúa được nâng lên hàng con cái Ngài,
mà còn vì thấy con người rất đáng thương, quá đau khổ do tội lỗi.
Càng chia sẻ đau khổ với con người, càng cảm nghiệm được sự dày vò
khó chịu của đau khổ, Ngài càng yêu thương con người hơn. Tình yêu
đầy tính cảm thông đó khiến Ngài không chỉ đau khổ và chết thay cho
chúng ta, mà còn mà trở nên của ăn để nuôi dưỡng chúng ta, để ở lại
với chúng ta, để có thể ban sức mạnh thần thiêng cho chúng ta, để
đời sống chúng ta nên mạnh mẽ, hạnh phúc hơn.
6. Áp dụng tinh thần yêu thương của Đức
Giêsu vào đời sống
Thiên Chúa cảm thông và yêu thương chúng ta như vậy, lẽ nào chúng ta
lại không cảm thông và yêu thương nhau? Tình yêu của Đức Giêsu có
hai chiều kích: yêu Thiên Chúa và thương con người, lẽ nào chúng ta
cùng là con người với nhau lại chỉ quan tâm đến Thiên Chúa mà không
quan tâm đến nhau? Là một Thiên Chúa yêu thương, chắc chắn Ngài muốn
chúng ta yêu thương nhau, quan tâm đến nhau hơn là quan tâm đến
Ngài. Tại sao? Vì những người chung quanh chúng ta cần tình yêu và
sự quan tâm của chúng ta hơn Ngài rất nhiều. Ngài là Thiên Chúa –
Đấng không thiếu thốn sự gì và cũng không hề ích kỷ – Ngài không cần
tình yêu và sự quan tâm của chúng ta cho bằng những người chung
quanh đang sống với chúng ta. Tại sao chúng ta lại quá quan tâm tới
Ngài mà bỏ rơi anh chị em mình? Trong thực tế, chính khi ta yêu
thương và quan tâm đến anh chị em mình, là chúng ta yêu mến Thiên
Chúa. Nếu yêu mến Thiên Chúa thì hãy bắt chước Đức Giêsu: chẳng
những chấp nhận chịu khổ để anh chị em mình đỡ khổ, mà còn trở nên «của
ăn» cho anh chị em mình nữa.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Đức Giêsu là Thiên Chúa mà lại yêu thương con người như
vậy, đang khi chúng con cùng là con người với nhau, cùng chịu đau
khổ như nhau, mà chúng con lại không thông cảm với nhau, không yêu
thương nhau, không quan tâm tới nhau. Chúng con quá ích kỷ, tình yêu
của chúng con quá nghèo nàn. Xin Cha hãy ban tình yêu cho chúng
con.
Gs. Nguyễn Chính Kết